|
CHÍNH
PHỦ - ỦY BAN TRUNG ƯƠNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM
MẶT TRẬN TỔ QUỐC
VIỆT NAM
Độc lập - Tự do -
Hạnh phúc
--------------------------------------------------------
- -------------------------------------------------------
Số:19 /2008/NQLT/CP-UBTUMTTQVN
Hà Nội,
ngày 22 tháng 8 năm 2008
NGHỊ QUYẾT LIÊN TỊCH
Về việc ban hành Quy chế phối hợp
công tác của Chính phủ
và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam
CHÍNH PHỦ - ỦY BAN TRUNG ƯƠNG MẶT TRẬN
TỔ QUỐC VIỆT NAM
Căn
cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày 12 tháng 6 năm 1999;
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996 và
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp
luật ngày 16 tháng 12 năm 2002;
Để tăng cường sự phối hợp
công tác đối với các nhiệm vụ có liên quan, nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả
hoạt động của Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong
thời kỳ mới,
QUYẾT
NGHỊ:
Điều 1. Ban hành kèm theo Nghị
quyết này Quy chế phối hợp công tác của Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam.
Điều 2. Nghị quyết này có hiệu lực
thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo và thay thế Quy chế về mối
quan hệ công tác giữa Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam ban hành ngày 24 tháng 4 năm 1996.
Điều 3.
Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ
quan thuộc Chính phủ; Ban Thường trực, các ban, đơn vị liên quan của Ủy ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn của mình có trách nhiệm thi hành Nghị quyết này.
Trong quá trình tổ chức thực hiện Nghị quyết,
Văn phòng Chính phủ, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam có trách nhiệm kiến nghị Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam xem xét sửa đổi, bổ sung khi cần thiết./.
TM.
ỦY BAN TW MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
TM.
CHÍNH PHỦ
CHỦ TỊCH
THỦ TƯỚNG
(Đã ký)
(Đã ký)
Huỳnh Đảm
Nguyễn Tấn Dũng
Nơi nhận:
- Ban Bí thư Trung ương Đảng;
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính
phủ;
- VP BCĐ TW về phòng, chống tham nhũng;
- HĐND, UBND các tỉnh, thành
phố trực thuộc TW;
- Văn phòng TW và các Ban của Đảng;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Hội đồng Dân tộc và các UB của Quốc hội;
- Văn phòng Quốc hội;
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;
- Kiểm toán Nhà nước;
- BQL KKTCKQT Bờ Y;
- Ngân hàng Chính sách Xã hội;
- Ngân hàng Phát triển Việt Nam;
- Ủy ban TW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
- Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;
- VPCP: BTCN, các PCN,
các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo;
- Lưu: Văn thư, TH (5b), UBTWMTTQVN (3b).M
[Về đầu
trang]
CHÍNH
PHỦ - ỦY BAN TRUNG ƯƠNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM
MẶT TRẬN TỔ QUỐC
VIỆT NAM
Độc lập - Tự do -
Hạnh phúc
-------------------------------------------------------- --------------------------------------------------------
QUY
CHẾ
Phối hợp công tác của
Chính phủ
và Ủy ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
(Ban hành kèm theo Nghị quyết liên tịch số 19
/2008/NQLT/CP-UBTUMTTQVN
ngày
22 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam)
Điều 1. Về phối hợp tập hợp, xây dựng khối đại
đoàn kết toàn dân tộc
1.
Chính phủ và
Ủy ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp chặt chẽ trong việc tập hợp,
xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc gắn với việc phát huy dân chủ trong
đời sống xã hội, xây dựng đồng bộ các chính sách để phát huy mọi khả năng
sáng tạo của các tầng lớp nhân dân, động viên nhân dân nghiêm chỉnh chấp
hành chính sách, pháp luật và thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị, kinh tế,
văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của Đảng, Nhà nước và chương
trình hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
2. Các Bộ, cơ quan
ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ phối hợp, tạo
điều kiện
để Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ
chức việc vận động, tập hợp các nhân sĩ, trí thức, cá nhân tiêu biểu trong
các dân tộc, các tôn giáo, chuyên gia trên các lĩnh vực tham gia các hoạt động
của Mặt trận tạo sự đồng thuận trong xã hội; tuyên truyền, vận động người
Việt Nam ở nước ngoài hướng
về quê hương, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh.
3. Hàng năm, đại diện của Chính phủ
tham dự ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam tổ chức.
Điều 2.
Về phối hợp tuyên truyền, vận động nhân dân
1. Ủy ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gửi dự thảo kế hoạch tuyên truyền, vận động nhân
dân đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động mang tính toàn
dân, toàn diện đến Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ
để phối hợp xây dựng. Cơ quan nhận được yêu cầu phối hợp có trách nhiệm tham
gia ý kiến để bảo đảm kế hoạch có tính khả thi cao.
2. Đối với các cuộc vận động
nhân dân mà Chính phủ xét thấy Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
nên chủ trì thì Thủ tướng Chính phủ trao đổi, thống nhất với Chủ tịch Ủy ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về mục đích, yêu cầu, nội dung và các
bước tiến hành, đồng thời tạo điều kiện để Mặt trận tổ chức thực hiện. Đối
với cuộc vận động nhân dân do Chính phủ chủ trì thì Chính phủ mời đại diện
Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia.
Đối với cuộc vận động nhân dân
do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đề xướng và chủ trì, Chính
phủ phối hợp, tạo điều kiện để Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
tổ chức triển khai thực hiện.
Đối với cuộc vận động nhân dân
do Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ phát động cần có sự phối
hợp của Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc
cuộc vận động nhân dân do Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam phát động cần có sự phối hợp của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ thì lãnh đạo hai bên thảo luận về mục đích, yêu cầu, nội
dung cuộc vận động, các bước tiến hành và phối hợp cùng chỉ đạo triển khai
thực hiện.
Điều 3. Về phối hợp xây dựng
pháp luật
1.Hàng năm, Bộ Tư pháp thông báo dự kiến chương
trình, kế hoạch xây dựng luật, pháp lệnh của Chính phủ để Ban Thường trực Ủy
ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia ý
kiến chậm nhất là 15 ngày, trước khi dự thảo chương trình xây dựng luật,
pháp lệnh được trình cơ quan có thẩm quyền.
Hàng năm, Ban Thường trực Ủy ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gửi văn bản kiến nghị xây dựng luật,
pháp lệnh đến Bộ Tư pháp để trình Chính phủ cho ý kiến.
2. Chính phủ tham gia ý kiến bằng
văn bản đối với các dự án luật, pháp lệnh do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam chủ trì soạn thảo trước khi trình cơ quan có thẩm quyền xem
xét, quyết định.
3.
Khi xây dựng mới, sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật
liên quan đến quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân, đến các tầng lớp nhân dân
do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trực tiếp vận động; đến chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; đến tổ chức bộ máy
Nhà nước thì các Bộ, cơ quan ngang Bộ chủ trì soạn thảo gửi dự thảo văn bản
để Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia ý kiến.
4. Khi xây dựng mới, sửa đổi, bổ
sung các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ,
cơ quan ngang Bộ liên quan đến quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, chế độ, chính sách đối với cán bộ Mặt trận thì cơ quan chủ trì soạn
thảo gửi dự thảo để Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia ý
kiến.
5. Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam, góp ý kiến bằng văn bản về các dự thảo nêu tại khoản 3, khoản
4 Điều này gửi các cơ quan soạn thảo và Thủ tướng Chính phủ; cơ quan soạn
thảo có trách nhiệm tiếp thu, giải trình theo quy định của pháp luật.
Điều 4. Về phối hợp thực hiện
công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp
1. Căn cứ Luật Bầu cử đại biểu
Hội đồng nhân dân, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Chính phủ
ban hành Nghị quyết liên tịch hướng dẫn quy trình hiệp thương lựa chọn, giới
thiệu những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân; tổ chức hội nghị lấy ý
kiến cử tri nơi công tác, nơi cư trú đối với những người ứng cử đại biểu Hội
đồng nhân dân; việc vận động bầu cử; những vấn đề phát sinh trong quá trình
tiến hành bầu cử, bảo đảm sự thống nhất trong việc chỉ đạo, hướng dẫn Ủy ban
nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp ở địa phương thực hiện công tác
bầu cử theo quy định của pháp luật.
2. Bộ Nội vụ chủ trì, phối
hợp với Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng
dẫn cơ cấu, thành phần của các tổ chức thành viên Mặt trận tham gia các tổ
chức phụ trách bầu cử; tổ chức hội nghị
tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác bầu cử; tổ chức
hội nghị giao ban theo vùng, miền; chỉ đạo, kiểm tra công tác bầu cử; tổng
kết công tác bầu cử.
3. Bộ Tài chính chủ trì, phối
hợp với Bộ Nội vụ, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam hướng dẫn việc sử dụng kinh phí bầu cử đối với các địa phương.
Điều 5. Về kiến nghị và trả
lời kiến nghị của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
1. Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam có trách nhiệm tổng hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân để phản
ánh với Chính phủ. Chính phủ có trách nhiệm xem xét, xử lý và có văn bản trả
lời Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
2. Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang
Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ khi nhận được đơn khiếu nại, tố cáo của công dân
do Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chuyển đến
thuộc trách nhiệm giải quyết của mình, có trách nhiệm xem xét, giải quyết và
trả lời bằng văn bản đến Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Thời
hạn trả lời theo quy định của pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Định kỳ hàng tháng, Thanh tra
Chính phủ thông báo đến Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổng hợp
tình hình công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo.
3. Chính phủ, các Bộ, cơ quan
ngang Bộ có trách nhiệm nghiên cứu xem xét, xử lý và trả lời đối với những
kiến nghị của nhân dân về việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình
chỉ thi hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của mình không còn
phù hợp với thực tế do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổng hợp
gửi đến.
Điều 6. Về các hoạt động giám
sát và phản biện xã hội
1. Trong quá trình tham gia giám
sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nếu phát hiện có biểu hiện vi phạm pháp
luật của cơ quan hành chính nhà nước, cán bộ, công chức thuộc thẩm quyền
quản lý của Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thì Ủy
ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam kiến nghị bằng văn bản với các cơ
quan đó. Cơ quan nhà nước có trách nhiệm xem xét và trả lời kiến nghị của Ủy
ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo luật định.
2. Trong trường hợp Chính phủ tổ
chức hoạt động kiểm tra liên ngành về một lĩnh vực cụ thể trong phạm vi một
địa phương hoặc nhiều địa phương, khi cần thiết Chính phủ mời đại diện Ủy
ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia đoàn kiểm tra đối với
những vấn đề liên quan đến quyền giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
3. Chính phủ phối hợp, tạo điều
kiện để Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện hoạt động giám
sát, phản biện xã hội theo quy định.
Điều 7. Về phối hợp ban hành văn bản liên
tịch; gửi văn bản mới ban hành
1. Chính phủ phối hợp với Ủy ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành Nghị quyết liên tịch để hướng
dẫn thi hành những vấn đề mà pháp luật quy định trách nhiệm tham gia quản lý
nhà nước của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo đề nghị của mỗi bên.
Bộ, cơ quan ngang Bộ phối hợp
với Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành văn
bản liên tịch để thực hiện những vấn đề có liên quan đến quyền, trách nhiệm
của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp ở địa phương theo đề nghị của mỗi bên.
2. Bộ, cơ quan ngang Bộ phối hợp
với Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành Quy
chế phối hợp công tác để tổ chức thực hiện những công việc liên quan theo đề
nghị của mỗi bên.
3. Chính phủ, Thủ tướng Chính
phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ gửi Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam các văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành.
Điều 8. Về kinh phí hoạt động
1. Kinh phí hoạt động của Ủy ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam do ngân sách trung ương bảo đảm. Hàng
năm, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lập dự toán
ngân sách năm kế hoạch của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gửi
Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước
và các văn bản hướng dẫn Luật.
2. Trường hợp có hoạt động đột
xuất phát sinh chưa được bố trí trong dự toán kinh phí hoạt động của Ủy ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thì Ban Thường trực Ủy ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xây dựng dự toán chi tiết gửi Bộ Tài chính, Bộ Kế
hoạch và Đầu tư để Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư giải quyết theo thẩm
quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Điều 9. Về việc tham gia các
kỳ họp, phiên họp
1. Chủ tịch Ủy ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được mời dự các phiên họp của Chính phủ, cuộc họp
của Thủ tướng Chính phủ bàn về những vấn đề liên quan.
2. Thủ tướng, Phó Thủ tướng
Chính phủ hoặc các thành viên khác của Chính phủ được mời dự các kỳ họp của
Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để phối hợp thực hiện các chương trình công tác có
liên quan.
Điều 10. Về trao đổi thông
tin và làm việc liên tịch
1. Chính phủ, Ủy ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thường xuyên trao đổi thông tin về những vấn đề có
liên quan để bảo đảm hiệu quả trong phối hợp công tác.
Chính phủ gửi Ủy ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các báo cáo định kỳ về tình hình kinh tế - xã hội
và sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ. Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam gửi Chính phủ các báo cáo định kỳ về tình hình thực hiện chương
trình phối hợp và thống nhất hành động của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam.
2. Thủ tướng Chính phủ và Chủ
tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức họp liên tịch định
kỳ hàng năm để kiểm điểm việc thực hiện Quy chế phối hợp công tác và bàn
nhiệm vụ phối hợp của năm sau.
3. Khi cần thiết, Thủ tướng
Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam họp để bàn
về nội dung phối hợp công tác hoặc xử lý đề xuất, kiến nghị của mỗi bên.
Điều 11. Tổ chức thực hiện
Văn phòng Chính phủ, Ban Thường trực Ủy ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc thực
hiện Quy chế này./.
TM.
ỦY BAN TW MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
TM. CHÍNH PHỦ
CHỦ TỊCH
THỦ TƯỚNG
(Đã ký)
(Đã ký)
Huỳnh Đảm
Nguyễn Tấn Dũng
[Về đầu
trang]
UỶ
BAN TRUNG ƯƠNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BAN THƯỜNG TRỰC
Số:310 /KH-MTTW-BTT
Hà Nội, ngày 15 tháng 09 năm
2008
KẾ HOẠCH
Tổ chức vận động "Tháng cao điểm Vì người nghèo"
từ 17/10 đến 18/11/2008 và Chương trình "Nối vòng tay lớn" 31/12/2008
Phát huy kết quả đã đạt được của Cuộc vận
động “Ngày vì người nghèo” trong những năm qua, tiếp tục đẩy mạnh
phong trào giúp đỡ người nghèo nhằm tạo thêm nguồn lực để giảm nghèo; thiết
thực lập thành tích chào mừng 78 năm ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Thống
nhất Việt Nam và Đại hội Mặt trận Tổ quốc các cấp tiến tới Đại hội Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt
Nam xây dựng kế hoạch tổ chức "Tháng cao điểm vì người nghèo”
(Từ ngày 17/10 đến ngày 18/11/2008) và Chương trình "Nối vòng tay lớn"
31/12/2008 như sau:
I- Mục đích - yêu cầu:
1. Tổ chức triển khai "Tháng cao điểm
vì người nghèo" và chương trình "Nối vòng tay lớn" năm 2008 nhằm
tiếp tục vận động các tầng lớp nhân dân, các tổ chức, các doanh nghiệp,
người Việt Nam ở nước ngoài, các tổ chức quốc tế tham gia hưởng ứng cuộc vận
động "Ngày vì người nghèo"; tiếp tục đóng góp ủng hộ "Quỹ vì người
nghèo" các cấp.
2. Tạo ra nguồn lực trực tiếp chăm
lo giúp đỡ người nghèo, tập trung thực hiện chương trình xây dựng "Nhà Đại
đoàn kết" cho các hộ nghèo và một số nội dung khác; tăng thêm số địa phương,
cơ sở hoàn thành việc xoá nhà dột nát cho người nghèo.
II- Nội dung-
Biện pháp tổ chức thực hiện:
1. Ở Trung ương:
1.1. Công tác tuyên truyền:
- Tiếp tục phối hợp với các cơ quan thông
tin đại chúng, đặc biệt là Đài Truyền hình Việt Nam để đẩy mạnh và nâng cao
hiệu quả công tác tuyên truyền cuộc vận động trong "Tháng cao điểm vì
người nghèo" (từ 17/10- 18/11/2008) và Chương trình "Nối vòng tay
lớn" (31/12/2008). Tăng cường tuyên truyền trên Báo Đại đoàn kết,
Thông tin công tác Mặt trận, Tạp chí Mặt trận, trên Website Mặt trận Tổ quốc
và trên các phương tiện thông tin
đại chúng khác về thành tích và kết quả cuộc vận động
"Ngày vì người nghèo" trong cả nước, tập trung nêu gương các tập thể, cá
nhân điển hình góp "Quỹ vì người nghèo" các cấp; động viên, biểu
dương các địa phương có nhiều thành tích trong việc phấn đấu hoàn thành
chương trình xoá nhà tạm, nhà dột nát cho các hộ nghèo.
- Báo Đại đoàn kết, Tạp chí Mặt trận,
Thông tin công tác Mặt trận, trang Website Mặt trận... phấn đấu trong tháng
cao điểm có nhiều tin bài phản ánh sự tham gia vận động ủng hộ Quỹ cũng như
kết quả thu được ở các cấp. Đồng thời phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam
và Đài Tiếng nói Việt Nam thường xuyên đưa tin về không khí ra quân khắp nơi
trên cả nước hưởng ứng "Tháng cao điểm vì người nghèo".
1.2. Phối hợp với một số cơ quan đồng tổ
chức để thống nhất về nội dung cuộc vận động "Ngày vì người nghèo":
- Phối hợp với Phòng Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam tổ chức cuộc gặp mặt với các Doanh nghiệp nhân ngày Doanh
nhân Việt Nam (13/10/2008) theo tinh thần Thư của Thủ tướng Chính phủ kêu
gọi các Doanh nghiệp tham gia hưởng ứng cuộc vận động "Ngày vì người
nghèo" (dự kiến sẽ tổ chức trước ngày 13/10).
(Có giới thiệu một số thông tin về 60
huyện nghèo nhất cả nước ở 19 địa phương để các tổ chức, cá nhân đăng ký
giúp đỡ).
- Phối hợp với Bộ Ngoại giao và Uỷ ban về
người Việt Nam ở nước ngoài tổ chức cuộc gặp mặt với Đại sứ quán các nước ở
Hà Nội đưa thông tin về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam
đối với công tác xoá đói giảm nghèo và thành tựu mà Việt Nam đã đạt được
trong những năm vừa qua, kết quả sự tham gia và một số điển hình các tổ chức
quốc tế ở Việt Nam và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia cuộc vận động.
1.3. Các tổ chức Thành viên của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam:
-
Đề nghị có văn bản chỉ đạo, hướng dẫn trong hệ thống để phối hợp thực hiện
tháng cao điểm cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” và vận động
cán bộ, đoàn viên, hội viên ủng hộ "Quỹ vì người nghèo” các cấp.
- Đăng ký với Ban Thường trực Uỷ ban Trung
ương MTTQ Việt Nam việc thực hiện xoá nhà dột nát cho các hộ là đoàn viên,
hội viên nghèo của tổ chức mình.
1.4. Tổ chức một số cuộc làm việc để bàn
biện pháp vận động trong "Tháng cao điểm vì người nghèo" và Chương trình
"Nối vòng tay lớn":
+ Làm việc với Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
và một số Tập đoàn, Doanh nghiệp để vận động sự tham gia hưởng ứng ủng hộ
của các đơn vị trong Tháng cao điểm và tại Chương trình
"Nối vòng tay lớn".
+ Họp với Đài Truyền hình Việt Nam và các
báo, đài để thông tin về kết quả của ngày phát động "Tháng cao điểm vì
người nghèo", đề nghị các cơ quan thông tin đại chúng đồng loạt đưa tin
về tháng cao điểm và kéo dài đến Chương trình "Nối vòng tay lớn" vào
ngày 31/12/2008.
+ Họp với Tiểu ban vận động phía Nam để
phối hợp vận động đối với các Doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân ở phía Nam.
1.5. Các đồng chí cán bộ và nhân viên
các ban chuyên môn của
Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam và Ban vận động "Ngày vì người nghèo"
Trung ương đăng ký đi vận động các Tập đoàn, Tổng Công ty, các tổ chức Quốc
tế... tham gia ủng hộ Quỹ (có mẫu đăng ký kèm
theo).
1.6. Tổ chức
buổi lễ phát động
"Tháng cao điểm vì người nghèo" (trước ngày 17/10/2008), tiếp nhận
ủng hộ "Qũy vì người nghèo” Trung ương tại cơ quan Uỷ ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (số 46 Tràng Thi, Hà Nội).
- Tổ chức
chương trình "Nối vòng tay lớn"
vào ngày 31/12/2008 (sẽ có kế hoạch cụ thể sau khi làm việc với Đài Truyền
hình Việt Nam).
2. Đối với các địa phương
Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ và Ban vận
động "Ngày vì người nghèo" cấp tỉnh xây dựng, triển khai kế hoạch tổ
chức "Tháng cao điểm vì người nghèo" và tham gia vận động để tuyên
truyền trong chương trình "Nối vòng tay lớn" 31/12/2008 của Đài
Truyền hình Việt Nam;
- Tổ chức tháng vận động cao điểm ủng hộ
xây dựng "Quỹ vì người nghèo" và tập trung thực hiện Đề án xoá nhà
tạm (đối với các địa phương có Đề án); các địa phương đã hoàn thành mục tiêu
xoá nhà dột nát cho người nghèo, Ban vận động các cấp cần xây dựng chương
trình, đề án giúp đỡ người nghèo như: hỗ trợ tư liệu sản xuất, tạo vốn làm
ăn, tạo việc làm,.v.v... để giúp các hộ nghèo vươn lên thoát nghèo bền vững;
- Tất cả 63 tỉnh, thành phố hưởng ứng và
đăng ký với Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày
ra quân phát động "Tháng cao điểm vì người nghèo" nhằm thu hút toàn
dân tham gia cuộc vận động, tạo thêm nhiều nguồn lực giúp đỡ người nghèo
(đăng ký chậm nhất vào ngày 05/10/2008).
- Kết quả vận động trong tháng cao điểm
phải thông báo về Thường trực Ban vận động "Ngày vì người nghèo"
Trung ương hàng tuần để kịp thời đưa tin trên các phương tiện thông tin
đại chúng, tạo không khí thi đua sôi nổi trong Tháng cao điểm.
- Các địa phương đăng ký quyết tâm xoá nhà
dột nát cho các hộ nghèo trong năm 2008 và 2009 (trong đó nêu rõ số lượng
nhà dột nát sẽ được xoá xong và thời gian hoàn thành).
-
Những địa phương được hỗ
trợ từ "Quỹ vì người nghèo" Trung ương để xây dựng nhà cho hộ nghèo
có người cao tuổi và nguồn kinh phí từ tập đoàn Dầu khí Việt Nam cần khẩn
trương phối hợp chặt chẽ để triển khai xây dựng nhà theo đối tượng hộ nghèo
đã được phân bổ. Công khai tuyên truyền kết quả tới toàn xã hội.
- 19 địa
phương có các huyện nghèo nhất cả nước (60 huyện) tiến hành khảo sát ở các
huyện trên (với các nội dung:
Đặc điểm tình hình kinh tế- xã hội của huyện? Tỷ lệ hộ nghèo của huyện? Số
hộ nghèo hiện đang ở nhà dột nát, tạm bợ cần được hỗ trợ để xây dựng, sửa
chữa? Thực trạng các công trình hạ tầng cơ sở tại huyện? Những nội dung
thiết thực, phù hợp mà huyện cần được giúp đỡ?) để Trung ương có cơ sở giới
thiệu với các tổ chức, cá nhân có tấm lòng hảo tâm giúp đỡ.
Trên đây là kế hoạch hoạt động "Tháng
cao điểm vì người nghèo" và Chương trình "Nối vòng tay lớn" năm
2008, đề nghị Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ, Ban vận động “Ngày vì
người nghèo” các cấp, các tổ chức thành viên Mặt trận triển khai, thực
hiện có hiệu quả và thường xuyên báo cáo kết quả về Ban Thường trực Uỷ ban
Trung ương MTTQ Việt Nam để tổng hợp (qua Ban phong trào Uỷ ban Trung ương
MTTQ Việt Nam, số Fax: 04.8264.368 hoặc qua Email:
vinguoingheovietnam@yahoo.com)./.
TM.BAN THƯỜNG TRỰC
PHÓ CHỦ TỊCH KIÊM TỔNG THƯ KÝ
(Đã
ký)
Vũ
Trọng Kim
Phó
trưởng Ban vận động
"Ngày
vì người nghèo" Trung ương
[Về đầu
trang]
ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN KỶ NIỆM 100 NĂM NGÀY SINH ĐỒNG CHÍ NGÔ GIA TỰ - BÍ
THƯ XỨ UỶ ĐẦU TIÊN CỦA NAM KỲ (3/12/1908 – 3/12/2008)
I- Khái lược tiểu sử và quá trình hoạt động cách mạng của
đồng chí Ngô Gia Tự.
Đồng chí Ngô Gia Tự (bí danh Ngô Sỹ Quyết) sinh ngày 3 tháng 12 năm 1908 tại
tổng Tam Sơn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh ( nay là thôn Tam Sơn, xã Tam Sơn,
huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh).
Năm 1922, tốt nghiệp Tiểu học trường kiêm bị Kinh Bắc, thị xã Bắc Ninh, đồng
chí vào học Trường Bưởi ( Hà Nội). Năm 1925, đồng chí tham gia Cuộc vận động
đòi thực dân Pháp ân xá cho nhà yêu nước Phan Bội Châu. Năm 1926, đồng chí
tham gia cuộc bãi khóa để truy điệu nhà yêu nước Phan Chu Trinh. Mùa hè năm
1926, đồng chí và một số bạn cùng chung chí hướng bị giám đốc trường Bưởi
đuổi học vì “tội” chống lại chính phủ “bảo hộ”. Đồng chí về quê vừa lao động,
vừa tham gia hoạt động cách mạng.
Giữa năm 1926, tại ngôi nhà số 47 phố Trần Nhân Tông (Hà Nội) đồng chí được
kết nạp vào tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên. Trở về quê hoạt động,
đồng chí đã vận động và thành lập chi hội Việt Nam Cách mạng thanh niên ở
làng Tam Sơn. Đầu năm 1927, đồng chí được cử sang Quảng Châu (Trung Quốc) dự
lớp tập huấn của tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên. Sau khóa huấn
luyện hai tháng, đồng chí về Bắc Ninh tuyên truyền gây dựng cơ sở cách mạng.
Cuối năm 1927, Tỉnh bộ Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên Bắc Ninh – Bắc
Giang thành lập, đồng chí tham gia vào Ban Chấp hành, sau đó làm Bí thư Tỉnh
bộ Bắc Ninh – Bắc Giang và được bầu làm Ủy viên Kỳ bộ Hội Việt Nam Cách mạng
thanh niên Bắc Kỳ. Tháng 9 năm 1928, Kỳ bộ Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên
Bắc Kỳ tổ chức Hội nghị tại nhà đồng chí.
Tháng 5 năm 1929, đồng chí và các đại biểu Bắc Kỳ đi dự Đại hội Hội Việt Nam
Cách mạng thanh niên ở Hương Cảng ( Trung Quốc). Tháng 6 năm 1929, Đông
Dương Cộng sản Đảng thành lập, đồng chí được cử vào Ban Chấp hành Trung ương
lâm thời. Đầu tháng 7 năm 1929, đồng chí về Bắc Ninh thành lập Chi bộ Cộng
sản đầu tiên của tỉnh. Cuối tháng 7 năm 1929, đồng chí vào Nam Kỳ hoạt động.
Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập. Ngày 24 tháng 2
năm 1930, đồng chí được Hội nghị thống nhất các tổ chức Cộng sản ở Nam Kỳ cử
làm Bí thư Chấp ủy lâm thời Đảng bộ Nam Kỳ.
Ngày 31 tháng 5 năm 1930, đồng chí bị thực dân Pháp bắt. Ba năm giam giữ,
bốn lần xét xử, thực dân Pháp khép đồng chí một bản án tử hình, ba án khổ
sai chung thân và đưa đi đày ở Côn Đảo.
Ở
Côn Đảo, đồng chí được cử vào Ban chi ủy Chi bộ nhà tù. Cuối năm 1934, chi
bộ nhà tù tổ chức cho đồng chí và bẩy chiến sỹ cộng sản vượt biển về đất
liền giúp Đảng khôi phục phong trào cách mạng, nhưng chiếc thuyền mong manh
không chịu nổi sóng biển mùa gió chướng, đồng chí cùng các chiến sĩ trong
đoàn đã anh dũng hy sinh.
Để ghi nhớ đóng góp to lớn của đồng chí đối với sự nghiệp cách mạng giải
phóng dân tộc, Đảng và Nhà nước ta đã giữ gìn và tu sửa ngôi nhà sinh thời
đồng chí đã sống, học tập và hoạt động cách mạng, làm Khu lưu niệm để giáo
dục truyền thống cho thế hệ trẻ.
II- Những đóng góp quan trọng của đồng chí Ngô Gia Tự với sự
nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.
1. Đồng chí Ngô Gia Tự, một
thanh niên yêu nước, sớm giác ngộ lý tưởng cộng sản, một trong những người
tham gia sáng lập Đông Dương Cộng sản Đảng, tổ chức tiền thân của Đảng Cộng
sản Việt Nam.
Đồng chí Ngô Gia Tự sinh ở phủ Từ Sơn - vùng đất khoa bảng, trong một gia
đình có truyền thống yêu nước. Cụ Đồ Du – thân phụ của đồng chí từng tham
gia phong trào Đông Kinh nghĩa thục của Lương Văn Can. Khi còn ngồi trên ghế
nhà trường, đồng chí nổi tiếng là học trò thông minh, xuất sắc. Năm 14 tuổi,
đồng chí vào học trường Bưởi (Hà Nội), được tiếp xúc với trào lưu tư tưởng
tiến bộ và nhiều nhà giáo yêu nước, đồng chí đã hòa mình vào các hoạt động
của học sinh, sinh viên, hăng hái tham gia phong trào đấu tranh đòi thực dân
Pháp thả nhà yêu nước Phan Bội Châu. Là người tích cực hưởng ứng phong trào
đấu tranh đòi truy điệu cụ Phan Chu Trinh, đồng chí bị giám đốc trường Bưởi
đuổi học vì “ tội” chống lại chính phủ “ bảo hộ”. Mặc dù chưa được tổ chức
cách mạng nào dẫn dắt, đồng chí Ngô Gia Tự vẫn quyết tâm từ bỏ trường “bảo
hộ”, về quê lao động, tự học, đọc sách báo yêu nước, tìm bạn cùng chí hướng
hoạt động cách mạng. Với những hoạt động yêu nước đầu tiên này, Ngô Gia Tự
và các bạn cùng chí hướng của mình đã tự thức tỉnh tinh thần yêu nước, ý chí
tìm cách chống lại chế độ thực dân Pháp.
Năm 18 tuổi, đồng chí gia nhập tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên,
được tổ chức tín nhiệm cử sang Quảng Châu (Trung Quốc) dự lớp huấn luyện do
lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo chương trình, nội dung. Từ một thanh niên
yêu nước, tiếp thu ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tích cực rèn luyện
đạo đức cách mạng, ham học hỏi, nắm vững Đường Kách Mệnh giải phóng dân tộc,
đồng chí đã trở thành nhà hoạt động cách mạng chuyên nghiệp của nước ta, là
một trong những chiến sỹ tiên phong trong phong trào cách mạng giải phóng
dân tộc. Ngay sau khi kết thúc khóa huấn luyện đồng chí được phân công về
Bắc Ninh, Bắc Giang tuyên truyền giác ngộ quần chúng, gây dựng cơ sở cách
mạng. Để che mắt bọn mật thám, đồng chí thường đóng vai thầy giáo đi dạy học,
rồi bí mật mở lớp huấn luyện cách mạng, viết truyền đơn, treo cờ tuyên
truyền ủng hộ Cách mạng Tháng Mười Nga, vận động thu hút một số binh lính và
các tầng lớp nhân dân tham gia vào tổ chức Hội công ích, Hội thanh niên, đấu
tranh chống đế quốc và bọn cường hào tay sai của chúng để mang lại lợi ích
thiết thực cho nhân dân. Giữa năm 1927, Tỉnh bộ Hội Việt Nam Cách mạng thanh
niên Bắc Ninh – Bắc Giang thành lập, đồng chí được bầu làm Ủy viên Tỉnh bộ.
Công tác cách mạng rất bận rộn nhưng đồng chí vẫn tranh thủ thời gian tự học.
Kỳ thi năm 1928, với tư cách là thí sinh tự do đồng chí đã thi đỗ tú tài
phần thứ nhất. Đến giữa năm 1928 đồng chí được bầu làm Bí thư Tỉnh bộ và Ủy
viên Kỳ bộ Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên Bắc Kỳ. Dưới sự lãnh đạo của
đồng chí, phong trào cách mạng ở tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang diễn ra rộng khắp,
có nhiều hình thức tập hợp quần chúng đấu tranh chống thực dân và phong kiến.
Tháng 9 năm 1928, Kỳ bộ Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên Bắc Kỳ mở hội nghị
tại nhà của đồng chí. Hội nghị đã quyết định chủ trương có ý nghĩa lịch sử
đối với phong trào và tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên, đó là Cuộc
vận động “ vô sản hóa” đưa các hội viên vào nhà máy, hầm mỏ, đồn điền để
thâm nhập cuộc sống, lao động và tự rèn luyện theo lập trường của giai cấp
công nhân, đồng thời tuyên truyền giác ngộ, tổ chức vận động công nhân và
nhân dân lao động đi theo con đường cách mạng, giải phóng dân tộc. Đồng chí
được phân công về “ vô sản hóa” ở Hà Nội. Trong vai trò Ủy viên Kỳ bộ, đồng
chí đã gấp rút cùng các đồng chí khác, dịch và biên soạn nhiều tài liệu về
chủ nghĩa Mác – Lênin, mở lớp huấn luyện, bồi dưỡng trang bị lý luận và công
tác “ vô sản hóa” cho cán bộ, hội viên. Hội viên Việt Nam Cách mạng thanh
niên Bắc Kỳ hăng hái tỏa đi nhiều nơi, hòa mình với đời sống thợ thuyền và
nhân dân lao động, tuyên truyền khơi dậy lòng yêu nước, nhen nhóm lý tưởng
cách mạng, xây dựng nhiều cơ sở Cách mạng thanh niên trong nhà máy, hầm mỏ.
