|
|
 |
|
|
TIN MỚI :
thông tin được cập nhật liên tục
| |
|
|
 |
|
|
SỐ
86 (
8 - 2010 ) |
|
|
|
 |
|
TOÀN DÂN THAM GIA BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ CHÍNH
SÁCH DÂN SỐ KHHGĐ |
|
Thành phố Hồ
Chí Minh thực hiện chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia
Vận động nhân
dân bảo vệ đa dạng sinh học, vườn quốc gia Phong Nha...
Nỗ lực bảo vệ
môi trường vịnh biển Nha Trang
Công tác dân
số kế hoạch hoá gia đình với sự phát triển đất nước
Kết quả hoạt
động trung tâm Dân số - KHHGĐ huyện Quỳ Hợp
Xóm Sợi dưới
đi lên nhờ công tác Dân số- KHHGĐ
|
|
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA
Thực hiện chỉ đạo của Bộ Tài
nguyên và Môi trường và Uỷ ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Sở
Tài nguyên và môi trường đã ban hành kế hoạch liên tịch với Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc Thành phố và chỉ đạo cho các Phòng Tài nguyên và
Môi trường của 24 Quận huyện phối hợp với Mặt trận Tổ quốc tại địa
phương lập kế hoạch và tổ chức các hoạt động tại các cấp cơ sở, phù
hợp với điều kiện từng địa phương.
Trong công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng
về bảo vệ môi trường, Thành phố đã tổ chức các đợt tập huấn
và tuyên truyền các kiến thức cơ bản về môi trường; Luật Bảo vệ môi
trường; ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường đến sức khỏe cộng đồng; ô
nhiễm trong nhà, chương trình phân loại rác tại nguồn... cho lực
lượng nòng cốt, Ban điều hành, Ban công tác Mặt trận, các thành viên
của Tổ Tự quản BVMT ở Khu dân cư tại các Quận: 3, 4, 5, 6, 8, 10 Tân
Phú, Thủ Đức, Bình Chánh và hướng dẫn các kỹ năng tuyên truyền để
lực lượng này sẽ tiếp tục triển khai tại địa phương. Tổ chức khảo
sát lấy ý kiến đại diện người dân và cán bộ Mặt trận các cấp cơ sở
trong việc góp ý cho tiêu chí, quy ước và cam kết bảo vệ môi trường
tại khu dân cư; tổ chức Hội thảo về các giải pháp triển khai thực
hiện tiêu chí BVMT ở địa bàn dân cư. Hội thảo đã đưa ra rất nhiều ý
kiến nhằm tìm giải pháp tốt nhất để người dân tham gia vào công tác
bảo vệ môi trường và góp phần đưa tiêu chí, quy ước, cam kết BVMT
gần gũi và thiết thực hơn với đời sống của người dân. Tổ chức triển
khai Hội thi Môi trường cấp thành phố cho các đối tượng: tuyên
truyền viên về bảo vệ môi trường của các Đoàn thể, Ban công tác Mặt
trận, Ban Điều hành Khu phố, ấp, Tổ dân phố, Tổ nhân dân và người
dân quan tâm đến công tác bảo vệ môi trường trên toàn địa bàn thành
phố với mục đích phổ biến các kiến thức về bảo vệ môi trường trong
đời sống hàng ngày, trong lao động sản xuất, góp phần nâng cao hiệu
quả của công tác bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó Thành phố tạo diễn
đàn cho cộng đồng toàn thành phố cùng tham gia đóng góp ý kiến và đề
xuất các giải pháp trong công tác bảo vệ môi trường tại địa phương.
Tổ chức triển khai phong trào "Toàn dân hành động vì đường phố không
rác" và các hoạt động hưởng ứng Năm thực hiện nếp sống văn minh đô
thị của thành phố (2008-2009), tổ chức đi bộ hưởng ứng phong trào
với hơn 6.000 người tham gia và xây dựng các mô hình điểm cấp thành
phố. Đó là, Quận 1: văn minh - sạch - đẹp; Quận 6: cửa nhà không rác,
thu gom đúng giờ; Quận 8: phường không rác; Quận Bình Thạnh: chung
sức vì kênh rạch xanh; Huyện Hóc Môn: xác định điểm nóng, xử lý tồn
đọng; xây dựng mô hình khu phố không rác dựa vào cộng đồng tại 26
khu dân cư điểm cấp thành phố.
Định kỳ và thông qua các cuộc họp của các giới, các Khu
dân cư, Tổ dân phố, Tổ nhân dân và qua ngày hội Đại đoàn kết toàn
dân tộc ở khu dân cư, Chi cục Bảo vệ môi trường đã phối hợp với hệ
thống Mặt trận, các Đoàn thể thành viên tại quận, huyện tổ chức được
4.000 cuộc tuyên truyền, phổ biến trong cán bộ, công chức, đoàn viên,
hội viên, hộ gia đình và cán bộ, công nhân, học sinh trong các cơ
quan, đơn vị, xí nghiệp, trường học, các khu chế xuất, khu công
nghiệp, với trên 500.000 lượt người tham dự về các nội dung trọng
tâm của các chủ trương của Đảng, Nhà nước, trong đó tập trung vào
các nội dung thiết thực của Luật Bảo vệ môi trường; Nghị định 81
-150 của Chính phủ; về chủ trương lập lại trật tự đô thị, xây dựng
nếp sống văn minh đô thị. Riêng Quận 4, 5, Thủ Đức, huyện Bình Chánh
còn phối hợp tổ chức Hội thi tìm hiểu về Luật BVMT, Nghị định 81 và
chủ trương thực hiện nếp sống văn minh đô thị trong các lực lượng ở
cơ sở và hộ gia đình, với trên 10.000 lượt người tham dự.
