|
HIẾN
PHÁP
NƯỚC
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM NĂM 1992
(Được Quốc hội khoá VIII, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày
15/4/1992, được HĐNN công bố theo Lệnh số 68 LCT/HĐNN8 ngày 18/4/1992
và được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10
ngày 25/12/2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10).
Điều 9
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị,
liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã
hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các
tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam định cư ở
nước ngoài.
Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các tổ chức
thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Mặt trận phát
huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị
và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền
nhân dân, cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân
dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành
Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại
biểu dân cử và cán bộ, viên chức Nhà nước.
Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức
thành viên hoạt động có hiệu quả.
Điều 87
Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và
các Uỷ ban của Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm
sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành
viên của Mặt trận có quyền trình dự án luật ra trước Quốc hội.
Đại biểu Quốc hội có quyền trình kiến nghị về luật và dự án
luật ra trước Quốc hội.
Thủ tục trình Quốc hội dự án luật, kiến nghị về luật do luật
định.
Điều 111
Chủ tịch Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, Chủ tịch Tổng liên
đoàn lao động Việt
Nam
và người đứng đầu các đoàn thể nhân dân được mời tham dự các phiên họp
của Chính phủ khi bàn các vấn đề có liên quan.
Điều 125
Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và người đứng đầu
các đoàn thể nhân dân ở địa phương được mời tham dự các kỳ họp Hội đồng
nhân dân và được mời tham dự hội nghị Uỷ ban nhân dân cùng cấp khi bàn
các vấn đề có liên quan.
Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thực hiện chế độ thông báo
tình hình mọi mặt của địa phương cho Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
nhân dân, lắng nghe ý kiến, kiến nghị của các tổ chức này về xây dựng
chính quyền và phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương; phối hợp với
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân động viên nhân dân cùng Nhà
nước thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh ở địa
phương.
|
Về đầu trang |
BỘ LUẬT DÂN SỰ
(Luật số
33/2005/QH11, được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày
14/6/2005).
Điều 100. Các loại pháp nhân
1. Cơ quan nhà nước,
đơn vị vũ trang nhân dân.
2. Tổ chức chính trị,
tổ chức chính trị - xã hội.
3. Tổ chức kinh tế.
4. Tổ chức chính trị xã
hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp.
5. Quỹ xã hội, quỹ từ
thiện.
6. Tổ chức khác có đủ
các điều kiện quy định tại Điều 84 của Bộ luật này.
Điều 102.
Pháp nhân là tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội
1. Tổ
chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội quản lý, sử dụng, định đoạt
tài sản thuộc sở hữu của mình nhằm thực hiện mục tiêu chính trị, xã hội
theo điều lệ là pháp nhân khi tham gia quan hệ dân sự.
2. Tài sản
của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội không thể phân chia
cho các thành viên.
3. Tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội chịu trách nhiệm dân sự bằng tài
sản của mình, trừ tài sản mà theo quy định của pháp luật không được sử
dụng để chịu trách nhiệm dân sự.
Điều 104.
Pháp nhân là tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ
chức xã hội - nghề nghiệp
1. Tổ chức
chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề
nghiệp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập, công nhận
điều lệ và có hội viên là cá nhân, tổ chức tự nguyện đóng góp tài sản
hoặc hội phí nhằm phục vụ mục đích của hội và nhu cầu chung của hội viên
là pháp nhân khi tham gia quan hệ dân sự.
2. Tổ chức
chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề
nghiệp chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản của mình.
3. Trong
trường hợp tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ
chức xã hội - nghề nghiệp chấm dứt hoạt động thì tài sản của tổ chức đó
không được phân chia cho các hội viên mà phải được giải quyết theo quy định
của pháp luật.
Điều 105.
Pháp nhân là quỹ xã hội, quỹ từ thiện
1. Quỹ xã
hội, quỹ từ thiện được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập,
công nhận điều lệ, hoạt động vì mục đích khuyến khích phát triển văn hoá,
khoa học, từ thiện và các mục đích xã hội, nhân đạo khác không nhằm mục
đích thu lợi nhuận là pháp nhân khi tham gia quan hệ dân sự.
2. Tài sản
của quỹ xã hội, quỹ từ thiện được quản lý, sử dụng và định đoạt theo quy
định của pháp luật và phù hợp với mục đích hoạt động của quỹ do điều lệ
quy định.
3. Quỹ xã
hội, quỹ từ thiện chỉ được phép tiến hành các hoạt động quy định trong điều
lệ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận, trong phạm vi tài sản
của quỹ và phải chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản đó.
4. Tổ chức
đã lập quỹ xã hội, quỹ từ thiện không phải chịu trách nhiệm dân sự bằng
tài sản thuộc sở hữu của mình về các hoạt động của quỹ và không được
phân chia tài sản của quỹ trong quá trình quỹ hoạt động.
