|
LUẬT HẢI QUAN
(Luật số 29/2001/QH10, ngày12/7/2001; được sửa đổi, bổ
sung một số điều theo Luật số 42/2005/QH11, ngày 24/6/2005)
Điều 10.
Giám sát thi hành pháp luật hải quan
1. Hội đồng nhân dân các cấp trong phạm
vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát việc thi hành pháp
luật hải quan.
2. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức
thành viên của Mặt trận động viên nhân dân nghiêm chỉnh thi hành pháp
luật hải quan; giám sát việc thi hành pháp luật hải quan theo quy định
của pháp luật.
3. Khi thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan hải quan, công chức hải quan phải
tuân theo pháp luật, dựa vào nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân.
| Về đầu trang |
LUẬT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
(Luật số 26/2001/QH10, ngày 12/7/2001)
Điều 7.
Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên
Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và các tổ chức thành viên trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của
mình có trách nhiệm tổ chức và phối hợp với cơ quan chức năng tuyên
truyền, vận động nhân dân nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật giao thông đường
bộ; giám sát việc thực hiện pháp luật giao thông đường bộ của cơ quan,
tổ chức, cá nhân.
| Về đầu trang |
LUẬT HỢP TÁC XÃ
(Luật số 18/2003/QH11, ngày 26 tháng
11 năm 2003)
Điều 48.
Mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các
tổ chức thành viên của Mặt trận và vai trò của các tổ chức này đối với
hợp tác xã
1. Các cơ quan nhà nước có trách nhiệm
phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt
trận trong việc tổ chức thi hành pháp luật về hợp tác xã.
2. Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận tuyên truyền, vận động
nhân dân tham gia xây dựng và phát triển hợp tác xã; tham gia với các cơ
quan nhà nước trong việc xây dựng chính sách và giám sát thi hành pháp
luật về hợp tác xã.
| Về đầu trang |
PHÁP LỆNH CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
(Số
01/1998/PL-UBTVQH10 ngày 26 tháng 02 năm 1998; đã được sửa đổi,
bổ sung một số điều lần thứ nhất vào ngày 28/04/2000 và sửa đổi, bổ sung
lần thứ hai vào ngày 24/4/2003)
Điều 1
1. Cán bộ, công chức quy định tại Pháp
lệnh này là công dân Việt Nam, trong biên chế, bao gồm:
a) Những người do bầu cử để đảm nhiệm
chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội ở trung ương; ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
(sau đây gọi chung là cấp tỉnh); ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc
tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện);
b) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm
hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính
trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;
c) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm
vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các
cơ quan nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;
d) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm
vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong
đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã
hội;
đ) Thẩm phán Tòa án nhân dân, Kiểm sát
viên Viện kiểm sát nhân dân;
e) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm
hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong cơ quan, đơn vị
thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên
nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Công
an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp;
g)
Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường
trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân; Bí thư, Phó bí thư Đảng uỷ; người
đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội xã, phường, thị trấn (sau đây gọi
chung là cấp xã);
h) Những người được tuyển dụng, giao giữ
một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã.
2. Cán bộ, công chức quy định tại các điểm
a, b, c, đ, e, g và h khoản 1 Điều này được hưởng lương từ ngân sách nhà
nước; cán bộ, công chức quy định tại điểm d khoản 1 Điều này được hưởng
lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy định của
pháp luật.
Điều 5
1.
Uỷ ban thường vụ Quốc hội,
tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội quy định cụ thể việc áp
dụng Pháp lệnh này đối với những người do bầu cử không thuộc đối tượng
quy định tại điểm a và điểm g khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh này.
2. Chính phủ quy định cụ thể việc áp dụng
Pháp lệnh này đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc
phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan
chuyên nghiệp trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; thành viên
Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc, Giám đốc, Phó giám
đốc, Kế toán trưởng và những cán bộ quản lý khác trong các doanh nghiệp
nhà nước.
Điều 21
Việc bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu
Hội đồng nhân dân và các chức danh khác trong hệ thống các cơ quan nhà
nước được thực hiện theo quy định của Hiến pháp, Luật bầu cử đại biểu
Quốc hội, Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Luật tổ chức Quốc hội,
Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân
dân và các văn bản pháp luật khác.
Việc bầu cử các chức danh trong tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội được thực hiện theo điều lệ của
các tổ chức đó.
Điều 34
1. Việc quản lý cán bộ, công chức được
thực hiện theo quy định phân cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam và của Nhà
nước.
2. Việc quản lý cán bộ do bầu cử được
thực hiện theo quy định của Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính
phủ, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, điều lệ của tổ
chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.
3. Việc quản lý Thẩm phán, Kiểm sát viên
được thực hiện theo quy định của Luật tổ chức Toà án nhân dân, Pháp lệnh
về Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát
nhân dân và Pháp lệnh về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân.
4. Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát
nhân dân tối cao thực hiện việc quản lý cán bộ, công chức theo thẩm
quyền.
Điều 35
1. Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định
biên chế cán bộ, công chức thuộc Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát
nhân dân; số lượng Thẩm phán của các Toà án.
2. Biên chế công chức Văn phòng Quốc hội
do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định.
3. Biên chế công chức Văn phòng Chủ tịch
nước do Chủ tịch nước quyết định.
4. Biên chế cán bộ làm việc trong tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội do tổ chức có thẩm quyền quyết định.
Điều 39
1. Cán bộ, công chức quy định tại các điểm
b, c, d, đ, e và h khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh này vi phạm các quy định
của pháp luật, nếu chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, thì tuỳ
theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu một trong những hình thức kỷ
luật sau đây:
a) Khiển trách;
b) Cảnh cáo;
c) Hạ bậc lương;
d) Hạ ngạch;
đ) Cách chức;
e) Buộc thôi việc.
Việc xử lý kỷ luật thuộc thẩm quyền của
cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý cán bộ, công chức.
2. Việc bãi nhiệm, kỷ luật đối với cán bộ
quy định tại điểm a và điểm g khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh này được
thực hiện theo quy định của pháp luật và điều lệ của tổ chức chính trị,
tổ chức chính trị - xã hội.
3. Cán bộ, công chức vi phạm pháp luật
mà có dấu hiệu của tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy
định của pháp luật.
4. Cán bộ, công chức làm mất mát, hư
hỏng trang bị, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của
Nhà nước thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
5. Cán bộ, công chức có hành vi vi phạm
pháp luật trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ gây thiệt hại cho người
khác thì phải hoàn trả cho cơ quan, tổ chức khoản tiền mà cơ quan, tổ
chức đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật.
Điều 40
Việc kỷ luật đối với cán bộ, công chức phải
được Hội đồng kỷ luật của cơ quan, tổ chức sử dụng cán bộ, công chức xem
xét và đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quyết định.
Thành phần và quy chế hoạt động của Hội đồng
kỷ luật do Chính phủ, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội quy
định.
Điều 43
Cán bộ, công chức quy định tại các điểm
2, 3, 4 và 5 Điều 1 của Pháp lệnh này bị kỷ luật bằng hình thức khiển
trách, cảnh cáo, cách chức thì bị kéo dài thời gian nâng bậc lương thêm
một năm; trong trường hợp bị kỷ luật bằng một trong các hình thức từ
khiển trách đến cách chức thì không được bổ nhiệm vào các chức vụ cao
hơn trong thời hạn ít nhất một năm, kể từ khi có quyết định kỷ luật.
Trong trường hợp cán bộ, công chức bị kỷ
luật vì có hành vi tham nhũng, thì việc xử lý kỷ luật được thực hiện
theo quy định tại Pháp lệnh chống tham nhũng và các quy định khác của
pháp luật, điều lệ của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.
Điều 48
1. Chính phủ quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành Pháp lệnh này.
2. Căn cứ vào Pháp
lệnh này, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội quy định cụ thể
việc thực hiện đối với cán bộ thuộc thẩm quyền quản lý của mình.
| Về đầu trang |
PHÁP LỆNH THẨM PHÁN VÀ HỘI
THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN
(Pháp
lệnh số 02/2002/PL-UBTVQH11, ngày 04/10/2002
của Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội khoá XI).
Điều 10
1. Thẩm phán, Hội thẩm phải tôn trọng
nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân.
Khi phát hiện hành vi trái pháp luật của
Thẩm phán, Hội thẩm thì cơ quan nhà nước, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác, tổ
chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân có quyền yêu cầu, kiến nghị,
khiếu nại; cá nhân có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan có thẩm quyền
để xem xét trách nhiệm đối với Thẩm phán, Hội thẩm.
2. Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của
mình, Thẩm phán, Hội thẩm có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước, Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ
chức xã hội khác, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân.
Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình các cơ quan, tổ chức và công
dân có trách nhiệm tạo điều kiện để Thẩm phán, Hội thẩm làm nhiệm vụ.
Nghiêm cấm
mọi hành vi cản trở Thẩm phán, Hội thẩm thực hiện nhiệm vụ.
Điều 25
1. Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Toà án
nhân dân gồm có:
a) Hội đồng
tuyển chọn Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thẩm
phán Toà án quân sự trung ương;
b) Các Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Toà
án nhân dân cấp tỉnh, Thẩm phán Toà án nhân dân cấp huyện;
c) Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Toà án
quân sự cấp quân khu, Thẩm phán Toà án quân sự khu vực.
2. Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán làm việc
theo chế độ tập thể. Quyết định của Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán phải
được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành.
Điều 26
1. Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Toà án
nhân dân tối cao, Thẩm phán Toà án quân sự trung ương gồm có Chánh án
Toà án nhân dân tối cao làm Chủ tịch, đại diện lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, Uỷ ban trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban chấp hành trung ương Hội luật
gia Việt Nam là uỷ viên.
Danh sách uỷ viên Hội đồng tuyển chọn
Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thẩm phán Toà án quân sự trung ương
do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định theo đề nghị của Chánh án Toà án
nhân dân tối cao.
2. Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Toà án
nhân dân tối cao, Thẩm phán Toà án quân sự trung ương có những nhiệm vụ,
quyền hạn sau đây:
a) Tuyển chọn người đủ tiêu chuẩn làm
Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thẩm phán Toà án quân sự trung ương
theo đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao và trình Chủ tịch nước
bổ nhiệm;
b) Xem xét những trường hợp Thẩm phán Toà
án nhân dân tối cao, Thẩm phán Toà án quân sự trung ương có thể được
miễn nhiệm chức danh Thẩm phán quy định tại khoản 2 Điều 29 của Pháp
lệnh này theo đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao và trình Chủ
tịch nước miễn nhiệm;
c) Xem xét những trường hợp Thẩm phán Toà
án nhân dân tối cao, Thẩm phán Toà án quân sự trung ương có thể bị cách chức chức danh Thẩm
phán quy định tại khoản 2 Điều 30 của Pháp lệnh này theo đề nghị
của Chánh án Toà án nhân dân tối cao và trình Chủ tịch nước cách chức.
Điều 27
1. Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Toà án
nhân dân cấp tỉnh, Thẩm phán Toà án nhân dân cấp huyện gồm có Chủ tịch
hoặc Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp tỉnh làm Chủ tịch, Chánh án Toà
án nhân dân cấp tỉnh, đại diện lãnh
đạo Ban tổ chức chính quyền, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
Ban chấp hành Hội luật gia cấp tỉnh là uỷ viên.
Danh sách
uỷ viên Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Toà án
nhân
dân cấp tỉnh, Thẩm phán Toà án nhân dân cấp huyện do Chánh án Toà án
nhân dân tối cao quyết định theo đề nghị của Chủ tịch Hội đồng
nhân dân cấp tỉnh.
2. Hội đồng
tuyển chọn Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh, Thẩm
phán Toà án nhân dân cấp huyện có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tuyển chọn người đủ tiêu chuẩn làm
Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh, Thẩm phán Toà án nhân dân cấp huyện
theo đề nghị của Chánh án Toà án nhân
dân cấp tỉnh và đề nghị Chánh án Toà án nhân dân tối cao bổ nhiệm;
b) Xem xét những trường hợp Thẩm phán Toà
án nhân dân cấp tỉnh, Thẩm phán Toà án nhân dân cấp huyện có thể được
miễn nhiệm chức danh Thẩm phán quy định tại khoản 2 Điều 29 của Pháp
lệnh này theo đề nghị của Chánh án
Toà án nhân dân cấp tỉnh và đề nghị Chánh án Toà án nhân dân tối
cao miễn nhiệm;
c) Xem xét những trường hợp Thẩm phán Toà
án nhân dân cấp tỉnh, Thẩm phán Toà
án nhân dân cấp huyện có thể bị cách chức chức danh Thẩm phán quy
định tại khoản 2 Điều 30 của Pháp lệnh này theo đề nghị của Chánh án
Toà án nhân dân cấp tỉnh và đề nghị
Chánh án Toà án nhân dân tối cao cách chức.