Bên cạnh những hoạt động tuyên truyền, vận động nêu trên,
hầu hết các quận, huyện đều quan tâm, chủ động phối hợp tham gia với
chính quyền để xây dựng, chuyển hóa các địa bàn còn tồn tại về vệ
sinh môi trường và trật tự đô thị, như: tham gia Đoàn công tác khảo
sát, kiểm tra việc thực hiện công tác bảo vệ môi trường, trật tự đô
thị gắn với việc thực hiện Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng
đời sống văn hóa ở khu dân cư" tại 3 phường - xã văn hoá; 48 Khu dân
cư văn hóa, các tuyến đường văn minh - kiểu mẫu thuộc Quận 2, 3, 4,
5, 8, 9, 10, 12, quận Phú Nhuận, Bình Thạnh, Thủ Đức, huyện Củ Chi,
trong đó, tập trung kiểm tra tình hình vệ sinh môi trường, trật tự
đô thị và một số hoạt động khác để phối hợp với cơ sở giải quyết
hoặc đề nghị chính quyền xem xét, hỗ trợ phù hợp. Căn cứ theo hướng
dẫn của Thành phố và thông qua việc thực hiện Cuộc vận động "Toàn
dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư" hầu hết các
quận, huyện đều có triển khai các biện pháp, mô hình hiệu quả như:
thực hiện Quy ước 10 điều vệ sinh văn sinh đường phố - cổng trường
sạch đẹp, an toàn - Khu dân cư văn minh, sạch đẹp, an toàn.
Đặc biệt Mặt trận đã tích cực phối hợp với chính quyền,
các đoàn thể tổ chức điều tra, khảo sát và tiến hành phối hợp, hoặc
tham gia với chính quyền xây dựng các tuyến đường kiểu mẫu xanh -sạch
- đẹp theo chỉ đạo của Thành phố và Quận, Huyện, qua đó tập trung
phối hợp, hỗ trợ để tập trung chuyển hóa hiệu quả các khu vực, tuyến
đường còn tồn tại về vệ sinh môi trường, trật tự đô thị... Riêng
Quận 5, 8, 9, 12, Tân Bình, Bình Tân, Huyện Nhà Bè, Bình Chánh, Củ
Chi, phối hợp với ngành Tài nguyên và Môi trường tổ chức đoàn đi
kiểm tra, giám sát việc thực hiện vệ sinh môi trường ở các công ty,
xí nghiệp, đóng trên địa bàn, qua đó đã kiến nghị với chính quyền xử
lý, di dời 85 cơ sở gây ô nhiễm, gây ảnh hưởng đến đời sống của nhân
dân; hoặc yêu cầu các Khu dân cư văn hóa phải đảm bảo vệ sinh môi
trường, hàng quý có kiểm tra xét công nhận; tổ chức vận động các cơ
sở kinh doanh dịch vụ thực hiện các quy định về bảo đảm vệ sinh môi
trường. Phối hợp thực hiện mô hình điểm về Phong trào "Toàn dân tham
gia BVMT" tại các Quận có những phường còn tồn tại về vệ sinh môi
trường và từ năm 2008 nâng lên thành Cuộc vận động "Toàn dân tham
gia bảo vệ môi trường", "Toàn dân tham gia bảo đảm trật tự An toàn
giao thông" hưởng ứng chủ trương thực hiện nếp sống văn minh đô thị
tại các quận: 4, 5, 6, 8, 10, Tân Phú, Thủ Đức, huyện Bình Chánh.
Để góp phần giữ gìn cảnh quan sạch đẹp - an toàn, trong
những năm qua Ngành Tài nguyên và Môi trường cùng với hệ thống Mặt
trận Quận, Huyện và cơ sở đã phối hợp vận động các tầng lớp nhân dân
tổ chức cho nhân dân làm vệ sinh đường phố, không xả rác bừa bãi ra
nơi công cộng, thu gom rác, xử lý rác, khai thông cống rãnh để tránh
ngập lụt và phòng chống dịch bệnh sốt xuất huyết và tổ chức trồng
cây xanh, cây kiểng các loại trong khu dân cư và trước cửa nhà để
góp phần xây dựng thêm môi trường xanh. Ngoài ra, Quận 2, 3, 5, 7,
8, 9, 10, 12, Gò Vấp, Tân Bình, Bình Thạnh, Thủ Đức, Bình Tân, huyện
Bình Chánh, Hóc Môn, Cần Giờ đã tích cực vận động nhân dân thực hiện
các công trình trong nội bộ khu dân cư như: trồng cây xanh, hiến đất
mở đường, mở rộng hẻm, duy tu, sửa chữa nâng cấp, cải tạo vỉa hè,
gắn đèn chiếu sáng, với tổng số tiền trên 58 tỷ đồng theo phương
châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm".
Chương trình liên tịch giữa Sở Tài nguyên và Môi trường và
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc thành phố đã góp phần giúp cho công tác
tuyên truyền bảo vệ môi trường được nhân rộng đến nhiều tầng lớp
nhân dân, qua đó nhiều người hiểu được tầm quan trọng của môi trường
và trách nhiệm của mỗi người dân đối với công tác này. Với sự phối
hợp chặt chẽ trong chuyên môn của Sở cộng thêm thế mạnh trong việc
phát động các chương trình tại địa bàn dân cư của Mặt trận Tổ quốc
và các đoàn thể đã giúp cho các mô hình điểm về bảo vệ môi trường
tại khu dân cư phát huy được thế mạnh và thu hút được nhiều người
dân tham gia, góp phần chuyển biến tích cực điều kiện vệ sinh môi
trường tại các khu dân cư. Thông qua chương trình liên tịch đã góp
phần đa dạng hoá các hoạt động tuyên truyền phù hợp với từng đối
tượng, tạo cơ hội cho các ban ngành đoàn thể chia sẻ những kinh
nghiệm, cũng như những khó khăn nhằm giúp công tác tuyên truyền có
kết quả cao hơn. Đối với một số địa phương còn nhiều tồn tại về trật
tự đô thị, vệ sinh môi trường, việc chọn một số đơn vị thực hiện kế
hoạch điểm về Cuộc vận động "Toàn dân tham gia bảo vệ môi trường" là
biện pháp phù hợp nhằm hỗ trợ kịp thời cho những đơn vị này, qua đó
nhân rộng mô hình để Cuộc vận động ngày càng hiệu quả hơn, thực chất
hơn, được các tầng lớp nhân dân nhiệt tình ủng hộr
Kim
Lan
|
TTCTMT
| Trở Về đầu trang
| |
|
|
VẬN ĐỘNG NHÂN DÂN BẢO VỆ ĐA DẠNG SINH HỌC
VƯỜN QUỐC GIA PHONG NHA - KẺ BÀNG Ở TUYÊN HÓA
Vườn quốc gia
Phong Nha - Kẻ Bàng là một phần của khu vực núi đá vôi cổ nhất ở
Châu Á được tạo lập từ hơn 400 triệu năm trước, gắn liền với các chu
kỳ kiến tạo và phát triển chính của lịch sử trái đất. Năm 2003,
Phong Nha Kẻ Bàng được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới - Di sản
thế giới thứ 5 của Việt Nam. Đây là một trong những
điểm thu hút khách du lịch trong nước và quốc
tế vì những giá trị phong cảnh núi rừng hùng vĩ, có hệ sinh thái đa
dạng, phong phú, đặc biệt là hệ thống hang động ngầm trong lòng núi
(Động Phong Nha), là món quà vô giá mà thiên nhiên ban tặng cho Việt
Nam nói chung và tỉnh Quảng Bình nói riêng. Vì vậy, công tác bảo vệ
đa dạng sinh học, bảo tồn bền vững các giá trị di sản nhằm phát huy
tiềm năng du lịch của Vườn quốc gia Phong Nha -Kẻ Bàng đang được các
cấp, các ngành và nhân dân Quảng Bình quan tâm, tham gia thực hiện
trong đó có vai trò của Mặt trận và các tổ chức đoàn thể huyện Minh
Hóa.
