|
VĂN
KIỆN ĐẠI HỘI TOÀN QUỐC LẦN THỨ VI
ĐẢNG
CỘNG SẢN VIỆT NAM
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,…và các đoàn thể quần chúng, trước
hết là công đoàn, hội liên hiệp nông dân tập thể, Đoàn thành niên Cộng
sản Hồ Chí Minh và Hội liên hiệp phụ nữ, có vai trò to lớn trong việc
động viện nhân dân tham gia xây dựng, quản lý kinh tế và quản lý xã hội.
Các cấp, các ngành chính quyền phải tôn trọng các đoàn thể quần chúng và
Mặt trận, phối hợp chặt chẽ và tạo điều kiện thuận lợi để các đoàn thể
và Mặt trận hoạt động có hiệu quả thiết thực. đảng viên, cán bộ chính
quyền, bộ đội, công an hàng ngày cũng phải tự mình trực tiếp vận động
quần chúng, coi đó là một công việc tất yếu để thực hiện tốt công tác
chuyên môn của mình.
| Về đầu trang |
NGHỊ
QUYẾT HỘI NGHỊ LẦN THỨ TÁM, BAN CHẤP HÀNH
TRUNG
ƯƠNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM KHOÁ VI
(số: 8B-NQ/HNTW ngày 26/9/1989)
Đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, của
đoàn thể và tổ chức quần chúng.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò to lớn trong việc
củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Các cấp uỷ Đảng từ Trung ương đến cơ sở phải thực hiện
tốt vai trò của Đảng vừa là thành viên, vừa là người lãnh đạo của Mặt
trận, trình bày các chủ trương, chính sách của Đảng, lắng nghe ý kiến và
cùng bàn bạc, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động giữa
các thành viên của Mặt trận, động viên phong trào hành động cách mạng
rộng lớn của nhân dân.
| Về đầu trang |
CƯƠNG
LĨNH XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
… Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân
dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đoàn kết toàn dân xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc, chăm lo bảo vệ lợi ích của các đoàn viên, hội viên,
thực hiện dân chủ và đổi mới xã hội, giáo dục lý tưởng và dạo đức cách
mạng, quyền và nghĩa vụ công dân, thắt chặt mối quan hệ giữa Đảng, Nhà
nước với nhân dân.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là liên minh chính
trị của các đoàn thể nhân dân và cá nhân tiêu biểu của các giai cấp,
các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo, là cơ sở chính trị của
chính quyền nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là thành viên vừa là
người lãnh đạo Mặt trận. Mặt trận hoạt động theo phương thức hiệp thương
dân chủ, phối hợp thống nhất hành động giữa các thành viên theo chương
trình hành động chung.
…Đảng tôn trọng tính tự chủ, ủng hộ mọi hợt
động tích cực, sáng tạo và chân thành lắng nghe ý kiến đóng góp của Mặt
trận và các đoàn thể. Nhà nước hỗ trợ tạo điều kiện cho Mặt trận và các
đoàn thể hoạt động có hiệu quả.
| Về đầu trang |
VĂN KIỆN ĐẠI HỘI
ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ VII
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân cần được đổi
mới về tổ chức và hoạt động để thực sự góp phần thực hiện dân chủ xã hội,
chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân; tham gia các công
việc quản lý Nhà nước; giữ vững và tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa
Đảng và Nhà nước với nhân dân. Các đoàn thể có nhiệm vụ giáo dục chính
trị, Trung ương tưởng và đạo đức mới, động viên, phát huy tính tích cực
xã hội của các tầng lớp nhân dân, phấn đấu cho sự nghiệp thành công của
công cuộc đổi mới.
…Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò rất quan trọng
trong việc củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, Nhà nước cần thể chế hoá quyền
hạn và trách nhiệm của Mặt trận, của các đoàn thể trong việc tham gia
quản lý kinh tế, quản lý xã hội; phối hợp chặt chẽ hoạt động của các
đoàn thể với nhau và các cơ quan Nhà nước ở từng cấp.
Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân và
vì nhân dân. Quan hệ giữa Đảng với nhân dân bao giờ cũng là vấn đề có ý
nghĩa sống còn với sự nghiệp cách mạng. Nguồn sức mạnh làm nên thắng lợi
của chúng ta chính là ở chỗ Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân. Trong
điều kiện Đảng lãnh đạo chính quyền, mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân
thể hiện tập trung ở vai trò Nhà nước, vai trò Mặt trận Tổ quốc và các
đoàn thể nhân dân. Do đó chúng ta cần xúc tiến đổi mới phương thức lãnh
đạo của Đảng, đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các
đoàn thể nhân dân, nhằm phát huy tiềm lực vật chất, tinh thần và trí
tuệ của tất cả các giai cấp và tầng lớp xã hội tập hợp trong khối đại
đoàn kết dân tộc, phấn đấu vì sự nghiệp dan giàu, nước mạnh, từng bước
quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
| Về đầu trang |
NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ LẦN THỨ HAI, BAN CHẤP HÀNH
TRUNG ƯƠNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM KHOÁ VII
(Số 2-NQ-HNTW, tháng 11/1991)
…Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân ở
nước ta bao gồm rộng rãi các giai cấp, các tầng lớp, toạ thành cơ sở
chính trị, chỗ dựa vững chắc của Nhà nước, Vai trò, vị trí của Mặt trận
và các đoàn thể nhân dân ngày càng quan trọng, càng được mở rộng, với
nền dân chủ ngày càng phát triển, với nền kinh tế nhiều thành phần, với
nền văn hoá phát huy những giá trị nhân văn cao quý của dân tộc và của
nhân loại. Nhà nước phải dưa vào Mặt trận và các đoàn thể, tôn trọng và
tạo mọi điều kiện để nhân dân trực tiếp hoặc thông qua đoàn thể của
minh tham gia xây dựng, quản lý và bảo vệ Nhà nước…
…Cải cách bộ máy Nhà nước còn bao hàm một nội
dung quan trọng là tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Nhà nước với
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân. Mặt trận và các
đoàn thể nhân dân tham gia xây dựng quản lý, giám sát bảo vệ Nhà nước.
Nhà nước dựa vào Mặt trận và các đoàn thể nhân dân để phát huy quyền
làm chủ và sức mạnh có tổ chức của nhân dân. Đó cũng chính là sức mạnh
của bản thân Nhà nước.
…Trong quá trình ra quyết định và quản lý, điều
hành, Quốc hội Hội đồng nhân dân, Chính phủ và Uỷ ban hành chính các cấp
cần lằng nghe những kiến nghị của Mặt trận và các đoàn thể. Nhà nước cần
có quy chế tổ chức và cơ chế hoạt động giải quyết tốt mối quan hệ giữa
Nhà nước với Mặt trận và các đoàn thể nhân dân.
…Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình bằng
Nhà nước, bằn các Đoàn thể nhân dân, bằng các tập thể lao động và thông
qua việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân. Mặt trận Tổ quốc và
các đoàn thể nhân dân là cơ sở chính trị, chỗ dựa vựng chắc của Nhà
nước. Nhà nước tôn trọng quyền đại diện cho lợi ích chính đáng, hợp pháp
của các đoàn thể và tạo mọi điều kiện để các đoàn thể tham gia xây dựng,
quản lý, giám sát và bảo vệ Nhà nước…
| Về đầu trang |
NGHỊ QUYẾT CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀ ĐẠI
ĐOÀN KẾT DÂN TỘC VÀ TĂNG CƯỜNG MẶT
TRẬN DÂNTỘC THỐNG NHẤT
(Số 07/NQTW, ngày 17/11/1993)
…Nhiệm vụ chung của Mặt trận dân tộc thống nhất trong
giai quần hiện nay là: Phát huy truyền thống yêu nước, lòng tự hào
dân tộc, ý chí tự lực tự cường, đoàn kết mọi người Việt Nam tán thành
công cuộc đổi mới nhằm mục tiêu giữ vựng độc lập dân tộc thống nhất, chủ
quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, phấn đấu sớm thoát khỏi nghèo nàn,
lạc hậu, tiến lên dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn
minh, thực hiện di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Xây dựng
một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh,
góp phần tích cực vào sự nghiệp hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ
và tiến bộ trên thế giới”.
…1- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là liên minh
chính trị, là tổ chức liên hiệp tự nguyện của các đoàn thể nhân dân và
các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp và tầng lớp xã hội, các dân tộc,
các tôn giáo.
Mặt trận làm việc theo nguyên tắc: hiệp thương
dân chủ, hợp tác bình đẳng, đoàn kết chân thành, tôn trọng lẫn nhau,
phối hợp và thống nhất hành động giữa các thành viên theo chương trình
hành động chung.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần được củng cố và
mở rộng về tổ chức và hoạt động để thực sự là tổ chức tập hợp khối đại
đoàn kết toàn dân, nơi thể hiện nguyện vọng và ý chí của các tầng lớp
nhân dân; nơi thống nhất hành động giữa các thành viên, tham gia với
chính quyền trong việc giải quyết mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, trong
việc thực hiện dân chủ và đổi mới xã hội, chăm lo bảo vệ lợi ích chính
đáng của các tầng lớp nhân dân, tham gia xây dựng, giám sát, bảo vệ
chính quyền; tham gia quản lý xã hội, thực hiện các nhiệm vụ kinh tế,
văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng; góp phàn tăng cường mối liên hệ mật
thiết giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước.
Kiện toàn Uỷ ban Mặt trận các cấp theo hướng
tăng thêm những người tiêu biểu có tín nhiệm và năng lực trong các tầng
lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo, giới trí thức, các doanh nghiệp
Trung ương nhân v.v…Bộ máy giúp việc của Uỷ ban Mặt trận các cấp càn
được tổ chức gọn nhẹ, trọng chất lượng, thu hút được nhiều chuyên gia
giỏi vào từng lĩnh vực hoạt động của Mặt trận. Cán bộ chuyên trách Mặt
trận ở từng cấp cần được xắp xếp hợp lý, bảo đảm đủ sức hoàn thành nhiệm
vụ được giao.
Uỷ ban Mặt trận các cấp chủ trì trong việc phối
hợp chung giữa các tổ chức thành viên với chính quyền cùng cấp, trong
công tác vận động người cao tuổi, các nhân sĩ trí thức tiêu biểu, công
thương gia, những người tiêu biểu trong các dân tộc, các chức sắc tôn
giáo, người Việt Nam ở nước ngoài và thân nhân trong nước.
Mở rộng hơn nữa các hoạt động đối ngoại nhân
dân của Mặt trận.
2- Các cơ quan Nhà nước thể chế hoá trách nhiệm
và quyền hạn của Mặt trận để Mặt trận thực sự là cơ sở chính trị của
chính quyền nhân dân, nhất là tham gia quá trình bầu cử của cơ quan dân
cử, xây dựng các chính sách và đạo luật, tham gia quản lý kinh tế-xã hội,
giám sát các hoạt động của cơ quan Nhà nước, các đại biểu dân cử và cán
bộ, nhân viên Nhà nước. Các cơ quan Nhà nước phối hợp hành động với Uỷ
ban Mặt trận các cấp, thực hiện đầy đủ những điều quy định trong Hiến
pháp và pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho Mặt trận Tổ quốc và các
tổ chức thành viên hoạt động có hiệu quả.
3- Với trách nhiệm vừa là thành viên, vừa là
người lãnh đạo Mặt trận, Đảng phải thực hiện đúng vai trò tiên phong của
mình; cán bộ, Đảng viên của Đảng phải gương mẫu, chấp hành chủ trương,
chính sách và pháp luật, gắn bó mật thiết với nhân dân, thường xuyên tự
phê bình và lắng nghe ý kiến phê bình của nhân dân, của Mặt trận.
Đảng lãnh đạo Mặt trận thông qua Đảng đoàn các
tổ chức thành viên của Mặt trận. Các cấp uỷ đảng cử phó bí thư hoặc uỷ
viên thường vụ tham gia Uỷ ban Mặt trận cùng cấp và trực tiếp làm Bí thư
Đảng đoàn; đại diện cấp uỷ Đảng tham gia Uỷ ban Mặt trận trình bày các
chủ trương của Đảng và kiến nghị những vấn đề cần thiết với Mặt trận;
cùng bàn bạc dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động giữa các thành
viên; tranh thủ ý kiến của Mặt trận tham gia xây dựng chủ trương, chính
sách của đảng liên quan đến khối đại đoàn kết toàn dân. Quy định thành
nề nếp chế độ làm việc của cấp uỷ Đảng đoàn Mặt trận.
Cán bộ đảng viên cần nhân
thức rõ mối quan hệ tầm quan trọng của chính sách và công tác Mặt trận,
khắc phục những quan điểm và Trung ương tưởng không đúng, nhất là Trung
ương tưởng coi nhẹ công tác Mặt trận, thái độ kiên định hẹp hòi. Khắc
phục tình trạng bố trí cán bộ Mặt trận một cách tuỳ tiện, áp đặt, không
tương xứng với nhiệm vụ. Có chính sách thoả đáng đối với cán bộ Mặt trận.
| Về đầu trang |
NGHỊ
QUYẾT HỘI NGHỊ LẦN THỨ BA, BAN CHẤP HÀNH
TRUNG
ƯƠNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM KHOÁ VIII
(NQ03/HNTW, ngày 18/6/1997)
…Thanh tra Nhà nước cùng Mặt trận Tổ quốc, Liên đoàn lao
động các cấp cần phối hợp và có biện pháp xây dựng, củng cố thanh tra
nhân dân xã, phương, thị trấn, trường học, bệnh viện, cơ quan để thanh
tra nhân dân thực sự trở thành công cụ sắc bén của nhân dân trong việc
phát hiện, ngăn chăn, đẩy lùi tiêu cực, góp phần xây dựng Nhà nước trong
sạch, vững mạnh. Không chấp nhận tổ chức thanh tra tự phát.
