Ðặt làm trang chủ

    Google   

                 | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ |   

             | Hộp Thư |
     

 
 

 



   


              
 


PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC ĐỂ XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC

                                                                           HUỲNH ĐẢM
                                                                   Ủy viên Trung ương Đảng,
                                                Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

    Đại đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta; là một trong những bài học lớn của cách mạng Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Để tăng cường và phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, vì mục tiêu của sự nghiệp cách mạng, Đảng và Bác Hồ đã sáng lập và lãnh đạo tổ chức Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam.

Cách đây 80 năm, ngay sau khi Đảng ra đời chưa tròn một năm, ngày 18-11-1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ban hành “Chỉ thị về việc thành lập Hội Phản đế đồng minh” - hình thức tổ chức đầu tiên của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam, đánh dấu sự phát triển về chất của phong trào yêu nước, của khối đại đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Từ đó đến nay, với mỗi giai đoạn cách mạng, để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam đã có những hình thức tổ chức, tên gọi khác nhau và luôn làm tròn sứ mệnh vẻ vang của mình.

Đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh, nhân dân ta đã làm Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Nhà nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, nay là nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Đoàn kết trong Mặt trận Liên Việt, nhân dân ta vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, làm nêm chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, lập lại hoà bình ở Đông Dương, đưa miền Bắc tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Đoàn kết trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trong Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam, nhân dân ta đã “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào”, làm nên đại thắng mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ, đưa cả nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Bước vào thời kỳ cả nước cùng quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam luôn quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về đại đoàn kết dân tộc và Mặt trận dân tộc thống nhất, không ngừng phát huy vai trò và đề cao trách nhiệm của mình là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị -xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; là một bộ phận của hệ thống chính trị, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, đại diện cho ý chí, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp của các tầng lớp nhân dân; góp phần tăng cường và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đóng góp thiết thực vào thành tựu chung của cả nước, nhất là những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước; góp phần thực hiện mục tiêu: độc lập, thống nhất, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ; vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Mấy năm qua, tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến nhanh chóng và phức tạp, nhất là sự khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế thế giới từ giữa năm 2008, tác động rất lớn vào nước ta, làm cho giá cả, lạm phát tăng cao; mặt khác, thiên tai, dịch bệnh xảy ra liên tiếp, gây hậu quả nặng nề ở nhiều nơi, ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống của nhân dân, nhất là người nghèo, đồng bào vùng sâu, vùng xa và đe dọa đến sự ổn định của nền kinh tế đất nước; các thế lực thù địch vẫn luôn tìm cách chống phá khối đại đoàn kết toàn dân tộc... Trong bối cảnh đó, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã ra sức thực hiện Nghị quyết Đại hội X, nỗ lực phấn đấu, vượt qua khó khăn, thách thức; sự nghiệp đổi mới tiếp tục được đẩy mạnh trên mọi lĩnh vực; kinh tế tiếp tục phát triển; an sinh xã hội được chăm lo thiết thực; quốc phòng, an ninh được tăng cường, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế được đẩy mạnh; vị thế của nước ta trên trường quốc tế tiếp tục được nâng cao; khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường... Những kết quả trên là thực tiễn sinh động khẳng định đường lối đổi mới đất nước của Đảng ngày càng đi vào cuộc sống; khẳng định sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Trung ương Đảng đã ban hành nhiều Nghị quyết, chủ trương, chính sách nhằm chăm lo và phát huy các giai cấp, các tầng lớp, các lực lượng trong xã hội, nhất là giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức, lực lượng thanh niên, lực lượng doanh nhân... trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Những Nghị quyết, chủ trương, chính sách trên cùng với Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, về công tác dân tộc, về công tác tôn giáo, Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị (khoá IX) về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài và nhiều Nghị quyết, Chỉ thị có liên quan của Bộ Chính trị, Ban Bí thư là cơ sở hết sức quan trọng để chăm lo các giai tầng trong xã hội, tăng cường và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Nhà nước cũng ban hành nhiều chính sách, pháp luật nhằm khơi dậy và phát huy sức sáng tạo của các tầng lớp nhân dân, chăm lo, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đặc biệt là các chính sách, các nhóm giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát, ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tốc độ tăng trưởng hợp lý, thiết thực chăm lo an sinh xã hội, nhất là đối với đồng bào nghèo, đồng bào vùng sâu vùng xa, đồng bào dân tộc thiều số...

Kế tục và phát huy truyền thống vẻ vang của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam luôn lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng để gắn bó đồng bào ở trong và ngoài nước, không phân biệt thành phần xã hội, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, quá khứ, ý thức hệ và chính kiến, miễn là tán thành công cuộc đổi mới. Đề cao truyền thống nhân nghĩa, khoan dung, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau vì sự ổn định chính trị và đồng thuận xã hội. Mặt trận Tổ quốc các cấp đã không ngừng đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, đa dạng hoá các hình thức vận động, tập hợp, góp phần tăng cường và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình mới.

Mặt trận Tổ quốc các cấp đã không ngừng tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhất là về đại đoàn kết toàn dân tộc, về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”... Mặt trận Tổ quốc các cấp tăng cường vận động nhân dân đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, góp phần phát triển kinh tế, xoá đói, giảm nghèo; xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; chăm lo sự nghiệp giáo dục - đào tạo, sự nghiệp y tế, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân và góp phần đảm bảo quốc phòng, an ninh; nhất là nâng cao chất lượng cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”, cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” và phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, góp phần thiết thực chăm lo đời sống cho các tầng lớp nhân dân, nhất là người nghèo, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và người có công với nước; thông qua phong trào thi đua để đoàn kết, tập hợp các tầng lớp nhân dân tăng cường đồng thuận xã hội, chung sức chung lòng cùng Đảng, Nhà nước vượt qua khó khăn thách thức, nhất là kiềm chế lạm phát, ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng hợp lý. Mặt trận Tổ quốc các cấp ngày càng mở rộng thêm các thành viên; các tổ chức thành viên của Mặt trận ngày càng tăng cường tập hợp, thu hút thêm nhiều đoàn viên, hội viên mới, góp phần tập hợp ngày càng đông đảo các tầng lớp nhân dân vào trong các tổ chức thích hợp. Mặt trận Tổ quốc các cấp luôn chú ý tới công tác vận động, phát huy vai trò các nhân sỹ, trí thức, người tiêu biểu trong các dân tộc thiểu số, chức sắc các tôn giáo và người Việt Nam ở nước ngoài trong công tác vận động, đoàn kết, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nhiều năm qua, nhất là những năm gần đây, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tổ chức tốt Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc với nhiều nội dung, hình thức phong phú, ở hầu khắp các khu dân cư trong cả nước nhân dịp kỷ niệm Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam (18-11). Ngày hội đã khơi dậy và phát huy truyền thống đoàn kết, yêu nước, tăng cường sự đồng thuận ở cộng đồng dân cư; là biểu hiện sinh động tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình mới.

Mặt trận Tổ quốc các cấp đã phát huy vai trò là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, tích cực tham gia đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị; vận động toàn dân phát huy dân chủ, đẩy mạnh các hoạt động giám sát, nhất là ở cơ sở và địa bàn khu dân cư, tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí..., góp phần xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Đây cũng chính là cơ sở quan trọng, là điều kiện để phát huy dân chủ, khơi dậy và phát huy sức sáng tạo của nhân dân, góp phần tăng cường đồng thuận xã hội, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng không ngừng mở rộng hoạt động đối ngoại nhân dân, góp phần thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước; tăng cường tình đoàn kết, hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trong khu vực và trên thế giới, nhất là các nước có quan hệ truyền thống; tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới đối với sự nghiệp đổi mới của đất nước.

Hiện nay, trong xã hội có nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế, giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau, song về cơ cấu các giai cấp, các tầng lớp đã và đang thay đổi theo chiều hướng tiến bộ, mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp là mối quan hệ hợp tác và đấu tranh trong nội bộ nhân dân, đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các chính sách về đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng cụ thể, được thực thi khá tích cực. Tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm xã hội của nhân dân được tôn trọng và khơi dậy trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Mối liên hệ của nhân dân với Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể thêm gắn bó, tin cậy và cũng đòi hỏi ngày một cao hơn. Vai trò của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân trong hệ thống chính trị và trong đời sống xã hội được tăng cường và phát huy một bước. Các cấp uỷ Đảng, chính quyền đã chú ý lắng nghe, đối thoại với các tầng lớp nhân dân và với các ý kiến khác nhau; việc thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội có nhiều tiến bộ. Các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội từng bước được thực hiện hài hoà; truyền thống nhân nghĩa, khoan dung và hoà hiếu của dân tộc được đề cao. Sự đồng thuận xã hội trong các vấn đề lớn của đất nước ngày càng cao; điểm tương đồng trong nhân dân vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh ngày càng được tăng cường. Đây là những nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh và chấn hưng đất nước; nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế.

Tuy nhiên, cùng với những thành tựu về sự nghiệp xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trong xã hội ta vẫn còn những yếu tố ảnh hưởng không tốt đến việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong hệ thống chính trị, có lúc, có nơi chưa nhận thức đầy đủ và sâu sắc về sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc, về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Trong các tầng lớp nhân dân, nhiều người chưa nhận thức đầy đủ về quyền, nghĩa vụ của công dân, hiểu biết pháp luật còn hạn chế; ý thức giữ gìn kỹ cương xã hội và kỷ luật lao động chưa tốt, thiếu quan tâm đến các vấn đề chính trị, thiếu tu dưỡng đạo đức, có lối sống thực dụng, lai căng....

 Tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu nhân dân trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, công chức Nhà nước chưa được ngăn chặn, đẩy lùi. Dân chủ và kỷ cương xã hội chưa được thực hiện đầy đủ; bộ máy Nhà nước còn cồng kềnh, cải cách hành chính chưa đạt mục tiêu, yêu cầu đặt ra... làm ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước.

Nhiều vấn đề bức xúc trong xã hội, nhất là tình trạng phân hoá giàu nghèo ngày càng doãng xa hơn; tình hình thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp... gây băn khoăn, lo lắng cho các tầng lớp nhân dân.

Đội ngũ cán bộ làm công tác Mặt trận, đoàn thể các cấp cũng còn nhiều hạn chế, có nơi bất cập, chưa được quan tâm quy hoạch, đào tạo bồi dưỡng, cán bộ chủ chốt Mặt trận thường thay đổi, thiếu ổn định; chính sách đối với cán bộ Mặt trận và đoàn thể chưa phù hợp; điều kiện đảm bảo cho hoạt động còn nhiều khó khăn... làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động.

Các thế lực thù địch đang ra sức chống phá sự nghiệp đổi mới của nước ta, thực hiện âm mưu diễn biến hòa bình, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ’’, “nhân quyền”, lợi dụng các vấn đề tôn giáo, dân tộc hòng phá hoại thành quả cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Những yếu tố trên tác động lẫn nhau, làm hạn chế việc phát huy thành quả của công cuộc đổi mới, làm giảm lòng tin trong một bộ phận nhân dân, ảnh hưởng đến sự đồng thuận xã hội và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây cũng là những khó khăn, thách thức của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ mới.

Để tiếp tục củng cố, tăng cường và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, sớm đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng vào cuộc sống, đòi hỏi các cấp uỷ Đảng, chính quyền, Mặt trận, các đoàn thể và các tầng lớp nhân dân cần tăng cường quán triệt và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về đại đoàn kết toàn dân tộc, về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong tình hình mới; đẩy mạnh thực hiện có hiệu quả cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”..., qua đó tiếp tục tăng cường đồng thuận xã hội, tăng cường và phát huy sức mạnh khối đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, đẩy mạnh toàn diện sự nghiệp đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tăng cường và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân; của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.

Đảng và Nhà nước cần tiếp tục quan tâm hoàn thiện hệ thống chính sách và pháp luật. Đây là vấn đề có tính cấp thiết, là yếu tố quyết định trực tiếp đến đại đoàn kết dân tộc. Có tăng cường được đồng thuận xã hội hay không, có củng cố, tăng cường và phát huy được sức mạnh toàn dân tộc hay không, phụ thuộc rất lớn vào hệ thống chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, nhất là những chính sách, pháp luật liên quan trực tiếp tới từng dân tộc, giai cấp, tầng lớp xã hội, tôn giáo và người Việt Nam ở nước ngoài...; bảo đảm chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vừa đúng ý Đảng, vừa hợp lòng dân và sát với yêu cầu thực tiễn. Có như vậy, mới phát huy được mọi khả năng sáng tạo và sức mạnh của nhân dân, là cơ sở quan trọng để thực hiện đại đoàn kết toàn dân. Trong giai đoạn đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới và chủ động hội nhập quốc tế, “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong việc tập hợp, vận động, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân; đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân; đưa các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các chương trình kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh vào cuộc sống, góp phần xây dựng sự đồng thuận trong xã hội”. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng, đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của các tầng lớp nhân dân; góp sức xây dựng Nhà nước trong sạch vững mạnh, xây dựng, chỉnh đốn Đảng; xây dựng chủ trương, chính sách, pháp luật; tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thực hiện giám sát của nhân dân đối với công tác và đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, công chức, đại biểu dân cử và các cơ quan Nhà nước; giải quyết những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân... Đảng, Nhà nước cần tiếp tục xây dựng và hoàn chỉnh các quy định và bảo đảm những điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân hoạt động hiệu quả, nhất là giám sát và phản biện xã hội theo tinh thần Nghị quyết Đại hội X. Đồng thời, quan tâm chăm lo, xây dựng đội ngũ cán bộ Mặt trận và đoàn thể ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ mới.

Phát huy khối đại đoàn kết dân tộc luôn gắn liền với yêu cầu mở rộng dân chủ và giữ vững kỷ cương trong đời sống xã hội trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội..., ở tất cả các cấp, các ngành. Do vậy, các cơ quan Nhà nước, các cấp chính quyền, phải chăm lo phát huy và bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân theo pháp luật, ngăn chặn và xử lý nghiêm minh những biểu hiện vi phạm quyền dân chủ của nhân dân, cũng như những biểu hiện lợi dụng dân chủ để vi phạm pháp luật, kích động nhân dân, gây rối trật tự công cộng, ảnh hưởng đến sự ổn định xã hội, làm sứt mẻ tình cảm và chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Trước yêu cầu đổi mới, chỉ có mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa thực sự mới có đoàn kết thực sự và bền vững; thực hiện dân chủ và đoàn kết từ trong Đảng ra toàn xã hội; thực hiện thật tốt Quy chế dân chủ ở các cấp, nhất là Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn.

Các cấp uỷ Đảng cần đổi mới hơn nữa phương thức lãnh đạo trong điều kiện một Đảng cầm quyền đối với hoạt động của hệ thống chính trị và toàn xã hội, đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân; thực hiện tốt vai trò Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Nhà nước cần tiếp tục phối hợp, tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể hoạt động hiệu quả, thiết thực hơn. “Các cấp uỷ đảng và cấp chính quyền có chế độ tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với nhân dân; thường xuyên lắng nghe ý kiến của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân phản ánh với Đảng, Nhà nước những vấn đề mà nhân dân quan tâm, tham gia xây dựng chủ trương, chính sách, pháp luật. Thực hiện tốt Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Quy chế dân chủ ở mọi cấp để Mặt trận, các đoàn thể và các tầng lớp nhân dân tham gia xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống chính trị”.

Bản thân các cấp Mặt trận cần tiếp tục tăng cường tổ chức, đổi mới nội dung và phương thức, nâng cao hiệu quả hoạt động, đa dạng hoá các hình thức vận động tập hợp, tăng cường và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đẩy mạnh cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, nâng cao chất lượng hai cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” và “Ngày vì người nghèo”; chung sức chung lòng cùng Đảng, Nhà nước ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tốc độ tăng trưởng hợp lý, bền vững, bảo đảm an sinh xã hội, đẩy mạnh hợp tác và hội nhập kinh tế quốc tế một cách chủ động và hiệu quả; giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội; đẩy mạnh vận động các tầng lớp nhân dân phát huy dân chủ, thực hiện quyền làm chủ, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại nhân dân, tăng cường tình đoàn kết quốc tế giữa nhân dân ta với nhân dân các nước trong khu vực và trên thế giới.

Tự hào về dân tộc Việt Nam anh hùng, Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại; tự hào về truyền thống 80 năm vẻ vang của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam; hướng về tương lai tươi sáng của dân tộc ta, phấn khởi đón chào Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tin tưởng đồng bào và chiến sĩ cả nước, đồng bào ta đang sinh sống ở nước ngoài đoàn kết một lòng, đồng tâm nhất trí, mang hết tài năng, trí tuệ và công sức cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phấn đấu đưa nước ta sớm trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nguyện thực hiện tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu:

                                            “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
                                       Thành công, thành công, đại thành công”.

   | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |    



CÔNG TÁC MẶT TRẬN THÁNG 11 NĂM 2010

                                                                                                               TÔ VĂN VỸ*

      Tháng 11-2010, đánh dấu 80 năm ra đời của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Vịêt Nam. Thiết thực chào mừng sự kiện này, Mặt trận các cấp và các tổ chức thành viên có rất nhiều hoạt động nổi bật.

1. Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam:

Kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam (18-11-1930 / 18-11-2010), ở Trung ương có 2 hoạt động chính1.

      Sáng 17-11-2010, tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình, Hà Nội sẽ tổ chức Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam, với mục đích: Thông qua hoạt động kỷ niệm để góp phần ôn lại chặng đường lịch sử vẻ vang 80 năm Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; giáo dục truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ý chí tự lực, tự cường; phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về nhiệm vụ xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, về vai trò, vị trí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Khẳng định nhân tố quan trọng, có ý nghĩa quyết định thắng lợi của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, trong công cuộc đổi mới đất nước và trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Tạo không khí phấn khởi và sự đồng thuận xã hội, cổ vũ động viên các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước, chung sức, chung lòng thực hiện các giải pháp ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng, bảo đảm an sinh xã hội... Tại lễ kỷ niệm, Nhà nước trao tặng Huân chương SAO VÀNG cho Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (trao tặng lần thứ 2).

Trước đó, ngày 10-11, tại cơ quan Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề: “Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam - những chặng đường vẻ vang” do Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương và Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức. Tham dự và chủ trì Hội thảo có ông Trương Tấn Sang Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư. Ông Lê Khả Phiêu nguyên Tổng Bí thư, ông Nguyễn Văn An nguyên Chủ tịch Quốc hội, ông Trần Trọng Tân, nguyên Trưởng ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương, ông Nguyễn Khánh nguyên Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng, ông Phạm Thế Duyệt nguyên Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam... đã có báo cáo tham luận tại Hội thảo. Kỷ yếu của Hội thảo có 45 bài tham luận. và công chiếu phim tài liệu truyền thống: “Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam - những chặng đường vẻ vang”.

Bên cạnh đó, có một số hoạt động khác như: phối hợp tiến hành bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử của Mặt trận tại các tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên, Quảng Nam và Tây Ninh theo Kết luận của Ban Bí thư Trung ương Đảng; tại Nhà hát Lớn Hà Nội đêm 16-11-2010 sẽ tổ chức chương trình nghệ thuật chào mừng kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam.

2. Tại các địa phương:

Kết hợp với kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam, từ ngày 1-11 đến ngày 18-11, tất cả các địa phương trong cả nước tổ chức “Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc” ở khu dân cư do Ban Công tác Mặt trận chủ trì để ôn lại lịch sử và truyền thống của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam; vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng ngày nay. Báo cáo tổng kết cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” năm 2010 gắn với kết quả thực hiện đợt thi đua đặc biệt do Đại hội VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động từ tháng 9-2009 đến 18-11-2010, nhiệm vụ nâng cao hiệu quả cuộc vận động năm 2011. Công bố danh sách hộ gia đình văn hoá; biểu dương, khen thưởng tập thể, gia đình và cá nhân tiêu biểu trong thực hiện cuộc vận động và trong đợt thi đua đặc biệt; phát động thi đua, đăng ký phấn đấu đạt các danh hiệu thi đua năm 2011.