Là người trực tiếp tham gia vào phong trào “vô sản hóa” đồng chí đã có nhiều
đóng góp to lớn trong việc tuyên truyền chủ nghĩa Mác- Lênin với phong trào
công nhân và phong trào yêu nước ở nước ta. Là người nhạy bén với hoạt động
cách mạng, đồng chí Ngô Gia Tự vừa cổ vũ tổ chức triển khai vừa kịp thời
tổng kết phong trào “ vô sản hóa” góp phần điều chỉnh việc lãnh đạo của Kỳ
bộ, nhằm theo sát với bước tiến phong trào cách mạng đang diễn ra sôi động
trên khắp cả nước, thúc đẩy nhanh sự phát triển cả về số lượng và chất lượng
hoạt động của Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên.
Cuối tháng 3 năm 1929, tại Đại hội Kỳ bộ Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên
Bắc Kỳ, với những luận giải sắc bén, giàu sức thuyết phục được đúc kết từ
thực tiễn lãnh đạo phong trào cách mạng theo chủ trương, đường lối của tổ
chức Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên, đồng chí Ngô Gia Tự đã quy tụ được ý
chí chung của Đại hội tán thành chủ trương thành lập Đảng Cộng sản ở Việt
Nam. Đầu tháng 5 năm 1929, tại Đại hội toàn quốc Hội Việt Nam Cách mạng
thanh niên ở Hương Cảng (Trung Quốc), đồng chí và đoàn đại biểu Bắc Kỳ nêu ý
kiến và kiên quyết bảo vệ quan điểm phải thành lập ngay Đảng Cộng sản ở Việt
Nam để đáp ứng phong trào cách mạng đang lên cao của công nhân và nông dân,
nhưng không được Đại hội chấp thuận. Đồng chí đã cùng hầu hết đại biểu Bắc
Kỳ lập tức trở về nước. Ngày 01 tháng 6 năm 1929, thay mặt đoàn đại biểu đi
dự Đại hội ở Hương Cảng, đồng chí đã thảo bản Tuyên ngôn giải thích rõ việc
đoàn đại biểu Kỳ bộ Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên Bắc Kỳ rút khỏi Đại
hội, đồng thời kêu gọi công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động
Việt Nam ủng hộ việc thành lập Đảng Cộng sản. Bản Tuyên ngôn được hội viên
Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên Kỳ bộ Bắc Kỳ tán thành và phân phát dưới
dạng truyền đơn đi các địa phương. Sau khi phát truyền đơn đi khắp cả nước,
đồng chí đã cùng với Kỳ bộ Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên Bắc Kỳ bắt tay,
xúc tiến việc thành lập Đảng Cộng sản. Giữa lúc đó cuộc bãi công của hơn 200
công nhân và thợ học việc Hãng Avia ở Hà Nội nổ ra, Kỳ bộ đã cử đồng chí
trực tiếp đến sát cánh cùng Công hội Đỏ của nhà máy gặp gỡ và nói chuyện với
công nhân, kêu gọi mọi người đoàn kết đấu tranh, uốn nắn kịp thời những hành
động thái quá của công nhân và thợ học việc. Dưới sự lãnh đạo của đồng chí,
cuộc bãi công của công nhân Hãng Avia diễn ra có tổ chức chặt chẽ, có yêu
sách rõ ràng, vừa mềm dẻo, vừa quyết liệt buộc bọn chủ phải nhượng bộ, tăng
lương và cải thiện một số sinh hoạt cho công nhân. Cuộc bãi công của công
nhân Hãng Avia thành công, đúng như nhận định của đồng chí nêu tại cuộc họp
với Công hội Đỏ Avia: “ Đây là cuộc đấu tranh có tổ chức chặt chẽ do chi
bộ Cộng sản tổ chức và lãnh đạo, là kết quả của phong trào “ vô sản hóa” đưa
cán bộ vào đời sống công nhân, vận động quần chúng đấu tranh. Cuộc đấu tranh
này sẽ mở màn cho phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân toàn quốc. Đây
là cơn dông đầu mùa báo hiệu cả một bầu trời sấm sét nay mai”. Trong
lịch sử đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam, cuộc bãi công
của công nhân Hãng Avia có ý nghĩa rất lớn, gây được tiếng vang, cổ vũ phong
trào đấu tranh của giai cấp công nhân trên khắp cả nước, giúp cho Đảng ta có
thêm kinh nghiệm tổ chức, lãnh đạo giai cấp công nhân thực hiện sứ mạng lịch
sử giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc.
Ngày 17 tháng 6 năm 1929, tại số nhà 312 phố Khâm Thiên (Hà Nội) tổ chức
Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập, đồng chí được cử vào Ban Chấp hành
Trung ương lâm thời. Đầu tháng 7 năm 1929, đồng chí về Tam Sơn, thành lập
Chi bộ Cộng sản đầu tiên của tỉnh Bắc Ninh. Ngày 4 tháng 8 năm 1929, Đông
Dương Cộng sản Bắc Ninh – Bắc Giang thành lập. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp
của đồng chí, tuyên ngôn, điều lệ của Đông Dương Cộng sản Đảng được tuyên
truyền sâu rộng tới các tầng lớp nhân dân tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang. Nhờ đáp
ứng được nguyện vọng của nhân dân nên số người ủng hộ và gia nhập Đông Dương
Cộng sản Đảng tăng lên nhanh chóng, phong trào cách mạng ở Bắc Ninh – Bắc
Giang có bước phát triển mạnh.
2. Đồng chí Ngô Gia Tự - Bí thư đầu tiên của Xứ ủy Nam Kỳ,
người chiến sĩ cộng sản dũng cảm, kiên cường, cống hiến trọn đời cho sự
nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.
Tháng 7 năm 1929, đồng chí được Trung ương Đông Dương Cộng sản Đảng cử vào
Nam Kỳ vận động các tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên Nam Kỳ chuyển
thành các Chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng. Đồng chí vừa vận động thành lập
Đảng vừa tiếp tục tắm mình vào phong trào “ vô sản hóa” ở Sài Gòn, trực tiếp
làm phu đẩy xe than, công nhân khuân vác, sống đời thợ thực sự tại nhiều cơ
sở công nghiệp có đông thợ thuyền; tranh thủ mọi điều kiện, mọi cơ hội để
tuyên truyền giác ngộ cho công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động đi
theo con đường cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Ngay sau
khi thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng Nam Kỳ, đồng chí chỉ đạo chọn nhà máy
Ba Son (Sài Gòn), đồn điền Phú Riềng (Biên hòa – Đồng Nai), xã Vĩnh Kim (Tiền
Giang) làm điểm để xây dựng chi bộ Đảng Cộng sản; việc lựa chọn 3 cơ sở gồm
cả thành thị và nông thôn, đồng bằng và trung du miền núi, công nhân và nông
dân để đúc rút kinh nghiệm xây dựng Đảng, phát triển phong trào cách mạng đã
thể hiện sự lãnh đạo toàn diện và khoa học của Đông Dương Cộng sản Đảng Nam
Kỳ. Đồng chí từng nói: “ Nếu ta cắm được ba cái cọc ở ba nơi, trong sản
nghiệp lấy Phú Riềng làm gốc, trong công nghiệp lấy Ba Son làm gốc, trong
nông dân lấy Vĩnh Kim làm gốc thì bọn đế quốc và phong kiến không làm sao
nhổ được”. Đầu năm 1930, năm ngàn công nhân đồn điền Phú Riềng bãi công,
bột phát vũ trang chiếm đồn điền lập khu Đỏ. Thực dân Pháp huy động hàng
trăm tên lính có vũ trang đến đàn áp, nhưng đứng trước biển người được giác
ngộ giai cấp, siết chặt đội ngũ, chúng đã bất lực, phải nhượng bộ, chấp
thuận yêu sách của công nhân. Dưới sự lãnh đạo của Đông Dương Cộng sản Đảng
Nam Kỳ, trong đó có sự đóng góp của đồng chí, phong trào cách mạng ở Nam Kỳ
phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng. Các cuộc đấu tranh của công
nhân và nông dân Nam Kỳ giai đoạn này từng bước có sự biến đổi từ mục tiêu
kinh tế sang mục tiêu chính trị, lực lượng công nhân dần dần trở thành lực
lượng chính trị to lớn trong sự nghiệp đấu tranh chống thực dân Pháp giải
phóng dân tộc.
Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, sự kiện chính trị
trọng đại đó đã tạo ra bước ngoặt lịch sử đối với sự nghiệp cách mạng của
dân tộc Việt Nam. Ngày 24 tháng 2 năm 1930, đồng chí được Hội nghị thống
nhất các tổ chức Cộng sản ở Nam Kỳ bầu làm Bí thư Chấp ủy lâm thời Đảng bộ
Đảng Cộng sản Việt Nam ở Nam Kỳ. Chấp hành quyết nghị của Hội nghị thành lập
Đảng về việc thống nhất các tổ chức cộng sản ở Nam Bộ, đồng chí đã ký quyết
nghị chấp nhận Đông Dương Cộng sản Liên đoàn gia nhập Đảng Cộng sản Việt
Nam. Ở cương vị lãnh đạo chủ chốt – Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ đồng chí thường
xuyên đi xuống cơ sở, mở lớp bồi dưỡng ngắn ngày cho cán bộ, đảng viên để
nâng cao nhận thức chính trị, cổ vũ tinh thần quyết tâm chiến đấu cho sự
nghiệp cách mạng của Đảng, hướng dẫn cho cán bộ, đảng viên về công tác xây
dựng Đảng, công tác vận động quần chúng. Đồng chí nói: “ Đảng viên phải
vì Đảng, vì cách mạng mà hy sinh, đừng vì ta để Đảng và cách mạng phải tổn
hại”. Trong giai đoạn đầu thành lập Đảng, giữa lúc phong trào đấu tranh
của quần chúng ở Nam Kỳ đang cần có sự chỉ đạo sâu sắc hơn nữa, thì tối ngày
31 tháng 5 năm 1930, đồng chí sa vào tay địch trong lúc đang viết truyền đơn
tại một cơ sở cách mạng ở Phú Am trên sông Thị Nghè (Sài Gòn). Biết đồng chí
là cán bộ cấp cao của Đảng, tên chánh mật thám Đông Dương đã vào ngay Sài
Gòn cùng bọn tay sai hết dụ dỗ, mua chuộc lại dùng cực hình tra tấn dã man,
tìm mọi cách để khuất phục, bị đánh chết đi sống lại nhiều lần, nhưng cuối
cùng kẻ thù đã phải bất lực trước ý chí sắt đá của đồng chí.
Trong lao tù của thực dân Pháp, đồng chí thể hiện rõ ý chí quật cường của
người cộng sản, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng. Đồng
chí luôn nhắn nhủ mọi người: “ Chúng mình phải chịu đựng, phải hy sinh
tất cả cho Đảng, sinh mệnh của Đảng quý hơn sinh mệnh của mình”. Ngày 2
tháng 5 năm 1933, thực dân Pháp đưa đồng chí cùng các đồng chí Phạm Hùng, Lê
Văn Lương ra phiên tòa “ đại hình đặc biệt”. Đồng chí và các chiến sĩ cộng
sản đã biến phiên tòa thành diễn đàn lên án thực dân Pháp, đấu tranh bảo vệ
Đảng, bảo vệ cách mạng.
Ba năm giam giữ, bốn lần xét xử, thực dân Pháp bất chấp công lý, nhân quyền
đã khép đồng chí Ngô Gia Tự một bản án tử hình, ba bản án khổ sai chung thân
và bí mật đưa đi đày ở nhà tù Côn Đảo.
Ở
Côn Đảo – địa ngục trần gian, đồng chí bị thực dân Pháp coi là “ tù chính
trị hạng đặc biệt nguy hiểm”. Trước mọi cực hình tra tấn, đày ải dã man
của kẻ thù, đồng chí vẫn kiên cường chiến đấu, tham gia tuyệt thực chống lại
chế độ nhà tù hà khắc. Nhiều lần đồng chí dũng cảm chịu đòn thay cho bạn tù,
giành việc nặng nhọc, nguy hiểm thay cho anh em. Đồng chí được tín nhiệm cử
vào Ban chi ủy chi bộ nhà tù. Thực hiện chủ trương “ biến nhà tù thành
trường học cộng sản”, năm 1933, trong lao tù Côn Đảo đồng chí đã cùng
với đồng chí Hà Huy Giáp và một số đồng chí khác dịch nhiều cuốn sách kinh
điển của Chủ nghĩa Mác – Lênin: Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, Tư bản, Làm gì?...
tổ chức viết báo, nghiên cứu những đặc điểm của giai cấp công nhân Việt Nam,
rút kinh nghiệm về đường lối lãnh đạo của Đảng. Là một người có trình độ lý
luận sâu sắc và hoạt động thực tiễn phong phú, đồng chí luôn tranh thủ mọi
thời gian để cống hiến cho Đảng, mọi cơ hội để truyền bá cho các chiến sĩ
cộng sản và những người bạn tù học tập văn hóa, học tập lý luận cách mạng,
nâng cao nhận thức, xây dựng niềm tin vào thắng lợi tất yếu của cách mạng
Việt Nam. Đồng chí luôn chủ động đấu tranh chống các âm mưu, thủ đoạn đen
tối của kẻ thù, bảo vệ uy tín của Đảng, phê phán tư tưởng thoát ly thực tế,
ngại đổ máu, không dám tiến công kẻ thù trong anh em tù nhân, góp phần xây
dựng và củng cố tổ chức Đảng trong nhà tù. Đồng chí thường nói với các bạn
tù: “ Chúng nó đẩy mình ra đây để cho mình chết. Mình sống được là đã
thắng địch. Mỗi lần đấu tranh là một lần đổ máu. Nhưng mặc! Không chịu bó
gối đầu hàng!”; “ Phải biến nhà tù thành trường học, không nên bỏ phí thì
giờ. Bất kỳ ở đâu, chúng ta cũng có thể hoạt động cho chủ nghĩa cộng sản
được”. Nhờ được trang bị lý luận đấu tranh cách mạng nên các cuộc đấu
tranh của các chiến sĩ cộng sản chống lại chế độ nhà tù tàn bạo của thực dân
Pháp diễn ra có tổ chức, có phương pháp, có sự thống nhất cao cả về tư tưởng
và hành động. Nhiều chiến sĩ cộng sản được tôi luyện đã chiến đấu không
khoan nhượng với kẻ thù, trước đòn roi, máy chém vẫn giữ vững khí phách, giữ
vững niềm tin vào tương lai tươi sáng của dân tộc, sẵn sàng chấp nhận hy
sinh để bảo vệ Đảng, bảo vệ bí mật của tổ chức, cổ vũ, khích lệ tinh thần
đấu tranh của anh em tù nhân, làm cho kẻ thù phải khiếp sợ. Trong lao tù tấm
gương dũng cảm, kiên cường, không khuất phục trước kẻ thù của đồng chí Ngô
Gia Tự và các chiến sĩ cộng sản đã cảm hóa được một số người ở đảng phái
khác nhận ra lý tưởng cộng sản, tự nguyện gia nhập và chiến đấu dưới ngọn cờ
vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Giai đoạn 1930 – 1934, thực dân Pháp điên cuồng khủng bố, dìm phong trào
cách mạng của dân tộc ta vào biển máu. Nhiều cán bộ, đảng viên và quần chúng
yêu nước bị địch bắt và sát hại. Để kịp thời giúp Đảng khôi phục phong trào
cách mạng cách mạng, cuối năm 1934, chi bộ nhà tù Côn Đảo quyết định cử đồng
chí Ngô Gia Tự cùng bẩy chiến sĩ cộng sản - những cán bộ có năng lực, được
tôi luyện trong lao tù, vượt biển về đất liền hoạt động. Nhưng chiếc thuyền
mong manh không chịu được sóng biển mùa gió chướng, đồng chí và các chiến sĩ
trong đoàn đã anh dũng hy sinh. Năm ấy, đồng chí Ngô Gia Tự mới 26 tuổi, độ
tuổi tràn đầy sức lực, đang nở rộ tài năng, trí tuệ cống hiến cho Đảng, cho
sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Trong bài Đạo đức cách mạng, trên Tạp chí Cộng sản (tháng 12 năm
1958), Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Trong Đảng ta, các đồng chí Trần Phú,
Ngô Gia Tự, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Thị Minh
Khai và nhiều đồng chí khác đã vì dân, vì Đảng mà oanh liệt hy sinh, đã nêu
gương chói lọi của đạo đức cách mạng chí công vô tư cho tất cả chúng ta học
tập”. Sự hy sinh cao đẹp của đồng chí Ngô Gia Tự cùng các chiến sĩ cộng
sản và của nhiều thế hệ người dân Việt Nam yêu nước đã góp phần làm cho “
cây cách mạng khai hoa, kết quả”, Tổ quốc đã thống nhất, non sông thu về
một mối, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Bước sang thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, cơ hội và thách
thức vẫn đan xen. Sự nghiệp đổi mới toàn diện của Đảng đòi hỏi toàn Đảng,
toàn dân, toàn quân đoàn kết, năng động, sáng tạo, kiên định với con đường
mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn, nỗ lực vượt qua mọi thử thách để xây dựng và
bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh đồng chí Ngô Gia Tự, một trong những người tham
gia sáng lập Đông Dương Cộng sản Đảng - Bí thư Xứ uỷ đầu tiên của Nam Kỳ
giữa lúc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang triển khai sâu rộng Cuộc vận
động “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, thi đua
thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ X của Đảng.
Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của đồng chí Ngô Gia Tự là dịp ôn lại cuộc đời và
sự nghiệp cách mạng của một thanh niên yêu nước, sớm giác ngộ lý tưởng cộng
sản, một trong những chiến sĩ cách mạng tiền bối xuất sắc của Đảng ta, dũng
cảm, kiên cường, chủ động tiến công không chịu khuất phục trước kẻ thù, giàu
tình nhân ái với đồng chí, đồng bào, trọn đời chiến đấu, hy sinh vì độc lập,
tự do của Tổ quốc, chúng ta càng thêm tự hào về truyền thống vẻ vang của
Đảng, không ngừng học tập, trau dồi đạo đức cách mạng; thực hiện đồng bộ các
giải pháp trong Kết luận 25 của Bộ Chính trị, các Nghị quyết của Quốc hội,
Chính phủ về kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã
hội và tăng trưởng bền vững; hưởng ứng và thực hiện tốt phong trào “ Thực
hành tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng” chăm lo đời sống nhân dân,
nhất là các gia đình liệt sĩ, thương binh, người có công, người có hoàn cảnh
khó khăn, đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, nông dân các
địa phương nghèo, công nhân các khu công nghiệp; đẩy mạnh phong trào hành
động cách mạng sôi nổi, rộng khắp, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
[Về đầu
trang]
UỶ
BAN TRUNG ƯƠNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: 13
/NQ-MTTW Hà Nội, ngày 17 tháng 01 năm 2009
NGHỊ QUYẾT
Hội nghị lần thứ sáu UBTW MTTQ Việt Nam (khoá VI)
Hội nghị lần thứ sáu UBTW
MTTQ Việt Nam (khóa VI) đã họp trong hai ngày 16, 17 tháng 01 năm 2009, tại
thủ đô Hà Nội. Chủ tịch Huỳnh Đảm, các Phó Chủ tịch, các Uỷ viên Thường trực
UBTW MTTQ Việt Nam chủ trì Hội nghị. Ông Nguyễn Tấn Dũng, Uỷ viên Bộ Chính
trị, Thủ tướng Chính phủ; bà Hà Thị Khiết, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng
Ban Dân vận Trung ương; ông Trần Thế Vượng, Uỷ viên Uỷ ban Thường vụ Quốc
hội đã đến dự. Tham dự Hội nghị còn có đại diện lãnh đạo Văn phòng TW Đảng,
Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ và một số
bộ, ban, ngành của TW. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng thông báo về tình
hình kinh tế-xã hội năm 2008, những giải pháp thực hiện các nhiệm vụ kinh
tế-xã hội của đất nước năm 2009.
Hội nghị đã nghe, thảo luận
các dự thảo Báo cáo của Đoàn Chủ tịch, của Ban Thường trực về: Tình hình
công tác Mặt trận năm 2008 và chương trình phối hợp, thống nhất hành động
của MTTQ Việt Nam năm 2009; Dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội VII MTTQ
Việt Nam; Tờ trình về sửa đổi, bổ sung một số điều của Điều lệ MTTQ Việt
Nam; Tờ trình về tiêu chuẩn, số lượng, cơ cấu thành phần đại biểu dự Đại hội
đại biểu MTTQ Việt Nam lần thứ VII; Dự thảo Nghị quyết về phát động đợt thi
đua lập thành tích chào mừng Đại hội đại biểu MTTQ Việt Nam lần thứ VII; Báo
cáo về việc thay đổi, bổ sung Uỷ viên Uỷ ban, Uỷ viên Đoàn Chủ tịch, Uỷ viên
Thường trực UBTW MTTQ Việt Nam (khoá VI). Hội nghị cũng đã tiến hành công
tác khen thưởng của MTTQ Việt Nam năm 2008.
Hội nghị thống nhất quyết nghị:
1. Thông qua dự thảo Báo cáo tình hình công tác Mặt trận năm 2008 và chương trình phối hợp, thống nhất
hành động của MTTQ Việt Nam năm 2009.
Hội nghị giao cho Ban
Thường trực Uỷ ban TW MTTQ Việt Nam
tiếp thu các ý kiến thảo luận tại Hội nghị, hoàn thiện dự thảo Báo
cáo để sớm ban hành và tổ chức thực hiện; đồng thời tập hợp những ý kiến,
kiến nghị để phản ảnh với Đảng và Nhà nước xem xét giải quyết.
2.
Giao cho Ban Thường
trực Uỷ ban TW MTTQ Việt Nam tiếp thu các
ý kiến thảo luận về
dự thảo Báo
cáo chính trị tại
Đại hội MTTQ Việt Nam lần thứ VII
và Điều lệ MTTQ Việt Nam (sửa đổi);
Tờ trình về tiêu chuẩn, số
lượng, cơ cấu thành phần đại biểu dự Đại hội MTTQ Việt Nam lần thứ VII
để hoàn chỉnh các dự thảo báo cáo trên,
tổ chức lấy ý kiến của Uỷ ban MTTQ Việt Nam các cấp, các tổ chức thành viên
và các tầng lớp nhân dân; sớm bổ
sung, hoàn thiện trình ra Đoàn Chủ
tịch UBTW MTTQ Việt Nam (khoá VI) sẽ họp phiên vào giữa năm 2009.
3. Thông qua Nghị quyết về
phát động đợt thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội đại biểu MTTQ Việt
Nam lần thứ VII; giao cho Ban Thường trực UBTW
MTTQ Việt Nam tổ chức thực hiện.
4.
Hội nghị
quyết định bổ sung 13 vị vào Uỷ ban, 05 vị vào Đoàn Chủ tịch
và 01 vị vào Ban Thường trực UBTW MTTQ Việt Nam.
Hội
nghị đề nghị Uỷ ban MTTQ Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên tích cực
triển khai và thực hiện có hiệu quả
chương trình phối hợp,
thống nhất hành động của MTTQ Việt Nam năm 2009.
Hội nghị lần thứ sáu UBTW
MTTQ Việt Nam (khoá VI) kêu gọi đồng bào và chiến sỹ cả nước, đồng bào ta ở
nước ngoài phát huy tinh thần yêu nước, truyền thống đoàn kết của dân tộc, ý
chí tự lực tự cường, nỗ lực cùng Đảng, Nhà nước và MTTQ Việt Nam đẩy mạnh
phong trào thi đua yêu nước,
phát triển
kinh tế-xã hội,
củng cố
quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị và trật tự xã hội, phòng
chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, đảm bảo an sinh xã hội để thiết thực
lập thành tích chào mừng
Đại hội đại biểu MTTQ Việt
Nam lần thứ VII,
góp phần hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế-xã hội của
đất nước năm 2009.
Nghị quyết này đã được Hội nghị lần thứ sáu UBTW MTTQ Việt Nam (khóa VI)
nhất trí thông qua.
TM. UỶ BAN
TRUNG ƯƠNG
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
CHỦ TỊCH
(Đã
Ký)
Huỳnh Đảm
[Về đầu
trang]
UỶ
BAN TRUNG ƯƠNG
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: 12
/NQ-MTTW Hà Nội, ngày 17 tháng 01 năm 2009
NGHỊ
QUYẾT
Hội nghị lần thứ 6 Uỷ ban TW MTTQ Việt Nam khóa VI
về phát
động đợt thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ủy ban Trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam khóa VI, Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam sẽ được tổ chức vào quý III năm 2009. Đại hội là
sự kiện chính trị quan trọng diễn ra trong bối
cảnh nước ta đang tiếp tục thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng,
công cuộc đổi mới ngày càng đạt được những thành tựu toàn diện; hội nhập
kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, vị thế của nước ta trên trường quốc tế
ngày càng cao; khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng được tăng cường.
Bên cạnh đó, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới có
không ít khó khăn và thách thức. Để thiết thực chào mừng Đại hội Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam lần thứ VII, Hội nghị lần thứ 6 Ủy ban Trung ương Mặt trận
quốc Việt Nam khóa VI họp trong hai ngày 16 và 17 tháng 01 năm 2009, tại thủ
đô Hà Nội thống nhất quyết nghị:
I. Phát động đợt thi đua
chào mừng Đại
hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII trong hệ thống Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, các tổ chức thành viên và các tầng lớp nhân dân trong cả nước với
nội dung như sau:
1.
Thi đua hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ, mục tiêu kinh tế, xã hội của đất
nước năm 2009:
Trên cơ sở đẩy mạnh việc thực hiện 6 nội dung cuộc vận động “Toàn dân
đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”,
Uỷ ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam các cấp phối hợp với các tổ chức thành viên tuyên
truyền, vận động các tầng lớp nhân dân ra sức thi đua yêu nước,
chung sức, chung lòng phát huy mọi tiềm năng và nội lực của đất nước, của
khối đại đoàn kết toàn dân tộc, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, thi đua
lao động, sản xuất và kinh doanh, công tác, học tập, phòng chống tham nhũng,
lãng phí, thực hành tiết kiệm, người Việt Nam dùng hàng Việt Nam...
góp phần tích cực vào việc ngăn chặn sự suy giảm
kinh tế, giữ vững ổn định chính trị, an ninh, quốc phòng, bảo đảm an sinh xã
hội vì sự phát triển của cộng đồng, của mỗi địa phương và đơn vị.
Nâng cao hơn nữa chất lượng cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, vận
động mọi nguồn lực trong xã hội để giúp đỡ hộ nghèo thoát nghèo bền vững.
Phối hợp với các cấp, các ngành thực hiện thư kêu gọi của Thủ tướng Chính
phủ và của Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về việc hỗ
trợ xây dựng nhà Đại đoàn kết cho hộ nghèo,
góp phần cùng Đảng, Nhà nước hỗ trợ
xoá nhà ở dột nát cho hộ nghèo của 61 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao
nhất trong nước và cơ bản xóa xong 500.000 căn nhà dột nát cho hộ nghèo
trong cả nước.
2.
Thi đua thực hiện chương trình phối hợp và thống nhất hành động của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam năm 2009 với trọng tâm là:
Tiếp tục tổ chức tốt đợt sinh hoạt chính trị về Đại hội Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam các cấp tiến tới Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gắn
với việc thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức
Hồ Chí Minh”.
Chuẩn bị và tổ chức tốt Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh, thành
phố và Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo tinh thần Nghị
quyết Hội nghị lần thứ 5 Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa VI
và Chỉ thị số 18 - CT/TW ngày 22/11/2007 của Ban Bí thư Trung ương Đảng.
Đa dạng hoá các hình thức tập hợp, xây dựng khối Đại đoàn kết toàn dân tộc;
phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh hoạt động đối ngoại nhân dân.
Củng cố kiện toàn tổ chức, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên.
II. Giao cho
Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xây dựng kế
hoạch cụ thể và triển khai thực hiện Nghị quyết này trong hệ thống Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên.
TM. ĐOÀN CHỦ TỊCH
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM KHÓA VI
CHỦ TỊCH
(Đã Ký)
Huỳnh Đảm
[Về đầu
trang]
CHƯƠNG TRÌNH
PHỐI HỢP VÀ THỐNG NHẤT
HÀNH ĐỘNG CỦA
MTTQ VIỆT NAM NĂM 2009
Năm 2009, tình
hình thế giới và khu vực dự báo tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp, tác
động sâu sắc đến nước ta. Ở trong nước, đang có dấu hiệu suy giảm kinh tế,
tác động trực tiếp đến sản xuất, kinh doanh và đời sống của các tầng lớp
nhân dân. Trong bối cảnh đó, năm 2009 nhiệm vụ cơ bản, hàng đầu của Uỷ ban
MTTQ các cấp và các tổ chức thành viên là không ngừng đổi mới phương thức
hoạt động, phối hợp với các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị mở
rộng và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh tổng hợp,
nỗ lực phấn đấu ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế hợp
lý và bảo đảm an sinh xã hội thông qua đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước
của nhân dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kinh tế-xã hội năm 2009; tham gia
xây dựng Đảng, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân
và vì dân, trong sạch, vững mạnh; tăng cường đoàn kết quốc tế và tổ chức
thành công Đại hội MTTQ Việt Nam cấp tỉnh, Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ
Việt Nam lần thứ VII dự kiến tổ chức quý III năm 2009..., với các nhiệm vụ
cụ thể sau đây:
1.
Tăng
cường củng cố,
xây dựng khối
Đại đoàn kết toàn dân tộc
-
Năm 2009, trước những thời cơ, thuận lợi, đất nước còn phải đối mặt với
nhiều khó khăn, thách thức, nhất là tác động của sự suy thoái kinh tế toàn
cầu. Uỷ ban MTTQ Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên phối hợp Chính
phủ và chính quyền các cấp
tiếp tục
đẩy mạnh phối hợp xây dựng, củng cố và tăng cường khối Đại đoàn kết toàn dân
tộc thông qua việc vận động toàn dân tham gia phong trào thi đua yêu nước,
góp phần phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội gắn với các phong trào,
các cuộc vận động của MTTQ Việt Nam, các tổ chức thành viên nhằm thiết thực
chăm lo đời sống các tầng lớp nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số,
miền núi, vùng sâu, vùng xa, đồng bào có đạo, các gia đình chính sách...
- Đẩy mạnh
công tác tuyên truyền,
vận động
thực hiện các
chỉ tiêu mà Nghị quyết Đại hội X,
các
Nghị quyết Trung ương Đảng khoá X
và Nghị
quyết Quốc hội
đã đề ra.
Trước mắt, quán triệt và thực hiện tốt Chỉ thị 18/CT-TW của Ban Bí thư về
Đại hội MTTQ các cấp, tiến tới Đại hội toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ VII;
gắn với các Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 6, Trung ương 7 Ban Chấp hành
Trung ương Đảng (khoá X) và đẩy mạnh cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh", các phong trào, các cuộc vận động.
- Tăng
cường phối hợp thực hiện các chính sách liên quan đến công nhân, nông dân,
trí thức, thanh niên, doanh nhân, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư
ở nước ngoài để củng cố và tăng cường khối Đại đoàn kết toàn dân tộc.
- Tiếp tục đa dạng hoá các hình thức tập hợp, phát huy vai trò của người
tiêu biểu trong các tầng lớp nhân dân, các các dân tộc thiểu số, các chức
sắc tôn giáo và người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là đội ngũ trí thức và
doanh nhân để góp phần vào việc xây dựng đất nước.
- Tổ chức có hiệu quả Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư nhân
kỷ niệm
79 năm
ngày thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất
Việt Nam 18-11.
2. Đẩy mạnh
các phong trào thi đua yêu nước, tiếp tục thực hiện 2 cuộc vận động lớn do
MTTQ Việt Nam phát động,
góp phần
tham gia giải quyết những vấn đề lớn của đất nước, dân tộc;
ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng và
bảo đảm an sinh xã hội
- Tăng cường phối hợp đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, góp phần
tham gia giải quyết những vấn đề lớn của đất nước, dân tộc. Trước mắt vận
động toàn dân tham gia thực hiện các nhóm giải pháp ngăn chặn suy giảm kinh
tế, duy trì tăng trưởng, đảm bảo an sinh xã hội, đẩy mạnh xoá đói, giảm
nghèo.
- Tăng
cường phối hợp, đẩy mạnh thực hiện các chương trình, mục tiêu quốc gia, đẩy
mạnh các phong trào, các cuộc vận động thi đua lập thành tích thiết thực
chào mừng đại hội Mặt trận các cấp, phấn đấu cơ
bản hoàn thành các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm 2006-2010, tạo tiền
đề để phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu phát triển kinh tế- xã hội của Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ X.
- Tiếp tục đẩy
mạnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết
xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư",
trong đó chú trọng bổ sung thêm tiêu chí mới phù hợp với năm 2009.
Thông qua cuộc vận động, các chương trình đã được ký kết, các cuộc vận động
của các tổ chức thành viên cần lồng ghép vào cuộc vận động này để đạt hiệu
quả thiết thực.
- Tiếp tục
đẩy mạnh
thực hiện cuộc vận động "Ngày vì người nghèo".
Tích cực
vận động các doanh nghiệp và toàn xã hội thực hiện Thư của Thủ tướng Chính
phủ về việc ủng hộ xây dựng Nhà đại đoàn kết.
Uỷ ban TW MTTQ Việt Nam, Uỷ ban MTTQ các
cấp góp phần cùng với Chính phủ, chính quyền các cấp phấn đấu đạt mục
tiêu sớm nhất, cả nước cơ bản xoá xong hơn 500.000 nhà dột nát cho người
nghèo; trong đó có tập trung giúp đỡ 61 huyện nghèo nhất trong cả nước.
