|
Chỉ thị số 21-CT/TW của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng cộng sản Việt Nam, ngày 26 tháng 3 năm 2008 về Tiếp tục tăng cường lãnh
đạo và chỉ đạo công tác phòng, chống và kiểm soát ma tuý trong tình hình
mới
Tệ nạn ma tuý đang là hiểm hoạ của các
quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới; là một trong những nguyên nhân chủ yếu
làm phát sinh tội phạm, tệ nạn xã hội và lây nhiễm HIV/AIDS. Hậu quả, tác
hại do tệ nạn ma tuý gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển kinh tế -
xã hội và an ninh trật tự của đất nước.
Bộ Chính trị (khoá VIII) đã ban hành Chỉ thị số 06-CT/TW, ngày 30-11-1996 về
tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống và kiểm soát ma tuý. Qua
10 năm tổ chức thực hiện, các cấp uỷ đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và
các đoàn thể đã tích cực lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện Chỉ thị, qua
đó đã nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp, các ngành; phát huy
được sức mạnh tống hợp của hệ thống chính trị và đông đảo nhân dân tham gia
phòng, chống ma tuý; đấu tranh xử lý nhiều vụ phạm tội về ma tuý và tổ chức
cai nghiện với nhiều phương thức khác nhau, góp phần ngăn chặn, kiềm chế sự
gia tăng tội phạm
và tệ nạn ma tuý.
Tuy nhiên, tệ nạn ma tuý vẫn diễn biến
phức tạp. Nguồn ma tuý chủ yếu thẩm lậu từ nước ngoài vào nước ta vẫn chưa
được ngăn chặn; ở trong nước, tình trạng tái trồng cây có chứa chất ma tuý ở
một số địa phương chưa được xoá bỏ triệt để, còn nhiều tụ điểm phức tạp về
ma tuý, tình hình tội phạm và tình trạng sử dụng trái phép chất ma tuý vẫn
có xu hướng gia tăng, lan rộng tại một số địa bàn. Kết quả cai nghiện chưa
cao, kinh phí đầu tư cho phòng, chống ma tuý còn hạn chế.
Thực trạng trên có nhiều nguyên nhân,
nhưng chủ yếu là do cấp uỷ đảng, chính quyền ở một số đơn vị, địa phương
chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của công tác phòng, chống ma tuý;
chưa thực sự quan tâm triển khai thực hiện nghiêm túc Chỉ thị của Bộ Chính
trị, còn cho đây là trách nhiệm của các cơ quan chuyên trách. Vì vậy, chưa
tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác phối hợp và huy động sức mạnh tổng hợp
của các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị, xã hội tham gia vào công tác
phòng, chống ma tuý. Một số đơn vị chuyên trách phòng, chống ma tuý hoạt
động kém hiệu quả.
Để tạo chuyển biến mạnh mẽ công tác phòng,
chống và kiểm soát ma tuý trong tình hình mới, Bộ Chính trị yêu cầu các cấp
uỷ đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tiếp tục thực hiện
tốt các nội dung sau:
I- MỤC TIÊU ,YÊU CẦU
1- Nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng
viên và nhân dân về hậu quả, tác hại của ma tuý để mỗi người tích cực tham
gia và tự phòng, chống ma tuý; tạo nên phong trào hành động phòng, chống ma
tuý rộng khắp trong cả nước, làm giảm thiểu tệ nạn ma tuý.
2- Nêu cao tinh thần trách nhiệm của các
cấp, các ngành, đồng thời kiên trì sử dụng đồng bộ các biện pháp, giải pháp,
huy động sức mạnh tổng hợp và tạo sự đồng thuận của toàn xã hội trong phòng,
chống ma tuý, nhằm từng bước kiềm chế, ngăn chặn, tiến tới đẩy lùi cho được
tệ nạn ma tuý; tạo môi trường lành mạnh, phục vụ phát triển kinh tế - xã
hội, bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội trong tiến
trình hội nhập kinh tế quốc tế; thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, vì cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân.
3- Kiểm soát, ngăn chặn có hiệu quả nguồn ma tuý thẩm lậu vào nước ta; phát
hiện, bắt giữ tội phạm về ma tuý ở khu vực biên giới bằng mọi biện pháp; xoá
bỏ triệt để các tổ chức, tụ điểm sản xuất, mua bán, vận chuyển, tàng trữ và
sử dụng trái phép chất ma tuý ở trong nước. Không để tái trồng cây có chất
ma tuý.
4- Kiểm soát và quản lý chặt chẽ các loại tiền chất của ma tuý, chất gây
nghiện, chất hướng thần.
5- Tổ chức cai nghiện cho tất cả những
người nghiện ma tuý, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác cai nghiện,
đồng thời coi trọng và nhân rộng các mô hình cai nghiện có hiệu quả; chặn
đứng tình trạng gia tăng số người nghiện mới, từng bước làm giảm dần số
người nghiện ma tuý ở các địa bàn dân cư.
II-
NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
l- Các cấp uỷ đảng và chính quyền phải
nghiêm túc kiểm điểm, đánh giá tình hình, kết quả thực hiện công tác phòng,
chống ma tuý của địa phương, đơn vị mình; có kế hoạch và biện pháp khắc phục
những tồn tại, yếu kém, bất cập trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng,
chống và kiểm soát ma tuý.
Tập trung chỉ đạo trực tiếp, quyết liệt
đối với công tác phòng, chống ma tuý; đưa nội dung này vào chương trình hoạt
động, chỉ đạo thường xuyên của các cấp uỷ đảng, chính quyền bằng việc cụ thể
hoá thành các mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ, giải pháp phù hợp với từng đơn
vị, địa phương. Trước mắt, cần rà soát, bổ sung nội dung, kế hoạch để thực
hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đã được Chính phủ đề ra trong “Kế hoạch và
chương trình quốc gia về phòng, chống ma tuý đến năm 2010”. Thường xuyên
theo dõi, đôn đốc việc thực hiện công tác phòng, chống ma tuý và kịp thời
chỉ đạo giải quyết, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực
hiện ở từng đơn vị, địa phương.
Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra,
giám sát việc thực hiện pháp luật phòng, chống ma tuý; coi kết quả thực hiện
nhiệm vụ này ở các đơn vị, cơ quan, chi bộ đảng v.v... là một tiêu chí để
bình xét thi đua, phân loại tổ chức đảng và khen thưởng hàng năng; xử lý
nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật phòng, chống ma tuý.
2- Đảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng
Chính phủ chỉ đạo bổ sung, sửa đổi một số điều của Luật Phòng, chống ma tuý;
tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống
ma tuý. Trước mắt, cần tập trung vào lĩnh vực điều tra, truy tố, xét xử các
tội phạm về ma tuý, triệt phá các tụ điểm tệ nạn ma tuý, công tác cai nghiện
ma tuý.
3- Củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy cơ
quan phòng, chống ma tuý từ Trung ương đến cơ sở đủ khả năng, điều kiện thực
hiện nhiệm vụ có hiệu quả. Tăng cường năng lực cho lực lượng trục tiếp đấu
tranh phòng, chống tội phạm ma tuý ở cơ sở và cán bộ làm công tác thường
trực, tham mưu và quản lý nhà nước về phòng, chống ma tuý đủ mạnh và thật sự
trong sạch, có trách nhiệm và quyết tâm cao trong kiểm soát, ngăn chặn ma
tuý. Ưu tiên đầu tư trang thiết bị chuyên dùng cho các lực lượng chuyên
trách phòng, chống ma tuý. Coi trọng và xây dựng các quy chế phối hợp liên
ngành trong phòng, chống ma tuý; đồng thời quan tâm đến hoàn thiện công tác
tổ chức và cơ chế phòng, chống tệ nạn xã hội ở cơ sở xã, phường.
4- Đổi mới nội dung và đẩy mạnh công tác
tuyên truyền, giáo dục phòng, chống ma tuý trong Đảng, cơ quan nhà nước và
nhân dân với nhiều hình thức thích hợp, phong phú để mọi người nhận thức rõ
mối hiểm hoạ từ ma tuý, tính cấp bách của công tác phòng, chống ma tuý ở
nước ta hiện nay. Từ đó, tự giác, tích cực tham gia đấu tranh phòng, chống
tệ nạn ma tuý; hỗ trợ, giúp đỡ người sau cai nghiện ma tuý tái hoà nhập cộng
đồng.
Đẩy mạnh xã hội hóa công tác phòng, chống
ma tuý; có chính sách khuyến khích các đoàn thể chính trị - xã hội, các tổ
chức phi chính phủ và cá nhân tham gia vào công tác phòng, chống ma tuý, đặc
biệt là công tác cai nghiện, dạy văn hoá, dạy nghề và tạo việc làm cho người
sau cai nghiện. Phát huy truyền thống tương thân, tương ái, chăm sóc, giúp
đỡ, không kỳ thị, phân biệt đợi xử với người nghiện ma tuý.
Tổ chức thực hiện các hình thức cam kết
thi đua xây dựng tùng gia đình, từng địa bàn, thôn, xóm, phòng, xã, cơ quan,
đơn vị, trường học, chi bộ không có ma tuý. Xây dựng và nhân rộng các mô
hình, điển hình tiên tiến thực hiện tốt công tác phòng, chống ma tuý.
Kịp thời động viên, khen thưởng những tập
thể, cá nhân lập thành tích xuất sắc trong phòng, chống ma tuý.
5- Tăng mức đầu tư từ ngân sách nhà nước,
đồng thời tích cực tranh thủ các nguồn viện trợ quốc tế; huy động sự đóng
góp của các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp, doanh nhân và nhân dân, bảo
đảm đủ kinh phí cho công tác tuyên truyền, giáo dục, đấu tranh phòng, chống
tội phạm và cai nghiện ma tuý. Hoàn thiện chế độ, chính sách hỗ trợ cho
người nghiện trong quá trình cai nghiện và tạo việc làm cho những người đã
hoàn thành cai nghiện; chế độ, chính sách đối với các cán bộ làm công tác
chuyên trách, trực tiếp, kiêm nhiệm và những người không hưởng lương từ ngân
sách nhà nước tham gia công tác phòng, chống ma tuý.
6- Tăng cường công tác nghiên cứu khoa học và sơ kết, tổng kết rút kinh
nghiệm trong từng thời kỳ, từng khu vực để nâng cao hiệu quả công tác phòng,
chống và kiểm soát ma tuý.
7- Chú trọng tổ chức các dịch vụ tiêu thụ
nông sản thực phẩm và nâng cao hiệu quả các dự án chuyển đổi cơ cấu cây
trồng, vật nuôi cho đồng bào trước đây trồng cây thuốc phiện, để họ có cuộc
sống tốt hơn, tự nguyện xoá bỏ việc trồng và tái trồng cây có chất ma tuý.
8- Mở rộng quan hệ hợp tác với các nước,
các tổ chức quốc tế trong lĩnh vực phòng, chống ma tuý, đặc biệt với các
nước có chung đường biên giới, các nước trong khu vực nhằm kiểm soát, ngăn
chặn có hiệu quả nguồn ma tuý thẩm lậu vào nước ta.
III- TỔ CHỨC
THỰC HIỆN
l- Các cấp uỷ đảng, ban cán sự đảng, đảng
đoàn các bộ, ban, ngành, đoàn thể và tổ chức chính trị - xã hội tổ chức phổ
biến Chỉ thị này đến cán bộ, đảng viên và nhân dân; xây dựng và triển khai
chương trình hành động, đồng thời tích cực kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện
Chỉ thị.
2- Ban cán sự đảng các bộ, ngành triển
khai thực hiện tốt các chương trình, mục tiêu quốc gia, kế hoạch phòng,
chống ma tuý của Chính phú và thực hiện tốt các công việc sau:
- Ban cán sự đảng Bộ Thông tin và Truyền
thông chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, đoàn thể có liên quan chỉ đạo
tăng cường và nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục về phòng,
chống ma tuý.