Trong trường
hợp quỹ xã hội, quỹ từ thiện chấm dứt hoạt động thì tài sản của quỹ
không được phân chia cho các sáng lập viên mà phải được giải quyết theo
quy định của pháp luật.
Điều 205.
Thực hiện quyền sở hữu nhà nước đối với tài sản được giao cho tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề
nghiệp
1. Khi tài
sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước được giao cho tổ chức chính trị, tổ
chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp thì Nhà
nước thực hiện quyền kiểm tra, giám sát việc quản lý, sử dụng tài sản đó.
2. Tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề
nghiệp có quyền quản lý, sử dụng tài sản được Nhà nước giao đúng mục đích,
phạm vi, theo cách thức, trình tự do pháp luật quy định phù hợp với chức
năng, nhiệm vụ được quy định trong điều lệ.
Điều 227.
Sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội
Sở hữu của
tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội là sở hữu của tổ chức đó
nhằm thực hiện mục đích chung quy định trong điều lệ.
Điều 228.
Tài sản thuộc hình thức sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính
trị - xã hội
1. Tài sản
được hình thành từ nguồn đóng góp của các thành viên, tài sản được tặng
cho chung và từ các nguồn khác phù hợp với quy định của pháp luật là tài
sản thuộc sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.
Tài sản
thuộc hình thức sở hữu nhà nước đã chuyển giao quyền sở hữu cho tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội là tài sản thuộc sở hữu của tổ
chức đó.
2. Tài sản
thuộc hình thức sở hữu nhà nước giao cho tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội để quản lý và sử dụng thì không thuộc sở hữu của tổ
chức đó.
Điều 229.
Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc hình thức sở hữu của tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội
Tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng,
định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình theo quy định của pháp luật và
phù hợp với mục đích hoạt động được quy định trong điều lệ.
Điều 230.
Sở hữu của tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ
chức xã hội - nghề nghiệp
Sở hữu của
tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội -
nghề nghiệp là sở hữu của cả tổ chức đó nhằm thực hiện mục đích chung
của các thành viên được quy định trong điều lệ.
Điều 231.
Tài sản thuộc hình thức sở hữu của tổ chức chính trị xã hội - nghề
nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp
Tài sản được
hình thành từ nguồn đóng góp của các thành viên, tài sản được tặng cho
chung hoặc từ các nguồn khác phù hợp với quy định của pháp luật là tài
sản thuộc sở hữu của tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã
hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp đó.
Điều 232.
Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc hình thức sở hữu của tổ
chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội -
nghề nghiệp
Tổ chức
chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề
nghiệp thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở
hữu của mình theo quy định của pháp luật và phù hợp với mục đích hoạt động
được quy định trong điều lệ.
| Về đầu trang |
BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
(Luật số 24/2004/QH11 ngày 15 tháng 6 năm 2004)
Điều 1. Phạm
vi điều chỉnh và nhiệm vụ của Bộ luật tố tụng dân sự
Bộ luật tố
tụng dân sự quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình
tự, thủ tục khởi kiện để Toà án giải quyết các vụ án về tranh chấp dân
sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi
chung là vụ án dân sự) và trình tự, thủ tục yêu cầu để Toà án giải quyết
các việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương
mại, lao động (sau đây gọi chung là việc dân sự); trình tự, thủ tục giải
quyết vụ án dân sự, việc dân sự (sau đây gọi chung là vụ việc dân sự)
tại Toà án; thi hành án dân sự; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của
cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ
của người tham gia tố tụng, của cá nhân, cơ quan nhà nước, đơn vị vũ
trang nhân dân, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -
xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức
xã hội - nghề nghiệp (sau đây gọi chung là cơ quan, tổ chức) có liên
quan nhằm bảo đảm cho việc giải quyết các vụ việc dân sự được nhanh
chóng, chính xác, công minh và đúng pháp luật.
Bộ luật tố
tụng dân sự góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, tăng cường pháp chế
xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp
của cá nhân, cơ quan, tổ chức; giáo dục mọi người nghiêm chỉnh chấp hành
pháp luật.
Điều 62.
Kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng
1. Trường
hợp đương sự là cá nhân đang tham gia tố tụng chết mà quyền, nghĩa vụ về
tài sản của họ được thừa kế thì người thừa kế tham gia tố tụng.
2. Trường hợp đương sự là cơ quan, tổ chức đang tham gia tố tụng phải chấm
dứt hoạt động, bị giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, chuyển đổi
hình thức tổ chức thì việc kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự đó được
xác định như sau:
a) Trường
hợp tổ chức phải chấm dứt hoạt động, bị giải thể là công ty cổ phần,
công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh thì cá nhân, tổ chức là
thành viên của tổ chức đó hoặc đại diện của họ tham gia tố tụng;
b) Trường
hợp cơ quan, tổ chức phải chấm dứt hoạt động, bị giải thể là cơ quan nhà
nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -
xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức
xã hội - nghề nghiệp, doanh nghiệp nhà nước thì đại diện hợp pháp của cơ
quan, tổ chức cấp trên của cơ quan, tổ chức đó hoặc đại diện hợp pháp
của cơ quan, tổ chức được giao tiếp nhận các quyền, nghĩa vụ của cơ quan,
tổ chức đó tham gia tố tụng;
c) Trường
hợp tổ chức hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức
thì cá nhân, tổ chức nào tiếp nhận quyền, nghĩa vụ của tổ chức đó tham
gia tố tụng.
