|
|
|
TOÀN DÂN THAM GIA BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG |
|
Một số kết quả thực hiện chiến lược bảo vệ môi trường Quốc
gia.. |
|
Đôi điều về môi trường và công tác bảo vệ môi trường ở
Việt Nam |
Đôi điều về môi trường và công tác bảo vệ môi trường ở
Việt Nam |
|
MỘT SỐ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
QUỐC GIA CỦA UỶ BAN TRUNG ƯƠNG MTTQ VIỆT NAM
LÊ BÁ TRÌNH
UỶ VIÊN TT UỶ BAN TƯMTTQ VIỆT NAM
Từ năm 2003, sau khi Chiến luợc bảo vệ môi trường quốc
gia được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, nội dung bảo vệ
môi trường được Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam xác định
là một trong 6 nội dung quan trọng của cuộc vận động
Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư
và từng bước triển khai
thực
hiện trong hệ thống Mặt trận các cấp từ Trung ương đến
cơ sở.
Ngày 28/10/2004, Ban Thường
trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Bộ
Tài nguyên - Môi trường tiến hành ký kết Nghị quyết liên
tịch số 01 Về việc phối hợp thực hiện Chiến lược Bảo
vệ môi trường quốc gia. Nghị quyết liên tịch này
được triển khai thực hiện thành nề nếp và ngày càng hiệu
quả ở cấp Trung ương.
ở cấp địa phương, đến nay đã có 40 tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương tiến hành ký kết và thực hiện các
chương trình phối hợp thực hiện Chiến lược Bảo vệ môi
trường quốc gia giữa Ban Thường trực UBMTTQVN các tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương và sở Tài nguyên - Môi
trường cùng cấp.
Trong thời gian qua, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam đã mở 6 lớp tập huấn nâng cao
nhận thức về môi trường và bồi dưỡng nghiệp vụ tuyên
truyền, vận động, giám sát thực hiện bảo vệ môi trường
cho cán bộ chủ chốt của Mặt trận các cấp trong cả nước.
Đến nay, đã hoàn thành việc tập huấn về môi trường cho
cán bộ chủ chốt của Mặt trận cấp tỉnh. Bên cạnh đó, đã
mở 02 lớp tập huấn tại Hà Nội và Tiền Giang về công tác
tuyên truyền, vận động và giám sát nhiệm vụ bảo vệ môi
trường cho các cán bộ chuyên môn của các Ban: Dân chủ
pháp luật, Phong trào, Tôn giáo dân tộc của Mặt trận
64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Trong năm 2006
đã mở 03 lớp tập huấn nhiệm vụ bảo vệ môi trường cho cán
bộ chủ chốt của Mặt trận cấp huyện và cấp xã, đại diện
đồn biên phòng trên địa bàn các xã của 21 tỉnh có đường
biên giới chung với Trung Quốc, Lào, Campuchia với số
lượng 800 học viên .
Thông qua các lớp huấn luyện và bồi dưỡng nghiệp vụ nói trên,
đội ngũ cán bộ của Mặt trận đã được trang bị những kiến
thức cơ bản, có hệ thống về chủ trương, chính sách,
pháp luật của Đảng và Nhà nước về nhiệm vụ bảo vệ môi
trường cũng như các kỹ năng, nghiệp vụ của công tác
tuyên truyền, vận động, giám sát bảo vệ môi trường ở cơ
sở, địa bàn dân cư.
Ban Thường trực Uỷ ban TƯMTTQ Việt Nam đã chỉ đạo mở các
chuyên mục về bảo vệ môi trường trên các phương tiện
thông tin của hệ thống Mặt trận như: Chuyên mục Môi
trường quanh ta trên báo Đại đoàn kết, chuyên
mục Toàn dân tham gia bảo vệ môi trường trên Thông
tin Công tác Mặt trận, Tạp chí Mặt trận được tiến hành
thường xuyên, đồng thời phối hợp với Đài truyền hình
Việt Nam xây dựng các phóng sự về toàn dân tham gia bảo
vệ môi trường phát trong Chương trình Đại đoàn kết; Tổ
chức biên soạn tài liệu Sổ tay Bảo vệ môi trường
cho cán bộ Mặt trận ở cơ sở, sau khi hoàn thành sẽ phát
hành đến Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư.