6. Nghiên cứu thực hiện từng bước chế độ dân chủ trực
tiếp, trước hết ở cấp cơ sở.
a. Những quyết định quan trọng ở cấp cơ sở có quan hệ đến
đông đảo nhân dân (như chủ trương huy động sức dân để xây dựng kết cấu
hạ tầng và các công trình phúc lợi…) cần đưa các phương án khác nhau và
thông qua những hình thức phù hợp để nhân dân thảo luận và biểu quyết,
Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân chấp hành theo kết quả biểu quyết
đó.
Ở các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, kinh doanh
cần có quy chế báo cáo công khai các công việc đã làm, vấn đề sử dụng
tài sản, thu, chi, tài chính và quy định những việc phải do đại hội toàn
thể cán bộ, công nhân trong đơn vị xem xét biểu quyết.
b. Định kỳ 6 tháng và 1 năm, Hội động nhân dân và Uỷ ban
nhân dân xã, phường phải có báo cáo công khai với nhân dân về những việc
đã làm, tình hình sử dụng tài sản, tài chính, ngân sách, các khoản đóng
góp của dân, quyết toán các công trình xây dựng cơ bản.
Hàng năm HĐND và UBND có báo cáo tổng kết công tác, thông
qua những hình thức phù hợp, thông qua Mặt trận và các đoàn thể để phê
bình, tự phê bình trước nhân dân và đề nghị nhân dân nhận xét đánh giá.
c. Tổ chức và hướng dẫn các hình
thức nhân dân tự quản ở cơ sở và khu vực dân cư đối với những việc dân
tự làm hoặc Nhà nước uỷ thác cho dân làm với sự hỗ trợ của Nhà nước như:
hoà giải mâu thuẫn, tranh chấp trong nội bộ nhân dân, bài trừ tệ nạn xã
hội, bảo vệ trật tự an ninh, quản lý giáo dục những đối tượng cải tạo
tại chỗ, chăm sóc người già, gia đình chính sách, việc quản ký quỹ do
nhân dân đóng góp v.v…Nhân dân ở xã, thôn, ấp, bản cùng bàn bạc xây dựng
quy ước, hương ước về nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, về thủ tục
cưới xin, ma chay v.v…phù hợp với nếp sống mới, với truyền thống tốt đẹp
của Nhà nước.
| Về đầu trang |
VĂN
KIỆN ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ VIII
CỦA
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
… Xây dựng cơ chế để thực
hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đối với các
chủ trương chính sách lớn của Đảng và Nhà nước.
Thực hiện tốt các cơ chế làm chủ của nhân dân: Làm chủ
thông qua đại diện, là các cơ quan dân cử và các đoàn thể; làm chủ trực
tiếp bằng các hình thức nhân dân tự quản, bằng các quy ước, hương ước
tại cơ sở phù hợp với luật pháp Nhà nước.
Đảng và Nhà nước tiếp tục đổi mới phong cách, bảo đảm dân
chủ trong quá trình ra quyết định và thực hiện các quyết định.
…Thực hiện thành nề nếp việc Đảng và
Nhà nước cùng bàn bạc và tham khảo ý kiến của Mặt trận về những quyết
định, chủ trương lớn.
| Về đầu trang |
BÁO
CÁO CHÍNH TRỊ CỦA BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG TẠI ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU
TOÀN QUỐC LẦN THỨ IX
(ngày 19-4-2001)
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân
dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước;
phát huy dân chủ, nâng cao trách nhiệm công dân của hội viên, đoàn viên,
giữ gìn kỷ cương phép nước, thúc đẩy công cuộc đổi mới, thắt chặt mối
liên hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước. Nhân dân vừa thực hiện quyền
dân chủ trực tiếp vừa thực hiện quyền dân chủ thông qua đại diện là các
cơ quan Nhà nước, các đại biểu nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn
thể nhân dân. Đảng và Nhà nước xây dựng và hoàn chỉnh các quy chế để Mặt
trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân phát huy quyền làm chủ của nhân dân
tham gia phát triển kinh tế-xã hội, thực hiện “dân biết, dân bàn, dân
làm, dân kiểm tra”, qua đó tăng cường đoàn kết toàn dân, củng cố sự
nhất trí về chính trị và tinh thần trong xã hội.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành
viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí,
nguyện vọng, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân góp sức xây dựng Nhà
nước trong sạch, vững mạnh; phát huy khả năng tham gia bầu cử Quốc hội,
Hội đồng nhân dân các cấp; xây dựng chủ trương, chính sách, pháp luật,
tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thực
hiện giám sát của nhân dân đối với công tác và đạo đức, lối sống của cán
bộ, đảng viên, công chức, đại biểu dân cử và các cơ quan Nhà nước; giải
quyết những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân.
....
Tiếp tục
đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn
thể nhân dân, khắc phục tình trạng hành chính hoá, phô trương, hình thức,
quan liêu, xa dân. Thực hiện tốt Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Tổ chức
các phong trào nhân dân thi đua yêu nước, đoàn kết xây dựng cuộc sống
mới ở khu dân cư, xây dựng đời sống văn hoá, bảo đảm trật tự an toàn xã
hội, gắn liền với các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội
của cả nước, từng địa phương và địa bàn dân cư. Hướng mạnh các hoạt động
về cơ sở, cộng đồng dân cư và từng gia đình.
| Về đầu trang |
CHỈ
THỊ SỐ 17-CT/TW CỦA BAN BÍ THƯ TRUNG ƯƠNG ĐẢNG
VỀ
TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC MẶT TRẬN TỔ
QUỐC VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN MỚI
(ngày 18/04/1983)
Trong cơ chế Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ Nhà nước
quản lý, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức chính trị xã hội rộng lớn
nhất, vừa có tính liên hiệp rộng rãi, vừa có tính quần chúng sâu sắc.