3. Trường
hợp đương sự là tổ chức không phải là pháp nhân mà người đại diện hoặc
người quản lý đang tham gia tố tụng chết thì tổ chức đó phải cử người
khác làm đại diện để tham gia tố tụng; nếu tổ chức đó phải chấm dứt hoạt
động, bị giải thể thì cá nhân là thành viên của tổ chức đó tham gia tố
tụng.
| Về đầu trang |
BỘ
LUẬT HÌNH SỰ
(Luật
số 15/1999/QH10, ngày 21/12/1999)
Điều 4.
Trách nhiệm đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm
1. Các cơ
quan Công an, Kiểm sát, Toà án, Tư pháp, Thanh tra và các cơ quan hữu
quan khác có trách nhiệm thi hành đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình, đồng
thời hướng dẫn, giúp đỡ các cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức, công dân
đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, giám sát và giáo dục người phạm
tội tại cộng đồng.
2. Các cơ
quan, tổ chức có nhiệm vụ giáo dục những người thuộc quyền quản lý của
mình nâng cao cảnh giác, ý thức bảo vệ pháp luật và tuân theo pháp luật,
tôn trọng các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa; kịp thời có biện
pháp loại trừ nguyên nhân và điều
kiện gây ra tội phạm trong cơ quan, tổ chức của mình.
3. Mọi
công dân có nghĩa vụ tích cực tham gia đấu tranh phòng ngừa và chống tội
phạm.
| Về đầu trang |
BỘ LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ
(Luật
số 19/2003/QH11, ngày 26 tháng 11 năm 2003)
Điều 32.
Giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động của cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
Cơ quan
nhà nước, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của
Mặt trận, đại biểu dân cử có quyền giám sát hoạt động của các cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; giám sát việc giải quyết khiếu
nại, tố cáo của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Nếu phát
hiện những hành vi trái pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng thì cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử có quyền yêu
cầu, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt
trận có quyền kiến nghị với cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền xem
xét, giải quyết theo quy định của Bộ luật này. Cơ quan tiến hành tố tụng
có thẩm quyền phải xem xét, giải quyết và trả lời kiến nghị, yêu cầu đó
theo quy định của pháp luật.
Điều 57.
Lựa chọn và thay đổi người bào chữa
1. Người
bào chữa do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp
pháp của họ lựa chọn.
2. Trong
những trường hợp sau đây, nếu bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp
pháp của họ không mời người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát
hoặc Toà án phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người
bào chữa cho họ hoặc đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức
thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức
mình:
a) Bị can,
bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định
tại Bộ luật hình sự;
b) Bị can,
bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc
thể chất.
Trong các
trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này, bị can, bị
cáo và người đại diện hợp pháp của họ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc
từ chối người bào chữa.
3. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, các tổ chức thành
viên của Mặt trận có quyền cử bào chữa viên nhân dân để bào chữa cho
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là thành viên của tổ chức mình.
| Về đầu trang |
LUẬT BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC
HỘI
(Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 đã được sửa đổi, bổ sung một
số điều theo Luật số 31/2001/QH10, ngày 25/12/2001 của Quốc hội khoá X,
kỳ họp thứ 10).
Điều 5
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức hiệp
thương lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội; tham gia
giám sát việc bầu cử đại biểu Quốc hội.
Điều 9
Căn cứ vào số lượng đại biểu Quốc hội quy
định tại Điều 8 của Luật này, căn cứ vào nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc
hội, để bảo đảm tỷ lệ đại diện hợp lý của các tầng lớp nhân dân trong
Quốc hội, sau khi trao đổi ý kiến với Ban thường trực Uỷ ban trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đại diện các tổ chức chính trị - xã hội,
chậm nhất là chín mươi lăm ngày trước ngày bầu cử, Uỷ ban thường vụ Quốc
hội dự kiến về:
1- Cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội;
2- Số lượng đại biểu Quốc hội được bầu
của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, lực
lượng vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương.
Điều 14
Chậm nhất là một trăm lẻ năm ngày trước
ngày bầu cử, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thành lập Hội đồng bầu cử từ mười
lăm đến hai mươi mốt người, gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Tổng thư ký
và các uỷ viên là đại diện Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Uỷ ban
trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, một số cơ quan, tổ chức hữu quan.