Vào dịp kỷ niệm Ngày Môi trường thế giới (5/6) hàng năm, Ban
Thường trực Uỷ Ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
có thông tri hướng dẫn Uỷ ban MTTQ các tỉnh, thành phố
trên toàn quốc tổ chức các hoạt động như mít - tinh kỷ
niệm; hưởng ứng phong trào Toàn dân tham gia bảo vệ
môi trường bằng các hoạt động làm vệ sinh đường làng
ngõ xóm, các khu vực công cộng; trồng và chăm sóc cây
xanh; trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc, xây
dựng các công trình vệ sinh. Để động viên các địa phương
thực hiện công việc này, Ban TT UBTUMTTQVN đã triển
khai thí điểm ở một số địa phưong như: mớt tinh hưởng
ứng Ngày môi trường thế giới tại trụ sở UBTƯMTTQVN; phối
hợp với cấp uỷ Đảng, chính quyền, Mặt trận tổ chức mit -
tinh ở một số tỉnh như: T.p Hà Nội, Thừa Thiên Huế, Bắc
Giang, Lâm Đồng.
Trong năm 2007, Ủy ban TƯMTTQVN tập trung công tác truyền
thông nâng cao nhận thức và trách nhiệm bảo vệ môi
trường cho nhân dân ở các vùng dân tộc thiểu số, vùng có
đông đồng bào là tín đồ các tôn giáo. Thông qua các vị
chức sắc tôn giáo, các vị gìa làng, trưởng bản, những
người có uy tín trong cộng đồng để chuyển tải những chủ
trương, chính sách của Đảng, những quy định pháp luật
của Nhà nước và nội dung vận động, giám sát của Mặt trận
về bảo vệ môi trường các tầng lớp nhân dân ở các địa bàn
dân cư này.
Trong năm 2006, Ban Thường trực Ủy ban TƯ MTTQVN đã triển
khai xây dựng 20 mô hình thí điểm (mỗi mô hình là một
khu dân cư) lồng ghép nhiệm vụ bảo vệ môi trường vào
Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống
văn hoá ở khu dân cư" tại 10 tỉnh, thành phố trong
toàn quốc, gồm có: Quảng Ninh, Lai Châu, Nghệ An, Thừa
Thiên - Huế, Bình Định, Bình Thuận, Kon Tum, Lâm Đồng,
TP. Hồ Chí Minh, Trà Vinh. Sau khi tổng kết các mô hình
thí điểm sẽ tiến hành nhân rộng việc cụ thể hoá lồng
ghép nhiệm vụ bảo vệ môi trường vào Cuộc vận động "Toàn
dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư".
Cùng với những việc làm có tính chất đặt cơ sở cho việc thực
hiện Chương trình Toàn dân tham gia bảo vệ môi trường
trong Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia, Ban TT
UBTƯMTTQVN đã chỉ đạo xây dựng đề án khung chiến
lược của chương trình Toàn dân tham gia bảo vệ môi
trường, trong đó phân công công việc cụ thể của
UBMTTQVN và các tổ chức thành viên của Mặt trận để trình
cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Huy động các ban, đơn vị
chuyên môn của cơ quan Uỷ ban Trung ưong Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam thực hiện các chuyên đề nghiên cứu, điều
tra, khảo sát thực tiễn về nội dung tự quản bảo vệ môi
trường ở các khu dân cư, làm cơ sở thực tiễn cho việcc
tổ chức thực hiện Chương trình Toàn dân tham gia bảo
vệ môi trường và những nội dung xã hội hoá nhiệm vụ
bảo vệ môi trường được ghi trong Luật Bảo vệ môi trường
và trong Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia.