Điều 28
1. Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Toà án
quân sự cấp quân khu, Thẩm phán Toà án quân sự khu vực gồm có Chánh án
Toà án quân sự trung ương làm Chủ tịch, đại diện lãnh đạo Bộ Quốc phòng,
Bộ Nội vụ, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban chấp hành
trung ương Hội luật gia Việt Nam là uỷ viên.
Danh sách uỷ viên Hội đồng tuyển chọn
Thẩm phán Toà án quân sự cấp quân khu, Thẩm phán Toà án quân sự khu vực do Chánh án
Toà án nhân dân tối cao quyết định
theo đề nghị của Chánh án Toà án quân sự trung ương.
2. Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Toà án
quân sự cấp quân khu, Thẩm phán Toà án quân sự khu vực có những nhiệm vụ,
quyền hạn sau đây:
a) Tuyển chọn người đủ tiêu chuẩn làm
Thẩm phán Toà án quân sự cấp quân khu, Thẩm phán Toà án quân sự khu vực
theo đề nghị của Chánh án Toà án quân sự trung ương và đề nghị Chánh án
Toà án nhân dân tối cao bổ nhiệm;
b) Xem xét những trường hợp Thẩm phán Toà
án quân sự cấp quân khu, Thẩm phán Toà
án quân sự khu vực có thể được miễn nhiệm chức danh Thẩm phán quy
định tại khoản 2 Điều 29 của Pháp lệnh này theo đề nghị của
Chánh án Toà án quân sự trung ương và
đề nghị Chánh án Toà án nhân dân tối cao miễn nhiệm;
c) Xem xét những trường hợp Thẩm phán Toà
án quân sự cấp quân khu, Thẩm phán Toà án quân sự khu vực có thể bị cách
chức chức danh Thẩm phán quy định tại khoản 2 Điều 30 của Pháp lệnh này
theo đề nghị của Chánh án Toà án quân sự trung ương và đề nghị Chánh án Toà án nhân dân tối cao cách
chức.
Điều 32
1. Hội thẩm làm nhiệm vụ theo sự phân
công của Chánh án Toà án nơi mình được bầu hoặc cử làm Hội thẩm.
2. Chánh án Toà án nhân dân địa phương,
Toà án quân sự cấp quân khu, Toà án quân sự khu vực có trách nhiệm quản
lý Hội thẩm theo Quy chế về tổ chức và hoạt động của Hội thẩm.
Chính phủ,
Toà án nhân dân tối cao, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam phối hợp ban hành Quy chế
về tổ chức và hoạt động của Hội thẩm.
Điều 38
1. Hội thẩm nhân dân Toà án nhân dân địa
phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu theo sự giới thiệu của Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và do Hội đồng nhân dân cùng cấp miễn
nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân cùng cấp sau
khi thống nhất với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp.
2. Hội thẩm quân nhân Toà án quân sự cấp
quân khu do Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam cử
theo sự giới thiệu của cơ quan chính trị quân khu, quân đoàn, quân chủng,
tổng cục hoặc cấp tương đương và do Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội
nhân dân Việt Nam miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Chánh án Toà án
quân sự cấp quân khu sau khi thống nhất với cơ quan chính trị quân khu,
quân đoàn, quân chủng, tổng cục hoặc cấp tương đương.
3. Hội thẩm quân nhân Toà án quân sự
khu vực do Chủ nhiệm chính trị quân khu, quân đoàn, quân chủng, tổng cục
hoặc cấp tương đương cử theo sự giới thiệu của cơ quan chính trị sư đoàn
hoặc cấp tương đương và do Chủ nhiệm chính trị quân khu, quân đoàn, quân
chủng, tổng cục hoặc cấp tương đương miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị
của Chánh án Toà án quân sự khu vực sau khi thống nhất với cơ quan chính
trị sư đoàn hoặc cấp tương đương.
| Về đầu trang |
PHÁP LỆNH KIỂM SÁT VIÊN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
(Pháp
lệnh số 03/2002/PL-UBTVQH11, ngày 04/10/2002
của Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội khoá XI).
Điều 10
Kiểm sát viên phải tôn trọng nhân dân và
chịu sự giám sát của nhân dân.
Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của
mình, Kiểm sát viên liên hệ và phối hợp với cơ quan nhà nước, Uỷ ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức
xã hội khác, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và cá nhân. Trong
phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình các cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ
trang nhân dân và cá nhân có trách nhiệm tạo điều kiện để Kiểm sát viên
thực hiện nhiệm vụ.
Nghiêm cấm mọi hành vi gây cản trở Kiểm
sát viên thực hiện nhiệm vụ.
Điều 11
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao quản lý thống nhất đội ngũ Kiểm sát viên và công tác đào tạo, bồi dưỡng
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân các cấp; bảo đảm việc thực hiện các
chế độ đối với Kiểm sát viên theo quy định của pháp luật, xây dựng ngành
Kiểm sát nhân dân trong sạch, vững mạnh.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân địa phương,
Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền
hạn của mình, có trách nhiệm tổ chức việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch
đào tạo, bồi dưỡng để tạo nguồn và nâng cao trình độ, năng lực của Kiểm
sát viên; quản lý đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên của đơn vị mình.
Điều 22
1. Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên Viện
kiểm sát nhân dân gồm có:
a) Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự trung ương;
b) Các Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân
cấp huyện;
c) Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên Viện
kiểm sát quân sự cấp quân khu, Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự khu
vực.
2. Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên làm
việc theo chế độ tập thể. Quyết định của Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát
viên phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành.
Điều 23
1. Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự trung ương
gồm có Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao làm Chủ tịch, đại diện
lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, Ban chấp hành trung ương Hội luật gia Việt Nam là uỷ viên.
Danh sách uỷ viên Hội đồng tuyển chọn
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm sát viên Viện kiểm
sát quân sự trung ương do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định theo đề
nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
2. Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự trung ương
có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tuyển chọn người đủ tiêu chuẩn làm
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm sát viên Viện kiểm
sát quân sự trung ương theo đề nghị của Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát
nhân dân tối cao để Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trình Chủ
tịch nước bổ nhiệm;
b) Xem xét những trường hợp Kiểm sát viên
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự
trung ương có thể được miễn nhiệm chức danh Kiểm sát viên quy định tại
khoản 2 Điều 27 của Pháp lệnh này theo đề nghị của Uỷ ban kiểm sát Viện
kiểm sát nhân dân tối cao để Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
trình Chủ tịch nước miễn nhiệm;
c) Xem xét những trường hợp Kiểm sát viên
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự
trung ương có thể bị cách chức chức danh Kiểm sát viên quy định tại khoản
2 Điều 28 của Pháp lệnh này theo đề nghị của Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm
sát nhân dân tối cao để Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trình
Chủ tịch nước cách chức.
Điều 24
1. Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên Viện
kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp
huyện gồm có Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp tỉnh làm
Chủ tịch, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, đại diện lãnh đạo
Ban tổ chức chính quyền, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban chấp hành
Hội luật gia cấp tỉnh là uỷ viên.
Danh sách uỷ viên Hội đồng tuyển chọn
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Kiểm sát viên Viện kiểm
sát nhân dân cấp huyện do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
quyết định theo đề nghị của Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.
2. Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên Viện
kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp
huyện có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tuyển chọn người đủ tiêu chuẩn làm
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Kiểm sát viên Viện kiểm
sát nhân dân cấp huyện theo đề nghị của Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát
nhân dân cấp tỉnh để Chủ tịch Hội đồng đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao bổ nhiệm;
b) Xem xét những trường hợp Kiểm sát viên
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân
cấp huyện có thể được miễn nhiệm chức danh Kiểm sát viên quy định tại
khoản 2 Điều 27 của Pháp lệnh này theo đề nghị của Uỷ ban kiểm sát Viện
kiểm sát nhân dân cấp tỉnh để Chủ tịch Hội đồng đề nghị Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao miễn nhiệm;
c) Xem xét những trường hợp Kiểm sát viên
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân
cấp huyện có thể bị cách chức chức danh Kiểm sát viên quy định tại khoản
2 Điều 28 của Pháp lệnh này theo đề nghị của Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh để Chủ tịch Hội đồng đề nghị Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao cách chức.
Điều 25
1. Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên Viện
kiểm sát quân sự cấp quân khu, Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự khu
vực gồm có Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương làm Chủ tịch,
đại diện lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, Uỷ ban trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, Ban chấp hành trung ương Hội luật gia Việt Nam là uỷ
viên.
Danh sách uỷ viên Hội đồng tuyển chọn
Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu, Kiểm sát viên Viện
kiểm sát quân sự khu vực do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
quyết định theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương.
2. Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên Viện
kiểm sát quân sự cấp quân khu, Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự khu
vực có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tuyển chọn người đủ tiêu chuẩn làm
Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu, Kiểm sát viên Viện
kiểm sát quân sự khu vực theo đề nghị của Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát
quân sự cấp quân khu để Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương đề
nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm;
b) Xem xét những trường hợp Kiểm sát viên Viện kiểm sát
quân sự cấp quân khu, Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự khu vực có thể
được miễn nhiệm chức danh Kiểm sát viên quy định tại khoản 2 Điều 27 của
Pháp lệnh này theo đề nghị của Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát quân sự cấp
quân khu để Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương đề nghị Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao miễn nhiệm;
c) Xem xét những trường hợp Kiểm sát
viên Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu, Kiểm sát viên Viện kiểm sát
quân sự khu vực có thể bị cách chức chức danh Kiểm sát viên quy định tại
khoản 2 Điều 28 của Pháp lệnh này theo đề nghị của Uỷ ban kiểm sát Viện
kiểm sát quân sự cấp quân khu để Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung
ương đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao cách chức.
| Về đầu trang |
PHÁP
LỆNH THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở XÃ,
PHƯỜNG, THỊ TRẤN
(Pháp
lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11, ngày 20/4/2007
của Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội khoá XI).
Điều 3. Trách nhiệm tổ chức thực hiện dân
chủ ở cấp xã
1. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của
mình, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp xã, cơ quan, tổ chức, cá
nhân có liên quan có trách nhiệm tổ chức thực hiện dân chủ ở cấp xã.
2. Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp
xã có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
tổ chức thành viên của Mặt trận cùng cấp trong việc tổ chức thực hiện
dân chủ ở cấp xã.
3. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
các tổ chức thành viên của Mặt trận ở cấp xã có trách nhiệm giám sát
việc thực hiện và tham gia tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện dân
chủ ở cấp xã.
Điều 15. Giá trị thi hành đối với những
việc nhân dân bàn, biểu quyết
1. Đối với nội dung quy định tại khoản 1
Điều 13 của Pháp lệnh này, nếu có trên 50% tổng số cử tri hoặc cử tri
đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố tán thành thì có giá trị thi
hành sau khi ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
(sau đây gọi chung là cấp huyện) ra quyết định công nhận.
2. Đối với nội dung quy định tại khoản 2
Điều 13 của Pháp lệnh này, nếu có trên 50% tổng số cử tri hoặc cử tri
đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố tán thành thì có giá trị thi
hành sau khi ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định công nhận.
3. Đối với nội dung quy định tại khoản 3
Điều 13 của Pháp lệnh này, nếu có trên 50% tổng số cử tri hoặc cử tri
đại diện hộ gia đình tán thành thì có giá trị thi hành sau khi được Uỷ
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã công nhận.
Điều 16.