Hội đồng bầu cử có những nhiệm vụ và
quyền hạn sau đây:
1- Lãnh đạo việc tổ chức bầu cử trong cả
nước; kiểm tra, đôn đốc việc thi hành các quy định của pháp luật về bầu
cử đại biểu Quốc hội;
2- Chỉ đạo công tác thông tin, tuyên
truyền và vận động bầu cử;
3- Chỉ đạo công tác bảo vệ an ninh, trật
tự an toàn xã hội trong cuộc bầu cử;
4- Nhận và xem xét hồ sơ của người được
tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, lực lượng
vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước ở Trung ương giới thiệu ứng cử đại
biểu Quốc hội; gửi tiểu sử tóm tắt của những người ứng cử đến Ban thường
trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
5- Nhận hồ sơ và danh sách người ứng cử
đại biểu Quốc hội do Uỷ ban bầu cử gửi đến;
6- Quy định mẫu thẻ cử tri và phiếu bầu
cử đại biểu Quốc hội;
7- Lập và công bố danh sách những người
ứng cử đại biểu Quốc hội theo từng đơn vị bầu cử trong cả nước;
8- Xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo về
công tác của Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử và Tổ bầu cử; xét và giải quyết
khiếu nại, tố cáo về bầu cử do Uỷ ban bầu cử hoặc Ban bầu cử chuyển đến;
xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo về người ứng cử; xét và giải quyết
khiếu nại về kết quả bầu cử;
9- Nhận và kiểm tra biên bản xác định kết
quả bầu cử do Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử gửi đến; làm biên bản tổng kết
cuộc bầu cử trong cả nước;
10- Xét và quyết định việc bầu cử lại,
bầu cử thêm hoặc huỷ bỏ kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử;
11- Công bố kết quả bầu cử trong cả nước;
12- Cấp giấy chứng nhận cho đại biểu
trúng cử;
13- Trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội và
Quốc hội khoá mới biên bản tổng kết cuộc bầu cử trong cả nước và những
hồ sơ, tài liệu về bầu cử.
Điều 15
Chậm nhất là chín mươi lăm ngày trước
ngày bầu cử, Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương sau khi thống nhất với Uỷ ban nhân dân và Ban thường trực Uỷ
ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp quyết định thành lập Uỷ ban bầu cử từ bảy
đến mười một người, gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Thư ký và các uỷ
viên là đại diện Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc cùng cấp, một số cơ quan, tổ chức hữu quan.
Uỷ ban bầu cử có những nhiệm vụ và quyền
hạn sau đây:
1- Chỉ đạo việc chuẩn bị và tổ chức bầu
cử ở các đơn vị bầu cử; kiểm tra, đôn đốc việc thi hành những quy định
của pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội của Ban bầu cử, Tổ bầu cử;
2- Chỉ đạo thực hiện công tác thông tin,
tuyên truyền và vận động bầu cử ở địa phương;
3- Chỉ đạo thực hiện công tác bảo vệ an
ninh, trật tự an toàn xã hội trong cuộc bầu cử ở địa phương;
4- Nhận và xem xét hồ sơ của người được
tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, lực lượng
vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước ở địa phương giới thiệu ứng cử đại
biểu Quốc hội và hồ sơ của người tự ứng cử đại biểu Quốc hội; gửi danh
sách trích ngang và tiểu sử tóm tắt của những người được giới thiệu ứng
cử và những người tự ứng cử đến Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
5- In tài liệu bầu cử; in thẻ cử tri và
phiếu bầu cử theo mẫu của Hội đồng bầu cử;
6- Lập danh sách những người ứng cử theo
đơn vị bầu cử và báo cáo Hội đồng bầu cử;
7- Kiểm tra việc lập và niêm yết danh
sách cử tri;
8- Xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo về
công tác của Ban bầu cử, Tổ bầu cử; xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo
về bầu cử do Ban bầu cử, Tổ bầu cử chuyển đến; xét và giải quyết khiếu
nại, tố cáo về người ứng cử;
9- Nhận và kiểm tra biên bản xác định kết
quả bầu cử của các Ban bầu cử; lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở địa
phương;
10- Thông báo kết quả bầu cử ở địa phương;
11- Báo cáo tình hình tổ chức và tiến
hành bầu cử theo quy định của Hội đồng bầu cử;
12- Chuyển hồ sơ, biên bản xác định kết
quả bầu cử đến Hội đồng bầu cử;
13- Tổ chức việc bầu cử lại, bầu cử thêm
theo quyết định của Hội đồng bầu cử.
Điều 16
Chậm nhất là sáu mươi ngày trước ngày bầu
cử, Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
sau khi thống nhất với Uỷ ban nhân dân và Ban Thường trực Uỷ ban Mặt
trận Tổ quốc cùng cấp quyết định thành lập ở mỗi đơn vị bầu cử một Ban
bầu cử từ chín đến mười lăm người, gồm Trưởng ban, các Phó Trưởng ban,
Thư ký và các uỷ viên là đại diện Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban
nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp, một số cơ quan, tổ chức hữu
quan.