Qua hon 3 năm thực hiện Chiến lược bảo vệ môi trường quốc
gia, có thể khẳng định rằng, cùng với các nhiệm vụ chính
trị khác, Mặt trận các cấp và các tổ chức thành viên đã
thể hiện vai trò, trách nhiệm của mình cùng với hệ thống
chính trị đã từng bước thực hiện có hiệu quả các nội
dung, nhiệm vụ được quy định trong Chiến lược, cụ thể:
Thứ nhất,
đã góp phần từng bước tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ về
nhận thức và hành động của người dân và cộng đồng xã hội
về nhiệm vụ bảo vệ môi trường. Thông qua hoạt động tích
cực của Ban Công tác Mặt trận và các tổ tự quản bảo vệ
môi trường ở khu dân cư đã giúp định hướng nhận thức và
tạo sự quan tâm, chú ý của người dân đến việc bảo vệ môi
trường ở nơi sinh sống, trong việc tổ chức cuộc sống gia
đình hằng ngày và những hoạt động sản xuất, kinh doanh,
chăn nuôi, trồng trọt, đặc biệt là những vùng dân cư có
đông đồng bào là tín đồ các tôn giáo, đồng bào dân tộc
thiểu số.
Thứ hai,
thông qua các hoạt động tuyên truyền, vận động, giám sát
của Mặt trận các cấp đã phát huy quyền làm chủ, nâng cao
tính tích cực, chủ động của người dân trong việc tham
gia thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nước cũng như xây dựng các quy ước, hương
ước của cộng đồng dân cư trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường;
xây dựng ý thức trách nhiệm, tự giác trong bảo vệ môi trường và sống thân
thiện, hài hoà với môi trường; sử dụng tiết kiệm, có
hiệu quả các nguồn tài nguyên, thiên nhiên ở cộng đồng
dân cư.
Thứ ba,
góp phần phát huy và tăng cường sự thống nhất hành động
giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên,
sự phối hợp ngày càng hiệu quả giữa ngành chuyên môn với
Mặt trận và các tổ chức thành viên trong việc huy động
toàn xã hội tham gia thực hiện Chiến lược bảo vệ môi
trường quốc gia.
Bảo vệ môi trường là một trong những nội
dung quan trọng của cuộc vận độngng Toàn dân đoàn kết
xây
dựng đời sống văm hoá
ở khu dân cư nhưng
đội ngũ cán bộ hoạt động chuyên trách về công tác tuyên
truyền, vận động, giám sát thực hiện bảo vệ môi trường ở
các cấp Mặt trận chưa có mà phải kiêm nhiệm với nhiều
nhiệm vụ khác nên dù đã được tập huấn hàng năm nhưng vẫn
chưa sâu về nghiệp vụ, hoạt động chưa đều tay. Phương
tiện phục vụ cho công tác tuyên truyền còn nhiều
thiếu
thốn. Chế độ, chính
sách cho cán bộ Mặt trận cấp cơ sở còn nhiều bất
cập. Điều này thể
hiện rõ nhất ở những cơ sở, khu dân cư được chọn làm thí
điểm triển khai các mô hình, do có đầu tư ban đầu về
nguồn lực nên cán bộ triển khai công việc rất hiệu quả
nhưng khi triển khai ra diện rộng thì còn gặp nhiều khó
khăn về nguồn lực con người và các điều kiện khác. Vì
vậy, cần có sự quan tâm kiểm tra, chỉ đạo, hướng dẫn,
giúp đỡ nhiều hơn của các cấp lãnh đạo
³
[Về đầu trang]
|
ĐÔI ĐIỀU VỀ MÔI TRƯỜNG
VÀ
CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
Chúng
ta đều biết đối tượng, phạm vi của môi trường bao gồm
các thành tố chính: yếu tố tự nhiên, vật chất nhân tạo,
con người và xã hội tác động, quan hệ lẫn nhau. Đó là
tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự
sinh sống, sản xuất của con người như tài nguyên thiên
nhiên (TNTN), không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan,
quan hệ xã hội. Môi trường là tất cả những gì có xung
quanh con người; duy trì cuộc sống, sự phát triển của
con người và xã hội loài người.
Bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ
cho môi trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện môi
trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục
các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho
mô i trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm
TNTN. Nhiệm vụ của công tác BVMT là quản lý và bảo vệ
chất lượng các thành phần môi trường sống của con người
và sinh vật trên trái đất.
So sánh với nhiều nước trong khu vực và
thế giới, Việt
Nam
là một trong những quốc gia sớm hưởng ứng kêu gọi của
cộng đồng quốc tế bằng những hoạt động cụ thể. Sự kiện
đầu tiên đáng ghi nhớ, ngay trong năm 1972 diễn ra Hội
nghị LHQ về Môi trường Con Người, Stockholm-Thuỵ Điển,
cả dân tộc ta đang dốc sức cho cuộc chiến tranh Giải
phóng Dân tộc, thống nhất đất nước, Chính phủ nước Việt
Nam dân chủ cộng hoà đã ban hành Pháp lệnh Bảo vệ Rừng
và thành lập lực lượng Kiểm lâm Nhân dân. Công trình
thủy điện Hoà Bình được coi là công trình thế kỷ, năm
1973 đã xem xét một số vấn đề liên quan đến môi trường.
Đối chiếu với những quan niệm, nhận thức
sau này và ngược dòng thời gian xem xét có thể thấy
nhiều ý tưởng nội dung về BVMT theo quan điểm Phát triển
bền vững (PTBV) đã được thể hiện trong chủ trương chính
sách của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay sau
khi giành được chính quyền. Hơn thế nữa những ý tưởng,
nội dung đó còn hiện hữu qua nhiều phong trào, cuộc vận
động diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm
cùng với các cuộc vận động giữ gìn vệ sinh, phòng ngừa
bệnh tật, xây dựng đời sống mới v.v... được phát động
ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công được mở ra và
duy trì phát triển bằng các phong trào thi đua yêu nước
diễn ra liên tục, sôi nổi qua các thời kỳ cách mạng.
Sau ngày thống nhất đất nước cho đến nay
trước thời kỳ đổi mới hoạt động BVMT được triển khai
nhiều hơn và từng bước tiếp cận với những nội dung,
phương pháp của Cộng đồng quốc tế. Ngay trong năm Đảng
chính thức khởi xướng, phát động công cuộc đổi mới
(1986) thì cũng là năm bắt tay khởi thảo và đến năm 1991
chính thức triển khai Kế hoạch BVMTQG (1991-2000). Để
nhận diện, nhận dạng về tính cấp thiết phải BVMT ở nước
ta chưa tính đến hậu quả của chiến tranh, của hơn một
thập kỷ sử dụng, quản lý môi trường TNTN theo cơ chế tập
trung quan liêu chỉ sau thập kỷ đổi mới đưa đất nước
thoát ra cuộc khủng hoảng KT-XH, bắt đầu vào thời kỳ
CNH-HĐH đất nước, Đại hội Đảng toàn quốc lần VIII đã
nhận định hiện trạng môi trường nước ta nêu rõ: tình
trạng ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường sinh thái,
huỷ hoại tài nguyên ngày càng tăng; mức độ ô nhiễm và
huỷ hoại về môi trường, môi sinh rất đáng lo ngại. Đại
hội khẳng định quyết tâm ngăn chặn tình trạng ô nhiễm
môi trường và đề ra chủ trương, phương hướng cơ bản các
công tác BVMT. Tiếp theo là Chỉ thị của Bộ Chính trị (BCT)
36CT/TW (ngày 25-6-1998) cụ thể hoá công tác BVMT trong
thời kỳ CNH-HĐH đất nước. Năm 2000 Nhà nước đã xây dựng,
thực hiện Chiến lược BVMTQG (2001-2010) và tiếp theo đã
Định hướng Chiến lược để tiến tới PTBV là CTNS 21 của
Việt
Nam cụ thể hoá cam kết với Cộng đồng quốc tế. Hệ thống
các văn kiện nói trên cùng với Luật BVMT và hàng loạt
văn bản quy phạm pháp luật Công ước các Chương trình, kế
hoạch, chiến lược môi trường trên từng lĩnh vực KT-XH
hình thành về cơ bản đường lối, chủ trương, chính sách,
pháp luật về BVMT & PTBV ở Việt Nam.
