|
LUẬT HẢI QUAN
(Luật số 29/2001/QH10, ngày12/7/2001; được sửa đổi, bổ
sung một số điều theo Luật số 42/2005/QH11, ngày 24/6/2005)
Điều 10.
Giám sát thi hành pháp luật hải quan
1. Hội đồng nhân dân các cấp trong phạm
vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát việc thi hành pháp
luật hải quan.
2. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức
thành viên của Mặt trận động viên nhân dân nghiêm chỉnh thi hành pháp
luật hải quan; giám sát việc thi hành pháp luật hải quan theo quy định
của pháp luật.
3. Khi thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan hải quan, công chức hải quan phải
tuân theo pháp luật, dựa vào nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân.
| Về đầu trang |
LUẬT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
(Luật số 26/2001/QH10, ngày 12/7/2001)
Điều 7.
Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên
Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và các tổ chức thành viên trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của
mình có trách nhiệm tổ chức và phối hợp với cơ quan chức năng tuyên
truyền, vận động nhân dân nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật giao thông đường
bộ; giám sát việc thực hiện pháp luật giao thông đường bộ của cơ quan,
tổ chức, cá nhân.
| Về đầu trang |
LUẬT HỢP TÁC XÃ
(Luật số 18/2003/QH11, ngày 26 tháng
11 năm 2003)
Điều 48.
Mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các
tổ chức thành viên của Mặt trận và vai trò của các tổ chức này đối với
hợp tác xã
1. Các cơ quan nhà nước có trách nhiệm
phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt
trận trong việc tổ chức thi hành pháp luật về hợp tác xã.
2. Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận tuyên truyền, vận động
nhân dân tham gia xây dựng và phát triển hợp tác xã; tham gia với các cơ
quan nhà nước trong việc xây dựng chính sách và giám sát thi hành pháp
luật về hợp tác xã.
| Về đầu trang |
PHÁP LỆNH CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
(Số
01/1998/PL-UBTVQH10 ngày 26 tháng 02 năm 1998; đã được sửa đổi,
bổ sung một số điều lần thứ nhất vào ngày 28/04/2000 và sửa đổi, bổ sung
lần thứ hai vào ngày 24/4/2003)
Điều 1
1. Cán bộ, công chức quy định tại Pháp
lệnh này là công dân Việt Nam, trong biên chế, bao gồm:
a) Những người do bầu cử để đảm nhiệm
chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội ở trung ương; ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
(sau đây gọi chung là cấp tỉnh); ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc
tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện);
b) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm
hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính
trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;
c) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm
vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các
cơ quan nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;
d) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm
vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong
đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã
hội;
đ) Thẩm phán Tòa án nhân dân, Kiểm sát
viên Viện kiểm sát nhân dân;
e) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm
hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong cơ quan, đơn vị
thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên
nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Công
an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp;
g)
Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường
trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân; Bí thư, Phó bí thư Đảng uỷ; người
đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội xã, phường, thị trấn (sau đây gọi
chung là cấp xã);
h) Những người được tuyển dụng, giao giữ
một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã.
2. Cán bộ, công chức quy định tại các điểm
a, b, c, đ, e, g và h khoản 1 Điều này được hưởng lương từ ngân sách nhà
nước; cán bộ, công chức quy định tại điểm d khoản 1 Điều này được hưởng
lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy định của
pháp luật.
Điều 5
1.
Uỷ ban thường vụ Quốc hội,
tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội quy định cụ thể việc áp
dụng Pháp lệnh này đối với những người do bầu cử không thuộc đối tượng
quy định tại điểm a và điểm g khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh này.
2. Chính phủ quy định cụ thể việc áp dụng
Pháp lệnh này đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc
phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan
chuyên nghiệp trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; thành viên
Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc, Giám đốc, Phó giám
đốc, Kế toán trưởng và những cán bộ quản lý khác trong các doanh nghiệp
nhà nước.
Điều 21
Việc bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu
Hội đồng nhân dân và các chức danh khác trong hệ thống các cơ quan nhà
nước được thực hiện theo quy định của Hiến pháp, Luật bầu cử đại biểu
Quốc hội, Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Luật tổ chức Quốc hội,
Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân
dân và các văn bản pháp luật khác.