Ban bầu cử có những nhiệm vụ và quyền hạn
sau đây:
1- Kiểm tra, đôn đốc việc thi hành các
quy định của pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội của các Tổ bầu cử;
2- Kiểm tra, đơn đốc việc bố trí các
phòng bỏ phiếu;
3- Kiểm tra việc lập và niêm yết danh
sách cử tri;
4- Phân phối thẻ cử tri, phiếu bầu cử cho
các Tổ bầu cử chậm nhất là năm ngày trước ngày bầu cử;
5- Niêm yết danh sách những người ứng cử
trong đơn vị bầu cử;
6- Kiểm tra công việc bầu cử tại các
phòng bỏ phiếu;
7- Nhận và kiểm tra biên bản kết quả kiểm
phiếu do các Tổ bầu cử gửi đến; làm biên bản xác định kết quả bầu cử ở
đơn vị bầu cử để gửi đến Hội đồng bầu cử, Uỷ ban bầu cử và thông báo kết
quả đó;
8- Nhận và chuyển đến Uỷ ban bầu cử khiếu
nại, tố cáo về người ứng cử; xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo về công
tác của các Tổ bầu cử;
9- Báo cáo tình hình tổ chức và tiến hành
bầu cử theo quy định của Hội đồng bầu cử và Uỷ ban bầu cử;
10- Giao hồ sơ, tài liệu về bầu cử cho Uỷ
ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
11- Tổ chức việc bầu cử lại, bầu cử thêm.
Điều 17
Chậm nhất là ba mươi ngày trước ngày bầu
cử, Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn sau khi thống nhất
với Uỷ ban nhân dân và Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp
quyết định thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu một Tổ bầu cử từ năm đến mười
một người, gồm Tổ trưởng, Tổ phó, Thư ký và các uỷ viên là đại diện Hội
đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp và đại
diện cử tri ở địa phương.
Đơn vị vũ trang nhân dân thành lập ở mỗi
khu vực bỏ phiếu của mình một Tổ bầu cử từ năm đến chín người, gồm Tổ
trưởng, Tổ phó, Thư ký và các uỷ viên là đại diện Chỉ huy đơn vị và đại
diện quân nhân.
Trong trường hợp đơn vị vũ trang nhân dân
và địa phương có chung một khu vực bỏ phiếu thì Chủ tịch Hội đồng nhân
dân xã, phường, thị trấn sau khi thống nhất với Uỷ ban nhân dân, Ban thường
trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp và Chỉ huy đơn vị vũ trang nhân
dân quyết định thành lập Tổ bầu cử từ năm đến mười một người, gồm đại
diện Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng
cấp, đại diện Chỉ huy đơn vị, đại diện quân nhân và đại diện cử tri ở địa
phương.
Tổ bầu cử có những nhiệm vụ và quyền hạn
sau đây:
1- Tổ chức việc bầu cử trong khu vực bỏ
phiếu;
2- Bố trí phòng bỏ phiếu và chuẩn bị hòm
phiếu;
3- Phát thẻ cử tri cho cử tri chậm nhất
là hai ngày trước ngày bầu cử, trừ những trường hợp quy định tại khoản 2
Điều 23 của Luật này; phát phiếu bầu cử cho cử tri có đóng dấu của Tổ
bầu cử;
4- Bảo đảm trật tự trong phòng bỏ phiếu;
5- Kiểm phiếu và làm biên bản kết quả
kiểm phiếu để gửi đến Ban bầu cử;
6- Giao biên bản kết quả kiểm phiếu và
toàn bộ phiếu bầu cho Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn;
7- Báo cáo tình hình tổ chức và tiến hành
bầu cử theo quy định của các tổ chức phụ trách bầu cử cấp trên;
8- Tổ chức thực hiện việc bầu cử lại, bầu
cử thêm.
Điều 28
1- Công dân ứng cử đại biểu Quốc hội (người
được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử) theo quy định của Luật này phải
nộp hồ sơ ứng cử chậm nhất là sáu mươi lăm ngày trước ngày bầu cử.
Hồ sơ ứng cử gồm:
a) Đơn xin ứng cử;
b) Sơ yếu lý lịch có chứng nhận của cơ quan, tổ chức, đơn
vị nơi người đó công tác hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi
người đó thường trú;
c) Tiểu sử tóm tắt và ba ảnh màu cỡ 4 cm x 6 cm.
2- Người được tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã
hội, tổ chức xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước ở
Trung ương giới thiệu ứng cử thì nộp hồ sở tại Hội đồng bầu cử.
Người được tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội,
tổ chức xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước ở địa
phương giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thì nộp hồ sơ tại Uỷ ban bầu
cử nơi mình ứng cử.
3- Sau khi nhận và xem xét hồ sơ của những người ứng cử,
nếu thấy hợp lệ theo quy định của Luật này thì Hội đồng bầu cử chuyển
tiểu sử tóm tắt của những người được các tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, lực lương vũ trang nhân dân, cơ quan
nhà nước ở Trung ương giới thiệu đến Ban thường trực Uỷ ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Uỷ ban bầu cử chuyển tiểu sử tóm tắt của
những người được các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ
chức xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước ở địa phương
giới thiệu ứng cử và tiểu sử tóm tắt của những người tự ứng cử đến Ban
thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương để đưa vào danh sách hiệp thương.