-
Thực hiện tốt nhiệm vụ Ban cứu trợ thiên tai, bão lũ TW do Uỷ ban TW MTTQ
Việt Nam chủ trì ở TW và Uỷ ban MTTQ Việt Nam các tỉnh, thành phố chủ trì ở
các địa phương theo Nghị định 64 của Chính phủ.
- Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên xây
dựng và thực hiện kế hoạch hoạt động kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội.
Trong đó, chú trọng công tác tuyên truyền vận động các đoàn viên, hội viên
và các tầng lớp quần chúng nhân dân trong cả nước tham gia các hoạt động kỷ
niệm gắn với việc đẩy mạnh cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hoá ở khu dân cư" và các phong trào, các cuộc vận động của các tổ
chức thành viên và của địa phương, lập thành tích kỷ niệm 1000 năm Thăng
Long - Hà Nội.
3.
Phát huy dân chủ, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền
-
Chuẩn bị mọi điều kiện để tổ triển khai và tổ chức thực hiện
3 Quy chế giám sát và phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính
trị-xã hội và nhân dân. Tổng kết 10 năm thực hiện Luật MTTQ Việt Nam và 10
năm Mặt trận tham gia thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở và
-
Tăng cường
các hoạt động tiếp xúc các tầng lớp nhân dân để lắng nghe và kịp thời phản
ánh tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị của nhân dân đến các cấp uỷ Đảng và Chính
quyền.
-
Phối hợp
triển khai thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về việc thí điểm không tổ chức
HĐND ở huyện, quận, phường, nhất là nội dung liên quan đến quyền và trách
nhiệm của MTTQ Việt Nam. Tiếp
tục phối hợp triển khai Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn.
Tiếp tục thực hiện tốt:
việc lấy phiếu
tín nhiệm đối với Chủ tịch, các Phó Chủ tịch HĐND, UBND xã, phường, thị trấn;
Quy chế
MTTQ Việt Nam giám sát cán bộ, công chức, đảng viên ở khu dân cư;
Quy chế giám sát đầu tư của cộng đồng.
- Tiếp tục
thực hiện Nghị quyết 03 của Uỷ ban TW
MTTQ Việt Nam và Thông tri số 17 của Ban Thường trực Uỷ ban TW MTTQ Việt Nam
hướng dẫn thực hiện Nghị quyết về việc MTTQ Việt Nam tham gia thực hiện Luật
Phòng, chống tham nhũng và Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
4.
Đẩy mạnh công tác đối ngoại nhân dân, tăng cường đoàn kết quốc tế
và công tác
vận động người Việt Nam ở nước ngoài
-
Tăng cường
phối hợp giữa Uỷ ban MTTQ với các tổ chức thành viên để mở rộng công tác đối
ngoại nhân dân, nhất là nâng cao chất lượng các hoạt động đoàn kết hữu nghị
và hợp tác với các đối tác truyền thống.
- Mặt trận và
các tổ chức thành viên tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết 36 của Bộ
Chính trị và đề án đối ngoại nhân dân của MTTQ Việt Nam, góp phần động viên
kiều bào hướng về quê hương, đất nước.
- Hướng dẫn, chỉ đạo Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các địa phương vận động nhân
dân xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị và hợp tác với các nước láng
giềng.
5. Tổ chức Đại hội nhiệm kỳ MTTQ cấp tỉnh tiến tới Đại hội MTTQ Việt Nam
lần thứ VII;
Tiếp tục kiện
toàn tổ chức, đổi mới phương thức hoạt động của MTTQ Việt Nam và nâng cao
hiệu quả các chương trình phối hợp với các tổ chức thành viên
Quá trình
chuẩn bị và tổ chức Đại hội cấp tỉnh và
Đại hội MTTQ Việt Nam lần thứ VII chú trọng quán triệt và thực hiện
tốt Chỉ thị 18/CT-TW ngày 22-11-2007 của Ban Bí thư gắn với việc triển khai
thực hiện các văn bản hướng dẫn của Ban Thường trực Uỷ ban TW MTTQ Việt Nam.
- Bám sát chủ đề: "Nâng cao vai trò MTTQ Việt Nam, phát huy sức mạnh đại
đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới vì dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh", Đại hội MTTQ Việt Nam cấp
tỉnh cần tiến hành đánh giá kết quả hoạt động nhiệm kỳ qua, xây dựng chương
trình thống nhất hành động cho nhiệm kỳ mới và tham gia góp ý kiến vào các
văn kiện dự thảo của Đại hội MTTQ Việt Nam lần thứ VII.
- Chú trọng
các tiêu chuẩn và phương pháp chuẩn bị nhân sự nhằm nâng cao chất lượng cán
bộ và đảm bảo cơ cấu phù hợp của Uỷ ban Mặt trận.
- Nhân Đại
hội MTTQ Việt Nam cấp tỉnh, cần chú trọng tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy,
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chuyên trách của Mặt trận và các tổ chức
thành viên.
- Tiếp tục đổi
mới phương thức hoạt động của Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp và các tổ chức
thành viên, tập
trung hướng về
cơ sở,
đổi mới công tác Mặt trận cơ sở,
làm cho phạm vi, chất lượng, hiệu quả hoạt động của Mặt trận ngày càng được
mở rộng và nâng cao.
- Phát huy vai
trò của các vị Uỷ viên Uỷ ban MTTQ Việt Nam. Tăng cường và nâng cao hiệu quả
hoạt động của các Hội đồng tư vấn và đội ngũ tư vấn, cộng tác viên của Mặt
trận.
- Tiếp tục
nâng cao hiệu quả phối hợp công tác với các cơ quan Nhà nước, thực hiện tốt
các quy chế phối hợp công tác; phối hợp hành động của các tổ chức thành viên
nhằm thực hiện
tốt vai trò, chức năng, nhiệm vụ của MTTQ Việt Nam.
UỶ BAN TRUNG
ƯƠNG
MẶT
TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
[Về đầu
trang]
UỶ BAN TRUNG
ƯƠNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BAN THƯỜNG TRỰC
Số: 356/KH - MTTW - BTT Hà Nội, ngày 19 tháng 02 năm
2009
KẾ HOẠCH
Triển khai thực hiện Nghị
quyết phát động đợt thi đua lập
thành tích chào mừng Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Hội nghị lần thứ 6 Ủy ban Trung ương Mặt trận quốc Việt Nam khóa VI họp
tại Hà Nội trong hai ngày 16 và 17 tháng 01 năm 2009, đã ra Nghị quyết
số 14 về phát
động đợt thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
hướng dẫn việc triển khai đợt phát động thi đua trong hệ thống Mặt trận, các
tổ chức thành viên và các tầng lớp nhân dân như sau:
I. VỀ NỘI DUNG VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỢT THI ĐUA.
1. Thi đua hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ, mục tiêu kinh tế, xã hội của
đất nước năm 2009:
Trên cơ sở đẩy mạnh thực hiện 6 nội dung cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết
xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam các cấp phối hợp với các tổ chức thành viên tuyên truyền, vận động các
tầng lớp nhân dân ra sức thi đua yêu nước. Cả nước chung sức, chung lòng,
phát huy mọi tiềm năng và nội lực của đất nước, của khối đại đoàn kết toàn
dân tộc, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, thi đua lao động, sản xuất và
kinh doanh, công tác, học tập và phòng chống tham nhũng, thực hành tiết
kiệm; hưởng ứng phong trào người Việt Nam dùng hàng Việt Nam... góp phần
tích cực vào việc ngăn chặn suy giảm kinh tế, giữ vững ổn định chính trị, an
ninh, quốc phòng, bảo đảm an sinh xã hội vì sự phát triển của cộng đồng, của
mỗi địa phương và đơn vị.
Nâng cao hơn nữa chất lượng cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, vận
động xây dựng Quỹ vì người nghèo để xây dựng nhà Đại đoàn kết cho người
nghèo và giúp đỡ hộ nghèo thoát nghèo bền vững. Phối hợp với các cấp, các
ngành thực hiện thư kêu gọi của Thủ tướng Chính phủ và của Chủ tịch Ủy ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về việc giúp đỡ xây dựng nhà Đại đoàn
kết cho hộ nghèo, phấn đấu góp phần cùng
Đảng, Nhà nước chăm lo, hỗ trợ, xoá nhà ở dột nát cho hộ nghèo của 61
huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất trong nước và cơ bản đến năm 2010 xây dựng
xong 500.000 căn nhà thay thế nhà dột nát cho hộ nghèo trong cả nước, phấn
đấu thời gian hoàn thành sớm hơn.
2. Thi đua thực hiện Chương trình phối hợp và thống nhất hành động của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam năm 2009 với trọng tâm là:
Tiếp tục tổ chức tốt đợt sinh hoạt chính trị về Đại hội Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam các cấp tiến tới Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gắn
liền với việc thực hiện giai đoạn 2 cuộc vận động “Học tập và làm theo
tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.
Chuẩn bị và tổ chức tốt Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh, thành
phố và Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo tinh thần Nghị
quyết Hội nghị lần thứ 5 Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa
VI, Chỉ thị số 18 - CT/TW ngày 22/11/2007 của Ban Bí thư Trung ương Đảng và
các văn bản hướng dẫn của Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam.
Đa dạng hoá các hình thức tập hợp, xây dựng khối Đại đoàn kết toàn dân tộc;
phát huy quyền làm chủ của nhân dân, động viên các tầng lớp nhân dân tích
cực thực hiện có hiệu quả luật Phòng chống tham nhũng, luật Thực hành tiết
kiệm, chống lãng phí, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh hoạt động đối ngoại nhân dân.
Củng cố kiện toàn tổ chức, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên.
3. Kết quả của đợt thi đua chào mừng Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam được thể hiện bằng các sản phẩm, công trình cụ thể, bảo đảm ý nghĩa
chính trị, xã hội và tính thiết thực của mỗi công việc. Trong tổ chức, thực
hiện
phải có kế hoạch cụ thể, tiến hành sơ, tổng kết để bảo đảm tính kế thừa và
liên tục, không làm qua loa, đại khái hoặc chỉ phát động chung chung.
II. VỀ TIẾN ĐỘ
TỔ CHỨC THỰC HIỆN.
1. Từ Quý I năm 2009 đến hết Quý II năm 2009, ứng với thời gian tổ chức
Đại hội Mặt trận cấp tỉnh:
Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức
thành viên tổ chức sơ kết đợt sinh hoạt chính trị, phát động các phong trào
thi đua yêu nước theo tinh thần
Thông tri số
29/TTR-MTTƯ, ngày 18/02/2008 của Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam Về việc tổ chức phong trào thi đua kỷ niệm 60 năm
ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi thi đua ái quốc, lập thành tích
chào mừng Đại hội Mặt trận Tổ quốc các cấp và Đại hội VII Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam; tiếp tục triển khai đợt
sinh hoạt chính trị và phát động đợt thi đua cao điểm lập thành tích chào
mừng Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
2. Từ Quý II năm 2009 đến Quý IV năm 2009: Ứng với thời gian kết thúc Đại
hội Mặt trận cấp tỉnh và triển khai Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần
thứ VII:
Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức
thành viên tổng kết đợt sinh hoạt chính trị, công tác tuyên truyền về Đại
hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp từ cơ sở đến tỉnh và đợt thi đua cao
điểm chào mừng Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gắn với
sơ kết 3 năm Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh” trong hệ thống Mặt trận.
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên tổ chức
mít tinh và các hoạt động chào mừng thành công của Đại hội lần thứ VII Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam, tuyên truyền về kết quả của Đại hội Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam lần thứ VII.
Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức tổng kết
đợt sinh hoạt chính trị, công tác tuyên truyền và đợt thi đua cao điểm chào
mừng Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vào dịp kỷ niệm 79 năm
ngày thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam (18/11/1930 –
18/11/2009).
3. Ban
Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương và các tổ chức thành viên báo cáo kết quả việc triển khai đợt thi
đua cao điểm theo từng thời gian trên đây về Ban Thường trực Ủy ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (qua Văn phòng Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, số 46 Tràng Thi, Hà Nội) để kịp
tổng hợp vào kết quả chung.
Đề
nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên
triển phối hợp khai thực hiện Thông tri này để góp phần thiết thực vào kết
quả thực hiện Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 6 Ủy ban Trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam khóa VI.
TM. BAN THƯỜNG TRỰC
PHÓ CHỦ TỊCH KIÊM TỔNG THƯ KÝ
Vũ Trọng Kim
[Về đầu
trang]
UỶ BAN TRUNG ƯƠNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BAN THƯỜNG TRỰC
Số: 82/HD - MTTW - BTT Hà Nội, ngày 16 tháng 02 năm
2009
HƯỚNG DẪN
NHIỆM VỤ CÔNG TÁC TUYÊN HUẤN
CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM NĂM 2009
Căn cứ Nghị
quyết Hội nghị lần thứ 6 Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (khóa
VI) về Chương trình phối hợp thống nhất hành động năm 2009;
Căn cứ tình
hình thực tiễn của đất nước và nhiệm vụ xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân
tộc năm 2009: Tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện các
giải pháp ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng và bảo đảm an sinh
xã hội, tiếp tục thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng và kế
hoạch kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010; Kết quả Đại hội Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam các cấp và Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
Ban Thường trực
Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn nhiệm vụ công tác
tuyên huấn năm 2009 như sau:
I- MỤC ĐÍCH YÊU CẦU.
Đẩy mạnh
tuyên truyền sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân
về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, công
việc của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về nhiệm vụ xây dựng khối đại đoàn kết
toàn dân tộc, về vai trò, vị trí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Phản ánh đầy đủ,
kịp thời các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước trong các tầng
lớp nhân dân, chung sức, chung lòng thực hiện các giải pháp ngăn chặn suy
giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng, bảo đảm an sinh xã hội và đợt sinh hoạt
chính trị trong toàn Đảng, toàn dân về Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các
cấp và Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Tập trung nâng cao
chất lượng công tác huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp
vụ cho cán bộ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sau đại hội nhiệm kỳ mới.
II- NHỮNG NỘI
DUNG TRỌNG TÂM CỦA CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN
1- Đẩy mạnh tuyên
truyền về đa dạng hoá các hình thức tập hợp các tầng lớp nhân dân, phát huy
sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
- Tiếp tục
tuyên truyền việc thực hiện các chủ trưởng, chính sách của Đảng và Nhà nước,
công việc của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về đại đoàn kết toàn dân tộc trong
Nghị quyết Đại hội X của Đảng và Nghị quyết 07 BCH Trung ương Đảng khoá IX
về "Phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc vì mục tiêu “Dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
- Tuyên truyền những tập thể, cá nhân thực
hiện tốt cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh" và việc triển khai giai đoạn 2 của Cuộc vận động gắn với kết quả
40 năm thực hiện Di chúc của Người trong MTTQVN và các tổ chức thành viên ở
các cấp.
- Tuyên truyền kết quả đợt sinh hoạt chính
trị trong toàn Đảng, toàn dân về Đại hội MTTQVN cấp xã, phường, thị trấn;
quận, huyện, tỉnh và Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
2. Tuyên truyền việc
thực hiện các phong trào thi đua yêu nước góp phần ngăn chặn suy giảm kinh
tế, duy trì tăng trưởng kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội, thiết thực lập
thành tích chào mừng Đại hội lần thức VII MTTQVN:
- Tuyên truyền
việc triển khai thực hiện Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 6 UBTWMTTQVN về
phát động đợt thi đua chào mừng Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, đẩy mạnh việc nâng cao chất lượng cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết
xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư" và cuộc vận động “ Ngày vì
người nghèo” ở các cấp, thực hiện “Tháng cao điểm vì người nghèo”
(17/10-18/11/2009) và chương trình “Nối vòng tay lớn” (31/12/2009) của các
địa phương, cơ sở. Kịp thời phản ánh những gương điển hình về giúp đỡ nhân
dân vượt qua khó khăn trong sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế, làm
giàu chính đáng; những địa phương, đơn vị có những giải pháp hay, có hiệu
quả trong việc phối hợp thực hiện chủ trương hỗ trợ làm nhà Đại đoàn kết cho
hộ nghèo của 61 huyện nghèo nhất nước, phấn đấu sớm xóa xong nhà dột nát cho
500.000 hộ nghèo trong cả nước.
- Tuyên truyền
và tổ chức tốt Giải báo chí Vì sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc năm 2009
ở Trung ương và địa phương.
- Tuyên truyền
các hoạt động kỷ niệm 79 năm ngày thành lập MTDTTNVN (18/11/1930 -
18/11/2009), Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư năm 2009 và các
ngày lễ, kỷ niệm, những sự kiện chính trị, xã hội quan trọng của đất nước
năm 2009.
- Tuyên truyền
về hiệu quả lồng ghép các chương trình, kế hoạch kinh tế - xã hội vào cuộc
vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”
như: công tác dân số, gia đình, trẻ em, phòng chống tội phạm, ma tuý, an
toàn giao thông, bảo vệ môi trường...
3. Tuyên truyền về
kết quả Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp và các tổ chức thành viên nâng cao
chất lượng công tác tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, phát huy
quyền làm chủ của nhân dân.
- Tuyên truyền
việc thực hiện quy chế Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát cán bộ công chức,
đảng viên ở khu dân cư và Pháp lệnh về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị
trấn; các kết quả thực hiện nhiệm vụ phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam các
cấp.
- Tuyên truyền
công tác Mặt trận tham gia xây dựng chính sách, pháp luật: Góp ý kiến vào
các dự án luật, pháp lệnh, đồng thời tuyên truyền kết quả Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam các cấp phối hợp tham gia xây dựng các văn bản qui phạm pháp luật.
- Tuyên truyền
việc nâng cao chất lượng hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân xã, phường,
thị trấn; hoạt động giám sát đầu tư cộng đồng.
- Tuyên truyền
về công tác mặt trận tham gia thực hiện Luật phòng chống tham nhũng và Luật
thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
- Đẩy mạnh công
tác tuyên truyền, vận động chấp hành pháp luật trong cộng đồng dân cư theo
Quyết định số 212/2004 QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; kết quả cải tiến công
tác tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các cấp.
4. Tuyên truyền về công tác
đối ngoại nhân dân, công tác vận động đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng
bào là tín đồ các tôn giáo và người Việt Nam ở nước ngoài:
- Tuyên truyền kết quả thực
hiện Đề án Đối ngoại nhân dân của UBTWMTTQVN, những mô hình, điển hình và
kinh nghiệm tốt trong việc tổ chức các hoạt động tăng cường tình đoàn kết
hữu nghị, hoà bình, hợp tác cùng có lợi với các nước láng giềng và trên thế
giới.
- Tuyên truyền kết quả
thực hiện Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị về
tăng cường vận động người Việt Nam ở nước ngoài.
- Tuyên truyền về công tác
vận động tôn giáo, nhân sĩ, trí thức, người tiêu biểu trong các dân tộc,
người Việt Nam ở nước ngoài thực hiện tốt những chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước về đại đoàn kết toàn dân tộc, về sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc hiện nay.
5.
Tuyên truyền về kết quả đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và Đại
hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, về tăng cường công tác tổ chức
cán bộ, đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
- Tuyên truyền về kết quả và triển khai nghị
quyết, chương trình hành động của Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp,
trong đó tập trung vào các nội dung: Đợt sinh hoạt chính trị ở các cấp; kiện
toàn bộ máy, tổ chức, cán bộ; đổi mới phương thức hoạt động cho phù hợp với
yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới.
- Tuyên truyền về quá trình chuẩn bị, tổ chức và
kết quả Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
III. NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM CỦA CÔNG TÁC HUẤN LUYỆN
1. Ở Trung ương:
- Tham mưu cho Ban Thường trực UBTWMTTQVN chuẩn bị đề án xây
dựng cơ sở đào tạo cán bộ Mặt trận ở Trung ương và địa phương.
- Tiếp tục biên soạn, hoàn thiện và phát hành tập Tài
liệu tập huấn cán bộ chủ chốt của Mặt trận cấp cơ sở và bộ Giáo trình bồi
dưỡng, huấn luyện cán bộ Mặt trận các cấp.
-
Tổ chức các hội nghị tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ chủ chốt của Mặt trận
mới tham gia Ban Thường trực UBMTTQVN các cấp sau đại hội.
- Phối hợp với văn phòng,
các ban chuyên môn của cơ quan UBTWMTTQVN tổ chức các hội nghị tập huấn theo
các chuyên đề:
+ Giáo dục pháp luật ở cộng
đồng dân cư.
+ Giám sát cán bộ, công
chức, đảng viên ở khu dân cư.
+ Công tác truyền thông Dân
số, gia đình và trẻ em, bảo vệ môi trường, phòng chống HIV/AIDS, tệ nạn xã
hội…
+ Bồi dưỡng nghiệp vụ,
nâng cao chất lượng công tác của cán bộ cơ quan UBTWMTTQVN.
- Giúp Mặt trận Lào xây
dựng đất nước trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.
2- Ở địa phương:
- Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
các tỉnh, thành trực thuộc Trung ương phối hợp chặt chẽ với các trường Chính
trị của tỉnh; Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các quận, huyện, thị phối hợp chặt chẽ
với các Trung tâm Giáo dục chính trị có kế hoạch tổ chức các lớp huấn luyện,
bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ Mặt trận mới tham gia vào UBMTTQVN cùng cấp
sau đại hội.
Căn
cứ Hướng dẫn này, đề nghị Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
các tỉnh, thành phố có kế hoạch cụ thể triển khai công tác tuyên huấn của
Mặt trận các cấp phù hợp với nhiệm vụ chung và nhiệm vụ chính trị của từng
địa phương. Trong quá trình tổ chức thực hiện, thường xuyên báo cáo kết quả
về Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (qua Ban
Tuyên huấn, Uỷ ban TW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, 46 Tràng Thi-Hà Nội; Điện
thoại: 04.38257447; 04.39289210; 04.39287401; 04.39287447).
TM. BAN THƯỜNG TRỰC
UỶ VIÊN
Lê Bá Trình
[Về đầu
trang]
UỶ BAN TRUNG ƯƠNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BAN THƯỜNG TRỰC
Số: 83/HD - MTTW - BTT Hà Nội, ngày tháng
02 năm 2009
HƯỚNG DẪN
CÔNG TÁC TÔN GIÁO, DÂN TỘC
CỦA UỶ BAN MẶT TRẬN TỔ QUỐC CÁC TỈNH, THÀNH PHỐ NĂM 2009
Năm 2009 là năm tiến hành
Đại hội Mặt trận Tổ quốc các tỉnh, thành phố tiến tới Đại hội lần thứ VII
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Để thiết thực đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu
nước trong vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo chào mừng Đại hội VII Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và tăng cường công tác vận động, tập hợp đồng bào các dân tộc,
tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Ban Thường trực Ủy ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn một số trọng tâm công tác tôn giáo,
công tác dân tộc của Uỷ ban Mặt trận các tỉnh, thành phố trong năm 2009 như
sau:
1. Phối hợp thống nhất hành động với các tổ chức thành
viên và vận động những người tiêu biểu có uy tín trong đồng bào các dân tộc
thiểu số, các tổ chức tôn giáo (Ban Trị sự Phật giáo; Uỷ ban Đoàn kết
Công giáo, Toà Giám mục giáo phận; các Hội thánh Cao Đài, Hội thánh Tin Lành;
Ban Trị sự Phật giáo Hoà Hoả, Tịnh độ Cư sĩ Việt Nam Phật hội; Ban Đại diện
Hồi giáo...) ở địa phương đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, các
cuộc vận động trong vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo; đồng thời có kế hoạch
tổ chức các Hội nghị biểu dương những điển hình tiên tiến, xuất sắc trong
chức sắc, nhà tu hành tôn giáo và người tiêu biểu trong các dân tộc thiểu số
ở địa phương, nhằm hưởng ứng và chào mừng Đại hội Mặt trận Tổ quốc các tỉnh,
thành phố và Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong năm 2009.
Tiếp tục mở rộng và nâng
cao chất lượng 2 cuộc vận động lớn "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống
văn hoá ở khu dân cư" và "Ngày vì người nghèo" do Mặt trận phát động.
Chú ý phối hợp, hướng dẫn các tổ chức tôn giáo và đồng bào các dân tộc thiểu
số mở rộng và nâng cao chất lượng các phong trào thi đua yêu nước mang đặc
trưng của từng dân tộc, tôn giáo như: Xây dựng gia đình văn hoá, thôn bản
văn hoá, khu dân cư tiên tiến, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong
vùng đồng bào dân tộc thiểu số; phong trào "Xây dựng chùa cảnh tinh tiến",
"Chùa cảnh văn hoá" trong tăng ni, tín đồ Phật giáo; phong trào "Toàn
dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư, sống tốt đời đẹp đạo",
"Xây dựng xứ họ tiên tiến, gia đình Công giáo gương mẫu"... trong
vùng đồng bào Công giáo; các phong trào "Nồi cháo tình thương" và
các hoạt động Công quả… trong đồng bào Cao Đài, Phật giáo Hoà Hảo; phong
trào trồng, chế biến, khám chữa bệnh bằng thuốc Nam miễn phí cho người nghèo
của đạo Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam...
Tiếp tục phối hợp, giúp đỡ
và tạo điều kiện để chức sắc, nhà tu hành các tôn giáo và người tiêu biểu
trong các dân tộc thiểu số tích cực tham gia các hoạt động từ thiện nhân đạo,
y tế, giáo dục, bảo vệ môi trường, cứu trợ đồng bào vùng bị thiên tai, bão
lũ; đền ơn đáp nghĩa; chăm sóc trẻ mồ côi, khuyết tật; phòng chống ma tuý,
tệ nạn xã hội; thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm; mở các phòng khám chữa
bệnh từ thiện, các lớp mẫu giáo, nhà trẻ phục vụ người nghèo... theo quy
định của pháp luật.
2. Phối hợp thống nhất với các cơ quan hữu quan và các
tổ chức tôn giáo vận động các vị chức sắc tôn giáo, người tiêu biểu các dân
tộc ở địa phương có uy tín, năng lực, sức khoẻ tham gia Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc tỉnh, thành phố; đồng thời đề xuất, giới thiệu đại biểu các dân tộc
thiểu số, chức sắc các tôn giáo tiêu biểu tham gia Ủy ban Trung ương, tham
gia Đoàn Chủ tịch và tham gia Hội đồng tưu vấn về Dân tộc, Hội đồng tư vấn
về tôn giáo trong dịp Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII.
Có kế hoạch để tuyên truyền
và triển khai thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội Mặt trận của tỉnh, thành phố
và Nghị quyết Đại hội VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sau đại hội cho đồng bào
các dân tộc, tôn giáo.
3. Chủ động phối hợp, hướng dẫn, giúp đỡ các tổ chức tôn
giáo và đồng bào các dân tộc thiểu số tổ chức những ngày lễ trọng của các
tôn giáo, lễ hội các dân tộc thiểu số và Ngày văn hoá các dân tộc (19 tháng
4) trang trọng, an toàn, tiết kiệm và theo đúng quy định của pháp luật (Đại
lễ Phật đản, Lễ Vu lan... của đạo Phật; Lễ Giáng sinh, Lễ Phục sinh... của
đồng bào Công giáo và đồng bào theo đạo Tin Lành; Lễ Trung nguyên, Lễ Khai
đạo... của đạo Cao Đài; Lễ Khai đạo, Lễ sinh nhật Giáo chủ... của Phật giáo
Hoà Hảo; Tết Raya Eidil và Lễ sinh nhật nhà Tiên tri Muhamet của Hồi giáo;
các ngày lễ trọng của đạo Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam, đạo Tứ Ân Hiếu
nghĩa, đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, đạo Baha'i... và các ngày Tết, lễ hội lớn của
đồng bào các dân tộc thiểu số...).
Tổ chức thăm hỏi, động viên,
tặng quà, thăm viếng các tổ chức, chức sắc, nhà tu hành tôn giáo và những
người tiêu biểu trong các dân tộc thiểu số nhân các ngày lễ, tết và khi họ
ốm đau, qua đời...
Mức thăm hỏi, hỗ trợ để
động viên các tổ chức, cá nhân tôn giáo nhân các dịp lễ trọng, Ban Thường
trực Mặt trận các tỉnh, thành cần vận dụng Quyết định số: 16/2005/QĐ-TTg
ngày 21 tháng 01 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ Về việc hỗ trợ kinh phí từ
nguồn ngân sách nhà nước cho tổ chức tôn giáo và chức sắc tôn giáo hoạt động
tại Việt Nam.
4. Có hình thức và biện pháp phù hợp để nắm chắc tình
hình tôn giáo, dân tộc ở địa phương; nắm bắt, tập hợp đầy đủ tâm tư nguyện
vọng của đồng bào các dân tộc, tôn giáo; kiến nghị kịp thời với các cấp uỷ
đảng, chính quyền giải quyết theo pháp luật những tâm tư nguyện vọng hợp
pháp, chính đáng của đồng bào các tôn giáo, các dân tộc.
Chủ động phối hợp với các
cơ quan chức năng ở địa phương tuyên truyền và xem xét giải quyết các nhu
cầu chính đáng về nhà, đất có liên quan đến tôn giáo theo tinh thần Chỉ thị
số: 1940/CT-TTg ngày 31 tháng 12 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ Về nhà,
đất liên quan đến tôn giáo (có bản photo gửi kèm) và các quy định khác
của pháp luật.
Vận động các tổ chức, chức
sắc và đồng bào có đạo thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về đất
đai; giám sát tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tôn giáo
đối với các cơ sở nhà, đất có nguồn gốc rõ ràng và có đủ giấy tờ hợp pháp.
Qua việc hướng dẫn các tôn giáo làm thủ tục để cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất là dịp để tuyên truyền, giải thích chính sách pháp luật về đất đai
của Nhà nước cho các tổ chức và chức sắc tôn giáo hiểu rõ để thực hiện; tăng
cường việc quản lý đất đai tôn giáo của các cơ quan nhà nước theo quy định
của pháp luật; đồng thời kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý nghiêm túc những
tập thể, cá nhân sử dụng đất có liên quan đến tôn giáo sai mục đích.
5. Tiếp tục phối hợp với các Ban Trị sự Phật giáo ở địa
phương triển khai "Sáng kiến lãnh đạo Phật giáo" tham gia phòng chống
HIV/AIDS theo tinh thần Hướng dẫn số: 70/2008/HD-MTTW ngày 4 tháng 7 năm
2008 của Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phù hợp
với đặc điểm, tình hình Phật giáo ở địa phương.
Hướng dẫn các tổ chức tôn
giáo đã được công nhận ở địa phương tham gia công tác phòng chống HIV/AIDS
như tinh thần bản Cam kết chung của các tôn giáo ở Việt Nam tham gia
phòng chống HIV/AIDS.
6. Phối hợp và giúp đỡ Uỷ ban Đoàn kết Công giáo của
tỉnh, thành phố xây dựng kế hoạch và tổ chức tốt các hoạt động thường xuyên
nhằm thực hiện tốt Nghị quyết và Điều lệ Uỷ ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam
nhiệm kỳ V. Qua đó đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, sống "Tốt đời đẹp
đạo" trong đồng bào Công giáo và nâng cao được vị thế, vai trò, uy tín xã
hội của Uỷ ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam.
Ở các tỉnh, thành phố có
đông đồng bào Công giáo nhưng chưa có tổ chức Uỷ ban Đoàn kết Công giáo (Thái
Bình, Phú Thọ, Thừa Thiên - Huế...), Ban Thường trực Mặt trận các tỉnh
cần chủ động đề xuất với cấp uỷ và phối hợp với các cơ quan chức năng của
chính quyền hướng dẫn, giúp đỡ việc thành lập Uỷ ban Đoàn kết Công giáo của
địa phương theo Điều lệ Uỷ ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam.
7. Xây dựng kế hoạch cụ thể để triển khai thực hiện Chỉ
thị số: 06/2008/CT-TTg ngày 01 tháng 02 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ
Về phát huy vai trò người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (có bản photo Chỉ thị gửi kèm);
Phối hợp và thống nhất hành
động với các tổ chức thành viên giám sát việc triển khai thực hiện các
Chương trình, dự án của Nhà nước đầu tư phát triển kinh tế - văn hoá - xã
hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (nhất là các công trình đầu tư ở cộng
đồng vùng đồng bào, Chương trình 135 giai đoạn 2, Chương trình 134, chính
sách cử tuyển, chính sách hỗ trợ di dân giải phóng mặt bằng ở các dự án,
công trình trọng điểm; chương trình hỗ trợ 61 huyện nghèo của Chính phủ...).
8. Báo cáo với cấp uỷ và phối hợp với chính quyền tiến
hành tổng kết 5 năm Nghị quyết Trung ương bảy khoá IX Về đại đoàn kết toàn
dân tộc, Về công tác dân tộc, Về công tác tôn giáo và việc thực hiện Pháp
lệnh tín ngưỡng, tôn giáo; Nghị định số 22/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi
hành một số điều của Pháp lệnh; Chỉ thị số 01/2005/CT-TTg của Thủ tướng
Chính phủ Về một số công tác đối với đạo Tin Lành trong các cấp Mặt
trận. Quá trình tổng kết cần chú ý đi sâu đánh giá việc thực hiện chức năng,
nhiệm vụ của Mặt trận trong công tác tôn giáo theo tinh thần Điều 7 Pháp
lệnh tín ngưỡng, tôn giáo đã quy định.
9. Tổ chức tập huấn
về công tác tôn giáo, công tác dân tộc của Mặt trận cho đội ngũ cán bộ Mặt
trận các cấp, trong nội dung tập huấn cần có bài giới thiệu về công tác tôn
giáo, dân tộc của Mặt trận; về Chỉ thị số: 06/2008/CT-TTg ngày 01 tháng 02
năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ Về phát huy vai trò người có uy tín
trong đồng bào dân tộc thiểu số trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
và Chỉ thị số: 1940/CT-TTg ngày 31 tháng 12 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ
Về nhà, đất liên quan đến tôn giáo.
Trên cơ sở các nội dung của
Hướng dẫn này, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các tỉnh, thành phố
cần xây dựng kế hoạch cụ thể để triển khai thực hiện phù hợp với đặc điểm,
tình hình địa phương.