Huyện Minh Hóa có 5 xã được quy hoạch vùng đệm
Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, đó là xã Thượng Hóa, Hóa Sơn,
Trung Hóa, Dân Hóa và xã Trọng Hóa, có diện tích tự nhiên là
98.435ha, gồm 53 thôn bản với 3.114 hộ dân. Đây là các xã biên giới,
đa số là đồng bào dân tộc thiểu số (chiếm trên 85%); tỷ lệ hộ nghèo
còn cao (chiếm trên 90%). Hiện nay, ở xã Dân Hóa, Trọng Hóa, Thượng
Hóa đồng bào một số vùng còn có tập quán sống du canh, du cư, dựa
vào rừng để phát nương trồng cây lương thực (như: lúa, ngô, sắn…),
khai thác gỗ, săn bắt động vật hoang dã quý hiếm... đời sống của bà
con dân tộc thiểu số sống quanh vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha -Kẻ
Bàng còn hết sức khó khăn, chưa có ý thức tự giác trong việc bảo vệ
môi trường nói chung và bảo vệ đa dạng sinh học Vườn quốc gia Phong
Nha - Kẻ Bàng nói riêng.
Cùng với cấp ủy Đảng, chính quyền, các cơ quan
chức năng làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân bảo vệ
môi trường, bảo vệ đa dạng sinh học Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ
Bàng, trong thời gian qua, Mặt trận các cấp huyện Minh Hóa đã tổ
chức triển khai nhiều hoạt động thiết thực, có hiệu quả với nhiều
nội dung và hình thức khác nhau.
Được sự quan tâm của ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, ủy ban Mặt trận tỉnh Quảng Bình, Mặt trận huyện Minh Hóa
đã tổ chức các lớp tập huấn cho nhân dân 4 xã biên giới là vùng đệm
của Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng trong thời gian 3 ngày với 135
người tham gia, thành phần gồm: Bí thư chi bộ, trưởng thôn - bản,
chi hội trưởng các tổ chức đoàn thể ở các bản, các già làng, trưởng
bản. Nội dung tập huấn chủ yếu gồm các văn bản như: Luật bảo vệ Môi
trường; Luật Bảo vệ và phát triển rừng; Luật Biên giới quốc gia và
một số chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về đồng bào dân tộc...
Đối với cấp xã, Mặt trận các xã đã phối hợp
với các tổ chức thành viên triển khai Đề án 02 - 212 và thông qua
hội nghị của các tổ chức này các chi hội đã lồng ghép tuyên truyền,
vận động nhân dân tích cực chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi,
thay đổi cung cách làm ăn. Đồng thời, Mặt trận các xã cũng đã phối
hợp với các đồn Biên phòng hướng dẫn đồng bào về kỹ thuật gieo trồng
lúa nước, làm trang trại, phát triển chăn nuôi, trồng rừng nguyên
liệu nâng cao thu nhập, ổn định đời sống nên đã hạn chế tình trạng
đốt, phát rừng làm nương rẫy, khai thác lâm sản, săn bắt động vật
hoang dã trong vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha -Kẻ Bàng.
Cùng với công tác tuyên truyền, vận động nhân
dân bảo vệ rừng vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Mặt trận
huyện Minh Hóa đã chỉ đạo, hướng dẫn Mặt trận các xã phối hợp với
cấp ủy Đảng, chính quyền triển khai thực hiện tốt các chương trình,
dự án của Chính phủ như Chương trình 134,135 và một số chế độ chính
sách đầu tư hỗ trợ cho đồng bào dân tộc, xây dựng cơ sở hạ tầng điện,
đường, trường, trạm, vận động nhân dân vùng đệm mạnh dạn vay vốn đầu
tư mở rộng sản xuất, kinh doanh, thay đổi phong tục tập quán lạc hậu;
nhân rộng các mô hình làm ăn có hiệu quả cho nhân dân học tập, như
mô hình trồng rừng nguyên liệu, chăn nuôi trâu, bò, dê, nuôi ong lấy
mật… nên đã tăng thu nhập bền vững, ổn định đời sống nhân dân vùng
đệm của Vườn. Đặc biệt, hiện nay, huyện Minh Hóa đang triển khai
thực hiện Đề án 30a của Thủ tướng Chính phủ về đầu tư phát triển cho
62 huyện nghèo, cơ sở hạ tầng đã có sự phát triển khá, đã hỗ trợ,
đầu tư vốn, lương thực, tạo việc làm cho đồng bào dân tộc ở các xã
biên giới vùng đệm của Vườn nên đời sống của người dân nơi đây đã
từng bước ổn định.
Bằng các hoạt động trên đây, cán bộ, nhân dân
và đồng bào các dân tộc đã nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành
pháp luật, tích cực tham gia bảo vệ rừng, bảo vệ đa dạng sinh học
Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Từng bước làm giảm nguy cơ phá
rừng, hạn chế nạn khai thác gỗ, săn bắt động vật hoang dã quý hiếm,
góp phần cùng các cơ quan chức năng bảo vệ đa dạng sinh học Vườn
quốc gia Phong Nha -Kẻ Bàng.