3. Một số công tác Mặt trận đáng chú ý:

Cuối tháng 10 đầu tháng 11-2010, 2 đợt bão lũ diễn ra ở miền Trung đã gây thiệt hại lớn về người và tài sản của Nhà nước và nhân dân các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Khánh Hoà, Phú Yên... Cả nước đã hướng về miền Trung, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tiếp nhận nhiều sự ủng hộ của nhân dân cả nước, kiều bào ta ở nước ngoài, các tổ chức quốc tế. Theo báo cáo của Ban Cứu trợ Trung ương, tính từ đầu tháng 11-2010, có trên 430 tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân ủng hộ và chuyển tiền về tài khoản Quỹ Cứu trợ Trung ương với tổng số tiền đạt trên 17,3 tỷ đồng; 8.287 USD; 4.000 Kroner (Đan Mạch). Tại các địa phương, theo báo cáo sơ bộ, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam của 24 tỉnh và thành phố đã vận động và chuyển trực tiếp đến đồng bào các tỉnh miền Trung bị lũ lụt hơn 22 tỷ đồng; ngoài ra còn rất nhiều hiện vật, như: thuốc men, hàng hoá, quần áo, vật tư... Việc khắc phục 2 đợt lũ lụt còn tiếp tục trong tháng 11-20102.

Tiếp tục triển khai kế hoạch tổ chức vận động “Tháng cao điểm vì người nghèo” (17-10 / 18-11-2010) và chuẩn bị Chương trình “Nối vòng tay lớn” (31-12-2010).

Chuẩn bị Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; 5 năm Thanh tra nhân dân xã, phường, thị trấn và Quy chế Mặt trận Tổ quốc giám sát cán bộ, công chức, đảng viên ở khu dân cư.

Xây dựng kế hoạch chuẩn bị tổ chức Hội nghị lần thứ năm Đoàn Chủ tịch, Hội nghị lần thứ ba Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Chuẩn bị tổ chức Hội nghị sơ kết Quy chế phối hợp năm 2010 giữa Đoàn Chủ tịch và Chủ tịch Nước, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ.

Hỗ trợ Uỷ ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam tổ chức Hội nghị thi đua toàn quốc biểu dương người tốt việc tốt, gương điển hình tiên tiến xuất sắc trong đồng bào công giáo lần thứ III; ủng hộ và tạo điều kiện thành lập “Quỹ vì trẻ em khuyết tật” thuộc Uỷ ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam.

____________________________

1. Xem chi tiết những hoạt động này trên báo Nhân dân, Đại đoàn kết... vào dịp lễ kỷ niệm.
2. Xem chi tiết trên báo Đại đoàn kết các số tháng 10, 11-2010.
* Nhà báo.

   | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |    



Mấy suy nghĩ về

CÔNG TÁC DÂN TỘC CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

                                                                                               LÙ VĂN QUE*

      Thực chất của công tác dân tộc ở nước ta hiện nay là nắm và nghiên cứu các dân tộc; đề xuất xây dựng và thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, giải quyết tốt mọi vấn đề liên quan đến các dân tộc, bảo đảm các dân tộc cùng phát triển, bình đẳng và đoàn kết, tiến bộ; tổ chức đồng bào các dân tộc đi theo Đảng và Bác Hồ làm cách mạng.

Công tác dân tộc là công việc của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành, của cả hệ thống chính trị và toàn thể cán bộ, đảng viên nói chung. Tuy nhiên, do tính chất quan trọng của nó nên hiện nay ở Trung ương có cơ quan chuyên trách làm công tác dân tộc, của Chính phủ là Uỷ ban dân tộc, của Quốc hội là Hội đồng dân tộc, của Trung ương Đảng là Vụ Dân tộc thuộc Ban Dân vận, với Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là Ban Dân tộc - Tôn giáo. Ở mỗi địa phương tương ứng theo tổ chức bộ máy Đảng, chính quyền, Mặt trận, các đoàn thể đều có tổ chức hoặc cán bộ được phân công chuyên làm công tác dân tộc.

Theo quy định của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Điều lệ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thì Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có vai trò to lớn trong việc tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc,... Để làm tốt vai trò đó trong hoạt động thực tiễn của mình, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã có nhiều việc làm cụ thể góp phần xây dựng khối đại đoàn kết và phát triển các dân tộc. Từ năm 1947 đến năm 1954, ở nước ta không còn Nha dân tộc, chỉ có Phòng quốc dân thiểu số thì Phòng quốc dân này thuộc Ban Mặt trận - Dân vận Trung ương chỉ đạo.

1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam muốn tập hợp, xây dựng được khối đại đoàn kết toàn dân thật rộng rãi, thật vững chắc thì phải nắm được dân. Các tầng lớp nhân dân, mọi người Việt Nam yêu nước (gồm các dân tộc thiểu số và dân tộc đa số), có chung lý tưởng, mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” đều là đối tượng đoàn kết của Mặt trận.

Uỷ ban Mặt trận và các tổ chức thành viên phải có người đủ đức tài, đến với dân, biết thuyết phục và tập hợp dân, nắm chắc lòng người để biết họ nghĩ gì, mừng gì, lo gì, muốn gì? Rồi biết gỡ từng việc cụ thể, hợp với từng đối tượng, việc tốt thì nhân lên, việc khó cùng bàn và chỉ bảo, việc xấu phải phân tích và đấu tranh, phải gương mẫu làm các việc có lợi cho đất nước để dân theo,... Có như vậy dân mới vào tổ chức, mới có đại đoàn kết toàn dân tộc để tạo ra sức mạnh chung. Nắm được lòng dân là việc khó nhưng có ý nghĩa sống còn, quản lý về dân tộc mới chặt chẽ và có đối sách giải quyết kịp thời những vấn đề mới về dân tộc, làm cho ý Đảng hợp với lòng dân.

Xây dựng tư tưởng “đại đoàn kết” là đặt tư tưởng “đại đoàn kết” của Bác Hồ trong lòng người dân, là đẩy mạnh việc tuyên truyền, học tập sâu rộng, vận động mọi người hiểu rõ và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về đại đoàn kết và tăng cường vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Phải giáo dục tư tưởng “đại đoàn kết” của Bác Hồ sao cho ngấm vào thịt, vào xương, vào máu của mọi người dân để dân thấy thiếu nó thì không sống được, biến nó thành ý thức tự nguyện, tự giác, khi đó mới có sức mạnh “đại đoàn kết” thực sự từ lòng người, của dân tộc Việt Nam ta.

2. Vấn đề có ý nghĩa quyết định, là phải làm cho “các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ”, như Bác Hồ đã nói. Giải quyết vấn đề dân tộc, thực chất và cốt lõi là vấn đề lợi ích. Ngày nay, ngoài lợi ích chung “giữ vững độc lập, thống nhất Tổ quốc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”, trong mỗi người, mỗi gia đình, mỗi dân tộc, mỗi tầng lớp nhân dân trong xã hội có sự khác nhau về lợi ích riêng, rất đa dạng và phức tạp. Để giải quyết vấn đề đó, Đảng và Nhà nước ta có cơ chế, đề ra được nhiều chính sách cụ thể tác động đến các dân tộc.

Để cơ chế, chính sách phát huy được hiệu quả, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải tăng cường giám sát và phản biện trong quá trình nghiên cứu xây dựng chính sách dân tộc và việc chỉ đạo thực hiện chính sách đó. Việc điều tra, nghiên cứu, kiểm tra, rà soát lại một số chủ trương, cơ chế và chính sách đang hiện hành, phát hiện điều gì lỗi thời, không hợp lòng dân, không sát thực tiễn, trái các nguyên tắc, chính sách dân tộc để kịp thời điều chỉnh là rất quan trọng. Đồng thời, phải gắn làm sao cho chính sách Mặt trận và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta có tác động thúc đẩy lẫn nhau. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần chủ động cùng với Đảng và Nhà nước, các cấp và các ngành có trách nhiệm tập trung sức phát triển kinh tế - xã hội, sớm thu hẹp khoảng cách chênh lệch về các mặt giữa các vùng và các dân tộc, nhất là sớm xóa được đói nghèo,... nhằm bảo đảm công bằng và bình đẳng xã hội, chăm lo lợi ích hợp pháp, thiết thực, chính đáng của các tầng lớp nhân dân. Đồng thời, sớm tạo ra một cơ chế kết hợp giải quyết hài hòa, hợp lý các lợi ích về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giữa lợi ích vật chất và tinh thần, lợi ích chung và lợi ích riêng, lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài của các tầng lớp nhân dân, các dân tộc,... Có làm như vậy mới xây được niềm tin, mới tạo lập được các mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân với cộng đồng, với xã hội, mới có đồng thuận xã hội, mới có đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ mới. Chỉ có giải quyết tốt lợi ích thì mới có niềm tin, khi có niềm tin là có tất cả.

3. Vận động đồng bào các dân tộc tham gia các cuộc vận động và phong trào thi đua yêu nước. Phải nâng cao và đẩy mạnh thực hiện tốt các nội dung của cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động tại vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới; góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, truyền thống tốt đẹp của các dân tộc, vận động đồng bào xóa bỏ những tập tục lạc hậu, xây dựng cuộc sống văn minh,... Mở rộng các cuộc vận động và phong trào thi đua cũng là hình thức để tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân, không bỏ sót những ai có tài, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân như Bác Hồ dạy; cần có thêm hình thức kết nghĩa trong nước giữa các vùng miền, giữa các dân tộc, giữa các dòng họ trong từng dân tộc,... làm cho sợi dây đoàn kết rộng rãi mà bền chặt hơn.

4. Trọng dụng những người tiêu biểu trong các dân tộc. Người tiêu biểu trong các dân tộc có tác động rất quan trọng trong việc tập hợp đồng bào, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước và Mặt trận. Thực tế cho thấy, có nhiều việc của dòng họ và dân tộc, của khu dân cư và làng bản nếu không có người tiêu biểu làm thì không ai làm thay được. Họ chính là “cầu nối” rất tốt giữa Đảng và Nhà nước với dân, giữa dân với dân, giữa các dòng họ, giữa dân tộc này với dân tộc khác. Nhờ họ mà có nhiều công việc của địa phương, cơ sở được giải quyết “thấu tình đạt lý” mà có khi cán bộ nghĩ mãi không ra, nói mười không bằng họ nói một, cán bộ khó làm mà họ làm được một cách dễ dàng.

Trong thời kỳ mới, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam càng phải biết “chiêu hiền đãi sĩ”, tìm chọn cho được những “ngọn cờ” tiêu biểu của từng dân tộc và dòng họ ở các vùng, là những người có đức có tài, biết thu phục được lòng dân làm công tác Mặt trận; phải khéo quản lý và biết phát huy vai trò của những người tiêu biểu trong các dân tộc, biết cảm hóa, tranh thủ, lấy họ làm hạt nhân đoàn kết để tập hợp đông đảo quần chúng, cùng nhau xây dựng cuộc sống mới. Đấy thực sự là nghệ thuật dùng người, biết “qua trên nắm dưới, dựa vào dưới để nắm trên”, từ một người mà có thế cảm hóa, tranh thủ và đoàn kết được nhiều người, không bỏ sót những người hiền tài, biết trọng dụng họ thì rõ ràng chỉ có lợi cho cách mạng, cho đồng bào các dân tộc và cho đất nước.

Điều cơ bản là phải chủ động có kế hoạch công tác để phát huy họ, phối hợp cùng với họ; phải giữ được quan hệ mật thiết với họ bằng lòng thành của mình, tin tưởng và tôn trọng họ, không chỉ động viên chung chung mà còn phải biết học họ, tăng cường các hình thức gặp gỡ, đối thoại, phổ biến cho họ nắm được chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến dân tộc,... Cần động viên cả tinh thần và vật chất đối với bản thân và gia đình họ, có lúc vui, buồn, ốm đau, những ngày lễ tết, khi họ thực sự có khó khăn, quan tâm đến việc học tập và công tác của con cháu họ. Phải đặc biệt chú ý đến việc bảo vệ người tiêu biểu và gia đình họ, không để kẻ địch, phần tử xấu tác động, lợi dụng, mua chuộc, lôi kéo, đe dọa, vô hiệu hóa họ.

5. Kiên quyết chống địch phá hoại đoàn kết dân tộc. Bác Hồ nói, đại đoàn kết toàn dân tộc là một quốc sách có ý nghĩa chiến lược, vì “có đoàn kết mới có lực lượng, có lực lượng mới giành được độc lập, tự do”, đại đoàn kết toàn dân tộc là sức mạnh vô địch của dân tộc ta, của cách mạng nước ta.

Các thế lực thù địch biết rõ sức mạnh đó nên luôn tìm cách phá hoại khối đoàn kết thống nhất của Đảng và dân tộc ta, làm cho ta mất ổn định chính trị - xã hội. Chúng luôn tăng cường “chiến tranh ngầm dân tộc và tôn giáo”, nhất là ở vùng dân tộc, thông qua việc chi viện tiền, cài cắm người để xây dựng cơ sở, thực hiện thủ đoạn mị dân, xuyên tạc, cưỡng ép, đe dọa, chia rẽ, gây mất đoàn kết dân tộc.

 Do đó, để tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc phải nâng cao cảnh giác đối với các thế lực thù địch. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải vạch rõ những âm mưu và hành động chống phá ta để cho mọi người dân hiểu rõ và tự giác phòng chống, quyết không nghe, không tin, không làm theo kẻ xấu, không để bọn người xấu đòi tự trị, ly khai, bảo vệ được khối đoàn kết thống nhất của Đảng và dân tộc, an ninh của Tổ quốc. Còn phải chống các biểu hiện của tư tưởng kỳ thị, chia rẽ dân tộc,... Kẻ thù và phần tử xấu không những lợi dụng mà còn khoét sâu thêm những tư tưởng đó, sử dụng nó để nội công ngoại kích chống phá ta, kích động tư tưởng dân tộc cực đoan, gây chia rẽ dân tộc và đòi ly khai. Những tư tưởng đó đều xa lạ với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trái với truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, các nguyên tắc chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta về bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giúp nhau phát triển, tiến bộ.

Để thực hiện tốt chính sách dân tộc, xác định đúng nội dung công tác dân tộc thì khi làm công tác dân tộc ai cũng phải nắm vững và thực hiện tốt phương châm, phương pháp công tác dân tộc, đó là “kiên trì, thận trọng, chắc chắn”,... Đây là công việc có tính đặc thù, có ý nghĩa chiến lược lâu dài, là vấn đề có tính thời sự cấp bách và rất nhạy cảm, vẫn còn nhiều khó khăn và phức tạp nên phương châm, phương pháp công tác là phải chân thành, kiên trì và tế nhị, thận trọng và vững chắc, tích cực và khẩn trương,...

Chân thành là tỏ lòng thực, không gian dối, không lợi dụng, không mị dân. Kiên trì là có thái độ nhẫn nại và biết chờ đợi, nhưng không phải cứ ngồi đấy chờ đợi mà phải biết vận động. Thận trọng là cách xử trí, làm việc gì cũng phải cân nhắc kỹ các mặt, không hữu và không tả, đã quyết làm thì phải bảo đảm vững chắc, có lợi và làm tốt việc đó; không chấp nhận đầu óc phiêu lưu, làm bừa và làm ẩu, không dám quyết đoán, bỏ lỡ thời cơ. Tích cực là dám nghĩ, dám làm, làm nhanh, làm chắc; không trông chờ ỷ lại, thụ động, bảo thủ, trì trệ, “đánh trống bỏ dùi”, “đầu voi đuôi chuột”; không nóng vội, nông nổi, bồng bột kiểu “lửa rơm”,...

Cùng với thực hiện phương châm và phương pháp công tác dân tộc, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng phải làm theo lời dạy của Bác Hồ “dĩ bất biến ứng vạn biến”,... Ở đây, “dĩ bất biến” là bảo đảm bình đẳng và đoàn kết các dân tộc; còn “ứng vạn biến” là những chủ trương và giải pháp, cơ chế và chính sách, cách giải quyết chủ động và sáng tạo, mềm dẻo và linh hoạt, hợp với thực tiễn, có hiệu quả. Trong đối sách và giải pháp của “ứng vạn biến”, điều quan trọng là phải “lấy dân làm gốc”, phải do dân, trọng dân, tin và dựa vào họ, phải vì dân, có trách nhiệm với dân, phải đi xuống với đồng bào các dân tộc, không quan liêu và hành chính hóa. Vì dân là gốc nên Bác Hồ còn dạy: “Làm cái gì? Cứ hỏi dân. Dân ưng cái gì, không ưng cái gì. Người ta ưng cái gì thì làm, không ưng cái gì thì đừng có làm. Làm thế nào? Cũng hỏi dân. Cử ai làm? Cũng phải hỏi dân”,...

Để tăng được bạn, bớt được thù thì phải vận động, giáo dục, thuyết phục, nêu gương, lấy lòng chân thành để đối xử; lấy niềm tin yêu, giúp đỡ để cảm hóa và phân hóa, biết tranh thủ và đoàn kết những người có thể tranh thủ và đoàn kết được, biết “qua trên nắm dưới, dựa vào dưới để nắm trên”, biết dùng để giữ, biết giữ và dùng, phát huy nhân tố tích cực, đầy lùi nhân tố tiêu cực. Hãy vì mục tiêu bình đẳêng và đoàn kết, khuyên nhau nhân nhượng, gác lại quá khứ, xóa bỏ bất hòa, hướng tới tương lai, giúp nhau cùng tiến bộ, đóng góp có hiệu quả vào sự nghiệp chung!

Coi trọng tuyên truyền, giáo dục đúng và trúng, lấy dân tộc và dòng họ giáo dục nhau, viết và nói ngắn gọn, thiết thực và cụ thể, hợp với từng đối tượng, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm thì tuyên truyền giáo dục mới có hiệu quả. Phải tìm hiểu về tổ chức xã hội truyền thống trong từng dân tộc để kế thừa, phát huy nhân tố cần thiết và có tác dụng tích cực, như: già làng, trưởng bản, trưởng dòng họ vẫn có vai trò và được bà con tín nhiệm; tìm hiểu phong tục, tập quán sinh hoạt của từng dân tộc để đề ra chủ trương, nhiệm vụ công tác đúng đắn, sát hợp, có tính khả thi, như xoá bỏ cái cũ, lạc hậu và xây dựng cái mới, tiến bộ.

Cái khó là làm sao để dân tin, dân theo Đảng đến cùng? Không phải chỉ có chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải hợp lòng dân, mà điều có ý nghĩa quyết định là phải tổ chức thực hiện tốt chủ trương, chính sách đó, đem lại lợi ích cho dân. Không chỉ có thế, tùy từng nơi, từng dân tộc tự xác định một số nhiệm vụ cơ bản, đề xuất chọn những trọng tâm công việc thiết thực, có tính đột phá, làm nền tảng để tạo sự biến đổi vững chắc cho dân tộc ổn định và phát triển; phải chọn được những mô hình và bước đi thích hợp với từng nơi, từng lúc, từng dân tộc; phải biết phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực, tập hợp được sức mạnh, kết hợp hài hòa sự giúp đỡ của bên ngoài với hướng dẫn cụ thể để đồng bào tự vươn lên; nói đi đôi với làm, không chỉ nơi khó làm trước, việc khó làm thử, nhân điển hình lên, mà ở đâu cần, việc nào cần phải làm trước, không áp đặt, không ban ơn, không làm thay.

Những người làm công tác Mặt trận không chỉ có “3 cùng” với dân như trước, mà phải có đức tài tốt như Bác Hồ dạy “Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”, không quan liêu, tham nhũng, lãng phí, làm được 12 chữ “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”, biết lo cho dân, biết học dân, nghe dân nói, hiểu được dân, nói dân hiểu, làm để giúp đồng bào học và tự làm, làm từ đơn giản đến phức tạp, từ việc nhỏ đến việc lớn làm cho đến kết quả cuối cùng, tránh làm nửa vời vừa không hiệu quả, vừa mất lòng tin với dân, phải làm cho dân tin, dân mến, dân phục. Chỉ khi nào tạo được phong trào cách mạng trong cán bộ và đồng bào các dân tộc thì vùng dân tộc mới đổâi mới được, mới đánh thắng giặc đói nghèo và giặc dốt, chống được “diễn biến hòa bình” của địch; sự nghiệp bình đẳng, đoàn kết, tiến bộ của các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam mới thành công, vững chắc.

* Ủy viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

   | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |    



NHỮNG KINH NGHIỆM VỀ XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO
CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

                                                                                      HÀ VĂN NÚI*

        Trong chiến lược xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn chủ trương phát triển kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; trong đó xóa đói, giảm nghèo đối với bộ phận dân cư đang chịu thiệt thòi và có mức sống quá thấp là vấn đề được coi trọng đặc biệt.