Hàng quý, 6 tháng và cuối
năm, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các tỉnh, thành phố có báo cáo
tổng hợp tình hình tôn giáo, dân tộc và công tác tôn giáo - dân tộc của Uỷ
ban Mặt trận địa phương; khi có vấn đề tôn giáo, dân tộc phức tạp nảy sinh
cần có báo cáo nhanh kịp thời gửi về Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam thông qua Ban Tôn giáo - Dân tộc (Điện thoại: 04. 39.287.745 - 04.
39.8248.452 - 04.39.287.400; Fax: 04. 39.287.400). Báo cáo nhanh, báo cáo
hàng quý, báo cáo sáu tháng và báo cáo tổng kết năm sẽ là cơ sở để đánh giá,
xếp loại thi đua hàng năm của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các tỉnh, thành phố
trong toàn quốc.
Đề nghị các tổ chức thành
viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có kế hoạch phối hợp triển khai, hướng
dẫn các nội dung công tác dân tộc, tôn giáo phù hợp với chức năng, nhiệm vụ
của tổ chức mình nhằm đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước trong vùng đồng
bào các dân tộc, tôn giáo, thiết thực lập thành tích chào mừng Đại hội lần
thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Định kỳ (hàng quý, 6 tháng, hàng năm)
thông tin kết quả về Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam qua Ban Tôn giáo - Dân tộc Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
số 46 Tràng Thi, Hà Nội./.
TM. BAN THƯỜNG TRỰC
UỶ VIÊN
Trần Đình Phùng
[Về đầu
trang]
ỦY BAN TRUNG ƯƠNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BAN THƯỜNG TRỰC
Số: 84 /HD-MTTW-BTT Hà Nội, ngày
15 tháng 03 năm 2009
HƯỚNG DẪN
Góp ý kiến vào dự
thảo Báo cáo chính trị và sửa đổi, bổ sung Điều lệ trình Đại hội toàn quốc
lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
(Hướng dẫn dùng cho Đại hội MTTQ các tỉnh, thành phố)
Thực hiện các bước của quy
trình tổ chức đại hội Mặt trận các cấp tiến tới Đại hội lần thứ VII Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam hướng dẫn việc đóng góp ý kiến vào dự thảo Báo cáo chính trị và sửa đổi,
bổ sung, Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trình Đại hội lần thứ VII của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam như sau:
A. VỀ
CÁC NỘI DUNG GÓP Ý KIẾN
Phần thứ nhất
Về dự thảo Báo cáo chính trị trình
Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam
I. Về chủ đề của Báo cáo:
Nâng cao vai trò Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, phát huy sức mạnh đại
đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới vì dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Căn cứ vào yêu cầu nhiệm
vụ mới của đất nước và vị trí, vai trò, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam hiện nay, dự thảo Báo cáo đưa ra chủ đề như trên đã phù hợp chưa? nếu
chưa phù hợp thì đề nghị nên nêu chủ đề của Báo cáo là gì?
II.
Về kết cấu của dự thảo Báo cáo:
Báo cáo được xây
dựng với các phần, mục và tiểu mục như văn bản dự thảo, trong đó: Phần kiểm
điểm thực hiện Chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhiệm kỳ
2004 – 2009 (Mục II Phần thứ nhất), gộp mục thứ 2 của
Chương trình hành động: Động viên nhân dân tham gia các phong trào thi
đua, các cuộc vận động, huy động mọi nguồn lực thực hiện thắng lợi nhiệm vụ
phát triển kinh tế-xã hội.” với mục thứ 3 của Chương trình
hành động: Tuyên truyền, động viên nhân dân thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ
quốc thành một mục với tên gọi là: “2. Động viên nhân dân tham gia
các phong trào thi đua, các cuộc vận động thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ
kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh,, phát huy mọi nguồn lực đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” vì hai mục này có nội dung cùng phục
vụ cho một nhiệm vụ chung. Hội nghị lần thứ 6 Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam (khóa VI) đã thống nhất gộp lại như vậy để phù hợp với đánh
giá việc thực hiện Chương trình hành động của nhiệm kỳ VI qua thực tiễn và
đồng bộ với 5 nội dung của Chương trình hành động của nhiệm kỳ mới.
Ngoài chi tiết này, đề nghị cho ý kiến về kết cấu của văn bản: Nội
dung và số trang của phần thứ nhất và phần thứ hai đã hợp lý chưa? cần sửa
đổi, bổ sung, sắp xếp lại như thế nào?
III. Về các
nội dung trọng tâm cần đóng góp ý kiến:
1. Đánh giá tình hình
khối đại đoàn kết toàn dân tộc:
Trong phần này, ngoài đánh giá chung về khối đại đoàn kết toàn dân tộc, dự
thảo báo cáo nêu ưu điểm của mỗi giai cấp, mỗi tầng lớp nhân dân trong khối
đại đoàn kết toàn dân tộc.
Trong phần hạn chế,
khuyết điểm có nêu: Tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách
nhiễu nhân dân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo
dài chưa được ngăn chặn, nhất là trong các lĩnh vực xây dựng cơ bản, quản lý
đất đai, quản lý doanh nghiệp nhà nước và quản lý tài chính. Dân chủ
và kỷ cương xã hội chưa được thực hiện nghiêm. Có ý kiến cho rằng, trong
phần ưu điểm cần nêu thêm kết quả hoạt động của lực lượng cán bộ, đảng viên,
công chức làm việc trong các cơ quan của hệ thống chính trị các cấp vì đây
cũng là một lực lượng rất lớn và góp phần quan trọng vào kết quả xây dựng
khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Đánh giá như trong dự
thảo đã phù hợp chưa? cần sửa đổi, bổ sung nội dung gì?
2. Kiểm điểm 5 năm thực
hiện Chương trình hành động của nhiệm kỳ 2004 – 2009:
2.1
- Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ củng cố, tăng cường và phát huy sức
mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong
nhiệm kỳ qua, dự thảo báo cáo tập trung vào các nội dung:
Thực hiện đa dạng
hóa các hình thức vận động, tập hợp các tầng lớp nhân.
Hướng mạnh về cơ sở và khu dân cư bằng các phong trào thi đua yêu nước,
các cuộc vận động xã hội rộng lớn do Mặt trận chủ trì.
Phát huy dân chủ, tích cực tham gia xây dựng chính sách và pháp luật,
đặc biệt các chính sách cụ thể đối với các giai tầng, đồng bào các dân tộc
thiểu số, người Việt Nam ở nước ngoài ... góp phần quan trọng vào quá trình
cụ thể hóa chính sách đại đoàn kết của Đảng và Nhà nước ta.
Bồi dưỡng và phát huy vai trò của các cá nhân tiêu biểu trong các tầng
lớp nhân dân...
Nội dung này đánh giá như vậy đã đủ chưa, cần sửa đổi, bổ sung nội
dung gì?
- Đánh giá kết quả
nhiệm vụ động viên nhân dân tham gia các phong trào thi đua, các cuộc vận
động thực
hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, phát huy
mọi nguồn lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, dự thảo báo
cáo tập trung vào kết quả của Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng
đời sống văn hóa ở khu dân cư" và Cuộc vận động "Ngày vì người nghèo";
tiếp tục vận động nhân dân tham gia thực hiện nhiệm vụ xây dựng nền quốc
phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân để góp phần thực hiện sự nghiệp
bảo vệ Tổ quốc.
Dự thảo cũng nêu lên các phong trào, các cuộc vận động của các tổ chức
thành viên của Mặt trận góp phần rất quan trọng vào nhiệm vụ vận động các
tầng lớp nhân dân thực hiện phong trào thi đua yêu nước.
Nhiệm vụ này đánh giá như trong dự thảo báo cáo đã hợp lý chưa, cần nhấn
mạnh thêm điều gì?
- Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát huy quyền làm chủ của nhân
dân, tổ chức động viên nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch vững mạnh, dự thảo báo cáo nêu lên
những kết quả cụ thể trong công tác Mặt trận tham gia xây dựng Đảng, xây
dựng chính quyền các cấp và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Trong phần này đánh giá như vậy đã phù hợp chưa?
- Đánh giá về nhiệm
vụ xây dựng, kiện toàn tổ chức và đổi mới phương thức hoạt động,
trước khi nêu lên những
kết quả cụ thể, dự thảo báo cáo đánh giá: Thực hiện chủ trương của Đại
hội VI Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, công tác kiện toàn tổ chức, xây dựng bộ
máy của Mặt trận các cấp đã được coi trọng. Tùy theo tính đặc thù của mỗi
vùng, miền, mỗi địa phương, trong cơ cấu của Uỷ ban Mặt trận các cấp quy tụ
đầy đủ đại diện các nhân sĩ, trí thức, các dân tộc, các tôn giáo, người Việt
Nam ở nước ngoài...; đại diện cá nhân tiêu biểu, chuyên gia, nhà khoa học,
hoạt động xã hội được tăng cường về số lượng và chất lượng, vừa thể hiện
hình ảnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, vừa thể hiện tính đại diện,
tính tiêu biểu và tính thiết thực trong Ủy ban Mặt trận các cấp.
Đánh giá và sắp xếp nội dung của nhiệm vụ này đã sát với thực tế chưa?
Cần bổ sung thêm nội dung gì?
Đánh giá và sắp xếp nội
dung của nhiệm vụ này đã sát với thực tế chưa? Cần bổ sung thêm nội dung gì?
- Phần đánh giá chung:
Dự thảo báo cáo nêu
những thành tích, ưu điểm chung là tiếp tục phát động và tổ chức
các phong trào thi đua yêu nước, nhất là 2 cuộc vận động lớn "Toàn dân đoàn
kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư" và cuộc vận động "Ngày vì người
nghèo"; tham gia cùng Đảng, Nhà nước trong việc xây dựng chủ trương, chính
sách, đưa các Nghị quyết, pháp luật vào cuộc sống; chăm lo phát triển kinh
tế, đảm bảo cải thiện dân sinh... Không khí dân chủ và đồng thuận, ủng hộ sự
nghiệp đổi mới của nhân dân ngày càng nâng cao.
Nguyên nhân của thành
tích, ưu điểm này là sự tự đổi mới của Mặt trận, sức sáng tạo đóng góp
của toàn dân tộc; các cấp uỷ Đảng quan tâm đúng mức; sự phối hợp của chính
quyền và nhiều tổ chức nhân dân ngày càng chặt chẽ, gắn bó hơn. Đặc biệt, tư
duy lý luận, chỉ đạo thực tiễn trong các văn kiện của Đảng tiếp tục xác lập
và bổ sung mới nhiều chức năng, nhiệm vụ và chính sách về đại đoàn kết toàn
dân tộc và vai trò, vị trí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Dự thảo cũng nêu lên
những hạn chế, khuyết điểm là tiếng nói đại diện cho các tầng lớp
nhân dân chưa thật sự đầy đủ; chưa thực hiện tốt vai trò đại diện cho quyền
và lợi ích hợp pháp của nhân dân. Trong một số công việc, Uỷ ban Mặt trận
các cấp chưa tư duy và hoạt động ngang tầm nhiệm vụ, còn nhiều hạn chế và
khuyết điểm trong việc đổi mới phương thức hoạt động, có lúc, có nơi chưa
phối hợp có hiệu quả với các bên liên quan trong việc tổ chức thực hiện các
chương trình công tác và chương trình hành động cách mạng.
Nguyên nhân của những
hạn chế, khuyết điểm trên là: tổ chức bộ máy cán bộ chưa đủ mạnh, thiếu
và yếu về năng lực, chưa quy hoạch, còn thụ động bố trí cán bộ. Nhiều hoạt
động còn mang tính hành chính, đơn điệu, chưa phù hợp công tác dân vận. Mặt
khác, còn nhiều chủ trương, chính sách về đại đoàn kết, về tổ chức cán bộ,
về hoạt động của Mặt trận chưa được cụ thể hoá, tổ chức thực hiện chưa có
hiệu quả. Nhận thức của một số cán bộ, đảng viên không đầy đủ, thiếu đúng
đắn về vai trò, vị trí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong điều kiện mới.
Nêu như vậy đã sát với
thực tiễn về tổ chức và hoạt động của Mặt trận các cấp trong nhiệm kỳ qua
chưa?
2.2 Dự thảo báo cáo nêu
lên 5 bài học kinh nghiệm về:
- Việc quán triệt, thực
hiện đúng đắn tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương, đường lối, chính sách của
Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc, về vai trò, vị trí của Mặt Tổ quốc Việt
Nam có ý nghĩa quyết định sự thành công các hoạt động của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam trước yêu cầu của tình hình nhiệm vụ mới.
- Đoàn kết luôn gắn liền với dân chủ, kỷ cương và công bằng xã hội. Muốn
đoàn kết thực sự phải có dân chủ thực sự, bảo đảm hài hòa các lợi ích và
công bằng xã hội.
- Luôn luôn đảm bảo cơ chế vận hành thông suốt và có hiệu quả trong hệ
thống chính trị, trong đó Mặt trận phải chứng tỏ tính tự chủ, tính sáng tạo,
tính nhân dân rộng rãi thông qua việc đại diện đầy đủ ý chí, nguyện vọng,
trí tuệ và hiến kế của quảng đại công chúng.
- Xây dựng tổ chức, bộ máy cán bộ của Mặt trận các cấp ngang tầm với vai
trò, vị trí, nhiệm vụ của mình trong hệ thống chính trị là yếu tố quan trọng
quyết định việc hoàn thành sứ mệnh của Mặt trận mà nhân dân giao phó.
- Bệnh hình thức và tình trạng hành chính hóa trong hoạt động của Mặt trận
phải được chú trọng khắc phục ở mọi lúc, mọi nơi và trong mọi hoạt động. Mặt
trận các cấp phải đổi mới mạnh mẽ về phương thức hoạt động, phải có tư duy
độc lập, phản ứng nhanh với tình hình và nhiệm vụ, nhất là đáp ứng kịp thời
đòi hỏi của nhân dân về dân sinh và dân chủ.
Nội dung và cách sắp xếp các bài học kinh nghiệm như trong dự thảo báo cáo
đã hợp lý chưa? cần thay đổi như thế nào?
3. Về Phương hướng, nhiệm vụ và chương trình hành động của nhiệm kỳ 2009
– 2014:
3.1 Về bối cảnh, tình hình, dự thảo báo
cáo nêu lên 2 phần:
- Tình hình chính trị, kinh tế và các phong trào nhân dân trên thế giới;
- Những thắng lợi và thành tựu to lớn về chính trị, kinh tế - xã hội và
ngoại giao của đất nước ta trong hơn 20 năm qua; những thành tựu của sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; quá trình hội nhập kinh tế
thế giới vừa có cơ hội lớn, vừa phải đối đầu với thách thức không nhỏ... tác
động đến sự nghiệp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc của nước ta thời
gian tới.
Đánh giá bối cảnh tình
hình trong nhiệm kỳ mới như vậy đã phù hợp chưa?
3.2 Về phương
hướng, nhiệm vụ của nhiệm kỳ mới,
dự thảo nêu như sau: Nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự
lực, tự cường, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, tạo thành
sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu "dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Động viên các tầng lớp nhân
dân hăng hái tham gia phong trào thi đua yêu nước phấn đấu thực hiện thắng
lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh; chăm
lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân và vận động các
tầng lớp nhân dân phát huy dân chủ, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước trong
sạch vững mạnh. Nâng cao chất lượng hoạt động vì dân sinh, vì dân chủ; mở
rộng hoạt động đối ngoại nhân dân và tăng cường đoàn kết, hữu nghị giữa nhân
dân Việt Nam với nhân dân các nước trên thế giới, kết hợp sức mạnh dân tộc
với sức mạnh thời đại; đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ và đổi mới
nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận các cấp.
Xác định phương hướng, nhiệm vụ như trên đã phù hợp chưa? cần thay đổi,
bổ sung những gì?
3.3 Dự thảo
báo cáo xây dựng 5 nội dung, nhiệm vụ của chương trình hành động của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam nhiệm kỳ 2009-2014
như sau:
- Tăng cường tập hợp, vận động, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân,
phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì "dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh".
- Động viên các tầng lớp nhân dân hăng hái tham gia các phong trào thi đua
yêu nước, các cuộc vận động, các hoạt động xã hội thực hiện thắng lợi nhiệm
vụ phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, ổn định và nâng cao đời
sống của nhân dân, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; vận
động các tầng lớp nhân dân phát huy dân chủ, tham gia xây dựng Đảng, Nhà
nước trong sạch vững mạnh, giữ vững mối liên hệ mật thiết giữa nhân dân với
Đảng và Nhà nước.
- Mở rộng và nâng cao hiệu quả đối ngoại nhân dân, tăng cường đoàn kết, hữu
nghị, hợp tác quốc tế và tích cực hội nhập quốc tế vì hoà bình và phát triển.
- Đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ; đổi mới nội dung, phương thức
và nâng cao hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Nội dung và cách sắp xếp của Chương trình hành động như trong dự thảo báo
cáo đã hợp lý chưa, cần bổ sung, sửa đổi điều gì?
Phần thứ hai
Về dự thảo sửa đổi,
bổ sung Điều lệ
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
I. Về lời nói đầu:
- Bổ sung nội
dung “đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân”
vào đoạn nói về vị trí, vai trò của Mặt trận, đồng thời bổ sung nội dung
"giám sát và phản biện xã hội" vào đoạn nói về nhiệm vụ của Mặt
trận cho phù hợp với Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng.
- Bổ sung nội dung "Lấy ngày thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất
Việt Nam (ngày 18 tháng 11 năm 1930) làm ngày Hội Đại đoàn kết toàn dân tộc
hàng năm" vào cuối của Lời nói đầu.
II. Về Chương II.
Nguyên tắc tổ chức, hoạt động và cơ cấu tổ chức của MTTQ Việt Nam:
Điều 8. Uỷ ban MTTQ Việt
Nam
Bổ sung vào
điểm c khoản 3 trường hợp cán bộ Mặt trận chuyên trách nghỉ hưu
đương nhiên không còn là Ủy viên Ủy ban MTTQ như sau:
c) Cán bộ Mặt trận chuyên trách chuyển công tác khác hoặc nghỉ hưu.
III.Về Chương III. Cơ quan lãnh đạo của MTTQ Việt Nam ở cấp Trung
ương:
- Điều 14. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam
Bổ sung thêm nội dung "Phản biện xã hội đối với dự thảo chủ trương,
nghị quyết của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước về những vấn đề quan
trọng của đất nước” vào khoản 4 như sau:
4. Góp ý kiến, kiến nghị với Đảng về chủ trương, đường lối; với
Nhà nước về chính sách, pháp luật và những vấn đề về quốc kế dân sinh;
phản biện xã hội đối với dự thảo chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước về những vấn đề quan trọng của đất nước; giám sát
hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ công chức nhà nước;
- Điều 17. Nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn Chủ tịch
Bổ sung thêm nội dung "Phản biện xã hội đối với dự
thảo chủ trương, nghị quyết của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước”
vào khoản 2 và được viết lại như sau:
2. Góp ý kiến, kiến nghị với Đảng về chủ trương, đường lối; với Nhà
nước về chính sách pháp luật; phản biện xã hội đối với dự thảo chủ trương,
nghị quyết của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước về những vấn đề
quan trọng của đất nước;
- Điều 19. Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam
+ Về khoản 2 (các chức danh trong Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ
Việt Nam), có một số phương án sau đây:
Phương án 1: Ban Thường trực Ủy ban
Trung ương MTTQ Việt Nam (gọi chung là Ban Thường trực) gồm có Chủ tịch, Phó
Chủ tịch kiêm Tổng thư ký, các Phó Chủ tịch chuyên trách và các Ủy viên
Thường trực Đoàn Chủ tịch là những người hoạt động chuyên trách.
Phương án 2: Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt
Nam (gọi chung là Ban Thường trực) gồm có Chủ tịch, Phó Chủ tịch kiêm Tổng
Thư ký và các Phó Chủ tịch chuyên trách là những người hoạt
động chuyên trách (để giảm bớt chức danh trong Ban Thường trực và để
thuận lợi trong quan hệ công tác với các cơ quan, tổ chức khác trong hệ
thống chính trị).
Phương án 3: Ban Thường trực Ủy ban
Trung ương MTTQ Việt Nam (gọi chung là Ban Thường trực) gồm có Chủ tịch, Phó
Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký và các Ủy viên Thường trực Đoàn Chủ tịch
là những người hoạt động chuyên trách.
- Điều 20. Nhiệm vụ và quyền hạn của Ban Thường trực
Bổ sung thêm nội dung “Tổ chức các hoạt động phản biện xã
hội đối với dự thảo chủ trương, chính sách, quyết định của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của
người dân; đến tổ chức bộ máy và cán bộ; đến quyền và trách nhiệm của MTTQ
Việt Nam; tổ chức các hoạt động giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại
biểu dân cử, cán bộ công chức nhà nước" vào khoản 3 như sau:
3. Thường xuyên tập hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và
nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng, Nhà nước; thay mặt Ủy ban Trung
ương và Đoàn Chủ tịch để kiến nghị với Đảng, Nhà nước về các chủ trương,
chính sách pháp luật cần ban hành, sửa đổi; tổ chức các hoạt động phản
biện xã hội đối với dự thảo chủ trương, chính sách, quyết định của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ
cơ bản của người dân; đến tổ chức bộ máy và cán bộ; đến quyền và trách nhiệm
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; tổ chức các hoạt động giám sát hoạt động của
cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ công chức nhà nước".
IV. Về Chương IV. Cơ
quan lãnh đạo của MTTQ các cấp ở địa phương:
- Điều 23. Nhiệm vụ,
quyền hạn của Uỷ ban MTTQ Việt Nam cấp tỉnh, cấp huyện
Bổ sung thêm
nội dung "Phản biện xã hội đối với dự thảo chủ trương, nghị quyết của
cấp ủy đảng, chính sách, pháp luật của chính quyền cùng cấp và cấp trên”
vào khoản 3 như sau:
3. Góp ý kiến,
kiến nghị với cấp ủy Đảng, chính quyền cùng cấp và cấp trên về những chủ
trương, chính sách, pháp luật; phản biện xã hội đối với dự thảo chủ
trương, nghị quyết của cấp ủy đảng, chính sách, pháp luật của chính quyền
cùng cấp và cấp trên; giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu
dân cử, cán bộ công chức nhà nước;
- Điều 24. Uỷ ban MTTQ
VN cấp xã
Khoản 2: Bổ sung về
nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban MTTQ cấp xã: Uỷ ban MTTQ cấp xã ra văn
bản công nhận Ban Thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của
cộng đồng” cho phù hợp với pháp luật quy định về thanh tra nhân dân
và giám sát đầu tư của cộng đồng.
- Điều 25. Ban Thường
trực Uỷ ban MTTQ Việt Nam cấp tỉnh, cấp huyện
Bổ sung thêm
nội dung "Tổ chức các hoạt động phản biện xã hội đối với dự thảo chủ
trương, nghị quyết của cấp ủy đảng, chính sách, pháp luật của chính quyền
cùng cấp và cấp trên; tổ chức các hoạt động giám sát hoạt động của cơ quan
nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ công chức nhà nước" vào điểm c,
khoản 3 như sau:
c) Thường xuyên tập hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân để phản
ánh, kiến nghị với cấp ủy đảng, chính quyền, Ban Thường trực cấp trên trực
tiếp; thay mặt Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam góp ý kiến, kiến nghị với
cấp ủy đảng, chính quyền địa phương về việc thực hiện các chính sách, pháp
luật tại địa phương; tổ chức các hoạt động phản biện xã hội đối với dự
thảo chủ trương, nghị quyết của cấp ủy đảng, chính sách, pháp luật của chính
quyền cùng cấp và cấp trên; tổ chức các hoạt động giám sát hoạt động của cơ
quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ công chức nhà nước;
- Điều 26. Ban Thường
trực Uỷ ban MTTQ Việt Nam cấp xã
Bổ sung thêm nội dung
“Tổ chức các hoạt động phản biện xã hội đối với dự thảo chủ trương, nghị
quyết của cấp uỷ đảng, chính sách, pháp luật của chính quyền địa phương; tổ
chức các hoạt động giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử,
cán bộ công chức nhà nước” vào điểm c, khoản 3 như sau:
c) Thường xuyên tập hợp
ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân để phản ánh, kiến nghị với cấp ủy
đảng, chính quyền, Ban Thường trực cấp trên trực tiếp; góp ý kiến, kiến nghị
với cấp ủy đảng, chính quyền về việc thực hiện chính sách, pháp luật tại địa
phương; tổ chức các hoạt động phản biện xã hội đối với dự thảo chủ trương,
nghị quyết của cấp uỷ đảng, chính sách, pháp luật của chính quyền địa phương;
tổ chức các hoạt động giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân
cử, cán bộ công chức nhà nước;
- Khoản 3, điểm đ: Bổ
sung nhiệm vụ của Ban Thường trực Ủy ban MTTQ cấp xã trong việc chỉ đạo,
hướng dẫn hoạt động của Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng cho
phù hợp với pháp luật quy định về giám sát đầu tư của cộng đồng.
Điều 27 Ban Công tác Mặt
trận
- Khoản 5, điểm a: Bổ
sung thêm các nhiệm vụ “tuyên truyền” và “động viên nhân
dân tham gia hoạt động giám sát và phản biện xã hội” để tiếp tục
phát huy hơn nữa vai trò của Ban Công tác Mặt trận phù hợp với thực tiễn và
đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
* Lưu ý:
- Những chữ in nghiêng là của Điều lệ hiện hành.
- Những chữ in
nghiêng, đậm là nội dung đề nghị bổ sung, sửa đổi.
Ngoài các nội dung nêu
trên, các địa phương có thể đề nghị sửa đổi, bổ sung các nội dung khác của
Điều lệ MTTQ Việt Nam.
B. VỀ PHƯƠNG THỨC TỔ
CHỨC GÓP Ý KIẾN
Việc đóng góp ý kiến vào
các văn bản dự thảo trên đây được thực hiện tại Đại hội Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Các ý kiến đóng góp được
tổng hợp thành 2 báo cáo ngay sau khi tổ chức xong đại hội của cấp mình:
- Một báo cáo tổng hợp ý
kiến đóng góp vào dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội lần thứ VII Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam, gửi về: Tiểu ban Văn kiện của Đại hội lần thứ
VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (Số 46 Tràng Thi, Hà Nội).
- Một báo cáo tổng hợp ý
kiến đóng góp vào dự thảo sửa đổi Điều lệ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, gửi
về: Tiểu ban Điều lệ của Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam (Số 46 Tràng Thi, Hà Nội).
Ban Thường trực Ủy ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đề nghị Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam các tỉnh, thành phố thực hiện đúng với nội dung và thời
gian quy định để bảo đảm kế hoạch chung.
TM. BAN THƯỜNG TRỰC
PHÓ CHỦ TỊCH KIÊM TỔNG THƯ KÝ
Vũ Trọng Kim
[Về đầu
trang]
VĂNPHÒNG
CHÍNH PHỦ
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Số:
349/TB - VPCP
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 30 tháng 12 năm 2008
THÔNG BÁO
Kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại buổi làm việc
với Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Ngày 12 tháng 12 năm 2008
tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã làm việc với
Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Cùng tham dự có
lãnh đạo các Bộ: Nội vụ, Văn hoá Thể thao và Du lịch, Tài chính, Kế hoạch
đầu tư, Tư pháp, Giáo dục và Đào tạo, Lao động - Thương binh và Xã hội, Tài
nguyên và Môi trường, Văn phòng Chính phủ.
Sau khi nghe đồng chí Vũ
Trọng Kim, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam báo cáo kết quả phối hợp công tác giữa Chính phủ với Uỷ ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2008, nội dung phối hợp công tác năm 2009
và những đề xuất, kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ; ý kiến của các vị trong
Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; lãnh đạo các bộ
và ý kiến của đồng chí Huỳnh Đảm, Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ kết luận như sau:
I.
ĐÁNH GIÁ VÀ NHẬN ĐỊNH CHUNG
1.
Năm 2008, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn thách thức nhưng toàn Đảng, toàn
quân và toàn dân đã nỗ lực vượt qua khó khăn, đạt được những kết quả toàn
diện và tích cực về kinh tế - xã hội. Lạm phát về cơ bản đã được kiềm chế,
chỉ số giá tiêu dung giảm dần qua các tháng, kinh tế vĩ mô tiếp tục giữ ổn
định. Nền kinh tế duy trì mức tăng trưởng khá trong điều kiện lạm phát cao:
ước cả năm tăng trưởng GDP đạt khoảng 6.23%, giá trị sản xuất công nghiệp
tăng 14.6%, trị giá sản xuất công nghiệp 14.6%, giá trị sản xuất nông nghiệp
tăng 5.4%, GDP bình quân đầu người đạt trên 1000 USD. An sinh xã hội tiếp
tục được quan tâm và triển khai thực hiện có hiệu quả. Các lĩnh vực giáo dục,
đào tạo, y tế văn hoá thông tin và bảo vệ môi trường được chú trọng. Công
tác cải cách hành chính phòng, chống tham nhũng thực hành tiết kiệm, chống
lãng phí có chuyển biến tích cực. Hoạt động đối ngoại và hợp tác kinh tế
quốc tế đạt nhiều kết quả. Chính trị xã hội ổn định. Quốc phòng an ninh được
giữ vững, trật tự, an toàn xã hội được đảm bảo. Công tác phối hợp giữa Chính
phủ và Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong năm qua thiết thực
hơn, hiệu quả hơn những năm trước và đạt kết quả tích cực trên nhiều lĩnh
vực khác nhau. Thông qua công tác phối hợp, Chính phủ đã thực hiện tốt chức
năng, nhiệm vụ của mình trong chỉ đạo, điều hành kinh tế - xã hội; đồng thời,
Mặt trận tổ quốc Việt Nam cũng làm tốt hơn vai trò và chức năng của mình
trong việc xây dựng khối liên minh chinh trị, khối đại đoàn kết toàn dân,
vận động nhân dân thi đua yêu nước, tham gia thực hiện các nhiệm vụ mà Đảng,
Nhà nước đề ra.
Chính phủ đánh giá cao và
ghi nhận sự phối hợp công tác có hiệu quả của Mặt trận tổ quốc Việt Nam
trong thời gian qua. Thông qua sự phối hợp công tác đã đạt được kết quả cao,
tạo ra sự đồng thuận, được nhân dân hưởng ứng, cần phát huy trong thời gian
tới.
2. Dự báo trong năm 2009,
tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, kinh tế thế giới
suy thoái, tác động sâu sắc đến nước ta, tạo ra cả cơ hội, thuận lợi và khó
khăn, thách thức. Nền kinh tế nước ta đã có dấu hiệu suy giảm, tác động trực
tiếp đến sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng trong nước, xuất khẩu, đầu tư, đời
sống và việc làm của người lao động. Trước tình hình đó, Chính phủ đã xác
định phải tập trung điều hành thực hiện mục tiêu tổng quát của kế hoạch năm
2009 mà quốc hội khoá XII, kỳ họp thứ 4 đã thông qua. Trước mắt, cần tổ chức
triển khai thực hiện ngay các giải pháp cấp bách sau: thúc đẩy sản xuất,
kinh doanh và xuất khẩu; thực hiện các biện pháp kích cầu đầu tư và tiêu
dùng; chính sách tài chính tiền tệ; ngăn chặn suy giảm kinh tế, đảm bảo an
sinh xã hội; tổ chức điều hành linh hoạt, hiệu quả và quyết liệt các giải
pháp trên.
II. NHỮNG KIẾN NGHỊ, ĐỀ
XUẤT
1.
Về đề nghị phối hợp tổng kết 10 năm thực hiện Luật Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và Nghị định số 50/2001/NĐ-CP ngày 16 tháng 8 năm 2001 của
Chính phủ, làm cơ sở cho việc sửa đổi, bổ sung Luật Mặt trận Tổ quốc Việt
nam và tổ chức Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt nam: Thủ tướng
Chính phủ đồng ý, đề nghị Ban Thường trực UBMTTQ VIệt Nam phối hợp với Bộ
Nội vụ và các cơ quan liên quan của Chính phủ thực hiện.
2.
Đề nghị Thủ tướng Chính phủ có ý kiến để Bộ Chính trị sớm
ban hành ba Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các
tổ chức Chính trị - xã hội và nhân đạo theo tinh thần Nghị quyết Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ X: Thủ tướng Chính phủ ghi nhận để báo cáo bộ chính
trị.
3.
Về đề nghị thống nhất, cụ thể hoá các phong trào, cuộc vận
động, các chương trình, mục tiêu quốc gia thành các tiêu chí trong cuộc vận
động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư": Thủ tướng
Chính phủ đồng ý, giao Bộ Văn hoá, Thể thao và du lịch làm việc cụ thể với
Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để triển khai
thực hiện theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5, khoá VIII. Về Nghị định
tập trung các nguồn lực tài chính cho Ban Công tác Mặt trận và nâng mức hỗ
trợ kinh phí hoạt động cho Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư theo Thông tư
liên tịch số 02/2002/TTLT - BTC - MTTW ngày 10 tháng 01 năm 2002 của Bộ Tài
chính và Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Thủ tướng Chính phủ
đồng ý, đề nghị Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
làm việc cụ thể với Bộ Tài chính.
4.
Về đề nghị quan tâm đến chế độ nhà ở cho các Uỷ viên Thường
trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Chính phủ đã giao cho Bộ
xây dựng triển khai thực hiện Chương trình nhà ở cho cán bộ, công nhân viên
trong đó có cán bộ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Về đề nghị cấp đất, kinh phí
cho cơ quan Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xây dựng nhà công vụ
cho cán bộ, công chức: Thủ tướng Chính phủ đề nghị Ban Thường trực Uỷ ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam làm việc cụ thể với Uỷ ban nhân dân
thành phố Hà Nội đề giải quyết chế độ nhà công vụ theo quy định hiện hành.
Về đề nghị khoán kinh phí hoạt động của hệ thống Mặt trận Tổ quốc và các
đoàn thể xã hội: ngày 17 tháng 10 năm 2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định
số 130/2005/NĐ-CP quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng
biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với cơ quan nhà nước, trong đó
quy định: các cơ quan thuộc Đảng Cộng sản Việt Nam, các tổ chức chính trị -
xã hội được cơ quan có thẩm quyền giao biên chế và kinh phí hành chính xem
xét, tự quyết định việc áp dụng các quy định tại Nghị định này; vì vậy, đề
nghị Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam làm việc cụ thể với Bộ Tài
chính để triển khai thực hiện theo quy định hiện hành.