Bên cạnh một số kết quả đã đạt được, trong quá
trình thực hiện công tác tuyên truyền, vận động cho nhân dân tham
gia bảo vệ đa dạng sinh học vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ
Bàng vẫn còn một số vướng mắc, khó khăn. Đó là:
1. Các xã vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha -
Kẻ Bàng đa số là đồng bào dân tộc thiểu số nên trình độ nhận thức
rất hạn chế, còn tồn tại nhiều phong tục tập quán lạc hậu, có tư
tưởng trông chở ỷ lại vào Đảng, Nhà nước, chưa chịu khó tự phấn đấu
vươn lên nên rất khó khăn trong việc xóa đói, giảm nghèo cũng như
thực hiện công tác tuyên truyền, vận động để họ nâng cao nhận thức
hiểu biết về công tác bảo vệ môi trường, bảo vệ Vườn quốc gia Phong
Nha -Kẻ Bàng. Bên cạnh đó, các xã này lại nằm trong điều kiện kinh
tế -xã hội kém phát triển, cơ sở hạ tầng giao thông đi lại giữa các
thôn, bản hết sức khó khăn; người dân sống chủ yếu dựa vào khai thác
rừng, không có việc làm ổn định, thu nhập thấp, đời sống khó khăn,
tỷ lệ hộ nghèo còn rất cao.
2. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền,
sự phối hợp của Mặt trận và các đoàn thể trong công tác bảo vệ đa
dạng sinh học Vườn quốc gia Phong Nha -Kẻ Bàng ở một số nơi chưa
được chú trọng và chưa thường xuyên; các cơ quan chức năng chưa có
sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, chưa xây dựng được quy chế phối hợp
công tác để bảo vệ và quản lý Vườn quốc gia Phong Nha -Kẻ Bàng có
hiệu quả.
3. Việc quy hoạch giao đất, giao rừng quanh
vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha -Kẻ Bàng chưa cụ thể, rõ ràng, tiến
độ còn chậm, chưa phối hợp với các chương trình dự án khác để đầu tư
vốn, giải quyết việc làm tăng thu nhập ổn định đời sống cho người
dân vùng đệm Phong Nha -Kẻ Bàng.
Từ tình hình thực tế nêu trên, để công tác bảo
vệ, bảo tồn đa dạng sinh học Vườn quốc gia Phong Nha -Kẻ Bàng đạt
kết quả tốt, trong thời gian tới các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt
trận các cấp và các tổ chức thành viên cần quan tâm tăng cường hơn
nữa sự lãnh đạo, quản lý và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động
các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia bảo vệ môi trường nói chung
trong đó có bảo vệ đa dạng sinh học Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ
Bàng. Bên cạnh việc chú trọng tăng cường công tác tuyên truyền, vận
động nhân dân nâng cao ý thức trách nhiệm cộng đồng trong công tác
bảo vệ Vườn, Mặt trận cần có chương trình hành động cụ thể như: mở
các lớp tập huấn với nội dung, hình thức tuyên truyền đa dạng phong
phú nhằm nâng cao nhận thức về giá trị tinh thần, giá trị kinh tế
của Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng để từ đó nâng cao ý thức,
trách nhiệm tự giác tham gia bảo vệ môi trường của người dânr
Nhật
Lệ
|
TTCTMT
| Trở Về đầu trang
| |
|
NỖ LỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VỊNH BIỂN NHA
TRANG
Mỗi ngày danh thắng vịnh Nha Trang
phải hứng chịu khoảng 10 tấn rác thải cộng với hàng ngàn m3 nước
thải. Thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hoà đã có nhiều cố gắng bảo
vệ môi trường sinh thái vịnh.

Dân số thành phố Nha Trang dao động trong khoảng 370.000 người, cộng
thêm khoảng 5.000 cư dân sinh sống trên các đảo; ngoài ra mỗi năm,
vịnh Nha Trang đón khoảng 1,2 triệu lượt khách du lịch. Dân số và du
lịch phát triển, kéo theo lượng rác khổng lồ tấn công vịnh Nha Trang.
Theo thống kê của Ban quản lý Khu Bảo tồn biển vịnh Nha Trang, mỗi
ngày có khoảng 10 tấn rác thải du lịch, cộng với rác thải sinh hoạt
của dân cư trên 6 khóm đảo đổ xuống biển khoảng 1 tấn rác nữa. Hiện
có khoảng 380 lồng với gần 9.000 bè nuôi tôm hùm trên vịnh Nha Trang,
thải ra rất nhiều thức ăn thừa, bên cạnh đó là chất thải từ vô số
nhà vệ sinh không có hầm chứa trên mặt nước làm ô nhiễm nước vịnh.
Vùng lõi Hòn Mun là khu vực cần bảo vệ nghiêm ngặt, tuy nhiên mùa du
lịch cao điểm, mỗi ngày có khoảng 40 tàu thuyền du lịch cùng với
500-600 khách qua lại, lặn ngắm san hô và tắm biển. Để thực hiện
việc mở rộng 1ha mặt đất, chủ đầu tư đã đổ xuống mặt biển hàng vạn
m3 đất đá, xây bờ kè, cầu cảng. Vì vậy, khoảng hơn 20ha rừng ngập
mặn, cỏ biển, san hô... xung quanh đảo Hòn Tre đã và đang bị các nhà
đầu tư chôn vùi không thương tiếc.
Một nghiên cứu mới đây của Viện Hải dương học Nha Trang đã cảnh báo:
"Khối trầm tích xuất hiện trong vịnh Nha Trang theo chiều hướng gia
tăng, vật chất lơ lửng trong nước biển cũng tăng nhanh”.
Nhiều nỗ lực làm sạch môi trường
Trước tình trạng vịnh Nha Trang bị ô nhiễm, tỉnh Khánh Hoà đã có
nhiều cố gắng bảo vệ môi trường. Trước hết, Khánh Hoà chú trọng công
tác tuyên truyền vận động người dân sống trên đảo, ven bờ chung tay
bảo vệ môi trường biển, hạn chế vứt rác thải bừa bãi xuống biển,
không chặt phá rừng ngập mặn. Hàng năm, các hoạt động bảo vệ môi
trường biển như thả rùa về biển, bắt sam biển gai, một loài ăn san
hô, thu gom rác nhân ngày bảo vệ môi trường được đông đảo người dân
tham gia. Trong những dịp Ngày Môi trường thế giới, Ngày Đa dạng
sinh học thế giới, Ngày Lặn trái đất, tỉnh phát động người dân tham
gia làm sạch biển để nâng cao ý thức người dân về bảo vệ môi trường
biển.