Không phải ngẫu nhiên, chỉ một ngày sau khi tuyên bố “Tuyên ngôn độc lập” với cả thế giới, ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra ba nhiệm vụ cấp bách cần phải giải quyết, đó là: Giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. Trong đó, Người đặt việc giải quyết “giặc đói” lên hàng đầu, điều đó có ý nghĩa vô cùng quan trọng và cấp thiết, “vì mục tiêu của dân tộc ta là đánh đổ phong kiến, đế quốc để đem lại cơm ăn, áo mặc, học hành cho nhân dân... nếu độc lập rồi mà đồng bào vẫn còn đói khổ thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì”. Ngày 17-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có lời kêu gọi toàn dân chống giặc đói. Năm 2000 Liên hợp quốc đã chọn ngày 17-10 hàng năm làm ngày “Thế giới chống đói nghèo”. Thủ tướng Chính phủ đã có sáng kiến lấy ngày 17-10 hàng năm là “Ngày vì người nghèo” của Việt Nam. Thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo, Chính phủ đã xây dựng các chương trình, dự án lớn nhằm thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng, như: Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa (gọi tắt là Chương trình 135); Chương trình về định hướng kế hoạch phát triển các vùng Tây Nguyên (Chương trình 168); Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long (Chương trình 173); Chương trình phát triển vùng đặc biệt khó khăn 6 tỉnh miền núi phía Bắc (Chương trình 186); Quyết định 134/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào nghèo, đời sống khó khăn; Chính sách hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo (Quyết định 167/2008/QĐ-TTg của Chính phủ ngày 12-12-2008); Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo (Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27-12-2008)...

Hưởng ứng công cuộc xóa đói, giảm nghèo của Đảng, Nhà nước, với vai trò là một tổ chức liên minh chính trị rộng lớn, nơi tập hợp khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy truyền thống yêu nước của cả dân tộc, ngày 17-10-2000, Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã phát động cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” ra lời kêu gọi đồng bào, chiến sỹ cả nước, các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp, những nhà hảo tâm, người Việt Nam ở nước ngoài, các tổ chức quốc tế dành sự quan tâm chăm lo cho người nghèo Việt Nam; tạo cơ hội để bộ phận người nghèo ổn định cuộc sống, vươn lên thoát nghèo bền vững. Đây là một cuộc vận động mang nét nhân văn sâu sắc nhằm phát huy truyền thống đoàn kết, “tương thân tương ái”, “lá lành đùm lá rách” của dân tộc ta. Cuộc vận động đã được lãnh đạo Đảng, Nhà nước quan tâm, Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương phối hợp thực hiện; được đồng bào, chiến sỹ trong cả nước và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đồng tình hưởng ứng và tích cực tham gia. Sau 10 năm tổ chức thực hiện, cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” đã được triển khai trong toàn quốc, phát triển sâu rộng đến cơ sở, địa bàn khu dân cư, với sự tham gia đông đảo của các tầng lớp nhân dân và trở thành một hoạt động thường xuyên và trọng tâm của Mặt trận các cấp và các tổ chức thành viên. Các hoạt động giúp đỡ người nghèo diễn ra với nhiều nội dung, hình thức phong phú, đa dạng: giúp đỡ bằng tiền của, công sức, kinh nghiệm sản xuất, tạo việc làm, giúp học nghề... Song hình thức giúp đỡ bằng việc đóng góp tiền ủng hộ “Quỹ vì người nghèo” để xây dựng nhà Đại đoàn kết, xóa nhà dột nát cho hộ nghèo đã huy động được đông đảo đồng bào trong và ngoài nước tham gia. Tính đến tháng 9-2010, “Quỹ vì người nghèo” 4 cấp đã vận động được 5.120 tỷ đồng (trong đó “Quỹ vì người nghèo” Trung ương vận động được 328 tỷ đồng). Từ nguồn Quỹ và cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước, sự tham gia của cộng đồng, sự đóng góp, vươn lên của chính hộ nghèo, hiện cả nước đã xây dựng và sửa chữa được 972.274 căn nhà cho hộ nghèo. Đồng thời, thông qua cuộc vận động, hàng triệu lượt người nghèo được giúp đỡ để phát triển sản xuất, khám chữa bệnh, học sinh con gia đình nghèo có điều kiện đi học, hàng chục vạn hộ nghèo được giúp để hỗ trợ lúc Tết đến, khi giáp hạt, khi gặp thiên tai, lũ lụt... Cuộc vận động đã được cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở hưởng ứng, tham gia. Nhiều cấp uỷ Đảng, chính quyền và các đoàn thể ở một số tỉnh, thành phố đã có quyết tâm cao nhằm cùng với Mặt trận vận động, kêu gọi sự đóng góp, ủng hộ cho Quĩ và tích cực chỉ đạo làm nhà “Đại đoàn kết” cho người nghèo, giúp người nghèo có điều kiện ổn định cuộc sống, tự tin vươn lên thoát khỏi đói nghèo, góp phần cùng Nhà nước giảm nhanh tỷ lệ đói nghèo, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, xóa dần khoảng cách giữa các vùng miền. Nhiều tỉnh, thành phố đã có nhiều sáng kiến, sáng tạo nhiều hình thức quyên góp phong phú nên huy động được nguồn quĩ rất lớn, thu hút đông đảo tổ chức trong và ngoài nước và các tầng lớp nhân dân ủng hộ, điển hình như: thành phố Hồ Chí Minh vận động được 620 tỷ đồng, Hậu Giang 328 tỷ đồng, An Giang 246 tỷ đồng, Hà Nội 137,7 tỷ đồng, Phú Thọ 127 tỷ; Nghệ An, Hải Phòng, Bà Rịa - vũng Tàu, Thanh Hóa... mỗi nơi trên 100 tỷ đồng. Tính đến hết tháng 9-2010, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã xét và trao “Bằng ghi công” cho 5.966 xã, phường, thị trấn; 316 quận, huyện; 17 tỉnh, thành phố đã hoàn thành chương trình xây dựng nhà Đại đoàn kết, xóa nhà dột nát cho người nghèo.

Hưởng ứng cuộc vận động của Mặt trận các cấp, cùng với sự ủng hộ của các tầng lớp nhân dân ở trong nước, cộng đồng người Việt Nam ở ngoài nước và các tổ chức quốc tế cũng đã tích cực tham gia ủng hộ quỹ, như: Hội Hỗ trợ Phụ nữ và Thanh niên Việt Nam tại Cộng hòa liên bang Đức ủng hộ 482.000 EUR (tương đương 10,8 tỷ đồng), Câu lạc bộ AEON ủng hộ 5 triệu Yên Nhật (tương đương 959 triệu đồng), nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào ủng hộ 50.000 USD (tương đương 873 triệu đồng), cộng đồng người Việt Nam tại Liên bang Nga ủng hộ 38.836 USD (tương đương 737 triệu đồng), bà con Việt kiều tại Thái Lan đã ủng hộ 20.368 USD và 31.700 Baht (tương đương 503 triệu đồng), Công ty CANON Singapore và Câu lạc bộ Lion mỗi đơn vị ủng hộ 30.000 USD (tương đương 480 triệu đồng)... Ngoài ra, Đại sứ quán một số nước tại Việt Nam cũng thường xuyên tham gia ủng hộ Quỹ như: Đại sứ quán Ixrael, Đại sứ quán Trung Quốc, Đại sứ quán Lào...

Trong nhiều năm qua, hàng năm vào các ngày 17-10 (Ngày vì người nghèo); ngày 18-11 (ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam - Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc); ngày 31-12 (Chương trình “Nối vòng tay lớn” - tổ chức cầu truyền hình đóng góp quĩ cho người nghèo) đã trở thành những ngày hội lớn, thu hút đông đảo những tấm lòng hảo tâm đến đóng góp tiền của, công sức cho người nghèo. Với Chương trình “Nối vòng tay lớn”, Ban vận động quĩ đã nhận được sự hưởng ứng tích cực của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc các tỉnh, thành phố, các tổ chức thành viên, các doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế và đông đảo nhân dân tham gia hưởng ứng và đóng góp với hai hình thức: góp tiền vào Quỹ vì người nghèo các cấp để làm nhà “Đại đoàn kết” cho người nghèo và tham gia xây dựng các công trình dân sinh, góp phần bảo đảm an sinh xã hội các vùng nghèo. Cụ thể như: Chương trình “Nối vòng tay lớn” năm 2008, tổng số tiền đăng ký ủng hộ cho người nghèo là 2.500 tỷ đồng; Chương trình “Nối vòng tay lớn” năm 2009, tổng số ủng hộ trị giá trên 3.100 tỷ đồng.

Trong cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, cùng với việc quan tâm chung đến các đối tượng hộ nghèo ở các vùng miền trên cả nước, Mặt trận Tổ quốc các cấp luôn quan tâm các hộ nghèo vùng miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số. Với tổng số 972.274 căn nhà “Đại đoàn kết” được xây dựng cho hộ nghèo trong 10 năm qua thì phần lớn là ở các vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số. Cùng với việc xây dựng nhà cho người nghèo, ở một số địa phương, nơi được hưởng thụ Chương trình 134 của Chính phủ, Mặt trận đã phối hợp thực hiện xây nhà cho các hộ gia đình nghèo bằng việc bổ sung vốn từ quĩ để xây dựng những căn nhà chắc chắn hơn, rộng rãi, khang trang hơn; phối hợp với Bộ Tư lệnh Biên phòng phát động Chương trình “Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới hải đảo”, qua gần 2 năm đã xây dựng được 3.669 căn nhà, 150 công trình dân sinh trị giá gần 150 tỷ đồng, góp phần vào việc tri ân đồng bào biên giới, hải đảo về sự nghiệp bảo vệ an ninh, chủ quyền của Tổ quốc. Thực hiện Chương trình phối hợp với Chính phủ thực hiện Nghị quyết 30a, Mặt trận đã tích cực vận động các doanh nghiệp, các Tổng công ty nhà nước giúp đỡ 62 huyện nghèo và nhiều doanh nghiệp đã tham gia tích cực. Đến hết năm 2009, các doanh nghiệp và tập đoàn kinh tế đã giúp đỡ các huyện nghèo với số tiền 813 tỷ đồng; riêng Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã giúp 205 tỷ đồng cho “Quỹ vì người nghèo” và các Quỹ an sinh xã hội cho người nghèo.

 Từ việc phối hợp thực hiện công cuộc xóa đói giảm nghèo trong 10 năm qua, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:

 - Hưởng ứng công cuộc xóa đói, giảm nghèo của Đảng, Nhà nước, cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” của Mặt trận phù hợp với “ý Đảng, lòng dân”, có ý nghĩa chính trị, xã hội và nhân văn sâu sắc nên đã được sự hưởng ứng nhiệt tình của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội tham gia. Các cấp uỷ Đảng đã đề ra những chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo chính quyền, phối hợp với Mặt trận tổ chức thực hiện nên đã tạo ra sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong việc thực hiện cuộc vận động để chăm lo cho người nghèo. Mặt trận đã phát huy được sức mạnh cộng đồng, vai trò vươn lên của chính người nghèo, thực hiện có hiệu quả cuộc vận động gắn với việc thực hiện các chính sách của Nhà nước về chương trình giảm nghèo, phát triển bền vững.

 - Với việc khởi xướng và chủ trì cuộc vận động, Mặt trận đã tiếp tục vun đắp truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái của dân tộc; khơi dậy tình yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau cùng chăm lo, củng cố, phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc từ mỗi cộng đồng dân cư. Thông qua cuộc vận động đã khơi dậy và thúc đẩy phong trào xã hội hóa hoạt động xóa đói giảm nghèo. Cùng với sự chia sẻ trách nhiệm xã hội của mọi người dân trong việc trợ giúp người nghèo, còn có sự đồng thuận của các tổ chức quốc tế trong việc tiếp cận và giải quyết vấn đề giảm nghèo ở Việt Nam.

- Quá trình thực hiện cuộc vận động là quá trình đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc các cấp, làm cho hoạt động Mặt trận ngày càng năng động, sáng tạo và hiệu quả, gắn bó mật thiết với cuộc sống của nhân dân. Đội ngũ cán bộ Mặt trận các cấp được rèn luyện và trưởng thành, có trách nhiệm và gắn bó hơn với công tác Mặt trận. Cuộc vận động được toàn xã hội ghi nhận, vai trò vị trí của Mặt trận tiếp tục được nâng cao.

- Để thực hiện có kết quả cuộc vận động, cần có chủ trương, nội dung, chương trình và biện pháp tổ chức thực hiện một cách khoa học, thiết thực, phù hợp với từng địa phương, từng vùng, miền. Thực hiện cuộc vận động là hoạt động thường xuyên, song phải có những đợt cao điểm, có trọng tâm, trọng điểm. Cán bộ trực tiếp tham mưu, quản lý Quỹ vừa nắm chắc nội dung, phương châm thực hiện cuộc vận động vừa hiểu nghiệp vụ; việc sử dụng nguồn Quỹ và các hiện vật cho người nghèo được thực hiện minh bạch, công khai, dân chủ. Đồng thời thường xuyên thực hiện công tác kiểm tra và thông tin, báo cáo định kỳ ở từng địa phương và trong cả nước.

- Với chức năng, nhiệm vụ của mình, Mặt trận chỉ có thể thực hiện tốt cuộc vận động bằng việc tăng cường phối hợp với chính quyền các cấp và các tổ chức thành viên, dưới sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng. Muốn đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia, Mặt trận phải xây dựng được các phong trào, các nội dung vận động phù hợp với lòng dân, ý dân. Trong những năm qua, Mặt trận các cấp đã tăng cường phối hợp với chính quyền để thực hiện các chủ trương của Chính phủ về chương trình xây dựng nhà ở cho người nghèo, gắn việc thực hiện cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” với thực hiện Quyết định 134, Nghị quyết 30a của Chính phủ tham gia giúp đỡ 62 huyện nghèo trong cả nước.

- Hưởng ứng cuộc vận động của Mặt trận, các tổ chức thành viên đã tích cực tham gia và có nhiều hình thức vận động phù hợp, khởi xướng các phong trào xóa đói giảm nghèo trong các hội viên của mình, như: phong trào “Mái ấm công đoàn” của Liên đoàn lao động; “Sản xuất kinh doanh giỏi giúp hội viên nghèo” của Hội Nông dân; phong trào “Mái ấm cho phụ nữ nghèo” của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; phong trào “Giúp cựu chiến binh nghèo” của Hội Cựu chiến binh Việt Nam... đã góp phần đáng kể vào việc xóa nhà dột nát cho người nghèo. Thông qua hoạt động phối hợp với chính quyền và các tổ chức thành viên, cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” đã có sức lan tỏa đến mọi người, mọi nhà, thu hút đông đảo các tổ chức, các cá nhân ở trong nước và cộng đồng người Việt Nam ở ngoài nước tham gia.

- Phải thường xuyên sơ kết, tổng kết, thông qua đó có những hình thức khen thưởng các tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong cuộc vận động gắn với công tác khen thưởng hàng năm và Hội nghị biểu dương các khu dân cư tiêu biểu toàn quốc theo định kỳ. Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã có hình thức tặng “Bằng ghi công” cho các địa phương hoàn thành chương trình xây dựng nhà “Đại đoàn kết”, xóa nhà dột nát cho hộ nghèo.

* Phó Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

   | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |    



NHỮNG SỰ KIỆN NỔI BẬT TRONG THÁNG 11 - 2010

                                                                                              TOÀN TRỰC*

Tháng 11-2010, trong cả nước diễn ra nhiều sự kiện quan trọng. Một số sự kiện được phản ánh riêng trong các chuyên mục trên Tạp chí Mặt trận số này. Ở đây, chỉ điểm lại 10 sự kiện.

1. Cách mạng Tháng Mười Nga (7-11-1917)

Cách mạng Tháng Mười nổ ra vào ngày 24-10-1917, do Vlađimia Ilich Lênin và Đảng Bônsêvich lãnh đạo, thành công vào ngày 25-10-1917 (theo lịch Nga) tức ngày 7-11-1917.

Với những người cộng sản và phong trào giải phóng dân tộc, Cách mạng Tháng Mười Nga là cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, do giai cấp vô sản tiến hành; thắng lợi của cuộc cách mạng đã hình thành nên nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên trên thế giới, đưa nước Nga đi theo con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cách mạng Tháng Mười Nga đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân quốc tế và ở các nước thuộc địa, mở ra con đường giải phóng các dân tộc bị áp bức.

Ở Việt Nam, với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, chủ nghĩa Mác - Lênin dần dần được truyền bá vào Việt Nam, đã thức tỉnh giai cấp công nhân và nhân dân lao động tìm ra con đường giải phóng của mình. Năm 1967, nhân kỷ niệm 50 năm Cách mạng Tháng Mười, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Càng nhớ lại những ngày tủi nhục mất nước, nhớ lại mỗi bước đường đấu tranh cách mạng đầy hy sinh gian khổ mà cũng đầy thắng lợi vẻ vang, thì giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam càng thấm thía công ơn to lớn của Lênin và Cách mạng Tháng Mười”.

Sau khi Liên Xô sụp đổ, trên thế giới cũng như ở nước Nga có những thế lực mưu toan phủ nhận ý nghĩa vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười. Tuy nhiên, ngày 11-4-2009, Tổng thống Nga Đmitri Metvêđep đã ký đạo luật Liên bang khôi phục ngày lễ kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga, bắt đầu từ năm 2010.

2. Hồ Chủ tịch kêu gọi toàn dân chống đói (8-11-1945)

Giai đoạn 1940-1945, dân ta chịu sự bóc lột tàn tệ của giặc Pháp và thêm cả giặc Nhật. Để phục vụ chiến tranh, chúng vơ vét lương thực, gây ra nạn đói năm Ất Dậu khiến 2 triệu dân ta chết đói.

Sau khi giành được chính quyền, ngày 8-11-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn dân chống nạn đói. Nhân dân đã hết lòng hưởng ứng, tích cực tham gia phong trào tăng gia sản xuất và cuộc vận động cứu đói. Chính quyền, Mặt trận, các đoàn thể cứu quốc phối hợp mở các cuộc lạc quyên, lập hũ gạo cứu đói, tổ chức Ngày đồng tâm để động viên tinh thần đùm bọc, đoàn kết trong nhân dân. Theo gương Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân đã tự nguyện nhịn bữa, bớt ăn, san sẻ lúa gạo, hoa màu cho nhau theo truyền thống lá lành đùm lá rách, nhường cơm sẻ áo. Các Ban cứu tế, Hội cúu tế từ tỉnh đến xã được thành lập để vận động lạc quyên, cứu trợ... Cùng với vận động nhân dân tiết kiệm, tương trợ cứu đói, nhiều nơi chính quyền địa phương còn ban bố lệnh cấm sử dụng thóc gạo để nấu rượu, nghiêm trị bọn đầu cơ tích trữ lương thực nhằm giữ lương thực để cứu đói.

Nhờ có những biện pháp tích cực, nạn đói được thu hẹp dần và cuối cùng bị dập tắt, sản xuất được phục hồi, đời sống nhân dân đi vào ổn định.

3. Sự ra đời của Hiến pháp 1946 (9-11-1946)

Ngày 3-9-1945, chỉ một ngày sau lễ tuyên bố độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói tới việc phải có một hiến pháp dân chủ và đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu để bầu ra Quốc dân đại hội xây dựng hiến pháp.

Ngày 8-9-1945, Chính phủ ra Sắc lệnh số 14/SL tuyên bố tiến hành Tổng tuyển cử. Mặc dù trong muôn vàn gian khó, có nơi cuộc bầu cử diễn ra trong bom đạn nhưng Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã được lập ra. Sáng 2-3-1946, Quốc hội đã họp kỳ họp đầu tiên để bầu Ban dự thảo Hiến pháp gồm 11 người. Tất cả đều là những nhà trí thức, đại diện cho các đảng phái khác nhau.

Ngày 9-11-1946, Quốc hội đã biểu quyết thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bao gồm Lời nói đầu và 7 chương, 70 điều.

Lời nói đầu khẳng định ba nguyên tắc cơ bản của bản Hiến pháp này:

- Đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, gái, trai, giai cấp, tôn giáo.