5.
Về cuộc vận động "Ngày vì người nghèo", đề nghị Chính phủ sớm
quyết định việc đầu tư hỗ trợ làm nhà cho người nghèo: Thủ tướng Chính phủ
đã ban hành Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg ngày 12 tháng 12 năm 2008 về chính
sách hỗ trợ cho người nghèo về nhà ở.
6.
Về đề nghị sớm kiến nghị Quốc hội sửa đổi Luật Bầu cử đại
biểu Quốc hội, Luật Bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân. Luật Tổ chức Quốc hôi,
Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân. Trong quá trình chuẩn bị đề
nghị có sự phối hợp, tham gia của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Thủ tướng Chính
phủ đống ý, giao Bộ Tư pháp phôí hợp với các cơ quan liên quan chuẩn bị
trình Quốc hội bổ sung các dự án luật trên vào chương trình xây dựng luật,
pháp lệnh năm 2009. Trong quá trình chuẩn bị dự án Luật Bầu cử Hội đồng nhân
dân và Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, yêu cầu Bộ nội vụ
phối hợp với các cơ quan liên quan chủ động phối hợp chặt chẽ với Ban Thường
trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để triển khai thực hiện.
7. Về việc Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam xây dựng Đề án cải cách giáo dục theo Nghị quyết Đại hội lần thứ X
của Đảng: Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng chiến
lược giáo dục 2009 - 2020; vì vậy, không phải thành lập Uỷ ban cải cách giáo
dục. Đề nghị Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
tích cực tham gia trong quá trình tổng kết, đánh giá 10 năm thực hiện Nghị
quyết Đại hội lần thứ X của Đảng; giao Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với
Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong quá trình
xây dựng Chiến lược giáo dục 2009 - 2020.
8. Về một số đề nghị liên
quan đến vấn đề tôn giáo
a) Về đề nghị rà soát việc
quản lý, sử dụng đất đai có liên quan đến tốn giáo; kịp thời chấn chỉnh
những sai phạm, sơ hở, tránh gây bức xúc để kẻ xấu lợi dụng, kích động phát
sinh điểm nóng; đồng thời, xem xét, giải quyết nhu cầu chính đáng của tôn
giáo về đất đai: Thủ tướng Chính phủ đồng ý, giao Bộ Tài nguyên và Môi
trường phối hợp với cơ quan liên quan của Chính phủ xem xét giải quyết, báo
cáo Thủ tướng Chính phủ;
b) Về đề nghị cân nhắc việc
cho phép thành lập hoặc công nhận pháp nhân dối với các tổ chức tôn giáo,
tránh việc mở rộng cấp phép như thời gian vừa qua để tạo điều kiện thuận lợi
cho việc quản lý hoạt động của các tôn giáo và tập hợp, xây dựng khối đại
đoàn kết dân tộc: Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Nội vụ xem xét, đề xuất cụ thể,
báo cáo Thủ tướng Chính phủ;
c) Về đề nghị quan tâm tạo
điều kiện về trụ sở, kinh phí, điều kiện hoạt động của hệ thống Uỷ ban Đoàn
kết Công giáo Việt Nam các cấp: vấn đề này thuộc thẩm quyền của Uỷ ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
9.Về đề nghị khi quyết định
những vấn đề quan trọng của đất nước nên tham khảo ý kiến Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam: Thủ tướng Chính phủ ghi nhận và chỉ đạo các cơ quan của Chính phủ
thực hiện.
10. Về đề nghị quan tâm chỉ
đạo giải quyết những vấn đề bức xúc mà cử tri và nhân dân đã kiến nghị tại
Kỳ họp thứ 3 và thứ 4, Quốc hội khoá XII vừa qua: Thủ tướng Chính phủ đã và
đang chỉ đạo các cơ quan của Chính phủ xem xét, giải quyết.
Văn phòng Chính phủ xin
thông báo để Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
các Bộ, cơ quan, địa phương thực hiện kết luận này./.
BỘ TRƯỞNG, CHỦ
NHIỆM
Nguyễn
Xuân Phúc
[Về đầu
trang]
Đề cương tuyên truyền kỷ
nệm 105 năm ngày sinh đồng chí Trần Phú-Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng
I. Khái lược về thân thế và sự nghiệp cách mạng của đồng chí
Trần Phú
Đồng chí Trần Phú (bí danh Lý Quý), sinh ngày 1 tháng 5 năm 1904 tại thôn
An Thổ, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên; nguyên quán xã Tùng Ảnh,
huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Thân phụ và thân mẫu của đồng chí Trần Phú là
ông Trần Văn Phổ và bà Hoàng Thị Cát.
Năm 1922, đỗ đầu kỳ thi Thành chung ở Trường Quốc học Huế, đồng chí được
bổ nhiệm làm giáo viên Trường Tiểu học Cao Xuân Dục ở Vinh (Nghệ An).
Giữa năm 1925, đồng chí gia nhập Hội Phục Việt (sau đổi tên thành Hội
Hưng Nam và Tân Việt Cách mạng Đảng), tổ chức của những trí thức yêu nước.
Năm 1926, đồng chí tham gia: phong trào đấu tranh đòi thực dân Pháp trả
lại tự do cho nhà yêu nước Phan Bội Châu, tổ chức lễ truy điệu Phan Chu
Trinh, mở lớp dạy chữ quốc ngữ cho công nhân và nông dân.
Tháng 7/1926, Hội Phục Việt cử đồng chí và một số hội viên sang Quảng
Châu (Trung Quốc) để đề nghị với Nguyễn Ái Quốc cho Hội hợp nhất với Hội
Việt Nam Thanh niên Cách mạng. Đồng chí gặp Nguyễn Ái Quốc, được tham gia
lớp huấn luyện chính trị khóa 2 do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp giảng
dạy.
Tháng 10/1926, đồng chí gia nhập Hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng, được
lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc kết nạp vào Cộng sản Đoàn. Kết thúc khóa học, đồng
chí về nước hoạt động, nhưng bị địch truy lùng ráo riết. Đồng chí trở lại
Quảng Châu, làm việc tại Tổng bộ Thanh niên.
Cuối tháng 1/1927, đồng chí được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giới thiệu sang
Liên Xô học Trường đại học Phương Đông.
Đầu tháng 11/1929, sau khi tốt nghiệp Đại học Phương Đông, đồng chí nhận
chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, bí mật lên tàu đi Lêningrát (nay là thành phố
Xanh Pêtécbua thuộc Liên bang Nga) bắt đầu hành trình về nước hoạt động.
Ngày 8/2/1930, đồng chí về đến Sài Gòn. Ít ngày sau đồng chí sang Hồng
Kông (Trung Quốc) gặp Nguyễn Ái Quốc. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã giới thiệu
đồng chí Trần Phú về tham gia hoạt động trong Ban Chấp uỷ lâm thời.
Tháng 4/1930, đồng chí về đến Hải Phòng. Tháng 7/1930 đồng chí được bổ
sung vào Ban Chấp uỷ lâm thời và được giao nhiệm vụ dự thảo Luận cương chính
trị của Đảng.
Tháng 10/1930, tại Hương Cảng (Trung Quốc) Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp
hành Trung ương Đảng đã thảo luận và nhất trí thông qua Luận cương chính trị
do đồng chí Trần Phú dự thảo. Hội nghị đã quyết định đổi tên Đảng Cộng sản
Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương. Tại Hội nghị này, đồng chí Trần Phú
được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng.
Trên cương vị Tổng Bí thư của Đảng, đồng chí đã trực tiếp chủ trì: Hội
nghị Thường vụ Trung ương Đảng tháng 12/1930, Hội nghị Thường vụ Trung ương
Đảng tháng 1/1931 và Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ hai tại
Sài Gòn tháng 3/1931. Dưới sự chủ trì của đồng chí, các quyết nghị của Trung
ương giai đoạn này đã góp phần đưa phong trào cách mạng Đông Dương phát
triển lên một tầm cao mới.
Do có kẻ phản bội khai báo, ngày 18/ 4/1931, đồng chí đã bị địch bắt tại
số nhà 66, đường Sămpanhơ (nay là đường Lý Chính Thắng, thành phố Hồ Chí
Minh). Biết đồng chí là lãnh đạo cao cấp của Đảng, thực dân Pháp và bọn tay
sai đã đưa đồng chí về giam giữ ở Khám lớn Sài Gòn. Trước những đòn tra tấn
dã man và chế độ hà khắc của nhà tù đế quốc, sức khỏe của đồng chí giảm sút
nhanh chóng, bệnh tình của đồng chí ngày một trầm trọng. Ngày 6/9/1931, đồng
chí đã trút hơi thở cuối cùng tại Nhà thương Chợ Quán, Sài Gòn.
Để tỏ lòng biết ơn công lao to lớn của đồng chí Trần Phú đối với sự
nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, ngày 12/1/1999 Đảng và Nhà nước quyết
định tổ chức trọng thể Lễ truy điệu đồng chí Trần Phú tại thành phố Hồ Chí
Minh. Thể theo nguyện vọng của gia quyến và gia tộc của đồng chí Trần Phú,
Đảng và Nhà nước tổ chức di dời hài cốt của đồng chí về an táng tại núi Quần
Hội, xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
II. Những cống hiến to lớn của đồng chí Trần Phú với sự
nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.
1. Đồng chí Trần Phú, người học trò của lãnh tụ Nguyễn Ái
Quốc; học viên xuất sắc của Trường đại học Phương Đông.
Xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh quê hương của đồng chí Trần Phú
là một vùng đất “địa linh nhân kiệt”. Ông Trần Văn Phổ, thân phụ của đồng
chí là người học rộng, đỗ cử nhân tại trường thi Nghệ An, làm quan Tri huyện
tại huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi. Ông sống thanh liêm, thương dân, không
cam chịu làm tay sai cho bọn cướp nước đàn áp người dân vô tội, đã tuẫn tiết
ngay trên công đường để phản kháng chế độ thực dân và Triều đình. Thân mẫu
của đồng chí Trần Phú là bà Hoàng Thị Cát, tính tình hiền dịu. Sau cái chết
của ông Phổ, gia đình đồng chí Trần Phú lâm vào cảnh khó khăn. Vì quá vất vả
và nhớ thương chồng, bà Cát bị bệnh nặng đã qua đời năm 1910.
Năm 4 tuổi, đồng chí Trần Phú mồ côi cha. Sáu tuổi, đồng chí mồ côi cả
cha và mẹ. Tuổi thơ của đồng chí trĩu nặng thương đau. Là người có trí thông
minh, có ý thức tự lập, vượt khó để vươn lên trong học tập, ngay từ khi còn
ngồi trên ghế nhà trường đồng chí luôn luôn là học sinh giỏi. Nhờ anh, chị
và họ hàng ruột thịt chu cấp, đồng chí Trần Phú tiếp tục vào học ở Trường
Quốc học Huế, một ngôi trường danh tiếng. Được tiếp xúc với nhiều thầy giáo
và bạn bè có tư tưởng yêu nước, đồng chí đã sớm hoà mình vào các phong trào
của học sinh, sinh viên tham gia “Hội Thanh niên tu tiến” để giúp đỡ bạn bè
cùng chí hướng và nuôi dưỡng tinh thần yêu nước. Năm 1918, đồng chí Trần Phú
đỗ đầu kỳ thi Thành chung ở Trường Quốc học Huế. Với tấm bằng này đồng chí
có đủ điều kiện làm quan. Nhưng truyền thống gia đình và quê hương đã sớm
hình thành chí hướng cách mạng, đồng chí Trần Phú từ chối con đường làm quan,
chọn nghề dạy học. Tháng 9/1922, đồng chí được bổ nhiệm làm giáo viên Trường
tiểu học Cao Xuân Dục ở Vinh (Nghệ An). Sống gần gũi với học sinh và nhân
dân lao động, đồng chí sớm thấu hiểu nỗi cơ cực của công nhân và nông dân.
Năm 1924 vì lý do sức khoẻ, đồng chí Trần Phú xin thôi dạy học, về làm việc
ở Văn phòng Đốc học của tỉnh. Giữa năm 1924, đồng chí Trần Phú gặp Hồ Tùng
Mậu thành viên của tổ chức Tâm Tâm Xã, được đọc những tài liệu sách báo tiến
bộ của Nguyễn Ái Quốc. Say mê với sách báo yêu nước, đồng chí Trần Phú đã
lập tổ đọc sách nhằm tập hợp các bạn trẻ cùng chí hướng. Ngày 19/6/1924,
tiếng bom Sa Điện của Phạm Hồng Thái như “chim én báo hiệu mùa xuân” đã thức
tỉnh tinh thần yêu nước của đồng chí và nhiều thanh niên trong cả nước.
Tháng 7/1925, Hội Phục Việt tập hợp những trí thức yêu nước ra đời. Đồng chí
Trần Phú gia nhập Hội Phục Việt, hăng hái tham gia mở lớp dạy chữ quốc ngữ
cho người nghèo khổ, mượn bục giảng để truyền bá tinh thần yêu nước cho học
trò. Những hoạt động yêu nước của Hội Phục Việt và các phong trào đấu tranh
sôi động chống giới chủ, chống chế độ áp bức của thực dân Pháp đòi tăng
lương, cải thiện đời sống của công nhân ở thành phố Vinh có ảnh hưởng sâu
sắc đến sự lựa chọn con đường cách mạng của đồng chí Trần Phú. Giữa năm
1925, đồng chí đã thôi nghề dạy học để bước vào con đường hoạt động cách
mạng chuyên nghiệp.
Bước ngoặt trong cuộc đời cách mạng của đồng chí Trần Phú là được Hội
Phục Việt cử sang Quảng Châu bắt liên lạc với Hội Việt Nam Cách mạng Thanh
niên. Là thành viên của Hội Phục Việt, giữa lúc đang lúng túng về đường lối,
đồng chí Trần Phú được gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và được lãnh tụ Nguyễn Ái
Quốc trực tiếp huấn luyện, đào tạo. Tại lớp huấn luyện chính trị, đồng chí
miệt mài học tập, tỏ rõ năng khiếu tư duy lý luận cách mạng, được lãnh tụ
Nguyễn Ái Quốc tin tưởng kết nạp vào Cộng sản Đoàn, nhóm nòng cốt của Hội
Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Kết thúc khóa huấn luyện, đồng chí trở về
nước hoạt động. Bị mật thám Pháp truy lùng ráo riết, theo yêu cầu của Hội
Phục Việt, đồng chí tạm lánh ra nước ngoài hoạt động. Đồng chí đã trở lại
Quảng Châu, làm việc tại Tổng bộ Thanh niên. Được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tin
cậy, cử sang Liên Xô học ở Trường đại học Phương Đông.
Tại Trường đại học Phương Đông, đồng chí đã bộc lộ phẩm chất của một nhà
hoạt động cách mạng tài năng. Đồng chí theo học muộn 3 tháng so với các đồng
chí khác, nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, nhờ thông minh và chăm chỉ học
tập đồng chí Trần Phú đã nhanh chóng theo kịp chương trình chung. Do kết quả
học tập tốt, sau mấy tháng học đầu năm 1927, đồng chí Trần Phú được giới
thiệu vào Đảng Cộng sản Liên xô. Qua sự giới thiệu của lãnh tụ Nguyễn Ái
Quốc, Ban phương Đông của Quốc tế Cộng sản quyết định cử Trần Phú làm Bí thư
nhóm cộng sản Việt Nam tại Trường. Nhờ thông thạo nhiều ngoại ngữ, đồng chí
đã tiếp thu tốt bài giảng; có điều kiện để nghiên cứu lý luận và trao đổi
với các đồng nghiệp. Chính trong những năm tháng học tập, nghiên cứu lý luận,
tích cực tham gia hoạt động thực tiễn, đồng chí Trần Phú đã tiếp thu một
cách có hệ thống chủ nghĩa Mác – Lênin và phương pháp tổ chức theo đường lối
cách mạng vô sản. Từ một người Việt Nam yêu nước, đến với Liên Xô, đến với
lý tưởng cao cả của chủ nghĩa xã hội khoa học, đồng chí Trần Phú đã trở
thành chiến sĩ cộng sản đủ sức gánh vác những nhiệm vụ quan trọng do Quốc tế
Cộng sản và Đảng ta phân công.
2. Đồng chí Trần Phú, người dự thảo bản Luận cương chính trị
tháng10 năm 1930 của Đảng, xác định con đường phát triển của cách mạng Việt
Nam.
Tình hình cách mạng thế giới và tình hình cách mạng ở Đông Dương diễn
biến nhanh chóng. Sau khi tốt nghiệp Trường đại học Phương Đông, tháng
11/1929 đồng chí được Quốc tế Cộng sản cử về nước hoạt động với cương vị là
cán bộ chủ chốt của Đảng. Đồng chí được Đảng giao nhiệm vụ chuẩn bị dự thảo
Luận cương chính trị. Để nắm vững tình hình thực tiễn cách mạng, đồng chí
luôn tranh thủ ý kiến của các đồng chí trong Ban Chấp uỷ; trực tiếp đóng vai
“thầy đồ”, “nhà buôn”, sống cuộc đời thợ mỏ, thợ nề, thợ nhà máy xi măng… để
thâm nhập, nghiên cứu, khảo sát thực tế tình hình phong trào cách mạng của
công nhân, nông dân và hoạt động của các chi bộ cộng sản ở nhà máy, hầm mỏ…
tại Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng, Hòn Gai, Thái Bình. Sau khi khảo sát tình
hình thực tế và trao đổi với các đồng chí trong Ban Chấp uỷ, đồng chí đã
khởi thảo văn kiện Luận cương chính trị của Đảng ngay trong tầng hầm ngôi
nhà của một quan chức thực dân Pháp ở phố Giăng Xôle (nay là số nhà 90, phố
Thợ Nhuộm, Hà Nội). Tháng 10/1930, tại Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành
Trung ương Đảng họp tại Hương Cảng (Trung Quốc) đồng chí Trần Phú đã trình
bầy bản dự thảo Luận cương chính trị của Đảng và đã được Hội nghị nhất trí
thông qua.
Bản Luận cương chính trị đã phân tích sâu sắc đặc điểm tình hình thế giới
và Đông Dương; luận giải một cách sắc bén về tính chất của cuộc cách mạng ở
Đông Dương. Đó là một cuộc cách mạng tư sản dân quyền, do giai cấp công nhân
lãnh đạo; chỉ ra nhiệm vụ của cách mạng Đông Dương là đánh đổ đế quốc và
phong kiến. Đường lối cơ bản của cách mạng Đông Dương và cách mạng Việt Nam
nêu trong Luận cương chính trị tháng 10/1930, là sự khẳng định về mục tiêu
và đường lối cách mạng mà Chính cương vắn tắt của Nguyễn Ái Quốc nêu ra
tháng 2/1930.
Luận cương chính trị còn khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng trong suốt
quá trình cách mạng: “Điều kiện cốt yếu cho sự thắng lợi của cách mạng ở
Đông Dương là cần có sự lãnh đạo của một Đảng Cộng sản có đường lối chính
trị đúng đắn, có kỷ luật tập trung, liên hệ mật thiết với quần chúng và từng
trải tranh đấu mà trưởng thành. Đảng là đội tiền phong của vô sản giai cấp
lấy chủ nghĩa Các Mác và Lênin làm gốc”. (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn
kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998. t.2, tr.100).
Muốn làm tròn nhiệm vụ, Đảng phải tổ chức ra những đoàn thể độc lập như Công
hội, Nông hội...
Về lực lượng cách mạng Luận cương chính trị nêu rõ: lực lượng chủ yếu của
cách mạng là đoàn kết và động viên, tổ chức các tầng lớp nhân dân đứng lên
đập tan bộ máy chính quyền cũ, thành lập chính quyền mới; lấy giai cấp công
nhân, giai cấp nông dân làm nòng cốt do tổ chức Đảng, đảng viên trực tiếp
chỉ đạo.
Về phương pháp lãnh đạo đấu tranh cách mạng của Đảng Luận cương chính trị
chỉ rõ Đảng phải biết xác định chiến lược, sách lược trên cơ sở xem xét kỹ
tình hình trong nước và ngoài thế giới, sức mạnh của địch, sức tranh đấu của
quần chúng, thái độ của các hạng người đối với cách mạng. Đảng phải tổ chức
và khuếch trương phong trào quần chúng. Khi phong trào cách mạng lên cao,
quần chúng công - nông sôi nổi cách mạng, thì lúc đó Đảng phải lập tức lãnh
đạo quần chúng đánh đổ chính phủ thực dân, giành chính quyền về tay nhân dân.
Luận cương chính trị đã đặt mối quan hệ của cách mạng Đông Dương trong
mối quan hệ mật thiết với phong trào cách mạng thế giới; phải liên lạc với
cách mạng ở các nước thuộc địa và bán thuộc địa.
Cống hiến lý luận của bản Luận cương chính trị do đồng chí Trần Phú khởi
thảo là đã làm rõ mục đích, nhiệm vụ, bước đi, động lực cách mạng, vai trò
lãnh đạo của giai cấp vô sản và Đảng của giai cấp vô sản, tầm quan trọng của
sức mạnh đoàn kết quốc tế đối với cách mạng Việt Nam. Những nội dung này về
cơ bản thống nhất với Chính cương vắn tắt do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn
thảo tại Hội nghị hợp nhất tháng 2/1930. Luận cương chính trị tháng 10/1930
của Đảng là một văn kiện lịch sử, góp phần cụ thể hoá một số vấn đề về đường
lối cách mạng tư sản dân quyền ở nước ta, có phần đóng góp quan trọng của
đồng chí Trần Phú.
3. Đồng chí Trần Phú, Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng - người
có nhiều đóng góp to lớn về công tác xây dựng Đảng và tổ chức cách mạng của
quần chúng.
Chỉ trong một thời gian ngắn, từ tháng 7/1930 đến đầu tháng 10/1930 sống
trong điều kiện bị địch truy lùng gắt gao; ban ngày đồng chí cải trang đi
khảo sát thực tế ở địa phương, khuya về dự thảo văn kiện; điều kiện làm việc
khó khăn, di chuyển địa điểm nhiều lần, nhưng đồng chí Trần Phú đã trực tiếp
biên soạn dự thảo nhiều văn kiện, chỉ đạo biên soạn hàng loạt văn kiện quan
trọng của Đảng mở đường cho phong trào cách mạng và bước phát triển đi lên
của cả dân tộc. Điều đó thể hiện rõ năng lực và sự làm việc phi thường của
đồng chí Trần Phú.
Dưới sự chủ trì của đồng chí Trần Phú, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương
Đảng lần thứ nhất họp tháng 10/1930 tại Hương Cảng (Trung Quốc), cùng với
việc thông qua Luận cương chính trị, Hội nghị đã thảo luận và thông qua
nhiều văn kiện quan trọng, liên quan trực tiếp đến công tác tổ chức của Đảng,
công tác dân vận, công tác mặt trận đặt nền móng cho việc hình thành một số
tổ chức quần chúng quan trọng của Đảng như: Hội Nông dân, Hội liên hiệp Phụ
nữ, Đoàn Thanh niên Cộng sản…
Hội nghị Trung ương tháng 10/1930 đã chính thức bầu đồng chí là Tổng Bí
thư đầu tiên của Đảng. Trên cương vị Tổng Bí thư của Đảng, Trưởng Ban Công
vận Trung ương đồng chí Trần Phú đã có những đóng góp to lớn trong việc xây
dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, tranh thủ mọi điều kiện để
trang bị lý luận Mác – Lênin cho cán bộ, đảng viên. Đồng chí cùng Ban Thường
vụ Trung ương Đảng quyết định ra tờ báo Cờ Vô sản, cơ quan ngôn luận
Trung ương của Đảng; Tạp chí Cộng sản, cơ quan lý luận của Đảng; chỉ
đạo lập Hội Phản đế đồng minh, chỉnh đốn Nông hội đỏ, chống chính sách khủng
bố trắng, chống âm mưu thâm độc của kẻ thù buộc nông dân ra đầu thú. Được sự
quan tâm theo dõi chặt chẽ và chỉ đạo sát sao của đồng chí Trần Phú và Ban
Thường vụ Trung ương Đảng trong thời kỳ 1930 - 1931, khí thế phong trào cách
mạng của quần chúng nhân dân trong cả nước đã bùng lên mạnh mẽ. Tổ chức Nông
hội đỏ phát triển nhanh chóng, đội ngũ hội viên năm 1931 lên tới 64.000
người. Tại một số tỉnh và thành phố lớn như Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, Hà
Nội, Nghệ An, Hà Tĩnh, Mỹ Tho, Bến Tre, Quảng Ngãi, vùng mỏ Quảng Ninh…những
cuộc biểu tình và bãi công của công nhân diễn ra liên tiếp. Bộ Tham mưu tối
cao của Đảng đặt tại Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, do Tổng Bí thư Trần Phú
đứng đầu đã thực hiện sứ mệnh lịch sử, tạo ra cao trào cách mạng 1930 - 1931
mà đỉnh cao là Xôviết Nghệ Tĩnh.
Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ hai diễn ra tại Sài Gòn vào
tháng 3/1931, dưới sự chủ trì của đồng chí Trần Phú, Hội nghị đã phân tích,
đánh giá phong trào cách mạng sôi nổi diễn ra khắp cả nước, cả ưu điểm và
thiếu sót của các phong trào công nhân, nông dân ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng
Ngãi, Mỹ Tho, Bến Tre… giúp cho Đảng ta rút ra những kinh nghiệm quý báu để
chỉ đạo quần chúng đấu tranh chống cuộc khủng bố trắng của kẻ thù.
Một cống hiến nổi bật của đồng chí trên cương vị Tổng Bí thư của Đảng là
đã cùng với Ban Chấp hành Trung ương xây dựng và củng cố tổ chức Đảng các
cấp từ Trung ương tới các Xứ uỷ, Tỉnh uỷ, Huyện uỷ và các chi bộ cơ sở của
Đảng. Đồng chí đã chỉ đạo tổ chức tốt công tác giao thông liên lạc từ Trung
ương đến Xứ ủy, Tỉnh ủy, từ Trung ương đến Quốc tế Cộng sản. Quốc tế Cộng
sản đánh giá cao hoạt động của Đảng ta, trong đó có công lao của Tổng Bí thư
Trần Phú. Ngày 11/4/1931, tại phiên họp thứ 25 Hội nghị toàn thể lần thứ XI
của Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản đã đưa ra Nghị quyết: Đảng Cộng sản Đông
Dương trước đây là một chi bộ của Đảng Cộng sản Pháp, từ nay được công nhận
là một chi bộ của Quốc tế Cộng sản. Quyết nghị này sẽ được đưa ra thông qua
trong Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản.
4. Đồng chí Trần Phú, tấm gương sáng ngời về lòng trung thành
tuyệt đối với Đảng, bất khuất trước kẻ thù, cống hiến trọn đời cho sự nghiệp
cách mạng của Đảng và dân tộc.
Đồng chí Trần Phú giữ cương vị Tổng Bí thư của Đảng được hơn 5 tháng, một
thời gian không dài, nhưng sự cống hiến cho Đảng, cho đất nước và nhân dân
thật lớn lao. Đồng chí sống giản dị, đạm bạc. Tuy trong người mắc phải chứng
bệnh hiểm nghèo, nhưng bất chấp ốm đau, đồng chí luôn tranh thủ mọi thời
gian, sức lực cống hiến cho Đảng, cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Giữa lúc phong trào cách mạng nước ta đang có những bước phát triển mới,
Trung ương Đảng đang triển khai nhiều chủ trương quan trọng, do có kẻ phản
bội khai báo, đồng chí Trần Phú đã bị địch bắt 8 giờ sáng ngày 18/4/1931.
Bọn giặc đưa đồng chí về giam tại Khám lớn - Sài Gòn. Biết đồng chí là lãnh
đạo cao cấp của Đảng ta, kẻ thù đã dùng mọi cực hình để tra tấn, song chúng
đã phải lùi bước trước tinh thần gang thép của đồng chí. Trước những hành
động tra tấn dã man hoặc thủ đoạn dụ dỗ, mua chuộc, đồng chí luôn chủ động
tiến công: “Tôi biết nhiều người là để làm việc cho Đảng tôi, nước tôi,
chứ không phải khai cho các ông bắt bớ”. Tại bốt Catina, kẻ thù hèn hạ
cắt gan bàn chân của đồng chí, rồi nhét bông vào tẩm xăng đốt, đồng chí vẫn
kiên quyết, nửa lời không nói. Trong lao tù, đồng chí Trần Phú đã cùng với
các đồng chí khác tổ chức nhiều cuộc đấu tranh tuyệt thực để lên án chế độ
nhà tù dã man, vô nhân đạo. Đồng chí luôn luôn bình tĩnh, sáng suốt truyền
niềm tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng đến các đồng chí cùng bị giam;
tranh thủ mọi cơ hội để liên hệ, dặn dò mọi người phải giữ gìn bí mật của
Đảng và không ngừng học tập, để sau này tiếp tục làm cách mạng.
Ba tháng bị địch giam cầm, tra tấn dã man, sức khỏe của đồng chí bị giảm
sút rất nhanh, căn bệnh cũ tái phát, phút lâm chung đồng chí nắm tay một
đồng chí bạn tù cùng nằm ở nhà thương dặn lại: “Trước sau tôi chỉ mong
anh chị em hãy giữ vững chí khí chiến đấu”. Đồng chí Trần Phú, Tổng Bí
thư đầu tiên của Đảng ta đã trút hơi thở cuối cùng vào ngày 6/9/1931 ở nhà
thương Chợ Quán, Sài Gòn trên tay bạn bè đồng chí của mình. Năm ấy đồng chí
mới bước vào tuổi 27, độ tuổi tài năng đang phát triển để cống hiến cho cách
mạng. Cuộc đời của Tổng Bí thư Trần Phú tuy ngắn ngủi, nhưng đã kịp hoàn
thành nhiều việc lớn cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.
Tổng Bí thư Trần Phú mất đi là một tổn thất to lớn đối với Đảng ta và
phong trào cách mạng của nhân dân ta, đối với phong trào cộng sản và công
nhân quốc tế giai đoạn đó. Trong bài tưởng nhớ đồng chí Trần Phú năm 1932
lưu trữ tại Hồ sơ Quốc tế Cộng sản đã khẳng định: “Sự nghiệp cách mạng,
niềm tin và phẩm chất cao đẹp của Tổng Bí thư Trần Phú trong nhà tù đế quốc
sẽ mãi mãi là tấm gương bất diệt cho những người cộng sản trên toàn thế giới,
đặc biệt là những người cộng sản ở Đông Dương”.Hồ Chủ tịch trong
bài Đạo đức cách mạng, đăng trên Tạp chí Cộng sản tháng 12/1958 đã
viết: “Trong Đảng ta, các đồng chí Trần Phú, Ngô Gia Tự, Lê Hồng Phong,
Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Thị Minh Khai và nhiều đồng chí khác đã
vì dân, vì Đảng mà oanh liệt hy sinh, đã nêu gương chói lọi của đạo đức cách
mạng chí công vô tư cho tất cả chúng ta học tập”.
III. Phát huy tinh thần “giữ vững ý chí chiến đấu” của đồng
chí Trần Phú, Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới
Trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động phức tạp: cuộc khủng
hoảng tài chính và suy thoái kinh tế ở nhiều nước còn diễn biến khó lường;
các nước lớn điều chỉnh chính sách để tranh giành ảnh hưởng; các mâu thuẫn
lớn của thời đại vẫn rất gay gắt; khu vực châu Á – Thái Bình Dương và Đông
Nam Á vẫn tiềm ẩn nhân tố mất ổn định.
Bước sang giai đoạn đổi mới toàn diện, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, hội nhập quốc tế, thế và lực của nước ta đã lớn mạnh hơn nhiều
so với trước, bên cạnh những thuận lợi cơ bản, cơ hội và thách thức vẫn đan
xen. Nền kinh tế toàn cầu suy giảm, đã ảnh hưởng đến nước ta. Các thế lực
thù địch đang gia tăng thực hiện thủ đoạn “diễn biến hòa bình”. Cán bộ, đảng
viên và nhân dân ta đang phải đối mặt với cuộc chiến đấu mới không kém phần
cam go, quyết liệt: cuộc đấu tranh chống các thế lực thù địch chia rẽ khối
đại đoàn kết dân tộc để giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ;
chống lại đói nghèo, tụt hậu để tiến cùng thời đại; cuộc chiến đấu chống xâm
lăng văn hóa để giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc…trong quá trình đổi mới và
trong cuộc chiến đấu ấy lời dặn “hãy giữ vững chí khí chiến đấu” của đồng
chí Trần Phú luôn là lời nhắc nhở thôi thúc chúng ta kiên trì mục tiêu có
tính nguyên tắc độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trên nền tảng
chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quyết tâm vững bước đi theo con
đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn.
Kỷ niệm 105 năm Ngày sinh đồng chí Trần Phú, Tổng Bí thư đầu tiên của
Đảng giữa lúc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân triển khai thực hiện Cuộc vận
động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đạt được kết quả
bước đầu quan trọng. Tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng,
toàn Đảng, toàn dân, toàn quân quyết tâm thực hiện làm theo tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của
Đảng, chăm lo xây dựng, chỉnh đốn Đảng để làm cho Đảng ta thật sự trong sạch,
vững mạnh, ngang tầm nhiệm vụ lãnh đạo của thời kỳ mới; nâng cao năng lực
hoạch định đường lối, chính sách; năng lực tổ chức thực hiện; năng lực
nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tạo sự thống nhất nhận thức và hành
động trong Đảng; đổi mới phương thức lãnh đạo Mặt trận và các đoàn thể chính
trị - xã hội, tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân. Đẩy mạnh
toàn diện công cuộc đổi mới trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: từ
tư duy, nhận thức đến hoạt động thực tiễn; từ kinh tế, chính trị, văn hóa,
xã hội đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại; từ hoạt động lãnh đạo của Đảng,
quản lý của Nhà nước đến hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ
chức chính trị - xã hội; từ hoạt động của cấp Trung ương đến hoạt động của
địa phương, cơ sở. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của
dân, do dân, vì dân; đẩy mạnh cải cách hành chính xây dựng nền hành chính
trong sạch, lành mạnh, hiệu quả; làm cho mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân
thấm nhuần đạo đức cách mạng, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và tấm
gương các chiến sĩ cộng sản tiền bối.