Ông Trương Kỉnh, Giám đốc Ban Quản lý Khu Bảo tồn biển vịnh Nha
Trang cho biết: “Chúng tôi có chương trình bảo vệ môi trường sinh
thái biển cho con em sinh sống trên đảo, như: tổ chức ngoại khoá.
Chúng tôi tuyên truyền người dân phân loại rác thải để người dân
biết được ảnh hưởng của rác thải đối với môi trường biển”.
Bắt đầu từ năm 2007, UBND tỉnh Khánh Hoà giao Ban quản lý Khu Bảo
tồn biển vịnh Nha Trang phối hợp với các cơ quan chức năng triển
khai thực hiện phương án thu gom, vận chuyển rác trong vịnh Nha
Trang. Kinh phí đầu tư ban đầu cho phương án này khoảng 500 triệu
đồng gồm các hạng mục như: xây dựng hầm xử lý rác, thùng đựng rác,
tập huấn phân loại rác; thuê tàu vận chuyển, hợp đồng lao động, mua
thiết bị, dụng cụ… phục vụ cho công tác vận chuyển rác vào đất liền.
Sau 1 năm thực hiện, phương án thu gom, vận chuyển rác trong vịnh
Nha Trang ban đầu đã đạt được hiệu quả nhất định. Đến nay, các đơn
vị liên quan đã thu gom hơn 1.500 tấn rác thải tại vịnh Nha Trang,
trong đó lượng rác thu được chủ yếu tại các lồng, bè (khoảng 800 tấn),
số rác còn lại thu được từ các khu dân cư trên đảo. Hiện nay, lượng
rác được thu gom hàng ngày từ 4 - 5 tấn, cao điểm lên đến 7 tấn.
Hoạt động thu gom rác đã giúp giảm áp lực ô nhiễm trên vùng biển
vịnh Nha Trang. Nhờ đó, tại nơi công cộng trên các đảo, mặt nước
biển đã phần nào sạch, đẹp hơn. Qua hoạt động thu gom rác trên vịnh
Nha Trang, ý thức bảo vệ môi trường biển của người dân cũng được
nâng cao.
Bà Nguyễn Thị Gái, người dân phường Vĩnh Nguyên, thành phố Nha Trang
cho biết, người dân ở đây không còn thói quen vứt rác thải xuống
biển nữa mà thu gom lại, chờ tàu đến chở đi. Bà con cũng thường
xuyên nhắc nhở con em mình không xả rác bừa bãi.
Các biện pháp khoa học phục hồi hệ sinh thái, bảo vệ môi trường biển
vịnh Nha Trang cũng được đẩy mạnh. Riêng Viện Hải dương học Nha
Trang có những nghiên cứu giúp phát triển vịnh Nha Trang, có những
biện pháp công nghệ như phục hồi hệ sinh thái rạn san hô, nuôi trồng
mới rạn san hô.
Phó Giáo sư-TSKH Nguyễn Tác An, nguyên Viện trưởng Viện Hải dương
học Nha Trang, hiện là Chủ tịch Ủy ban Hải dương học Việt Nam cho
biết, Viện đã có những nghiên cứu thực hiện 1 số công nghệ phục hồi
cảnh quan vịnh Nha Trang, đặc biệt 2004-2006 nghiên cứu nuôi trồng
hệ san hô, ngoài ra còn nuôi một số sinh vật biển sống trong hệ san
hô như cá khoang..
Tuy nhiên việc bảo vệ môi trường biển vịnh Nha Trang vẫn còn nhiều
hạn chế. Hiện nay, hàng ngàn lồng bè nuôi thủy sản trên vịnh xả ra
hàng tấn rác thải mỗi ngày nhưng người nuôi trồng thuỷ sản chưa nộp
phí thu gom rác, kinh phí cho việc bảo vệ môi trường hạn chế, quy
hoạch phát triển nuôi trồng thuỷ sản, phát triển du lịch không theo
kịp thực tế²
Thanh
Hà
|
TTCTMT
| Trở Về đầu trang
| |
|
CÔNG TÁC DÂN SỐ KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH VỚI SỰ
PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC
1. Dân số, phát
triển và chất lượng của cuộc sống
Dân số của mỗi quốc gia hoặc mỗi địa phương có liên quan
rất mật thiết đến sự phát triển của quốc gia, địa phương đó cũng như
có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống của người dân.
Về mặt tích cực, dân số đông đem lại nguồn lao động cho
sản xuất, nhất là khi trình độ cơ giới hóa, tự động hóa chưa cao.
Tuy nhiên về mặt tiêu cực, dân số đông dẫn đến nhiều vấn đề nghiêm
trọng nhất là khi cung không đáp ứng đủ cầu. Về mặt kinh tế, khi mà
tài nguyên thiên nhiên, đầu tư cơ sở vật chất không đáp ứng kịp tỉ
lệ tăng dân số, nạn thất nghiệp sẽ là một vấn đề nan giải. Từ đó dẫn
đến những vấn đề như người lang thang, ăn xin thậm chí là những tệ
nạn xã hội như trộm cướp, mại dâm v.v... chưa kể đến sự đổ xô của
nhiều người lên thành thị trở thành gánh nặng cho các thành phố lớn.
Về mặt giáo dục, dân số tăng nhanh có thể vượt mức đáp ứng của hệ
thống giáo dục cộng với điều kiện kinh tế gia đình khó khăn làm tăng
tình trạng thất học, bỏ học dẫn đến trình độ dân trí trung bình giảm
thấp, ảnh hưởng đến sự phát triển chung của xã hội cũng như chất
lượng cuộc sống.