Việc bầu cử các chức danh trong tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội được thực hiện theo điều lệ của
các tổ chức đó.
Điều 34
1. Việc quản lý cán bộ, công chức được
thực hiện theo quy định phân cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam và của Nhà
nước.
2. Việc quản lý cán bộ do bầu cử được
thực hiện theo quy định của Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính
phủ, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, điều lệ của tổ
chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.
3. Việc quản lý Thẩm phán, Kiểm sát viên
được thực hiện theo quy định của Luật tổ chức Toà án nhân dân, Pháp lệnh
về Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát
nhân dân và Pháp lệnh về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân.
4. Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát
nhân dân tối cao thực hiện việc quản lý cán bộ, công chức theo thẩm
quyền.
Điều 35
1. Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định
biên chế cán bộ, công chức thuộc Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát
nhân dân; số lượng Thẩm phán của các Toà án.
2. Biên chế công chức Văn phòng Quốc hội
do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định.
3. Biên chế công chức Văn phòng Chủ tịch
nước do Chủ tịch nước quyết định.
4. Biên chế cán bộ làm việc trong tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội do tổ chức có thẩm quyền quyết định.
Điều 39
1. Cán bộ, công chức quy định tại các điểm
b, c, d, đ, e và h khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh này vi phạm các quy định
của pháp luật, nếu chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, thì tuỳ
theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu một trong những hình thức kỷ
luật sau đây:
a) Khiển trách;
b) Cảnh cáo;
c) Hạ bậc lương;
d) Hạ ngạch;
đ) Cách chức;
e) Buộc thôi việc.
Việc xử lý kỷ luật thuộc thẩm quyền của
cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý cán bộ, công chức.
2. Việc bãi nhiệm, kỷ luật đối với cán bộ
quy định tại điểm a và điểm g khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh này được
thực hiện theo quy định của pháp luật và điều lệ của tổ chức chính trị,
tổ chức chính trị - xã hội.
3. Cán bộ, công chức vi phạm pháp luật
mà có dấu hiệu của tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy
định của pháp luật.
4. Cán bộ, công chức làm mất mát, hư
hỏng trang bị, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của
Nhà nước thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
5. Cán bộ, công chức có hành vi vi phạm
pháp luật trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ gây thiệt hại cho người
khác thì phải hoàn trả cho cơ quan, tổ chức khoản tiền mà cơ quan, tổ
chức đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật.
Điều 40
Việc kỷ luật đối với cán bộ, công chức phải
được Hội đồng kỷ luật của cơ quan, tổ chức sử dụng cán bộ, công chức xem
xét và đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quyết định.
Thành phần và quy chế hoạt động của Hội đồng
kỷ luật do Chính phủ, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội quy
định.
Điều 43
Cán bộ, công chức quy định tại các điểm
2, 3, 4 và 5 Điều 1 của Pháp lệnh này bị kỷ luật bằng hình thức khiển
trách, cảnh cáo, cách chức thì bị kéo dài thời gian nâng bậc lương thêm
một năm; trong trường hợp bị kỷ luật bằng một trong các hình thức từ
khiển trách đến cách chức thì không được bổ nhiệm vào các chức vụ cao
hơn trong thời hạn ít nhất một năm, kể từ khi có quyết định kỷ luật.
Trong trường hợp cán bộ, công chức bị kỷ
luật vì có hành vi tham nhũng, thì việc xử lý kỷ luật được thực hiện
theo quy định tại Pháp lệnh chống tham nhũng và các quy định khác của
pháp luật, điều lệ của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.
Điều 48
1. Chính phủ quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành Pháp lệnh này.
2. Căn cứ vào Pháp
lệnh này, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội quy định cụ thể
việc thực hiện đối với cán bộ thuộc thẩm quyền quản lý của mình.
| Về đầu trang |
PHÁP LỆNH THẨM PHÁN VÀ HỘI
THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN
(Pháp
lệnh số 02/2002/PL-UBTVQH11, ngày 04/10/2002
của Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội khoá XI).
Điều 10
1. Thẩm phán, Hội thẩm phải tôn trọng
nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân.
Khi phát hiện hành vi trái pháp luật của
Thẩm phán, Hội thẩm thì cơ quan nhà nước, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác, tổ
chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân có quyền yêu cầu, kiến nghị,
khiếu nại; cá nhân có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan có thẩm quyền
để xem xét trách nhiệm đối với Thẩm phán, Hội thẩm.
2. Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của
mình, Thẩm phán, Hội thẩm có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước, Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ
chức xã hội khác, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân.
Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình các cơ quan, tổ chức và công
dân có trách nhiệm tạo điều kiện để Thẩm phán, Hội thẩm làm nhiệm vụ.
Nghiêm cấm
mọi hành vi cản trở Thẩm phán, Hội thẩm thực hiện nhiệm vụ.
Điều 25
1. Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Toà án
nhân dân gồm có:
a) Hội đồng
tuyển chọn Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thẩm
phán Toà án quân sự trung ương;
b) Các Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Toà
án nhân dân cấp tỉnh, Thẩm phán Toà án nhân dân cấp huyện;
c) Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Toà án
quân sự cấp quân khu, Thẩm phán Toà án quân sự khu vực.
2. Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán làm việc
theo chế độ tập thể. Quyết định của Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán phải
được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành.
Điều 26
1. Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Toà án
nhân dân tối cao, Thẩm phán Toà án quân sự trung ương gồm có Chánh án
Toà án nhân dân tối cao làm Chủ tịch, đại diện lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, Uỷ ban trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban chấp hành trung ương Hội luật
gia Việt Nam là uỷ viên.
Danh sách uỷ viên Hội đồng tuyển chọn
Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thẩm phán Toà án quân sự trung ương
do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định theo đề nghị của Chánh án Toà án
nhân dân tối cao.
2. Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Toà án
nhân dân tối cao, Thẩm phán Toà án quân sự trung ương có những nhiệm vụ,
quyền hạn sau đây:
a) Tuyển chọn người đủ tiêu chuẩn làm
Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thẩm phán Toà án quân sự trung ương
theo đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao và trình Chủ tịch nước
bổ nhiệm;
b) Xem xét những trường hợp Thẩm phán Toà
án nhân dân tối cao, Thẩm phán Toà án quân sự trung ương có thể được
miễn nhiệm chức danh Thẩm phán quy định tại khoản 2 Điều 29 của Pháp
lệnh này theo đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao và trình Chủ
tịch nước miễn nhiệm;
c) Xem xét những trường hợp Thẩm phán Toà
án nhân dân tối cao, Thẩm phán Toà án quân sự trung ương có thể bị cách chức chức danh Thẩm
phán quy định tại khoản 2 Điều 30 của Pháp lệnh này theo đề nghị
của Chánh án Toà án nhân dân tối cao và trình Chủ tịch nước cách chức.
Điều 27
1. Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Toà án
nhân dân cấp tỉnh, Thẩm phán Toà án nhân dân cấp huyện gồm có Chủ tịch
hoặc Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp tỉnh làm Chủ tịch, Chánh án Toà
án nhân dân cấp tỉnh, đại diện lãnh
đạo Ban tổ chức chính quyền, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
Ban chấp hành Hội luật gia cấp tỉnh là uỷ viên.
Danh sách
uỷ viên Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Toà án
nhân
dân cấp tỉnh, Thẩm phán Toà án nhân dân cấp huyện do Chánh án Toà án
nhân dân tối cao quyết định theo đề nghị của Chủ tịch Hội đồng
nhân dân cấp tỉnh.
2. Hội đồng
tuyển chọn Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh, Thẩm
phán Toà án nhân dân cấp huyện có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tuyển chọn người đủ tiêu chuẩn làm
Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh, Thẩm phán Toà án nhân dân cấp huyện
theo đề nghị của Chánh án Toà án nhân
dân cấp tỉnh và đề nghị Chánh án Toà án nhân dân tối cao bổ nhiệm;
b) Xem xét những trường hợp Thẩm phán Toà
án nhân dân cấp tỉnh, Thẩm phán Toà án nhân dân cấp huyện có thể được
miễn nhiệm chức danh Thẩm phán quy định tại khoản 2 Điều 29 của Pháp
lệnh này theo đề nghị của Chánh án
Toà án nhân dân cấp tỉnh và đề nghị Chánh án Toà án nhân dân tối
cao miễn nhiệm;
c) Xem xét những trường hợp Thẩm phán Toà
án nhân dân cấp tỉnh, Thẩm phán Toà
án nhân dân cấp huyện có thể bị cách chức chức danh Thẩm phán quy
định tại khoản 2 Điều 30 của Pháp lệnh này theo đề nghị của Chánh án
Toà án nhân dân cấp tỉnh và đề nghị
Chánh án Toà án nhân dân tối cao cách chức.