Mặt trận bao gồm các đảng phái chính trị, nhân sĩ yêu nước xã hội chủ
nghĩa, đại diện chung cho quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động,
là sợi dây nối liền các tầng lớp xã hội rộng rãi với Đảng, là chỗ dựa
vững chắc của Nhà nước được xây dựng trên cơ sở liên minh công nông dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, nhiệm vụ lớn nhất của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là thực hiện tốt liên minh công nông, đoàn kết
chặt chẽ trí thức và các tầng lớp nhân dân lao động khác, đoàn kết các
dân tộc, các tôn giáo, các nhân sỹ, những người Hoa đã từ lâu sống trên
đất nước Việt Nam gắn bó với nhân dân Việt Nam, những người Việt Nam
hiện đang sống ở nước ngoài muốn góp phần xây dựng đất nước nhằm thực
hiện mục tiêu chung là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ
vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần giữ gìn hoà bình ở
Đông Nam Á và trên thế giới…/.
| Về đầu trang |
NGHỊ QUYẾT SỐ
08-NQ/TW CỦA BỘ CHÍNH TRỊ
VỀ CHÍNH SÁCH VÀ CÔNG
TÁC ĐỐI VỚI NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI
(ngày
29/11/1993)
Chính sách đại đoàn kết
mọi người Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài bắt nguồn từ truyền
thống của dân tộc Việt Nam. Cơ sở của sự đoàn kết, hoà hợp là ý thức dân
tộc và lòng yêu nước của mọi người Việt Nam, hướng vào mục tiêu độc lập
dân tộc, dân giàu nước mạnh, xã hội văn minh…
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
và các đoàn thể chính trị coi người Việt Nam ở nước ngoài và thân nhân
của họ ở trong nước là một đối tượng quan trọng trong công tác vận động
của mình…/.
| Về đầu trang |
CHỈ THỊ SỐ
30-CT/TW CỦA BAN BÍ THƯ
VỀ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT CỦA BỘ CHÍNH TRỊ “VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC VÀ
TĂNG CƯỜNG MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT”
(ngày 24/12/1993)
Tăng cường sự lãnh
đạo và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận: cấp uỷ
đảng sớm kiện toàn Đảng đoàn Mặt trận các cấp, cử Phó Bí thư hoặc Uỷ
viên thường vụ Uỷ ban Mặt trận cùng cấp và trực tiếp làm Bí thư đảng
đoàn; quán triệt nội dung cơ bản của Nghị quyết này vào nội dung văn
kiện Hội nghị đại biểu của Đảng giữa nhiệm kỳ ở từng cấp; bố trí Đảng
viên có đủ phẩm chất và năng lực chuyên trách làm công tác Mặt trận. Chỉ
đạo việc củng cố và mở rộng Uỷ ban Mặt trận các cấp theo hướng tăng tỷ
lệ những người ngoài Đảng có tín nhiệm và năng lực tiêu biểu cho các
giai tầng xã hội, các dân tộc, các tôn giáo, giới trí thức, các doanh
nghiệp tư nhân…/.
| Về đầu trang |
BÁO
CÁO CHÍNH TRỊ CỦA BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG TẠI ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU
TOÀN QUỐC LẦN THỨ IX
(ngày 19-4-2001)
...
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân
dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước;
phát huy dân chủ, nâng cao trách nhiệm công dân của hội viên, đoàn viên,
giữ gìn kỷ cương phép nước, thúc đẩy công cuộc đổi mới, thắt chặt mối
liên hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước. Nhân dân vừa thực hiện quyền
dân chủ trực tiếp vừa thực hiện quyền dân chủ thông qua đại diện là các
cơ quan Nhà nước, các đại biểu nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn
thể nhân dân. Đảng và Nhà nước xây dựng và hoàn chỉnh các quy chế để Mặt
trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân phát huy quyền làm chủ của nhân dân
tham gia phát triển kinh tế-xã hội, thực hiện “dân biết, dân bàn, dân
làm, dân kiểm tra”, qua đó tăng cường đoàn kết toàn dân, củng cố sự
nhất trí về chính trị và tinh thần trong xã hội.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành
viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí,
nguyện vọng, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân góp sức xây dựng Nhà
nước trong sạch, vững mạnh; phát huy khả năng tham gia bầu cử Quốc hội,
Hội đồng nhân dân các cấp; xây dựng chủ trương, chính sách, pháp luật,
tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thực
hiện giám sát của nhân dân đối với công tác và đạo đức, lối sống của cán
bộ, đảng viên, công chức, đại biểu dân cử và các cơ quan Nhà nước; giải
quyết những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân.
....
Tiếp tục đổi mới phương
thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân,
khắc phục tình trạng hành chính hoá, phô trương, hình thức, quan liêu,
xa dân. Thực hiện tốt Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Tổ chức các phong
trào nhân dân thi đua yêu nước, đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu
dân cư, xây dựng đời sống văn hoá, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, gắn
liền với các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của cả
nước, từng địa phương và địa bàn dân cư. Hướng mạnh các hoạt động về cơ
sở, cộng đồng dân cư và từng gia đình.
| Về đầu trang |
NGHỊ QUYẾT HỘI
NGHỊ LẦN THỨ BẢY,
BAN CHẤP HÀNH
TRUNG ƯƠNG KHOÁ IX
VỀ PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN
TỘC VÌ DÂN GIÀU, NƯỚC MẠNH, XÃ HỘI CÔNG BẰNG, DÂN CHỦ, VĂN MINH.
...
3. Mở rộng và đa dạng
hoá các hình thức tập hợp nhân dân, nâng cao vị trí, vai trò của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân trong việc thực hiện đại
đoàn kết toàn dân tộc.
- Mở rộng Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam. Đa dạng hoá các hình thức tập hợp nhân dân. Đẩy mạnh và
nâng cao chất lượng hoạt động của các đoàn thể nhân dân. Sớm ban hành
Luật về Hội quần chúng. Xây dựng các văn bản dưới luật để cụ thể hoá
những nội dung nói trên và để Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát
huy hiệu lực tốt hơn trong đời sống xã hội.
Xây dựng các cộng đồng dân cư tự quản ở các
thôn, làng, bản, ấp, tổ dân phố, hoạt động trên cơ sở hương ước, quy ước
không trái pháp luật. Chú trọng bồi dưỡng và hướng dẫn những người có uy
tín trong cộng đồng tham gia đóng góp cho phong trào chung.
Phát huy những mặt tốt của các hình thức cộng
đồng truyền thống như làng, bản, dòng họ, gia đình; đồng thời, kịp thời
uốn nắn những biểu hiện cục bộ, lệch lạc.
- Mặt trận và các đoàn thể nhân dân phối hợp
với các cơ quan Nhà nước hướng hoạt động nhiều hơn về cơ sở, đến từng hộ
dân, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, vận động và giúp
nhân dân xóa đói, giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng, hợp pháp,
xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc ở từng cộng đồng dân cư. Đi sát để
hiểu tâm tư, nguyện vọng nhân dân, phát huy, nhân rộng những sáng kiến
tích cực; vừa làm tốt chức năng tuyên truyền, giáo dục, vừa quan tâm bảo
vệ lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân.
Cử đại diện của Mặt trận và các đoàn thể nhân
dân tham gia các uỷ ban, hội đồng, ban điều hành một số dự án, chương
trình kinh tế-xã hội có quan hệ trực tiếp đến quyền lợi và trách nhiệm
của các tầng lớp nhân dân ở cơ sở. Nghiên cứu việc đại diện công đoàn
tham gia hội đồng quản trị trong các doanh nghiệp Nhà nước, các doanh
nghiệp Nhà nước cổ phần hoá mà Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối và việc
các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trích quỹ lương để tạo
kinh phí cho công đoàn hoạt động.