Về mặt y tế, dân số tăng nhanh vượt quá mức cung ứng sẽ
dẫn đến dịch bệnh gia tăng dẫn đến giảm sức lao động, thương tật, tử
vong. Hậu quả nghiêm trọng nhất của việc tăng dân số là vấn đề môi
trường. Việc khai thác thiên nhiên một cách bừa bãi như phá rừng lấy
đất canh tác, khai thác gỗ làm chất đốt, vật dụng, khai thác thú
rừng, đào quặng bừa bãi v.v... đã tàn phá trầm trọng đến nguồn tài
nguyên thiên nhiên gián tiếp ảnh hưởng đến các thay đổi về mặt sinh
thái như nạn lũ lụt, hạn hán. Dân số tăng đặc biệt ở thành thị dẫn
đến những vùng có mật độ dân cư cao, sống chen chúc, mất vệ sinh dẫn
đến sự gia tăng các dịch bệnh. Khói thải, nước thải, rác thải làm ô
nhiễm môi trường không khí, nước, đất làm trọng trầm thêm những vấn
đề sức khỏe nhất là ở các đô thị hoặc khu công nghiệp. Ảnh hưởng về
mặt kinh tế, giáo dục, y tế, môi trường đã tác động mạnh đến đời
sống xã hội và tâm lý của người dân. Cuộc sống khó khăn dẫn đến quẫn
bách hoặc, mâu thuẫn trong gia đình gia tăng, càng làm giảm thêm
chất lượng cuộc sống.
2. Kế hoạch hóa gia
đình
Từ những phân tích trên, bên cạnh các biện pháp phát triển
kinh tế, y tế, giáo dục, kiểm soát việc khai thác tài nguyên, phân
bố dân cư hợp lý, giải quyết ô nhiễm môi trường thì kế hoạch hóa gia
đình là một biện pháp cơ bản giúp giải quyết vấn đề dân số và nâng
cao chất lượng cuộc sống. Kế hoạch hóa gia đình ngoài mục đích hạn
chế sự gia tăng dân số còn nhằm bảo vệ sức khỏe của người phụ nữ và
trẻ em đồng thời đem lại hạnh phúc cho gia đình.
- Nên sinh từ 1-2 con: sinh ít con sẽ làm giảm khả năng
tai biến sản khoa, tránh sa sinh dục, bảo vệ được sức khỏe người phụ
nữ tránh các tình trạng kém dinh dưỡng đồng thời còn bảo vệ vẻ đẹp
của người phụ nữ.
- Khoảng cách sinh con nên từ 3-5 năm: không làm tăng thêm
gánh nặng cho người phụ nữ về dinh dưỡng cũng như về sức khỏe giúp
giảm suy dinh dưỡng, giảm tai biến sản khoa, giúp sinh dễ. Đồng thời
người mẹ có thời gian chăm sóc trẻ, tránh bệnh tật. Không sinh
khoảng cách quá xa vì có thể đã quên kinh nghiệm nuôi con.
- Tuổi có con nên từ khoảng 22-35. Sinh lúc còn quá trẻ
khi cơ thể chưa phát triển đầy đủ làm tăng tai biến sản khoa, tăng
tỉ lệ suy dinh dưỡng cho cả mẹ và con.
3. Công tác truyền
thông chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) trong cán
bộ công chức, viên chức ngành y tế
Do tầm quan trọng đặc biệt của vấn đề DS-KHHGĐ, nhiều
chính sách, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước đã được ban
hành nhằm thúc đẩy công tác DS-KHHGĐ trong đó đặc biệt là công tác
truyền thông vận động. Tuy nhiên vì nhiều lý do như đã phân tích
trong Thông báo kết luận của Ban Bí thư số 160-TB/TW, ngày 04 tháng
6 năm 2008 về tình hình thực hiện chính sách DS-KHHGĐ và một số giải
pháp cấp bách, công tác truyền thông DS-KHHGĐ chưa đạt được những
kết quả mong muốn. Các lý do có thể kể như:
- Cấp uỷ đảng và chính quyền các cấp còn có tư tưởng chủ
quan, thoả mãn, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo công tác dân số - kế
hoạch hóa gia đình; chưa quán triệt đầy đủ các nội dung Nghị quyết
47-NQ/TW, ngày 22-3-2005 của Bộ Chính trị về ''tiếp tục đẩy mạnh
thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình''.
- Các cơ quan cấp Trung ương ban hành văn bản hướng dẫn
thực hiện mô hình tổ chức bộ máy mới còn chậm, dẫn tới việc mỗi địa
phương hiểu và thực hiện rất khác nhau. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
ban hành Pháp lệnh Dân số thiếu chặt chẽ.
- Các cấp, các ngành chưa xử lý nghiêm những cán bộ, đảng
viên, công chức, viên chức thiếu gương mẫu, vi phạm chính sách DS-KHHGĐ
gia đình.
- Hệ thống tổ chức làm công tác DS-KHHGĐ gia đình trong
những năm qua có nhiều thay đổi, không ổn định.
- Một bộ phận nhân dân, trong đó có cả cán bộ, đảng viên
cho rằng, công tác DS-KHHGĐ gia đình đã kết thúc, dẫn tới việc coi
nhẹ công tác này, tỉ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai giảm mạnh
mà hậu quả là việc tăng sinh con.
Trước tình hình này Ban Bí thư cũng đã nêu các phương
hướng, nhiệm vụ và giải pháp để thực hiện tốt chính sách DS-KHHGĐ
trong đó có những nội dung liên quan đến công tác truyền thông.
- Cần sớm sửa ngay Điều 10 Pháp lệnh Dân số trong năm
2008, khắc phục nhanh chóng những thiếu sót của Pháp lệnh Dân số năm
2003.
- Tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân để hiểu và thực
hiện đúng chính sách dân số -kế hoạch hóa gia đình của Đảng và Nhà
nước.
Trên cơ sở Thông báo kết luận của Ban Bí thư số 160-TB/TW
đã có những chuyển biến tích cực:
- Chính phủ đã ra Nghị quyết số 27/2008/NQ-CP ngày 25
tháng 11 năm 2008 trong đó giao Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ Tư
pháp, Văn phòng Chính phủ tiếp thu ý kiến các thành viên Chính phủ
tại phiên họp, hoàn chỉnh dự án Pháp lệnh sửa đổi Điều 10 Pháp lệnh
Dân số năm 2003.
- Hệ thống tổ chức làm công tác DS-KHHGĐ cũng đã từng bước
được kiện toàn với sự thành lập của Chi cục Dân số-KHHGĐ trực thuộc
Sở Y tế.