- Đảm bảo các quyền tự do dân chủ.

- Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân.

Chương I quy định chính thể của Việt Nam là dân chủ cộng hòa; Chương II quy định nghĩa vụ và quyền lợi công dân, xác nhận sự bình đẳng về mọi phương diện của tất cả công dân Việt Nam trước pháp luật; Chương III quy định về nghị viện nhân dân; Chương IV quy định về chính phủ - cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc; Chương V quy định phương diện hành chính, bộ, tỉnh, huyện, xã; quy định về cơ quan hành chính (Ủy ban hành chính và Hội đồng nhân dân) các cấp; Chương VI quy định về cơ quan tư pháp bao gồm toà án tối cao, các toà án phúc thẩm, các toà án đệ nhị cấp và sơ cấp; Chương VII quy định về việc sửa đổi Hiến pháp, trong đó có quyền phúc quyết hiến pháp của dân.

Do hoàn cảnh chiến tranh lan rộng nên Hiến pháp 1946 chưa được ban hành; Chính phủ dựa vào những nguyên tắc đã định trong Hiến pháp 1946 để tiếp tục ban hành các đạo luật.

Sau này, nhiều nhà nghiên cứu đã đánh giá rất cao bản Hiến pháp 1946. Có thể nói, bản hiến pháp đầu tiên của Việt Nam được hình thành, soạn thảo và thông qua trong một hoàn cảnh lịch sử đầy cam go, gian khổ nhưng vẫn đảm bảo tinh thần “dân là gốc”, dân là tất cả.

4. Hội nghị hiệp thương thống nhất đất nước (15 đến 21-11-1975)

Sau 21 năm tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bằng cuộc tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng.

Dưới sự chỉ đạo của Đảng, từ ngày 15 đến 21-11-1975, Hội nghị hiệp thương chính trị được tổ chức để tiến tới thống nhất đất nước về mặt Nhà nước. Đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do ông Trường Chinh làm trưởng đoàn, đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do ông Phạm Hùng làm trưởng đoàn. Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ khai mạc Hội nghị. Các vị trưởng đoàn của 2 chính phủ đọc báo cáo nhận định về yêu cầu, nội dung của sự nghiệp thống nhất nước nhà; về tầm quan trọng, tính cấp bách, bước đi, biện pháp của việc thống nhất đất nước mà việc quan trọng trước mắt là tổ chức Tổng tuyển cử, bầu ra Quốc hội chung của cả nước. 36 tham luận của các đại biểu đã bày tỏ nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân đối với chủ trương thống nhất nước nhà. Hội nghị diễn ra trong bầu không khí hân hoan, phấn khởi, thắm tình ruột thịt Bắc - Nam, thể hiện niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng trong sự nghiệp cách mạng và tán thành tổ chức bầu cử Quốc hội thống nhất.

Ngày 25-4-1976, Tổng tuyển cử trong cả nước được tiến hành, bầu ra 492 đại biểu của Quốc hội Việt Nam thống nhất. Từ ngày 24-6 đến ngày 2-7-1976, Quốc hội họp phiên đầu tiên, đặt tên nước là Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thông qua quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, xác định Thủ đô, bầu chính phủ, đổi tên thành phố Sài Gòn - Gia Định thành thành phố Hồ Chí Minh.

5. Việt Nam gia nhập APEC (14-11-1998)

Năm 1998, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC).

Về chính trị, là thành viên của APEC, Việt Nam có uy tín lớn hơn và tiếng nói có trọng lượng hơn trên trường quốc tế. Về kinh tế, Việt Nam có thể tiếp cận tốt hơn với nhiều nguồn vốn, với công nghệ hiện đại và kiến thức quản lý thông qua các hoạt động thương mại và đầu tư chặt chẽ hơn với các thành viên APEC khác, trong đó có cả những nền kinh tế lớn nhất thế giới.

Việt Nam đã nỗ lực trong nhiều lĩnh vực để góp phần thực hiện các mục tiêu của APEC, đó là tự do hóa và thuận lợi hóa thương mại và đầu tư vì sự thịnh vượng của khu vực; đưa ra sáng kiến thành lập Quỹ hỗ trợ APEC cho các Doanh nghiệp nhỏ và Xúc tiến đầu tư nội khối APEC.

Năm 2003, Tuần lễ APEC được tổ chức tại Hà Nội đã mở rộng hơn sự hiểu biết và sự tham gia của các tầng lớp nhân dân Việt Nam vào các hoạt động của APEC. Năm 2005, Việt Nam đồng bảo trợ cho sáng kiến Tăng cường hoạt động của APEC nhằm đối phó với dịch cúm gia cầm và đại dịch cúm. Là chủ nhà của Hội nghị APEC năm 2006, Việt Nam đã làm hết sức mình để APEC 2006 thành công rực rỡ. Tại Hội nghị cấp Bộ trưởng APEC đầu tiên về an ninh lương thực (năm 2010), Việt Nam đã tham gia đóng góp ý kiến vào Tuyên bố Niigata về đảm bảo an ninh lương thực của APEC và Kế hoạch hành động đảm bảo an ninh lương thực của APEC; làm việc với một số đối tác là thành viên của APEC nhằm tăng cường hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp.

6. Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên được công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại (15-11-2005)

Tháng 11-2005, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại. Cồng chiêng Tây Nguyên được công nhận không chỉ ở bản chất âm nhạc mà cả ở không gian văn hóa - môi trường sống của âm nhạc cồng chiêng.

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trải rộng suốt 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng và chủ nhân của loại hình văn hóa đặc sắc này là cư dân các dân tộc: Bana, Xêđăng, Mnông, Cơho, Rơmăm, Êđê, Giarai... Cồng chiêng Tây Nguyên có nguồn gốc từ truyền thống văn hóa và lịch sử rất lâu đời, gắn bó mật thiết với cuộc sống của người Tây Nguyên, là tiếng nói của tâm linh, tâm hồn con người, để diễn tả niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống, trong lao động và sinh hoạt hàng ngày của họ.

Cồng chiêng là một nhạc cụ nghi lễ, mỗi nghi lễ có ít nhất một bài nhạc riêng. Các bài chiêng cũng đạt đến một trình độ biểu cảm âm nhạc phù hợp với trạng thái tình cảm của con người trong mỗi nghi lễ... Cồng chiêng đã góp phần tạo nên những sử thi, những áng thơ ca đậm chất văn hóa Tây Nguyên vừa lãng mạn, vừa hùng tráng.

Hiện nay, kho tàng di sản văn hoá cồng chiêng đang đứng trước nguy cơ mai một, việc bảo tồn và khôi phục văn hoá cồng chiêng vì thế trở nên cấp bách hơn. Khác với Nhã nhạc cung đình Huế, cồng chiêng không chỉ là nghệ thuật biểu diễn đơn thuần, mà gắn bó chặt chẽ với nghi lễ, với đời sống hằng ngày, với chính không gian của vùng đất ấy. Vì vậy, cần có một chương trình tổng thể, quy mô nhằm bảo tồn và khôi phục văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên.

7. Ngày Quốc tế hiến chương các nhà giáo và Ngày nhà giáo Việt Nam (20-11)

Tháng 7-1946, một tổ chức quốc tế các nhà giáo tiến bộ được thành lập ở Pari lấy tên là FISE (Liên hiệp quốc tế các Công đoàn Giáo dục). Năm 1949, tổ chức này xây dựng một bản Hiến chương các nhà giáo gồm 15 chương với nội dung chủ yếu là đấu tranh chống nền giáo dục tư sản, phong kiến; xây dựng nền giáo dục tiến bộ; bảo vệ những quyền lợi vật chất và tinh thần chính đáng của nghề dạy học và của nhà giáo.

Tháng 8-1954, tổ chức công đoàn Các nhà giáo tiến bộ và cách mạng trên thế giới đã nhất trí thông qua bản Hiến chương các nhà giáo. Sau đó, Hội nghị quốc tế các tổ chức nhà giáo lần thứ 2 (năm 1957) đã quyết định lấy ngày 20-11 hàng năm làm ngày Quốc tế hiến chương các nhà giáo.

Lần đầu tiên ngày Quốc tế hiến chương các nhà giáo được tổ chức trên toàn miền Bắc vào ngày 20-11-1958 và những năm sau đó được tổ chức tại nhiều vùng giải phóng ở miền Nam. Sau khi Việt Nam thống nhất, ngày này trở thành ngày truyền thống của ngành giáo dục Việt Nam. Do đó, ngày 28-9-1982, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ra quyết định lấy ngày 20-11 làm Ngày nhà giáo Việt Nam. Như vậy, ngày 20-11 vừa là ngày Quốc tế hiến chương các nhà giáo vừa là ngày Nhà giáo Việt Nam, đồng thời cũng là ngày hội giáo dục của toàn dân.

Ngày 20-11 là dịp để các thế hệ học trò bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc với những người thày; để mọi ngành, mọi nghề và toàn xã hội chia sẻ niềm vui, tri ân với những người đã góp bao công sức và tâm huyết cho sự nghiệp trồng người cao cả, góp phần xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

8. Nam Kỳ khởi nghĩa (23-11-1940)

Năm 1940, sự bóc lột tàn bạo của Nhật - Pháp, cùng với việc bắt lính phục vụ cuộc xung đột Pháp - Xiêm đã tạo nên một không khí phản kháng sôi sục trong nhân dân Nam Kỳ. Trước tình hình đó, Xứ ủy Nam Kỳ chủ trương phát động khởi nghĩa. Tuy nhiên, Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11-1940 đã quyết định hoãn cuộc khởi nghĩa, vì nhận thấy điều kiện khách quan và chủ quan chưa chín muồi. Ngày 22-11, phái viên của Trung ương là đồng chí Phan Đăng Lưu mang theo lệnh hoãn về tới Sài Gòn, nhưng trước đó lệnh khởi nghĩa đã phát ra.

Trong đêm 22 rạng ngày 23-11-1940, cuộc khởi nghĩa đã nổ ra. Được nhân dân nhất tề hưởng ứng, đội quân khởi nghĩa gồm các thanh niên nam nữ tự trang bị vũ khí thô sơ (giáo mác, dao búa, tầm vông vạt nhọn,...) tiến công các bót địch. Nhiều nơi lính địch hoảng sợ, bỏ súng trốn chạy; chính quyền địch ở một số xã, quận, huyện hoang mang, tan rã. Chính quyền cách mạng được thành lập, thực hiện những quyết định dân chủ, bảo vệ trị an, xét xử bọn phản cách mạng... Lần đầu tiên lá cờ đỏ sao vàng đã xuất hiện. Mặc dù khí thế quần chúng rất cao, tinh thần các đảng viên rất ngoan cường, nhưng bị kẻ thù đàn áp đẫm máu nên cuộc khởi nghĩa đã thất bại. Theo tài liệu của địch, tính đến ngày 31-12-1940, gần 6.000 người đã bị địch bắt và bị giết; nhiều cán bộ lãnh đạo ưu tú của Đảng bị xử tử hình, như các đồng chí: Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Võ Văn Tần, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Thị Minh Khai...

Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ tuy thất bại nhưng đã để lại những bài học quý báu, chuẩn bị cho Đảng ta những kinh nghiệm để thực hiện sứ mạng của Cách mạng Tháng Tám. Ngày 14-4-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 163/SL tặng Huân chương Quân công hạng Nhất cho Đội quân khởi nghĩa Nam kỳ.

 9. Thành lập Hội Chữ thập đỏ Việt Nam (23-11-1946)

Sau khi Cách mạng Tháng 8-1945 thành công, nước Việt Nam mới ra đời. Nhưng chính quyền cách mạng non trẻ đứng trước tình thế hiểm nghèo: thực dân Pháp rắp tâm xâm chiếm nước ta một lần nữa. Chính trong những ngày nước sôi lửa bỏng ấy, một số nhân sĩ, trí thức yêu nước đã đứng ra vận động thành lập tổ chức Hồng thập tự Việt Nam.

Đầu năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc với đại biểu Ban vận động thành lập Hồng thập tự Việt Nam và căn dặn: “Phải xuất phát từ tình thương yêu nhân dân tha thiết mà góp phần bảo vệ sức khỏe nhân dân và làm mọi việc có thể làm được để giảm bớt đau thương cho họ”.

Ngày 23-11-1946, Hội Hồng thập tự Việt Nam được thành lập và suy tôn Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch danh dự, bác sĩ Vũ Đình Tụng được bầu làm Hội trưởng. Năm 1957, Hội Hồng thập tự Việt Nam tuyên bố gia nhập 4 công ước Giơnevơ và cũng trong năm này, Hội Hồng thập tự Việt Nam được công nhận là thành viên của phong trào Chữ thập đỏ quốc tế. Cuối năm 1965, Hội Hồng thập tự Việt Nam đổi tên thành Hội Chữ thập đỏ Việt Nam. Tại miền Nam, ngày 27-2-1961, tổ chức Hồng thập tự Giải phóng được thành lập.

Sau khi đất nước thống nhất, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam và Hội Hồng thập tự Giải phóng hợp nhất thành Hội Chữ thập đỏ Việt Nam. Hiện nay, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thành viên của Phong trào Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế. Hội hoạt động trong phạm vi cả nước, theo Hiến pháp và Pháp luật của nhà nước Việt Nam, theo Điều lệ và 7 nguyên tắc cơ bản tương tự như của Phong trào Chữ thập đỏ quốc tế, là: Nhân đạo, Vô tư, Trung lập, Độc lập, Tự nguyện, Thống nhất, Toàn cầu.

10. Đại hội thi đua yêu nước toàn quốc

Đại hội thi đua yêu nước đã diễn ra tại nhiều địa phương trong cả nước. Theo kế hoạch, Đại hội thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ VIII sẽ diễn ra tại Hà Nội trong 2 ngày 29 và 30-11-2010, với sự tham dự của 1.500 đại biểu. Đại hội thi đua yêu nước lần này là sự tiếp nối truyền thống của 7 lần đại hội trước.

(Nguồn tư liệu tham khảo từ các phương tiện truyền thông)
* Nhà báo.

   | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |    



HỘI THẢO KỶ NIỆM DANH NHÂN NĂM 2010

                                                                                           ĐỨC NHÂN*

      Năm 2010, nhiều cơ quan, địa phương đã có các sinh hoạt khoa học kỷ niệm những danh nhân của đất nước. Dưới đây, giới thiệu một số Hội thảo1.

Đồng chí Nguyễn Văn Linh với Đảng bộ và nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định - thành phố Hồ Chí Minh

Là chủ đề cuộc Toạ đàm ngày 30-6-2010, do Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh tổ chức nhân kỷ niệm 95 năm Ngày sinh cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh (1-7-1915 / 1-7-2010).

Cuộc Tọa đàm nhằm tìm hiểu sâu sắc hơn cuộc đời, sự nghiệp và những cống hiến to lớn của đồng chí Nguyễn Văn Linh đối với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, của dân tộc và đối với thành phố Hồ Chí Minh...

Các tham luận tại cuộc Tọa đàm đã tập trung làm rõ cuộc đời hoạt động cách mạng gần 70 năm của đồng chí Nguyễn Văn Linh - người đảng viên cộng sản, người lãnh đạo có uy tín lớn của Đảng, nhân dân và quân đội ta, người bạn tin cậy của bạn bè quốc tế; là một trong những người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chiến trường Nam Bộ, Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định - thành phố Hồ Chí Minh là nơi đồng chí Nguyễn Văn Linh gắn bó máu thịt, hoạt động nhiều thời gian nhất; là chiến trường trọng điểm trong thời kỳ kháng chiến mà đồng chí trực tiếp chỉ đạo. Kể từ năm 1939 đến 1986, đã 8 lần đồng chí Nguyễn Văn Linh làm Bí thư, là người đứng đầu Đảng bộ thành phố. Điều đặc biệt là, những lúc thành phố gặp phải khó khăn, cam go nhất thì đồng chí lại được Đảng cử về để lãnh đạo. Thành phố Hồ Chí Minh là một thực tiễn phong phú để đồng chí nắm bắt, khởi xướng, kiến tạo, đưa đến hình thành và thực hiện đường lối đổi mới của Đảng ta.

Là nhà lãnh đạo kiên định, sáng tạo của Đảng, đồng chí đã góp phần hoạch định và chịu trách nhiệm cao nhất trong triển khai tổ chức thực thi đường lối đổi mới của Đảng, cùng Ban Chấp hành Trung ương Đảng xác định các nguyên tắc chỉ đạo công cuộc đổi mới ở Việt Nam. Đó là đổi mới toàn diện, đặt trọng tâm vào kinh tế; việc đổi mới chính trị phải tích cực nhưng vững chắc, không gây ra mất ổn định; phải phát huy đầy đủ dân chủ xã hội chủ nghĩa trên mọi lĩnh vực và phải tiếp tục giương cao ngọn cờ chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản. Sự kiên định đó của đồng chí Nguyễn Văn Linh là cơ sở để bảo đảm thống nhất tư tưởng trong toàn Đảng, toàn dân, giữ vững ổn định chính trị của đất nước, tạo tiền đề cho phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Giữ cương vị Bí thư Thành ủy trong 2 thời kỳ sau ngày đất nước thống nhất, biết bao khó khăn, phức tạp cần phải thoát ra để phát triển, đồng chí Nguyễn Văn Linh đã đi tìm hiểu, kiểm tra thực tế và đưa ra quyết định: bằng mọi giá phải phát triển sản xuất. Đồng chí đã sáng tạo trong sách lược và phương pháp tổ chức thực hiện, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, động viên mọi nguồn lực, năng lực sáng tạo, đi đầu trong xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp; kiên trì đấu tranh, nắm bắt thực tiễn sinh động, dựa vào dân, tôn trọng lợi ích nhân dân, lấy sự phát triển của sản xuất, kinh doanh, nâng cao đời sống của nhân dân là tiêu chuẩn kiểm nghiệm sự đúng, sai của chính sách; từ đó làm sáng tỏ dần con đường đi và cách làm mới, tư duy mới, đóng góp tích cực và có hiệu quả cao vào sự hình thành đường lối đổi mới của Đảng.

Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh Lê Thanh Hải chủ trì tọa đàm, đã khẳng định: Đồng chí Nguyễn Văn Linh, với cuộc đời hoạt động cách mạng phong phú, oanh liệt, đã thể hiện là người cộng sản rất mực kiên cường, trung thành, tận tụy, suốt đời chiến đấu vì lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Cuộc đời, sự nghiệp và những cống hiến của đồng chí Nguyễn Văn Linh đối với Đảng và dân tộc nói chung, đối với thành phố Hồ Chí Minh nói riêng rất to lớn, để lại những bài học, chỉ dẫn quý báu cho Đảng bộ và nhân dân thành phố trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ thành phố... Những ý kiến trong buổi Tọa đàm hôm nay đều thể hiện mong muốn phải tiếp tục học tập, noi gương đồng chí Nguyễn Văn Linh, nhất là học tập, noi gương về tinh thần đổi mới, phát huy dân chủ. Chúng ta phải có trách nhiệm noi gương đồng chí để tiếp tục giữ vững và phát huy vị trí, vai trò của thành phố Hồ Chí Minh, xây dựng thành phố đi đầu trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa; phát triển nhanh và bền vững; trở thành một thành phố xã hội chủ nghĩa, văn minh, hiện đại, một trung tâm lớn về nhiều mặt của đất nước và có tầm cỡ ở khu vực Đông - Nam Á...

* Học tập bản lĩnh kiên định, sáng tạo của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, quyết tâm xây dựng Hưng Yên thành tỉnh mạnh trong cả nước

Là chủ đề cuộc Hội thảo khoa học ngày 20-6-2010, do Tỉnh ủy Hưng Yên tổ chức, có hơn 300 đại biểu tham dự.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Cường, nêu rõ: “Trong gần 70 năm hoạt động, đồng chí Nguyễn Văn Linh đã được Đảng giao phó nhiều trọng trách... Đến Đại hội VI của Đảng, đồng chí được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Từ tổng kết thực tiễn trên nhiều lĩnh vực, đồng chí đã có những đóng góp to lớn vào việc hoạch định đường lối, chính sách đổi mới của Đảng. Suốt nhiệm kỳ Đại hội VI, với cương vị là Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương, đồng chí Nguyễn Văn Linh đã nhạy bén, chủ động, sáng tạo, linh hoạt chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua thời điểm khó khăn sau chiến tranh, đang bị sóng gió của những biến động to lớn trên thế giới xô đẩy, tiến hành đổi mới để ngày hôm nay căng buồm, rẽ sóng vươn ra biển cả, sánh vai với các cường quốc năm châu, nâng vị thế của Việt Nam lên tầm cao mới”.