- Ban Cán sự đảng Bộ Văn hoá, Thể thao và
Du lịch chủ trì, phối hợp với Đảng đoàn Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, các đoàn thể và ban cán sự đảng các bộ, ngành tập trung chỉ đạo,
triển khai việc xây dựng đời sống văn hoá ở cơ quan, công sở, doanh nghiệp,
trường học và khu dân cư, đẩy mạnh phòng, chống tệ nạn xã hội.
- Ban cán sự đảng Bộ Lao động - Thương
binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan tập trung
chỉ đạo nâng cao hiệu quả công tác cai nghiện, phát triển và nhân rộng những
mô hình cai nghiện có hiệu quả.
- Ban Cán sự Đảng Bộ Y tế chỉ đạo việc nghiên cứu thống nhất ban hành phác
đồ, quy trình cai nghiện, sản xuất các loại thuốc phục vụ cai nghiện có hiệu
quả.
- Ban Cán sự Đảng Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các bộ,
ngành có liên quan tập trung chỉ đạo thực hiện tốt công tác tuyên truyền,
giáo dục về phòng, chống ma tuý trong trường học và các cơ sở giáo dục.
- Ban Cán sự đảng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp
với Ban cán sự đảng Uỷ ban Dân tộc và các địa phương chỉ đạo kiên quyết xoá
bỏ tình trạng trồng, tái trồng cây có chất ma tuý.
- Ban Cán sự đảng Bộ Tài chính chủ trì
nghiên cứu xây dựng và sửa đổi, bổ sung các văn bản hướng dẫn thực hiện
chính sách đối với công tác phòng, chống ma tuý.
- Đảng ủy Công an Trung ương, Đảng uỷ Quân
sự Trung ương chỉ đạo công tác đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng
ma tuý thẩm lậu vào nước ta; triệt xóa các tụ điểm, tổ chức, đường dây tội
phạm về ma tuý ở khu vực biên giới và trong nội địa.
3- Ban Tổ chức Trung ương chủ trì nghiên
cứu xây dựng và ban hành quy định về trách nhiệm và xử lý trách nhiệm của
cán bộ, đảng viên đối với công tác phòng, chống và kiểm soát ma tuý.
- Từng cán bộ, đảng viên và người
đứng đầu cấp uỷ đảng, chính quyền nếu để xảy ra tình hình phức tạp kéo dài
về tệ nạn ma tuý ở địa phương, đơn vị do mình phụ trách thì phải chịu trách
nhiệm và có các hình thức kỷ luật về Đảng và chính quyền.
- Mỗi cán bộ, đảng viên có trách
nhiệm trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân, trước hết là người thân
trong gia đình thực hiện nghiêm túc pháp luật phòng, chống ma tuý, coi đây
là một tiêu chí để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ. Đối với cán bộ lãnh
đạo của các cấp uỷ đảng, chính quyền ,Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, nếu
để người thân trong gia đình (vợ, chồng, con) nghiện ma tuý hoặc có các hành
vi vi phạm pháp luật phòng, chống ma tuý phải chịu trách nhiệm liên đới và
tuỳ theo mức độ phải xem xét không được đề bạt, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử
vào các chức vụ lãnh đạo hoặc xem xét miễn nhiệm, cách chức...
4- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
tổ chức thành viên xây dựng chương trình hành động, tổ chức phát động phong
trào phòng, chống ma tuý, phòng chống tệ nạn xã hội gắn với cuộc vận động
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” và xây dựng xã,
phường, thôn, xóm, làng, bản, tổ dân phố lành mạnh, không có tệ nạn ma tuý.
Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí
Minh chủ trì xây dựng các chương trình, kế hoạch và giải pháp để đẩy mạnh
phong trào phòng, chống tệ nạn xã hội nói chung và ma tuý nói riêng trong
thanh, thiếu niên.
5- Giao Đảng uỷ Công an Trưng ương chủ
trì, phối hợp với các ban, ngành liên quan hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra việc
thực hiện Chỉ thị này, định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
TM.BỘ CHÍNH TRỊ
(Đã ký)
Trương Tấn Sang
[Về đầu
trang]
QUỐC HỘI
CỘNG
HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Luật số: 16/2008/QH12
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
--------------------------
------------------------------
LUẬT
SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT
SỐ ĐIỀU CỦA
LUẬT PHÒNG, CHỐNG MA TÚY
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết
số 51/2001/QH10;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật phòng, chống ma túy số 23/2000/QH10.
Điều 1
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng,
chống ma tuý:
1. Điều 13 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 13
1. Cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về
ma tuý thuộc Công an nhân dân được tiến hành một số hoạt động sau đây:
a) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan
thực hiện các hoạt động ngăn chặn, đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma tuý;
b) Áp dụng các biện pháp nghiệp vụ trinh sát cần
thiết để phát hiện tội phạm về ma tuý;
c) Trưng cầu giám định mẫu vật, mẫu phẩm sinh
học cần thiết để phát hiện tội phạm về ma tuý;
d) Yêu cầu cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức
có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu, tình hình tài chính và tài khoản
tại ngân hàng khi có căn cứ cho rằng có hành vi quy định tại các khoản 1, 2,
3, 4, 5 và 8 Điều 3 của Luật này;
đ) Yêu cầu cơ quan bưu điện mở bưu kiện, bưu
phẩm để kiểm tra khi có căn cứ cho rằng trong bưu kiện, bưu phẩm đó có chất
ma tuý, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần;
e) Áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ
người tố giác, người làm chứng và người bị hại trong các vụ án về ma tuý.
2. Cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức có trách
nhiệm thực hiện quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này theo yêu cầu
của cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma túy.
3. Cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về
ma túy thuộc Bộ đội biên phòng, lực lượng Cảnh sát biển, cơ quan Hải quan
trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm chủ trì, phối hợp
với cơ quan công an, các cơ quan hữu quan khác thực hiện và áp
dụng các biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật để phòng ngừa, ngăn
chặn và xử lý các hành vi mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy, tiền
chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần tại khu vực hoặc địa
bàn quản lý, kiểm soát.
4. Chính phủ quy định cụ thể về điều kiện, thủ
tục, thẩm quyền và trách nhiệm của cơ quan chuyên trách phòng, chống tội
phạm về ma tuý trong việc thực hiện, phối hợp thực hiện các hoạt động quy
định tại khoản 1 và khoản 3 Điều này.”
2. Điều 25 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 25
Chính sách của Nhà nước về cai nghiện ma túy bao
gồm:
1. Áp dụng chế độ cai nghiện đối với người
nghiện ma túy, khuyến khích người nghiện ma túy tự nguyện cai nghiện;
2. Tổ chức cơ sở cai nghiện ma tuý bắt buộc;
3. Khuyến khích cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ
chức thực hiện việc cai nghiện tự nguyện cho người nghiện ma túy, hỗ trợ
hoạt động cai nghiện ma tuý, quản lý sau cai nghiện và phòng, chống tái
nghiện ma túy; nghiên cứu, sản xuất, ứng dụng thuốc và phương pháp cai
nghiện ma túy;
4. Hỗ trợ kinh phí thực hiện cai nghiện ma túy,
quản lý sau cai nghiện và phòng, chống tái nghiện ma túy;
5. Tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân
nước ngoài hỗ trợ, đầu tư vào hoạt động cai nghiện ma tuý, quản lý sau cai
nghiện và phòng, chống tái nghiện ma tuý được hưởng chính sách ưu đãi theo
quy định của pháp luật."
3. Điều 26
được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 26
1. Người nghiện ma túy có trách nhiệm:
a) Tự khai báo về tình trạng nghiện ma túy của
mình với cơ quan, tổ chức nơi làm việc hoặc Ủy ban nhân dân xã, phường, thị
trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) nơi cư trú và tự đăng ký hình thức cai
nghiện ma túy;
b) Tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về cai
nghiện ma túy.
2. Gia đình người nghiện ma túy có trách nhiệm:
a) Khai báo với Ủy ban nhân dân cấp xã
về người nghiện ma tuý trong gia đình mình và đăng ký hình thức cai
nghiện cho người đó;
b) Động viên, giúp đỡ và quản lý người nghiện ma
túy cai nghiện tại gia đình, cai nghiện ma túy tại cộng đồng theo sự hướng
dẫn, giám sát của cán bộ y tế và Ủy ban nhân dân cấp xã;
c) Theo dõi, giám sát, phòng ngừa, ngăn chặn
người nghiện sử dụng trái phép chất ma tuý hoặc có hành vi gây mất trật tự,
an toàn xã hội;
d) Hỗ trợ cơ quan có thẩm quyền đưa người nghiện
ma tuý vào cơ sở cai nghiện và đóng góp kinh phí cai nghiện theo quy
định của pháp luật.
3. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức
cho người nghiện ma túy, gia đình người nghiện ma túy khai báo về tình trạng
nghiện ma tuý và đăng ký hình thức cai nghiện."
4. Bổ sung Điều 26a vào sau Điều 26 như sau:
"Điều 26a
1. Các biện pháp cai nghiện ma tuý bao
gồm:
a) Cai nghiện ma túy tự nguyện;
b) Cai nghiện ma túy bắt buộc.
2. Các hình thức cai nghiện ma
tuý bao gồm:
a) Cai nghiện ma túy tại gia
đình;
b) Cai nghiện ma túy tại cộng
đồng;
c) Cai nghiện ma túy tại cơ sở
cai nghiện.”
5. Điều 27 được sửa đổi, bổ sung
như sau:
"Điều 27
1. Hình thức cai nghiện ma túy
tại gia đình, cai nghiện ma túy tại cộng đồng được áp dụng đối với người tự
nguyện cai nghiện, trừ trường hợp người nghiện ma túy tự nguyện cai nghiện
tại cơ sở cai nghiện.
Trường hợp người nghiện ma túy
không tự nguyện cai nghiện thì áp dụng biện pháp cai nghiện ma túy bắt buộc
tại cộng đồng theo quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã.
2. Thời hạn cai nghiện ma túy
tại gia đình, cai nghiện ma túy tại cộng đồng từ sáu tháng đến mười hai
tháng.
3. Ủy ban nhân dân cấp xã có
trách nhiệm tổ chức cai nghiện ma túy tại cộng đồng, hướng dẫn, hỗ trợ cai
nghiện ma túy tại gia đình.
4. Chính phủ quy định cụ thể về
tổ chức cai nghiện ma tuý tại gia đình, cai nghiện ma túy tại cộng đồng và
trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp cai nghiện ma túy bắt buộc tại cộng
đồng."
6. Điều 31 được sửa đổi, bổ sung
như sau:
"Điều 31
1. Nhà nước áp dụng phương pháp
cai nghiện thích hợp đối với người nghiện ma túy là người bị tạm giam, phạm
nhân, trại viên của cơ sở giáo dục, học sinh của trường giáo dưỡng. Cơ quan
quản lý các cơ sở này phối hợp chặt chẽ với cơ quan y tế địa phương để thực
hiện quy định này.
2. Giám thị trại giam, giám thị
trại tạm giam, giám đốc cơ sở giáo dục, hiệu trưởng trường
giáo dưỡng phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã về việc cai nghiện ma
tuý của người nghiện ma tuý quy định tại khoản 1 Điều này khi họ trở về nơi
cư trú.”
7. Bổ sung Điều 32a vào sau Điều
32 như sau:
"Điều
32a
Người đang cai nghiện ma tuý bắt
buộc tại cơ sở cai nghiện mà phạm tội, nếu thời gian bị phạt tù ít hơn thời
gian cai nghiện ma túy thì sau khi chấp hành xong hình phạt tù phải tiếp tục
cai nghiện ma túy tại cơ sở cai nghiện bắt buộc; trường hợp phải chấp hành
hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng cho hưởng án treo thì
vẫn phải thực hiện cai nghiện ma túy tại cơ sở cai nghiện bắt buộc."