Điều 28
1. Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Toà án
quân sự cấp quân khu, Thẩm phán Toà án quân sự khu vực gồm có Chánh án
Toà án quân sự trung ương làm Chủ tịch, đại diện lãnh đạo Bộ Quốc phòng,
Bộ Nội vụ, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban chấp hành
trung ương Hội luật gia Việt Nam là uỷ viên.
Danh sách uỷ viên Hội đồng tuyển chọn
Thẩm phán Toà án quân sự cấp quân khu, Thẩm phán Toà án quân sự khu vực do Chánh án
Toà án nhân dân tối cao quyết định
theo đề nghị của Chánh án Toà án quân sự trung ương.
2. Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Toà án
quân sự cấp quân khu, Thẩm phán Toà án quân sự khu vực có những nhiệm vụ,
quyền hạn sau đây:
a) Tuyển chọn người đủ tiêu chuẩn làm
Thẩm phán Toà án quân sự cấp quân khu, Thẩm phán Toà án quân sự khu vực
theo đề nghị của Chánh án Toà án quân sự trung ương và đề nghị Chánh án
Toà án nhân dân tối cao bổ nhiệm;
b) Xem xét những trường hợp Thẩm phán Toà
án quân sự cấp quân khu, Thẩm phán Toà
án quân sự khu vực có thể được miễn nhiệm chức danh Thẩm phán quy
định tại khoản 2 Điều 29 của Pháp lệnh này theo đề nghị của
Chánh án Toà án quân sự trung ương và
đề nghị Chánh án Toà án nhân dân tối cao miễn nhiệm;
c) Xem xét những trường hợp Thẩm phán Toà
án quân sự cấp quân khu, Thẩm phán Toà án quân sự khu vực có thể bị cách
chức chức danh Thẩm phán quy định tại khoản 2 Điều 30 của Pháp lệnh này
theo đề nghị của Chánh án Toà án quân sự trung ương và đề nghị Chánh án Toà án nhân dân tối cao cách
chức.
Điều 32
1. Hội thẩm làm nhiệm vụ theo sự phân
công của Chánh án Toà án nơi mình được bầu hoặc cử làm Hội thẩm.
2. Chánh án Toà án nhân dân địa phương,
Toà án quân sự cấp quân khu, Toà án quân sự khu vực có trách nhiệm quản
lý Hội thẩm theo Quy chế về tổ chức và hoạt động của Hội thẩm.
Chính phủ,
Toà án nhân dân tối cao, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam phối hợp ban hành Quy chế
về tổ chức và hoạt động của Hội thẩm.
Điều 38
1. Hội thẩm nhân dân Toà án nhân dân địa
phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu theo sự giới thiệu của Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và do Hội đồng nhân dân cùng cấp miễn
nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân cùng cấp sau
khi thống nhất với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp.
2. Hội thẩm quân nhân Toà án quân sự cấp
quân khu do Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam cử
theo sự giới thiệu của cơ quan chính trị quân khu, quân đoàn, quân chủng,
tổng cục hoặc cấp tương đương và do Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội
nhân dân Việt Nam miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Chánh án Toà án
quân sự cấp quân khu sau khi thống nhất với cơ quan chính trị quân khu,
quân đoàn, quân chủng, tổng cục hoặc cấp tương đương.
3. Hội thẩm quân nhân Toà án quân sự
khu vực do Chủ nhiệm chính trị quân khu, quân đoàn, quân chủng, tổng cục
hoặc cấp tương đương cử theo sự giới thiệu của cơ quan chính trị sư đoàn
hoặc cấp tương đương và do Chủ nhiệm chính trị quân khu, quân đoàn, quân
chủng, tổng cục hoặc cấp tương đương miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị
của Chánh án Toà án quân sự khu vực sau khi thống nhất với cơ quan chính
trị sư đoàn hoặc cấp tương đương.
| Về đầu trang |
PHÁP LỆNH KIỂM SÁT VIÊN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
(Pháp
lệnh số 03/2002/PL-UBTVQH11, ngày 04/10/2002
của Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội khoá XI).