- Tổ chức Đảng các cấp, trong đó có Đảng ủy Sở Y tế TP.Hồ
Chí Minh cũng đã triển khai quán triệt cho tất cả đảng viên, cán bộ
công chức, viên chức, nhân dân để hiểu và thực hiện đúng chính sách
dân số -kế hoạch hóa gia đình của Đảng và Nhà nước.
Về nội dung và phương pháp truyền thông về DS-KHHGĐ, Chiến
lược dân số Việt Nam 2001-2010 cũng đã nhấn mạnh giải pháp Truyền
thông - giáo dục thay đổi hành vi là một phương pháp tiếp cận truyền
thông hướng đến những thông điệp, hình thức truyền thông phù hợp và
cụ thể cho từng loại đối tượng và từng giai đoạn thay đổi hành vi.
Cụ thể về nội dung phải phù hợp với trình độ nhận thức,
điều kiện kinh tế-xã hội của đối tượng. Về phương pháp phải đa dạng
bao gồm từ những hình thức truyền thông đại chúng (phát thanh,
truyền hình, báo chí) đến truyền thông trực tiếp của đội ngũ cán bộ
tuyên truyền viên, các chức sắc tôn giáo, già làng, trưởng bản,
người có uy tín trong cộng đồng, đội ngũ cán bộ chuyên trách dân số,
cán bộ y tế và cộng tác viên dân số. Các sản phẩm truyền thông cũng
cần phải đa dạng về hình thức và phong phú về nội dung phù hợp với
từng nhóm đối tượng.
Như vậy, trước những chuyển biến đáng kể về luật pháp, tổ
chức và định hướng hoạt động truyền thông, Trung tâm Truyền
thông-Giáo dục Sức khỏe sẽ phối hợp chặt chẽ với Chi cục Dân
số-KHHGĐ TP.Hồ Chí Minh để triển khai thực hiện các hoạt động truyền
thông, đặc biệt chú trọng đến đối tượng cán bộ công chức, viên chức
ngành y tế, theo đúng những định hướng, chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước góp phần đạt được mục tiêu về DS-KHHGĐ vào năm 2010
cũng chính là góp phần bảo vệ và nâng cao sức khỏe người dân²
BS.TS
Trọng Hoàng
|
TTCTMT
| Trở Về đầu trang
| |
|
|
KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG TRUNG TÂM DÂN SỐ KẾ HOẠCH
HÓA GIA ĐÌNH HUYỆN QUỲ HỢP
Trung tâm DS - KHHGĐ huyện được thành lập theo Quyết định số: 499/QĐ/SYT
ngày 9 tháng 7 năm 2008 của Sở Y tế Nghệ An.
Ngay sau khi thành lập
Trung tâm đã sớm kiện toàn, ổn định tổ chức bộ máy, biên chế và
triển khai thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn theo chức năng nhiệm vụ
được phân công. Cùng với việc củng cố, ổn định tổ chức bộ máy và
triển khai thực hiện nhiệm vụ, chất lượng đội ngũ cán bộ từ huyện
đến cơ sở cũng được quân tâm, nâng cao. Trung tâm đã tổ chức cho cán
bộ, viên chức Trung tâm và cán bộ chuyên trách mới được thay thế
tham gia các lớp tập huấn nâng cao nghiệp vụ tại Tỉnh. Ngoài ra,
Trung tâm còn mở được nhiều lớp tập huấn nâng cao nghiệp vụ cho 100%
cán bộ chuyên trách và Cộng tác viên Dân số - kế hoạch hóa gia đình
cơ sở.
Trung tâm DS - KHHGĐ huyện Quỳ Hợp là một trong 5 đơn vị đầu tiên
của tỉnh tổ chức thành công Hội nghị chuyên đề bàn về công tác DS -
KHHGĐ kết hợp ra mắt Trung tâm, là đơn vị duy nhất trong toàn tỉnh
tổ chức thành công Hội thi tìm hiểu và tuyên truyền về công tác DS -
KHHGĐ trong năm 2008. Ngay sau khi có Đề án thành lập Ban chỉ đạo
thực hiện công tác DS – KHHGĐ các cấp, Trung tâm DS - KHHGD huyện đã
tham mưu cho UBND huyện thành lập Ban chỉ đạo thực hiện công tác DS
– KHHGĐ cấp huyện đồng thời ban hành quy chế hoạt động của Ban chỉ
đạo.
Trong chương trình hoạt động chào mừng kỉ niệm ngày Dân số Thế giới
11/7/2009, Trung tâm DS - KHHGĐ huyện đã tham mưu cho UBND huyện ban
hành công văn đôn đốc Chính quyền các xã, thị trấn tăng cường công
tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức triển khai có hiệu quả các hoạt
động về DS - KHHGĐ; đặc biệt là tham mưu UBND huyện ban hành Đề án
“Nâng cao chất lượng DS - KHHGĐ từ nay đến năm 2015” được Chi cục,
Huyện uỷ, UBND huyện ghi nhận đánh giá cao và tạo được một động lực
mạnh mẽ tác động sâu sắc đến nhận thức, sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều
hành và triển khai các hoạt động của các cấp uỷ, Chính quyền địa
phương trên lĩnh vực DS – KHHGĐ.
Song song với việc tham mưu với cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương
ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, Trung tâm DS - KHHGĐ huyện
Quỳ Hợp quan tâm chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả
các hoạt động chuyên môn, như chỉ đạo triển khai thực hiện chiến
dịch truyền thông, tư vấn, vận động và lồng ghép cung cấp dịch vụ
Chăm sóc SKSS/KHHGĐ tại 21 xã, thị trấn. Thông qua đó, tỷ lệ các cặp
vợ chồng được trang bị các kiến thức về sức khoẻ sinh sản, KHHGĐ và
các chính sách về DS - KHHGĐ trong giai đoạn hiện nay được nâng lên
đồng thời tăng tỷ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ sử dụng
các BPTT hiện đại.