8. Điều 33 được sửa đổi, bổ sung
như sau:
"Điều
33
1. Người nghiện ma túy sau khi
chấp hành xong thời gian cai nghiện ma túy bắt buộc tại cơ sở cai nghiện
phải chịu sự quản lý sau cai nghiện từ một năm đến hai năm theo một trong
hai hình thức sau đây:
a) Quản lý tại nơi cư trú do Ủy
ban nhân dân cấp xã thực hiện đối với người không thuộc trường hợp quy định
tại điểm b khoản này;
b) Quản lý tại cơ sở quản lý sau
cai nghiện đối với người có nguy cơ tái nghiện cao.
2. Nội dung quản lý sau cai
nghiện bao gồm:
a) Quản lý, hướng dẫn, giúp đỡ
phòng, chống tái nghiện; hỗ trợ học nghề, tìm việc làm và tham gia các hoạt
động xã hội để hoà nhập cộng đồng đối với người được quản lý tại nơi cư trú;
b) Quản lý, tư vấn, giáo dục,
dạy nghề, lao động sản xuất và chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng đối với người
được quản lý tại cơ sở quản lý sau cai nghiện.
3. Người được quản lý tại cơ sở
quản lý sau cai nghiện tham gia lao động sản xuất được hưởng thành quả lao
động của mình theo quy định của Chính phủ.
4. Người đang được quản lý tại
cơ sở quản lý sau cai nghiện mà bỏ trốn thì người đứng đầu cơ sở ra quyết
định truy tìm; cơ quan công an có trách nhiệm phối hợp với cơ sở quản lý sau
cai nghiện trong việc truy tìm để đưa người đó trở lại cơ sở thực hiện tiếp
thời gian còn lại.
5. Cơ sở quản lý sau cai nghiện
phải tôn trọng danh dự, nhân phẩm, tính mạng, sức khỏe, tài sản của người
được quản lý sau cai nghiện.
6. Người đã hoàn thành thời gian
quản lý sau cai nghiện theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này được Ủy ban
nhân dân cấp xã nơi cư trú, gia đình tiếp nhận, tạo điều kiện học nghề, tìm
việc làm, vay vốn, tham gia các hoạt động xã hội để hoà nhập cộng đồng, giúp
đỡ phòng, chống tái nghiện.
7. Chính phủ quy định cụ
thể tiêu chí xác định đối tượng có nguy cơ tái nghiện cao quy định tại điểm
b khoản 1 Điều này;
thẩm quyền quyết định, trình tự, thủ tục đưa vào cơ sở quản lý sau cai
nghiện; chế độ quản lý và chính sách hỗ trợ cho người sau cai nghiện; tổ
chức và hoạt động của cơ sở quản lý sau cai nghiện.”
9. Bổ sung Điều 34a vào sau Điều
34 như sau:
"Điều
34a
1. Biện pháp can thiệp
giảm tác hại của nghiện ma tuý là biện pháp làm giảm hậu quả tác hại liên
quan đến hành vi sử dụng ma túy của người nghiện gây ra cho bản thân, gia
đình và cộng đồng.
2. Biện pháp can thiệp giảm tác
hại của nghiện ma túy được triển khai trong nhóm người nghiện ma túy thông
qua chương trình, dự án phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội.
3. Chính phủ quy định cụ thể các
biện pháp can thiệp giảm tác hại của nghiện ma túy và tổ chức thực hiện các
biện pháp này."
10. Khoản 1 Điều 35 được sửa
đổi, bổ sung như sau:
"1. Kinh phí để xây dựng cơ sở
vật chất, tổ chức cai nghiện ma túy, quản lý sau cai nghiện, phòng, chống
tái nghiện ma túy được quy định tại các điều 27, 28, 29, 31, 33 và 34 của
Luật này, bao gồm:
a) Ngân sách nhà nước;
b) Đóng góp của người cai
nghiện ma túy và gia đình họ;
c) Các nguồn tài trợ của tổ
chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài."
11. Bổ sung Điều 38a, Điều
38b vào sau Điều 38 như sau:
"Điều
38a
Bộ Quốc phòng có trách nhiệm:
1. Xây dựng và
tổ chức thực hiện kế hoạch phòng, chống ma túy ở khu vực biên giới trên đất
liền, khu vực biên giới trên biển, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền
kinh tế và thềm lục địa;
2. Phối hợp với cơ quan hữu
quan của nước khác để phát hiện, ngăn chặn các hành vi mua bán, vận chuyển
trái phép chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần qua
biên giới theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có
liên quan;
3. Tổ chức đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma tuý của Bộ
đội Biên phòng và lực lượng Cảnh sát biển."
"Điều
38b
Bộ Tài chính có trách nhiệm:
1. Chỉ đạo cơ quan Hải
quan thực hiện hoạt động phòng, chống ma tuý theo quy định của Luật này và
các quy định khác của pháp luật có liên quan;
2. Chủ trì phối hợp với bộ,
ngành, chính quyền địa phương xây dựng dự toán kinh phí phòng, chống ma tuý
trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và triển khai thực hiện theo quy định của
pháp luật."
12. Điều 39 được sửa đổi, bổ
sung như sau:
"Điều
39
Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội có trách nhiệm:
1. Xây dựng và tổ chức thực
hiện chiến lược, chủ trương, chính sách, kế hoạch tổ chức cai nghiện ma tuý
và quản lý sau cai nghiện; chỉ đạo tổ chức cai nghiện ma tuý, quản lý sau
cai nghiện và giải quyết các vấn đề xã hội sau cai nghiện;
2. Tổ chức bộ máy, đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ làm công tác cai nghiện ma tuý, quản lý sau cai nghiện và
giải quyết các vấn đề xã hội sau cai nghiện;
3. Chủ trì phối hợp với cơ
quan, tổ chức hữu quan và chính quyền địa phương xây dựng, hướng dẫn hoạt
động của cơ sở cai nghiện ma tuý, cơ sở quản lý sau cai nghiện; dạy nghề,
tạo việc làm, tư vấn, hỗ trợ, tạo điều kiện vật chất và tinh thần để giúp đỡ
người đã cai nghiện ma tuý hoà nhập cộng đồng; phòng, chống tái nghiện;
4. Thống kê, đánh giá tình
hình cai nghiện ma tuý, quản lý sau cai nghiện và giải quyết các vấn đề xã
hội sau cai nghiện;
5. Hướng dẫn, chỉ đạo việc
thành lập, giải thể cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở quản lý sau cai nghiện;
cấp, thu hồi giấy phép hoạt động của các cơ sở khác về cai nghiện ma tuý;
6. Thực hiện hợp tác quốc tế
về cai nghiện ma tuý và giải quyết các vấn đề xã hội sau cai nghiện."
13. Khoản 1 Điều 40 được sửa
đổi, bổ sung như sau:
"1. Bộ Y tế có trách nhiệm:
a) Ban hành danh mục, quy
chế quản lý thuốc gây nghiện, tiền chất, thuốc hướng thần sử dụng trong lĩnh
vực y tế và tổ chức thực hiện quy chế đó; ban hành và chủ trì phối hợp với
các cơ quan hữu quan tổ chức thực hiện quy chế quản lý chất ma tuý sử dụng
trong lĩnh vực y tế, phân tích, kiểm nghiệm và nghiên cứu khoa học;
b) Quy định việc nghiên cứu
thuốc và phương pháp cai nghiện ma tuý; cấp, thu hồi giấy phép lưu hành
thuốc, phương pháp cai nghiện ma tuý; hướng dẫn, thủ tục xác định người
nghiện ma tuý; hỗ trợ về người, chuyên môn kỹ thuật y tế để cai nghiện ma
tuý;
c) Thực hiện hợp tác quốc tế
về kiểm soát thuốc gây nghiện, tiền chất, thuốc hướng thần sử dụng trong
lĩnh vực y tế, phân tích, kiểm nghiệm và nghiên cứu khoa học;
d) Chỉ đạo các cơ sở y tế
phối hợp xét nghiệm, xác định và cai nghiện cho người nghiện ma tuý ở xã,
phường, thị trấn."
14. Bổ sung Điều 42a vào sau
Điều 42 như sau:
"Điều
42a
Bộ Thông tin và Truyền thông,
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn các cơ
quan hữu quan thực hiện hoạt động thông tin, tuyên truyền, giáo dục về công
tác phòng, chống ma túy."
15. Điều 43 được sửa đổi, bổ
sung như sau:
"Điều
43
Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Uỷ ban Dân tộc
và các cơ quan, tổ chức hữu quan khác tuyên truyền, giáo dục, tổ chức xoá bỏ
cây có chứa chất ma tuý; thực hiện chương trình trợ giúp chuyển hướng sản
xuất có hiệu quả, ổn định đời sống của nhân dân."
Điều 2
1. Thay cụm từ "Bộ Công
nghiệp" bằng cụm từ "Bộ Công thương" tại khoản 1 và khoản 2 Điều 41, thay
cụm từ "chính quyền cơ sở" bằng cụm từ "Ủy ban nhân dân cấp xã" tại khoản 1
Điều 53 của Luật phòng, chống ma tuý.
2. Bãi bỏ Điều 44 của Luật
phòng, chống ma tuý.
Điều 3
Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2009.
Luật này đã được
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII,
kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 03 tháng 6 năm 2008.
CHỦ TỊCH QUỐC HỘI
(đã ký)
Nguyễn
Phú Trọng
[Về đầu
trang]
Thủ tướng
Chính phủ: mở đợt cao điểm phòng chống ma tuý
Thủ tướng Chính phủ
ban hành văn bản số 849/TTg-KGVX, ngày 04 tháng 6 năm 2008 gửi: Các bộ, cơ
quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương về việc mở đợt cao điểm phòng chống ma tuý, nội dung
như sau:
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, trong thời gian qua công tác
phòng, chống ma tuý được các Bộ, ngành và các tỉnh, thành phố quan tâm, chỉ
đạo thực hiện, qua đó đã huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống
chính trị, các ngành, các cấp và các tầng lớp nhân dân tham gia; thu được
nhiều kết quả quan trọng, bước đầu đã ngăn chặn, kiềm chế hoạt động của tội
phạm và tệ nạn ma tuý tại một số địa bàn, góp phần giữ vững trật tự, an toàn
xã hội, phục vụ phát triển kinh tế- xã hội.
Tuy nhiên do tác động, ảnh hưởng phức tạp từ bên ngoài, tệ nạn ma tuý vẫn
diễn biến phức tạp; hiệu quả ngăn chặn, phát hiện ma tuý qua biên giới còn
thấp; tình hình mua bán, vận chuyển, tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
trong nội địa không giảm; đã xuất hiện một số loại ma tuý tổng hợp mới làm
cho tình trạng sử dụng ma tuý trong thanh, thiếu niên gia tăng. Vào dịp đầu
năm, việc trồng cây thuốc phiện đã tái diễn ở một số huyện miền núi các tỉnh
vùng Tây Bắc. Đặc biệt vừa qua, các lực lượng phòng, chống ma tuý của Công
an, Cảnh sát biển và Hải Quan đã phát hiện, phối hợp bắt giữ vụ vận chuyển
nhựa cần sa với số lượng lớn, được cất giấu, nguỵ trang trong các lô hàng
tạm nhập, tái xuất. Tệ nạn ma tuý đang là một trong những nguyên nhân chính
làm phức tạp tình hình tội phạm hình sự và trật tự an toàn xã hội.