Kỷ niệm 105 năm Ngày sinh đồng chí Trần Phú, Tổng Bí thư đầu tiên của
Đảng, là dịp để tôn vinh một tấm gương tiêu biểu cho lớp thanh niên yêu nước,
khát khao lý tưởng và tràn đầy nhiệt huyết cách mạng; một trong những nhà lý
luận cách mạng tiên phong có đóng góp quan trọng vào việc xây dựng Đảng ta
về chính trị, tư tưởng và tổ chức; một tấm gương ngời sáng về lòng trung
thành tuyệt đối với Đảng, bất khuất trước kẻ thù; một chiến sĩ cộng sản kiên
cường, mẫu mực hiến dâng trọn đời cho lý tưởng giải phóng dân tộc và lý
tưởng cộng sản. Giúp thế hệ trẻ trau dồi đạo đức cách mạng, noi gương Tổng
Bí thư Trần Phú và các nhà cách mạng tiền bối, không ngừng phấn đấu đi theo
lý tưởng của Đảng, đi đầu trong việc nghiên cứu ứng dụng khoa học, kỹ thuật
và công nghệ mới vào sản xuất và đời sống; thi đua lập nghiệp, lao động sáng
tạo, tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng. Động viên cao độ sức mạnh của mọi
tầng lớp nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cộng đồng người
Việt Nam ở nước ngoài, phát huy mọi nguồn lực, mọi thành phần kinh tế; phát
huy sức mạnh của truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc và ý chí kiên cường
của người Việt Nam chủ động, sáng tạo thực hiện đồng bộ các giải pháp để
kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội, tăng
trưởng bền vững; thi đua thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ X của Đảng để sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng nước
nghèo kém phát triển, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công
nghiệp theo hướng hiện đại; thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh ./.
(Nguồn:Ban Tuyên giáo Trung
ương)
[Về đầu
trang]
Đề cương tuyên truyền kỷ
niệm 55 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7/5/1954 – 7/5/2009)
I. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, mốc vàng trong lịch sử
dân tộc, mang tầm vóc thời đại to lớn.
1. Bối cảnh lịch sử
Thực dân Pháp được sự hỗ trợ của các thế lực đế quốc đã quay trở lại xâm
lược nước ta. Ngày 19/12/1946 với tinh thần “thà hy sinh tất cả, chứ nhất
định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” toàn Đảng, toàn
dân, toàn quân ta đã nhất tề đáp lời Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của
Hồ Chủ tịch, anh dũng bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ chống kẻ
thù xâm lược.
Thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức
mình là chính, với vũ khí thô sơ và tinh thần “cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”,
quân và dân ta đã lần lượt đánh bại các chiến lược quân sự của thực dân Pháp.
Quân ta càng đánh, càng mạnh, càng thắng, quân viễn chinh Pháp càng ngày
càng lún sâu vào thế bị động, lúng túng. Vùng giải phóng mở rộng, chính
quyền dân chủ nhân dân được củng cố. Đến năm 1953, nhân dân và quân đội ta
đã làm chủ trên chiến trường, tạo ra sự so sánh lực lượng có lợi cho ta.
Để cứu vãn tình thế, bước vào Thu – Đông năm 1953, thực dân Pháp và can
thiệp Mỹ đã cho ra đời Kế hoạch Nava tăng viện lớn về binh lực và chi phí
chiến tranh, mưu toan trong vòng 18 tháng sẽ tiêu diệt phần lớn bộ đội chủ
lực của ta, kiểm soát lãnh thổ Việt Nam và bình định cả Nam Đông Dương. Kế
hoạch Nava là kế hoạch chung, là nỗ lực cuối cùng của thực dân Pháp và can
thiệp Mỹ nhằm giành lại thế chủ động có tính quyết định về quân sự trên
chiến trường, làm cơ sở cho một giải pháp chính trị có lợi cho chúng. Để đạt
được mục tiêu đó, Pháp và Mỹ đã lập kế hoạch đến năm 1954 quân chủ lực Pháp
có 7 sư đoàn cơ động chiến lược với 27 binh đoàn làm nắm đấm thép.
Về phía ta, tháng 9/1953, Bộ Chính trị họp bàn và quyết định mở cuộc tiến
công chiến lược Đông – Xuân với phương châm: tích cực, chủ động, cơ động,
linh hoạt, tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta, chọn nơi địch sơ
hở và nơi tương đối yếu mà đánh, chọn những hướng địch có thể đánh sâu vào
vùng tự do, đẩy mạnh chiến tranh du kích, giữ vững thế chủ động, kiên quyết
buộc địch phải phân tán lực lượng. Quân và dân ta đã phối hợp với quân và
dân Lào, Campuchia liên tiếp mở chiến dịch và giành thắng lợi ở Lai Châu,
Trung Lào, Hạ Lào, Đông Campuchia, Tây Nguyên và Thượng Lào, tiêu diệt nhiều
sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng, làm phá sản âm mưu tập trung lực
lượng của địch, buộc quân Pháp phải phân tán lực lượng để đối phó trên khắp
chiến trường Đông Dương, đẩy chúng vào tình thế bị động chiến lược. Khi phát
hiện hướng tiến công chiến lược của ta vào Tây Bắc, Lai Châu và Thượng Lào,
Bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp đã cho quân nhảy dù chiếm Điện Biên Phủ.
Điện Biên Phủ là cứ điểm có ý nghĩa chiến lược khống chế cả một vùng rộng
lớn của Tây Bắc và Thượng Lào. Tuy là kế hoạch nằm ngoài dự kiến ban đầu của
Kế hoạch Nava của Pháp và Mỹ, nhưng các tướng lĩnh Pháp và Mỹ đã liên tiếp
cho tăng cường lực lượng, xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm
mạnh nhất Đông Dương. Địch đã cho tập trung ở đây 16.200 quân gồm 21 tiểu
đoàn trong đó có 17 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn
công binh, 1 đại đội xe tăng, 1 phi đội không quân, 1 đại đội vận tải cơ
giới. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được bố trí thành 3 phân khu Bắc, Trung,
Nam với 49 cứ điểm, huy động toàn bộ lính dù và 40% lực lượng cơ động tinh
nhuệ nhất của Pháp ở Đông Dương; hệ thống hoả lực mặt đất khá mạnh với 2
tiểu đoàn pháo 105mm, 1 đại đội pháo 155mm, 1 đại đội súng cối 120mm được bố
trí ở Mường Thanh và Hồng Cúm; hai sân bay Mường Thanh và Hồng Cúm với gần
100 lần chiếc lên, xuống mỗi ngày có thể vận chuyển khoảng 200 đến 300 tấn
hàng và thả dù từ 100 đến 150 tên địch, đảm bảo nguồn tiếp viện cho quân
Pháp trong quá trình tác chiến. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ là tập đoàn
cứ điểm phòng ngự mạnh nhất của Pháp ở Đông Dương lúc bấy giờ. Nava coi Điện
Biên Phủ như “ một pháo đài không thể công phá”, là nơi thu hút để tiêu diệt
bộ đội chủ lực của ta. Điện Biên Phủ đã trở thành quyết chiến điểm của Kế
hoạch Nava.
Trước tình hình đó, ngày 6/12/1953, Bộ Chính trị họp và nhận định Điện
Biên Phủ là tập đoàn cứ điểm mạnh nhưng chỗ yếu cơ bản của địch là bị cô lập.
Về phía ta, Điện Biên Phủ là một trận công kiên lớn nhất từ trước tới nay;
diễn ra trên địa bàn rừng núi hiểm trở, đường cơ động cho pháo khó khăn,
thời gian chuẩn bị cho chiến dịch gấp. Nhưng chiến dịch Điện Biên Phủ có ý
nghĩa quân sự, chính trị và ngoại giao rất quan trọng; khó khăn lớn nhất của
ta là vấn đề cung cấp hậu cần nhưng chúng ta có thể khắc phục được. Bộ Chính
trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ và thông qua phương án tác chiến,
thành lập Bộ Chỉ huy chiến dịch, Đảng uỷ mặt trận do Đại tướng Võ Nguyên
Giáp làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng uỷ chiến dịch. Chính phủ quyết định thành
lập Hội đồng cung cấp mặt trận do đồng chí Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch. Với ý
nghĩa đặc biệt quan trọng của chiến dịch Bộ Chính trị và Tổng Quân uỷ đã
quyết định tập trung 4 đại đoàn bộ binh, 1 đại đoàn công pháo với tổng quân
số trên 40.000. Chấp hành quyết định của Bộ Chính trị, mọi công việc chuẩn
bị cho chiến dịch được tiến hành khẩn trương; cả nước đã tập trung sức mạnh
cho mặt trận Điện Biên Phủ với khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để
chiến thắng”, các đơn vị bộ đội chủ lực nhanh chóng tập kết, ngày đêm bạt
rừng, xẻ núi mở đường, kéo pháo, xây dựng trận địa, sẵn sàng tiến công địch;
261.451 dân công, thanh niên xung phong bất chấp bom đạn hướng về Điện Biên
bảo đảm hậu cần phục vụ chiến dịch.
2. Diễn biến của chiến dịch
Ngày 25/1/1954, các đơn vị bộ đội ta ở vị trí tập kết sẵn sàng nổ súng
theo phương châm tác chiến “đánh nhanh, giải quyết nhanh”. Nhưng nhận thấy
địch đã tăng cường lực lượng phòng ngự vững chắc, Bộ Chỉ huy và Đảng uỷ
chiến dịch đã đưa ra quyết định đúng đắn: giữ vững quyết tâm tiêu diệt tập
đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, thay đổi phương châm tác chiến sang “đánh chắc,
tiến chắc”. Đây là quyết định đúng đắn nhưng ta cũng gặp không ít khó khăn.
Đó là, thời gian tác chiến dài hơn, cách đánh cũng khác nên có những việc ta
phải chuẩn bị lại từ đầu, nhất là việc tổ chức, bố trí hệ thống hoả lực
chiến dịch. Với địa hình hiểm trở, pháo của ta kéo vào tập trung tại trận
địa đã khó khăn, nay thay đổi phương châm tác chiến lại phải kéo pháo phân
tán ra các trận địa mới trên các điểm cao tạo thành vòng cung bao vây tập
đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, để bắn trực tiếp vào các mục tiêu dưới lòng chảo
càng khó khăn hơn. Với tinh thần quả cảm, không quản ngại gian khổ, hy sinh,
quân và dân ta đã tìm mọi cách vượt qua thử thách hoàn thành xuất sắc nhiệm
vụ.
Trận quyết chiến lược Điện Biên Phủ đã diễn ra 3 đợt.
Đợt 1: Từ ngày 13 đến 17/3/1954, quân ta đã mưu trí dũng cảm tiêu diệt gọn cứ
điểm Him Lam và Độc Lập, bức hàng cứ điểm Bản Kéo, phá vỡ cửa ngõ phía Bắc
của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ; diệt và bắt sống trên 2000 tên địch, phá
hủy 25 máy bay, xóa sổ 1 trung đoàn, uy hiếp sân bay Mường Thanh; Pi rốt, Tư
lệnh pháo binh Pháp ở Điện Biên Phủ bất lực trước pháo binh của ta đã dùng
lựu đạn tự sát.
Đợt 2:
Từ ngày 30/3 đến ngày 30/4/1954, quân ta đồng loạt tiến công các cứ điểm
phía Đông phân khu trung tâm thắt chặt vòng vây, chia cắt và liên tục tiến
công, kiểm soát sân bay Mường Thanh, hạn chế tiếp viện của địch cho tập đoàn
cứ điểm. Địch hết sức ngoan cố, muốn kéo dài thời gian. Na va hy vọng đến
mùa mưa ta phải cởi vòng vây. Đây là đợt tấn công dai dẳng, dài ngày nhất,
quyết liệt nhất, gay go nhất, ta và địch giành giật nhau từng tấc đất, từng
đoạn giao thông hào. Đặc biệt tại đồi C1 ta và địch giằng co nhau tới 20
ngày, đồi A1 giằng co tới 30 ngày. Sau đợt tấn công thứ 2 khu trung tâm Điện
Biên Phủ đã nằm trong tầm bắn các loại súng của ta, quân địch rơi vào tình
trạng bị động, mất tinh thần cao độ.
Đợt 3: Từ ngày 1/5 đến ngày 7/5/1954, quân ta đánh chiếm các cứ điểm phía Đông
và mở đợt tổng công kích tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.
Đêm ngày 6/5/1954, tại đồi A1 trận chiến đấu giữa ta và địch diễn ra quyết
liệt, quân ta ào ạt xông lên tiêu diệt các lô cốt và dùng thuốc nổ phá các
hầm ngầm. Tên quan Tư chỉ huy đồi A1 và khoảng 400 tên địch còn sống sót đã
phải xin đầu hàng. 17 giờ 30 phút ngày 7/5/1954, ta chiếm sở chỉ huy của
địch, tướng Đờ Cát cùng toàn bộ Bộ Tham mưu và binh lính tập đoàn cứ điểm
Điện Biên Phủ phải ra hàng. Lá cờ “quyết chiến, quyết thắng” của quân đội ta
tung bay trên nóc hầm chỉ huy của địch. Ngay trong đêm đó quân ta tiếp tục
tiến công phân khu Nam, đánh địch tháo chạy về Thượng Lào, đến 24 giờ toàn
bộ quân địch đã bị bắt làm tù binh.
Sau 55 ngày đêm chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo quân và dân ta đã
đập tan toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tiêu diệt và bắt sống 16.200
tên, bắn rơi 62 máy bay, thu 64 ô tô và toàn bộ vũ khí, đạn dược, quân trang
quân dụng của địch.
Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 – 1954 với đỉnh cao là chiến
dịch Điện Biên Phủ là một trận quyết chiến chiến lược, một trận tiêu diệt
điển hình nhất, là trận đầu đánh thắng Mỹ, trực tiếp đưa đến việc ký Hiệp
định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Đông Dương. Tạo cơ
sở và điều kiện để nhân dân ta tiến lên giành thắng lợi vĩ đại trong cuộc
kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
II. Nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của chiến thắng
Điện Biên Phủ
1. Nguyên nhân thắng lợi
- Đảng ta, đứng đầu là Hồ Chủ tịch đã đề ra đường lối kháng chiến, đường
lối quân sự độc lập, đúng đắn, sáng tạo. Kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ chiến
lược chống đế quốc và phong kiến, vừa kháng chiến vừa kiến quốc xây dựng chế
độ mới. Ngay từ ngày đầu chống thực dân Pháp xâm lược, Đảng ta đã lãnh đạo
nhân dân thực hiện cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, dựa vào sức mình là
chính; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân gồm 3 thứ quân (bộ đội chủ lực,
bộ đội địa phương, dân quân du kích) làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc,
kết hợp chặt chẽ chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy; tiến công
quân sự, địch vận và nổi dậy của quần chúng; đấu tranh quân sự với đấu tranh
chính trị, kinh tế, văn hoá, ngoại giao. Trong trận quyết chiến chiến lược
Điện Biên Phủ, lòng yêu nước và tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”
đã tạo nên tinh thần quyết chiến, quyết thắng của toàn Đảng, toàn dân, toàn
quân, quyết tâm đánh thắng kẻ thù xâm lược, giành độc lập, tự do cho dân tộc.
- Nhân dân ta rất anh hùng, từ nông thôn đến thành thị, từ miền núi đến
miền xuôi, từ trẻ đến già nghe theo lời kêu gọi của Đảng và Bác Hồ đã phát
huy cao độ tinh thần yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng ra sức thi đua
xây dựng hậu phương vững chắc, thi đua giết giặc lập công, đóng góp sức
người, sức của bảo đảm đầy đủ mọi điều kiện cho chiến trường, tiếp thêm ý
chí quyết chiến, quyết thắng cho các lực lượng vũ trang ngoài mặt trận.
- Các lực lượng vũ trang nhân dân ta trưởng thành vượt bậc về tư tưởng
chính trị, lực lượng, tổ chức chỉ huy, trình độ tác chiến, trang thiết bị
quân sự và bảo đảm hậu cần cho chiến dịch quân sự quy mô lớn chưa từng có;
chấp hành nghiêm mệnh lệnh chiến trường vượt qua mọi khó khăn, thử thách,
mưu trí, sáng tạo, dũng cảm hy sinh lập nhiều chiến công trên khắp chiến
trường Đông Dương, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ở chiến trường Điện Biên Phủ.
- Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ còn có sự chi viện, cổ vũ và ủng hộ
của các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào đấu tranh vì hoà bình của nhân dân
tiến bộ trên toàn thế giới, trong đó có cả nhân dân Pháp, đặc biệt là của
các nước trên bán đảo Đông Dương cùng chung chiến hào, đã tạo nên sức mạnh
thời đại của chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.
2. Ý nghĩa lịch sử
2.1- Đối với nhân dân ta
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta chiến thắng lịch sử
Điện Biên Phủ là một trong những đỉnh cao chói lọi, một kỳ tích vẻ vang của
thời đại Hồ Chí Minh.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chiến thắng lịch sử Điện Biên
Phủ là chiến thắng vĩ đại nhất, giáng đòn quyết định tạo bước ngoặt lịch sử
làm thay đổi hẳn cục diện chiến tranh giữa ta và địch trực tiếp đưa đến việc
ký kết Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông
Dương.
Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến
chín năm chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ; chấm dứt hoàn toàn ách xâm
lược của thực dân Pháp trên đất nước ta và các nước trên bán đảo Đông Dương;
bảo vệ và phát triển thành quả cách mạng Tháng Tám; một nửa nước được giải
phóng, tạo cơ sở và điều kiện vững chắc để nhân dân ta tiến lên giành thắng
lợi vĩ đại trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ giải phóng miền Nam,
thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã làm tăng niềm tự hào dân tộc, niềm
tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch
Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện; cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân một
lòng, một dạ chiến đấu dưới lá cờ vẻ vang của Đảng vì nền độc lập, tự do của
Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.
2.1 - Đối với thế giới
Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ mang tầm vóc thời đại, góp phần to lớn
vào phong trào đấu tranh vì hoà bình, tiến bộ của nhân loại.
Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ giáng một đòn chí mạng vào nền móng của
thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, đánh sập thành luỹ của chủ nghĩa thực dân cũ
ở vị trí xung yếu nhất, đánh dấu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên
phạm vi toàn thế giới; báo hiệu sự thất bại chiến lược toàn cầu phản cách
mạng của chủ nghĩa thực dân mới do đế quốc Mỹ cầm đầu.
Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là chiến thắng chung của các nước trên
bán đảo Đông Dương, chiến thắng của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế,
của phong trào đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ xã hội trên toàn thế giới.
Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ của dân tộc ta đã chứng minh một chân
lý của thời đại: các dân tộc bị áp bức, bị xâm lược nếu có ý chí kiên cường
và đường lối đúng đắn, sáng tạo, biết đoàn kết đấu tranh vì độc lập tự do
thì dân tộc đó nhất định thắng lợi; đã thôi thúc và cổ vũ các nước thuộc địa
ở châu Á, châu Phi, Mỹ la tinh đứng lên đấu tranh tự giải phóng, thoát khỏi
ách xâm lược của chủ nghĩa thực dân, đế quốc.
III. Phát huy tinh thần “quyết chiến, quyết thắng” của Điện
Biên Phủ, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta chủ động nắm bắt thời cơ, vượt
mọi khó khăn, thử thách xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa.
Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã giáng đòn quyết định, đập tan nỗ lực
cuối cùng của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, trực tiếp đưa đến việc ký kết
Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Đông Dương. Một
nửa nước được giải phóng, mở ra thời kỳ cách mạng mới đưa miền Bắc quá độ
lên chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương vững chắc cho sự nghiệp đấu tranh giải
phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã trở thành
di sản tinh thần quý báu. Tiếp nối chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm
1954 dân tộc ta đã viết tiếp bản anh hùng ca chói lọi trong thời đại Hồ Chí
Minh lập chiến công hiển hách Điện Biên Phủ trên không năm 1972; Chiến dịch
Hồ Chí Minh năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, đưa cả nước đi lên chủ
nghĩa xã hội; giành được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trong
công cuộc đổi mới hơm 20 năm qua đưa đất nước ta lên một tầm cao mới, thế và
lực mới, chủ động hội nhập quốc tế.
Kỷ niệm 55 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ chúng ta tự hào về Đảng
Cộng sản Việt Nam quang vinh, một Đảng Mác – Lênin chân chính; tự hào về Chủ
tịch Hồ Chí Minh, nhà văn hóa kiệt xuất - anh hùng giải phóng dân tộc, người
sáng lập và rèn luyện Đảng ta; tự hào về dân tộc anh hùng, về các lực lượng
vũ trang nhân dân, về Quân đội nhân dân Việt Nam bách chiến, bách thắng.
Hiện nay tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động: Các nước lớn
tranh giành ảnh hưởng, xu thế hình thành thế giới đa cực ngày càng rõ sẽ tác
động đến tình hình chính trị và kinh tế thế giới; cuộc khủng hoảng tài chính
và suy giảm kinh tế ở nhiều nước còn diễn biến phức tạp; chiến tranh cục bộ,
xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, hoạt động khủng bố vẫn diễn
ra có thể gây mất ổn định ở khu vực và nhiều nơi trên thế giới.
Sau hơn 20 năm đổi mới, thế và lực của đất nước ta đã lớn mạnh, nhưng bên
cạnh những thuận lợi cơ bản, cơ hội và thách thức vẫn đan xen các thế lực
thù địch gia tăng thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ,
lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân quyền…để can thiệp vào công
việc nội bộ nước ta, chống phá Đảng, Nhà nước và sự nghiệp đổi mới của nhân
dân ta. Tình hình đó đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải mài sắc
cảnh giác, phát huy cao độ nội lực; phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết
toàn dân tộc mà nòng cốt là liên minh công nhân - nông dân - trí thức dưới
sự lãnh đạo của Đảng; giữ vững và không ngừng tăng cường đoàn kết quân dân,
đoàn kết hữu nghị với nhân dân và Quân đội các nước theo truyền thống của
Đảng, của dân tộc và của Quân đội ta; kết hợp sức mạnh thời đại, tạo dựng
thời cơ, vượt qua thách thức, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Các thế hệ đi trước không cam chịu làm nô lệ đã phát huy cao độ chủ nghĩa
anh hùng cách mạng, dũng cảm, sáng tạo đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, hoàn
thành vẻ vang sự nghiệp giải phóng dân tộc. Các thế hệ ngày nay quyết tâm
phát huy tinh thần Điện Biên Phủ, dám nghĩ, dám làm, năng động sáng tạo
trong sự nghiệp đổi mới, lập nên kỳ tích mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc.
Tiếp tục xây dựng và củng cố nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng
thế trận quốc phòng - an ninh vững chắc, nâng cao tiềm lực quốc phòng. Tăng
cường công tác quản lý nhà nước về quốc phòng, nâng cao chất lượng, hiệu quả
công tác giáo dục quốc phòng, chất lượng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành
phố. Kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng - an ninh - kinh tế - đối ngoại. Chú
trọng xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng trên tuyến biên giới, vùng sâu,
vùng xa, tạo thế trận quốc phòng - an ninh bảo vệ Tổ quốc, phát triển kinh
tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, xoá đói giảm nghèo, xây dựng “thế
trận lòng dân” vững chắc ở các địa bàn chiến lược. Tổ chức các lực lượng vũ
trang hợp lý, đồng bộ, cân đối giữa bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân
quân tự vệ, các quân binh chủng phù hợp với yêu cầu tác chiến mới. Tiếp tục
nâng cao chất lượng tổng hợp, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân
cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có bản lĩnh chính trị
vững vàng, trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân đủ sức
hoàn thành mọi nhiệm vụ trong tình hình mới. Tinh thần bất diệt của chiến
thắng lịch sử Điện Biên Phủ mãi mãi là niềm tự hào, là nguồn sức mạnh tiếp
sức cho dân tộc ta giành những thắng lợi mới trên chặng đường xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
IV. Điện Biên trên đường đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 4, tháng 11/2003 quyết định tách tỉnh Lai
Châu thành hai tỉnh Lai châu và Điện Biên. Đây là sự kiện quan trọng tạo thế
và lực mới để vùng đất chứa trong mình sự kiện chấn động địa cầu phát triển
mạnh hơn trong sự nghiệp đổi mới của Đảng, giữ vững và phát huy truyền thống
Điện Biên Phủ anh hùng.
Điện Biên là tỉnh vùng cao, nằm ở phía tây Bắc của Tổ quốc là địa bàn
chiến lược trong thế trận quốc phòng toàn dân, có đường biên giới với Lào và
Trung Quốc. Diện tích tự nhiên 9.954,12 km2, dân số 46 vạn người,
thuộc 21 dân tộc anh em. Điện Biên có truyền thống đấu tranh cách mạng kiên
cường, có nhiều di tích lịch sử, văn hóa, danh thắng và kho tàng văn hóa
phong phú đậm đà bản sắc dân tộc, có tiềm năng du lịch, có cảng hàng không
thuận tiện.
55 năm sau Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Đảng bộ và nhân dân các dân
tộc tỉnh Điện Biên đã đoàn kết một lòng phát huy truyền thống Điện Biên Phủ
anh hùng vượt qua mọi khó khăn, thử thách đạt được nhiều thành tựu trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sau khi tái lập tỉnh cùng với sự phát
triển chung của cả nước, tỉnh Điện Biên đã có bước phát triển mới và đạt
được những kết quả bước đầu quan trọng.
Kinh tế tiếp tục tăng trưởng với tốc độ khá cao (GDP bình quân năm 2006 -
2007 đạt 10,86%); giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 5,14%/năm;
công nghiệp – xây dựng tăng bình quân 13,6%/năm; dịch vụ tăng bình quân
14,35%/năm; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, giảm dần tỉ trọng nông
nghiệp, tăng tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ; quy hoạch đầu tư phát triển
vùng cây công nghiệp cà phê, chè, cao su; tạo điều kiện thuận lợi cho việc
thu hút đầu tư phát triển thủy điện, nhà máy xi măng, sản xuất vật liệu xây
dựng, khai khoáng. Nguồn vốn đầu tư phát triển không ngừng tăng, năm 2007
đạt trên 2.000 tỉ đồng, tăng 54% so với năm 2006; kết cấu hạ tầng ngày càng
cải thiện, 104/106 xã, phường, thị trấn có đường ô tô đến trung tâm.
Văn hóa – xã hội có bước chuyển biến tích cực, quy mô chất lượng giáo dục
được nâng lên (năm 2008, 100% xã phường được công nhận phổ cập Trung học cơ
sở, 45,2% học sinh vào học Trung học phổ thông); hoạt động chăm sóc sức khỏe
nhân dân có những tiến bộ mới (năm 2008 đã có 28% số trạm Y tế xã đạt Chuẩn
Quốc gia, 100% xã phường và 95% trẻ em được tiêm chủng mở rộng); tỉ lệ hộ
nghèo giảm từ 44,6% năm 2005 xuống còn 29,92% năm 2008; thực hiện tốt chính
xã hội và bảo trợ xã hội, thường xuyên quan tâm đối với các thương binh,
bệnh binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng, người già cô đơn,
trẻ em mồ côi không nơi nương tựa; đời sống vật chất tinh thần của nhân dân
từng bước được cải thiện. Phong trào xây dựng gia đình, thôn, bản văn hóa
được triển khai sâu rộng, đến hết năm 2008 đã có 53.750 hộ đạt tiêu chuẩn
gia đình văn hóa (tăng 2,6 lần so với năm 2005); 570 thôn, bản đạt tiêu
chuẩn thôn, bản văn hóa (tăng 2,68 lần so với năm 2005).
Tình hình chính trị - xã hội cơ bản được bảo đảm ổn định, biên giới quốc
gia được giữ vững, các tệ nạn xã hội giảm. Quan hệ hữu nghị, hợp tác với các
tỉnh có chung đường biên giới ngày càng được củng cố.
Thực hiện có kết quả bước đầu công tác cải cách hành chính. Chú trọng
công tác xây dựng Đảng, nội bộ đoàn kết, tích cực triển khai Cuộc vận động
“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.
Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước dịp kỷ niệm 50 năm, 55 năm Chiến
thắng lịch sử Điện Biên Phủ nhiều di tích lịch sử chiến thắng Điện Biên Phủ
đã được đầu tư xây dựng, tôn tạo như: Chỉ huy sở Mường Phăng; hầm Đờ Cát;
Công viên Chiến thắng; tượng đài Chiến thắng; tượng đài Kéo pháo; đồi A1…
Các tỉnh, thành phố, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội
trong cả nước đã dấy lên phong trào thi đua hướng về Điện Biên Phủ với hành
động thiết thực góp phần cùng Điện Biên xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh
tế - xã hội.
Tuy đã đạt được những thành tựu khá toàn diện về kinh tế - xã hội, đời
sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc không ngừng được cải
thiện, nhưng Điện Biên vẫn thuộc diện tỉnh nghèo, quy mô kinh tế còn nhỏ bé.
Kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Phát huy những thành tựu,
những tiềm năng, lợi thế của tỉnh; phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách
mạng, tinh thần “quyết chiến, quyết thắng” của Điện Biên Phủ, Đảng bộ và
nhân dân các dân tộc tỉnh Điện Biên đã và đang ra sức thi đua lao động, sản
xuất với tinh thần chủ động, sáng tạo, xây dựng Điện Biên phát triển bền
vững, giàu đẹp xứng đáng với tầm vóc lịch sử của Chiến thắng Điện Biên Phủ
anh hùng./.
(Nguồn:Ban Tuyên giáo Trung
ương)
[Về đầu
trang]
Đề cương tuyên truyền 40
năm thực hiện Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh ( 2/9/1969 – 2/9/2009)
I. HOÀN CẢNH LỊCH SỬ, Ý NGHĨA, GIÁ TRỊ CƠ BẢN CỦA DI CHÚC.
1. Hoàn cảnh lịch sử:
Tháng 5/1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu khởi thảo viết Di chúc. Lúc
bấy giờ, đất nước ta đang trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ đầy cam go, khốc liệt và sức khoẻ của
Người đã yếu. Năm 1968, Bác viết thêm 6 trang.
Tháng 5/1969, Bác viết lại đoạn mở đầu Di chúc.
Di chúc được công bố một phần trong lễ tang Bác. Thông báo số 151-TB/TW
ngày 19/8/1989 của Bộ Chính trị về một số vấn
đề liên quan đến Di chúc và ngày qua đời của Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định bản Di chúc
công bố tháng 9/1969 là “bảo đảm trung thành với
bản gốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Một số vấn đề
như những việc cần làm sau khi cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước thắng lợi, miễn giảm thuế nông
nghiệp một năm cho các hợp tác xã nông nghiệp,
cho bà con nông dân cũng như đề nghị của Người
về hoả táng thi hài chưa được công bố. Thông báo
của Trung ương đã giải thích rõ lý do việc này.
Vào dịp kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ
Chí Minh, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương
Đảng (khoá VI) đã quyết định công bố toàn bộ các
bản Di chúc của Người viết.
2. Ý nghĩa:
Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là văn kiện lịch sử vô giá kết tinh
những tinh hoa đạo đức và tâm hồn cao đẹp, những
nội dung cơ bản, những quan điểm cốt yếu của tư
tưởng Hồ Chí Minh, vạch ra phương hướng phát
triển cho cách mạng Việt Nam cả hôm nay và trong
tương lai.
3. Những giá trị cơ bản của Di chúc:
a. Di chúc là tâm nguyện, tình cảm, ý chí, niềm tin, trách
nhiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Tổ quốc, nhân
dân và sự nghiệp cách mạng.
Di chúc thể hiện sự tự nhận thức sâu sắc về bản thân của
Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đón nhận quy luật
cuộc sống bằng phong thái ung dung, tự tại,
chuẩn bị việc ra đi của mình bằng những lời tâm
huyết dặn lại. Tâm nguyện của Người:
“Suốt đời tôi hết lòng phụng vụ Tổ quốc, phụng
vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ
biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối
hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phụng vụ
lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”. Ý chí, niềm tin,
tinh thần lạc quan cách mạng, trách nhiệm
với nhân dân của Người thể hiện sâu sắc ở dự báo
về thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ và
ngày thống nhất đất nước, ở những chỉ dẫn về
công việc của sự nghiệp cách mạng còn dang dở.
Di chúc là tâm sự của một người đã hy
sinh hạnh phúc riêng tư, hiến dâng trọn cuộc đời
cho Tổ quốc và nhân dân; là tấm lòng chung thuỷ
với “các nước anh em” và “bầu bạn khắp năm châu”.
b. Di chúc là công trình lý luận về xây dựng và củng cố Đảng
cầm quyền.
- Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Đảng ta là một Đảng
cầm quyền”. Để đáp ứng được nhiệm vụ lãnh
đạo xã hội, Đảng phải luôn vững mạnh về chính
trị, tư tưởng, tổ chức và gắn bó máu thịt với
nhân dân, không ngừng nâng cao bản chất giai cấp
công nhân, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền
tảng tư tưởng, làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động
của mình. Di chúc nêu những vấn đề cốt yếu
của công tác xây dựng Đảng, đó là: giữ gìn
mối đoàn kết trong Đảng, thực hiện nguyên tắc
tập trung dân chủ, nguyên tắc tự phê bình và phê
bình, rèn luyện đạo đức cách mạng, nêu cao tinh
thần trách nhiệm, hết lòng hết sức phục vụ nhân
dân của mỗi cán bộ, đảng viên. Công tác chỉnh
đốn Đảng là nhiệm vụ chiến lược, là công việc
thường xuyên để giữ vững vai trò lãnh đạo của
Đảng cầm quyền.