Chỉ thị số 36CT/TW của BCT khẳng định
hoạt động BVMT của nước ta đạt được những kết quả bước
đầu, đã xuất hiện nhiều gương người tốt, việc tốt về
BVMT. Kết quả chuyển biến biểu hiện trên 5 mặt sau:
+ Nhận thức và ý thức trách nhiệm của
toàn xã hội về BVMT đã có chuyển biến tích cực so với
trước đây. Người dân có ý thức hơn đối với việc BVMT
sống xung quanh và ý thức đó đang dần trở thành thói
quen, nếp sống tốt.
+ Hoạt động giáo dục tuyên truyền, nâng
cao nhận thức về BVMT đạt được những kết quả nhất định
và đã bắt đầu được đưa vào hệ thống giáo dục quốc dân.
+ Lãnh đạo nhiều bộ, ngành, địa phương
đã quan tâm hơn đến công tác BVMT trong các hoạt động
phát triển KT-XH, thấy rõ trách nhiệm của mình, điều
chỉnh các nhận thức lệch lạc và càng ngày càng có nhận
thức đúng hơn về quan điểm PTBV.
+ Nhận thức của các doanh nghiệp về sản
xuất sạch, về công nghệ không gây ô nhiễm môi trường đã
được nâng lên.
+ Công tác BVMT góp phần PTBV đất nước,
nâng cao chất lượng cuộc sống đang được sự quan tâm của
đông đảo nhân dân. Nhiều đội tình nguyện hành động vì
môi trường ra đời. Nhiều phong trào quần chúng được phát
triển rộng khắp.
Chúng ta đã thiết lập được thể chế,
chính sách BVMT như: hệ thống quản lý; hệ thống luật
pháp, chính sách và kế hoạch quốc gia về BVMT. Bước đầu
đã hình thành công tác quản lý chất thải rắn, chất thải
nguy hại; quản lý ô nhiễm công nghiệp đô thị và khả năng
phòng ngừa ứng cứu sự cố môi trường có nhiều chuyển biến.
Báo cáo hiện trạng môi trường trong quá trình lập kế
hoạch phát triển KT-XH và đầu tư BVMT ngày càng được chú
trọng.
Liên tục từ năm 1991 đến nay nước ta
thuộc hàng ngũ các nước có nền kinh tế tăng trưởng nhanh
trên thế giới. Những chuyển biến, tiến bộ về cơ cấu kinh
tế, đô thị hoá, thu hút đầu tư nước ngoài, sắp xếp lại
doanh nghiệp Nhà nước và xây dựng các thể chế, chính
sách kinh tế đảm bảo sự phát triển KT-XH đang phát huy
tác dụng. Công tác XĐGN, thực hiện chính sách dân số,
chính sách sở hữu tài nguyên, thay đổi mẫu hình tiêu thụ
đặc biệt về sự phát triển con người được cải thiện đáng
kể³
KINH BẮC
[Về đầu trang]
|
MỐI
HIỂM HOẠ MÔI TRƯỜNG VÀ CUỘC SỐNG NHÂN LOẠI
Cho đến nay nhân loại chưa biết đến một chất thải nào do
chính con người tạo ra lại gây hiểm hoạ đến môi trường
và cuộc sống nhân loại hơn Prô-lu-si-on. Đây là chất thu
được bằng cách dùng nơ-tơ-ron chiếu xạ vào Uraniom.