Để triển khai thực hiện có hiệu quả Chỉ thị 21-CT/TW ngày 26 tháng 3 năm
2008 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác
phòng, chống và kiểm soát ma tuý trong tình hình mới” và hưởng ứng “Tháng
hành động phòng, chống ma tuý”, “Ngày Quốc tế phòng chống ma tuý” và
“Ngày toàn dân phòng, chống ma tuý”, Thủ tướng Chính phủ yêu
cầu các Bộ, ngành ở Trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
chỉ đạo mở đợt cao điểm phòng, chống ma tuý từ ngày 01 tháng 6 đến ngày 31
tháng 8 năm 2008 với những nội dung sau:
1. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục phòng, chống ma tuý, gắn liền
với việc tổ chức học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Chỉ thị 21-CT/TW
ngày 26 tháng 3 năm 2008 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục tăng cường lãnh đạo,
chỉ đạo công tác phòng, chống và kiểm soát ma tuý trong tình hình mưói” cho
toàn thể cán bộ, Đảng viên và nhân dân; đồng thời, xây dựng Kế hoạch chỉ đạo
triển khai thực hiện Chỉ thị 21-CT/TW của Bộ Chính trị, căn cứ vào chức năng,
nhiệm vụ và điều kiện cụ thể của cơ quan, đơn vị và địa phương mình để cụ
thể hoá các nội dung, nhiệm vụ phòng, chống ma tuý theo nội dung đã được nêu
trong Chỉ thị 06-CT/TW ngày 30 tháng 11 năm 1996 của Bộ Chính trị (Khoá
VIII) về “Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống và kiểm soát ma
tuý” cần khẩn trương tổ chức, tổng kết, gắn với việc triển khai thực hiện
Chỉ thị mới của Bộ Chính trị.
2. Kiểm điểm đánh giá lại việc triển khai thực hiện Kế hoạch tổng thể phòng,
chống ma tuý đến năm 2010 của Chính phủ; khẩn trương xây dựng, trình cấp có
thẩm quyền phê duyệt và triển khai thực hiện các Đề án trong Chương trình
mục tiêu Quốc gia phòng, chống ma tuý đến năm 2010 theo Quyết định 166-QĐ/TTg
ngày 20 tháng 9 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ.
3. Tổ chức đợt cao điểm tấn công trấn áp, xử lý tội phạm về ma tuý:
Các Bộ: Công an, Tài Chính và Quốc phòng xây dựng kế hoạch chỉ đạo các lực
lượng chuyên trách phòng, chống tội phạm ma tuý của Công an, Hải quan, Bộ
Đội Biên phòng và Cảnh sát biển đồng loạt ra quân tấn công, xử lý tội phạm
về ma tuý trên các tuyến, địa bàn được phân công, phân cấp; tập trung lực
lượng, biện pháp đấu tranh mạnh ở các tuyến, địa bàn trọng điểm, đặc biệt
trên tuyến biên giới phía Bắc, Việt- Lào, Tây Nam ngăn chặn các đường dây
vận chuyển trái phép chất ma tuý từ nước ngoài. Tập trung đấu tranh, khai
thác, mở rộng điều tra truy bắt các đối tượng trong vụ án mua bán, vận
chuyển trái phép nhựa cần sa, bị bắt giữ ngày 12 tháng 5 năm 2008 tại cửa
khẩu Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, phối hợp với Viện Kiểm sát và Toà án Nhân
dân nhanh chóng truy tố, xét xử nghiêm minh trước pháp luật.
Tập trung đấu tranh triệt xoá các tụ điểm bán lẻ, sử dụng ma tuý, không để
công khai tồn tại trong cộng đồng dân cư, gây nhức nhối trong nhân dân; đồng
thời điều tra, xử lý kiên quyết bọn tội phạm mua bán, tổ chức sử dụng đang
còn tiềm ẩn; kiểm tra, phát hiện xử lý kịp thời tội phạm lợi dụng các loại
hình dịch vụ trong các khách sạn, nhà hàng, vũ trường, quán bar- karaoke để
sử dụng và tổ chức sử dụng các chất ma tuý, nhất là ma tuý tổng hợp; tổ chức
kiểm soát chặt chẽ các hoạt động mua bán, xuất, nhập khẩu, sử dụng các loại
tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần; chủ động phòng, ngừa, việc
điều chế và sản xuất ma tuý tổng hợp.
4. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Công an, Uỷ
ban Nhân dân các tỉnh, thành phố hướng dẫn, đôn đốc, tạo điều kiện thuận lợi
để đưa hết số người nghiện nặng vào các cơ sở cai nghiện. Chuẩn bị tổ chức
Hội nghị đánh giá mô hình cai nghiện tại cộng đồng và gia đình vào cuối
tháng 11năm 2008 tại Nam Định.
5. Bộ Y tế chỉ đạo từ Trung ương đến địa phương tích cực tham gia xét nghiệm,
chữa trị cai nghiện ở các cơ sở cai nghiện bắt buộc, cai nghiện tại gia đình
và cộng đồng. Triển khai chỉ đạo điểm việc tổ chức cắt cơn và hướng dẫn quy
trình xét nghiệm chuẩn đối với người nghiện ma tuý. Đẩy nhanh tiến độ, triển
khai đề án thí điểm điều trị thay thế bằng Methadone tại thành phố Hồ Chí
Minh và Hải Phòng. Đồng thời phối hợp với các lực lượng Công an, Quản lý thị
trường.v.v… tăng cường kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ việc mua bán thuốc tân
dược gây nghiện, thuốc hướng thần; xử lý nghiêm minh những vi phạm cả trong
ngành y tế và ngoài xã hội.
6. Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn kiểm tra đánh giá thực trạng tình
hình tái trồng cây thuốc phiện trong niên vụ vừa qua, đặc biệt là các tỉnh
Sơn La, Yên Bái, Cao Bằng, Lạng Sơn và khu vực giáp ranh. Trên cơ sở đó phối
hợp với Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố tăng cường các hoạt động tuyên
truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật về phòng, chống ma tuý cho nhân dân đặc
biệt là cho đồng bào dân tộc miền núi, vùng cao, các vùng trồng và tái trồng
cây có chứa chất ma tuý.
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức tuyên truyền, giáo dục phòng, chống ma tuý
trong trường học; tổ chức các hoạt động cho học sinh, sinh viên tự nguyện ký
cam kết tham gia phòng, chống ma tuý; tổ chức đợt ra quân phòng, chống ma
tuý học đường trong dịp hè.
8. Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hoá, Thể thao
và Du lịch, các cơ quan liên quan chỉ đạo các cơ quan thông tấn báo chí từ
Trung ương đến địa phương tăng thời lượng phát sóng và mở các chuyên mục đưa
tin, bài về “Tháng hành động phòng, chống ma tuý”; các hoạt động phòng,
chống ma tuý ở các đơn vị, địa phương và gương điển hình trong đợt cao điểm.
Đặc biệt chú trọng chương trình tuyên truyền phòng, chống ma tuý với hình
thức, nội dung, biện pháp cụ thể, phù hợp với đặc điểm của từng địa phương,
từng vùng miền và đặc biệt là đối với các nhóm đối tượng có nguy cơ cao.
9. Văn phòng Chính phủ giúp Phó Thủ tướng Chính phủ - Chủ tịch Uỷ ban Quốc
gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma tuý, mại dâm đôn đốc, kiểm
tra việc thực hiện đợt cao điểm phòng, chống ma tuý của các Bộ, ngành, các
địa phương kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
10. Các Bộ, ngành thành viên Uỷ ban Quốc gia phòng, chống AIDS và phòng,
chống tệ nạn ma tuý, mại dâm tổ chức kiểm tra, triển khai thực hiện Chỉ thị
21- CT/TW của Bộ Chính trị theo chức năng, nhiệm vụ được phân công của mình.
Bộ Công an chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng trình Thủ
tướng Chính phủ ban hành Quyết định về Kế hoạch triển khai thực hiện Chỉ thị
21-CT/TW của Bộ Chính trị.
11. Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo chính
quyền các cấp, tổ chức cho người nghiện và gia đình người nghiện khai báo
tình trạng nghiện và đăng ký hình thức cai nghiện; phát động phong trào phát
hiện, tố giác người nghiện và tội phạm về ma tuý; tổng rà soát, điều tra cơ
bản, nắm chắc số liệu về người nghiện ma tuý; các đối tượng có liên quan đến
người nghiện ma tuý đang ở ngoài cộng đồng để báo cáo Uỷ ban Quốc gia trước
ngày 15 tháng 9 năm 2008; tập trung xét duyệt hồ sơ, tổ chức cai nghiện,
kiên quyết đưa những người mắc nghiện ma tuý đi cai nghiện với các hình thức
thích hợp.
Tổ chức hoạt động thăm hỏi, động viên các cá nhân, gia đình và thân nhân
những người đã có công trong quá trình tham gia công tác phòng, chống ma tuý.
12. Đề nghị Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chỉ đạo, đánh giá và
triển khai điểm về xây dựng xã, phường, thị trấn không có tệ nạn ma tuý tại
các tỉnh, thành phố trọng điểm về ma tuý. Tổ chức phát động phong trào toàn
dân tích cực tham gia đấu tranh phòng, chống ma tuý gắn với cuộc vận động
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”, “Gia đình không
có tệ nạn ma tuý và tệ nạn xã hội”, và “Xã, phường, cơ quan, đơn vị, trường
học không có tệ nạn ma tuý”.
13. Đề nghị Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao chỉ đạo
đẩy nhanh tiến độ điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh, triệt để các vụ án
ma tuý; chọn các vụ án điểm đưa ra xét xử, xét lưu động tại các địa bàn phức
tạp để nâng cao tính giáo dục, phòng ngừa, răn đe các hành vi vi phạm pháp
luật phòng, chống ma tuý.
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các ngành, đoàn thể và
các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của
cơ quan, đơn vị mình chủ động xây dựng kế hoạch phát động phong trào hưởng
ứng Tháng hành động và đợt cao điểm phòng, chống ma tuý ở cơ quan, đơn vị
mình.
Qua đợt cao điểm phòng, chống ma tuý lần này phải tạo được những chuyển biến
tích cực trong phòng ngừa, ngăn chặn, điều tra, xử lý tội phạm và tệ nạn ma
tuý. Giao Bộ Công an theo dõi, hướng dẫn, đôn đốc và kiểm tra việc triển
khai thực hiện; tổng hợp kết quả thực hiện; đề xuất khen thưởng những đơn vị,
địa phương có thành tích xuất sắc và xử lý nghiêm những nơi để xảy ra phức
tạp về tội phạm và tệ nạn ma tuý báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 15
tháng 9 năm 2008./.
KT. THỦ TƯỚNG
PHÓ THỦ
TƯỚNG
(Đã
ký)
Trương
Vĩnh Trọng
[Về đầu
trang]
KẾ HOẠCH LIÊN TỊCH SỐ: 2064 /KHLT-
BLĐTBXH-BCA-BVHTTDL- UBTƯMTTQVN-TƯĐTNCSHCM, NGÀY 13 THÁNG 6 NĂM 2008 GIỮA BỘ
LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI- BỘ CÔNG AN - BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU
LỊCH- UỶ BAN TRUNG ƯƠNG MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM- TRUNG ƯƠNG ĐOÀN THANH
NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH
Phát động
toàn dân tham gia vận động, giúp đỡ người nghiện ma tuý cai nghiện và quản
lý, hỗ trợ người sau cai tái hoà nhập cộng đồng
Những năm gần đây, nghiện ma tuý trở thành vấn đề xã hội bức xúc ở nước ta.