Việc công nhận những nội dung nhân dân bàn,
biểu quyết
1. Việc công nhận hương ước, quy ước của
thôn, tổ dân phố được thực hiện như sau:
a) Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố có
trách nhiệm báo cáo ngay với Uỷ ban nhân dân cấp xã kết quả việc nhân
dân bàn, biểu quyết;
b) Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ
ngày nhận được báo cáo của Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố, Uỷ ban
nhân dân cấp xã phải lập hồ sơ trình Uỷ ban nhân dân cấp huyện;
c) Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể
từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị của Uỷ ban nhân dân cấp xã, Uỷ ban nhân
dân cấp huyện phải xem xét, ra quyết định công nhận; trường hợp không
công nhận thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
2. Việc công nhận kết quả bầu, miễn
nhiệm, bãi nhiệm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố được thực hiện như
sau:
a) Người chủ trì cuộc họp thôn, tổ dân
phố có trách nhiệm lập biên bản, báo cáo ngay với Uỷ ban nhân dân cấp xã
kết quả bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố;
b) Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể
từ ngày nhận được báo cáo, Uỷ ban nhân dân cấp xã phải xem xét, ra quyết
định công nhận; trường hợp không công nhận thì phải trả lời bằng văn bản
và nêu rõ lý do.
3. Việc công nhận kết quả bầu, bãi nhiệm
thành viên Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng
được thực hiện như sau:
a) Người chủ trì cuộc họp có trách nhiệm
báo cáo ngay với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã kết quả bầu,
bãi nhiệm thành viên Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của
cộng đồng;
b) Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể
từ ngày nhận được báo cáo, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã phải
xem xét, công nhận; trường hợp không công nhận thì phải trả lời bằng văn
bản và nêu rõ lý do.
Điều 17.
Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp xã, Chủ
tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã
1. Uỷ ban nhân dân cấp xã lập, thông qua
kế hoạch thực hiện những nội dung nhân dân bàn và quyết định; phối hợp
với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội
cùng cấp tổ chức thực hiện; chỉ đạo Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố
thực hiện kế hoạch đã được thông qua.
2. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã chịu
trách nhiệm lập biên bản tổng hợp kết quả về những nội dung đã đưa ra
nhân dân toàn cấp xã bàn và quyết định; tổ chức triển khai thực hiện
những nội dung đã được nhân dân quyết định; phối hợp với Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam cấp xã tổ chức việc bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởng
thôn, Tổ trưởng tổ dân phố.
3. Uỷ ban nhân dân cấp xã báo cáo Hội
đồng nhân dân cùng cấp về quá trình và kết quả thực hiện các nội dung
nhân dân bàn và quyết định tại kỳ họp gần nhất của Hội đồng nhân dân.
Điều 18. Trách nhiệm của Trưởng thôn, Tổ
trưởng tổ dân phố
1. Chủ trì, phối hợp với Ban công tác Mặt
trận ở thôn, tổ dân phố tổ chức cuộc họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ
gia đình, phát phiếu lấy ý kiến cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình
để nhân dân thực hiện những nội dung quy định tại Điều 10, khoản 1 và
khoản 3 Điều 13 của Pháp lệnh này.
2. Lập biên bản về kết quả đã được nhân
dân thôn, tổ dân phố bàn và quyết định trực tiếp những công việc của
thôn, tổ dân phố.
3. Lập biên bản về kết quả đã được nhân
dân thôn, tổ dân phố bàn và quyết định trực tiếp những công việc thuộc
phạm vi cấp xã; báo cáo kết quả cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã.
4. Tổ chức thực hiện những công việc
trong phạm vi thôn, tổ dân phố đã được nhân dân quyết định.
Điều 21.
Trách nhiệm của chính quyền cấp xã về tổ chức
thực hiện những nội dung nhân dân tham gia ý kiến
1. Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm
lập, thông qua kế hoạch để lấy ý kiến nhân dân về những nội dung thuộc
thẩm quyền quyết định của chính quyền cấp xã, trong đó nêu rõ cách thức
triển khai, thời gian và trách nhiệm tổ chức thực hiện.
2. Uỷ ban nhân dân cấp xã phối hợp với Uỷ
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội cùng cấp
tổ chức thực hiện kế hoạch đã được thông qua.
3. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã chịu
trách nhiệm chỉ đạo việc tổ chức lấy ý kiến, tổng hợp ý
kiến của cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình; nghiên cứu tiếp thu ý
kiến và thông báo với nhân dân về tiếp thu ý kiến của cử tri hoặc cử tri
đại diện hộ gia đình.
Trường hợp chính quyền cấp xã quyết định
các nội dung quy định tại Điều 19 của Pháp lệnh này khác với ý
kiến của đa số thì phải nêu rõ lý do và chịu trách nhiệm về quyết định
của mình.
4. Đối với những nội dung do cơ quan có
thẩm quyền giao cho chính quyền cấp xã đưa ra lấy ý kiến nhân dân thì Uỷ
ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm lập, thông qua kế hoạch thực hiện,
trong đó nêu rõ cách thức triển khai, thời gian và trách nhiệm tổ chức
thực hiện; chỉ đạo tổ chức thực hiện, tổng hợp ý kiến và báo cáo với cơ
quan có thẩm quyền về kết quả lấy ý kiến nhân dân trên địa bàn.
5. Uỷ ban nhân dân cấp xã báo cáo Hội
đồng nhân dân cùng cấp về quá trình và kết quả thực hiện các nội dung
đưa ra lấy ý kiến nhân dân tại kỳ họp gần nhất của Hội đồng nhân dân.
Điều 24.
Hình thức để thực hiện việc giám sát của nhân
dân
1. Nhân dân thực hiện việc giám sát thông
qua hoạt động của Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng
đồng.
Trình tự, thủ tục hoạt động của Ban thanh
tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng được thực hiện theo quy
định của pháp luật.
2. Nhân dân trực tiếp thực hiện việc giám
sát thông qua quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị với cơ quan, tổ chức có
thẩm quyền hoặc kiến nghị thông qua Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
các tổ chức thành viên của Mặt trận cấp xã, Ban thanh tra nhân dân, Ban
giám sát đầu tư của cộng đồng.
Trình tự, thủ tục khiếu nại, tố cáo, kiến
nghị của nhân dân được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Điều 25.
Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong
việc thực hiện giám sát của nhân dân
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của
mình, cơ quan, tổ chức, cá nhân có các trách nhiệm sau đây:
1. Cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông
tin, tài liệu cần thiết cho Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư
của cộng đồng;
2. Xem xét, giải quyết và trả lời kịp
thời các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân, kiến nghị của Ban
thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng, của Uỷ ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận cấp xã hoặc
báo cáo với cơ quan có thẩm quyền về những vấn đề không thuộc thẩm quyền
giải quyết của mình;
3. Xử lý người có hành vi cản trở hoạt
động của Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng hoặc
người có hành vi trả thù, trù dập công dân khiếu nại, tố cáo, kiến nghị
theo quy định của pháp luật.
Điều 26.
Lấy phiếu tín nhiệm
1. Hai năm một lần trong mỗi nhiệm kỳ của
Hội đồng nhân dân cấp xã, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam cùng cấp tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đối với Chủ tịch, Phó Chủ tịch
Hội đồng nhân dân và Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã.
2. Thành phần tham gia lấy phiếu tín
nhiệm gồm các thành viên Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thành viên
Ban thường vụ của các tổ chức chính trị - xã hội cấp xã, Trưởng ban
thanh tra nhân dân, Trưởng ban giám sát đầu tư của cộng đồng (nếu có),
Bí thư chi bộ, Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố, Trưởng ban công tác
mặt trận thôn, tổ dân phố.
3. Ban thường trực
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã gửi kết quả lấy phiếu tín nhiệm
và kiến nghị của mình tới Hội đồng nhân dân cùng cấp và các cơ quan, tổ
chức có thẩm quyền.
| Về đầu trang |
PHÁP LỆNH XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
(Pháp lệnh
số 44/2007/PL-UBTVQH10, ngày 2/7/2002 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá
X, đã được sửa đổi một số điều theo Pháp lệnh số 21/2007/PL-UBTVQH11
ngày 8/3/2007 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá XI).
Điều 4.
Trách nhiệm đấu tranh, phòng ngừa và chống vi
phạm hành chính
1. Cơ quan, tổ chức và mọi công dân phải
nghiêm chỉnh tuân thủ những quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành
chính. Các cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ giáo dục thành viên thuộc cơ
quan, tổ chức mình về ý thức bảo vệ và tuân theo pháp luật, các quy tắc
của cuộc sống xã hội, kịp thời có biện pháp loại trừ nguyên nhân, điều
kiện gây ra vi phạm hành chính trong cơ quan, tổ chức mình.
2. Khi phát hiện có vi phạm hành chính,
người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính có trách nhiệm xử lý vi phạm
đó theo đúng quy định của pháp luật.
Nghiêm cấm việc lạm dụng chức vụ, quyền
hạn, sách nhiễu, dung túng, bao che, xử lý không nghiêm minh vi phạm
hành chính.
3. Công dân có quyền và nghĩa vụ phát
hiện, tố cáo mọi hành vi vi phạm hành chính và hành vi vi phạm pháp luật
của người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính.
4. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
các tổ chức thành viên của Mặt trận, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn của mình có trách nhiệm giám sát việc thi hành pháp luật trong
xử lý vi phạm hành chính.
Điều 70.
Quyết định việc giáo dục tại xã, phường, thị
trấn
1. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã tự
mình hoặc theo đề nghị của một trong các cơ quan, tổ chức sau đây quyết
định việc giáo dục tại xã, phường, thị trấn:
a) Trưởng Công an cấp xã;
b) Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã;
c) Đại diện cơ quan, tổ chức, đơn vị dân cư ở cơ sở.
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã cũng có thể quyết định
việc giáo dục tại xã, phường, thị trấn trên cơ sở hồ sơ, biên bản về
hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng do cơ quan Công an cấp huyện,
cấp tỉnh cung cấp.
2. Trước khi quyết định việc giáo dục tại xã, phường, thị
trấn, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã tổ chức cuộc họp gồm Trưởng Công
an cấp xã, đại diện Ban Tư pháp, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức xã
hội cùng cấp có liên quan, đại diện dân cư ở cơ sở, gia đình của người
được đề nghị giáo dục để xem xét việc áp dụng biện pháp này.
3. Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày kết thúc cuộc họp
quy định tại khoản 2 Điều này, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã xem xét,
quyết định việc giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
Tuỳ theo từng đối tượng mà Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp
xã quyết định giao người được giáo dục cho cơ quan, tổ chức, gia đình
quản lý, giáo dục.
4. Quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn có hiệu
lực kể từ ngày ký và phải được gửi ngay cho người được giáo dục, gia
đình người đó, Hội đồng nhân dân cấp xã và các cơ quan, tổ chức có liên
quan.
Điều 75.
Lập hồ sơ đề nghị đưa vào trường giáo dưỡng
1. Đối với người chưa thành niên có hành vi vi phạm pháp
luật được quy định tại Điều 24 của Pháp lệnh này cần đưa vào trường giáo
dưỡng thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú lập hồ sơ
gửi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện.
Hồ sơ gồm có bản tóm tắt lý lịch, tài liệu về các vi phạm
pháp luật của người đó, biện pháp giáo dục đã áp dụng, nhận xét của cơ
quan Công an, ý kiến của nhà trường, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, Đoàn thanh
niên, Hội phụ nữ, Ban Dân số, gia đình và trẻ em ở cơ sở, của cha mẹ
hoặc người giám hộ.
2. Đối với người chưa thành niên không có nơi cư trú nhất
định thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó có hành vi vi phạm
pháp luật lập biên bản, báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện.
Trong trường hợp đối tượng do cơ quan Công an cấp tỉnh,
cấp huyện trực tiếp phát hiện, điều tra, thụ lý trong các vụ vi phạm
pháp luật, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự mà thuộc đối
tượng đưa vào trường giáo dưỡng thì cơ quan Công an đang thụ lý phải xác
minh, thu thập tài liệu, lập hồ sơ gửi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp
huyện.
Hồ sơ gồm có bản tóm tắt lý lịch, tài liệu về các vi phạm
pháp luật của người đó, bản trích lục tiền án, tiền sự, biện pháp giáo
dục đã áp dụng (nếu có).
3. Cơ quan Công an có trách nhiệm giúp Chủ tịch Uỷ ban
nhân dân cùng cấp trong việc thu thập tài liệu và lập hồ sơ.
4. Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ
hoặc biên bản quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, Chủ tịch Uỷ ban
nhân dân cấp huyện giao cho Trưởng Công an cùng cấp. Trong thời hạn mười
lăm ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, cơ quan Công an cấp huyện có trách
nhiệm thẩm tra, thu thập tài liệu, hoàn chỉnh hồ sơ và gửi hồ sơ đến các
thành viên Hội đồng tư vấn.