Chúng ta biết Uranion 238 nếu được hấp thu thêm nơ-tơ-ron sẽ
trở thành Prô-lu-si-on 238. Nếu Uranion được lấy từ chất
U-ran có trong các quặng mỏ thiên nhiên thì Prô-lu-si-on
được chế tạo từ những năm 40 của thế kỷ trong cuộc chạy
đua vũ khí nguyên tử. Cho đến nay trên toàn thế giới có
khoảng 1.100 tấn Prô-lu-si-on dưới dạng vũ khí hoặc dưới
dạng "mục đích quân sự". Chúng ta biết chỉ cần 2 kg
Prô-lu-si-on khi phát nổ có thể phá huỷ cả một thành phố.
Cứ 5 kg Prô-lu-si-on tương đương với 2.000 tấn thuốc nổ
T.N.T và chỉ cần sống trong môi trường nhiễm xạ
Prô-lu-si-on 5 giây bất cứ ai đều sẽ bị ung thư. Hơn nữa
Prô-lu-si-on là một chất rất khó lưu trữ, bảo quản, việc
loại bỏ nó lại càng khó hơn. Prô-lu-si-on đủ được lưu
trữ, bảo quản cách nào cũng luôn bị phân huỷ thành những
chất phóng xạ huỷ hoại môi trường. Còn những vụ "rò rỉ"
hạt nhân ở các nhà máy điện nguyên tử hay những tai nạn
như Trec-nô-bưn thì những tác hại với môi sinh là không
thể tính đếm được trong vòng dăm bảy chục năm.
Hiện
nay các nước Anh, Pháp, Nhật vẫn còn sản xuất
Prô-lu-si-on dưới dạng xử lý chất thải hạt nhân trong
các lò phản ứng. Khi dùng Prô-lu-si-on trong các nhà máy
điện nguyên tử người ta lầm tưởng sẽ giúp cho nhân loại
trong tương lai vì sợ nguồn dự trữ Uraniom sẽ cạn dần.
Theo lý thuyết nếu dùng Prô-lu-si-on có thể tăng gấp 70
lần số lượng nguyên liệu hạt nhân. Theo dự đoán trước
đây dự trữ Uraniom trên toàn thế giới sử dụng được 60
năm. Nhưng nếu chuyển thành Prô-lu-si-on có thể dùng
được 4.200 năm. Ngày nay người ta đã nhận ra rằng nguồn
trữ lượng dầu mỏ của nhân loại còn lâu mới hết mà chất
Uranion cũng còn rất nhiều. Hơn nữa sử dụng Prô-lu-si-on
trong các nhà máy điện hạt nhân hoá ra tốn kém hơn rất
nhiều so với các kỹ thuật khác, thật là lợi bất
cấp hại. Còn mối thảm hoạ của Prô-lu-si-on và
các chất thải phóng xạ thì đã trông thấy nhỡn tiền. Theo
hiệp ước giải trừ vũ khí hạt nhân chiến lược với việc
tháo gỡ các đầu đạn hạt nhân của Liên Xô (cũ) và Mỹ
trong vòng 10 năm tới thế giới sẽ có dư thêm 200 tấn
Prô-lu-si-on cần bảo quản hoặc xử lý thật an toàn. Để
loại bỏ nó, hiện nay người ta có các phương án: -Trộn
lẫn với Uanion rồi đốt trong các nhà máy điện hạt nhân;
- Đưa sâu xuống lòng đất rồi cho phá nổ; - Phóng vào
không gian vũ trụ.
Tuy vậy tất cả các phương án này đều có những tác hại không
thể lường trước được. Sẽ là nguy hiểm hơn nữa nếu nó
được bí mật đưa sang các nước thứ 3, các nước chậm phát
triển dưới bất kỳ dạng nào. Con người đang đứng trước
nguy cơ huỷ hoại môi trường và cuộc sống mà mối hiểm hoạ
lại do chính con người tạo ra. Rõ ràng, việc quản lý và
chế ngự Prô-lu-si-on đang làm đau đầu các nhà bác học,
các nhà quản lý và tất cả chúng ta đều phải có trách
nhiệm
³
NGUYỄN THỊ KIM LAN
[Về đầu trang]
|
|
|
|