Đảng, Nhà nước đã có nhiều biện pháp đấu tranh, phòng chống tệ nạn này. Công
tác cai nghiện phục hồi tuy đạt được một số kết quả bước đầu nhưng còn nhiều
bất cập, tính bền vững chưa cao. Do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên
nhân chưa được sự giúp đỡ, hỗ trợ của cộng đồng, nhiều người nghiện chưa chủ
động, tự giác tham gia chương trình cai nghiện nên tái nghiện, gây nhiều khó
khăn cho gia đình, xã hội. Vì vậy, để huy động toàn dân tham gia vận động,
giúp đỡ người nghiện ma tuý cai nghiện và quản lý, hỗ trợ người sau cai
nghiện tái hoà nhập cộng đồng, Liên tịch Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội,
Bộ Công an, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã xây dựng
kế hoạch cụ thể như sau:
I. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU
1- Mục đích
1.1- Mục đích chung
Huy động toàn dân tham gia vận động, khuyến khích, giúp đỡ người nghiện, gia
đình họ tự giác khai báo và chủ động đăng ký, tham gia các chương trình cai
nghiện; quản lý, giúp đỡ người sau cai nghiện ma tuý tái hoà nhập cộng đồng,
giảm tỷ lệ tái nghiện.
1.2- Mục đích cụ thể
-
Khuyến khích, động viên, tạo điều kiện cho 100% số người nghiện và gia đình
họ khai báo tình trạng sử dụng ma tuý và 100% số người nghiện ma tuý đăng ký
với chính quyền cấp xã nhu cầu và hình thức cai nghiện ma tuý.
-
Khuyến khích và tạo cơ hội tốt nhất cho 100% số người sau cai nghiện ma tuý
tham gia tích cực vào các hoạt động ở cộng đồng liên quan đến công tác quản
lý sau cai và các hoạt động giảm thiểu tác hại lây nhiễm HIV do tiêm chích
ma tuý trong cộng đồng.
-
100% số gia đình có người nghiện ma tuý quản lý tốt người thân nghiện ma tuý
cả trong và sau cai nghiện.
-
100% tổ chức, đoàn thể xã hội tham gia tích cực Kế hoạch toàn dân tham gia
vận động, giúp đỡ người nghiện ma tuý cai nghiện và quản lý người sau cai
nghiện ma tuý do chính quyền cùng cấp phát động.
2. Yêu cầu
-
Kế hoạch phải được triển khai cụ thể đến chính quyền các cấp (nhất là cấp xã),
các tổ chức chính trị, xã hội.
-
Việc triển khai kế hoạch cần được lồng ghép với cuộc vận động “Toàn dân đoàn
kết xây dụng đời sống văn hoá”.
-
Định kỳ sơ kết và thực hiện tốt công tác thi đua khen thưởng, động viên
khuyến khích kịp thời gương người tốt, việc tốt.
II- NỘI DUNG
1- Động viên, khuyến khích, tạo cơ hội cho người nghiện ma
tuý và gia đình họ chủ động khai báo tình trạng nghiện và đăng ký tham gia
chương trình cai nghiện ma tuý.
-
Đối với người nghiện ma tuý và gia đình họ: Thông tin, tư vấn chính xác, đầy
đủ về bản chất của vấn đề lạm dụng ma tuý, nghiện ma tuý; về sự cần thiết
phải cai nghiện ma tuý, quy trình cai nghiện ma tuý và các phác đồ điều trị
ma tuý. Tạo điều kiện giúp đỡ người nghiện ma tuý và gia đình họ lựa chọn
hình thức cai nghiện phù hợp.
-
Đối với mọi người dân trên địa bàn có người nghiện ma tuý: Làm cho mọi người
hiểu rõ về người nghiện ma tuý là nạn nhân của tội phạm liên quan đến ma tuý;
không kỳ thị, phân biệt đối xử, giúp đỡ họ tin vào bản thân, gia đình và
cộng đồng. Nâng cao trách nhiệm của gia đình người nghiện trong việc thực
hiện quy trình cai nghiện; vai trò của chính quyền, cộng đồng trong việc hỗ
trợ quản lý và tham gia các hoạt động cai nghiện ma tuý trên địa bàn.
-
Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền về mô hình, điển hình cai nghiện
thành công và các biện pháp, hình thức quản lý, giúp đỡ, hỗ trợ, tạo điều
kiện cho người sau cai nghiện ma tuý tái hoà nhập cộng đồng để các địa
phương áp dụng và nhân rộng.
2- Đa dạng hoá hình thức cai nghiện ma tuý theo pháp luật, phù hợp với thực
tế và trình độ chuyên môn góp phần nâng cao hiệu quả cai nghiện ma tuý và
củng cố niềm tin cho người sau cai nghiện ma tuý, cho cộng đồng.
-
Tăng cường tổ chức thực hiện đồng thời các biện pháp, hình thức cai nghiện
tại các Trung tâm Chữa bệnh- Giáo dục- Lao động xã hội, tại gia đình và cộng
đồng, tại các cơ sở cai nghiện tự nguyện. Kiện toàn Tổ công tác cai nghiện
trên địa bàn xã, phường, thị trấn theo Quy định tại Nghị định số 56/2002/NĐ-CP
ngày 15/5/2002 của Chính phủ về tổ chức cai nghiện ma tuý tại gia đình và
cộng đồng. Chú trọng nâng cao chất lượng từng nội dung, từng giai đoạn của
quy trình cai nghiện.
-
Đẩy mạnh công tác quản lý, giáo dục, tư vấn về cai nghiện ma tuý và phòng
chống tái nghiện thông qua các hoạt động tại cộng và các câu lạc bộ của các
tổ chức, đoàn thể và Đội hoạt động xã hội tình nguyện cấp xã.
3- Thực hiện các giải pháp xã hội, lồng ghép các chương trình, phối hợp và
thống nhất chỉ đạo đồng bộ các phong trào trên địa bàn nhằm nâng cao hiệu
quả quản lý cai nghiện ma tuý và giảm thiểu tình trạng tái nghiện.
-
Lồng ghép và phối hợp đồng bộ, thường xuyên giữa việc thực hiện Nghị quyết
Liên tịch số 01/2005/NQLT - BLĐTBXH- BVHTT- UBTƯMTTQVN ngày 17/11/2005 về
hướng dẫn xây dựng, đánh giá, phân loại xã, phường lành mạnh không có tệ nạn
mại dâm, nghiện ma tuý với các cuộc vận động trên địa bàn cơ sở “Toàn dân
đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, “Toàn dân tham gia phòng ngừa, tố giác
tội phạm; cảm hoá, giáo dục, cải tạo người phạm tội tại gia đình và cộng
đồng dân cư”.
-
Tăng cường các chiến dịch thông tin, giáo dục, truyền thông bằng nhiều hình
thức cho thành thiếu niên với chủ đề “Làm thế nào để nói không với ma tuý”.
Thông qua các hình thức sinh hoạt văn hoá, sân chơi giải trí, bổ ích gắn
phát huy truyền thống văn hoá cộng đồng với giáo dục kỹ năng sống cho thanh
thiếu niên để ngăn chặn kịp thời nguy cơ liên quan đến ma tuý.
-
Đẩy mạnh công tác quản lý, đăng ký tạm trú, tạm vắng, ngăn chặn kịp thời
những hành vi có nguy cơ làm lây lan, phát sinh tệ nạn ma tuý từ nhóm người
lao động di chuyển từ địa phương khác đến.
-
Xử lý công khai kịp thời, đúng pháp luật những hành vi vi phạm pháp luật
liên quan đến tội phạm, tệ nạn ma tuý trên địa bàn.
-
Huy động sự tham gia tích cực của người sau cai nghiện ma tuý trong công tác
tuyên truyền, giáo dục và tư vấn về cai nghiện ma tuý, thông qua các câu lạc
bộ của người sau cai nghiện, thực hiện chương trình giảm thiểu tác hại dự
phòng lây nhiễm HIV trong cộng đồng.
-
Đẩy mạnh công tác phòng ngừa để ngăn chặn ngời có nguy cơ do hoàn cảnh khó
khăn (thiếu việc làm, thiếu vốn, không nghề nghiệp…) và phòng, chống tái
nghiện cho người sau cai nghiện thông qua việc tổ chức chương trình dạy nghề;
chương trình xoá đói, giảm nghèo; cho vay vốn, tạo việc làm.
-
Tiếp tục đẩy mạnh xã hội hoá công tác cai nghiện, vận động các tổ chức
kinhtế- xã hội, các doanh nghiệp và nhân dân đóng góp công sức, nguồn lực
cho công tác cai nghiện, giải quyết việc làm, ổn định cuộc sống cho người
sau cai nghiện.
III- PHÂN CÔNG TRÁCH NHIỆM
1- Các cơ quan Trung ương
a. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
-
Chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành, đoàn thể và tổ chức xã hội triển khai
tháng chiến dịch mở đầu Kế hoạch liên tịch.
-
Xây dựng kế hoạch hướng dẫn các Sở, ban, ngành trực thuộc triển khai kế
hoạch liên tịch.
-
Chủ trì hướng dẫn triển khai thực hiện Nghị quyết liên tịch số 01/2005/NQLT-
BLĐTBXH- BCA- BVHTTDL- UBTƯMTTQVN ngày 17/11/2005 về hướng dẫn xây dựng,
đánh giá và phân loại xã, phường lành mạnh không có tệ nạn mại dâm, nghiện
ma tuý.
-
Chủ trì chỉ đạo đẩy mạnh thực hiện công tác cai nghiện theo Nghị định số
56/2002/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2002, Nghị định 135/2004/NĐ- CP ngày
10/6/2004, Nghị định 147/2003/NĐ-CP ngày 15/5/2003 của Chính phủ.
-
Chủ trì phố hợp với các ngành, đoàn thể liên quan hướng dẫn lồng ghép thực
hiện các chương trình, dự án liên quan đến dạy nghề, tạo việc làm và xoá đói,
giảm nghèo.
-
Phối hợp với Bộ Y tế triển khai áp dụng phác đồ điều trị nghiện ma tuý trong
các cơ sở cai nghiện ma tuý tập trung và cai nghiện ma tuý tại gia đình,
cộng đồng và chương trình giảm hại lây nhiễm HIV.
b. Bộ Công an
-
Xây dựng kế hoạch hướng dẫn các Sở, ban, ngành trực thuộc triển khai thực
hiện Kế hoạch liên tịch.
-
Chủ trì hướng dẫn công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức
thực hiện kế hoạch và chiến dịch phòng, chống tội phạm ma tuý, phát hiện và
đấu tranh có hiệu quả tội phạm ma tuý, người nghiện ma tuý, tham gia quản lý
người sau cai nghiện ma tuý.
-
Tổ chức đưa người nghiện ma tuý vào các cơ sở bắt buộc theo quy định của
pháp luật.
-
Phối hợp với Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, Bộ Văn hoá- Thể thao và Du
lịch và Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam triển khai thực hiện
Nghị quyết liên tịch số 01/2005/NQLT- BLĐTBXH- BCA- BVHTTDL- UBTƯMTTQVN ngày
17/11/2005.
c. Bộ Văn hoá- Thể thao và Du lịch
-
Phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền và các Bộ, ngành liên quan đẩy mạnh việc
triển khai thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”;
gắn nội dung xây dựng gia đình văn hoá, làng văn hoá, tổ dân phố văn hoá, cơ
quan, đơn vị, trường học văn hoá với công tác phòng, chống ma tuý; xây dựng
gia đình thôn, làng, ấp, bản; xã, phường, thị trấn, cơ quan, đơn vị, trường
học không có tệ nạn ma tuý.
-
Phát động các gia đình có người nghiện ma tuý đi khai báo và đăng ký cai
nghiện. Huy động cộng đồng tham gia tuyên truyền, vận động và hỗ trợ cai
nghiện cho người nghiện ma tuý. Tuyên trruyền, vận động xoá bỏ việc trồng
cây có chất gây nghiện, ngăn chặn kịp thời các hành vi buôn bán, vận chuyển,
tàng trữ, sử dụng ma tuý dưới mọi hình thức, coi đây là một trong những chỉ
tiêu đánh giá hàng năm của Ban văn hoá xã hội cấp xã, của Ban vận động
“Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở’.