Với mục đích tiếp tục làm sáng tỏ phẩm chất cách mạng sáng ngời của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh - nhà lãnh đạo kiên định, sáng tạo; người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh; người con ưu tú của quê hương văn hiến và cách mạng của tỉnh Hưng Yên, hơn 20 tham luận trình bày trong Hội thảo đã tập trung vào những vấn đề cơ bản sau:

- Những yếu tố hình thành nhân cách và nghị lực sống có lý tưởng, vì dân, vì nước của đồng chí Nguyễn Văn Linh, trong đó đặc biệt đi sâu vào những tác động của truyền thống quê hương.

- Làm sâu sắc bản lĩnh và sáng tạo của đồng chí Nguyễn Văn Linh, những đóng góp to lớn của đồng chí đối với cách mạng nước ta, nhất là vào những thời điểm có tính bước ngoặt.

- Tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ Đảng, chính quyền, đoàn thể vừa năng động, sáng tạo, vừa kiên định, trung thành với lý tưởng cộng sản, ngang tầm với đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới ở Hưng Yên nói riêng, trên phạm vi cả nước nói chung.

- Những nhiệm vụ to lớn và nặng nề mà tỉnh Hưng Yên cần tập trung giải quyết để trở thành tỉnh mạnh trong cả nước như lời căn dặn của đồng chí Nguyễn Văn Linh đối với đồng bào, đồng chí ở quê hương.

* Hội thảo khoa học “Nguyễn Lương Bằng - Tiểu sử”

Nhân kỷ niệm 31 năm Ngày mất của Phó Chủ tịch nước Nguyễn Lương Bằng (20-7-1979 / 20-7-2010), sáng 28-7, tại thành phố Hải Dương, Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng (Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh) phối hợp Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hải Dương tổ chức Hội thảo khoa học “Nguyễn Lương Bằng - Tiểu sử”.

Tham dự Hội thảo có các nhà nghiên cứu khoa học lịch sử trong và ngoài Viện, lãnh đạo tỉnh Hải Dương, lãnh đạo địa phương nơi sinh Phó Chủ tịch nước Nguyễn Lương Bằng, cùng đại diện gia đình đồng chí.

Tại hội thảo, các nhà nghiên cứu và các đại biểu đã tập trung thảo luận về: Quê hương, gia đình và thời niên thiếu của đồng chí Nguyễn Lương Bằng; những hoạt động của đồng chí thời dựng Đảng (những ngày tháng bắt đầu giác ngộ cách mạng; những hoạt động cách mạng của đồng chí Nguyễn Lương Bằng ở Hải Phòng, Sài Gòn, Hồng Công và Thượng Hải (Trung Quốc); việc tham gia truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam và vận động binh lính ở Thượng Hải; hoạt động của đồng chí Nguyễn Lương Bằng trong lao tù Hỏa Lò (Hà Nội) và ở Sơn La; các hoạt động của đồng chí Nguyễn Lương Bằng từ năm 1943 đến 1945, nhất là trong việc xây dựng an toàn khu ở chung quanh Hà Nội; những hoạt động của đồng chí Nguyễn Lương Bằng sau năm 1945 trong các nhiệm vụ xây dựng tài chính của Đảng, xây dựng ngành Kiểm tra Đảng và Thanh tra Chính phủ; hoạt động ngoại giao nhà nước và đối ngoại của Đảng, đặc biệt là trên cương vị Phó Chủ tịch nước. Hội thảo cũng nêu bật phẩm chất, nhân cách cao quý của đồng chí Nguyễn Lương Bằng, đặc biệt là mối quan hệ giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và đồng chí Nguyễn Lương Bằng.

Hơn nửa thế kỷ hoạt động cách mạng, dù ở cương vị nào, với tinh thần, ý chí cao cả, đạo đức trong sáng, đồng chí Nguyễn Lương Bằng cũng luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

* Đồng chí Nguyễn Duy Trinh và sự nghiệp ngoại giao

Là chủ đề cuộc Hội thảo khoa học kỷ niệm 100 năm Ngày sinh đồng chí Nguyễn Duy Trinh (15-7-1910 / 15-7-2010), nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Ngoại giao; do Bộ Ngoại giao tổ chức sáng 14-7-2010, tại Hà Nội. Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm chủ trì Hội thảo. Các đồng chí Nguyễn Mạnh Cầm, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao; Vũ Oanh, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng; Vũ Khoan, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng, cùng nhiều cán bộ lão thành cách mạng, đại diện các ban, ngành hữu quan, tỉnh Nghệ An, gia đình đồng chí Nguyễn Duy Trinh, các cơ quan thông tấn, báo chí trung ương và Hà Nội dự Hội thảo.

Phát biểu ý kiến khai mạc Hội thảo, Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm nêu rõ: là Bộ trưởng Ngoại giao lâu năm nhất của Nhà nước ta kể từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến nay, đồng chí Nguyễn Duy Trinh có những đóng góp hết sức to lớn cho sự nghiệp đối ngoại của đất nước. 15 năm đồng chí được Đảng và Bác Hồ cử làm Bộ trưởng Ngoại giao (từ tháng 5-1965 đến tháng 4-1980) là thời kỳ đầy khó khăn gian khổ, nhưng cũng đầy vinh quang, hào hùng và oanh liệt của dân tộc... Đồng chí Phạm Gia Khiêm nhấn mạnh, cuộc hội thảo nhằm ôn lại những công lao, đóng góp quan trọng của đồng chí Nguyễn Duy Trinh với sự nghiệp cách mạng nói chung và ngành ngoại giao nói riêng; trao đổi, thảo luận rút ra bài học kinh nghiệm bổ ích, những giá trị trong tư duy và phong cách ngoại giao của đồng chí Nguyễn Duy Trinh nhằm phục vụ công tác đối ngoại trong giai đoạn Việt Nam tích cực, chủ động hội nhập ngày càng sâu rộng vào khu vực và thế giới. Các ý kiến tham luận tại hội thảo nêu bật thân thế, sự nghiệp, quá trình hoạt động cách mạng của đồng chí Nguyễn Duy Trinh; đánh giá cao những đóng góp quan trọng của đồng chí với sự nghiệp cách mạng dân tộc nói chung và ngành ngoại giao nói riêng; khẳng định với tầm nhìn chiến lược, bản lĩnh chính trị và kinh nghiệm hoạt động cách mạng dày dạn, đồng chí Nguyễn Duy Trinh là một nhà cách mạng, nhà ngoại giao xuất sắc của Đảng và Nhà nước ta, là tấm gương sáng về đạo đức cách mạng và trí tuệ đối ngoại cho các thế hệ cán bộ đối ngoại Việt Nam.

* Hội thảo về thân thế và sự nghiệp của Léopold Cadière

Đã diễn ra 3 ngày trong tháng 9-2010, do Uỷ ban văn hoá Hội đồng giám mục Việt Nam và Toà Tổng giám mục giáo phận Huế tổ chức tại Huế. Dự Hội thảo có nhiều nhân sĩ, trí thức từ nhiều nước trên thế giới và Việt Nam, đã thảo luận nhiều nội dung. Trong đó, tiến sĩ Hoàng Mai Khanh có tham luận “Gia đình Việt Nam theo L.Cadière” nêu cái nhìn đầy cảm thông của ông về Đạo Hiếu; Giáo sư Chu Hảo (Tổng Biên tập Nhà xuất bản Tri thức) nhận định: “L.Cadière là nhà Việt Nam học đầu tiên tâm huyết nhất với nền văn học Việt Nam, đã gắn liền truyền thống Kitô giáo với văn hoá dân tộc, là những nền tảng đạo đức để phát triển đất nước...”...

* Hội thảo “Tố Hữu - Thân thế và sự nghiệp”

Do Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch và Hội Nhà văn Việt Nam phối hợp tổ chức sáng ngày 4-10, tại Hà Nội nhân kỷ niệm 90 năm Ngày sinh nhà thơ Tố Hữu (4-10-1920 / 4-10-2010).

Tại hội thảo, nhiều nhà văn, nhà lý luận phê bình tên tuổi đã trình bày tham luận với nhiều ý kiến đóng góp về cuộc đời và sự nghiệp thơ ca Tố Hữu, tựu trung ghi nhận Tố Hữu xứng đáng được tôn vinh là ngọn cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam thế kỷ XX.

Nhà thơ Tố Hữu tên thật là Nguyễn Kim Thành, quê ở làng Phù Lai, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Từ lúc bảy tuổi, Tố Hữu đã giúp cha ghi chép, được cha dạy làm thơ theo lối cổ. Lớn lên giữa lúc phong trào cách mạng do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo đang bùng lên mạnh mẽ trong thời kỳ Mặt trận dân chủ, lại ở một thành phố mà phong trào rất sôi nổi, Tố Hữu đã mau chóng tiếp thu lý tưởng cộng sản và trở thành người lãnh đạo Đoàn thanh niên Dân chủ ở Huế. Năm 1938, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 4-1939, ông bị thực dân Pháp bắt giam ở nhiều nhà lao các tỉnh miền Trung - Tây Nguyên. Năm 1942, Tố Hữu vượt ngục, tìm về gây cơ sở và chắp nối liên lạc với tổ chức Đảng ở tỉnh Thanh Hóa. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Tố Hữu đảm nhận vai trò Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa. Năm 1947, ông được điều động ra Việt Bắc phụ trách công tác văn nghệ. Tố Hữu tham gia Ban Chấp hành Hội Văn nghệ Việt Nam từ khi thành lập (1948), sau đó ông đã lần lượt giữ các cương vị lãnh đạo chủ chốt trên mặt trận tư tưởng, tuyên truyền, văn hóa: Trưởng ban Tuyên huấn, Trưởng ban Khoa giáo, Trưởng ban Thống nhất, Hiệu trưởng trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (1976), Tố Hữu được bầu vào Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng và giữ cương vị Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Bộ trưởng (1981 - 1986).

Con đường thơ của Tố Hữu bắt đầu gần như cùng lúc với con đường hoạt động cách mạng. Từ năm 1937, những bài thơ của ông đăng trên báo chí của Mặt trận Dân chủ đã góp phần đem lại tiếng nói mới cho thơ ca đương thời. Thơ ông ngay từ đầu đã lấy lý tưởng cách mạng làm nội dung biểu hiện, sớm hướng vào những vấn đề xã hội bức thiết. Thơ Tố Hữu cũng hấp thụ nguồn mạch dân tộc, thể hiện sự thống nhất giữa cách mạng và dân tộc trong hình thức nghệ thuật. Các tập thơ tiêu biểu của ông, có thể kể đến: “Từ ấy” (1946), “Việt Bắc” (1954), “Gió lộng” (1961), “Ra trận” (1972), “Máu và hoa” (1977)... Ngoài ra, ông còn có nhiều tác phẩm thơ dịch và những bài viết giá trị về văn nghệ.

Tố Hữu đã được nhận các giải thưởng văn học: Giải Nhất giải thưởng của Hội Văn nghệ Việt Nam 1954-1955 cho tập thơ “Việt Bắc”, Giải thưởng Văn học ASEAN năm 1996, Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật đợt I năm 1996. Đảng và Chính phủ đã ghi nhận những đóng góp to lớn của ông bằng những phần thưởng cao quý: Huân chương Sao Vàng, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng...

Phát biểu khai mạc Hội thảo, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Tô Huy Rứa ghi nhận những đóng góp to lớn của nhà thơ Tố Hữu đối với sự nghiệp cách mạng nói chung vàvới nềnvăn họccách mạng nói riêng; trong đó, khẳng định: Được Đảng phát hiện tài năng và giao trọng trách, Tố Hữu đã say sưa, tâm huyết cùng đồng chí, đồng đội làm việc tận tụy ngày đêm trong một lĩnh vực tưởng như vô hình nhưng lại vô cùng hữu ích... Trong quá trình xây dựng đội ngũ làm công tác tư tưởng - văn hóa, Tố Hữu đã trực tiếp góp phần động viên, cổ vũ cả một “binh đoàn” văn nghệ từ Bắc vào Nam. Những tài năng của nhân dân, những chiến sĩ trung kiên trên mặt trận văn hóa, văn nghệ đã làm nên một nền văn hóa, văn nghệ thời đại Hồ Chí Minh bất tử mà các giá trị của nó còn phát huy đến hôm nay và mãi mãi về sau

Ôn lại cuộc đời và con đường thơ Tố Hữu, nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam nhận định: “Có sự thống nhất biện chứng giữa thân thế và sự nghiệp của Tố Hữu. Ở Tố Hữu tập trung tinh hoa, là một nhân cách văn hoá của dân tộc. Tố Hữu đã được ghi nhận với hai phương diện, vừa là nhà cách mạng tiêu biểu, vừa là nhà thơ lớn. Một đời người chỉ cần làm một trong hai công việc đó đã đáng kính phục vô cùng. Thế mà Tố Hữu đã làm tốt cả hai”.

* Hội thảo “Làng Tùng Ảnh - danh nhân và những dòng họ tiêu biểu”

Do Sở Văn hoá - Thể theo và Du lịch Hà Tĩnh, Uỷ ban nhân dân huyện Đức Thọ và Hội đồng hương Tùng Ảnh phối hợp tổ chức ngày 1-3-2010. Với 16 bản tham luận của các giáo sư, các nhà nghiên cứu về những danh nhân nổi tiếng và truyền thống các dòng họ lớn ở Tùng Ảnh đã đưa ra cái nhìn trực diện, cụ thể hơn và mới mẻ về vùng đất địa linh, nhân kiệt này.

Phát biểu đề dẫn với chủ đề “Tùng Ảnh - một địa chỉ văn hóa”, GS Phan Văn Các đã điểm lại gương mặt những danh nhân tiêu biểu sinh ra từ những dòng họ lớn trên đất Tùng Ảnh và những đóng góp to lớn của họ trên nhiều lĩnh vực qua các thời kỳ trong lịch sử đất nước, như: Phan Đình Phùng, Bùi Dương Lịch, Tướng công Lê Bôi, Hoàng Ngọc Phách, Trần Phú, Phan Anh...

Tổng kết hội thảo, GS Đinh Xuân Lâm cho rằng: “Nội dung các bản tham luận đã thống nhất, tập trung tìm hiểu, khai thác các giá trị truyền thống và phát hiện những vấn đề mới mẻ, những giá trị tiềm ẩn của làng Tùng Ảnh và các dòng họ nơi đây. Hội thảo là tiền đề tạo ra diễn đàn mới để các giáo sư, các nhà nghiên cứu và cả những hậu duệ các dòng họ làng Tùng Ảnh đưa ra những cái nhìn mới mẻ về những giá trị truyền thống nơi đây”.

* Hội thảo “Hoàng Kế Viêm trong tiến trình lịch sử cận đại Việt Nam”

Do Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Hội Di sản văn hóa Việt Nam tỉnh Quảng Bình tổ chức ngày 7-9-2010.

Hoàng Kế Viêm (1820 - 1909) người làng Văn La, xã Lương Ninh (Quảng Ninh, Quảng Bình), là con của thượng thư bộ hình Hoàng Kim Xán, phò mã của vua Minh Mạng, Trấn Bắc đại tướng quân, Tam Tuyên quân thứ thống đốc đại thần... dưới triều nhà Nguyễn.

22 tham luận của các nhà sử học, nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa đều khẳng định Hoàng Kế Viêm là nhân vật có vai trò tích cực đối với việc chống Pháp, đặc biệt là về hoạt động tiễu trừ các đảng giặc Cờ Đen, Cờ Vàng, Cờ Trắng và kháng Pháp (1870-1884). Trong đó nổi bật là từng chỉ đạo đánh thắng Pháp hai trận ở Ô Cầu Giấy, giết chết tại chỗ hai sĩ quan Francis Garnier và Henri Rivière. Giáo sư sử học Đinh Xuân Lâm (Phó chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam) khẳng định: “Hoàng Kế Viêm là một vị văn thân sĩ phu có tinh thần yêu nước chống Pháp quyết liệt, có lòng thương dân sâu sắc, trước sau có những cách ứng xử, đối phó thích hợp. Đối với kẻ thù là một sự chống đối quyết liệt, trước sau không hợp tác. Là một nhân vật tích cực trong bối cảnh nước ta vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, có những đóng góp to lớn về các mặt chính trị, quân sự, văn hóa, xã hội trong thời kỳ nửa sau thế kỷ XIX sang những năm đầu thế kỷ XX”.

Hội thảo khẳng định Hoàng Kế Viêm xứng đáng được tôn vinh là một danh tướng yêu nước, một nhân cách lớn của dân tộc thời ly loạn cuối thế kỷ XIX.

Nguồn: Trung tâm hợp tác nghiên cứu Việt Nam

_________________________

1. Một số sinh hoạt khoa học về Chủ tịch Hồ Chí Minh và những nhân vật lịch sử khác được giới thiệu trong những bài khác (xem Tạp chí Mặt trận số 83, tr 6…).
* Nhà nghiên cứu.

   | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |    



Tiến tới Đại hội toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI

LTS: Công tác chuẩn bị cho Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đang diễn ra sôi nổi trên khắp các địa phương trong cả nước. Đến nay, cùng với việc tiến hành Đại hội Đảng các cấp, đông đảo nhân dân tích cực thảo luận đóng góp ý kiến vào dự thảo văn kiện Đại hội. Ngay khi có hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Trung ương về việc công bố và lấy ý kiến đóng góp vào các Dự thảo văn kiện trình Đại hội Đảng, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp đã triển khai việc thảo luận, đóng góp ý kiến một cách nghiêm túc, dân chủ và thẳng thắn. Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (khoá VII) đã tổ chức Hội nghị lần thứ tư đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng. Trong dịp này, Tạp chí Mặt trận cũng nhận được nhiều bài viết góp ý cho Đảng, và đã đăng một số bài trên số 84 (trang 47), số 85 (trang  35)... Dưới đây, trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài tổng thuật nội dung chính của những đóng góp cho các Dự thảo văn kiện của Đảng.

ĐỔI MỚI ĐỂ TĂNG CƯỜNG SỨC MẠNH CỦA ĐẢNG

       Hầu hết các ý kiến đều nhất trí với chủ đề, bố cục, nội dung dự thảo các văn kiện và cho rằng các dự thảo văn kiện được chuẩn bị công phu, chu đáo, nghiêm túc, có nhiều nội dung mới, sâu sắc, bố cục rõ ràng, mang tính tổng kết, tính khái quát cao. Nội dung các dự thảo văn kiện phản ánh đúng thực tiễn, khẳng định rõ các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng trong công cuộc đổi mới đất nước. Có những ý kiến đề nghị Trung ương cần bổ sung, nhấn mạnh, làm rõ thêm một số nội dung cụ thể, nhất là những vấn đề bức xúc hiện nay trong đời sống xã hội đang được dư luận nhân dân đặc biệt quan tâm; đề xuất, kiến nghị với Đảng một số chủ trương, giải pháp nhằm xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, xây dựng Nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân1.

* Đóng góp cho dự thảo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011)

Số đông ý kiến cho rằng, kết cấu chung của Cương lĩnh chia làm 4 phần, với các nội dung, vấn đề nêu ra là vừa phải, hợp lý. Cách viết cô đọng, gọn, rõ ràng, đúng với tinh thần của Cương lĩnh chính trị. Vấn đề ở phần II “Quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta” nhiều ý kiến nhất trí về nội dung, tuy nhiên còn nhiều ý kiến băn khoăn về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Cần phải xác định cụ thể, rõ thời kỳ quá độ ở nước ta là bao nhiêu năm. Có xác định rõ được thời kỳ quá độ thì mới định được mục tiêu phấn đấu.

Đề nghị bổ sung câu: Mặt trận “tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước” thành nội dung sau: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc; đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân; thực hiện dân chủ và xây dựng xã hội lành mạnh; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước; tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, giám sát và phản biện xã hội; giáo dục lý tưởng và đạo đức cách mạng, quyền và nghĩa vụ công dân, thắt chặt mối liên hệ giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước” (Ông Đỗ Duy Thường, Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam).