Điều 10
Kiểm sát viên phải tôn trọng nhân dân và
chịu sự giám sát của nhân dân.
Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của
mình, Kiểm sát viên liên hệ và phối hợp với cơ quan nhà nước, Uỷ ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức
xã hội khác, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và cá nhân. Trong
phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình các cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ
trang nhân dân và cá nhân có trách nhiệm tạo điều kiện để Kiểm sát viên
thực hiện nhiệm vụ.
Nghiêm cấm mọi hành vi gây cản trở Kiểm
sát viên thực hiện nhiệm vụ.
Điều 11
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao quản lý thống nhất đội ngũ Kiểm sát viên và công tác đào tạo, bồi dưỡng
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân các cấp; bảo đảm việc thực hiện các
chế độ đối với Kiểm sát viên theo quy định của pháp luật, xây dựng ngành
Kiểm sát nhân dân trong sạch, vững mạnh.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân địa phương,
Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền
hạn của mình, có trách nhiệm tổ chức việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch
đào tạo, bồi dưỡng để tạo nguồn và nâng cao trình độ, năng lực của Kiểm
sát viên; quản lý đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên của đơn vị mình.
Điều 22
1. Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên Viện
kiểm sát nhân dân gồm có:
a) Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự trung ương;
b) Các Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân
cấp huyện;
c) Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên Viện
kiểm sát quân sự cấp quân khu, Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự khu
vực.
2. Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên làm
việc theo chế độ tập thể. Quyết định của Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát
viên phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành.
Điều 23
1. Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự trung ương
gồm có Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao làm Chủ tịch, đại diện
lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, Ban chấp hành trung ương Hội luật gia Việt Nam là uỷ viên.
Danh sách uỷ viên Hội đồng tuyển chọn
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm sát viên Viện kiểm
sát quân sự trung ương do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định theo đề
nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
2. Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự trung ương
có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tuyển chọn người đủ tiêu chuẩn làm
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm sát viên Viện kiểm
sát quân sự trung ương theo đề nghị của Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát
nhân dân tối cao để Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trình Chủ
tịch nước bổ nhiệm;
b) Xem xét những trường hợp Kiểm sát viên
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự
trung ương có thể được miễn nhiệm chức danh Kiểm sát viên quy định tại
khoản 2 Điều 27 của Pháp lệnh này theo đề nghị của Uỷ ban kiểm sát Viện
kiểm sát nhân dân tối cao để Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
trình Chủ tịch nước miễn nhiệm;
c) Xem xét những trường hợp Kiểm sát viên
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự
trung ương có thể bị cách chức chức danh Kiểm sát viên quy định tại khoản
2 Điều 28 của Pháp lệnh này theo đề nghị của Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm
sát nhân dân tối cao để Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trình
Chủ tịch nước cách chức.
Điều 24
1. Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên Viện
kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp
huyện gồm có Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp tỉnh làm
Chủ tịch, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, đại diện lãnh đạo
Ban tổ chức chính quyền, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban chấp hành
Hội luật gia cấp tỉnh là uỷ viên.
Danh sách uỷ viên Hội đồng tuyển chọn
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Kiểm sát viên Viện kiểm
sát nhân dân cấp huyện do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
quyết định theo đề nghị của Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.
2. Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên Viện
kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp
huyện có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tuyển chọn người đủ tiêu chuẩn làm
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Kiểm sát viên Viện kiểm
sát nhân dân cấp huyện theo đề nghị của Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát
nhân dân cấp tỉnh để Chủ tịch Hội đồng đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao bổ nhiệm;
b) Xem xét những trường hợp Kiểm sát viên
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân
cấp huyện có thể được miễn nhiệm chức danh Kiểm sát viên quy định tại
khoản 2 Điều 27 của Pháp lệnh này theo đề nghị của Uỷ ban kiểm sát Viện
kiểm sát nhân dân cấp tỉnh để Chủ tịch Hội đồng đề nghị Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao miễn nhiệm;
c) Xem xét những trường hợp Kiểm sát viên
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân
cấp huyện có thể bị cách chức chức danh Kiểm sát viên quy định tại khoản
2 Điều 28 của Pháp lệnh này theo đề nghị của Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh để Chủ tịch Hội đồng đề nghị Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao cách chức.