-
Phối hợp với các cơ quan Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Công an, Uỷ
ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam triển khai thực hiện Nghị quyết
liên tịch số 01/2005/NQLT – BLĐTBXH- BCA- UBTƯMTTQVN ngày 17/11/2005.
d- Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
-
Chủ trì lồng ghép triển khai thực hiện Kế hoạch liên tịch này với cuộc vận
động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”.
-
Phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Công an và Bộ Văn hoá
Thể thao và Du lịch triển khai Nghị quyết liên tịch số 01/2005/NQLT-BLĐTBXH-BCA-BVHTTDL-
UBTƯMTTQVN ngày 17/11/2005; phối hợp chỉ đạo Đội hoạt động tình nguyện cấp
xã tăng cường công tác vận động giúp đỡ người cai nghiện ma tuý và quản lý
sau cai.
e- Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
-
Phối hợp với Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch hướng dẫn đoàn thanh niên cấp
tỉnh triển khai Kế hoạch liên tịch gắn với chiến dịch “Làm thế nào để nói
không với ma tuý” lồng ghép với Tháng hành động thanh niên hàng năm.
-
Xây dựng và triển khai cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống
văn hoá” trong nhà trường lồng ghép với dự án của Bộ Giáo dục và Đào tạo về
“Tổ chức phòng, chống ma tuý trong trường học” góp phần phòng, ngừa có hiệu
quả sự lạm dụng của ma tuý trong học sinh, sinh viên.
-
Phát động phong trào và tổ chức ký cam kết “Thanh thiếu niên nói không với
ma tuý” trong cả nước với các nội dung, giải pháp thích hợp.
-
Xây dựng các mô hình phù hợp nhằm tập hợp, hỗ trợ, giúp đỡ thanh niên sau
cai nghiện ma tuý tái hoà nhập cộng đồng.
-
Phối hợp với các tổ chức chính trị, xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp tư
vấn và giới thiệu việc làm cho thanh niên sau cai nghiện ma tuý.
2- Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
a- Ban chỉ đạo phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma
tuý, mại dâm
-
Tổ chức Lễ phát động triển khai kế hoạch liên ngành cấp tỉnh nhân Tháng hành
động phòng, chống ma tuý năm 2008.
-
Chỉ đạo các ngành, đoàn thể liên quan ở các cấp xây dựng các biện pháp triển
khai và tổ chức Lễ phát động hưởng ứng Kế hoạch liên tịch trên địa bàn.
-
Chỉ đạo công tác sơ kết, đánh giá định kỳ nhằm duy trì thường xuyên, trước
mắt trong hai năm 2008- 2009.
-
Chỉ đạo ngành Lao động - Thương binh và Xã hội và các ngành liên quan củng
cố và phát triển các hình thức cai nghiện để tạo điều kiện thuận lợi cho
người nghiện ma tuý tiếp cận các dịch vụ cai nghiện.
b. Sở Lao động- Thương binh và Xã hội
-
Chịu trách nhiệm chủ trì phối hợp với các ban, ngành tham mưu cho Ban chỉ
đạo phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma tuý, mại dâm cấp tỉnh chỉ
đạo và hướng dẫn Uỷ ban Nhân dân cấp huyện, cấp xã triển khai kế hoạch.
-
Chủ trì phối hợp với các cơ quan báo, đài và các ngành, đoàn thể xây dựng
tài liệu, cung cấp thông tin kịp thời triển khai các hoạt động tuyên truyền
cụ thể theo mục tiêu, yêu cầu và nội dung của Kế hoạch liên tịch.
-
Sơ kết việc thực hiện Kế hoạch liên tịch giai đoạn I và báo cáo về Bộ Lao
động – Thương binh và Xã hội để tổng hợp báo cáo Uỷ ban Quốc gia phòng,
chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma tuý, mại dâm trước ngày 15 tháng 8 năm
2008 để rút kinh nghiệm.
c- Cơ quan Công an, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Mặt trận
Tổ quốc và các Tỉnh đoàn, Thành đoàn
-
Căn cứ vào mục tiêu, yêu cầu, nội dung, tiến độ và hướng dẫn của cơ quan cấp
trên xây dựng kế hoạch triển khai cụ thể trước mắt trong phạm vi ngành, đoàn
thể, đăc biệt các xã, phường, thị trấn trên địa bàn cấp tỉnh.
-
Tổ chức sơ kết định kỳ 6 tháng, hàng năm gửi về Sở lao động – Thương binh và
Xã hội và các Bộ, ngành liên quan.
IV- TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1-
Công tác tổ chức
a- Giao Cục phòng, chống tệ nạn xã hội (Bộ Lao động Thương binh và Xã hội)
chủ trì phối hợp với Văn phòng Thường trực phòng chống ma tuý (Bộ Công an),
Cục Văn hoá cơ sở (Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch), Ban Phong trào (Uỷ ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam), Trung tâm Dân số - Sức khoẻ- Môi
trường (Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh):
-
Xây dựng kế hoạch cụ thể trình lãnh đạo các Bộ, ngành, đoàn thể duyệt triển
khai Kế hoạch liên tịch trong phạm vi Bộ, ngành, đoàn thể các cấp.
-
Thành lập tổ liên ngành gồm đại diện lãnh đạo, chuyên viên các đơn vị nói
trên để giúp lãnh đạo các Bộ, ngành, đoàn thể chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra
và tổng hợp, báo cáo tình hình thực hiện Kế hoạch liên tịch định kỳ.
b- Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Giao Sở Lao động – Thương
binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Công an tỉnh, Sở Văn hoá, Thể thao và Du
lịch, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cấp
tỉnh xây dựng kế hoạch cụ thể triển khai Kế hoạch liên tịch trình Ban chỉ
đạo phòng, chống AIDS và phòng chống tệ nạn ma tuý, mại dâm tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương duyệt, chỉ đạo thực hiện và định kỳ báo cáo kết quả
thực hiện theo quy định.
2. Biện pháp thực hiện
a- Tại các cơ quan Trung ương
Trung tuần tháng 6 năm 2008, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp
với Bộ Công an, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Uỷ ban Trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tổ chức lễ
ra quân phát động toàn dân tham gia giúp đỡ người nghiện ma tuý cai nghiện
và quản lý, hỗ trợ người sai cai nghiện tái hoà nhập cộng đồng.
b- Tại các tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương: Từ tuần thứ 3 tháng 6 năm 2008.
c- Tại các xã, phường, thị trấn: Trong tháng 6 năm 2008
3- Tổ chức sơ kết thực hiện kế hoạch liên tịch
-
Sơ kết định kỳ việc thực hiện Kế hoạch liên tịch hàng năm (thực hiện từ ngày
01 đến 15 tháng 12 năm 2008).
-
Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiến hành sơ kết và báo cáo kết
quả về Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trước 15 tháng 01 năm 2009.
-
Các Bộ, ngành và đoàn thể liên quan tiến hành phối hợp, đánh giá và tổng kết
năm 2008 trước 31 tháng 01 năm 2009.
V. KINH PHÍ ĐẢM BẢO
Kinh phí thực hiện Kế hoạch liên tịch này được chi từ nguồn kinh phí Chương
trình mục tiêu Quốc gia về phòng, chống ma tuý và các nguồn kinh phí khác
của các địa phương, đơn vị hàng năm./.
KT. BỘ TRƯỞNG BỘ
VĂN HOÁ, KT. BỘ TRƯỞNG BỘ
CÔNG AN
THỂ THAO VÀ DU LỊCH
THỨ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
(Đã ký)
(Đã ký)
Huỳnh Vĩnh Ái
Lê Thế Tiệm
KT. BỘ TRƯỞNG BỘ LAO
TM. UỶ BAN TRUNG ƯƠNG MẶT
ĐỘNG THƯƠNG BINH
TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
VÀ XÃ HỘI
UỶ VIÊN THƯỜNG TRỰC
THỨ TRƯỞNG
(Đã ký)
(Đã ký)
Lê Bạch Hồng
Hà Thị Liên
TM. TRUNG ƯƠNG ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH
BÍ THƯ
(Đã ký)
Nguyễn Hoàng Hiệp
[Về đầu
trang]
Chỉ thị Số 52- CT/TW ngày 11 tháng 3 năm 1995 của Ban Bí thư Trung ương
Đảng khoá VII về lãnh đạo công tác phòng chống AIDS
CHỈ THỊ
VỀ LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG AIDS
AIDS là đại dịch nguy hiểm đang phát triển mạnh trên khắp thế giới. Dự đoán
đến năm 2000 bệnh phát triển ở tất cả các nước, nặng nhất ở châu Á; số nhiễm
HIV có thể tới 30 - 40 triệu người.
HIV/AIDS đã xâm nhập vào Việt Nam và đang phát triển, nhất là ở thành phố Hồ
Chí Minh, Khánh Hoà, Quảng Nam - Đà Nẵng. Số người nhiễm HIV ở nước ta tính
đến ngày ll/2/1995 là 2.280 người, đã có 13l bệnh nhân AIDS, số tử vong là
53.
Đảng và Nhà nước ta sớm nhận thấy nguy cơ của nhiễm HIV/AIDS, coi phòng
chống AIDS là một nhiệm vụ ưu tiên. Chính phủ đã thành lập Uỷ ban Quốc gia
phòng chống AIDS để tập trung sự chỉ đạo, liên kết các bộ, ngành, đoàn thể
nhân dân nhằm động viên toàn xã hội tham gia phòng chống.
Thời gian vừa qua hoạt động phòng chống AIDS đã đạt được một số kết quả,
nhưng còn chưa đủ mạnh để có thể ngăn chặn được nguy cơ này ở nước ta. Nhiều
cấp uỷ đảng và cơ quan chính quyền chưa thật sự dành công sức chỉ đạo công
tác phòng chống HIV/AIDS đúng với tầm quan trọng đặc biệt của nó, tình trạng
lan nhiễm HIV ngày một tăng, nhưng các biện pháp chỉ đạo chưa tương xứng cả
về giáo dục, hành chính, tổ chức và chuyên môn kỹ thuật.
Ban
Bí thư Trung ương Đảng yêu cầu các cấp uỷ đảng tăng cường lãnh đạo công tác
phòng chống HIV/AIDS với các nhiệm vụ cụ thể sau:
l.Để ngăn chặn sự lây truyền HIV, biện pháp cơ bản nhất và có hiệu quả nhất
là mọi người giữ gìn lối sống trong sạch, lành mạnh, thuỷ chung, tự giác
phòng tránh tệ nạn ma tuý, mại dâm. Vì vậy phải đặt lên hàng đầu nhiệm vụ
tuyên truyền, giáo dục cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên, đặc biệt là
thanh niên và thiếu niên về đạo đức, lối sống, về nguy cơ lan nhiễm HIV/AIDS
đối với từng người, từng gia đình, từng phố phường, thôn xã làm cho mọi
người, mọi cơ quan, đoàn thể thấy rõ trách nhiệm của mình tự giác và chủ
động tham gia phòng chống HIV/AIDS.
Các
cấp uỷ đảng có trách nhiệm lãnh đạo các đoàn thể nhân dân, các cơ quan chính
quyền, các phương tiện thông tin đại chúng làm tốt công tác tuyên truyền,
giáo dục, kết hợp các hoạt động truyền thông rộng rãi với việc tuyên truyền
giáo dục sâu của chi bộ đảng, của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân
ở cơ sở. Rất chú trọng đề cao, phát huy vai trò và khả năng to lớn của gia
đình, gắn việc phòng chống HIV/AIDS với việc xây dựng gia đình văn hoá Việt
Nam.
2.Cùng với việc tuyên truyền, giáo dục, phải lãnh đạo các cơ quan chính
quyền, cơ quan y tế khẩn trương giải quyết các yêu cầu về bảo đảm an toàn vô
trùng trong các dịch vụ y tế, đặc biệt là các dịch vụ có liên quan đến máu.