Một số ý kiến đề nghị cần xây dựng Luật qui định về sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội để bảo đảm Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và dân chủ xã hội chủ nghĩa, một số ý kiến đề nghị cần nghiên cứu mở rộng quyền dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh; thực hiện dân chủ từ Trung ương xuống cơ sở, chứ không chỉ thực hiện dân chủ ở cơ sở, tăng dân chủ trực tiếp, giảm dân chủ gián tiếp; chống dân chủ hình thức, tốn thời gian, công sức của dân và làm giảm lòng tin của dân.

“Chế độ dân chủ mới mà nhân dân xây dựng là một chế độ do nhân dân các dân tộc anh em trong cả nước và công dân Việt Nam ở nước ngoài cùng làm chủ.

Có hệ thống chính trị bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam đóng vai trò lãnh đạo; Nhà nước của dân, do dân, vì dân, quản lý xã hội bằng pháp luật, dựa vào thế trận lòng dân để chống thù trong giặc ngoài; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị, xã hội với trách nhiệm tập hợp lực lượng đại đoàn kết dân tộc, thực hiện phản biện và giám sát xã hội đối với Đảng và Nhà nước” (Ông Trần Trọng Tân, nguyên Trưởng Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương).

“Cương lĩnh cần bổ sung và hoàn thiện thêm hai vấn đề:

Một là, đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Lao động Việt Nam vừa phù hợp với điều kiện cụ thể của nước ta, vừa có lợi cho hội nhập quốc tế, bảo đảm cho việc tập hợp lực lượng quốc tế, trong nước và trong Đảng theo đúng khẩu hiệu của Bác Hồ đề ra “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Việc thay đổi tên Đảng không hề thay đổi bản chất và mục đích của Đảng.

Hai là, cần thay đổi quan niệm đất đai là sở hữu nhà nước. Nên hiểu: đất đai là tài sản của toàn dân tộc; Nhà nước, tập thể, tư nhân sử dụng đất phải tuân thủ pháp luật của Nhà nước. Việc thay đổi này là điểm đột phá trong công tác nghiên cứu lý luận, tạo điều kiện thuận lợi để giải quyết những vấn đề thực tiễn về quản lý đất đai rất rối ren hiện nay” (VS.TS Trương Công Phú, Ủy viên Đoàn Chủ tịch, Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn về kinh tế Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam).

* Góp ý cho Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020

Số đông ý kiến tán thành bản dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, viết đầy đủ, nêu rõ được tình hình, quan điểm, định hướng những vấn đề cơ bản phát triển, vai trò quản lý của Nhà nước cũng như việc tổ chức thực hiện.

“Khi khẳng định nền kinh tế thị trường nước ta là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà chỉ đề cập đến sự tồn tại của các thành phần kinh tế khác nhau, cách thức phân phối khác nhau... thì mới chỉ làm rõ được đặc điểm của nền kinh tế thị trường trong thời kỳ quá độ. Để làm rõ đặc điểm định hướng chủ nghĩa xã hội của nền kinh tế thị trường nước ta, cần làm rõ các nhiệm vụ là:

- Khắc phục những khiếm khuyết, sai sót của nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa.

- Lãnh đạo các thành phần kinh tế phát triển theo định hướng chủ nghĩa xã hội.

- Phát huy vai trò quản lý của Nhà nước nhằm phục vụ lợi ích của toàn dân chứ không phải lợi ích của một thiểu số, của các nhóm lợi ích.

Để thực hiện được định hướng đó, Đảng và Nhà nước Việt Nam phải vươn lên để có bản lĩnh cần thiết và đây là một việc làm không dễ dàng” (GS Nguyễn Lang, Uỷ viên Hội đồng tư vấn kinh tế Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam).

“Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội theo mô hình công nghiệp hóa, phát triển chiều sâu như hiện nay đã lỗi thời từ cuối thế kỷ XX. Căn cứ vào đặc điểm kinh tế - xã hội của nước ta, theo xu thế của thời đại, đồng thời tranh thủ thời cơ thuận lợi hiện nay, từng bước chuyển lên mô hình phát triển bền vững trên cơ sở kinh tế tri thức. Kinh tế tri thức là con đường ngắn nhất đi lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, như tiên đoán của K.Mác. Vấn đề cực kỳ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội là công tác tổ chức, điều hành việc thực hiện chiến lược. Nhiều Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ rất đúng đắn nhưng khi tổ chức, điều hành việc thực hiện thì kết quả đạt được xa vời Nghị quyết” (VS.TS Trương Công Phú, Ủy viên Đoàn Chủ tịch, Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn về kinh tế Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam).

“Xin đề nghị xem xét việc coi kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, có những điểm không rõ về nội dung: kinh tế nhà nước gồm những yếu tố gì; thế nào là vai trò chủ đạo? Khi kinh tế nhà nước đã giữ vai trò chủ đạo, doanh nghiệp nhà nước thường ỷ vào lợi thế của mình, đương nhiên sẽ không có động lực để nâng cao sức cạnh tranh của mình, điều này hạn chế ngay việc phát huy tinh thần năng động, sáng tạo của đội ngũ công nhân viên chức doanh nghiệp nhà nước. Và cuối cùng, trong thực tế, không phải doanh nghiệp nhà nước nào cũng gương mẫu trong sản xuất, kinh doanh, mà khá nhiều doanh nghiệp nhà nước kinh doanh thua lỗ, Nhà nước phải lấy tiền thuế của dân ra để ứng cứu. Một số doanh nghiệp nhà nước đã trở thành gánh nặng cho nền kinh tế đất nước. Nếu như cần có những “quả đấm mạnh” làm đầu tàu cho nền kinh tế, cạnh tranh với thế giới, có thể thành lập những tập đoàn kinh tế ở một số ngành chủ chốt, nhưng đây phải là những tập đoàn đa sở hữu, có các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế tham gia một cách tự nhiên theo quy luật kinh tế, kinh doanh theo các quy luật của kinh tế thị trường”. (Ông Vũ Quốc Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam).

“Chiến lược đề ra mục tiêu đến năm 2020: Thu hẹp khoảng cách thu nhập giữa các vùng và nhóm dân cư, đề nghị ở vùng miền núi không chỉ có thu nhập mà phải nói đến các mặt, nhất là đời sống, cán bộ dân tộc, văn hóa dân tộc; không chỉ nhóm dân cư mà phải nói là các dân tộc; xin điều chỉnh và bổ sung: Sớm thu hẹp khoảng cách chênh lệch về các mặt giữa các vùng và các dân tộc. Phải phấn đấu sao cho người dân sống ở miền núi cũng có thu nhập, có điều kiện sống không khác gì so với người dân sống ở miền xuôi và đô thị”. (Ông Lù Văn Que, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Trung ương).

Trong Phần II. “Quan điểm phát triển”, một số ý kiến đề nghị bổ sung thêm quan điểm thứ 6 là: Phát triển kinh tế phải gắn với bảo vệ môi trường. Đây là vấn đề rất hệ trọng, trong điều kiện môi trường nước ta đang bị ô nhiễm, xuống cấp nhanh thì việc bổ sung thêm quan điểm này càng cần thiết và có ý nghĩa.

“Bổ sung chỉ tiêu định lượng về tỷ trọng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo trong tổng sản lượng năng lượng quốc gia vào phần mục tiêu về môi trường. Hiện nay, nội dung liên quan đến vấn đề này được trình bày ở phần định hướng phát triển về môi trường của Dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020: Chú trọng phát triển kinh tế xanh, thân thiện với môi trường. Thực hiện sản xuất và tiêu dùng bền vững; từng bước phát triển “năng lượng sạch, sản xuất sạch”, “tiêu dùng sạch”.

Bổ sung vào định hướng phát triển về môi trường (điểm 11, mục IV của Dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội) nội dung sau: “Không đưa vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển những ngành kinh tế tiêu thụ nhiều năng lượng, gây ô nhiễm môi trường lớn, ít lợi thế cạnh tranh” “Đưa nội dung bảo vệ môi trường vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, vùng, vào các chương trình, dự án”.

Bổ sung vào phần định hướng phát triển về môi trường (tại điểm 11, mục IV của Dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020) nội dung sau: “Xác định đúng nguyên nhân yếu kém và trách nhiệm của chính quyền các cấp trong việc bảo vệ môi trường”.

Có thể do tính chất và khuôn khổ của các văn kiện Đại hội Đảng mà trong cả 3 dự thảo văn kiện Đại hội Đảng XI không nêu lên nguyên nhân của tình trạng suy thoái và ô nhiễm môi trường ở nước ta hiện nay. Nếu không xác định đúng nguyên nhân thì cũng sẽ không đề ra được các giải pháp thích hợp và hữu hiệu để bảo vệ và cải thiện môi trường. Do đó, dù các nội dung về quan điểm, mục tiêu và định hướng phát triển trong lĩnh vực tài nguyên thiên nhiên và môi trường được trình bày trong các dự thảo văn kiện là đúng đắn, đầy đủ và toàn diện thì cũng còn thiếu các cơ sở vững chắc bảo đảm cho việc thực thi và đi vào cuộc sống của những nội dung đó. Có thể nói, Đảng và Nhà nước ta không thiếu các văn bản để lãnh đạo và chỉ đạo công tác bảo vệ môi trường. Nhưng trên thực tế vẫn thiếu sự chuyển biến tích cực rõ nét của hoạt động bảo vệ môi trường. Mỗi sai phạm, yếu kém trong lĩnh vực này đều có một nguyên nhân cụ thể nhất định. Song, nguyên nhân cơ bản có phải nằm ở trách nhiệm của chính quyền các cấp hay không?

Từ những lý do nói trên, trong phần định hướng phát triển về môi trường, trước khi đề cập đến các nội dung khác cần đưa vào nội dung “Xác định đúng nguyên nhân yếu kém và trách nhiệm của chính quyền các cấp trong việc bảo vệ môi trường”2 (TS. Hồ Ngọc Hải, Chủ tịch Hội Nước sạch và Môi trường Việt Nam).

* Góp ý cho dự thảo Báo cáo Chính trị tại Đại hội XI của Đảng

Trong tình hình hiện nay, nhân dân mong đợi một bản báo cáo ngắn gọn hơn, xúc tích hơn nhưng thực sự dám nhìn thẳng vào sự thật và từ đó có những quyết sách để đổi mới Đảng, và chỉ có đổi mới Đảng thì mới có thể có những bước bứt phá đưa đất nước sớm đạt đến mục tiêu cao cả: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đại hội Đảng là cơ hội để xem xét trách nhiệm và tìm biện pháp khắc phục yếu kém về các mặt kinh tế - xã hội như trong Dự thảo Báo cáo chính trị đã nêu lên. Nhiều diễn đàn đã đăng các ý kiến rất xác đáng của các bậc lão thành cách mạng, của các nhà khoa học và quần chúng nhân dân về các bất cập trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội, quy hoạch, trong việc đổi mới tư duy kinh tế và hiện đại hoá các thể chế, về sự ưu ái quá mức đối với các tập đoàn Nhà nước, về đầu tư chưa thoả đáng cho nông nghiệp, nông thôn và nông dân...

Về đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, các ý kiến đề cập rất gay gắt về vấn nạn tham nhũng, lãng phí đang diễn ra với tính chất, mức độ đặc biệt nghiêm trọng, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ. Đề nghị Đảng phải đề ra các giải pháp tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đấu tranh quyết liệt đối với nạn tham nhũng, lãng phí. Trong đó phải huy động nhân dân tham gia vào cuộc đấu tranh tham nhũng, lãng phí. Đề nghị chọn chống tham nhũng thành một nhiệm vụ đột phá trong thời gian tới đây.

“Đề nghị Trung ương quan tâm hơn nữa chính sách phát triển cơ sở hạ tầng và kinh tế - xã hội ở các vùng tái định cư, vùng sâu, vùng đặc biệt khó khăn và đồng bào dân tộc thiểu số. Đề nghị Đảng cần có những chủ trương, giải pháp linh động để bảo đảm an ninh trên biển, trong đó kết hợp đầu tư phương tiện, khí tài hiện đại, xây dựng lực lượng hải quân vững mạnh gắn với công tác tuyên truyền và triển khai chiến lược ngoại giao đúng đắn, nhằm bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc” (Ông Trần Phùng, Thường vụ tỉnh uỷ, Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Thừa Thiên - Huế).

Về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, đề nghị đặt mục tiêu, lộ trình thay đổi chương trình giáo dục quốc dân, vì hiện nay chương trình giáo dục của nước ta rất nặng, học sinh học nhiều, nhưng trình độ, kiến thức, kỹ năng lại thấp hơn so với một số nước đang phát triển khác.

“Góp ý phần “hạn chế, khuyết điểm” trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ (trang 62) đề nghị làm rõ hơn vai trò của người lao động: thầy và trò, cán bộ quản lý trong lĩnh vực giáo dục, cán bộ nghiên cứu trong lĩnh vực tiếp nhận, sáng tạo và phát triển công nghệ mới, nghiên cứu và cống hiến cho khoa học... Cần xây dựng một đội ngũ đông đảo người thầy, cán bộ nghiên cứu luôn tâm niệm đến việc tích luỹ tri thức, kinh nghiệm, là tấm gương về niềm say sưa khoa học, sống với cái tâm trong sáng, đủ sức thu hút đông đảo học sinh, sinh viên, người học với động cơ mong muốn, ham muốn lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử xã hội của loài người để lao động sản xuất, thì mới có thể nói đến những thành công trong đổi mới về giáo dục và đào tạo, văn hoá, khoa học và công nghệ” (GS. TSKH Phạm Thị Trân Châu, Phó Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn Khoa học - Giáo dục Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam).

Về công tác dân tộc và công tác tôn giáo, tập trung phát triển sự nghiệp giáo dục, nâng cao dân trí cho đồng bào các dân tộc thiểu số; quan tâm hơn nữa công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số (kể cả người Kinh ở vùng này, tránh phân biệt, gây mất đoàn kết).

“Đề nghị bổ sung vào điểm 6 của Cương lĩnh (ở trang 13, dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XI của Đảng) là: Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lớn và lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta.

Về nội dung giải quyết vấn đề dân tộc, Báo cáo chính trị đặt ra những việc sẽ làm (ở trang 103) chung chung quá, cần có nội dung cụ thể và sát hợp hơn để tạo chuyển biến rõ rệt về mọi mặt, nhất là nâng cao chất lượng nhân lực, xây dựng kết cấu hạ tầng, xóa được đói, giảm được nghèo... Phải đặc biệt coi trọng vấn đề dân tộc và tôn giáo; hòa giải, hòa hợp, đoàn kết được dân tộc và tôn giáo theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là chìa khóa để ổn định và phát triển đất nước” (Ông Lù Văn Que, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam).

Đề nghị nghiên cứu để có bước đột phá trong chính sách đối với tôn giáo, tạo điều kiện để các tôn giáo tham gia vào các hoạt động giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khoẻ, từ thiện nhân đạo... phát huy các mặt tích cực của các tôn giáo trong quá trình phát triển đất nước.

* Góp ý cho dự thảo Báo cáo một số vấn đề bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng

Nhiều ý kiến hoan nghênh và đồng tình với việc bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam cho phù hợp với Cương lĩnh sửa đổi, với nhận thức và tình hình thực tế đất nước, hoạt động xây dựng Đảng đã có những thay đổi.

Việc chuẩn bị sửa đổi, bổ sung có nhiều phương án, xây dựng phiếu thăm dò, giúp cho các nội dung bổ sung, sửa đổi sát được với thực tế.

“Nhiều lần Đại hội có sửa đổi điều lệ Đảng, nghĩa là việc áp dụng điều lệ đó cũng có những vướng mắc nên phải sửa đổi. Nhưng điều lệ chỉ là việc riêng của Đảng, việc tổ chức của Đảng.

Trước đây, ta chưa biết đến khái niệm pháp quyền. Đảng trước đây hoạt động bí mật rồi ra công khai, nhờ có Đảng mới giành được chính quyền nên toàn dân đều tin Đảng. Còn hiện nay, trong xã hội dân chủ, nhất là ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền, thì cao nhất là pháp luật, điều lệ không thể cao hơn pháp luật.

Trong cơ chế thị trường, rất dễ động chạm đến lợi ích. Nếu không rạch ròi, sòng phẳng, thì có thể có sai lầm. Chính vị trí cầm quyền của Đảng đòi hỏi sự lãnh đạo của Đảng phải được thể chế hoá thành pháp luật, để dân còn biết mà làm theo. Nếu làm trái đi là xúc phạm đến sự lãnh đạo của Đảng, xúc phạm đến thể chế của Nhà nước. Nếu nhận thức như thế, sẽ thấy việc luật hoá quyền lãnh đạo của Đảng là rất cần thiết, và không có gì phải né tránh cả. Đảng cầm quyền phải được thể chế hoá bằng pháp luật, nhất là trong điều kiện là Đảng cầm quyền duy nhất.

Đảng đã có điều lệ thì có thể thể chế hóa điều lệ đó để thành luật. Mọi tổ chức của Đảng, từ Bộ Chính trị là cấp cao nhất đến cấp uỷ cơ sở đều phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” (Ông Nguyễn Đình Lộc, nguyên Bộ trưởng Tư pháp).

Trong những góp ý, có đề nghị: đưa vào Điều lệ Đảng những điều Đảng viên không được làm; tuổi đảng của đảng viên được tính từ ngày ban hành quyết định kết nạp Đảng, khi đảng viên được công nhận chính thức.

Các ý kiến đều tin tưởng những nội dung chính đã góp ý sẽ được Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng nghiên cứu, tiếp thu và bổ sung hoàn thiện các dự thảo văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng3.

NGUYỄN THU THẢO
       (Tổng thuật)

__________________________

1. Một số góp ý đã phát biểu tại Hội nghị hoặc được giới thiệu trên một số phương tiện truyền thông.
2. Xem thêm trên báo Đại đoàn kết số 240 (20-10-2010), tr.12.
3. Xem thêm:
- Các đại biểu Quốc hội góp ý kiến vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội Đảng XI, Báo Phụ nữ Việt Nam ngày 29-10-2010, tr.2 và Báo Lao động ngày 29-10-2010, tr.2.
- Lao động trẻ góp ý vào các dự thảo văn kiện, báo Nhân dân ngày 29-10-2010, tr.1.
- Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam góp ý các dự thảo văn kiện trình Đại hội XI của Đảng, báo Nhân dân 24-1-2010, tr.1.
- Công đoàn Xây dựng Việt Nam góp ý kiến các dự thảo văn kiện Đại hội XI của Đảng, báo Lao động 23-10-2010, tr.4.

   | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |    



Với trí tuệ và kinh nghiệm thực tiễn
nhân dân sẽ góp những ý kiến quý báu cho Đảng

                                                                                             VŨ LÂN*

Việc góp ý vào Dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XI của Đảng là một việc rất cần thiết, quan trọng nên không hề đơn giản, dễ dàng. Có thể khẳng định, với trí tuệ và từ kinh nghiệm thực tiễn cách mạng, nhân dân sẽ đóng góp cho Đảng ta những ý kiến quý báu để hoàn thiện nội dung, góp phần xây dựng, bổ sung, hoàn thiện Dự thảo các Văn kiện trước khi Đại hội XI của Đảng quyết định.

Kể từ ngày 15-9-2010, khi Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam cho công bố Dự thảo các Văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, đến nay đã gần 2 tháng. Rất nhiều ý kiến đa dạng, phong phú của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân đóng góp vào Dự thảo các Văn kiện. Dưới đây, xin đóng góp thêm một số ý kiến.

1. Về “Dự thảo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”

Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta đã được đề cập trong nhiều văn kiện của Đảng, ngay từ Đại hội lần thứ IV. Sau đó đã được đề cập trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh 1991). Tuy nhiên, trong Cương lĩnh năm 1991 cũng như trong Dự thảo Cương lĩnh lần này đều chưa xác định rõ thời kỳ quá độ kéo dài bao nhiêu năm mà chỉ xác định mục tiêu chung. Cương lĩnh năm 1991 cho rằng: “Khi kết thúc thời kỳ quá độ, hình thành về cơ bản nền kinh tế công nghiệp với cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp - dịch vụ gắn với phân công và hợp tác kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng”. Dự thảo Cương lĩnh lần này, viết: “Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là xây dựng xong về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở làm cho nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh”; rằng: “thời kỳ quá độ là thời kỳ lâu dài với nhiều bước phát triển”. Để rõ hơn, Đảng cần xác định khoảng thời gian của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là bao lâu? 50 năm hay 100 năm, hoặc dài hơn? Đồng thời, cần đề ra một số mục tiêu nữa về kinh tế, xã hội để toàn Đảng, toàn dân phấn đấu thực hiện cho bằng được. Bởi vì, một điều hiển nhiên và tất yếu là mục tiêu phấn đấu bao giờ cũng phải gắn liền với thời hạn về thời gian, cũng như số lượng, chất lượng của công việc.