Điều 84.
Lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở giáo dục
1. Đối với người có hành vi vi phạm pháp luật quy định
tại Điều 25 của Pháp lệnh này cần đưa vào cơ sở giáo dục thì Chủ tịch Uỷ
ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xem xét, lập hồ sơ gửi Chủ tịch
Uỷ ban nhân dân cấp huyện.
Hồ sơ gồm có bản tóm tắt lý lịch, tài liệu về các vi phạm
pháp luật của người đó, các biện pháp giáo dục đã áp dụng, nhận xét của
cơ quan Công an, ý kiến của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức xã
hội cùng cấp có liên quan.
2. Đối với người không có nơi cư trú nhất định thì Chủ
tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó có hành vi vi phạm pháp luật
lập biên bản, báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện.
Trong trường hợp đối tượng do cơ quan Công an cấp huyện,
cấp tỉnh trực tiếp phát hiện, điều tra, thụ lý trong các vụ vi phạm pháp
luật nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự mà thuộc đối tượng
đưa vào cơ sở giáo dục, thì cơ quan Công an đang thụ lý phải xác minh,
thu thập tài liệu, lập hồ sơ gửi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp.
Hồ sơ gồm có bản tóm tắt lý lịch, tài liệu về các vi phạm
pháp luật của người đó, bản trích lục tiền án, tiền sự, biện pháp giáo
dục đã áp dụng (nếu có).
3. Cơ quan Công an có trách nhiệm giúp Chủ tịch Uỷ ban
nhân dân cùng cấp trong việc thu thập tài liệu để lập hồ sơ.
4. Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được hồ
sơ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân
cấp huyện thẩm tra hồ sơ, gửi hồ sơ đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp
tỉnh. Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Chủ tịch Uỷ
ban nhân dân cấp tỉnh gửi hồ sơ đến các thành viên Hội đồng tư vấn.
Trong trường hợp cơ quan Công an cấp tỉnh đã lập hồ sơ quy định tại
khoản 2 Điều này thì báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và gửi
hồ sơ đến các thành viên Hội đồng tư vấn.
Điều 85.
Hội đồng tư vấn về việc đưa vào cơ sở giáo dục
1. Hội đồng tư vấn về việc đưa vào cơ sở giáo dục do Chủ
tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập gồm Giám đốc Công an,
Giám đốc Sở Tư pháp, Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Chủ
tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh; Giám đốc Công an là thường trực
Hội đồng tư vấn.
2. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được hồ
sơ, Hội đồng tư vấn có trách nhiệm xem xét hồ sơ và tổ chức cuộc họp để
xét duyệt hồ sơ.
Hội đồng tư vấn làm việc theo chế độ
tập thể, kết luận theo đa số. Các ý kiến khác nhau phải được ghi vào
biên bản cuộc họp kèm theo báo cáo trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp
tỉnh.
| Về đầu trang |
PHÁP LỆNH TỔ
CHỨC ĐIỀU TRA HÌNH SỰ
(Số 23/2004/PL-UBTVQH11, ngày 20 tháng 8 năm 2004)
Điều 8.
Giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với
hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra, Bộ đội biên phòng, Hải quan,
Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, cơ quan khác của Công an nhân dân,
Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
Cơ quan nhà nước, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
tổ chức thành viên của Mặt trận, đại biểu dân cử có quyền giám sát hoạt
động điều tra của Cơ quan điều tra, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm
lâm, lực lượng Cảnh sát biển, cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân
đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Thủ
trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Thủ trưởng, Phó
Thủ trưởng cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra.
Trong trường hợp phát hiện có hành
vi trái pháp luật trong hoạt động điều tra thì cơ quan nhà nước, đại
biểu dân cử có quyền yêu cầu, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ
chức thành viên của Mặt trận có quyền kiến nghị với cơ quan có thẩm
quyền xem xét, giải quyết theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Trong phạm vi trách nhiệm của mình, Cơ quan điều tra, Bộ đội biên phòng,
Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, cơ quan khác của Công an
nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra phải xem xét, giải quyết và thông báo kết quả giải quyết
cho cơ quan, người đã yêu cầu hoặc kiến nghị biết.
| Về đầu trang |
PHÁP LỆNH VỀ NGƯỜI CAO TUỔI
(Số 23/2000/PL-UBTVQH10, ngày 28 tháng 4 năm 2000)
Điều 24. Người cao tuổi được
động viên phát huy tài năng, trí tuệ và phẩm chất tốt đẹp để tham gia
vào các hoạt động:
1. Giáo dục truyền thống yêu
nước, yêu chủ nghĩa xã hội, truyền thống "Uống nước nhớ nguồn"; truyền
thụ kiến thức văn hóa, xã hội, khoa học và công nghệ, kỹ năng nghề
nghiệp cho thế hệ trẻ;
2. Giữ gìn an ninh chính trị,
trật tự an toàn xã hội và hòa giải các tranh chấp, mâu thuẫn tại cộng
đồng dân cư;
3. Đóng góp ý kiến xây dựng
chính sách, pháp luật;
4. Tư vấn chuyên môn, kỹ thuật;
5. Nghiên cứu, ứng dụng khoa
học và công nghệ;
6. Các hoạt động xã hội khác.
Điều 27
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận
các cấp vận động gia đình và xã hội chăm sóc, phát huy vai trò của người
cao tuổi.
| Về đầu trang |
PHÁP LỆNH CỰU
CHIẾN BINH
(Số
27/2005/PL-UBTVQH11, ngày 07/10/2005)
Điều 3.
Hội Cựu chiến binh Việt Nam
Hội Cựu chiến binh Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội
trong hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đại diện ý
chí, nguyện vọng của Cựu chiến binh, là cơ sở chính trị của chính quyền
nhân dân, thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Điều 11.
Nhiệm vụ của Hội Cựu chiến binh Việt Nam
1. Tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền, chế độ
xã hội chủ nghĩa; đấu tranh chống mọi âm mưu, hoạt động phá hoại của các
thế lực thù địch; chống các quan điểm sai trái với đường lối, chính sách
của Đảng, pháp luật của Nhà nước; thực hiện các quy định của pháp luật
về dân chủ ở cơ sở, đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tệ
nạn xã hội; giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, của cán bộ, công
chức theo quy định của pháp luật.
2. Tham gia phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc
phòng, an ninh; kiến nghị với cơ quan nhà nước, chính quyền địa phương
về xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật có liên quan đến
Cựu chiến binh, Hội Cựu chiến binh.
3. Tập hợp, đoàn kết, động viên Cựu chiến binh rèn luyện,
giữ gìn phẩm chất, đạo đức cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, trình
độ hiểu biết đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước,
kiến thức về kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ thuật, thực hiện tốt nghĩa
vụ công dân; tập hợp quân nhân đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự tiếp tục
phát huy truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tham gia tổ chức câu lạc bộ, Ban
liên lạc Cựu quân nhân, các phong trào cách mạng ở cơ sở.
4. Tổ chức chăm lo, giúp đỡ Cựu chiến binh nâng cao đời
sống vật chất, tinh thần, phát triển kinh tế gia đình, xoá đói, giảm
nghèo, làm giàu hợp pháp; tổ chức các hoạt động tình nghĩa để Cựu chiến
binh tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống.
5. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Cựu chiến binh;
tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, tư vấn, trợ giúp pháp lý cho
Cựu chiến binh.
6. Tiến hành các hoạt động đối ngoại nhân dân, góp phần
thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước.
7. Phối hợp với Đoàn thanh niên Cộng
sản Hồ Chí Minh, các tổ chức thành viên khác của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, cơ quan quân sự giáo dục truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng
cách mạng, ý chí tự lực, tự cường cho thế hệ trẻ.
| Về đầu trang |
PHÁP
LỆNH DÂN SỐ
(Số 06/2003/PL-UBTVQH11, ngày 09 tháng 01 năm 2003)
Điều 5.
Trách nhiệm của Nhà nước, cơ quan, tổ chức trong công tác dân số
1. Nhà nước có chính sách, biện pháp
để triển khai công tác dân số, thực hiện xã hội hoá công tác dân số, bảo
đảm điều kiện thuận lợi cho công tác dân số phù hợp với sự phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước.
2. Nhà nước có chính sách khuyến
khích tổ chức, cá nhân đầu tư, hợp tác, giúp đỡ, hỗ trợ chương trình
chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình, nâng cao chất lượng
dân số, ưu tiên đối với người nghèo, đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng
có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng có điều kiện kinh
tế - xã hội khó khăn.
3. Cơ quan quản lý nhà nước về dân
số có trách nhiệm chỉ đạo thực hiện công tác dân số; phối hợp với Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận để triển
khai công tác dân số; thanh tra, kiểm tra việc thi hành pháp luật về dân
số.
4. Cơ quan, tổ chức trong phạm vi
nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm:
a) Lồng ghép các yếu tố dân số trong
quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội;
b) Tuyên truyền, vận động thực hiện
công tác dân số;
c) Cung cấp các loại dịch vụ dân số;
d) Tổ chức thực hiện pháp luật về
dân số trong cơ quan, tổ chức mình.
Điều 6.
Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân trong
công tác dân số
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
đoàn thể nhân dân có trách nhiệm:
1. Tham gia ý kiến vào việc hoạch
định chính sách, xây dựng quy hoạch, kế hoạch dân số và các văn bản quy
phạm pháp luật về dân số;
2. Tổ chức thực hiện công tác dân số
trong hệ thống của mình;
3. Tuyên truyền, vận động đoàn viên,
hội viên và toàn dân thực hiện pháp luật về dân số;
4. Giám sát việc thực hiện pháp luật
về dân số.
| Về đầu trang |
PHÁP LỆNH
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG HOÀ GIẢI Ở CƠ SỞ
(Số 09/1998/PL-UBTVQH10, ngày 25 tháng 12 năm 1998)
Điều
5.
Vai trò của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác,
tổ chức kinh tế, cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân
trong công tác hoà giải
Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội
khác, tổ chức kinh tế, cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân và
công dân có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với các cơ quan nhà nước hữu
quan, động viên nhân dân trong việc xây dựng, củng cố Tổ hoà giải và các
tổ chức hoà giải khác của nhân dân trong cộng đồng dân cư; giúp đỡ, tạo
điều kiện cho hoạt động hoà giải ở cơ sở; tham gia hoà giải theo quy
định của pháp luật.
Điều
7. Tổ hoà giải
1- Tổ hoà giải ở
cơ sở là tổ chức tự quản của nhân dân được thành lập ở thôn, xóm, bản,
ấp, tổ dân phố và các cụm dân cư khác để thực hiện hoặc tổ chức thực
hiện việc hoà giải những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong
nhân dân theo quy định của pháp luật.
2- Tổ hoà giải có
tổ trưởng và các tổ viên do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn
phối hợp với các tổ chức thành viên của Mặt trận lựa chọn, giới thiệu để
nhân dân bầu và do Uỷ ban nhân dân cùng cấp công nhận.
Chính phủ quy định
chi tiết thủ tục bầu, miễn nhiệm tổ trưởng và tổ viên Tổ hoà giải.
Điều
8. Tổ trưởng Tổ hoà giải
1- Tổ trưởng Tổ
hoà giải là người phụ trách Tổ hoà giải, đồng thời tham gia hoạt động
hoà giải với tư cách tổ viên.
2- Tổ trưởng Tổ
hoà giải có các nhiệm vụ sau đây:
a) Phân công, điều
hoà, phối hợp hoạt động của các tổ viên Tổ hoà giải; phối hợp hoạt động
với Tổ hoà giải khác khi xét thấy cần thiết;
b) Tổ chức rút
kinh nghiệm về công tác hoà giải;
c) Báo cáo Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn về công tác hoà giải.
| Về đầu trang |
PHÁP LỆNH TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO
(Số 21/2004/PL-UBTVQH11 ngày 18 tháng 6 năm 2004)
Điều 7
1. Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong phạm vi nhiệm vụ, quyền
hạn của mình có trách nhiệm:
a) Tập hợp đồng
bào có tín ngưỡng, tôn giáo và đồng bào không có tín ngưỡng, tôn giáo
xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;
b) Phản ảnh kịp
thời ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của nhân dân về các vấn đề có liên
quan đến tín ngưỡng, tôn giáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
c) Tham gia tuyên
truyền, vận động chức sắc, nhà tu hành, tín đồ, người có tín ngưỡng, các
tổ chức tôn giáo và nhân dân thực hiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo;
d) Tham gia xây
dựng và giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn
giáo.
2. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn
của mình, các cơ quan nhà nước chủ động phối hợp với Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong việc tuyên
truyền, vận động và thực hiện các chính sách, pháp luật về tín ngưỡng,
tôn giáo.
| Về đầu trang |
NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ
QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU
CỦA LUẬT MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM.
(Số 50/2001/NĐ-CP,
ngày 16 tháng 8 năm 2001)
CHƯƠNG I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1.
Phạm vi, đối tượng điều chỉnh của Nghị định
Nghị định này quy định chi tiết thi hành một số điều của
Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về trách nhiệm của Chính phủ, các Bộ, cơ
quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân
dân các cấp (sau đây gọi chung là cơ quan Nhà nước) trong việc phối hợp
với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện
quyền và trách nhiệm của Mặt trận, phát huy vai trò là cơ sở chính trị
của chính quyền nhân dân; quy định điều kiện bảo đảm hoạt động của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam.
Điều 2.
Quan hệ giữa cơ quan Nhà nước với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
1. Quan hệ giữa các cơ quan Nhà nước với Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận cùng cấp là quan
hệ phối hợp, tạo điều kiện để mỗi bên thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật.
2. Cơ quan Nhà nước phối hợp chặt chẽ và dựa vào Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Khi được Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đề nghị, cơ
quan Nhà nước có trách nhiệm tham gia các hoạt động của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam.
Điều 3.
Quy chế phối hợp công tác
1. Chính phủ phối hợp với Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam ban hành quy chế phối hợp công tác.
2. Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ phối hợp
với Ban Thường trực Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam ban hành Quy chế phối hợp công tác.
3. Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân ở mỗi cấp phối hợp
với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp ban hành Quy chế phối hợp
công tác.
Điều 4.
Trách nhiệm của cơ quan Nhà nước trong việc bảo đảm hoạt động của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam
Cơ quan Nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của
mình có trách nhiệm bảo đảm kinh phí, cơ sở vật chất và những điều kiện
cần thiết khác cho hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp.
CHƯƠNG II
PHỐI HỢP GIỮA CƠ QUAN NHÀ
NƯỚC VỚI
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
TRONG VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
Điều 5.
Về việc tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân
1. Cơ quan Nhà nước căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn của mình tham gia với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp xây
dựng kế hoạch, chương trình phát triển đa dạng các hình thức tập hợp các
tầng lớp nhân dân tham gia phong trào yêu nước, đoàn kết mọi người Việt
Nam ở trong nước và ở nước ngoài nhằm động viên mọi nguồn lực để xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
2. Cơ quan Nhà nước kiến nghị, có kế hoạch tham gia với
Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp để Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam tập hợp, phát huy vai trò của các cá nhân tiêu biểu trong
các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo trong việc
vận động nhân dân thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội, an
ninh, quốc phòng và đối ngoại của Nhà nước.
3. Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Bộ Văn hoá - Thông tin, Bộ
Giáo dục và Đào tạo, các Bộ, ngành có liên quan, Hội đồng nhân dân, Uỷ
ban nhân dân các cấp phối hợp, tạo điều kiện để Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận các cấp tham gia tuyên
truyền, vận động người Việt Nam ở nước ngoài bằng các biện pháp, hình
thức thích hợp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, giúp đỡ lẫn nhau
trong cuộc sống, giữ gìn bản sắc văn hoá, truyền thống tốt đẹp của dân
tộc, tôn trọng luật pháp nước sở tại, giữ quan hệ gắn bó với gia đình và
quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước.
Điều 6.
Về hoạt động tuyên truyền, vận động nhân dân
1. Cơ quan Nhà nước trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận cùng cấp xây dựng chương
trình tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân thực hiện chủ trương,
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tổ chức các cuộc vận động,
các phong trào yêu nước, vận động nhân dân đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau
phát triển kinh tế, xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư, xây dựng đời
sống văn hoá, giải quyết các vấn đề xã hội, xây dựng nền quốc phòng toàn
dân, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.
2. Cơ quan Nhà nước tham gia ý kiến với Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận cùng cấp về mục
tiêu, nội dung các cuộc vận động và tạo điều kiện để Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận cùng cấp tổ chức
triển khai các cuộc vận động nhân dân.
Trong trường hợp cơ quan Nhà nước tổ chức, chỉ đạo các
phong trào nhân dân thì đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ
chức thành viên của Mặt trận cùng cấp có liên quan cử đại diện tham gia
Ban Chỉ đạo.
3. Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp xã phối hợp với
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp chỉ đạo sự phối hợp hoạt động
giữa Trưởng thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố, cộng đồng dân cư khác ở cơ
sở với Trưởng ban công tác mặt trận tuyên truyền, vận động nhân dân thực
hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở và các cuộc vận động khác trên địa bàn dân
cư.
Uỷ ban nhân dân cấp xã phối hợp với Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam cùng cấp chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động của các tổ chức tự
quản được thành lập theo quy định của pháp luật trong cộng đồng dân cư
trên địa bàn.
Điều 7.
Về công tác bầu cử
Căn cứ Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật Bầu cử đại
biểu Hội đồng nhân dân, nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Uỷ ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các văn bản pháp luật khác có
liên quan đến công tác bầu cử, cơ quan Nhà nước bảo đảm các điều kiện
cần thiết để Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp thực hiện quyền và
trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong công tác bầu cử:
1. Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ phối hợp với Văn phòng
Quốc hội và Ban Thường trực Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam hướng dẫn cơ cấu, thành phần của các tổ chức thành viên
của Mặt trận tham gia tổ chức phụ trách bầu cử; tổ chức hội nghị triển
khai và tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác bầu cử; tổ chức hội
nghị giao ban theo vùng, miền; chỉ đạo, kiểm tra công tác bầu cử; tổng
kết công tác bầu cử;
2. Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Ban Tổ chức - Cán
bộ Chính phủ, Văn phòng Quốc hội và Ban Thường trực Đoàn Chủ tịch Uỷ ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn việc sử dụng kinh phí bầu
cử.
Điều 8.
Tổ chức tiếp xúc giữa cử tri với đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp
Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, Chủ
tịch hoặc Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp xã chủ trì, phối hợp với
Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp xây dựng kế
hoạch tổ chức Hội nghị tiếp xúc giữa cử tri với đại biểu Hội đồng nhân
dân các cấp, bảo đảm cơ sở vật chất và tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử
tri tại Hội nghị.
Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp
chủ trì Hội nghị theo quy định của pháp luật.
Điều 9.
Về việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ.
1. Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp có trách nhiệm tập hợp
những kiến nghị của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
tổ chức thành viên của Mặt trận về dự kiến chương trình xây dựng luật,
pháp lệnh, chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ,
quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ đề trình cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền.
2. Chính phủ tham gia ý kiến bằng văn bản đối với các dự
án luật, pháp lệnh do Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trình.
3. Khi xây dựng dự án luật, pháp lệnh có liên quan đến
quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân, đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, tổ
chức bộ máy nhà nước thì cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm gửi dự
án để Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt
trận có liên quan tham gia ý kiến.
Đối với dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ,
quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, quyết định, chỉ thị, thông
tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ
có liên quan đến quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, chế
độ, chính sách của cán bộ Mặt trận, cơ quan chủ trì soạn thảo gửi dự
thảo để Ban Thường trực Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và tổ chức thành viên của Mặt trận có liên quan tham gia ý kiến.
Điều 10.
Về việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Uỷ
ban nhân dân
1. Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, cơ
quan tư pháp của Uỷ ban nhân dân cùng cấp có trách nhiệm tập hợp những ý
kiến của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các thành viên của Mặt trận
cùng cấp về dự kiến chương trình xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân
dân, quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân trình cơ quan có thẩm quyền.
2. Đối với dự thảo nghị quyết, quyết định, chỉ thị có
liên quan đến quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, chế độ,
chính sách của cán bộ Mặt trận, quyền, lợi ích của người dân ở địa
phương thì cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm gửi dự thảo để Uỷ
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận
cùng cấp có liên quan tham gia ý kiến.
Điều 11.
Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật liên tịch giữa cơ quan Nhà nước
với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội là
thành viên của Mặt trận.
Chính phủ phối hợp với Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam ban hành nghị quyết liên tịch hướng dẫn thi hành những vấn đề
mà pháp luật quy định trách nhiệm tham gia quản lý Nhà nước của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam.
Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ phối hợp
với Ban Thường trực Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, cơ quan Trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội là thành
viên của Mặt trận ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành những
vấn dề mà pháp luật quy định trách nhiệm tham gia quản lý Nhà nước của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội là thành viên của
Mặt trận ở địa phương.
Điều 12.
Về việc tuyển chọn thẩm phán, giới thiệu hội thẩm Tòa án nhân dân
1. Trong trường hợp có thay đổi thành viên của Uỷ ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc của Hội Luật gia Việt Nam tham
gia Hội đồng tuyển chọn thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân
sự quân khu và tương đương, Toà án quân sự khu vực, thì trên cơ sở đề
nghị của Ban Thường trực Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam hoặc Trung ương Hội Luật gia Việt Nam, Bộ Tư pháp trình Uỷ
ban Thường vụ Quốc hội quyết định về việc thay đổi thành viên đó.
2. Trong trường hợp có thay đổi thành viên của Uỷ ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam hoặc của Hội luật gia Việt Nam tham gia Hội đồng
tuyển chọn thẩm phán Toà án nhân dân cấp huyện, thì trên cơ sở đề nghị
của Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh hoặc của
Hội Luật gia cấp tỉnh, Giám đốc Sở Tư pháp trình Bộ trưởng Bộ Tư pháp
quyết định về việc thay đổi thành viên đó.
3. Chủ tịch Hội đồng tuyển chọn thẩm phán Tòa án nhân dân
cấp tỉnh gửi hồ sơ và danh sách dự kiến tuyển chọn thẩm phán của Toà án
nhân dân cấp tỉnh chậm nhất là ba mươi ngày trước ngày họp Hội đồng
tuyển chọn thẩm phán để Ban Thường trực Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức lấy ý kiến nhân dân ở địa phương nơi
cư trú đối với người dự kiến được tuyển chọn làm thẩm phán.
Chủ tịch Hội đồng tuyển chọn thẩm phán Toà án nhân dân
cấp huyện gửi hồ sơ và danh sách dự kiến tuyển chọn thẩm phán của Toà án
nhân dân cấp huyện chậm nhất là ba mươi ngày trước ngày họp Hội đồng
tuyển chọn thẩm phán để Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
cấp tỉnh tổ chức lấy ý kiến nhân dân ở địa phương nơi cư trú đối với
người dự kiến được tuyển chọn làm thẩm phán.
4. Chậm nhất là ba mươi ngày trước ngày khai mạc kỳ họp
thứ nhất của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, Thường trực Hội đồng
nhân dân thông báo để Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
cùng cấp tổ chức hiệp thương, lựa chọn, giới thiệu Hội thẩm Toà án nhân
dân địa phương theo hướng dẫn của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam.
Điều 13.
Về hoạt động giám sát
1. Cơ quan Nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ giám sát, kiểm
tra, thanh tra ở địa phương có trách nhiệm nghiên cứu, xem xét, tiếp thu
kiến nghị của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, Ban Thanh tra
nhân dân và ý kiến của các tầng lớp nhân dân phản ánh thông qua Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
2. Khi cần thiết, cơ quan Nhà nước có trách nhiệm mời đại
diện Ban Thanh tra nhân dân tham gia giám sát, thanh tra, kiểm tra, ở xã,
phường, thị trấn. Ban Thanh tra nhân dân có trách nhiệm cung cấp thông
tin, cử người tham gia khi được yêu cầu tham gia giám sát, kiểm tra,
thanh tra của các cơ quan Nhà nước.
Khi Ban Thanh tra nhân dân thực hiện quyền giám sát, kiểm
tra theo quy định của pháp luật thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi
được giám sát, kiểm tra có trách nhiệm cung cấp thông tin, trả lời kiến
nghị theo quy định tại Điều 15 của Nghị định này.
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện phối hợp với Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp tạo điều kiện để Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam cấp xã chỉ đạo tổ chức, hoạt động của Ban Thanh tra nhân
dân.