Từng bước trang bị kỹ thuật cho ngành y tế, cho các cơ sở khám bệnh và chữa
bệnh, đồng thời bồi dưỡng, nâng cao ý thức trách nhiệm và trình độ chuyên
môn kỹ thuật của cán bộ y tế trong việc khám bệnh, điều trị và chăm sóc bệnh
nhân, chăm sóc sức khoẻ nhân dân.
Cần
kết hợp chặt chẽ các nhiệm vụ phòng chống HIV/AIDS và phòng chống tệ nạn xã
hội, trước hết là chống nạn nghiện hút, tiêm chích ma tuý và nạn mại dâm.
Thực hiện đầy đủ và có hiệu quả các biện pháp đã được đề ra trong các Nghị
quyết 05,06 của Chính phủ và các kế hoạch của Ban Chỉ đạo phòng chống tệ nạn
xã hội của Chính phủ. Các ngành Toà án, Kiểm sát, Công an phối hợp với các
đoàn thể và dựa vào nhân dân để phát hiện kịp thời và trừng trị nghiêm minh
theo pháp luật bọn buôn bán thuốc phiện và chất ma tuý, bọn chủ lò thuốc
phiện và tiêm chích ma tuý, bọn chủ chứa và dẫn dắt mại dâm. Xử lý nghiêm
những cán bộ đảng viên vi phạm, như đã nói rõ trong chỉ thị 33 của Ban Bí
thư.
3.Tổ chức sự chỉ đạo tập trung thống nhất, ăn khớp của uỷ ban nhân dân, huy
động rộng rãi và phối hợp chặt chẽ hoạt động của các cơ quan, đoàn thể theo
một chương trình chung do đồng chí chủ tịch hoặc phó chủ tịch uỷ ban nhân
dân trực tiếp phụ trách.
Công tác phòng chống HIV/AIDS và phòng chống tệ nạn xã hội đang đặt ra nhiều
vấn đề đòi hỏi phải được chỉ đạo giải quyết ở từng địa phương, từng cơ sở.
Các đồng chí bí thư cấp uỷ đảng, các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của chính
quyền, các ban, ngành, đoàn thể phải thường xuyên theo dõi, đôn đốc, kiểm
tra, nghe báo cáo và có ý kiến chỉ đạo công tác phòng chống HIV/AIDS, kiên
quyết không cho đại dịch HIV/AIDS phát triển lan tràn.
Ban
Khoa giáo Trung ương kiểm tra việc thực hiện chỉ thị này.
Chỉ
thị này được phổ biến đến các chi bộ đảng.
T/M BAN BÍ THƯ
Đã ký
Đào Duy Tùng
[Về đầu
trang]
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc phê
duyệt Chiến lược Quốc gia phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam đến năm 2010 và
tầm nhìn 2020
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân ngày 30 tháng 6 năm 1989;
Căn cứ Pháp lệnh Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn
dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) ngày 31 tháng 5 năm 1995;
Căn cứ Nghị định số 86/2002/NĐ-CP ngày 05 tháng 11 năm 2002 của Chính phủ
quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan
ngang Bộ;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Y tế,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Phê duyệt Chiến lược Quốc gia phòng, chống HIV/AIDS ở Việt
Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020 (bản kèm theo) với những nội dung chủ yếu
sau:
1. Quan điểm:
a) HIV/AIDS là đại dịch nguy hiểm, là mối hiểm họa đối với sức khỏe, tính
mạng của con người và tương lai nòi giống của dân tộc. HIV/AIDS tác động
trực tiếp đến phát triển kinh tế, văn hóa, trật tự và an toàn xã hội của
quốc gia. Do đó, phòng, chống HIV/AIDS phải được coi là một nhiệm vụ trọng
tâm, cấp bách và lâu dài, cần phải tăng cường phối hợp liên ngành và đẩy
mạnh việc huy động toàn xã hội tham gia;
b) Đầu tư cho phòng, chống HIV/AIDS chính là đầu tư góp phần tạo ra sự phát
triển bền vững của đất nước mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội trực tiếp và
gián tiếp. Nhà nước bảo đảm việc huy động các nguồn lực đầu tư cho phòng,
chống HIV/AIDS từ nay đến năm 2010 và sau 2010 phù hợp với khả năng và điều
kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn;
c) Chống kỳ thị, phân biệt đối xử với người bị nhiễm HIV/AIDS, tăng cường
trách nhiệm của gia đình, xã hội với người nhiễm HIV/AIDS và của người nhiễm
HIV/AIDS với gia đình, xã hội;
d) Việt Nam cam kết thực hiện các Điều ước quốc tế về phòng, chống HIV/AIDS
đã ký kết hoặc gia nhập. Bảo đảm hệ thống pháp luật quốc gia về phòng, chống
HIV/AIDS phù hợp với các nguyên tắc của pháp luật quốc tế;
đ) Tăng cường hợp tác song phương, đa phương, mở rộng quan hệ, hợp tác quốc
tế với các nước láng giềng, các nước trong khu vực và trên thế giới trong
phòng, chống HIV/AIDS;
e) Các hoạt động ưu tiên đối với công tác phòng, chống HIV/AIDS trong thời
gian tới là :
-
Tăng cường thông tin, giáo dục và truyền thông thay đổi hành vi; phối hợp
với các chương trình khác để ngăn ngừa, giảm thiểu lây nhiễm HIV/AIDS;
-
Đẩy mạnh các biện pháp can thiệp giảm thiểu tác hại;
-
Tăng cường tư vấn, chăm sóc và điều trị người nhiễm HIV/AIDS;
-
Tăng cường năng lực quản lý, theo dõi, giám sát và đánh giá chương trình.
2. Mục tiêu Chiến lược Quốc gia phòng, chống HIV/AIDS ở Việt
Nam đến năm 2010:
a) Mục tiêu chung:
Khống chế tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng dân cư dưới 0,3% vào năm 2010
và không tăng sau 2010; giảm tác hại của HIV/AIDS đối với sự phát triển kinh
tế - xã hội.
b) Mục tiêu cụ thể:
-
100% các đơn vị, địa phương trên cả nước đưa hoạt động phòng, chống HIV/AIDS
trở thành một trong các mục tiêu ưu tiên của chương trình phát triển kinh tế
- xã hội tại các đơn vị và địa phương;
-
Nâng cao hiểu biết của người dân về dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS : 100% nhân
dân khu vực thành thị và 80% ở khu vực nông thôn, miền núi hiểu đúng và biết
cách dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS;
-
Khống chế lây nhiễm HIV/AIDS từ nhóm nguy cơ cao ra cộng đồng thông qua việc
triển khai đồng bộ các biện pháp can thiệp giảm thiểu tác hại : thực hiện
các biện pháp can thiệp đối với tất cả các đối tượng có hành vi nguy cơ lây
nhiễm HIV/AIDS; 100% tiêm chích an toàn và sử dụng bao cao su trong quan hệ
tình dục có nguy cơ;
-
Bảo đảm người nhiễm HIV/AIDS được chăm sóc và điều trị thích hợp: 90% người
lớn nhiễm HIV/AIDS, 100% các bà mẹ mang thai nhiễm HIV/AIDS, 100% trẻ em bị
nhiễm hoặc ảnh hưởng bởi HIV/AIDS được quản lý, điều trị, chăm sóc và tư vấn
thích hợp, 70% bệnh nhân AIDS được điều trị bằng các thuốc điều trị đặc hiệu;
-
Hoàn thiện hệ thống quản lý, theo dõi, giám sát, đánh giá chương trình phòng,
chống HIV/AIDS : 100% tỉnh, thành phố có khả năng tự đánh giá và tự dự báo
về diễn biến của nhiễm HIV/AIDS ở địa phương, 100% xét nghiệm HIV tuân thủ
quy định tư vấn xét nghiệm tự nguyện;
-
Ngăn chặn lây nhiễm HIV/AIDS qua các dịch vụ y tế : bảo đảm 100% các đơn vị
máu và chế phẩm máu được sàng lọc HIV trước khi truyền ở tất cả các tuyến;
100% cơ sở y tế thực hiện đúng quy định về vô khuẩn, sát khuẩn phòng lây
nhiễm HIV/AIDS.
3. Tầm nhìn 2020:
a) Đẩy mạnh công tác phòng, chống HIV/AIDS giai đoạn 2004 - 2010 để sau năm
2010 giảm dần số lượng tuyệt đối người nhiễm HIV/AIDS, làm giảm các ảnh
hưởng kinh tế, xã hội do HIV/AIDS gây ra cho giai đoạn sau năm 2010;
b) Giai đoạn 2010 - 2020 nhà nước ta tiếp tục tăng cường chỉ đạo, đầu tư và
đẩy mạnh phối hợp liên ngành trong công tác phòng, chống HIV/AIDS nhằm giảm
thiểu tác động của dịch HIV/AIDS đến sự phát triển kinh tế- xã hội;
c) Giai đoạn 2010 – 2020 chương trình phòng, chống HIV/AIDS sẽ phải tập
trung giải quyết hậu quả của HIV/AIDS; biện pháp dự phòng đặc hiệu bằng vắc
xin, thuốc điều trị HIV/AIDS có thể sẽ được sử dụng rộng rãi.
Ưu tiên của công tác phòng, chống HIV/AIDS trong giai đoạn 2010 - 2020 là :
-
Dự phòng bằng các biện pháp kỹ thuật đặc hiệu;
-
Chăm sóc và điều trị người nhiễm HIV/AIDS;
-
Chăm sóc các đối tượng bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS.
4. Các giải pháp chủ yếu:
a) Nhóm giải pháp về xã hội:
-
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đối với công tác phòng, chống
HIV/AIDS; đưa công tác phòng, chống HIV/AIDStrở thành mục tiêu trong chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội của ngành và địa phương.
-
Các cấp chính quyền địa phương đưa hoạt động phòng, chống HIV/AIDS vào kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Huy động toàn dân tham gia
phòng, chống HIV/AIDS nhằm từng bước ngăn chặn, đẩy lùi HIV/AIDS;
-
Xây dựng chương trình phòng, chống HIV/AIDS thành chương trình phối hợp liên
ngành, toàn diện, đặc biệt chú trọng việc lồng ghép có hiệu quả với các
chương trình phòng, chống tệ nạn ma tuý, mại dâm để ngăn ngừa lây nhiễm
HIV/AIDS; huy động mọi tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động phòng, chống
HIV/AIDS. Khuyến khích các tổ chức xã hội, tổ chức tôn giáo, tổ chức từ
thiện, tổ chức phi chính phủ, các doanh nghiệp, nhóm cộng đồng, người nhiễm
HIV/AIDS cùng gia đình tham gia công tác phòng, chống HIV/AIDS;
- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, chế độ, chính sách trong công tác
phòng, chống HIV/AIDS nhằm đáp ứng yêu cầu thực tế và phù hợp với xu hướng
hội nhập của hệ thống pháp luật quốc gia trong phòng, chống HIV/AIDS với
pháp luật quốc tế. Tăng cường việc phổ biến, giáo dục pháp luật, tổ chức
kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật về
phòng, chống HIV/AIDS;
-
Đẩy mạnh công tác thông tin, giáo dục và truyền thông thay đổi các hành vi
có nguy cơ; nâng cao số lượng, chất lượng, tính phù hợp và hiệu quả của các
hoạt động thông tin, giáo dục và truyền thông. Xây dựng đội ngũ tuyên truyền
viên gắn liền với đội ngũ cộng tác viên y tế thôn, bản và cán bộ các ban,
ngành, đoàn thể ở cơ sở xã, phường. Phân công trách nhiệm cụ thể về thực
hiện công tác thông tin, giáo dục và truyền thông thay đổi hành vi cho từng
Bộ, ngành, địa phương; đưa các nội dung về dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS, giáo
dục sức khỏe sinh sản vào trong chương trình đào tạo của các trường đại học,
cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, giáo dục dạy nghề và phổ thông;
-
Tăng cường tuyên truyền về chương trình can thiệp giảm thiểu tác hại nhằm
tạo môi trường thuận lợi cho việc thực hiện các biện pháp can thiệp. Triển
khai chương trình can thiệp giảm thiểu tác hại một cách đồng bộ bao gồm
chương trình bơm kim tiêm sạch, chương trình bao cao su. Nghiên cứu kinh
nghiệm quốc tế để xây dựng và áp dụng các mô hình triển khai chương trình
bơm kim tiêm sạch, chương trình bao cao su và các chương trình can thiệp
khác ở Việt Nam;
-
Xây dựng hệ thống chăm sóc, hỗ trợ toàn diện cho người nhiễm HIV/AIDS;
khuyến khích việc hình thành các trung tâm chăm sóc, hỗ trợ người nhiễm dựa
vào cộng đồng; nâng cao nhận thức, trách nhiệm của người nhiễm HIV/AIDS đối
với bản thân, gia đình và cộng đồng để ngăn ngừa lây nhiễm HIV/AIDS.