Dự thảo Cương lĩnh đã đề ra “8 phương hướng cơ bản” để thực hiện các mục tiêu. Tuy nhiên, trong đó không thấy có phương hướng về một nội dung rất quan trọng hiện nay. Đó là vấn đề tài nguyên thiên nhiên và môi trường - một vấn đề rất thời sự, cấp bách của toàn cầu. Vì vậy, kiến nghị trong các phương hướng cơ bản để phấn đấu đạt mục tiêu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, cần bổ sung phương hướng về sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường trong tình hình hiện nay, khi mà tài nguyên thiên nhiên của nước ta đang bị sử dụng lãng phí, khai thác kiệt quệ, quản lý còn nhiều yếu kém; môi trường ở nhiều nơi bị xuống cấp, ô nhiễm nghiêm trọng; hạn hán, thiên tai, bão lũ xảy ra liên miên và rất bất thường.

Dự thảo đã đề cập vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, chăm lo lợi ích cho đoàn viên, hội viên... Thế nhưng trong giai đoạn cách mạng mới thì một vai trò nữa là giám sát và phản biện xã hội trong việc xây dựng chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước chưa được làm rõ và nổi bật trong Dự thảo Cương lĩnh. Do đó, Đảng cần khẳng định mạnh mẽ hơn nữa vai trò này của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Vai trò này rất quan trọng trong việc xây dựng các tổ chức đảng, các cấp chính quyền trong sạch, vững mạnh khi mà tệ nạn tham nhũng, tiêu cực, sách nhiễu dân chưa được ngăn chặn, đẩy lùi.

2. Về “Dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020”

Trên cơ sở phân tích những thành tựu của đất nước sau 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010, Dự thảo Chiến lược đã rút ra bốn bài học chủ yếu về phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc; về coi trọng chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển; về bảo đảm độc lập, chủ quyền đất nước; về bảo đảm gắn kết giữa tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với hiệu lực quản lý của Nhà nước.

4 bài học trên đây là hoàn toàn đúng đắn nhưng chưa đủ. Một trong những bài học rất quan trọng cần rút ra trong 10 năm qua là: Coi trọng và bảo đảm hài hòa lợi ích của các thành phần kinh tế, các tầng lớp, đối tượng xã hội, đồng thời kết hợp chặt chẽ, hợp lý giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa - xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước đi và từng chính sách phát triển. Điều này chi phối và ảnh hưởng rất lớn đến định hướng giá trị xã hội và thể hiện tính nhân văn của chế độ xã hội chúng ta, là yếu tố xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường mà chúng ta đang xây dựng, là động lực phấn đấu của các thành phần kinh tế, các thành viên xã hội, góp phần mang lại sự thành công của công cuộc đổi mới đất nước 25 năm qua.

Dự thảo Chiến lược đã đưa ra “Các đột phá chiến lược”, như: hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển nhanh nguồn nhân lực; xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật đồng bộ. Như vậy, các đột phá tập trung chủ yếu vào lĩnh vực thể chế, kinh tế, nhân lực mà chưa thấy có đột phá về các chính sách văn hóa, xã hội. Có một thực tế 25 năm đổi mới đất nước cũng như hiện nay, nhiều ngành, lĩnh vực, địa phương, cơ sở đang có sự “phát triển lệch”, không cân bằng giữa phát triển kinh tế với sử dụng tiết kiệm, giữ gìn, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường; giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa và giải quyết các vấn đề xã hội, thậm chí xu hướng kinh tế thì phát triển nhưng môi trường, sinh thái, văn hóa, đạo đức xã hội bị suy thoái, xuống cấp đang có chiều hướng gia tăng. Do vậy, xin kiến nghị cần bổ sung nội dung Phát triển bền vững và bảo đảm hài hòa, cân đối giữa kinh tế với văn hóa, xã hội vào khâu đột phá chiến lược.

3. Về “Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng”

Xin góp ý 2 loại vấn đề nổi bật:

Loại vấn đề thứ nhất, đó là vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân. Trong đánh giá thành tựu, Dự thảo văn kiện đã khẳng định vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân trong tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết, củng cố và mở rộng tổ chức, phát triển đoàn viên, hội viên, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Tuy nhiên, trong nhiệm kỳ 2006 - 2010, Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã chỉ rõ việc phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong giám sát, phản biện xã hội, bước đầu đã xúc tiến xây dựng quy chế, quy định, nâng cao nhận thức, tạo sự chuyển biến trong thực tế đời sống xã hội. Thế nhưng trong kiểm điểm, đánh giá cũng như trong Dự thảo chưa thấy đề cập vấn đề phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội, hoặc có đề cập nhưng còn mờ nhạt. Do đó, kiến nghị Văn kiện cần bổ sung phần đánh giá cũng như đề ra phương hướng cụ thể hơn trong việc phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, trong đó đặc biệt là vai trò giám sát và phản biện xã hội trong quá trình xây dựng chủ trương, nghị quyết, chương trình, kế hoạch, đề án phát triển của Đảng, Nhà nước. Bởi vì, nếu như trong thời gian tới, chúng ta thực hiện bỏ Hội đồng nhân dân cấp quận, huyện, phường... mà không tăng cường sự giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, các cơ quan dân cử thì rất dễ xảy ra tình trạng độc đoán, chuyên quyền, lộng hành, tùy tiện ở cấp này, cấp khác, chỗ này, chỗ khác.

Loại vấn đề thứ hai, công tác vận động quần chúng là một trong những công tác rất quan trọng mang tầm chiến lược của Đảng, Nhà nước ta. Tuy nhiên, việc kiểm điểm 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội X, trong phần nói về thành tựu cũng chưa đề cập thỏa đáng nội dung quan trọng này. Do đó, xin kiến nghị đưa một số nội dung sau đây vào Dự thảo văn kiện (sau đánh giá công tác kiểm tra của Đảng): Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị đã ban hành kịp thời một số nghị quyết về công tác vận động quần chúng (công nhân, nông dân, trí thức...); công tác dân vận của hệ thống chính trị có những đổi mới và tiến bộ, tạo sự chuyển biến tích cực, đạt được những thành tích quan trọng. Hệ thống chính trị đã không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động, tăng cường hướng về cơ sở, gần dân và sâu sát dân hơn; đã nắm bắt, tập hợp được tâm tư, nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân để tham mưu cho Đảng và Nhà nước lãnh đạo, chỉ đạo, giải quyết kịp thời.

Phần hạn chế, khuyết điểm (sau nội dung đánh giá về công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật của Đảng) cũng cần bổ sung đánh giá về công tác vận động quần chúng với một số nội dung, như: Một số tổ chức đảng, chính quyền chưa quan tâm đúng mức công tác vận động quần chúng; nội dung, phương thức vận động, tập hợp quần chúng chậm được đổi mới; phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” chưa được cụ thể hóa đầy đủ; Quy chế dân chủ ở cơ sở được thực hiện chưa tốt.

Ở nội dung XII - Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, sau phần 7: “Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát”, xin được bổ sung phần 8 về công tác vận động quần chúng, với tiêu đề: “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác vận động quần chúng của Đảng”, với một số nội dung chính sau đây: Công tác vận động quần chúng của Đảng là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng nước ta, là điều kiện quan trọng bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng và cho sự củng cố, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; triển khai thực hiện tốt Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị và Quy chế dân chủ ở cơ sở; tổ chức các phong trào thi đua yêu nước nhằm tập hợp, động viên được các tầng lớp nhân dân đoàn kết, giữ vững ổn định chính trị, tích cực tham gia vào sự nghiệp xây dựng, và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Các cấp ủy đảng phải thường xuyên quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác dân vận của Đảng trong thời kỳ mới”.

4. Về câu chữ, đề nghị bổ sung, chỉnh sửa một số chỗ cho thống nhất, lô gich, chặt chẽ hơn

a. Trong Dự thảo Cương lĩnh:

Mục I. “Quá trình cách mạng và những bài học kinh nghiệm”.

Đề nghị thay thế cụm từ: “từ một xứ” bằng cụm từ: “nước ta là một nước thuộc địa nửa phong kiến...”.

Về những bài học lớn:

- Bài học thứ nhất, đề nghị bổ sung từ “giương cao” vào cụm từ: “nắm vững và giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội...”;

- Bài học thứ hai, đề nghị thay thế cụm từ: “gắn bó máu thịt với nhân dân” bằng cụm từ: “gắn bó mật thiết với nhân dân”;

- Bài học thứ năm, đề nghị thêm từ “dân tộc” để cụm từ: “... phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân...” thành: “... phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân và dân tộc...”.

 Mục II. Quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

- Bổ sung cụm từ: “và của nhân dân ta” để thành một câu hoàn chỉnh ở nội dung thứ 4: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của nhân dân ta”.

 - Bổ sung cụm từ: “với các nước” trong mệnh đề: “có quan hệ... nhân dân các nước trên thế giới” thành mệnh đề hoàn chỉnh là: “...có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước và nhân dân các nước trên thế giới”.

Mục III. Những định hướng lớn về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại.

- Đề nghị bổ sung từ “bền vững” để thành câu hoàn chỉnh ở nội dung thứ 5: “Phát triển bền vững nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”;

- Nội dung ở phần cuối nói về con người, đề nghị bổ sung cụm từ “nghĩa đồng bào” thành mệnh đề hoàn chỉnh: “bồi đắp tình bạn, tình đồng chí, đồng đội, nghĩa đồng bào...”;

- Nội dung nói về bảo vệ môi trường, đề nghị bổ sung cụm từ có liên quan đến tài nguyên thiên nhiên để thành mệnh đề hoàn chỉnh là: “sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, giữ gìn và bảo vệ môi trường là trách nhiệm...”;

- Ở nội dung thứ 7 đề nghị bổ sung từ “đạo đức” để thành mệnh đề: “chăm lo nâng cao phẩm chất, đạo đức cách mạng...”;

- Ở nội dung thứ 8 đề nghị bổ sung từ “không ngừng” đề thành cụm từ: “không ngừng nâng cao vị thế của đất nước...”.

Mục IV. Hệ thống chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng.

- Đề nghị nhấn mạnh vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh - lực lượng được xác định “là đội hậu bị tin cậy của Đảng”.

- Phần cuối của Dự thảo Cương lĩnh đề nghị thay từ “chiến đấu” bằng cụm từ: “tập hợp lực lượng phấn đấu” để thành mệnh đề hoàn chỉnh, phù hợp là: “Cương lĩnh này là ngọn cờ tập hợp lực lượng phấn đấu vì...”;

b. Trong Dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2010 - 2020:

Phần mở đầu đề nghị thêm cụm từ: “và sức mạnh thời đại” vào sau cụm từ: “sức mạnh toàn dân tộc” để thành câu: “Phát huy sức mạnh toàn dân tộc và sức mạnh thời đại”.

Phần I - Tình hình đất nước và bối cảnh quốc tế, đề nghị chỉnh lại cụm từ: “chậm đổi mới” thành: “đổi mới chậm”.

Phần III - Mục tiêu chiến lược và khâu đột phá. Về mục tiêu tổng quát, đề nghị bổ sung cụm từ: “chất lượng môi trường ngày càng được cải thiện” vào sau cụm từ: “toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững” thành câu: “... toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; chất lượng môi trường ngày càng được cải thiện...”.

Mục 2. Về mục tiêu chủ yếu, thêm nội dung bảo vệ tài nguyên môi trường thành câu: “Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa, chặt chẽ với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường”.

c. Trong Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XI của Đảng:

Trước hết cần nhất quán trong tất cả các nội dung khi nói về sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Bởi vì, ở nhiều chỗ Dự thảo chỉ đề cập đến vấn đề bảo vệ môi trường mà không nói đến sử dụng tiết kiệm, giữ gìn tài nguyên thiên nhiên. Chẳng hạn, trong phần 2 của phần thành tựu, nên thêm cụm từ: “giữ gìn tài nguyên thiên nhiên” vào sau từ “nhận thức” thành: “Nhận thức về giữ gìn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường”.

Phần V - Đổi mới và phát triển giáo dục và đào tạo; khoa học và công nghệ, phát triển kinh tế tri thức; bảo vệ môi trường” đề nghị bổ sung nội dung tài nguyên thiên nhiên để thành câu: “Đổi mới và phát triển giáo dục và đào tạo; khoa học và công nghệ, phát triển kinh tế tri thức, giữ gìn, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường”.

Phần nói về thành tựu trong văn hóa đề nghị bổ sung từ: “sáng tạo” thành câu: “đáp ứng nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ văn hóa ngày càng cao của nhân dân”.

Mục 3. Đổi mới mô hình... đề nghị bổ sung cụm từ: “mở rộng thị trường” vào mục này thành : “3. Phát triển nông - lâm - ngư nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, mở rộng thị trường gắn với giải quyết tốt vấn đề nông dân, nông thôn...”.

Phần VI - Chăm lo phát triển văn hóa, mục I đề nghị bổ sung thêm từ “Tiếp tục” vào đầu câu thành: “Tiếp tục đưa cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết...”; mục 4, đề nghị bổ sung ý: “Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại văn hóa”.

Phần X - Phát huy dân chủ...

Ở mục 2, đề nghị thêm câu: “Nhà nước ban hành cơ chế về phản biện xã hội” để thành câu: “Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân... giám sát và phản biện xã hội, Nhà nước ban hành cơ chế phản biện xã hội...”.

Trong Dự thảo Văn kiện đề nghị viết chính xác và thống nhất một số cụm từ, như: “Quy chế dân chủ ở cơ sở”; “Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn”; “Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị”...

Trong Dự thảo các văn kiện, đề nghị quan tâm giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt hoặc dùng cho thống nhất, không nên có chỗ thì dùng từ “giảm thiểu”, có chỗ dùng từ “giảm đến mức thấp nhất”; có chỗ thì viết “gắn bó mật thiết” có chỗ lại dùng “gắn bó máu thịt”...

* Nhà báo.

   | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |    



Lý luận
BÀN VỀ PHÁT TRIỂN ĐIỆN LỰC VIỆT NAM

                                                                                 NGUYỄN LANG*

          Gần đây, rộ lên việc Hiệp hội ngành năng lượng (Điện lực, Than - Khoáng sản, Dầu khí) kiến nghị với Chính phủ cần tăng giá điện. Đã có rất nhiều ý kiến khác nhau được phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong dư luận xã hội cũng như trong nhiều cuộc họp liên tịch giữa ngành điện với một số cơ quan hữu quan. Tại Quốc hội, vấn đề của ngành điện cũng được nhiều lần đề cập đến.

Tình hình thiếu điện thực tế đã xuất hiện từ nhiều năm trước, nhưng chỉ đến 2010 thì tình hình mới nghiêm trọng như hiện nay và có dự báo là năm 2012, nếu không có chuyển biến gì rõ rệt thì tình hình thiếu điện vẫn tồn tại. Thế nhưng, qua nhiều lần kiểm tra, phân tích, Điện lực

Việt Nam (EVN) luôn khẳng định thiếu điện là do Điện lực Việt Nam không có đủ vốn đầu tư phát triển nguồn điện, vì giá điện thấp nên không thu hút được vốn đầu tư của xã hội và vốn đầu tư nước ngoài. Từ đó, Điện lực Việt Nam kiến nghị là phải tăng giá điện và Thủ tướng Chính phủ cũng đã thông qua lộ trình tăng giá điện cho Điện lực Việt Nam. Trước những bức xúc của xã hội về việc tăng giá điện, Điện lực Việt Nam đã có động tác trưng cầu ý dân để lựa chọn nên tăng giá điện theo phương án nào? Đây là một động thái mang tính dân chủ hình thức nhằm trấn an dư luận, vì người dân không đồng tình với việc Điện lực Việt Nam tăng giá điện, chứ không chỉ là không đồng tình về cách tăng giá điện. Đến gần đây, Hiệp hội ngành năng lượng lại lên tiếng đòi phải tăng giá điện lên ngang bằng giá khu vực để tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Qua đó, gây ấn tượng là việc tăng giá điện là sự cần thiết khách quan chứ không phải xuất phát từ mong muốn chủ quan, một chiều của Điện lực Việt Nam. Theo họ, hiện nay giá điện của Việt Nam bình quân là 5,3 cent/kwh là quá rẻ, trong khi giá điện của Campuchia là 17 cent/kwh, của Philippines là 16 cent/kwh, của Trung quốc là 11 cent/kwh,...

Dường như tình hình đã xảy ra đối với VINASHIN lại tái diễn ở EVN. Nếu không có những chính sách, biện pháp đúng đắn và kịp thời để khắc phục những yếu kém, khuyết điểm của EVN thì sẽ gây tác động xấu về nhiều mặt đối với đời sống kinh tế và đời sống xã hội. Thế nhưng mãi đến năm 2008, trước sự bức xúc của dư luận xã hội về việc Điện lực Việt Nam trả lại cho Chính phủ 13 dự án phát triển nguồn điện, mới có việc Kiểm toán Nhà nước tiến hành kiểm toán tình hình hoạt động năm 2007 của Điện lực Việt Nam (các phương tiện thông tin đại chúng đã công bố một phần của kết quả kiểm toán đó). Vì ngành điện là một ngành thuộc hạ tầng cơ sở kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân nên kết quả hoạt động của ngành có ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển bền vững, đến sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô, đến đời sống của nhân dân và an sinh xã hội. Vì thế, nếu không kịp thời nhận biết được đủ và đúng tình hình của Điện lực Việt Nam để có chính sách, biện pháp khắc phục những yếu kém thì sẽ tiếp tục tác động xấu đến nhiệm vụ bảo đảm sự ổn định vĩ mô và phát triển bền vững của nền kinh tế, đến tốc độ tăng trưởng và an sinh xã hội.

1. Vì sao thiếu điện?

Cần nói rõ là tình hình thiếu điện triền miên qua nhiều năm chỉ tập trung vào thời điểm mùa khô. Vào thời điểm này, mực nước các hồ thủy điện xuống thấp và nguồn nước bổ sung lại thiếu nên các nhà máy thủy điện không thể vận hành hết công suất, gây nên tình trạng thiếu điện. Trong một số buổi làm việc, Điện lực Việt Nam nói rằng trong thời gian vừa qua, tuy các hồ thủy điện thiếu nguồn nước bổ sung nhưng Điện lực Việt Nam vẫn phải xả 4 đợt nước để phục vụ nông nghiệp, do đó Điện lực Việt Nam phải huy động các nguồn điện có giá cao (điện nhiệt chạy bằng dầu DO có giá bán gấp 4 lần giá bình thường) và mua điện bên ngoài cũng với giá cao, dẫn đến trong 6 tháng đầu năm 2010, Điện lực Việt Nam lỗ 4.700 tỷ đồng. Ngoài ra, EVN còn dẫn chứng, hiện nay ngành thép và ngành xi măng đang có công suất vượt nhu cầu nên nếu hai ngành này tạm ngừng sản xuất một tuần cộng với cắt giảm điện dùng cho quảng cáo và trang trí (tổng lượng tiêu thụ của ngành thép, xi măng và quảng cáo, trang trí là 4.100 MW điện) thì đã bằng sản lượng thiếu hụt của các nhà máy thủy điện. Nếu tình hình cứ diễn biến như hiện nay, việc thi công các nhà máy vẫn chậm tiến độ, thì tình trạng thiếu hụt điện vẫn có thể tiếp tục kéo đến năm 2012. Thực trạng đó cho thấy nguyên nhân chủ yếu gây nên tình hình thiếu điện là do đến mùa khô hạn, khi các nhà máy thủy điện phải giảm công suất phát điện thì lại không có nguồn điện khác đủ bù đắp. Như vậy, nguyên nhân thiếu điện chủ yếu do đầu tư phát triển thiếu cân đối giữa thủy điện với các nguồn điện năng khác. Nói cách khác, ngành điện đã không chú trọng thỏa đáng vào nhiệm vụ đầu tư phát triển các nguồn nhiệt điện (chạy than, chạy dầu, chạy khí,...) và các nguồn điện tái sinh khác.