....
| Về đầu trang |
NGHỊ
QUYẾT HỘI NGHỊ LẦN THỨ BẢY BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG KHOÁ IX VỀ CÔNG TÁC
DÂN TỘC
....
II. CÔNG TÁC DÂN TỘC TRONG THỜI KỲ MỚI.
1. Một số quan điểm cơ bản.
- Vấn đề dân tộc và
đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản lâu dài, đồng thời cũng là
vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam.
- Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn
kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện
thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xã hội và
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Kiên quyết đấu tranh với mọi
âm mưu chia rẽ dân tộc.
- Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã
hội và an ninh-quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn
tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt
chính sách dân tộc; quan tâm phát triển bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm
lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; giữ gìn và phát huy những
giá trị, bản sắc văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số trong sự
nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất.
- Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế -xã hội các vùng dân
tộc và miền núi, trước hết, tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở
hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh
của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái; phát huy
nội lực, tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời
tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa
phương trong cả nước.
- Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là
nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân của các cấp, các ngành, của
toàn bộ hệ thống chính trị.
....
| Về đầu trang |
NGHỊ QUYẾT HỘI
NGHỊ LẦN THỨ BẢY BAN CHẤP HÀNH
TRUNG ƯƠNG KHOÁ
IX VỀ CÔNG TÁC TÔN GIÁO
....
II. QUAN ĐIỂM, CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI TÔN GIÁO.
...
2. Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn
kết toàn dân tộc.
Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết
đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo. Giữ gìn và phát
huy những giá trị tích cực truyền thốn thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những
người có công với Tổ quốc và nhân dân. Nghiêm cấm sự phân biệt đối xử
với công dân vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Đồng thời, nghiêm cấm lợi
dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái
pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia
rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia.
3. Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận
động quần chúng:
Mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh là điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các tôn giáo với sự
nghiệp chung. Mọi công dân không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo đều có
quyền và nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Công tác vận động quần chúng các tôn giáo phải động viên
đồng bào nêu cao tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất
của Tổ quốc; thông qua việc thực hiện tốt các chính sách kinh tế-xã hội,
an ninh, quốc phòng, bảo đảm lợi ích vật chất và tinh thần của nhân dân
nói chung, trong đó có đồng bào tôn giáo.
4. Công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống nhất
chính trị.
Công tác tôn giáo có liên quan đến
nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, các cấp, các ngành, các địa bàn. Làm
tốt công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị do
Đảng lãnh đạo. Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công
tác tôn giáo có trách nhiệm trực tiếp, cần được củng cố và kiện toàn.
Công tác quản lý Nhà nước đối với các tôn giáo và đấu tranh chống việc
lợi dụng tôn giáo để chống đối chế độ chỉ thành công nếu làm tốt công
tác vận động quần chúng.
| Về đầu trang |
NGHỊ QUYẾT SỐ
36-NQ/TW
NGÀY 26 - 3 -
2004 CỦA BỘ CHÍNH TRỊ
VỀ
CÔNG TÁC ĐỐI VỚI NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI
II. CHỦ TRƯƠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG CÔNG TÁC ĐỐI VỚI NGƯỜI
VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI TRONG THỜI GIAN TỚI.
....
2. Người Việt Nam ở
nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng
dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp
tác, hữu nghị giữa nước ta với các nước. Nhà nước có trách nhiệm thoả
thuận với các nước hữu quan về khuôn khổ pháp lý để đồng bào ổn định
cuộc sống và bảo vệ quyền lợi chính đáng của cộng đồng người Việt Nam ở
nước ngoài theo luật pháp, công ước và thông lệ quốc tế.
Đảng và Nhà nước mong muốn, khuyến khích người Việt Nam ở
nước ngoài hội nhập và thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp nước sở tại,
chăm lo xây dựng cuộc sống, làm ăn thành đạt, nêu cao tinh thần tự trọng
và tự hào dân tộc, giữ gìn tiếng Việt, bản sắc văn hoá và truyền thống
dân tộc Việt Nam, đoàn kết đùm bọc, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, giữ
mối quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần tăng cường quan
hệ hợp tác hữu nghị giữa nước bà con sinh sống với nước nhà, tuỳ theo
khả năng và điều kiện của mỗi người góp phần xây dựng quê hương đất nước,
chủ động đấu tranh với các biểu hiện cố tình đi ngược lại lợi ích chung
của dân tộc.
3. Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài cần mang
tính đồng bộ, kết hợp việc xây dựng cơ chế, chính sách với công tác vận
động, kết hợp các hoạt động trong nước với các hoạt động ở nước ngoài và
phải được tiến hành thông qua nhiều loại hình hoạt động và biện pháp phù
hợp với các đối tượng và địa bàn khác nhau, trên cơ sở tự nguyện và
không trái với pháp luật, phong tục tập quán của nước sở tại.
4. Công tác đối với người Việt Nam ở
nước ngoài là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị và của toàn dân.
Các tổ chức đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể
nhân dân, các ngành, các cấp từ Trung ương đến địa phương, ở trong nước
và ngoài nước và toàn dân ta cần coi đây là một nhiệm vụ quan trọng nhằm
phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc.
| Về đầu trang |
BÁO CÁO CHÍNH TRỊ CỦA BAN CHẤP HÀNH TRUNG
ƯƠNG ĐẢNG TẠI ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ IX
(ngày 19-4-2001)
...
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân
dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước;
phát huy dân chủ, nâng cao trách nhiệm công dân của hội viên, đoàn viên,
giữ gìn kỷ cương phép nước, thúc đẩy công cuộc đổi mới, thắt chặt mối
liên hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước. Nhân dân vừa thực hiện quyền
dân chủ trực tiếp vừa thực hiện quyền dân chủ thông qua đại diện là các
cơ quan Nhà nước, các đại biểu nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn
thể nhân dân. Đảng và Nhà nước xây dựng và hoàn chỉnh các quy chế để Mặt
trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân phát huy quyền làm chủ của nhân dân
tham gia phát triển kinh tế-xã hội, thực hiện “dân biết, dân bàn, dân
làm, dân kiểm tra”, qua đó tăng cường đoàn kết toàn dân, củng cố sự
nhất trí về chính trị và tinh thần trong xã hội.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành
viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí,
nguyện vọng, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân góp sức xây dựng Nhà
nước trong sạch, vững mạnh; phát huy khả năng tham gia bầu cử Quốc hội,
Hội đồng nhân dân các cấp; xây dựng chủ trương, chính sách, pháp luật,
tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thực
hiện giám sát của nhân dân đối với công tác và đạo đức, lối sống của cán
bộ, đảng viên, công chức, đại biểu dân cử và các cơ quan Nhà nước; giải
quyết những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân.