- Sự nghiệp cách mạng là một sự nghiệp bền bỉ, dài lâu, tiếp nối từ thế
hệ này sang thế hệ khác. Đảng cầm quyền phải
chăm lo phát triển lực lượng cho hiện tại và
chuẩn bị cho tương lai một thế hệ trẻ vừa “hồng”
vừa “chuyên”, có như vậy mới thực hiện thành
công lý tưởng xây dựng một xã hội mới, tiến bộ,
văn minh. Bác dặn: “Bồi dưỡng thế hệ cách
mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và
rất cần thiết”, đó là công việc: bồi dưỡng
lý tưởng cộng sản, giáo dục truyền thống yêu
nước, ý thức rèn luyện đạo đức cách mạng, đào
tạo nguồn nhân lực kế tục sự nghiệp xây dựng xã
hội chủ nghĩa.
- Cách mạng Việt Nam không thể tách rời cách mạng thế giới. Sự vững mạnh
của Đảng còn được khẳng định trong mối quan hệ
đoàn kết chặt chẽ với các đảng cộng sản và bè
bạn quốc tế. Điều Bác dặn trong Di chúc “về
phong trào cộng sản thế giới” là định hướng quan
trọng cho quan hệ đối ngoại của Đảng, đó là
nguyên tắc đoàn kết quốc tế dựa trên “nền
tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế
vô sản, có lý, có tình”.
c. Di chúc là tác phẩm bàn về xây dựng xã hội XHCN ở Việt
Nam.
- Di chúc là điểm kết tinh tư tưởng của Bác về độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào
hoàn cảnh Việt Nam, mối quan hệ giữa công bằng
và tiến bộ xã hội, mối quan hệ giữa tăng trưởng
kinh tế và phát triển văn hoá trong xây dựng xã
hội mới, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc và sức
mạnh thời đại, động lực lợi ích và chăm lo chu
đáo tới cuộc sống con người, tư tưởng trọng dân,
coi dân là gốc, là chủ thể của sự nghiệp xây
dựng và đổi mới đất nước.
- Di chúc như một kế hoạch, một chương trình hành động của toàn Đảng,
toàn dân về sự nghiệp xây dựng đất nước sau
chiến tranh với những chỉ dẫn về đào tạo nguồn
nhân lực cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội;
phát triển kinh tế và văn hoá, nâng cao đời sống
nhân dân.
- Di chúc có giá trị văn hoá rất lớn. Đó là tinh thần nhân văn sâu sắc
thể hiện trong ứng xử với nhân dân, đồng chí, bè
bạn. Qua lời dặn dò về việc riêng, Chủ tịch Hồ
Chí Minh còn đề cập đến việc xây dựng một đời
sống văn hoá mới; một lối sống tiết kiệm, không
lãng phí.
II. NHỮNG THÀNH TỰU CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM QUA 40 NĂM THỰC HIỆN DI CHÚC:
1. Hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, giải
phóng miền Nam, thống nhất đất nước, chuẩn bị
điều kiện đi lên chủ nghĩa xã hội.
Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân năm 1975 là điểm mốc quan trọng,
là bước ngoặt lịch sử đánh dấu thắng lợi của
cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, kết thúc 21
năm chiến đấu chống Mỹ và 30 năm chiến tranh
giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc từ Cách mạng
tháng Tám năm 1945, chấm dứt vĩnh viễn ách thống
trị của chủ nghĩa đế quốc và chế độ phong kiến ở
nước ta, hoàn thành cơ bản cuộc cách mạng dân
tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, bảo vệ và
phát triển những thành tựu của cách mạng xã hội
chủ nghĩa ở miền Bắc. Thắng lợi của cuộc kháng
chiến chống Mỹ cứu nước đã mở ra kỷ nguyên mới
cho dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên đất nước độc
lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội, thực
hiện điều mong mỏi trong Di chúc của Chủ tịch Hồ
Chí Minh.
2. Từng bước thực hiện lý tưởng xã hội chủ nghĩa, đem lại
phồn vinh cho đất nước, hạnh phúc cho nhân dân.
Kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thực hiện Di chúc
của Bác, Đảng đã tập trung sức lực và trí tuệ
lãnh đạo nhân dân ta tiến hành sự nghiệp cách
mạng đưa cả nước đi theo con đường mà Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã chọn. Mặc dù tình hình quốc tế có
nhiều biến động phức tạp, vừa phải thường xuyên
đối phó với những âm mưu chống phá của chủ nghĩa
đế quốc và các thế lực phản động, vừa phải xây
dựng cuộc sống mới từ một nền kinh tế lạc hậu,
bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh, vừa phải
làm nghĩa vụ quốc tế, dưới sự lãnh đạo của Đảng,
nhân dân ta đã kiên trì phấn đấu và đã thu được
những kết quả đáng khích lệ: khôi phục nền kinh
tế sau chiến tranh; xây dựng một số cơ sở vật
chất; phát triển được một số ngành kinh tế quan
trọng; thiết lập và củng cố chính quyền nhân dân
trên phạm vi cả nước; phát triển sự nghiệp văn
hoá, giáo dục, y tế; tiến hành thắng lợi hai
cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới.
Tuy vậy, trong xây dựng kinh tế, chúng ta cũng đã từng phạm những sai lầm,
khuyết điểm trong chủ trương, chính sách cũng
như trong quá trình chỉ đạo thực tiễn. Nhưng
Đảng sớm nhận thức tình hình đất nước, bối cảnh
quốc tế, trên tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật,
đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, kiên
định mục tiêu, con đường Bác đã chọn, thẳng thắn
phân tích những nguyên nhân của sự vấp váp, sai
lầm, tin tưởng vững chắc vào sức mạnh của nhân
dân và dân tộc, Đảng ta đã khởi xướng đường lối
Đổi mới và quyết tâm tiến hành sự nghiệp “Đổi
mới” vì hạnh phúc của nhân dân.
Công cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng và có
ý nghĩa lịch sử: về kinh tế, đã đưa đất nước ra
khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, kinh tế tăng
trưởng nhanh, cơ sở vật chất - kỹ thuật được
tăng cường, đời sống của các tầng lớp nhân dân
không ngừng được cải thiện; thực hiện có kết quả
chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần;
thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa được hình thành; cơ cấu kinh tế ngành,
vùng có sự chuyển dịch tích cực theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá; thực hiện có hiệu quả
mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát
triển văn hoá, giữa tiến bộ và công bằng xã hội;
công tác giải quyết việc làm và xóa đói, giảm
nghèo đạt kết quả tốt; sự nghiệp giáo dục có
bước phát triển mới về quy mô, đa dạng hoá về
loại hình trường lớp; khoa học công nghệ và tiềm
lực khoa học - công nghệ có bước phát triển nhất
định; công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân có
tiến bộ; những giá trị văn hoá đặc sắc của các
dân tộc được kế thừa và phát triển, giao lưu hợp
tác văn hoá với nước ngoài được mở rộng, các tài
năng văn hoá - nghệ thuật được khuyến khích;
chính sách phát triển nguồn nhân lực được chú
trọng; quan hệ đối ngoại phát triển mạnh mẽ, vị
thế nước ta trên trường quốc tế được nâng cao...
3. Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, kiên định
sự lãnh đạo của Đảng - nhân tố quyết định thắng
lợi của cách mạng Việt Nam; thực hiện công tác
xây dựng và chỉnh đốn Đảng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà chiến lược và sách lược tài tình, nhà tổ chức
thiên tài, nhà cổ động chính trị vĩ đại, người
có công rèn luyện, giáo dục bao lớp cán bộ ưu tú
của Đảng. Người đã đưa chủ nghĩa Mác - Lênin vào
Việt Nam, và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác -
Lênin trong điều kiện cụ thể cách mạng Việt Nam.
Tại Đại hội lần thứ VII của Đảng, Đảng ta đã
khẳng định cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, là kim
chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt
Nam.
Thực hiện Di chúc của Người, trong tình hình thế giới có nhiều diễn biến
phức tạp, yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong giai
đoạn mới rất nặng nề, các thế lực tấn công toàn
diện vào Đảng, vào chế độ, Đảng ta vẫn vững vàng,
thể hiện rõ bản chất cách mạng và khoa học, kiên
định về mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội, lãnh đạo nhân dân ta thực hiện
công cuộc đổi mới đạt nhiều thành tựu to lớn,
quan trọng, đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên.
Công tác xây dựng Đảng đã được đặt ra trong nhiều nghị quyết của Đảng.
Tiếp theo Cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn
Đảng theo Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khoá
VIII, Đảng ta đã phát động Cuộc vận động “Học
tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.
Cuộc vận động đã góp phần tạo nên sự chuyển biến
trong thực hiện nhiệm vụ chính trị và ý thức rèn
luyện, tu dưỡng đạo đức Hồ Chí Minh của cán bộ,
đảng viên từ Trung ương đến cơ sở; góp phần khắc
phục một bước tình trạng suy thoái về chính trị,
tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận
không nhỏ cán bộ, đảng viên; các cấp uỷ đã quan
tâm nhiều hơn đến việc phát hiện, ngăn chặn, xử
lý tiêu cực, sai phạm; tinh thần tự phê bình và
phê bình của cán bộ, đảng viên có tiến bộ; việc
thực hành tiết kiệm, chống lãng phí theo tấm
gương của Bác Hồ đã có chuyển biến rõ nét; tinh
thần, thái độ phục vụ nhân dân, ý thức trách
nhiệm với công việc được giao của cán bộ được
nâng lên.
Công tác xây dựng Nhà nước đã quán triệt nguyên tắc quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân, thực hành dân chủ, phát huy
tính sáng tạo của nhân dân; tham khảo và vận
dụng có chọn lọc lý luận và thực tiễn xây dựng
Nhà nước pháp quyền của nhân loại vào điều kiện
cụ thể Việt Nam, đảm bảo phù hợp với dân tộc,
thời đại và hoàn cảnh thực tiễn của đất nước.
Kết quả của công tác xây dựng Đảng nói riêng, xây dựng hệ thống chính trị
nói chung là nhân tố góp phần làm nên thắng lợi
to lớn của cách mạng Việt Nam và của sự nghiệp
đổi mới đất nước hơn 20 năm qua.
4. Phát huy tình cảm quốc tế trong sáng, kết hợp sức mạnh dân
tộc với sức mạnh thời đại, nâng cao vị thế đất
nước trong hội nhập quốc tế.
Đảng ta do Hồ Chủ tịch sáng lập và rèn luyện, ngay từ khi ra đời đã gương
cao ngọn cờ của chủ nghĩa quốc tế vô sản, đề ra
nhiệm vụ đoàn kết với giai cấp vô sản thế giới,
với các dân tộc bị áp bức, coi đó là một nguyên
tắc, một trong những nhân tố quyết định thành
công của cách mạng nước ta. Bằng những việc làm
vô tư trong sáng trong việc giúp đỡ bạn bè, cùng
với việc không ngừng mở rộng quan hệ hợp tác,
hữu nghị với tất cả các nước, thực hiện chính
sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng
hoá quan hệ, vai trò, uy tín của nước ta ngày
càng được nâng cao trong cộng đồng quốc tế.
Từ sau khi phá bỏ chính sách bao vây, cấm vận của Mỹ và các lực lượng thù
địch nước ngoài, Việt Nam đã tham gia hợp tác
ngày càng sâu, toàn diện vào nền kinh tế thế
giới. Trong các lĩnh vực kinh tế then chốt, như:
thương mại, dịch vụ, lao động, đầu tư, khoa học
và công nghệ, chúng ta đã đạt được những thành
tựu quan trọng. Việt Nam đã tham gia Hiệp hội
các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), đã không ngừng
mở rộng các quan hệ kinh tế song phương, tiểu
vùng, vùng, liên vùng và toàn cầu. Đến năm 2005,
nước ta đã có quan hệ thương mại với 221 nước và
vùng lãnh thổ, ký 90 hiệp định thương mại song
phương, trong đó nổi bật là Hiệp định Thương mại
với Mỹ, tạo điều kiện mở rộng giao lưu hàng hoá
với nước ngoài, gia nhập AFTA, APEC, WTO, thiết
lập được quan hệ tài chính với các tổ chức tài
chính - tiền tệ quốc tế, như: WB, IMF, ADB.
Tranh thủ ODA, thu hút FDI, mở rộng thị trường
ngoài nước, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và
khu vực; trở thành Uỷ viên không thường trực Hội
đồng bảo an LHQ; tham gia giải quyết những vấn
đề của khu vực và thế giới; xác định quan hệ ổn
định với các nước láng giềng, nước lớn; giải
quyết hoà bình các vấn đề biên giới, lãnh thổ,
biển đảo với các nước liên quan, góp phần giữ
vững môi trường hoà bình khu vực.
III. TIẾP TỤC THỰC HIỆN DI CHÚC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRONG GIAI ĐOẠN
CÁCH MẠNG MỚI.
1. Công tác xây dựng Đảng:
1.1. Học tập phẩm chất, đạo đức, tác phong của Chủ tịch Hồ
Chí Minh
Phẩm chất cao quý của Bác là trung với nước, trung với Đảng, hiếu với
dân, “hết lòng phục vụ nhân dân”; kiên
định lập trường cách mạng; sáng suốt trong đường
lối chiến lược, sách lược; dũng cảm trong hành
động; khôn khéo trong xử lý tình huống; khiêm
tốn, giản dị trong cuộc sống hàng ngày; cần,
kiệm, liêm chính, chí, công, vô tư; thương yêu
đồng chí, đồng bào hết mực.
Đạo đức cao quý của Bác là “hy sinh tất cả vì độc lập dân tộc, vì hạnh
phúc của nhân dân”, “bao nhiêu lợi ích đều vì
dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân”. Cả cuộc
đời Bác “chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc,
là làm sao cho đất nước ta được hoàn toàn độc
lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai
cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.
Bác là tấm gương sáng về phong cách tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, học
đi đôi với hành, gắn lý luận với thực tiễn; là
gương sáng về tinh thần cách mạng và khoa học;
gương sáng về tinh thần học tập suốt đời; một
phong cách nói đi đôi với với làm; một thái độ
kiên quyết không khoan nhượng chống chủ nghĩa cá
nhân, tham ô, lãng phí; một cách ứng xử hài hoà,
thấu tình đạt lý giữa việc chung - việc riêng,
lý trí - tình cảm, lý luận - thực tiễn, quá khứ
- hiện tại - tương lai, dân tộc - giai cấp,
trong nước - quốc tế, ...
1.2. Tiếp tục thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo
tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”:
Với mục tiêu tạo sự chuyển biến rõ nét hơn nữa trong công tác xây dựng
Đảng, xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững
mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đoàn kết
thống nhất, gắn bó mật thiết với nhân dân, có
năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao, phương
thức lãnh đạo khoa học, đội ngũ cán bộ, đảng
viên có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ, hai năm qua, Cuộc vận động “Học tập và
làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã được
triển khai sâu rộng trong các tổ chức của hệ
thống chính trị và toàn xã hội và đã tạo được
những chuyển biến quan trọng.
Chủ đề học tập năm 2009 của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta là “Nâng
cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng
sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”. Để tiếp tục thực
hiện tốt Cuộc vận động này, mỗi cấp uỷ, đảng
viên, các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước cần đẩy
mạnh cải cách hành chính, xây dựng và nâng cao ý
thức trách nhiệm phục vụ nhân dân bằng những
việc làm thiết thực, hàng ngày, tập trung giải
quyết dứt điểm những khiếu nại, tố cáo chính
đáng của nhân dân; chống lãnh đạm, vô cảm, quan
liêu, mệnh lệnh, hách dịch, hành dân. Xây dựng
tinh thần thương yêu, đoàn kết, hợp tác với đồng
chí, đồng đội, đồng nghiệp; đoàn kết, hợp tác;
chống chia rẽ, bè phái, cục bộ, địa phương, chủ
nghĩa dân tộc hẹp hòi. Xây dựng tinh thần cần
kiệm, coi trọng chất lượng, hiệu quả công việc;
chống thói lười biếng, lãng phí, phô trương,
hình thức. Xây dựng tinh thần liêm, chính, khiêm
tốn, thật thà, dũng cảm; chống tham nhũng, dối
trá, hối lộ, bê tha, trụy lạc; khắc phục tình
trạng nói không đi đôi với làm, chạy theo danh
vọng, địa vị, chức quyền, sa vào chủ nghĩa cá
nhân vị kỷ mà không chú trọng rèn luyện và thực
hành đạo đức cách mạng.
2. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau:
Thực hiện lời Bác dặn về việc chuẩn bị một lực lượng cho sự nghiệp cách
mạng, Đảng, Nhà nước đã có nhiều Nghị quyết, chỉ
thị, chính sách về công tác giáo dục, bồi dưỡng
thanh niên. Nghị quyết Trung ương 7(khoá X)
Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công
tác thanh niên trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, đã nêu rõ mục
tiêu: “Tiếp tục xây dựng thế hệ thanh niên Việt
Nam giàu lòng yêu nước, tự cường dân tộc; kiên
định lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội; có đạo đức cách mạng, ý thức chấp hành pháp
luật, sống có văn hoá, vì cộng đồng; có năng
lực, bản lĩnh trong hội nhập quốc tế; có sức
khoẻ, có tri thức, kỹ năng và tác phong công
nghiệp trong lao động tập thể, trở thành những
người công dân tốt của đất nước”.
Đảng, Nhà nước, các cấp uỷ đảng, đoàn thể và cả xã hội có trách nhiệm
chăm lo, tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để
thanh niên đựoc rèn luyện, cống hiến và trưởng
thành; được học tập, có việc làm, nâng cao thu
nhập, có đời sống văn hoá, tinh thần lành mạnh.
3. Nâng cao đời sống của nhân dân:
Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều nỗ lực trong chỉ đạo, điều hành đất nước,
đưa nền kinh tế vượt qua những thời điểm khó
khăn, quan tâm toàn diện các mặt đời sống của
nhân dân, có những chính sách hỗ trợ kịp thời
cho các đối tượng. Các Nghị quyết của Đảng, Quốc
hội, Chính phủ về chiến lược phát triển kinh tế,
bảo đảm an sinh xã hội, đẩy mạnh xoá đói giảm
nghèo, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần cho nhân dân, thực hiện tiến bộ và
công bằng xã hội đang được triển khai mạnh mẽ
đòi hỏi sự đồng thuận, tích cực tham gia của
nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người dân
Việt Nam cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình
trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước
trước tình hình mới để phấn đấu mục tiêu Bác dặn
trong Di chúc:“xây dựng một nước Việt Nam hoà
bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.
4. Đoàn kết quốc tế:
Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại “độc lập tự chủ, hoà bình, hợp
tác và phát triển”, chính sách “đối ngoại rộng
mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc
tế”, “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các
nước trong cộng đồng quốc tế” Đảng và Nhà nước
ta luôn chú trọng xây dựng và phát triển các
quan hệ quốc tế trong giai đoạn mới, coi đó là
những điều kiện hết sức quan trọng quyết định
thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Nước ta đang
chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế
trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động phức
tạp, khó lường, các quan hệ chính trị - kinh tế
đan xen, mỗi cấp uỷ, đảng viên và mỗi người dân
cần nắm chắc quan điểm của Đảng để tỉnh táo,
khôn khéo, nắm được cơ hội tốt trong quan hệ đối
ngoại, trong hợp tác để phát triển đất nước, nêu
cao tinh thần quốc tế vô sản, đảm bảo nguyên tắc
về an ninh quốc phòng, chủ quyền biên giới quốc
gia./.
Ban Tuyên giáo
Trung ương
[Về đầu
trang]
UỶ BAN TRUNG ƯƠNG
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
MẶT TRẬN TỔ
QUỐC VIỆT NAM
Độc lập
- Tự do - Hạnh phúc
BAN THƯỜNG TRỰC
Hà Nội, ngày 27 tháng 7 năm 2009
Số: 90 /HD-MTTW-BTT
HƯỚNG DẪN
Tổ chức các hoạt động kỷ niệm 40 năm thực hiện
Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (2/9/1969 -
2/9/2009) trong hệ thống Mặt trận các cấp
Căn cứ
Chỉ thị số 36 -
CT/TW
ngày 02/7/2009
của Ban Bí thư Trung ương
Đảng
về kỷ
niệm 40 năm thực
hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (2/9/1969
- 2/9/2009);
Căn cứ
Hướng dẫn số 78 - HD/BTGTW ngày 13/7/2009 của
Ban Tuyên giáo Trung ương hướng dẫn thực hiện
Chỉ thị 36 - CT/TW
của Ban Bí thư về
kỷ
niệm 40 năm thực
hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (2/9/1969
- 2/9/2009);
Ban
Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam hướng dẫn công tác tuyên truyền và tổ
chức kỷ niệm 40 năm
thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh
như sau:
I- MỤC ĐÍCH YÊU CẦU.
1. Thông qua các hoạt động kỷ
niệm 40 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ
Chí Minh để nâng cao nhận thức trong các tầng
lớp nhân dân về những giá trị vĩ đại trong tư
tưởng và tấm gương Hồ Chí Minh kết tinh trong Di
chúc của Người. Khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh,
Di chúc thiêng liêng và tấm gương sáng ngời của
Người đã dẫn dắt toàn Đảng, toàn dân, toàn quân
vượt qua khó khăn thử thách tiến lên giành thắng
lợi vẻ vang trong sự nghiệp giải phóng dân tộc
và công cuộc đổi mới đất nước.
2. Ca
ngợi cuộc đời và sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch
Hồ Chí Minh, nhà văn hoá kiệt xuất, anh hùng
giải phóng dân tộc, người thầy vĩ đại của cách
mạng Việt Nam.
3. Tạo
không khí phấn khởi trong xã hội, cổ vũ động
viên các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia các
phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động,
chung sức, chung lòng thực hiện các giải pháp
ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng,
bảo đảm an sinh xã hội và đợt sinh hoạt chính
trị trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về Đại
hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và Đại hội
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII .
4. Các
hoạt động kỷ niệm cần được tổ chức trang trọng,
phong phú, thiết thực, hiệu quả, tránh lãng phí
và gắn với kỷ niệm các ngày lễ lớn trong 2 năm
2009 - 2010.
II -
NỘI DUNG TUYÊN TRUYỀN, GIÁO DỤC:
1. Di
chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (bản công bố năm
1969) theo tinh thần Thông báo 151 - TB/TW, ngày
19-8-1989 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung
ương Đảng Cộng sản Việt Nam Về một số vấn đề
liên quan đến Di chúc và ngày qua đời của Chủ
tịch Hồ Chí Minh; Chỉ thị số 36 CT/TW, ngày 02
tháng 7 năm 2009 của Ban Bí thư Trung ương Đảng
về kỷ niệm 40 năm
thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
2.
Tuyên truyền sâu rộng những giá trị tư tưởng
chính trị, lịch sử, văn hoá kết tinh trong Di
chúc và kết quả thực hiện Di chúc gắn với việc
thực hiện Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh". Biểu dương những tập
thể và cá nhân điển hình tiên tiến trong Cuộc
vận động và thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ
Chí Minh.
3.
Tuyên truyền tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh
về đại đoàn kết toàn dân tộc và Mặt trận Dân tộc
Thống nhất Việt Nam. Tuyên truyền về những cống
hiến vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với dân
tộc và thế giới.
4. Tuyên truyền, giáo dục lịch sử,
truyền thống yêu nước và cách mạng của dân tộc,
phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ý chí tự
lực, tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân
tộc. Tuyên
truyền sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân về
chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước, công việc của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam về nhiệm vụ xây dựng khối đại đoàn
kết toàn dân tộc, về vai trò, vị trí của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam.
5. Tuyên truyền về kết quả
Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và Đại
hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII.
III.
TỔ CHỨC THỰC HIỆN:
1.
Trên cơ sở hướng dẫn này, đề nghị Ban Thường
trực Uỷ ban MTTQ các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương tham mưu, phối hợp với Ban Chỉ đạo kỷ
niệm các ngày lễ lớn của địa phương, Ban Tuyên
giáo các tỉnh uỷ, thành uỷ, các tổ chức thành
viên xây dựng kế hoạch, tổ chức các hoạt động kỷ
niệm tại địa phương mình theo đúng tinh thần
Chỉ thị 36 - CT/TW,
ngày 02/7/2009
của Ban Bí thư.
Đồng thời có kế
hoạch cụ thể triển khai Kỷ niệm 40 năm thực hiện
Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hệ thống
Mặt trận các cấp phù hợp với nhiệm vụ chung và
nhiệm vụ chính trị của từng địa phương.
2. Các
hoạt động kỷ niệm được tổ chức trang trọng với
nhiều hình thức đa dạng, có trọng tâm, trọng
điểm tạo dấu ấn lịch sử và có tính giáo dục
trong các tầng lớp nhân dân, phù hợp với địa
phương mình như tổ chức mít tinh kỷ niệm, tổ
chức hội thảo, toạ đàm, giao lưu, gặp mặt, văn
hoá, văn nghệ, thể thao, du lịch...
3. Gắn
tuyên truyền với những việc làm thiết thực, chăm
lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho
nhân dân như tổ chức thăm hỏi, tặng quà, trao
nhà đại đoàn kết...
4.
Phối hợp với các cơ quan thông tấn, báo chí
Trung ương và địa phương tuyên truyền với nhiều
hình thức phong phú, đậm nét về Chủ tịch Hồ Chí
Minh, về Di chúc và 40
năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
5. Trong quá trình tổ chức thực
hiện, thường xuyên báo cáo kết quả về Ban Thường
trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
(qua Ban Tuyên giáo, Uỷ ban TW Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, 46 Tràng Thi-Hà Nội; Điện thoại:
04.38257447; 04.39289210; 04.39287401, để tổng
hợp báo cáo Ban Thường trực).
IV -
MỘT SỐ KHẨU HIỆU TUYÊN TRUYỀN:
1. Ra
sức thi đua lập thành tích kỷ niệm 40 năm
thực hiện Di chúc của Chủ
tịch Hồ Chí Minh (2/9/1969 - 2/9/2009)!
2.
Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân quyết tâm thực
hiện thắng lợi Di
chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng một nước
Việt Nam, hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ
và giàu mạnh!
3.
Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân quyết tâm thực
hiện thắng lợi Cuộc vận động "Học tập và làm
theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"!
4.
Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm!
5.
Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam muôn năm!
6. Chủ
tich Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp
của chúng ta!
7. Chủ
tịch Hồ Chí Minh, nhà văn hoá kiệt xuất, anh
hùng giải phóng dân tộc, người thầy vĩ đại của
cách mạng Việt Nam !
8.
Nhiệt liệt chào mừng 64 năm Cách mạng Tháng Tám
và Quốc khánh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam !
9.
Nhiệt liệt chào mừng Đại hội Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam các cấp tiến tới Đại hội Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam lần thứ VII !
Nơi nhận:
TM.
BAN THƯỜNG TRỰC
- Chủ tịch, PCT
kiêm TTK (để b/c);
UỶ VIÊN
- Các Uỷ viên
Thường trực UBTƯMTTQVN;
- Ban Tuyên Giáo
TW, Ban Dân vận TW;
Lê Bá Trình
- Uỷ ban MTTQ Việt
Nam các tỉnh, thành phố;
- Các tổ chức thành
viên của Mặt trận ở TW;
- Các Ban, đơn vị
trực thuộc;
- Lưu VT, BTG.
[Về đầu
trang]
UỶ BAN TRUNG ƯƠNG
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT
NAM Độc
lập - Tự do - Hạnh Phúc
BAN
THƯỜNG TRỰC
Hà
nội, ngày 8 tháng 9 năm 2009
Số:
4287 /CV-MTTW-BTT
Về việc phối hợp, tạo điều kiện
trong
việc tổ chức Đại hội lần thứ VII MTTQVN
Kính
gửi:
- Ban
Thường vụ Tỉnh ủy, Thành ủy;
- Thường trực
Hội đồng nhân dân;
- Ủy ban nhân
dân các tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương.
Ngày
28/8/2009, Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
đã có Công văn số 183 - CV/MTTQ-ĐĐ về việc lãnh
đạo, giúp đỡ đoàn đại biểu của các địa phương đi
dự Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII
được tổ chức tại thủ đô Hà Nội trong các ngày
28, 29 và 30/9/2009.
Cụ thể
hóa Công văn nói trên, đồng thời để góp phần làm
cho Đại hội thực sự là đợt sinh hoạt chính trị
sâu rộng trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân
theo Chỉ thị 18-CT/TƯ, ngày 22/11/2007 của Ban
Bí thư Trung ương Đảng, Ban Thường trực Ủy ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đề nghị Ban
Thường vụ tỉnh, thành ủy; Thường trực Hội đồng
nhân dân; Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương phối hợp, tạo điều kiện
triển khai một số công việc quan trọng như sau:
- Chỉ đạo đẩy mạnh đợt sinh hoạt chính
trị về kết quả của đại hội Mặt trận các cấp ở
địa phương và Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam theo
Đề cương của Ban Tuyên giáo Trung ương đã gửi về
trong tài liệu sinh hoạt chi bộ và sinh hoạt báo
cáo viên tháng 9/2009;
- Chỉ
đạo việc tuyên truyền trên các phương tiện thông
tin đại chúng; tổ chức treo cờ Tổ quốc, khẩu
hiệu chào mừng Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
lần thứ VII tại trụ sở các cơ quan, đơn vị, các
trục đường chính, nơi sinh hoạt công cộng và ở
các địa bàn dân cư của địa phương trong thời
gian trước, trong và sau Đại hội (từ ngày 25/9
đến 05/10/2009). Nội dung các khẩu hiệu như sau:
+ Nhiệt liệt chào mừng Đại hội
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII !
+ Đoàn kết, đoàn kết, đại
đoàn kết.
Thành công, thành công, đại
thành công !
+ Phát huy sức mạnh khối đại
đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh !
+ Nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam muôn năm !
+ Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại
sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta !
- Tổ chức gặp mặt động viên, giao
nhiệm vụ và hỗ trợ về kinh phí, phương tiện cho
đoàn đại biểu của địa phương đi dự Đại hội (theo
đề xuất của Ban Thường trực UBMTTQVN tỉnh, thành
phố).
Kính mong các đồng chí lãnh đạo các
tỉnh, thành phố quan tâm phối hợp, giúp đỡ góp
phần quan trọng cho Đại hội thành công tốt đẹp.
Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí.
TM.BAN THƯỜNG TRỰC
PHÓ CHỦ TỊCH KIÊM TỔNG THƯ KÝ
(Đã
ký)
Vũ
Trọng Kim
Nơi nhận:
- CT Huỳnh Đảm (để
báo cáo);
- Như trên;
- Ban Tuyên
giáo, Ban Dân vận các tỉnh, thành ủy trực thuộc
TƯ;
- BTT UBMTTQVN
các tỉnh, thành phố trực thuộc TƯ;
- Các đồng chí
trong BTT UBTƯMTTQVN;
- Lưu VT, Ban
TG.
[Về đầu
trang]
UỶ BAN TRUNG ƯƠNG
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT
NAM Độc
lập - Tự do - Hạnh Phúc
BAN
THƯỜNG TRỰC
Số 36/TTr-MTTW-BTT
Hà
nội, ngày 16 tháng 9 năm 2009
THÔNG
TRI
Hướng
dẫn triển khai cuộc vận động
“Người Việt Nam
ưu tiên dùng hàng Việt Nam”
Thực hiện Thông báo số 264-TB/TƯ,
ngày 31/7/2009, kết luận của Bộ Chính trị về tổ
chức cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng
hàngViệt Nam”, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương triển khai cuộc vận động "Người
Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam" như sau:
1. Ban
Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tham mưu
cho Thường vụ cấp ủy cùng cấp ban hành quyết
định thành lập Ban chỉ đạo cuộc vận động
"Người Việt Nam ưu tiên
dùng hàng Việt Nam"
ở tỉnh,
thành phố do đồng chí Chủ tịch Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam tỉnh, thành phố làm trưởng
ban, các thành viên gồm có:
- Đồng
chí Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQVN tỉnh, thành phố,
Phó trưởng ban thường trực;
- Đồng
chí Phó trưởng Ban Tuyên giáo tỉnh, thành ủy,
Phó trưởng ban;
- Đồng
chí Phó trưởng Ban Ban Dân vận tỉnh, thành ủy,
Phó trưởng ban;
- Đồng
chí Chủ tịch: Liên đoàn Lao động, Hội Nông dân,
Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh; Bí thư
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh, thành
phố, thành viên;
- Đồng
chí Giám đốc đài Phánh thanh, truyền hình; Tổng
Biên tập Báo của tỉnh, thành phố, thành viên.
- Đại
diện lãnh đạo các sở: Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn; Công Thương; Kế hoạch và Đầu tư;
Thông tin và Truyền thông; Nội vụ; Tài chính;
Văn hóa, Thể thao và Du lịch, thành viên.
2. Ban
Chỉ đạo Cuộc vận động tỉnh, thành phố thành lập
Bộ phận Thường trực gồm đại diện Ban Thường trực
UBMTTQVN tỉnh, thành phố làm Trưởng Bộ phận,
thành viên gồm một số cán bộ lãnh đạo cấp Phòng
của các sở, ban, ngành, đoàn thể liên quan để
giúp cho Ban Chỉ đạo tổ chức thực hiện, theo dõi
và tổng hợp kết quả thực hiện Cuộc vận động ở
địa phương mình.
3. Phát động cuộc vận động "Người
Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam" để vận động
tất cả cán bộ, nhân dân ở địa phương thay đổi
nhận thức và hành vi trong tiêu dùng theo hướng
ưu tiên sử dụng các loại hàng hóa, sản phẩm,
dịch vụ do các doanh nghiệp, nhà sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ của Việt Nam làm ra, cụ thể:
Mỗi cán
bộ và nhân dân ưu tiên dùng hàng Việt Nam khi
tiêu dùng cá nhân như một hành động thiết thực
thể hiện lòng yêu nước, nét đẹp trong văn hóa
tiêu dùng của người Việt Nam. Các cơ quan, đơn
vị, tổ chức, tập thể ... sử dụng hàng hóa nội
địa khi mua sắm công. Các doanh nghiệp, người
sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ … khi triển
khai thực hiện các dự án, công trình … sử dụng
các trang thiết bị, nguyên vật liệu và dịch vụ
nội địa có chất lượng tương đương hàng ngoại
nhập để sản xuất, kinh doanh.