Vì sao lại xảy ra tình trạng như vậy? Trả lời câu hỏi này, trách nhiệm chủ yếu thuộc về Điện lực Việt Nam và cơ quan quản lý nhà nước về ngành năng lượng. Tuy vậy, xin được gợi ý một số điểm sau đây:

- Ngày 7-6-2001, Ban Cán sự Đảng Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương) có bản “Báo cáo về dự án thủy điện Sơn La” gửi đến Trung ương Đảng. Tại trang 3 của bản báo cáo đã ghi nhận: “... phải đảm bảo cung cấp 97-127 tỷ Kwh vào năm 2015 và 167-201 tỷ Kwh vào năm 2020, trong đó đã tính toán cân đối cơ cấu nguồn điện hợp lý, bao gồm thủy điện 32%, nhiệt điện than 15,3%, nhiệt điện khí - dầu 36,4%, địa nhiệt 0,2%, điện nguyên tử 5,3% và điện nhập khẩu 10,8%”. Vào thời điểm 1998, tỷ trọng thủy điện vẫn chiếm 70% sản lượng nên việc xác định cơ cấu nguồn như vậy thể hiện việc Ban Cán sự đã nắm chắc sự cần thiết phải điều chỉnh cơ cấu nguồn điện, nhưng trong thực tế Điện lực Việt Nam và Chính phủ (với việc thông qua các Tổng sơ đồ phát triển điện) đã không thực hiện chủ trương điều chỉnh cơ cấu nguồn điện. Việc xác định cơ cấu nguồn điện năng như báo cáo, về cơ bản là hợp lý nhưng vẫn bỏ sót nguồn năng lượng tái tạo. Về nguồn năng lượng tái tạo của Việt Nam, chuyên gia nước ngoài đã đánh giá là Việt Nam có thể bảo đảm 100% nhu cầu bằng nguồn năng lượng tái tạo, gồm năng lượng bức xạ mặt trời, năng lượng gió, địa nhiệt, thủy điện nhỏ (Nhân Dân, 9-5-2009). Mặt khác, tuy báo cáo của Ban Cán sự Đảng Bộ Công Thương ghi sự điều chỉnh cơ cấu nguồn như đã trích dẫn, nhưng thực tế từ đó đến nay, dường như Điện lực Việt Nam vẫn chỉ tập trung đầu tư phát triển nguồn thủy điện nên dẫn đến tình trạng thiếu điện vào mùa khô, như đã từng xảy ra trong nhiều năm qua và trở nên nghiêm trọng như hiện nay.

- Về huy động vốn đầu tư phát triển nguồn điện, Điện lực Việt Nam báo cáo là bản thân Điện lực Việt Nam thiếu vốn nên cần tăng giá điện để có nguồn vốn tái đầu tư mở rộng. Cách tư duy đó không thể hiện tư duy của người kinh doanh trong cơ chế thị trường, vì đáng lý phải phấn đấu nâng cao hiệu quả kinh doanh, giảm thiểu những tổn thất để hạ giá thành, tăng nguồn lãi cho tái đầu tư, thì Điện lực Việt Nam lại đề nghị tạo nguồn vốn đó bằng cách lấy từ túi người tiêu dùng. Mặt khác, vào năm 2008, khi Điện lực Việt Nam tuyên bố trả 13 dự án đầu tư nguồn điện về Chính phủ với lý do không có khả năng thu hút vốn thì Tập đoàn dầu khí đã đứng ra nhận triển khai các dự án này. Điều đó cho thấy, việc Điện lực Việt Nam tuyên bố không thu hút được nguồn vốn đầu tư là không đúng. Phải chăng Điện lực Việt Nam bị “hấp dẫn” bởi nguồn vốn đầu tư nước ngoài mà quên mất phương châm “nội lực là chính, ngoại lực là bổ sung”, nên khi thấy các nhà đầu tư nước ngoài không mặn mà đầu tư vào nhiệt điện (có thể vì thủy điện đã bị Điện lực Việt Nam bao trọn gói) nên Điện lực Việt Nam đề xướng như trên?

- Ngành điện năng là một ngành thuộc cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân nên nhà nước có nhiệm vụ đầu tư phát triển. Thế nhưng, vì nhiều lý do khác nhau, việc đầu tư phát triển nguồn điện từ ngân sách nhà nước dường như gặp khó khăn. Phải chăng vì phía nước ngoài gây áp lực, phản đối việc nhà nước trực tiếp đầu tư phát triển thành phần kinh tế quốc doanh? Hay còn có áp lực không thuận từ trong nước vì coi đó là sự đối xử không bình đẳng với các thành phần kinh tế khác?

- Cũng cần đòi hỏi Điện lực Việt Nam tự kiểm điểm, đánh giá và làm rõ những ưu, nhược điểm trong quá trình tổ chức đầu tư, quản lý và vận hành hệ thống điện quốc gia. Cơ quan kiểm toán có vào cuộc, nhưng dường như chưa có điều kiện làm rõ, cụ thể thực trạng (một số tình hình được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng đã góp phần làm rõ hơn những thiếu sót chủ quan của Điện lực Việt Nam). Có tình trạng Điện lực Việt Nam trút gánh nặng kết nối nguồn điện của các chủ đầu tư ngoài EVN vào tuyến đường dây truyền tải quốc gia, do Điện lực Việt Nam quản lý, rồi sau này Điện lực Việt Nam mới hoàn lại vốn cho họ (VTV1, 5-6-2010). Các chủ đầu tư ngoài Điện lực Việt Nam còn gặp khó khăn trong thương thảo với Điện lực Việt Nam về giá bán điện cho Điện lực Việt Nam, thể hiện Điện lực Việt Nam có dấu hiệu biến độc quyền Nhà nước về điện năng thành độc quyền của mình, gây khó dễ cho các nhà đầu tư ngoài EVN. Phải chăng cũng vì muốn giành vị thế độc quyền đó nên Điện lực Việt Nam tự phân 13 dự án điện trong tổng sơ đồ về cho mình, để rồi vào năm 2008, Điện lực Việt Nam tuyên bố trả lại 13 dự án đó cho Chính phủ?

Từ những sự kiện trên, có thể sơ bộ kết luận:

- Nguyên nhân thiếu điện không xuất phát chủ yếu từ thiếu vốn đầu tư mà chủ yếu là do quá trình đầu tư đã quá tập trung vào nguồn thủy điện, không điều chỉnh cơ cấu nguồn một cách hợp lý.

- Trách nhiệm trực tiếp dẫn đến thực trạng đó thuộc về Điện lực Việt Nam và về cơ quan quản lý Nhà nước đối với ngành điện, vì đã không chú ý đúng mức đến cơ cấu hợp lý trong quá trình xây dựng và phê duyệt các Tổng sơ đồ phát triển các nguồn điện.

- Ban Cán sự Đảng Bộ Công Thương cũng có trách nhiệm trong việc để cho Bộ Công Thương và Điện lực Việt Nam không quán triệt nhiệm vụ điều chỉnh cơ cấu nguồn, thể hiện ở khía cạnh không kiểm tra, theo dõi việc thực hiện nhiệm vụ đã đề ra.

- Cái giá mà chúng ta phải trả cho những sai lầm trong đầu tư xây dựng nguồn điện là sự mất ổn định và bền vững trong việc phát triển nền kinh tế quốc dân, là những tổn thất về các mặt kinh tế - xã hội có phần nghiêm trọng hơn những sai lầm, khuyết điểm mà VINASHIN đã gây nên. Khoảng 4.700 tỷ đồng lỗ trong 6 tháng đầu năm 2010 mà Điện lực Việt Nam phải trực tiếp gánh chịu chỉ là một bộ phận nhỏ trong tổng khối thiệt hại mà nền kinh tế quốc dân phải chịu đựng do sai lầm của Điện lực Việt Nam gây nên.

2. Vì sao phải tăng giá điện?

Việc điện lực Việt Nam, và gần đây là Hiệp hội ngành năng lượng, đề nghị tăng giá điện, xin có một số ý kiến sau:

- Giá điện năng của Việt Nam thấp bắt nguồn từ việc Điện lực Việt Nam tập trung vào phát triển thủy điện, là một nguồn điện năng có giá thành thấp, nên từ đó dẫn đến có một giá bán thấp như đã thực hiện trong những năm vừa qua. Minh chứng thực trạng đó là giá thủy điện chỉ khoảng 2 cent/KWh và giá nhiệt điện khoảng 5 cent/KWh trong điều kiện giá bán than cho nhiệt điện thấp hơn giá thành của ngành than và chỉ bằng 1/3 giá xuất khẩu than (Nhân dân, 27-2-2010). Trong khi đó, ta phải nhập khẩu điện của Trung Quốc và giá điện của Trung quốc là 11 cent/KWh nên nếu tiếp tục đầu tư phát triển nhiệt điện tại Việt Nam thì giá điện bình quân của Việt Nam chắc chắn thấp hơn giá nhập khẩu. Vì thế, các nhà đầu tư nước ngoài chấp nhận đầu tư vào nguồn điện tại Việt Nam nếu giá bán điện được nâng lên khoảng 7-8 cent/KWh và với giá đó, ngành Điện lực Việt Nam vẫn bảo đảm khả năng có giá cạnh tranh của mình. Nếu ngay từ năm 2001, Điện lực Việt Nam và Bộ Công Thương đã bắt đầu triển khai nhiệm vụ điều chỉnh cơ cấu nguồn điện như Báo cáo về dự án điện Sơn La thì tình trạng thiếu điện vào mùa khô không nghiêm trọng như hiện nay và giá điện cũng không thấp như hiện nay, và nếu có phải điều chỉnh thì không phải viện lý do thiếu vốn và những lý do khác.

- Mức lãi của Điện lực Việt Nam thấp nên không có khả năng có nguồn bổ sung đáng kể để tái đầu tư phát triển nguồn điện năng. Thực tế này bắt nguồn từ những yếu kém, khuyết điểm của Điện lực Việt Nam trong quá trình đầu tư, quản lý sản xuất, kinh doanh đã để xảy ra những lãng phí, tổn thất, tiêu cực,... trong một chừng mực nhất định, đã được dư luận nêu ra cũng như đã được thể hiện qua công tác kiểm toán nhà nước. Như trên đã đề cập, Điện lực Việt Nam không tập trung vào nhiệm vụ khắc phục những thiếu sót, khuyết điểm của mình mà đưa những tổn thất đó vào giá thành, buộc người tiêu dùng phải gánh chịu để rồi yêu cầu tăng giá điện để bổ sung nguồn vốn. Cũng có thể nói, với cách làm như vậy, Điện lực Việt Nam đã tiếp tục thực hiện cơ chế bao cấp bằng cách chuyển nguồn vốn bao cấp lấy từ ngân sách Nhà nước sang lấy từ túi của khách hàng - người tiêu dùng điện năng.

- Do thiếu điện, phải huy động các nguồn điện ngoài lưới (các nguồn nhiệt điện từ than, dầu, khí, gió,... và điện nhập khẩu) nên vừa làm cho giá thành bình quân của điện năng mà Điện lực Việt Nam kinh doanh tăng lên, vừa làm giảm lãi của Điện lực Việt Nam. Đó cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc Điện lực Việt Nam, lợi dụng vị thế độc quyền của Nhà nước trong việc truyền tải điện năng để biến thành độc quyền của mình, để bắt bí các doanh nghiệp ngoài lưới phải hạ thấp giá bán, nhưng đồng thời Điện lực Việt Nam cũng bị bắt bí ngược trở lại vì cung của Điện lực Việt Nam thấp hơn cầu mà Điện lực Việt Nam phải bảo đảm, nên buộc phải chấp nhận mua điện với giá cao. Đây là vấn đề tranh chấp giữa Điện lực Việt Nam với các đối tác có nguồn điện ngoài Điện lực Việt Nam dẫn đến việc Chính phủ phải nhiều lần can thiệp, xử lý. Chỉ riêng việc Điện lực Việt Nam đòi các cơ quan truyền thông phải trả giá cao cho việc sử dụng cột điện của Điện lực Việt Nam để mắc các cáp truyền thông là một minh chứng về việc Điện lực Việt Nam lợi dụng vị thế độc quyền của nhà nước để chuyển thành độc quyền của mình.

- Cho rằng giá điện hiện nay còn mang tính bao cấp nên đòi phải tính lại giá điện theo cơ chế thị trường để biện minh cho tính hợp lý của việc tăng giá điện.

Tóm lại, việc tăng giá điện là một đòi hỏi đang đặt ra. Nhưng vướng mắc lớn nhất trong việc tăng giá điện được thể hiện trên hai lĩnh vực chủ yếu:

 Một là, phải tranh thủ được sự đồng thuận xã hội. Để bảo đảm có được sự đồng thuận cao, Điện lực Việt Nam phải dũng cảm tuyên bố là đã có sai phạm trong đầu tư phát triển cơ cấu nguồn điện, nay phải điều chỉnh theo hướng đẩy mạnh đầu tư phát triển các loại nhiệt điện và điện tái sinh có giá thành cao hơn giá thành thủy điện, do đó làm cho giá thành bình quân của điện tăng lên, dẫn đến việc phải tăng giá điện.

Hai là, Chính phủ phải có chính sách và hình thức hỗ trợ thích hợp cho người dân có thu nhập từ trung bình trở xuống và các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và thuộc các ngành nhạy cảm để vừa phát triển bền vững, ổn định, vừa bảo đảm an sinh xã hội. Khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính, Chính phủ các nước, và ngay cả Chính phủ Việt Nam, đều phải có những gói hỗ trợ cho các doanh nghiệp và cho người dân. Ngày nay, để nhân dân và nền kinh tế nước ta chấp nhận việc tăng giá điện, cũng cần phải có gói hỗ trợ đó với mục tiêu “ngăn ngừa khả năng tái khủng hoảng, tái lạm phát, bảo đảm sự phát triển bền vững của nền kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội...”.

3. Trách nhiệm thuộc về ai?

Đây là một câu hỏi đã đưa lên báo Nhân dân, ngày 14-7-2010. Trong phần trên đã đề cập đến một mức độ nhất định, dưới đây bổ sung thêm những khía cạnh chủ yếu:

- Điện lực Việt Nam, một ngành kinh tế thuộc lĩnh vực hạ tầng kinh tế - kỹ thuật, đang có những thiếu sót, khuyết điểm nghiêm trọng dẫn đến sự phát triển không ổn định và không bền vững của nền kinh tế quốc dân, gây ảnh hưởng xấu đến an sinh xã hội, bộc lộ rõ trong việc để xảy ra tình hình thiếu điện nghiêm trọng trong năm 2010. Đấy là hệ quả của một quá trình sai sót kéo dài cả thập kỷ nay, nhưng vì nhiều lý do khác nhau, vẫn không chính thức được phân tích, chỉ ra đúng thực trạng của những thiếu sót, khuyết điểm cũng như những nguyên nhân chủ yếu về các mặt chủ quan và khách quan dẫn đến tình trạng đó. Đấy là một thực trạng tương tự như VINASHIN, qua 11 lần kiểm tra, thanh tra, kiểm toán nhưng vẫn không đánh giá đúng và đầy đủ thực trạng, để đến khi quá mức mới nhận thức được vấn đề. Do đó, trong một chừng mực nhất định, có thể coi Điện lực Việt Nam như một VINASHIN thứ hai cần được mổ xẻ, phân tích để làm rõ những sai sót, khuyết điểm gây tác động xấu đến nền kinh tế quốc dân còn nghiêm trọng hơn cả VINASHIN.

- Có hai nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc không đánh giá đúng thực trạng của Điện lực Việt Nam và cần có giải pháp khắc phục những nguyên nhân này. Một là, bản thân Điện lực Việt Nam thiếu sự nghiêm túc tự phê bình và tiếp nhận phê bình từ các cơ quan thông tin đại chúng cũng như là của dư luận xã hội. Do đó, vẫn có sự ngụy biện, né tránh việc nhìn thẳng vào sự thật, làm rõ nguyên nhân chủ quan, để có giải pháp khắc phục kịp thời, không để xảy ra tình trạng thiếu điện như hiện nay và khả năng tiếp tục thiếu điện đến 2012. Trong lĩnh vực này, cần nhận thức đầy đủ hơn trách nhiệm và sự đấu tranh còn yếu kém của Đảng bộ Điện lực Việt Nam. Hai là, các cơ quan quản lý nhà nước và các cơ quan thanh tra, kiểm tra,... đã không có sự sâu sát, khách quan cần thiết để phân tích, đánh giá thực trạng dẫn đến tình trạng thiếu điện kéo dài, dẫn đến phải điều chỉnh giá điện theo xu hướng tăng lên. Do đó, đề nghị tổ chức thực hiện văn bản số 174/TB-VPCP của Chính phủ về “Tăng cường, kiểm tra, giám sát về tài chính đối với doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước” và công văn số 4474-CV/UBKTTƯ, ngày 16-7-2010 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương với nội dung “Yêu cầu đảng ủy các tập đoàn, tổng công ty trực thuộc nhà nước lãnh đạo, chỉ đạo công tác tự kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh” (Nhân Dân, 18-7-2010) cần tập trung vào Điện lực Việt Nam, coi đó là trọng điểm chủ yếu cần được xem xét để có giải pháp có hiệu lực, bảo đảm tăng trưởng bền vững, ổn định kinh tế vĩ mô và an sinh xã hội.

Cuối cùng, cần phải xem xét, tính đến khả năng tác động của các thế lực thù địch. Không nên quên là, đế quốc Mỹ từng đánh phá miền Bắc Việt Nam, trong những mục tiêu chủ yếu có  các nhà máy điện và khi đó ta cũng đã có những giải pháp phù hợp và có hiệu lực để duy trì nguồn điện cho sản xuất, chiến đấu và phục vụ đời sống. Sự kiện có nhà máy nhiệt điện bị sự cố nên phải ngừng sản xuất trong mùa khô để sửa chữa làm cho tình hình thiếu điện vào mùa khô trở nên nghiêm trọng hơn, làm sâu sắc hơn những khó khăn về kinh tế và xã hội của Việt Nam. Các chuyên gia và các nhà quản lý ngành điện đều biết rằng việc bảo dưỡng, sửa chữa các nhà máy nhiệt điện phải được triển khai trong mùa mưa để mùa khô có thể vận hành để bù cho lượng công suất bị thiếu hụt của các nhà máy thủy điện. Thế nhưng vì sao một số nhà máy nhiệt điện lại phải ngừng vận hành trong mùa khô? Nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (khoá III) về phương hướng nhiệm vụ và phương hướng xây dựng và phát triển công nghiệp (tại trang 18) đã ghi rõ: “cần phát triển điện lực đi trước một bước”. Thế nhưng vì sao vẫn có tình trạng khởi công chậm, tiến độ thi công chậm,... để cuối cùng đưa nước ta vào tình cảnh thiếu điện, không thực hiện được phương châm nói trên? Phải chăng các thế lực thù địch có tác động đến những thiếu sót của ta để cản trở không cho điện đi trước một bước? Phải chăng chúng đã tác động bằng con đường đẩy quá trình tự diễn biến, tự chuyển hóa về mặt đạo đức, phẩm chất dẫn đến sự hình thành và phát triển “các nhóm lợi ích cá nhân”?

* GS, Ủy viên Hội đồng tư vấn Kinh tế - Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

   | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |    

 


 

 
 
 

  

 

 

 

 

 
 
 
 
 
 
  ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM          
 

   bến nhà Rồng ( TP Hồ Chí Minh )


Khuê các Văn miếu
TP Hà Nội

 

    Dinh Thống nhất

              Mai Châu Hoà Bình


    Biển Hà Tiên       

 
 

|   Giới thiệu  |   Mặt trận Tỉnh Thành  | Tổ chức thành viên |  Hội đồng tư vấn   |   English

| TCMT | Trở Về đầu trang  |

Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2008 Trang TTĐT - Cơ quan UBTW MTTQ Việt Nam.
Giấy phép số:111/GP-BC của Bộ Thông tin và Truyền thông • Trưởng ban Biên tập: LÊ BÁ TRÌNH • Phó ban Biên tập: NGUYỄN TUẤN ANH
Địa chỉ: 46 Tràng Thi - Hà Nội • ĐT:04-9287401;  Email:
ubmttqvn@mattran.org.vn