Cơ quan Nhà nước có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp hướng dẫn, giúp đỡ, động viên và bảo vệ
công dân khi họ thực hiện quyền giám sát của mình.
3. Hội đồng nhân dân các cấp khi thực hiện nhiệm vụ giám
sát có trách nhiệm:
a. Mời đại diện Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam cùng cấp tham gia xây dựng kế hoạch giám sát của Hội đồng nhân
dân.
b. Mời đại diện Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam cùng cấp tham gia hoạt động giám sát.
c. Cung cấp thông tin có liên quan đến công tác giám sát
của Hội đồng nhân dân cho Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp;
d. Tạo điều kiện để đại diện Ban Thường trực Uỷ ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam đưa kiến nghị liên quan đến nội dung giám sát.
đ. Tiếp nhận những thông tin có liên quan đến hoạt động
giám sát của Hội đồng nhân dân do Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam cùng cấp cung cấp.
4. Người đứng đầu cơ quan Nhà nước có trách nhiệm:
a. Tiếp, cung cấp thông tin và giải trình những vấn đề
liên quan theo yêu cầu của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khi tiến
hành hoạt động giám sát;
b. Cử đại diện tham gia hoạt động giám sát của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam khi Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đề nghị;
c. Xem xét, giải quyết kiến nghị của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam về việc biểu dương, khen thưởng người tốt, việc tốt; xem xét,
giải quyết, xử lý kịp thời những trường hợp vi pháp pháp luật và thông
báo kết quả xử lý cho Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã có kiến nghị
theo quy định tại khoản 2 Điều 15 của Nghị định này.
Điều 14.
Về hoạt động đối ngoại nhân dân
1. Cơ quan Nhà nước trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn của mình có trách nhiệm tham gia xây dựng kế hoạch, chương
trình hoạt động đối ngoại nhân dân của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tạo
điều kiện để Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam triển khai có hiệu quả.
2. Cơ quan Nhà nước có trách nhiệm hối hợp khi được Uỷ
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận đề
nghị tham gia triển khai, thực hiện chương trình, kế hoạch hoạt động đối
ngoại nhân dân.
3. Khi cơ quan Nhà nước tiến hành hoạt động đối ngoại
liên quan đến hoạt động đối ngoại nhân dân của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
thì mời đại diện của Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
tham gia.
Cơ quan Nhà nước và Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các
tổ chức thành viên của Mặt trận các cấp có trách nhiệm phối hợp hoạt
động đối ngoại nhân dân và đối ngoại nhà nước nhằm thực hiện và mở rộng
hoạt động đối ngoại trong khu vực và trên thế giới theo đường lối đối
ngoại của Đảng và Nhà nước.
Điều 15.
Trả lời kiến nghị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
1. Tại các kỳ
họp, phiên họp của Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân có đại
diện của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội là
thành viên của Mặt trận tham dự và trực tiếp nêu kiến nghị thì Chính
phủ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân có trách nhiệm trả lời ngay tại
kỳ họp, phiên họp; trong trường hợp cần nghiên cứu thêm thì trả lời bằng
văn bản trong thời hạn chậm nhất không quá ba mươi ngày, kể từ ngày nhận
được kiến nghị hoặc trả lời tại kỳ họp, phiên họp tiếp theo.
2. Trong trường hợp cơ quan nhà nước nhận được kiến nghị
của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt
trận không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì cơ quan
đó có trách nhiệm trả lời trong thời hạn chậm nhất không quá ba mươi
ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị. Trong trường hợp Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận chưa tán thành với
việc trả lời, thì các bên phối hợp thảo luận để thống nhất phương án
giải quyết. Nếu không thống nhất được thì báo cáo lên cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền cấp trên. Cơ quan Nhà nước cấp trên xem xét, giải quyết
trong thời hạn chậm nhất không quá bốn mươi lăm ngày, kể từ ngày nhận
được báo cáo.
3. Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có
trách nhiệm nghiên cứu, xem xét những kiến nghị của tổ chức và cá nhân
về việc đình chỉ hoặc sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ việc thi hành
văn bản quy phạm pháp luật được phản ánh thông qua Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam các cấp.
Điều 16.
Làm việc liên tịch giữa cơ quan Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Cơ quan Nhà nước và Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam cùng cấp tổ chức làm việc liên tịch định kỳ sáu tháng hoặc
khi cần thiết theo yêu cầu của một bên để trao đổi về những vấn đề liên
quan cần giải quyết. Nội dung, chương trình, thời gian do hai bên thoả
thuận và thực hiện theo Quy chế phối hợp công tác.
Điều 17.
Về việc tham dự kỳ họp của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các
cấp cử đại diện tham dự các cuộc họp của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam cùng cấp khi được Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mời tham dự. Chủ
tịch hoặc Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân dự kỳ họp của
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp để thông báo tình hình kinh
tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, những vấn đề khác có liên quan ở địa
phương và tiếp thu ý kiến, kiến nghị của Mặt trận để xem xét, giải
quyết.
CHƯƠNG III
ĐIỀU KIỆN BẢO
ĐẢM HOẠT ĐỘNG CỦA
MẶT TRẬN TỔ QUỐC
VIỆT NAM
Điều 18.
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ mặt trận
1. Cán bộ mặt trận được đào tạo, bồi
dưỡng để nâng cao trình độ, nghiệp vụ công tác, đáp ứng yêu cầu, nhiệm
vụ được giao.
Kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ mặt
trận hàng năm được sử dụng trong nguồn kinh phí đào tạo, bồi dưỡng theo
phân cấp quản lý ngân sách hiện hành.
2. Cơ quan Nhà nước có liên quan ở Trung
ương phối hợp giúp đỡ, tạo điều kiện để Ban Thường trực Đoàn Chủ tịch Uỷ
ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện kế hoạch, chương
trình, nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ mặt trận của Trung tâm đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ mặt trận ở Trung ương.
3. Hàng năm, Trường Chính trị tỉnh và
Trung tâm Chính trị huyện phối hợp với Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp huyện thống nhất kế hoạch, chương trình,
nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ mặt trận tại địa phương.
Điều 19.
Về việc điều động, biệt phái cán bộ, công chức sang công tác tại cơ quan
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp
Cơ quan Nhà nước có trách nhiệm xem xét,
đáp ứng yêu cầu của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về việc điều động
hoặc biệt phái cán bộ, công chức sang công tác tại cơ quan Uỷ ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam các cấp.
Điều 20.
Chế độ, chính sách đối với cán bộ mặt trận và cán bộ, công chức làm công
tác mặt trận
1. Tiền lương, phụ cấp và các chế độ khác
của cán bộ mặt trận các cấp được thực hiện theo quy định của pháp luật.
2. Cán bộ, công chức khi được cơ quan
quản lý, sử dụng cử tham gia hoạt động của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam các cấp thì được cơ quan đó bảo đảm các chế độ theo quy định của
pháp luật.
3. Cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước
là Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp hoặc được cử phối
hợp công tác với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thì được cơ quan, đơn
vị quản lý cán bộ, công chức, viên chức đó tạo điều kiện thực hiện nhiệm
vụ được giao; tiền lương, phụ cấp và các chế độ khác trong thời gian
tham gia công tác mặt trận do cơ quan đơn vị quản lý cán bộ, công chức,
viên chức đó chi trả.
Điều 21.
Kinh phí hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
1. Ngân sách Nhà nước bảo đảm kinh phí
hoạt động của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp theo phân cấp
quản lý ngân sách hiện hành.
Hàng năm, căn cứ hướng dẫn của cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền và yêu cầu nhiệm vụ được giao, Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam các cấp lập dự toán ngân sách gửi cơ quan tài chính cùng
cấp xem xét, tổng hợp trong dự toán chung để trình cơ quan có thẩm quyền
quyết định;
2. Trường hợp có hoạt động đột xuất, hoạt
động phát sinh mới chưa được bố trí kinh phí bảo đảm, Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam các cấp lập dự toán kinh phí bổ sung đề nghị Chính phủ, Uỷ
ban nhân dân và cơ quan tài chính cùng cấp xem xét và bổ sung kinh phí
thực hiện;
3. Đối với những công việc do Uỷ ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với cơ quan Nhà nước tiến hành thì căn cứ
nguồn kinh phí được cấp cho công việc này (nếu có), cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền thực hiện phân bổ kinh phí cho Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam cùng cấp theo nhiệm vụ cụ thể được phân công;
4. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các
cấp lập dự toán, thực hiện dự toán và quyết toán theo chế độ quản lý
ngân sách Nhà nước hiện hành.
Điều 22.
Bảo đảm điều kiện hoạt động của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong
trường hợp thay đổi cấp hoặc địa giới hành chính của các đơn vị hành
chính và trong trường hợp đặc biệt
Khi có quyết định của cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền về việc thay đổi cấp hoặc địa giới hành chính của các đơn vị
hành chính và trong trường hợp đặc biệt thì cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm bảo đảm
cơ sở vật chất và tạo điều kiện để Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng
cấp ổn định tổ chức, điều kiện làm việc.
CHƯƠNG IV
KHEN THƯỞNG VÀ
XỬ LÝ VI PHẠM
Điều 23.
Khen thưởng và xử lý vi phạm
1. Tổ chức, cá nhân có thành tích trong
việc thực hiện chính sách, pháp luật về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thì
được khen thưởng theo quy định của pháp luật.
Tổ chức, cá nhân có thành tích khi tham
gia phối hợp công tác với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thì được Uỷ ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khen thưởng
theo quy định của pháp luật.
2. Tổ chức có hành vi vi phạm quy định
của pháp luật về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thì tuỳ theo tính chất, mức
độ vi phạm sẽ bị xử lý hành chính; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường
theo quy định của pháp luật.
Cá nhân có hành vi vi phạm quy định của
pháp luật về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi
phạm sẽ bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu
gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố
tình cản trở hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thì tuỳ theo tính
chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình
sự theo quy định của pháp luật.
CHƯƠNG V
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 24.
Hiệu lực thi hành
Nghị định này có hiệu lực sau 15 ngày, kể
từ ngày ký.
Điều 25.
Trách nhiệm thi hành
Các Bộ trưởng, Thủ
trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch
Hội động nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
| Về đầu trang |
NGHỊ QUYẾT LIÊN TỊCH
VỀ VIỆC BAN HÀNH QUY CHẾ
“MẶT
TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM GIÁM SÁT CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC, ĐẢNG VIÊN Ở KHU DÂN CƯ”
|
CHÍNH
PHỦ - UỶ BAN TRUNG ƯƠNG
MẶT
TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
Số: 05/2006/NQLT-CP-UBTƯMTTQ |
CỘNG
HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 21 tháng 4 năm
2006.
|
NGHỊ QUYẾT LIÊN
TỊCH
Về việc ban hành Quy chế “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
giám sát cán bộ, công chức, đảng viên ở khu dân cư”
CHÍNH PHỦ - UỶ
BAN TRUNG ƯƠNG
MẶT TRẬN TỔ
QUỐC VIỆT NAM
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp
luật năm 2002;
Căn cứ Quy chế phối hợp công tác giữa Chính phủ và Uỷ ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Ban Thường trực
Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
QUYẾT
NGHỊ:
Điều 1. Ban hành kèm theo Nghị quyết này bản Quy
chế “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát cán bộ, công chức, đảng viên ở
khu dân cư”.
Điều 2. Quy chế này áp dụng ở
một số xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã); thôn, làng, ấp, bản,
khu phố, tổ dân phố, cụm dân cư (gọi chung là khu dân cư) tại thành phố
Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh: Ninh Bình, Quảng Bình, Tiền
Giang.
Điều 3. Nghị quyết này có hiệu
lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.
Điều 4. Các Bộ trưởng, Thủ
trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ
ban nhân dân các cấp, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp, các cơ quan, tổ
chức, đơn vị và cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị
quyết này./.