Điều 30
Hội nghị hiệp thương lần thứ nhất ở trung ương do Đoàn
Chủ tịch Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức chậm nhất
là tám mươi lăm ngày trước ngày bầu cử, thành phần gồm Đoàn Chủ tịch Uỷ
ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đại diện Ban lãnh đạo các tổ
chức thành viên của Mặt trận.
Hội nghị hiệp thương thoả thuận về cơ cấu, thành phần và
số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương được bầu làm
đại biểu Quốc hội trên cơ sở dự kiến do Uỷ ban thường vụ Quốc hội gửi
đến. Đại diện Hội đồng bầu cử, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ
được mời dự Hội nghị này.
Biên bản Hội nghị hiệp thương phải ghi rõ thành phần, số
lượng người tham dự, diễn biến, kết quả của Hội nghị và được gửi ngay
đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Hội đồng bầu cử.
Điều 31
Hội nghị hiệp thương lần thứ nhất ở tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương do Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương tổ chức chậm nhất là tám mươi lăm ngày trước
ngày bầu cử, thành phần gồm Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, đại
diện Ban lãnh đạo các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc và đại
diện Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc huyện, quận, thị xã, thành
phố thuộc tỉnh.
Hội nghị hiệp thương thoả thuận về cơ cấu, thành phần và
số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương được bầu làm
đại biểu Quốc hội trên cơ sở dự kiến do Uỷ ban thường vụ Quốc hội gửi
đến. Đại diện Uỷ ban bầu cử, Thường trực Hội đồng nhân dân và Uỷ ban
nhân dân được mời dự Hội nghị này.
Biên bản Hội nghị hiệp thương phải ghi rõ thành phần, số
lượng người tham dự, diễn biến, kết quả của Hội nghị và được gửi ngay
đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Ban thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam và Uỷ ban bầu cử.
Điều 32
Căn cứ vào kết quả hiệp thương lần thứ nhất quy định tại
các điều 30 và 31 của Luật này, chậm nhất là tám mươi ngày trước ngày
bầu cử, Uỷ ban thường vụ Quốc hội điều chỉnh lần thứ nhất cơ cấu, thành
phần, số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương và địa
phương được bầu làm đại biểu Quốc hội.
Điều 33
Trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Uỷ ban thường vụ
Quốc hội, căn cứ vào tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đơn
vị ở trung ương và địa phương được phân bổ số lượng đại biểu tiến hành
giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội.
Điều 34
Việc giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội của các cơ
quan, tổ chức, đơn vị ở Trung ương được tiến hành như sau:
1- Ban lãnh đạo tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã
hội, tổ chức xã hội dự kiến người của tổ chức mình ứng cử đại biểu Quốc
hội, tổ chức lấy ý kiến nhận xét của Hội nghị cử tri nơi người đó công
tác. Trên cơ sở ý kiến của Hội nghị cử tri, Ban lãnh đạo tổ chức hội
nghị Ban thường vụ mở rộng hoặc Đoàn Chủ tịch mở rộng để thảo luận, giới
thiệu người của tổ chức mình ứng cử đại biểu Quốc hội;
2- Ở cơ quan nhà nước thì Ban lãnh đạo cơ quan phối hợp
với Ban chấp hành công đoàn cơ quan dự kiến người của cơ quan mình ứng
cử đại biểu Quốc hội, tổ chức lấy ý kiến nhận xét của Hội nghị cử tri
nơi người đó công tác. Trên cơ sở ý kiến của Hội nghị cử tri, Ban lãnh
đạo cơ quan tổ chức hội nghị gồm lãnh đạo cơ quan, Ban chấp hành công
đoàn, đại diện lãnh đạo các đơn vị trực thuộc để thảo luận, giới thiệu
người của cơ quan mình ứng cử đại biểu Quốc hội;
3- Ở đơn vị vũ trang nhân dân thì lãnh đạo, chỉ huy đơn
vị dự kiến người của đơn vị mình ứng cử đại biểu Quốc hội, tổ chức lấy ý
kiến nhận xét của Hội nghị cử tri nơi người đó công tác. Trên cơ sở ý
kiến của Hội nghị cử tri, lãnh đạo, chỉ huy đơn vị tổ chức Hội nghị gồm
lãnh đạo, chỉ huy đơn vị, đại diện Ban chấp hành công đoàn (nếu có), đại
diện quân nhân và chỉ huy cấp dưới trực tiếp để thảo luận, giới thiệu
người của đơn vị mình ứng cử đại biểu Quốc hội.
Hội nghị cử tri nói tại điều này được tiến hành theo quy
định tại Điều 39 của Luật này.