Điều 25
1. Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên Viện
kiểm sát quân sự cấp quân khu, Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự khu
vực gồm có Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương làm Chủ tịch,
đại diện lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, Uỷ ban trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, Ban chấp hành trung ương Hội luật gia Việt Nam là uỷ
viên.
Danh sách uỷ viên Hội đồng tuyển chọn
Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu, Kiểm sát viên Viện
kiểm sát quân sự khu vực do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
quyết định theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương.
2. Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên Viện
kiểm sát quân sự cấp quân khu, Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự khu
vực có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tuyển chọn người đủ tiêu chuẩn làm
Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu, Kiểm sát viên Viện
kiểm sát quân sự khu vực theo đề nghị của Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát
quân sự cấp quân khu để Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương đề
nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm;
b) Xem xét những trường hợp Kiểm sát viên Viện kiểm sát
quân sự cấp quân khu, Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự khu vực có thể
được miễn nhiệm chức danh Kiểm sát viên quy định tại khoản 2 Điều 27 của
Pháp lệnh này theo đề nghị của Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát quân sự cấp
quân khu để Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương đề nghị Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao miễn nhiệm;
c) Xem xét những trường hợp Kiểm sát
viên Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu, Kiểm sát viên Viện kiểm sát
quân sự khu vực có thể bị cách chức chức danh Kiểm sát viên quy định tại
khoản 2 Điều 28 của Pháp lệnh này theo đề nghị của Uỷ ban kiểm sát Viện
kiểm sát quân sự cấp quân khu để Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung
ương đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao cách chức.
| Về đầu trang |
PHÁP
LỆNH THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở XÃ,
PHƯỜNG, THỊ TRẤN
(Pháp
lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11, ngày 20/4/2007
của Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội khoá XI).
Điều 3. Trách nhiệm tổ chức thực hiện dân
chủ ở cấp xã
1. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của
mình, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp xã, cơ quan, tổ chức, cá
nhân có liên quan có trách nhiệm tổ chức thực hiện dân chủ ở cấp xã.
2. Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp
xã có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
tổ chức thành viên của Mặt trận cùng cấp trong việc tổ chức thực hiện
dân chủ ở cấp xã.
3. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
các tổ chức thành viên của Mặt trận ở cấp xã có trách nhiệm giám sát
việc thực hiện và tham gia tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện dân
chủ ở cấp xã.
Điều 15. Giá trị thi hành đối với những
việc nhân dân bàn, biểu quyết
1. Đối với nội dung quy định tại khoản 1
Điều 13 của Pháp lệnh này, nếu có trên 50% tổng số cử tri hoặc cử tri
đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố tán thành thì có giá trị thi
hành sau khi ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
(sau đây gọi chung là cấp huyện) ra quyết định công nhận.
2. Đối với nội dung quy định tại khoản 2
Điều 13 của Pháp lệnh này, nếu có trên 50% tổng số cử tri hoặc cử tri
đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố tán thành thì có giá trị thi
hành sau khi ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định công nhận.
3. Đối với nội dung quy định tại khoản 3
Điều 13 của Pháp lệnh này, nếu có trên 50% tổng số cử tri hoặc cử tri
đại diện hộ gia đình tán thành thì có giá trị thi hành sau khi được Uỷ
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã công nhận.
Điều 16.
Việc công nhận những nội dung nhân dân bàn,
biểu quyết
1. Việc công nhận hương ước, quy ước của
thôn, tổ dân phố được thực hiện như sau:
a) Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố có
trách nhiệm báo cáo ngay với Uỷ ban nhân dân cấp xã kết quả việc nhân
dân bàn, biểu quyết;
b) Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ
ngày nhận được báo cáo của Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố, Uỷ ban
nhân dân cấp xã phải lập hồ sơ trình Uỷ ban nhân dân cấp huyện;
c) Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể
từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị của Uỷ ban nhân dân cấp xã, Uỷ ban nhân
dân cấp huyện phải xem xét, ra quyết định công nhận; trường hợp không
công nhận thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
2. Việc công nhận kết quả bầu, miễn
nhiệm, bãi nhiệm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố được thực hiện như
sau:
a) Người chủ trì cuộc họp thôn, tổ dân
phố có trách nhiệm lập biên bản, báo cáo ngay với Uỷ ban nhân dân cấp xã
kết quả bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố;
|