TM. CHÍNH PHỦ TM. UỶ
BAN TRUNG ƯƠNG
THỦ TƯỚNG MẶT TRẬN TỔ
QUỐC VIỆT NAM
CHỦ TỊCH
(Đã ký)
(Đã ký)
PHAN VĂN KHẢI
PHẠM THẾ DUYỆT
| Về đầu trang |
|
CHÍNH
PHỦ - UỶ BAN TRUNG ƯƠNG
MẶT
TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
|
CỘNG HOÀ
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc
lập - Tự do - Hạnh phúc |
QUY CHẾ
MẶT
TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM GIÁM SÁT
CÁN
BỘ, CÔNG CHỨC, ĐẢNG VIÊN Ở KHU DÂN CƯ
(Ban hành kèm theo Nghị quyết liên tịch
số 05/2006/NQLT-CP-UBTƯ MTTQVN ngày 21 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ và
UBTƯMTTQVN)
Quy chế này quy định hoạt động giám sát của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với cán bộ, công chức, đảng viên (sau đây
gọi chung là cá nhân) cư trú, làm việc ở xã, phường, thị trấn (sau đây
gọi chung là cấp xã), khu dân cư và những cá nhân tuy ở nơi khác nhưng
công tác trên địa bàn dân cư; giám sát hoạt động của cơ quan, tổ chức,
đơn vị (sau đây gọi chung là tổ chức) đóng trên địa bàn cấp xã, tập
trung vào những tổ chức thường xuyên tiếp xúc với dân, phụ trách những
việc liên quan đến quyền lợi của dân.
CHƯƠNG I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1.
Mục đích giám sát
1. Thông qua hoạt động giám sát của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam giúp cho cá nhân, tổ chức nâng cao ý thức, trách nhiệm
gương mẫu chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước, những quy định ở khu dân cư; phát hiện những nhân tố mới, khuyến
khích mặt tích cực, kiến nghị biểu dương khen thưởng người tốt, việc tốt.
2. Giúp cho cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp
và tổ chức đóng trên địa bàn cấp xã nắm chắc hơn tình hình cán bộ, công
chức, đảng viên thuộc diện mình quản lý về phẩm chất chính trị, đạo đức,
lối sống, quan hệ với dân trên cơ sở đó có hướng bồi dưỡng, sử dụng cán
bộ tốt hơn; phòng ngừa, ngăn chặn những hành vi tiêu cực, quan liêu xa
dân, thiếu trách nhiệm với dân; kịp thời giáo dục, xử lý những cán bộ,
công chức, đảng viên có sai phạm, góp phần đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng
chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí, làm trong sạch đội ngũ cán bộ,
công chức, đảng viên.
3. Góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả
hoạt động của tổ chức, nhất là những tổ chức giải quyết những việc trực
tiếp liên quan đến quyền lợi người dân.
4. Thông qua hoạt động giám sát để nâng cao
vai trò và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành
viên và nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng chính quyền
trong sạch, vững mạnh, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà
nước với nhân dân.
Điều 2.
Nguyên tắc giám sát
1. Đảm bảo sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng; phối
hợp chặt chẽ với chính quyền và các cơ quan nhà nước.
2. Quá trình hoạt động giám sát không làm
cản trở công việc, sinh hoạt của tổ chức, cá nhân và gia đình cán bộ,
công chức, đảng viên.
3. Hoạt động giám sát phải bảo đảm công khai,
khách quan, minh bạch theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Điều 3.
Chủ thể giám sát
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ
chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn (sau đây gọi
chung là Mặt trận Tổ quốc cấp xã).
Điều 4.
Đối tượng giám sát
1. Cá nhân làm việc tại cấp xã; cư trú ở khu
dân cư nhưng công tác ở nơi khác và cá nhân công tác tại tổ chức đóng
trên địa bàn xã, khu dân cư.
2. Tổ chức đóng trên địa bàn xã, khu dân cư
thường xuyên tiếp xúc với dân, giải quyết những việc trực tiếp liên quan
đến quyền lợi của người dân.
Điều 5.
Quyền và trách nhiệm của chủ thể giám sát
1. Quyền của chủ thể giám sát:
a) Người đứng đầu các tổ chức thành viên của
Mặt trận Tổ quốc cấp xã, Trưởng Ban Công tác Mặt trận tiếp nhận đơn giám
sát, ý kiến phản ánh trực tiếp của nhân dân, hội viên, đoàn viên. Sau đó
phân loại, lựa chọn các sự việc có nội dung và địa chỉ rõ ràng gửi Ban
Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã;
b) Đại diện Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc cấp xã tiếp nhận đơn giám sát, ý kiến phản ánh trực tiếp của
nhân dân, người đứng đầu tổ chức thành viên, Trưởng ban Công tác Mặt
trận, Trưởng Ban Thanh tra nhân dân;
c) Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
cấp xã tổng hợp đơn giám sát ý kiến phản ánh trực tiếp của nhân dân, của
các tổ chức thành viên, Trưởng Ban Công tác Mặt trận, Trưởng Ban Thanh
tra nhân dân để phân loại, xử lý. Việc xử lý ý kiến, đơn giám sát theo
trình tự sau đây:
Phân loại những sự việc có liên quan đến cá
nhân, tổ chức theo quy định tại Điều 4 Quy chế này.
Lựa chọn những ý kiến phát hiện, đơn giám
sát có nội dung, địa chỉ rõ ràng, báo cáo với Thường vụ Đảng ủy cấp xã
trước khi chuyển đơn giám sát và kiến nghị đến tổ chức có lên quan xem
xét, giải quyết và trả lời Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp
xã.
Khi cần thiết, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt
trận Tổ quốc cấp xã thành lập tổ giám sát. Nội dung giám sát, thành phần
tổ giám sát, kế hoạch giám sát do Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc cấp xã quyết định sau khi thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân
dân cùng cấp.
2. Trách nhiệm của chủ thể giám sát:
a) Trình bày trung thực nội dung giám sát;
b) Nêu rõ tên người đại diện và địa chỉ của
tổ chức mình;
c) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội
dung đơn giám sát;
d) Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
cấp xã có trách nhiệm tổ chức đối thoại để làm rõ nội dung giám sát khi
có yêu cầu của đối tượng bị giám sát;
đ) Sau khi có văn bản trả lời của tổ chức,
Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã thông báo để tổ chức, cá
nhân đã kiến nghị, gửi đơn giám sát biết.
Điều 6.
Quyền và trách nhiệm của đối tượng giám sát
1. Quyền của đối tượng giám sát:
a) Đưa ra những bằng chứng để chứng minh nội
dung kiến nghị, giám sát là không đúng sự thực;
b) Yêu cầu được giải trình với tổ chức có
kiến nghị giám sát;
c) Yêu cầu tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xứ
lý theo pháp luật đối với tổ chức, cá nhân đưa ra kiến nghị sai sự thật
và thông báo công khai để cá nhân trong cơ quan, tổ chức, đơn vị biết về
kết luận vụ việc bị kiến nghị giám sát.
2. Trách nhiệm của đối tượng giám sát:
a) Giải trình với tổ chức quản lý mình về
các nội dung bị kiến nghị giám sát;
b) Cung cấp thông tin tài liệu liên quan đến
nội dung giám sát; giải trình những vấn đề liên quan theo yêu cầu của Uỷ
ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã khi tiến hành hoạt động giám sát tại tổ chức;
c) Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định xử lý
của tổ chức, cá nhân có thẩm quyền;
d) Trả lời kiến nghị giám sát do chủ thể
giám sát gửi đến;
đ) Khắc phục những hậu quả do hành vi sai
trái gây ra, nếu có thiệt hại phải bồi thường theo quy định của pháp
luật.
CHƯƠNG II
NỘI DUNG GIÁM SÁT
Điều 7.
Đối với cá nhân công tác tại cấp xã, khu dân cư
Giám sát, phát hiện, kiến nghị xử lý cá nhân
có hành vi vi phạm sau đây:
1. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm trái
quy định của Đảng, Nhà nước trong việc quản lý sử dụng đất đai; thu chi
các loại quỹ, thuế, lệ phí; cấp các loại giấy phép, chứng thực xác nhận
hồ sơ, tài liệu, văn bằng, chứng chỉ; sử dụng ngân sách xã và các khoản
đóng góp của nhân dân. Làm trái quy ước, hương ước ở khu dân cư; nội quy,
quy chế làm việc, quy định về công khai thủ tục hành chính của tổ chức.
2. Thiếu trách nhiệm phục vụ nhân dân, sách
nhiễu, gây phiền hà khi giải quyết các công việc của dân, nhận tiền, lợi
ích vật chất khác của dân liên quan đến công việc mà mình giải quyết.
3. Tổ chức, bao che, tham gia đánh bạc, số
đề, cá cược, môi giới, buôn bán, tàng trữ, sử dụng chất ma túy; hoạt
động mại dâm; gây ô nhiễm môi trường.
4. Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trái với
quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.
5. Vi phạm chính sách, pháp luật về dân số,
kế hoạch hóa gia đình, vi phạm luật hôn nhân và gia đình.
Điều 8.
Đối với cá nhân cư trú ở cấp xã, khu dân cư nhưng công tác ở nơi khác
1. Phát hiện những hành vi sai trái, thiếu
trách nhiệm của cá nhân trong việc thực hiện Quy chế dân chủ ở xã,
phường, thị trấn; hương ước, quy ước của khu dân cư và trong việc tham
gia các hoạt động do cấp xã, khu dân cư tổ chức và vận động.
2. Phát hiện, kiến nghị xử lý hành vi không
trung thực kê khai nhà đất và tài sản, có bất minh về nhà đất và các tài
sản khác.
3 . Phát hiện, kiến nghị xử lý hành
vi vi phạm quy định tại các khoản 4, 5 Điều 7 Quy chế này.
Điều 9.
Đối với cá nhân công tác tại tổ chức đóng trên địa bàn cấp xã
Giám sát, phát hiện, kiến nghị xử lý các
hành vi vi phạm sau đây:
1. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm trái
quy định của Đảng, Nhà nước trong việc quản lý đất đai; thu chi các loại
quỹ, thuế, lệ phí; cấp các loại giấy phép, đăng ký, công chứng, chứng
thực, xác nhận hồ sơ, tài liệu, văn bằng, chứng chỉ. Làm trái nội quy,
quy chế làm việc, quy định và công khai các thủ tục của tổ chức.
2. Vi phạm các khoản 2, 3, 4, 5 Điều 7 Quy
chế này.
Điều 10.
Đối với tổ chức cấp xã và tổ chức đóng trên địa bàn cấp xã
1 . Phát hiện, đề nghị tổ chức khắc
phục những hành vi sai trái, thiếu ý thức chấp hành và thực hiện nghị
quyết, quyết định của chính quyền cấp xã, các quy ước, hương ước của khu
dân cư và tham gia các hoạt động do cấp xã, khu dân cư tổ chức.
2. Phát hiện, kiến nghị với tổ chức xử lý cá
nhân thuộc diện quản lý có các hành vi vi phạm quy định tại Điều 7 Quy
chế này.
CHƯƠNG III
TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC
KHI TRẢ LỜI KIẾN NGHỊ GIÁM SÁT
Điều 11.
Khi tổ chức nhận được kiến nghị của Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc cấp xã có trách nhiệm:
1. Xem xét, giải quyết và trả lời trong thời
hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị.
2. Trong trường hợp Ban Thường trực Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc cấp xã không tán thành với việc trả lời hoặc không nhận
được văn bản trả lời thì có quyền thông báo lên tổ chức cấp trên trực
tiếp xem xét, giải quyết và trả lời cho Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc cấp xã trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị.
3. Trong trường hợp cơ quan nhà nước cấp
trên trực tiếp không trả lời theo thời hạn trên, hoặc việc trả lời không
được Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã chấp nhận, BTT
UBMTTQ cấp xã trực tiếp báo cáo lên Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam cấp huyện, cấp tỉnh để báo cáo lên Ban Thường trực Uỷ ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chỉ đạo xử lý.
Điều 12.
Khi nhận được đơn tố cáo của công dân thì cá nhân, tổ chức có thẩm quyền
có trách nhiệm xem xét, giải quyết và trả lời theo quy định của pháp
luật về khiếu nại, tố cáo.
CHƯƠNG IV
KHEN THƯỞNG VÀ XỬ LÝ VI PHẠM
Điều 13.
1. Tổ chức, cá nhân có thành tích trong hoạt
động giám sát sẽ được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan nhà nước có
thẩm quyền biểu dương, khen thưởng.
2. Hàng năm, chính quyền các cấp phối hợp
với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp tiến hành tổng kết rút
kinh nghiệm về Mặt trận Tổ quốc tham gia giám sát cán bộ, công chức,
đảng viên, khen thưởng tổ chức, cá nhân có đóng góp tích cực, thiết thực
và có hiệu quả trong hoạt động giám sát.
3. Quỹ khen thưởng cho hoạt động giám sát
được trích từ quỹ khen thưởng của Uỷ ban nhân dân các cấp. Hình thức và
mức khen thưởng thực hiện theo quy định của pháp luật về thi đua khen
thưởng và quyết định của cơ quan, tổ chức, đơn vị đó.