Điều 35
Việc giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội của các cơ
quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương được tiến hành như sau:
1- Ban lãnh đạo tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã
hội, tổ chức xã hội dự kiến người của tổ chức mình ứng cử đại biểu Quốc
hội, tổ chức lấy ý kiến nhận xét của Hội nghị cử tri nơi người đó công
tác. Trên cơ sở ý kiến của Hội nghị cử tri, Ban lãnh đạo tổ chức hội
nghị Ban thường vụ mở rộng để thảo luận, giới thiệu người của tổ chức
mình ứng cử đại biểu Quốc hội;
2- Ở cơ quan Nhà nước thì Ban lãnh đạo cơ quan phối hợp
với ban chấp hành công đoàn cơ quan dự kiến người của cơ quan mình ứng
cử đại biểu Quốc hội, tổ chức lấy ý kiến nhận xét của Hội nghị cử tri
nơi người đó công tác. Trên cơ sở ý kiến của Hội nghị cử tri, Ban lãnh
đạo cơ quan tổ chức hội nghị gồm lãnh đạo cơ quan, Ban chấp hành công
đoàn, đại diện lãnh đạo các đơn vị trực thuộc để thảo luận, giới thiệu
người của cơ quan mình ứng cử đại biểu Quốc hội;
3- Ở đơn vị lực lượng vũ trang thì lãnh đạo, chỉ huy đơn
vị dự kiến người của đơn vị mình ứng cử đại biểu Quốc hội, tổ chức lấy ý
kiến nhận xét của Hội nghị cử tri nơi người đó công tác. Trên cơ sở ý
kiến của Hội nghị cử tri, lãnh đạo, chỉ huy đơn vị tổ chức hội nghị gồm
lãnh đạo, chỉ huy đơn vị, đại diện Ban chấp hành công đoàn (nếu có), đại
diện quân nhân và chỉ huy cấp dưới trực tiếp để thảo luận, giới thiệu
người của đơn vị mình ứng cử đại biểu Quốc hội.
Hội nghị cử tri nói tại Điều này được tiến hành theo quy
định tại Điều 39 của Luật này.
Điều 36
Cơ quan, tổ chức, đơn vị ở Trung ương giới thiệu người
ứng cử đại biểu Quốc hội phải chuyển biên bản Hội nghị cử tri nơi công
tác và biên bản hội nghị Ban lãnh đạo của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình
nhận xét về người được giới thiệu đến Ban thường trực Uỷ ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ban thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam ghi tên người được giới thiệu vào danh sách hiệp thương.
Cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương giới thiệu người
ứng cử đại biểu Quốc hội phải chuyển biên bản Hội nghị cử tri nơi công
tác và biên bản hội nghị Ban lãnh đạo cơ quan, tổ chức, đơn vị mình nhận
xét về người được giới thiệu đến Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ghi tên người được giới
thiệu vào danh sách hiệp thương.
Điều 37
Hội nghị hiệp thương lần thứ hai ở trung ương do Đoàn Chủ
tịch Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức chậm nhất là
sáu mươi ngày trước ngày bầu cử, thành phần Hội nghị như quy định tại
Điều 30 của Luật này.
Hội nghị hiệp thương căn cứ vào tiêu chuẩn đại biểu Quốc
hội, cơ cấu, thành phần và số lượng đại biểu được bầu của các cơ quan,
tổ chức, đơn vị ở trung ương đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội điều
chỉnh lần thứ nhất để lập danh sách sơ bộ những người ứng cử đại biểu
Quốc hội và gửi lấy ý kiến cử tri nơi cư trú.
Biên bản Hội nghị hiệp thương phải ghi rõ thành phần, số
lượng người tham dự, diễn biến, kết quả của Hội nghị và được gửi ngay
đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Hội đồng bầu cử.
Điều 38
Hội nghị hiệp thương lần thứ hai ở tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương do Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương tổ chức chậm nhất là sáu mươi ngày trước ngày
bầu cử, thành phần Hội nghị như quy định tại Điều 31 của Luật này.
Hội nghị hiệp thương căn cứ vào tiêu chuẩn đại biểu Quốc
hội, cơ cấu, thành phần và số lượng đại biểu được bầu của các cơ quan,
tổ chức, đơn vị ở địa phương đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội điều
chỉnh lần thứ nhất để lập danh sách sơ bộ những người ứng cử đại biểu
Quốc hội và gửi lấy ý kiến cử tri nơi cư trú; đối với người tự ứng cử
thì còn được gửi lấy ý kiến cử tri nơi người đó làm việc (nếu có).
Biên bản Hội nghị hiệp thương phải ghi rõ thành phần, số
lượng người tham dự, diễn biến, kết quả của Hội nghị và được gửi ngay
đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng bầu cử và Uỷ ban bầu cử.
Điều 39
1- Hội nghị cử tri ở xã, phường, thị trấn được tổ chức
theo đơn vị thôn, xóm, tổ dân phố, buôn, bản, ấp nơi cư trú thường xuyên
của người ứng cử do Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường,
thị trấn phối hợp với Uỷ ban nhân dân cùng cấp triệu tập và chủ trì.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại diện cơ quan, tổ chức,
đơn vị có người ứng cử được mời tham dự Hội nghị này.