Các
doanh nghiệp, nhà sản xuất hàng hóa, dịch vụ ...
của Việt Nam ở trên địa bàn cam kết và thực hiện
trách nhiệm nâng cao chất lượng sản phẩm, sức
cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ; thực hiện bảo
vệ quyền lợi của người tiêu dùng; xây dựng được
thương hiệu của địa phương và Quốc gia cho nhiều
sản phẩm, hàng hóa Việt Nam.
Các cơ
quan chức năng của chính quyền rà soát việc thực
hiện các cơ chế, chính sách, pháp luật về bảo vệ
thị trường người tiêu dùng và sản xuất trong
nước không trái với quy định của WTO; khuyến
khích và định hướng tiêu dùng hàng Việt Nam
trong cán bộ và nhân dân; kiểm soát chặt chẽ
việc chi tiêu của các cơ quan, tổ chức, đơn vị,
cá nhân sử dụng nguồn ngân sách quốc gia; xử lý
nghiêm những đơn vị, cá nhân không gương mẫu
thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong chi
tiêu.
Tổ chức
điều tra, khảo sát thị trường, điều tra nhu cầu
của người tiêu dùng và các hoạt động sản xuất,
kinh doanh, phân phối .... để đưa hàng hóa mang
thương hiệu Việt Nam đến tận tay và đáp ứng thị
hiếu lành mạnh người tiêu dùng, đặc biệt đối với
vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
Đổi mới
công tác quản lý, chấn chỉnh các hoạt động quản
lý thị trường, hải quan, thuế, xử lý kịp thời
các hành vi vi phạm về chất lượng, vệ sinh, an
toàn thực phẩm, chất lượng hàng hóa, dịch vụ
trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương.
4. Xây dựng kế hoạch và triển
khai thực hiện Cuộc vận động trong phạm vi của
tỉnh, thành phố; tổ chức sơ kết hằng năm để bổ
sung, điều chỉnh nội dung, phương thức thực hiện
cho phù hợp với quy định chung và tình hình thực
tế ở mỗi địa phương; tiến hành tổng kết Cuộc vận
động sau thời gian triển khai từ 3 đến 5 năm một
lần.
Việc triển khai thực hiện cuộc
vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt
Nam” là hành động thiết thực, có ý nghĩa quan
trọng trong việc phát huy sức mạnh khối đại đoàn
kết toàn dân tộc, chung sức, chung lòng cùng với
Đảng và Nhà nước thực hiện các giải pháp để giữ
vững ổn định sản xuất, kinh doanh trong nước,
phát triển kinh tế, xã hội trong điều kiện có
nhiều khó khăn do tác động tiêu cực của cuộc
khủng hoảng kinh tế thế giới mang lại. Đề nghị
Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các tỉnh,
thành phố chủ động tham mưu với Thường vụ cấp ủy
triển khai các bước của Cuộc vận động để bảo đảm
với tiến độ chung. Trong quá trình triển khai
nhiệm vụ, thường xuyên thực hiện tốt chế độ
thông tin, báo cáo kết quả về Ban Thường trực Ủy
ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (qua
Ban Tuyên giáo của UBTƯMTTQVN, số 46 Tràng Thi,
Hà Nội; Điện thọai và Fax: 04.39289210) để kịp
thời theo dõi, tổng hợp kết quả chung của Cuộc
vận động.
*
Nơi nhận
:
TM. BAN
THƯỜNG TRỰC
- Ban Bí thư TƯ Đảng (để báo cáo);
PHÓ CHỦ TỊCH KIÊM TỔNG
THƯ KÝ
- CT Huỳnh Đảm (để báo cáo);
(Đã ký)
- Các đ/c UVTT UBTƯMTTQVN;
Vũ Trọng
Kim
- Các tổ chức thành viên của MT
ở TƯ;
- Ban Thường vụ các tỉnh ủy,
thành ủy trực thuộc TƯ;
- UBMTTQVN các tỉnh, thành phố
trực thuộc TƯ;
- Văn phòng, các ban, đơn vị trực
thuộc;
- Lưu VT, Ban
TG.
[Về đầu
trang]
UỶ BAN TRUNG ƯƠNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT
NAM Độc
lập - Tự do - Hạnh Phúc
BAN
THƯỜNG TRỰC
Số
01/HD-MTTW-BTT
Hà
nội, ngày 01 tháng 10 năm 2009
HƯỚNG DẪN
Tổ chức thực hiện Lời kêu gọi
của Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam về vận động toàn dân ủng hộ đồng
bào bị thiệt hại do cơn bão số 9 gây ra.
Nhằm góp phần chia sẻ khó khăn
với nhân dân các tỉnh, thành phố bị ảnh hưởng do
bão số 9 gây ra, ngày 30/9/2009, Đoàn Chủ tịch
Uỷ ban Trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam đã ra “Lời kêu gọi toàn dân ủng
hộ đồng bào bị thiệt hại do cơn bão số 9 gây
ra”.Để thực hiện tốt cuộc vận động này, Ban
Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trậnTổ quốc
Việt Nam hướng dẫn Ban Thường trực Uỷ ban Mặt
trận Tổ quốc các tỉnh, thành phố, các tổ chức
thành viên thực hiện các nội dung sau:
I. TỔ CHỨC TUYÊN TRUYỀN, VẬN
ĐỘNG ỦNG HỘ
1. Tuyên truyền đến các tầng lớp
nhân dân Lời kêu gọi của Đoàn Chủ tịch
Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về
vận động toàn dân ủng hộ đồng bào các tỉnh miền
Trung và Tây Nguyên bị thiệt hại do bão số 9 gây
ra. Tuỳ theo tình hình từng nơi để tổ chức các
hình thức phù hợp: Tổ chức phát động hưởng ứng
Lời kêu gọi của Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; tuyên truyền thông
qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua các
hội nghị...một cách thiết thực và
hiệu quả.
2. Tổ chức vận động các cơ quan,
đơn vị, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trong và
ngoài nước phát huy truyền thống đoàn kết, tinh
thần “nhường cơm sẻ áo”,
“tương thân tương ái” bằng nhiều hình thức tự
nguyện ủng hộ tiền, hàng giúp đỡ đồng bào bị bão
lũ sớm ổn định cuộc sống.
3. Thời gian tiến hành cuộc vận
động: Từ ngày 01/10/2009 đến ngày 15/11/2009.
II. CÁCH TIẾN HÀNH
1. Đối với các tỉnh bị ảnh hưởng
trực tiếp bão, lũ:
Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc cấp tỉnh, thành phố tiến hành một số nội
dung sau:
- Phối hợp với chính quyền rà
soát, nắm chắc tình hình thiệt hại về người, tài
sản và đời sống nhân dân ở từng khu dân cư để
chủ động đề xuất với cấp uỷ Đảng có biện pháp
khắc phục thiệt hại.
- Tổ chức vận động nhân dân vùng
bị bão, lũ chủ động giúp nhau ổn định cuộc sống,
trước mắt hỗ trợ về lương thực, thực phẩm, bố
trí các gia đình có nhà bị sập, đổ, trôi có chỗ
ở, dọn dẹp và làm vệ sinh môi trường...
- Phối hợp với chính quyền tổ
chức tiếp nhận và phân bổ kịp thời tiền, hàng
ủng hộ của Trung ương, các địa phương và các đơn
vị, cá nhân...cho vùng bị bão, lũ
đảm bảo đúng mục đích, đúng đối tượng. Thường
xuyên công khai kết quả tiếp nhận, phân bổ tiền,
hàng cứu trợ trên các thông tin đại chúng để
nhân dân giám sát; hướng dẫn các xã, phường, thị
trấn công khai danh sách cá nhân, hộ gia đình
nhận tiền, hàng hỗ trợ để nhân dân biết.
2. Đối với các tỉnh không bị bão,
lũ:
Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc cấp tỉnh, thành phố chủ động báo cáo cấp
uỷ Đảng, phối hợp với chính quyền cùng cấp:
- Chủ trì triển khai, hướng dẫn
Mặt trận Tổ quốc cấp dưới thực hiện Lời kêu gọi
của Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam về vận động toàn dân ủng hộ đồng
bào miền Trung và Tây Nguyên thiệt hại do bị bão,
lũ đến từng cơ quan, đơn vị, khu dân cư ở địa
phương.
- Tiếp nhận tiền ủng hộ của các
cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân, hộ gia đình
trên địa bàn và chuyển về Quỹ Cứu trợ Trung ương
do Uỷ ban Trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam quản lý để kịp thời hỗ trợ các
tỉnh, thành phố bị thiệt hại.
3. Các cơ quan, đơn vị Trung ương
và các tổ chức thành viên vận động cán bộ, nhân
viên ủng hộ tiền và chuyển về Quỹ Cứu trợ Trung
ương do Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam quản lý.
Mọi sự ủng hộ bằng tiền chuyển
về:
- Tài khoản tiền Việt Nam:
* Tại Kho Bạc:
Tên tài khoản:
Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Số Tài khoản:
934.01.05.00000 Tại Sở giao dịch Kho bạc Nhà
nước
* Tại Ngân
hàng:
Tên tài khoản:
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam – Ban cứu trợ Trung
ương
Số tài khoản:
001.1.00.193241.8
Tại Sở giao
dịch Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại Thương
Việt Nam
- Tài khoản
Ngoại tệ:
Tên tài khoản:
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam – Ban cứu trợ Trung
ương
Số Tài khoản:
001.1.37.193253.8
Tại Sở giao
dịch Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương
Việt Nam
Mã Ngân hàng:
BFTVVNVX 001 (dùng cho các đơn vị chuyển tiền từ
nước ngoài về)
- Các cơ quan, tổ chức, đơn vị,
cá nhân có hàng hoá ủng hộ: phối hợp với Uỷ
ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chuyển
đến các địa phương bị thiệt hại do bão, lũ.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Cuộc vận động ủng hộ đồng bào
các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên bị bão, lũ là
nhiệm vụ trọng tâm đột xuất diễn ra từ ngày
01/10/2009 đến ngày 15/11/2009, đề nghị Ban
Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các tỉnh,
thành phố, các tổ chức thành viên khẩn trương
triển khai thực hiện đạt kết quả.
2. Ban Thường trực Uỷ ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp nhận, triển
khai thực hiện cuộc vận động ủng hộ đồng bào bị
bão số 9; giao cho Ban Phong trào, Văn phòng,
Ban Tuyên giáo và các Ban, đơn vị thuộc cơ quan
Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp
nhận, tổng hợp, báo cáo, phối hợp tuyên truyền
trên các phương tiện thông tin đại chúng.
3. Đề nghị các thành viên Ban cứu
trợ Trung ương: Bộ Tài chính, Bộ Y tế,
Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Nông nghiệp và
phát triển Nông thôn Việt Nam,
Uỷ ban Phòng chống lụt bão Trung ương, Bộ Lao
động Thương binh và Xã hội,
Hội Chữ thập đỏ Việt Nam và các bộ, ngành liên
quan quan tâm chỉ đạo các cơ quan, đơn vị phối
hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam triển khai
thực hiện tốt cuộc vận động.
4. Đề nghị các cơ quan Thông tin
và Truyền thông: Đài Truyền hình Việt Nam, Đài
Tiếng nói Việt Nam, Báo Nhân dân, Thông tấn xã
Việt Nam và các báo, đài Trung ương và địa
phương phối hợp với Ban Thường trực Uỷ ban Trung
ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam tuyên truyền thực hiện tốt cuộc
vận động.
5. Chế độ báo cáo và tổng kết
cuộc vận động:
- Trong thời gian tiến hành cuộc
vận động từ 01/10/2009 đến hết ngày 15/11/2009,
định kỳ ngày thứ 5 hàng tuần, Ban Thường trực Uỷ
ban Mặt trận Tổ quốc các tỉnh, thành phố tổng
hợp tình hình thiệt hại, kết quả tiếp nhận và
phân bổ tiền, hàng cứu trợ ở địa phương về Ban
Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam. Kết thúc cuộc vận động, Uỷ ban Mặt
trận Tổ quốc các cấp đánh giá tổng kết cuộc vận
động, tuyên truyền, biểu dương những tập thể, cá
nhân có đóng góp tích cực trong cuộc vận động.
- Các tổ chức thành viên: Báo cáo
kết quả triển khai và phối hợp vận động đoàn
viên, hội viên của tổ chức mình thực hiện Lời
kêu gọi của Đoàn Chủ tịch Uỷ ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Thông tin, báo cáo gửi về Ban
Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam (qua Ban Phong trào), địa chỉ
46 Tràng Thi - Hà Nội.
ĐT: 04.39287.402;
04.38264.368; Fax: 04.39287402;
Email:
hongthuong_tc@yahoo.com.
TM. BAN THƯỜNG TRỰC
PHÓ CHỦ TỊCH
(đã ký)
Hà Thị Liên
(Phó Trưởng Ban Thường trực Ban
Cứu trợ TW)
[Về đầu
trang]
UỶ BAN
TRUNG ƯƠNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT
NAM Độc
lập - Tự do - Hạnh Phúc
BAN
THƯỜNG TRỰC
Số
05/KH-MTTW-BTT
Hà
nội, ngày 21 tháng 10 năm 2009
KẾ
HOẠCH
Triển khai
thực hiện đợt thi đua đặc biệt do Đại hội
đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam lần thứ VII phát động
Ngày 30/9/2009, Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII đã phát động
đợt thi đua đặc biệt lập thành tích chào mừng kỷ
niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, 80 năm ngày
thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam
và các ngày lễ lớn của đất nước năm 2010 (gọi
tắt là Đợt thi đua đặc biệt), Ban Thường trực Ủy
ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xây
dựng kế hoạch thực hiện đợt thi đua đặc biệt này
trong hệ thống Mặt trận, các tổ chức thành viên
và các tầng lớp nhân dân như sau:
I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU.
1. Nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân
về lịch sử hào hùng của dân tộc; về truyền thống
1000 năm Thăng Long - Hà Nội, truyền thống cách
mạng vẻ vang của Đảng, của Mặt trận và của toàn
dân ta trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống
nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa.
Tăng cường xây dựng và phát huy sức mạnh khối
đại đoàn kết toàn dân tộc, động viên các tầng lớp nhân dân nêu cao ý chí quyết tâm đẩy mạnh phát
triển kinh tế, văn hóa, bảo đảm an sinh xã hội,
giữ vững ổn định chính trị, độc lập, chủ quyền
và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc trong tình hình
và nhiệm vụ mới.
2. Đợt
thi đua đặc biệt được triển khai thực hiện đồng
bộ trong hệ thống Mặt trận, các tổ chức thành
viên và các tầng lớp nhân dân từ Trung ương đến
địa bàn dân cư, gắn với kế hoạch tiếp tục thực
hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh”, là hành động
thiết thực đưa Nghị
quyết Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam vào cuộc sống.
Kết quả của đợt thi đua đặc biệt phải được thể hiện bằng các nhiệm
vụ, công trình, sản phẩm, phần việc cụ thể,
bảo đảm ý nghĩa chính trị, xã hội và tính thiết thực; trong
tổ chức, thực hiện cần có kế hoạch cụ thể, tiến
hành sơ, tổng kết để bảo đảm tính kế thừa và
liên tục, không làm qua loa, đại khái hoặc chỉ
phát động chung chung.
II. NỘI DUNG CỦA ĐỢT THI ĐUA ĐẶC BIỆT.
1. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền đến cán bộ và
nhân dân về lịch sử hào hùng của dân tộc trong
sự nghiệp dựng nước và giữ nước, đặc biệt là
truyền thống 1000 năm Thăng Long – Hà Nội;
truyền thống vẻ vang của Đảng ta và của Mặt trận
dân tộc thống nhất Việt Nam; về kết quả của Đại
hội Mặt trận các cấp và Đại hội lần thứ VII Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam, trong đó, nhấn mạnh nhiệm
vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ mới của Mặt trận các
cấp là Nâng cao vai trò Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, phát huy dân chủ, tăng cường đồng thuận xã
hội, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh.
2. Học tập, triển khai Nghị quyết của Đại hội VII Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam gắn với nhiệm vụ xây dựng Đảng, chính
quyền trong sạch, vững mạnh, đặc biệt là huy
động trí tuệ và tâm huyết của các tầng lớp nhân
dân vào việc đóng góp, chuẩn bị, tổ chức Đại
hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XI của
Đảng.
3. Đẩy mạnh và nâng
cao hiệu quả việc thực hiện cuộc vận động "Toàn
dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân
cư" và cuộc vận động "Ngày vì người nghèo";
hưởng ứng cuộc vận động "Người Việt Nam ưu
tiên dùng hàng Việt Nam"... bằng những công
trình, những sản phẩm, tác phẩm, những phần việc
cụ thể thiết thực, hướng vào thực hiện thắng lợi
các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an
ninh của đất nước, của Thủ đô Hà Nội và mỗi địa
phương, cơ sở năm 2009 và năm 2010, góp phần
thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của
Đảng, cùng Đảng và Nhà nước vượt qua khó khăn
thách thức, ngăn chặn suy giảm kinh tế, phòng
ngừa lạm phát; ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo
anh sinh xã hội và duy trì tăng trưởng kinh tế
hợp lý; đẩy mạnh đấu tranh phòng chống tham
nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm; huy động
các nguồn lực trong xã hội để cùng với chính
sách hỗ trợ hộ nghèo của Chính phủ giúp
đỡ, xây dựng nhà Đại đoàn kết cho hộ nghèo, góp
phần phấn đấu
xây dựng xong 500.000 căn nhà đại đoàn
kết thay thế nhà dột nát cho hộ nghèo trong cả
nước sớm hơn thời gian dự kiến; thực hiện có
hiệu quả việc giúp 62 huyện nghèo theo Nghị
quyết 30a của Chính phủ; hỗ trợ đồng bào bị
thiên tai vượt qua khó khăn, ổn định đời sống và
sản xuất.
4. Tổ chức các hoạt động “về nguồn” hướng về các
ngày lễ lớn của dân tộc như các hoạt động văn
hóa, thể thao truyền thống, hội thảo, tọa đàm,
thi tìm hiểu các di tích lịch sử của Thăng Long
– Hà Nội, của đất nước; lịch sử và truyền thống
của Đảng ta, của Mặt trận dân tộc thống nhất
Việt Nam; thi đua giữ gìn, tôn tạo, bảo vệ và
phát huy giá trị của các di tích lịch sử, văn
hóa tại Hà Nội và trên các địa bàn dân cư.
Tổ chức lễ kỷ niệm, lễ mít tinh chào mừng Ngày
thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam
và Ngày hội đoàn kết ở khu dân cư (18/11/2009 và
18/11/2010), 50 năm ngày thành lập Mặt trận Dân
tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12/1960 –
20/12/2010) với tinh thần phát huy truyền thống
vẻ vang, lịch sử 1000 năm Thăng Long - Hà Nội,
80 năm truyền thống vẻ vang của Đảng và của Mặt
trận dân tộc thống nhất Việt Nam; triển khai các
giải pháp đưa Nghị quyết Đại hội VII Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam vào cuộc sống, góp phần thực hiện
thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế, xã hội, quốc
phòng, an ninh và xây dựng hệ thống chính trị ở
các địa bàn dân cư.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN.
Đợt thi đua đặc biệt được tiến hành từ quý IV
năm 2009 đến 31/12/2010. Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam các cấp phối hợp với chính quyền
và các tổ chức thành viên cùng cấp triển khai
thực hiện với kế hoạch thời gian như sau:
1. Từ
01/10/2009 đến 31/12/2010 với chủ điểm: “Đưa
Nghị quyết Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần
thứ VII vào cuộc sống”, triển khai những
công việc như sau:
Tổ chức tổng kết đợt sinh hoạt chính trị, công
tác tuyên truyền về Đại hội Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam các cấp và đợt thi đua cao điểm chào
mừng Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam trong hệ thống Mặt trận theo Kế hoạch số
356/KH-MTTW-BTT, ngày 19/02/2009 của Ban Thường
trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam.
Quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết
Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
tổ chức thực hiện tháng cao điểm cuộc vận động “Ngày
vì người nghèo”, kỷ niệm 79 năm ngày thành
lập Mặt trận dân tộc thống nhất
Việt Nam và tổ chức tốt Ngày hội đại đoàn kết ở
khu dân cư năm 2009; xây dựng kế hoạch thực hiện
đợt thi đua đặc biệt, trong đó xác định các
nhiệm vụ, phần việc, công trình, sản phẩm ....
dự kiến thực hiện làm kết quả của đợt thi đua
đặc biệt.
* Tài liệu phục vụ cho công tác tuyên truyền và
tổ chức đợt thi đua đặc biệt được in trong Thông
tin Công tác Mặt trận số 76, tháng 10/2009 và
trang Thông tin điện tử Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam (mattran.org.vn) .
2. Từ quý I/ 2010 đến quý II/2010 với chủ điểm:
“Các tầng lớp nhân dân hướng về đại hội Đảng
các cấp”:
Tổ chức nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nâng
cao chất lượng
cuộc vận động
"Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa
ở khu dân cư" sau 15 năm thực hiện và cuộc
vận động "Ngày vì người nghèo" sau
10 năm thực hiện gắn với tổ chức, vận động
các tầng lớp nhân dân tham gia quá trình chuẩn
bị và tổ chức đại hội Đảng các cấp.
Sơ kết đợt thi đua đặc biệt vào cuối quý II/2010
để rút kinh nghiệm và
đẩy mạnh
việc hoàn thành các nhiệm vụ, công trình, sản
phẩm, phần việc… với thời gian nhanh nhất và
chất lượng cao nhất.
3. Từ quý III/2010 đến 31/12/2010 với chủ điểm:
“80 năm Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam
với Đảng quang vinh”:
Tổ chức nghiên cứu, quán triệt nghị quyết đại
hội đảng bộ các cấp; thảo luận, đóng góp ý kiến
xây dựng dự thảo văn kiện Đại hội lần thứ XI của
Đảng.
Tổ chức tổng kết đợt thi đua đặc biệt trong hệ
thống Mặt trận và các tổ chức thành viên từ khu
dân cư đến Trung ương, trong đó tổng hợp kết quả
các công trình, sản phẩm, phần việc, nhiệm vụ …
đã đạt được của đợt thi đua đặc biệt ở mỗi cấp,
mỗi tổ chức thành viên và cả hệ thống của tổ
chức mình, thiết thực chào mừng đại lễ kỷ niệm
1000 năm Thăng Long – Hà Nội, 80 năm ngày
thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam
và 50 năm ngày thành lập Mặt trận dân tộc giải
phóng miền Nam Việt Nam.
Ngày 30/11/2010, Ủy ban Mặt trận các cấp và các
tổ chức thành viên báo cáo tổng hợp kết quả đợt
thi đặc biệt của cấp mình về Ban Thường trực Ủy
ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để phục
vụ cho nhiệm vụ tổng kết của Trung ương.
Đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp
và các tổ chức thành viên xây dựng kế hoạch cụ
thể và triển khai thực hiện trong hệ thống tổ
chức, địa phương của mình, trong quá trình triển
khai công việc, thường xuyên báo cáo về Ban
Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam (qua Thường trực Hội đồng thi đua của
Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Văn
phòng Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, số 46 Tràng Thi, Hà Nội) để kịp tổng hợp
vào kết quả chung.
TM.
BAN THƯỜNG TRỰC
PHÓ CHỦ TỊCH KIÊM
TỔNG THƯ KÝ
(Đã ký)
Vũ Trọng Kim
[Về đầu
trang]
UỶ BAN TRUNG ƯƠNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT
NAM Độc
lập - Tự do - Hạnh Phúc
BAN VẬN ĐỘNG
Hà
nội, ngày 21 tháng 10 năm 2009
NGÀY VÌ NGƯỜI NGHÈO TW
Số
08/KH-MTTW-BTT
KẾ HOẠCH
Tổ chức vận động
"Tháng cao điểm vì người nghèo"
từ 17/10 đến 18/11/2009
hướng tới thực
hiện chương trình “Nối vòng tay lớn”
năm 2009
Thực hiện
Kế hoạch công tác năm 2009 của Ban Thường trực
Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam, phát huy kết
quả đã đạt được của cuộc vận động “Ngày vì
người nghèo”, tiếp tục đẩy mạnh phong trào
giúp đỡ người nghèo nhằm tạo thêm nguồn lực để
giảm nghèo; thiết thực lập thành tích chào
mừng 79 năm ngày thành lập Mặt trận Dân tộc
Thống nhất Việt Nam và Đại hội Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam lần thứ VII, Ban vận động “Ngày
vì người nghèo” Trung ương xây dựng kế hoạch
tổ chức "Tháng cao điểm vì người nghèo” từ
ngày 17/10 đến ngày 18/11/2009 hướng tới thực
hiện chương trình “Nối vòng tay lớn” năm 2009
như sau:
I- Mục đích - yêu cầu:
1. Tổ chức "Tháng cao điểm vì
người nghèo" và chương trình "Nối vòng
tay lớn" năm 2009 nhằm tiếp tục phát huy
tinh thần đoàn kết “Tương thân, tương ái”
của các tầng lớp nhân dân, các tổ chức, các
doanh nghiệp, người Việt Nam ở nước ngoài, các
tổ chức quốc tế tham gia hưởng ứng cuộc vận động
"Ngày vì người nghèo"; tiếp tục đóng góp
ủng hộ "Quỹ vì người nghèo" các cấp để
chăm lo cho người nghèo, góp phần xây dựng khối
Đại đoàn kết toàn dân tộc.
2. Tạo ra nguồn lực quan
trọng góp phần thực hiện thành công
Nghị quyết
30a/2008/NQ-CP và
Quyết định
167/2008/QĐ-TTg
của Chính phủ về
chính sách hỗ
trợ hộ nghèo về nhà ở, góp phần vào việc giảm
nghèo nhanh và bền vững trong cả nước.
II- Nội
dung- Biện pháp tổ chức thực hiện:
1. Ở Trung ương:
1.1. Công tác tuyên truyền:
- Ban Thường trực Uỷ ban Trung
ương MTTQ Việt Nam phối hợp với các cơ quan
thông tin đại chúng tuyên truyền kết quả cuộc
vận động “Ngày vì người nghèo” trong thời
gian qua, chủ trương tổ chức “Tháng cao điểm
vì người nghèo" (từ 17/10 đến 18/11/2009) và
Chương trình "Nối vòng tay lớn"
(31/12/2009). Chỉ đạo các báo, Tạp chí
trực thuộc Mặt trận như: Báo Đại đoàn kết, Thông
tin công tác Mặt trận, Tạp chí Mặt trận, Website
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tăng cường tuyên
truyền về cuộc vận động, tập trung nêu gương các
tập thể, cá nhân điển hình góp "Quỹ vì người
nghèo" các cấp; động viên, biểu dương các
địa phương có nhiều thành tích trong việc phấn
đấu hoàn thành chương trình xoá nhà tạm, nhà dột
nát cho các hộ nghèo.
1.2. Phối hợp với Đài Truyền
hình Việt Nam triển
khai kế hoạch tuyên truyền “Tháng cao điểm vì
người nghèo” và triển khai kế hoạch
tổ chức chương trình “Nối vòng tay lớn”
năm 2009.
1.3. Phối hợp với Báo Nhân dân,
Hiệp hội Dệt may Việt
Nam, Tập đoàn Dệt may Việt Nam, Quân chủng Hải
quân vận động cho chương trình “Đồng
hành cùng doanh nghiệp dệt may Việt Nam vì đồng
bào biển đảo Tổ quốc” để góp phần hỗ trợ cải
thiện đời sống của đồng bào vùng biển đảo và
thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển đảo.
1.4 Phối hợp vận động các Tập
đoàn, các Tổng công ty tham gia giúp đỡ các địa
phương nghèo:
- Trên cơ sở các Tập đoàn, Tổng
Công ty đã đăng ký và được Chính phủ phân công
giúp đỡ các huyện nghèo, Ban Thường trực Uỷ ban
Trung ương MTTQ Việt Nam và Ban vận động
“Ngày vì người nghèo” Trung ương gặp gỡ để
đánh giá kết quả hỗ trợ năm 2009, thống nhất kế
hoạch giúp đỡ năm 2010 để hạ quyết tâm tại
chương trình “Nối vòng tay lớn”
31/12/2009.
- Phối hợp với các Tổng Công ty,
các doanh nghiệp còn lại để vận động ủng hộ
“Quỹ vì người nghèo” các cấp, có thể ủng hộ
trực tiếp hoặc ủng hộ có địa chỉ cụ thể theo yêu
cầu của doanh nghiệp.
1.5. Phối hợp với Uỷ ban về
người Việt Nam ở nước ngoài
kêu gọi sự tham gia ủng hộ của các tổ chức, cá
nhân ở nước ngoài. Tổng hợp kết quả đăng ký ủng
hộ của các tổ chức, cá nhân quốc tế tại chương
trình “Nối vòng tay lớn” năm 2008 cho 28
tỉnh, thành phố.
1.6. Các tổ chức Thành viên
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam:
-
Từng tổ chức thành viên có văn bản chỉ đạo,
hướng dẫn trong hệ thống tổ chức mình để phối
hợp thực hiện “Tháng cao điểm vì người nghèo”
và vận động cán bộ, đoàn viên, hội viên ủng
hộ "Quỹ vì người nghèo” các cấp. Phối hợp
với Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ các cấp và chính
quyền để thực hiện chương trình xây dựng nhà Đại
đoàn kết, xoá nhà dột nát cho các hộ nghèo là
đoàn viên, hội viên của tổ chức mình.
1.7. Ban Thường trực Uỷ ban
Trung ương MTTQ Việt Nam, Ban vận động “Ngày vì
người nghèo” Trung ương,
các Ban, đơn vị trực thuộc Uỷ ban Trung ương
MTTQ Việt Nam tiến hành vận động “Quỹ vì
người nghèo”. Những tổ chức, cá nhân, doanh
nghiệp có thể đăng ký ủng hộ trong “Tháng cao
điểm vì người nghèo” hoặc đăng ký và ủng hộ
trong chương trình “Nối vòng tay lớn”
(31/12/2009) (sẽ có kế
hoạch riêng).
1.8. Tổ chức buổi lễ phát động
“Tháng cao điểm vì người nghèo”
(trong khoảng từ ngày 13 đến ngày
17/10/2009), tiếp nhận ủng hộ “Quỹ vì người
nghèo” Trung ương tại cơ quan Uỷ ban Trung
ương MTTQ Việt Nam (số 46, Tràng Thi, Hà Nội).
1.9. Phối hợp tổng kết chương
trình xây dựng nhà Đại đoàn kết cho hộ nghèo của
Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam năm 2009,
bàn chương trình tham gia giúp đỡ người nghèo
của Tập đoàn năm 2010 và mời lãnh đạo Tập đoàn
trao Quỹ trong chương trình “Nối vòng tay lớn”
năm 2009.
2. Đối với các địa phương
Căn cứ vào tình hình thực tế của
địa phương, Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ và Ban
vận động "Ngày vì người nghèo" cấp tỉnh
xây dựng, triển khai kế hoạch tổ chức "Tháng
cao điểm vì người nghèo" và tham gia vận
động để góp phần vào thành công của chương trình
"Nối vòng tay lớn" 31/12/2009 do Ban
Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam và
Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức;
- Tiếp tục tổ chức triển khai
thực hiện công văn số 4146/MTTW-BTT ngày
13/7/2009 của Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương
MTTQ Việt Nam về việc vận động “Quỹ vì người
nghèo” phối hợp thực hiện Nghị quyết
30a/2008/NQ-CP và Quyết định
167/2008/QĐ-TTg của Chính phủ.
- MTTQ các
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đồng loạt
triển khai phát động "Tháng cao điểm vì người
nghèo" (17/10 đến 18/11/2009) nhằm dấy lên
phong trào thi đua rộng rãi thu hút toàn dân
tham gia cuộc vận động, tạo thêm Quỹ và nhiều
nguồn lực giúp đỡ người nghèo.
- Trong “Tháng
cao điểm vì người nghèo”, Ban Thường trực Uỷ ban
MTTQ và Ban vận động “Ngày vì người nghèo”
các tỉnh, thành phố, các tổ chức thành viên báo
cáo hàng tuần về Ban Thường trực Uỷ ban Trung
ương MTTQ Việt Nam và Thường trực Ban vận động
"Ngày vì người nghèo" Trung ương để kịp
thời tuyên truyền trên các phương tiện thông tin
đại chúng.
- Những địa
phương được hỗ trợ từ "Quỹ vì người nghèo"
Trung ương từ nguồn đóng góp của Tập đoàn Dầu
khí Quốc gia Việt Nam và các đợt phân bổ Quỹ
Trung ương từ đầu năm 2009 cần khẩn trương triển
khai xây dựng nhà theo kế hoạch và báo cáo tiến
độ về Thường trực Ban vận động “Ngày vì người
nghèo” Trung ương để chuẩn bị cho công tác
tổng kết năm 2009, triển khai kế hoạch năm 2010.
Trên đây là kế
hoạch hoạt động "Tháng cao điểm vì người
nghèo" (17/10 đến 18/11/2009) hướng tới thực
hiện chương trình "Nối vòng tay lớn" năm
2009, đề nghị Ban Thường trực Uỷ ban
MTTQ, Ban vận động “Ngày vì người nghèo”
các tỉnh, thành phố, các tổ chức thành viên Mặt
trận triển khai, thực hiện có hiệu quả. Đề nghị
các tỉnh, thành phố thường xuyên tự kiểm tra
việc thực hiện Quy chế xây dựng, quản lý và sử
dụng “Quỹ vì người nghèo” các cấp, thực
hiện tốt Thông tư 77/2007/TT-BTC ngày 05/7/2007
của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn công tác kế
toán áp dụng cho“Quỹ vì người nghèo” và
thường xuyên báo cáo kết quả về Ban Thường trực
Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam để tổng hợp (qua
Ban phong trào Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam,
số Fax: 04.38264.368)./.
TM.BAN VẬN ĐỘNG
PHÓ TRƯỞNG BAN VẬN ĐỘNG
Vũ Trọng Kim
Phó Chủ
tịch kiêm Tổng Thư ký
Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt
Nam
[Về đầu
trang]
|