Điều 14.
Người có hành vi trả thù, trù dập người phát hiện, kiến nghị, tố cáo
hoặc bao che cho người có hành vi cản trở, can thiệp trái pháp luật vào
việc phát hiện, kiến nghị xử lý người có hành vi vi phạm thì tùy theo
mức độ đều bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách
nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Điều 15.
Những hành vi lợi dụng quyền giám sát để gây rối, làm mất uy tín hoặc
tổn hại đến danh dự, nhân phẩm của cá nhân và uy tín, danh dự của cơ
quan, tổ chức, đơn vị bị giám sát thì tùy theo mức độ đều bi xử lý kỷ
luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định
của pháp luật.
CHƯƠNG V
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 16.
Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc
Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp
có trách nhiệm thi hành và phối hợp với Mặt trận Tổ quốc cùng cấp để
thực hiện Quy chế này.
Điều 17.
Các tổ chức và cá nhân liên quan có trách nhiệm chấp hành nghiêm chỉnh
những những quy định trong Quy chế này.
Điều 18.
Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chỉ đạo,
hướng dẫn thực hiện ở một số xã, phường, thị trấn của thành phố Hà Nội,
thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Ninh Bình, Quảng Bình và Tiền Giang để
rút kinh nghiệm, thống nhất với Chính phủ và báo cáo Ban Bí thư xem xét,
quyết định./.
TM. CHÍNH PHỦ
TM. UỶ BAN TRUNG ƯƠNG
THỦ TƯỚNG
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
CHỦ TỊCH
(đã ký)
(đã ký)
PHAN VĂN KHẢI
PHẠM THẾ DUYỆT
| Về đầu trang |
QUỐC
HỘI CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Luật số
14/1998/QH10 Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
QUỐC HỘI
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Khoá X, kỳ họp thứ 5
(thông qua ngày
12 tháng 6 năm 1999)
LUẬT
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT
NAM
Để nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong sự
nghiệp đổi mới đất nước, góp phần thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa,
tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước,
phát huy tinh thần yêu nước, truyền thống đại đoàn kết toàn dân - một
nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam;
Kế thừa vai trò lịch sử của Mặt trận dân tộc thống nhất do
Đảng Cộng sản Việt
Nam và Chủ tịch Hồ Chí
Minh sáng lập, lãnh đạo;
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam năm 1992;
Luật này quy định về Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam.
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam trong hệ thống
chính trị
1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị,
liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã
hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các
tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam định cư ở
nước ngoài.
2. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là bộ phận của hệ thống chính
trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt
Nam lãnh đạo, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện
ý chí, nguyện vọng, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền
làm chủ của nhân dân, nơi hiệp thương, phối hợp và thống nhất hành động
của các thành viên, góp phần giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc
gia, toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
văn minh.
Điều 2. Nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có nhiệm vụ tập hợp, xây dựng khối
đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần
trong nhân dân; tuyên truyền, động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ,
thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nghiêm chỉnh thi
hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước,
đại biểu dân cử và cán bộ, công chức nhà nước; tập hợp ý kiến, kiến nghị
của nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng và Nhà nước; tham gia xây
dựng và củng cố chính quyền nhân dân; cùng Nhà nước chăm lo, bảo vệ
quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân; tham gia phát triển tình hữu
nghị, hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trong khu vực
và trên thế giới.
Điều 3. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của
Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam
Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam tổ chức và hoạt
động theo Điều lệ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phù hợp với Hiến pháp và
pháp luật.
Tổ chức, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam được thực hiện theo
nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành
động.
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở mỗi cấp là cơ quan chấp
hành của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, do Đại hội đại biểu Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam cấp đó hiệp thương cử ra, có trách nhiệm tổ chức
thực hiện nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Điều 4. Thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam
Thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam là các tổ chức và
cá nhân quy định tại khoản 1 Điều 1 của Luật này.
Khi phối hợp và thống nhất hành động, các thành viên của Mặt
trận Tổ quốc Việt
Nam
tuân theo Điều lệ của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam;
đồng thời các tổ chức thành viên của Mặt trận vẫn giữ tính độc lập của
tổ chức mình.
Điều 5. Quan hệ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam với Nhà nước
1. Quan hệ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam với Nhà nước là
quan hệ phối hợp để thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của
Hiến pháp và pháp luật.
2. Quan hệ phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Nhà
nước được thực hiện theo Quy chế phối hợp công tác do ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và cơ quan nhà nước hữu quan ở từng cấp ban hành.
3. Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ
quốc Việt
Nam
hoạt động có hiệu quả.
Chương II
TRÁCH NHIỆM VÀ QUYỀN CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT
NAM
Điều 6.
Tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân
1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát triển đa dạng các hình thức
hoạt động, các phong trào yêu nước để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt
Nam ở trong nước và định cư ở nước ngoài, không phân biệt thành phần
giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, quá khứ nhằm
động viên mọi nguồn lực để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa.
2. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát huy tính tích cực của các
cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc,
các tôn giáo để vận động nhân dân thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế
- xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của Nhà nước.
3. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia tuyên truyền, vận động
người Việt Nam định cư ở nước ngoài đoàn kết cộng đồng, giúp đỡ nhau
trong cuộc sống, giữ gìn bản sắc văn hóa, truyền thống tốt đẹp của dân
tộc, giữ quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần xây dựng quê
hương, đất nước.
Điều 7. Tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện quyền làm chủ, thi hành chính
sách, pháp luật
Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam tuyên truyền, vận
động nhân dân thực hiện quyền làm chủ, thi hành chính sách, pháp luật
với các nội dung sau đây:
1. Tham gia tuyên truyền, động viên nhân dân thực hiện đường
lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước;
2. Phối hợp, tham gia với cơ quan nhà nước tổ chức các cuộc
vận động, các phong trào thi đua yêu nước, vận động nhân dân đoàn kết,
giúp đỡ lẫn nhau phát triển kinh tế, xây dựng đời sống văn hóa, giải
quyết các vấn đề xã hội, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, giữ gìn an
ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội;
3. Tham gia với Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân cùng cấp
tổ chức vận động nhân dân thực hiện dân chủ ở cơ sở, hướng dẫn nhân dân
xây dựng hương ước, quy ước về nếp sống tự quản ở thôn, làng, ấp, bản,
tổ dân phố, cộng đồng dân cư khác ở cơ sở phù hợp với pháp luật, góp
phần xây dựng và bảo vệ chính quyền nhân dân;
4. Tham gia hoạt động hòa giải ở cơ sở theo quy định của pháp
luật về hòa giải;
5. Tổng hợp, nghiên cứu ý kiến, nguyện vọng của nhân dân để
phản ánh, kiến nghị với Đảng và Nhà nước.
Điều 8. Tham gia công tác bầu cử
Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, theo
quy định của pháp luật về bầu cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức hiệp
thương, lựa chọn, giới thiệu những người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại
biểu Hội đồng nhân dân; tham gia các tổ chức phụ trách bầu cử; phối hợp
với cơ quan nhà nước hữu quan tổ chức Hội nghị cử tri ở nơi cư trú, các
cuộc tiếp xúc giữa cử tri với những người ứng cử; tham gia tuyên truyền,
vận động cử tri thực hiện pháp luật về bầu cử; tham gia giám sát việc
bầu cử đại biểu Quốc hội, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.
Điều 9. Tham gia xây dựng pháp luật
Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam tham gia xây dựng
pháp luật với các nội dung sau đây:
1. Kiến nghị với ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ về dự
kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh;
2. Trình Quốc hội, ủy ban Thường vụ Quốc hội dự án luật,
pháp lệnh;
3. Cùng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nghị
quyết, thông tư liên tịch để hướng dẫn thi hành những vấn đề khi pháp
luật quy định về trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia quản
lý nhà nước;
4. Tham gia góp ý kiến vào các dự án luật, pháp lệnh, dự thảo
nghị quyết, nghị định và các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật khác.
Điều 10. Tham gia tố tụng, tuyển chọn Thẩm phán, giới thiệu Hội thẩm Tòa án nhân
dân
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có quyền và trách nhiệm tham gia tố
tụng, tham gia Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán, giới thiệu người đủ tiêu
chuẩn để bầu, cử làm Hội thẩm Tòa án nhân dân theo quy định của pháp
luật.
Điều 11. Tham dự các phiên họp của ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, kỳ họp
Hội đồng nhân dân, phiên họp ủy ban nhân dân
1. Chủ tịch ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được
mời tham dự phiên họp của ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ khi bàn
các vấn đề có liên quan.
Chủ tịch ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở địa phương được
mời tham dự các kỳ họp Hội đồng nhân dân; được mời tham dự các phiên họp
của ủy ban nhân dân cùng cấp khi bàn các vấn đề có liên quan.
2. Tại kỳ họp thường lệ của Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam cùng cấp thông báo về hoạt động của Mặt trận tham gia xây
dựng chính quyền; đề xuất kiến nghị với Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân
dân những vấn đề cần thiết.
Cơ quan nhà nước có trách nhiệm xem xét, trả lời kiến nghị
của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam theo quy định của
pháp luật.
Điều 12.
Hoạt động giám sát
1. Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là giám
sát mang tính nhân dân, hỗ trợ cho công tác giám sát, kiểm tra, thanh
tra của Nhà nước, nhằm góp phần xây dựng và bảo vệ Nhà nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực,
hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân.
Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam giám sát hoạt động
của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức theo quy định
của pháp luật.
2. Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam được thực hiện bằng
các hình thức sau đây:
a) Động viên nhân dân thực hiện quyền giám sát;
b) Tham gia hoạt động giám sát với cơ quan quyền lực nhà
nước;
c) Thông qua hoạt động của mình, tổng hợp ý kiến của nhân dân
và các thành viên của Mặt trận kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm
quyền biểu dương, khen thưởng người tốt, việc tốt, xem xét, giải quyết,
xử lý những trường hợp vi phạm pháp luật.
Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tạo điều kiện
để Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam thực hiện nhiệm vụ
giám sát. Khi nhận được kiến nghị của Mặt trận thì người đứng đầu cơ
quan, tổ chức có trách nhiệm xem xét, trả lời trong thời hạn theo quy
định của pháp luật.
Điều 13. Hoạt động đối ngoại nhân dân
Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam thực hiện và mở
rộng hoạt động đối ngoại nhân dân trong khu vực và trên thế giới theo
đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước, góp phần tăng cường tình hữu
nghị giữa các dân tộc, vì hòa bình, hợp tác và phát triển.
Chương III
NHỮNG BẢO ĐẢM HOẠT ĐỘNG CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT
NAM
Điều 14. Bộ máy giúp việc
Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam có bộ máy giúp
việc. Tổ chức, biên chế bộ máy giúp việc của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
các cấp do cơ quan có thẩm quyền quy định.
Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam có trách nhiệm bồi
dưỡng, nâng cao năng lực, phẩm chất của cán bộ Mặt trận.
Điều 15. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức
1. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có trách nhiệm:
a) Tạo điều kiện để cán bộ, công chức làm nhiệm vụ khi họ
được cử vào ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc được phân công, phối
hợp công tác với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
b) Cung cấp thông tin cần thiết khi Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam có yêu cầu
để Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật.
2. Các cơ quan, tổ chức trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
thực hiện các cuộc vận động do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đề xướng hoặc
thực hiện các chương trình, dự án mà Mặt trận được giao.
Điều 16.
Kinh phí hoạt động, tài sản của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam
1. Kinh phí hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam do ngân sách nhà
nước cấp theo quy định của pháp luật.
2. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được nhận, quản lý và sử dụng
theo quy định của pháp luật tài sản mà Nhà nước giao cho Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam, tài sản do các tổ chức, cá nhân trong nước hoặc nước
ngoài tặng cho.
Chương IV
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 17.
Hiệu lực của Luật
Luật này có hiệu lực kể từ ngày công bố.
Những quy định liên quan đến Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam trái với Luật này
đều bãi bỏ.
Điều 18.
Hướng dẫn thi hành
Chính phủ, ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam trong phạm vi chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình hướng dẫn thi hành Luật này.
Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam khóa X, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 12 tháng 6 năm 1999.
CHỦ
TỊCH QUỐC HỘI
Đã ký
NÔNG
ĐỨC MẠNH
| Về đầu trang |
|