2- Hội nghị cử tri ở tổ chức chính trị, tổ chức chính trị
- xã hội, tổ chức xã hội do Ban lãnh đạo tổ chức triệu tập và chủ trì;
Hội nghị cử tri ở cơ quan nhà nước do Ban lãnh đạo phối hợp với Ban chấp
hành công đoàn cơ quan triệu tập và chủ trì; Hội nghị cử tri ở đơn vị vũ
trang nhân dân là Hội nghị quân nhân do lãnh đạo, chỉ huy đơn vị triệu
tập và chủ trì.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội được mời tham dự Hội nghị
này.
3- Tại các hội nghị quy định tại các khoản 1 và 2 Điều
này, cử tri đối chiếu với tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội nhận xét, bày tỏ
sự tín nhiệm đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội bằng cách giơ tay
hoặc bỏ phiếu kín theo quyết định của Hội nghị.
Biên bản Hội nghị cử tri lấy ý kiến về những người do cơ
quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương giới thiệu được gửi đến Ban thường
trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Biên bản Hội nghị cử
tri lấy ý kiến về những người do cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương
giới thiệu và những người tự ứng cử được gửi đến Ban thường trực Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
4- Việc tổ chức Hội nghị cử tri quy định Điều này do Uỷ
ban thường vụ Quốc hội phối hợp với Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn.
Điều 40
Trách nhiệm xác minh và trả lời các vụ việc mà cử tri nêu
lên đối với người ứng cử được quy định như sau:
1- Đối với vụ việc ở nơi công tác thì cơ quan, tổ chức,
đơn vị trực tiếp quản lý người ứng cử có trách nhiệm xác minh và trả lời
bằng văn bản cho Ban thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương.
Trường hợp người ứng cử là người đứng đầu cơ quan, tổ
chức, đơn vị thì cơ quan cấp trên trực tiếp có trách nhiệm xác minh và
trả lời. Nếu cơ quan, tổ chức, đơn vị không có cơ quan cấp trên trực
tiếp quản lý thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định thành lập cơ quan,
tổ chức, đơn vị đó có trách nhiệm xác minh và trả lời.
2- Đối với vụ việc ở khu dân cư thì cơ quan, tổ chức, đơn
vị giới thiệu người ứng cử phối hợp với Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị
trấn xác minh và trả lời bằng văn bản cho Ban thường trực Uỷ ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
3- Đối với người tự ứng cử thì Uỷ ban bầu cử phối hợp với
cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp quản lý người đó hoặc Uỷ ban nhân dân
xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú xác minh và trả lời bằng văn
bản cho Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương.
4- Chậm nhất là bốn mươi ngày trước ngày bầu cử, việc xác
minh và trả lời về các vụ việc mà cử tri nêu lên đối với người ứng cử
quy định tại Điều này phải được tiến hành xong.
Điều 41
Căn cứ vào kết quả hiệp thương lần thứ hai quy định tại
các điều 37 và 38 của Luật này, chậm nhất là năm mươi ngày trước ngày
bầu cử, Uỷ ban thường vụ Quốc hội điều chỉnh lần thứ hai cơ cấu, thành
phần, số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương và địa
phương được bầu làm đại biểu Quốc hội.
Điều 42
Hội nghị hiệp thương lần thứ ba ở Trung ương do Đoàn Chủ
tịch Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức chậm nhất là ba
mươi lăm ngày trước ngày bầu cử; thành phần Hội nghị như quy định tại
Điều 30 của Luật này.
Hội nghị hiệp thương căn cứ vào tiêu chuẩn đại biểu Quốc
hội, cơ cấu, thành phần và số lượng đại biểu được bầu của các cơ quan,
tổ chức, đơn vị ở trung ương đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội điều
chỉnh lần thứ hai và kết quả lấy ý kiến cử tri để lựa chọn, lập danh
sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội.
Biên bản Hội nghị hiệp thương phải ghi rõ thành phần, số
lượng người tham dự, diễn biến và kết quả của Hội nghị.
Điều 43
Hội nghị Hiệp thương lần thứ ba ở tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương do Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương tổ chức chậm nhất là ba mươi lăm ngày trước
ngày bầu cử; thành phần Hội nghị như quy định tại Điều 31 của Luật này.
Hội nghị hiệp thương căn cứ vào tiêu chuẩn đại biểu Quốc
hội, cơ cấu, thành phần và số lượng đại biểu được bầu của cơ quan, tổ
chức, đơn vị ở địa phương đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội điều chỉnh
lần thứ hai và kết quả lấy ý kiến cử tri để lựa chọn, lập danh sách
chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội.
Biên bản Hội nghị hiệp thương phải ghi rõ thành phần, số
lượng người tham dự, diễn biến và kết quả của Hội nghị.
|