....
Tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân, khắc phục tình trạng
hành chính hoá, phô trương, hình thức, quan liêu, xa dân. Thực hiện tốt
Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Tổ chức các phong trào nhân dân thi đua
yêu nước, đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư, xây dựng đời
sống văn hoá, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, gắn liền với các chương
trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của cả nước, từng địa phương
và địa bàn dân cư. Hướng mạnh các hoạt động về cơ sở, cộng đồng dân cư
và từng gia đình.
...
| Về đầu trang |
NGHỊ QUYẾT SỐ
23 – NQ-TW HỘI NGHỊ LẦN THỨ BẢY
BAN CHẤP HÀNH
TRUNG ƯƠNG ĐẢNG (KHOÁ IX)
VỀ
PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC VÌ
“DÂN GIÀU, NƯỚC MẠNH, XÃ HỘI CÔNG BẰNG, DÂN CHỦ, VĂN MINH”
(ngày
12/03/2003)
...
3. Mở rộng và đa dạng
hoá các hình thức tập hợp nhân dân, nâng cao vị trí, vai trò của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân trong việc thực hiện đại
đoàn kết toàn dân tộc.
- Mở rộng Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam. Đa dạng hoá các hình thức tập hợp nhân dân. Đẩy mạnh và
nâng cao chất lượng hoạt động của các đoàn thể nhân dân. Sớm ban hành
Luật về Hội quần chúng. Xây dựng các văn bản dưới luật để cụ thể hoá
những nội dung nói trên và để Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát
huy hiệu lực tốt hơn trong đời sống xã hội.
Xây dựng các cộng đồng dân cư tự quản ở các
thôn, làng, bản, ấp, tổ dân phố, hoạt động trên cơ sở hương ước, quy ước
không trái pháp luật. Chú trọng bồi dưỡng và hướng dẫn những người có uy
tín trong cộng đồng tham gia đóng góp cho phong trào chung.
Phát huy những mặt tốt của các hình thức cộng
đồng truyền thống như làng, bản, dòng họ, gia đình; đồng thời, kịp thời
uốn nắn những biểu hiện cục bộ, lệch lạc.
- Mặt trận và các đoàn thể nhân dân phối hợp
với các cơ quan Nhà nước hướng hoạt động nhiều hơn về cơ sở, đến từng hộ
dân, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, vận động và giúp
nhân dân xóa đói, giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng, hợp pháp,
xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc ở từng cộng đồng dân cư. Đi sát để
hiểu tâm tư, nguyện vọng nhân dân, phát huy, nhân rộng những sáng kiến
tích cực; vừa làm tốt chức năng tuyên truyền, giáo dục, vừa quan tâm bảo
vệ lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân.
Cử đại diện của Mặt trận và các đoàn thể nhân
dân tham gia các uỷ ban, hội đồng, ban điều hành một số dự án, chương
trình kinh tế-xã hội có quan hệ trực tiếp đến quyền lợi và trách nhiệm
của các tầng lớp nhân dân ở cơ sở. Nghiên cứu việc đại diện công đoàn
tham gia hội đồng quản trị trong các doanh nghiệp Nhà nước, các doanh
nghiệp Nhà nước cổ phần hoá mà Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối và việc
các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trích quỹ lương để tạo
kinh phí cho công đoàn hoạt động.
....
| Về đầu trang |
NGHỊ QUYẾT SỐ
24 - NQ/TW HỘI NGHỊ LẦN THỨ BẢY
BAN CHẤP HÀNH
TRUNG ƯƠNG ĐẢNG (KHOÁ IX)
VỀ CÔNG TÁC DÂN TỘC
(ngày
12/03/2003)
....
II. CÔNG TÁC DÂN TỘC TRONG THỜI KỲ MỚI.
1. Một số quan điểm cơ bản.
- Vấn đề dân tộc và
đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản lâu dài, đồng thời cũng là
vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam.
- Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn
kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện
thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xã hội và
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Kiên quyết đấu tranh với mọi
âm mưu chia rẽ dân tộc.
- Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã
hội và an ninh-quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn
tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt
chính sách dân tộc; quan tâm phát triển bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm
lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; giữ gìn và phát huy những
giá trị, bản sắc văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số trong sự
nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất.
- Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế -xã hội các vùng dân
tộc và miền núi, trước hết, tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở
hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh
của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái; phát huy
nội lực, tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời
tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa
phương trong cả nước.
- Công tác dân tộc và thực hiện
chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân của
các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị.
| Về đầu trang |
NGHỊ QUYẾT SỐ
25 - NQ/TW HỘI NGHỊ LẦN THỨ BẢY
BAN CHẤP HÀNH
TRUNG ƯƠNG ĐẢNG (KHOÁ IX)
VỀ
CÔNG TÁC TÔN GIÁO
(ngày
12/03/2003)
....
II. QUAN ĐIỂM, CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI TÔN GIÁO.
...
2. Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn
kết toàn dân tộc.
Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết
đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo. Giữ gìn và phát
huy những giá trị tích cực truyền thốn thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những
người có công với Tổ quốc và nhân dân. Nghiêm cấm sự phân biệt đối xử
với công dân vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Đồng thời, nghiêm cấm lợi
dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái
pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia
rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia.
3. Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận
động quần chúng:
Mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh là điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các tôn giáo với sự
nghiệp chung. Mọi công dân không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo đều có
quyền và nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Công tác vận động quần chúng các tôn giáo phải động viên
đồng bào nêu cao tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất
của Tổ quốc; thông qua việc thực hiện tốt các chính sách kinh tế-xã hội,
an ninh, quốc phòng, bảo đảm lợi ích vật chất và tinh thần của nhân dân
nói chung, trong đó có đồng bào tôn giáo.
4. Công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống nhất
chính trị.
Công tác tôn giáo có liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời
sống xã hội, các cấp, các ngành, các địa bàn. Làm tốt công tác tôn giáo
là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo. Tổ chức
bộ máy và đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tôn giáo có trách
nhiệm trực tiếp, cần được củng cố và kiện toàn. Công tác quản lý Nhà
nước đối với các tôn giáo và đấu tranh chống việc lợi dụng tôn giáo để
chống đối chế độ chỉ thành công nếu làm tốt công tác vận động quần chúng.
....
| Về đầu trang |
NGHỊ QUYẾT SỐ
36-NQ/TW CỦA BỘ CHÍNH TRỊ
VỀ
CÔNG TÁC ĐỐI VỚI NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI
(ngày
26/03/2004)
....
II. CHỦ TRƯƠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG CÔNG TÁC ĐỐI VỚI NGƯỜI
VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI TRONG THỜI GIAN TỚI.
....
2.
Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận
không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là
nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa
nước ta với các nước. Nhà nước có trách nhiệm thoả thuận với các nước
hữu quan về khuôn khổ pháp lý để đồng bào ổn định cuộc sống và bảo vệ
quyền lợi chính đáng của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài theo luật
pháp, công ước và thông lệ quốc tế.
Đảng và Nhà nước mong muốn, khuyến khích người Việt Nam ở
nước ngoài hội nhập và thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp nước sở tại,
chăm lo xây dựng cuộc sống, làm ăn thành đạt, nêu cao tinh thần tự trọng
và tự hào dân tộc, giữ gìn tiếng Việt, bản sắc văn hoá và truyền thống
dân tộc Việt Nam, đoàn kết đùm bọc, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, giữ
mối quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần tăng cường quan
hệ hợp tác hữu nghị giữa nước bà con sinh sống với nước nhà, tuỳ theo
khả năng và điều kiện của mỗi người góp phần xây dựng quê hương đất nước,
chủ động đấu tranh với các biểu hiện cố tình đi ngược lại lợi ích chung
của dân tộc.
3. Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài cần mang
tính đồng bộ, kết hợp việc xây dựng cơ chế, chính sách với công tác vận
động, kết hợp các hoạt động trong nước với các hoạt động ở nước ngoài và
phải được tiến hành thông qua nhiều loại hình hoạt động và biện pháp phù
hợp với các đối tượng và địa bàn khác nhau, trên cơ sở tự nguyện và
không trái với pháp luật, phong tục tập quán của nước sở tại.
4. Công tác đối với người Việt Nam ở
nước ngoài là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị và của toàn dân.
Các tổ chức đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể
nhân dân, các ngành, các cấp từ Trung ương đến địa phương, ở trong nước
và ngoài nước và toàn dân ta cần coi đây là một nhiệm vụ quan trọng nhằm
phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc.
| Về đầu trang |
VĂN KIỆN ĐẠI
HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ X
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân
có vai trò quan trọng trong việc tập hợp, vận động, đoàn kết rộng rãi
các tầng lớp nhân dân; đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của nhân
dân; đưa các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các chương trình
kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh vào cuộc sống, góp phần
xây dựng sự đồng thuận trong xã hội.
Nhà nước ban hành cơ chế để Mặt trận và các đoàn thể nhân
dân thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội. Các cấp uỷ đảng
và cấp chính quyền có chế độ tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với nhân dân;
thường xuyên lắng nghe ý kiến của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân phản
ánh với Đảng và Nhà nước những vấn đề mà nhân dân quan tâm, tham gia xây
dựng chủ trương, chính sách, pháp luật. Thực hiện tốt Luật Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam, Quy chế dân chủ ở mọi cấp để Mặt trận, các đoàn thể và
các tầng lớp nhân dân tham gia xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống
chính trị.
Đổi mới nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận, các
đoàn thể nhân dân và các hội quần chúng, khắc phục tình trạng hành chính
hoá, phô trương, hình thức; làm tốt công tác dân vận theo phong cách
trọng dân, gần dân và có trách nhiệm với dân.
…
Xây dựng quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt
trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc
hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, quyết định lớn của Đảng và
việc tổ chức thực hiện, kể cả đối với công tác tổ chức và cán bộ.
Đổi mới phương thức lãnh đạo của
Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, tạo điều kiện để
Mặt trận và các đoàn thể xác định đúng mục tiêu, phương thức hoạt động;
đồng thời phát huy tinh thần tự chủ, sáng tạo trong xây dựng, đổi mới tổ
chức và hoạt động của mình.
| Về đầu trang |
TRÍCH MỘT SỐ BÀI NÓI, BÀI VIẾT CỦA
CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
VỀ
ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC VÀ CÔNG TÁC MẶT
TRẬN
Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận
quyền lãnh đạo của mình, mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất,
hoạt động nhất và chân thực nhất. Chỉ trong đấu tranh và công tác hàng
ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực
lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới dành được địa vị lãnh đạo.
(Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản sự thật HN.1989.
tập 3, trang 115)
…Mục đích phấn đấu của Mặt trận dân tộc
thống nhất là xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập
dân chủ và giàu mạnh.
…Đảng ta có chính sách Mặt trận dân tộc đúng
đắn, cho nên đã phát huy được truyền thống đoàn kết và yêu nước rất vẻ
vang của dân tộc ta.
Chính sách Mặt trận là một chính sách rất
quan trọng. Công tác Mặt trận là một công tác rất quan trọng trong toàn
bộ công tác cách mạng. Các cán bộ và Đảng viên ta cần nắm vững và chấp
hành đúng Nghị quyết của Đại hội Đảng và Nghị quyết Bộ chính trị về vấn
đề Mặt trận dân tộc thống nhất. Trong cách mạng dân tộc dân chủ Xã hội
chủ nghĩa, Mặt trận dân tộc thống nhất vẫn là một trong những lực lượng
to lớn của cách mạng Việt Nam.
(Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản sự thật
HN.1989, trang 401, tập9)
... Đồng bào Kinh, hay Thổ, Mường hay Mán,
Gia rai hay Ê đê, Xê đăng hay Ba na và các dân tộc thiểu số khác, đều là
con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau,
sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau
(Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Sự
Thật Hà Nội, 1983, t.3, tr379).
... Giang sơn và Chính phủ là Giang sơn và
Chính phủ chung của chúng ta. Vậy, nên tất cả dân tộc của chúng ta đoàn
kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta, để ủng hộ Chính phủ ta.
Chúng ta phải thương yêu nhau, phải kính
trọng nhau, phải giúp đỡ nhau để mưu toan hạnh phúc chung của chúng ta
và con cháu chúng ta.
Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng
đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt. Chúng ta quyết góp chung
lực lượng lại để giữ vững quyền tự do, độc lập của chúng ta
(Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Sự
Thật Hà Nội, 1984, t.4, tr126-139).
... Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và
rộng rãi. Năm ngón tay cũng có ngón ngắn, ngón dài. Nhưng ngắn dài đều
hợp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này
thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ,
ta phải nhận rằng đã là con lạc cháu hồng thì ai cũng có ít hay nhiều
lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình
thân ái mà cảm hoá họ. Có như thế mới thành đoàn kết, có đại đoàn kết
thì tương lai chắc chắn vẻ vang...
(Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Sự
Thật Hà Nội, 1984, t.4, tr126-139).
.... 1. Mặt trận cần có một kỷ luật tự giác
mà mỗi hội viên, đoàn thể và cá nhân đều tuân theo.
2. Mặt trận phải tiến dần dần đến thật dân
chủ, là những cơ quan chỉ đạo sẽ do quần chúng trong Mặt trận cử ra.
3. Sự hoạt động của Mặt trận nên nhằm vào
điểm chính để tránh khỏi việc gì cũng làm, nhưng ít việc làm chu đáo.