b) Nhóm giải pháp về chuyên môn kỹ thuật :
-
Tăng cường hệ thống giám sát quốc gia về HIV/AIDS, xây dựng các phòng xét
nghiệm đạt tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế, từng bước triển khai hệ thống
giám sát đến các quận, huyện. Triển khai chương trình giám sát toàn diện (thế
hệ 2) và tăng cường sử dụng các dữ liệu giám sát phục vụ việc hoạch định
chính sách. Tăng cường và nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, xét nghiệm
tự nguyện HIV/AIDS;
-
Thực hiện nghiêm chỉnh các quy định pháp luật trong an toàn truyền máu và
chế phẩm máu, sàng lọc HIV 100% đơn vị máu và chế phẩm máu trước khi truyền,
từng bước nâng cao chất lượng xét nghiệm HIV trong sàng lọc máu, tăng cường
tuyên truyền, vận động và phát triển bền vững phong trào hiến máu nhân đạo;
-
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền cho người dân về cách dự phòng lây nhiễm
HIV/AIDS qua các dịch vụ y tế và dịch vụ xã hội, cung cấp trang thiết bị vô
trùng, tiệt trùng cho các cơ sở y tế đặc biệt là y tế quận, huyện, xã,
phường, hướng dẫn và quản lý công tác dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS qua các
dịch vụ y tế tại tất cả các cơ sở y tế tư nhân;
-
Tăng cường khả năng tiếp cận với các thuốc điều trị đặc hiệu HIV/AIDS, xây
dựng chính sách về tiếp cận thuốc, đảm bảo cơ chế thuận lợi cho lưu thông và
phân phối thuốc điều trị đặc hiệu HIV/AIDS. Bảo đảm tính sẵn có, dễ tiếp cận
đối với thuốc điều trị đặc hiệu HIV/AIDS, khuyến khích việc nghiên cứu, áp
dụng các thuốc đông y trong điều trị hỗ trợ cho bệnh nhân HIV/AIDS;
-
Nâng cao nhận thức của người dân trong độ tuổi sinh đẻ về nguy cơ lây nhiễm
HIV/AIDSvà khả năng lây truyền HIV/AIDS từ mẹ sang con, tổ chức điều trị dự
phòng lây truyền HIV/AIDS từ mẹ sang con và tổ chức tốt việc chăm sóc, điều
trị trẻ bị nhiễm HIV/AIDS và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS;
-
Xây dựng mạng lưới giám sát các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục,
cung cấp trang thiết bị xét nghiệm, tăng cường chẩn đoán, điều trị các nhiễm
khuẩn lây truyền qua đường tình dục, tăng cường đào tạo cán bộ, lồng ghép
triển khai hoạt động phòng, chống HIV/AIDSvới phòng, chống các nhiễm khuẩn
lây truyền qua đường tình dục;
- Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan khoa học và các tổ chức nghiên cứu
có liên quan trong cả nước dưới sự điều phối thống nhất của tổ chức phòng,
chống HIV/AIDS. Hỗ trợ các tổ chức, cơ quan nghiên cứu khoa học triển khai
các hoạt động nghiên cứu, đầu tư ngân sách cho các hoạt động nghiên cứu,
tăng cường các hoạt động trao đổi, chuyển giao kỹ thuật và đào tạo chuyên
gia giữa các cơ sở nghiên cứu trong và ngoài nước. Tiến hành đánh giá chương
trình phòng, chống HIV/AIDSsau 02 năm, 05 năm thực hiện.
c) Nhóm giải pháp về nguồn lực và hợp tác quốc tế :
-
Tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ chuyên trách phòng, chống HIV/AIDS,
đẩy mạnh việc phân cấp và quản lý chương trình, xây dựng cơ chế phù hợp cho
việc thúc đẩy các tổ chức, cộng đồng kể cả người nhiễm tham gia quá trình
xây dựng kế hoạch phòng, chống HIV/AIDS. Ngoài ngân sách của Trung ương cấp,
ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm chủ động bố trí ngân sách của cấp
mình đầu tư cho chương trình phòng, chống HIV/AIDS;
-
Khuyến khích và có các chính sách hỗ trợ cho việc nghiên cứu, sản xuất các
loại trang thiết bị, sinh phẩm, thuốc điều trị trong phòng, chống HIV/AIDS,
tăng cường việc chuyển giao kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và khuyến khích
đầu tư;
-
Tăng dần mức đầu tư, bảo đảm kinh phí cho các hoạt động phòng, chống
HIV/AIDS, tăng cường huy động nguồn lực hỗ trợ từ các nước, các tổ chức quốc
tế và các nguồn kinh phí khác từ trong và ngoài nước cho chương trình phòng,
chống HIV/AIDS. Phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực;
-
Mở rộng hợp tác quốc tế về phòng, chống HIV/AIDS, củng cố các mối quan hệ
hợp tác đã có, đồng thời tìm kiếm các khả năng hợp tác mới theo hướng đa
phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ. Phát huy tính chủ động quốc gia
trong việc điều phối, quản lý, sử dụng các dự án viện trợ. Ợu tiên cho các
dự án hợp tác về hỗ trợ vốn, hỗ trợ kỹ thuật và chuyển giao các công nghệ
hiện đại. Tiếp tục cam kết và thực hiện mạnh mẽ các quy định các tuyên bố mà
nhà nước ta đã tham gia ký kết hoặc gia nhập.
Điều 2. Các chương trình hành động của Chiến lược:
1. Chương trình thông tin giáo dục và truyền thông thay đổi hành vi phòng
lây nhiễm HIV/AIDS; phối hợp với các chương trình phòng, chống tệ nạn ma tuý,
mại dâm để ngăn ngừa lây nhiễm HIV/AIDS.
2. Chương trình can thiệp giảm thiểu tác hại phòng lây nhiễm HIV/AIDS.
3. Chương trình chăm sóc, hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS.
4. Chương trình giám sát HIV/AIDS, theo dõi, đánh giá chương trình.
5. Chương trình tiếp cận điều trị HIV/AIDS.
6. Chương trình dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS từ mẹ sang con.
7. Chương trình quản lý và điều trị các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường
tình dục.
8. Chương trình an toàn truyền máu.
9. Chương trình tăng cường năng lực và hợp tác quốc tế trong phòng, chống
HIV/AIDS.
Điều 3. Tổ chức thực hiện
1. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách
nhiệm trực tiếp chỉ đạo, triển khai thực hiện nội dung và các chương trình
hành động của Chiến lược Quốc gia phòng, chống HIV/AIDS từ nay đến năm 2010
và tầm nhìn 2020 trên địa bàn tỉnh, thành phố. Xây dựng và xác lập các mục
tiêu phòng, chống HIV/AIDS trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của
tỉnh, thành phố. Ngoài nguồn ngân sách Trung ương cấp, các địa phương chủ
động đầu tư ngân sách, nhân lực, cơ sở vật chất cho chương trình phòng,
chống HIV/AIDS. Tập trung chỉ đạo triển khai các biện pháp can thiệp giảm
thiểu tác hại bao gồm chương trình bơm kim tiêm sạch, chương trình bao cao
su dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS. Tổ chức tốt việc chăm sóc, điều trị hỗ trợ
người nhiễm HIV/AIDS.
2. Bộ Y tế có trách nhiệm hướng dẫn việc triển khai thực hiện Chiến lược
Quốc gia phòng, chống HIV/AIDS từ nay đến 2010 và tầm nhìn 2020; phối hợp
với các Bộ, ngành là thành viên của ủy ban Quốc gia phòng, chống HIV/AIDS và
phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm và các cơ quan Trung ương có liên quan
tổ chức chỉ đạo, triển khai các nội dung của Chiến lược trong phạm vi nhiệm
vụ, quyền hạn được giao.
Bộ Y tế chỉ đạo theo ngành dọc các cơ quan phòng, chống HIV/AIDScác cấp, các
cơ quan này có trách nhiệm tham mưu giúp Chủ tịch ủy ban nhân dân cùng cấp
tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ cụ thể trong Chiến lược; theo dõi,
giám sát việc thực hiện, tổ chức sơ kết định kỳ, tổng kết và báo cáo kết quả
thực hiện về Bộ Y tế để tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
3. Bộ Văn hóa - Thông tin chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, cơ quan Trung
ương, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam chỉ đạo cơ quan thông tin các cấp đẩy mạnh công tác thông tin,
giáo dục, truyền thông nhằm thay đổi hành vi phòng lây nhiễm HIV/AIDS trên
địa bàn toàn quốc. Tập trung đưa thông tin đến người dân vùng sâu, vùng xa,
vùng đặc biệt khó khăn, đưa thông tin tiếp cận với các nhóm đối tượng có
hành vi nguy cơ cao.
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, cơ quan Trung
ương, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức
triển khai chương trình giáo dục kiến thức và huấn luyện kỹ năng phòng,
chống HIV/AIDS vào trong chương trình đào tạo của các trường đại học, cao
đẳng, trung học chuyên nghiệp, giáo dục dạy nghề và phổ thông phù hợp với
yêu cầu của từng đối tượng.
5. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Bộ Y tế, Bộ Tài
chính và các Bộ, ngành liên quan, nghiên cứu xây dựng các chế độ, chính sách
phù hợp phục vụ công tác phòng, chống HIV/AIDS.
6. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính chịu trách nhiệm bố trí và cấp kịp
thời kinh phí cho các hoạt động của chương trình phòng, chống HIV/AIDS theo
kế hoạch ngân sách được Quốc hội phân bổ hàng năm. Tích cực huy động các
nguồn tài trợ trong và ngoài nước đầu tư cho công tác phòng, chống HIV/AIDS.
7. Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam
chủ trì, phối hợp với các cơ quan truyền thông, chỉ đạo các đài truyền hình,
đài phát thanh các cấp đưa các thông tin về dự phòng, chăm sóc người nhiễm
HIV/AIDS thành nội dung thường xuyên của chương trình phát sóng. Xây dựng
các chuyên mục, chuyên đề về phòng, chống HIV/AIDS, chủ động đầu tư kinh phí
cho việc xây dựng và phát sóng các chương trình về phòng, chống HIV/AIDS.
8. Các Bộ, ngành là thành viên ủy ban Quốc gia phòng, chống AỤDS và phòng,
chống tệ nạn ma túy, mại dâm, các cơ quan thuộc Chính phủ, có trách nhiệm
chủ động xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch phòng, chống HIV/AIDS
theo chức năng, nhiệm vụ được giao và theo đặc thù của Bộ, ngành mình; chủ
động đầu tư ngân sách cho công tác này.
9. Đề nghị Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng các đoàn thể chính trị xã hội tích
cực tham gia triển khai thực hiện Chiến lược này trong phạm vi hoạt động của
mình.
Điều 4. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày
đăng Công báo.
Điều 5. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ
quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này ./.
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
(đã ký)
Phan Văn Khải
[Về đầu trang
|