Điểm chính ấy là đẩy mạnh thi đua ái quốc.
4. Các đảng phái, đoàn thể và nhân sĩ trong
Mặt trận cần phải đoàn kết chặt chẽ, thân ái giúp đỡ lẫn nhau, thật thà
học tập những ưu điểm và phê bình những khuyết điểm của nhau để cùng
nhau tiến bộ
(Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Sự
Thật Hà Nội, 1986, t.6, tr 14-47).
Để phát triển những thuận lợi và khắc phục
những khó khăn, điều cần thiết nhất cho chúng ta là đoàn kết.
Ai cũng biết hiện nay chúng ta có hai lớp
cán bộ kháng chiến và kháng bộ khác. Nhưng chúng ta phải biết rằng nay
hai lớp ấy đều là cán bộ của chính quyền nhân dân, tức là như anh em một
nhà. Cho nên chúng ta cần phải xoá bỏ hết thành kiến, cần phải thật thà
đoàn kết với nhau, giúp đỡ lẫn nhau để cùng tiến bộ, để cùng phục vụ
nhân dân.
Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta. Đoàn kết
chặt chẽ thì chúng ta nhất định có thể khắc phục mọi khó khăn, phát
triển mọi thuận lợi mà làm tròn nhiệm vụ nhân dân giao phó cho chúng ta.
(Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Sự
Thật Hà Nội, 1986, t.7, tr 75,310).
.... Chắc mọi người đã thấy rõ, chính sách
Mặt trận dân tộc thống nhất của Đảng ta đã đưa lại những thắng lợi to
lớn:
Đoàn kết trong Mặt trận Việt minh, nhân dân
ta đã làm Cách mạng tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam dân chủ
cộng hoà.
Đoàn kết trong Mặt trận Liên Việt, nhân dân
ta đã kháng chiến thắng lợi, lập lại hoà bình ở Đông Dương, hoàn toàn
giải phóng miền Bắc.
Đoàn kết trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
nhân dân ta đã giành được thắng lợi trong công cuộc khôi phục kinh tế,
cải tạo xã hội chủ nghĩa và trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
miền Bắc.
Mục đích phấn đấu của Mặt trận dân tộc thống
nhất là xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân
chủ và giầu mạnh.
Cương lĩnh của Mặt trận là nhằm xây dựng
miền Bắc vững mạnh, dần dần nâng cao đời sống của nhân dân, bằng cách
phát triển công nghiệp, nông nghiệp, văn hoá, khoa học. Nó nhằm đoàn kết
toàn dân, một lòng một dạ, kề vai sát cánh, cùng nhau phấn đấu thực hiện
hoà bình thống nhất nước nhà.
Bất kỳ ai, dù quá khứ của họ thế nào, miễn
là ngày nay họ thật lòng ủng hộ công cuộc xây dựng miền Bắc và đấu tranh
thống nhất nước nhà, thì chúng ta đoàn kết với họ.
Chủ nghĩa Mác-Lê Nin dạy chúng ta rằng: muốn
làm cách mạng thắng lợi thì phải phân biệt rõ ai là bạn ai là thù, phải
thực hiện thêm bầu bạn, bớt kẻ thù. Mọi người yêu nước và tiến bộ là bạn
của ta. Đế quốc Mỹ, bọn tay sai của Mỹ, bọn phản cách mạng là kẻ thù của
ta.
Để làm tròn trách nhiệm lãnh đạo cách mạng,
Đảng ta phải dựa vào giai cấp công nhân, lấy liên minh công nông làm nền
tảng vững chắc để đoàn kết các tầng lớp khác trong nhân dân. Có như thế
mới phát triển và củng cố được lực lượng cách mạng và đưa cách mạng đến
thắng lợi cuối cùng.
Đảng ta có chính sách Mặt trận dân tộc đúng
đắn, cho nên đã phát huy được truyền thống đoàn kết và yêu nước rất vẻ
vang của dân tộc ta.
Chính sách Mặt trận là một chính sách rất
quan trọng. Công tác Mặt trận là một công tác rất quan trọng trong toàn
bộ công tác cách mạng. Các cán bộ và đảng viên ta cần nắm vững và chấp
hành đúng Nghị quyết của Đại hội Đảng và Nghị quyết Bộ Chính trị về vấn
đề Mặt trận dân tộc thống nhất. Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Mặt trận dân tộc thống nhất
vẫn là một trong những lực lượng to lớn của cách mạng Việt Nam.
Chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ các tầng lớp
nhân dân, động viên lực lượng của nhân dân, để phấn đấu hoàn thành sự
nghiệp công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và đáu tranh thực
hiện hoà bình thống nhất nước nhà.
Phải đoàn kết tốt các đảng phái, các đoàn
thể, các nhân sĩ trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thực hiện hợp tác lâu
dài, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau tiến bộ.
Phải đoàn kết các dân tộc anh em, cùng nhau
xây dựng Tổ quốc. Phải ra sức làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, vùng
cao tiến kịp vùng thấp. Giữa nông trường và đồng bào địa phương, giữa
đồng bào ở đồng bằng đến vỡ hoang và đồng bào miền núi, cần phải đoàn
kết chặt chẽ, thương yêu lẫn nhau.
Phải đoàn kết chặt chẽ giữa đồng bào lương
và đồng bào các tôn giáo, cùng nhau xây dựng đời sống hoà thuận ấm no,
xây dựng Tổ quốc. Phải chấp hành đúng chính sách tôn trọng tự do tín
ngưỡng đối với tất cả các tôn giáo.
...
Muốn làm tốt những việc nói trên, cán bộ và
đảng viên:
- Phải thông suốt và thực hiện đúng chính
sách của Đảng và Chính phủ, đồng thời phải giải thích cho mọi người hiểu
thật thấu và làm cho đúng.
- Phải đi đường lối quần chúng, không được
quan liêu, mệnh lệnh và gò ép nhân dân. Nhiệm vụ của chính quyền dân chủ
là phục vụ nhân dân; tổ chức, giáo dục, động viên nhân dân xây dựng cuộc
sống mới. Chúng ta cần phải thật sự dân chủ với nhân dân và, chuyên
chính với bọn phản cách mạng bọn phá hoại lợi ích của nhân dân.
- Phải thành thực lắng nghe ý kiến của người
ngoài Đảng, cán bộ và đảng viên không được tự cao tự đại, cho mình là
tài giỏi hơn mọi người; trái lại phải học hỏi điều hay điều tốt của mọi
người.
- Cán bộ làm công tác Mặt trận phải tích cực
và phải chủ động giúp cấp uỷ Đảng lãnh đạo công tác Mặt trận, phổ biến
và thực hiện chính sách của Đảng về Mặt trận; làm việc phải kiên nhẫn,
phải tha thiết với công tác Mặt trận
(Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Sự
Thật Hà Nội, 1989, t.9, tr 401).
Về đầu trang
|