Đến nay, 21/21 xã, thị trấn trên địa bàn huyện Quỳ Hợp đã thực hiện
hoàn thành chiến dịch chăm sóc SKSS/KHHGĐ năm 2009 đạt và vượt các
chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Hiện nay có 19/21 nữ hộ sinh làm việc tại
các trạm Y tế đều đã được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ để đáp ứng
yêu cầu thực hiện các dịch vụ khám, điều trị phụ khoa, đặt dụng cụ
tử cung và tư vấn chăm sóc SKSS/KHHGĐ. Nhờ vậy mà công tác chăm sóc
SKSS – KHHGĐ cho đối tượng được thực hiện một cách kịp thời, thuận
tiện và an toàn hơn. Do đó, người dân tin tưởng và an tâm hơn khi
tham gia các dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ. Công tác tư vấn, vận động
và cung cấp các biện pháp tránh thai phi lâm sàng được thực hiện
tương đối tốt, các phương tiện tránh thai được cung cấp kịp thời và
tương đối đầy đủ cho đối tượng (thuốc uống tránh thai, bao cao su).
Thông qua việc chỉ đạo và triển khai các hoạt động về DS – KHHGĐ đã
từng bước khống chế được tỷ lệ tăng dân số, đặc biệt là tỷ lệ sinh
con thứ 3 trở lên, góp phần từng bước ổn định quy mô dân số và tiến
tới đạt mức sinh thay thế.
Bên cạnh những kết quả đã được, trong chỉ đạo, điều hành và triển
khai các hoạt động về DS - KHHGĐ trên địa bàn huyện Quỳ Hợp vẫn còn
những khó khăn như: trình độ của đội ngũ chuyên trách và Cộng tác
viên DS – KHHGĐ ở cơ sở chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. Chế độ
phụ cấp cho cán bộ DS - KHHGĐ ở cơ sở còn quá thấp do đó ít nhiều
ảnh hưởng đến tinh thần và chất lượng hoạt động của đội ngũ cán bộ
cơ sở.
Để tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả công tác DS –
KHHGĐ trong thời gian tới, Trung tâm DS – KHHGĐ huyện cần tập trung
nỗ lực triển khai thực hiện tốt một số nhiệm vụ như: tham mưu cho
cấp uỷ Đảng và chính quyền địa phương tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo,
chỉ đạo, điều hành và sự phối kết hợp, vào cuộc của các ban, ngành,
đoàn thể, tổ chức lồng ghép triển khai thực hiện các hoạt động trên
lĩnh vực DS - KHHGĐ một cách khoa học, có hiệu quả thiết thực. Tổ
chức tuyên truyền, phổ biến và giáo dục các chủ trương, chính sách,
những quy định của Đảng và Nhà nước ta đối với công tác DS - KHHGĐ
một cách đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung, nhằm nâng cao
nhận thức của người dân đối với quyền lợi và trách nhiệm trong việc
thực hiện các chính sách về DS - KHHGĐ kết hợp cung cấp dịch vụ chăm
sóc SKSS/KHHGĐ. Quan tâm kiện toàn, nâng cao chất lượng của đội ngũ
chuyên trách và CTV DS – KHHGĐ ở cơ sở. Phối hợp triển khai có hiệu
quả chiến dịch chăm sóc SKSS/KHHGĐ đợt 2 năm 2009. Tăng cường đầu tư
các nguồn lực cho công tác DS – KHHGĐ như huy động lực lượng toàn xã
hội tham gia công tác DS – KHHGĐ, chính quyền địa phương ưu tiên
ngân sách đầu tư, hỗ trợ cho các hoạt động DS – KHHGĐ, tăng cường
mối quan hệ phối hợp với các cơ quan chức năng và các ban ngành đoàn
thể để triển khai thưc hiện các hoạt động một cách đồng bộ góp phần
thực hiện tốt các chương trình mục tiêu về DS - KHHGĐ trên địa bàn²
Nguyễn
Thị Phương
|
TTCTMT
| Trở Về đầu trang
| |
|
XÓM SỢI DƯỚI ĐI LÊN NHỜ CÔNG TÁC DÂN SỐ -
KHHGĐ
Xóm Sợi Dưới, xã Thọ Hợp huyện Quỳ Hợp có 160 hộ dân, với 756 nhân
khẩu, có 80 khẩu dân tộc Kinh còn lại là dân tộc Thổ.
Trong những năm qua, cùng với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp
uỷ, ban CTMT, cộng tác viên DS/KHHGĐ đã phối hợp với các đoàn thể
xóm để tuyên truyền, phổ biến và vận động người dân thực hiện tốt
các chính sách DS/KHHGĐ, Nhờ đó, đời sống của người dân ngày một đi
lên rõ rệt, nhiều gia đình thoát khỏi cảnh nghèo đói và đi lên làm
giàu, xóm làng có nhiều khởi sắc, đường làng ngõ xóm khang trang,
sạch sẽ, được phủ bê tông đến từng hộ gia đình, đời sống của người
dân khá giả, toàn xóm không có hộ đói, chỉ có 10 % hộ nghèo. Bà con
nhân dân đoàn kết, vui vẻ, phấn khởi xây dựng đời sống mới ở khu dân
cư.
Trở lại những năm trước đây, Sợi Dưới là một trong 4 xóm thuộc “điểm
nóng” của xã Thọ Hợp về vi phạm chính sách DS/KHHGĐ, toàn xã có 132
hộ thì có đến 20 hộ sinh con thứ 3 trở lên, trong đó, cá biệt còn có
hộ sinh con thứ 4, thứ 5. Do đó, đời sống của người dân hết sức khó
khăn, tỷ lệ hộ nghèo của xóm chiếm tới 42%. Chị Trương Thị Lan – CTV
DS/KHHGĐ xóm Sợi Dưới tâm sự: “ Trước đây, đời sống của bà con trong
xóm rất khó khăn, nhiều gia đình thường xuyên thiếu đói, phải lo
chạy bữa hàng ngày, con cái không được quan tâm chăm sóc, nhiều gia
đình phải cho con nghỉ học vì không có tiền để lo cho các cháu. Một
trong những nguyên nhân đói nghèo của xóm là do sinh đẻ không có kế
hoạch…”.
Đứng trước tình hình đó, cấp uỷ và ban cán sự xóm đã tập trung sự
lãnh đạo, chỉ đạo các đoàn thể xóm phối hợp với CTV DS/KHHGĐ tăng
cường phổ biến, giáo dục các chính sách của Đảng và Nhà nước về công
tác DS/KHHGĐ, đồng thời tuyên truyền, tư vấn và vận động mọi người
dân trong xóm thực hiện tốt chính sách DS/KHHGĐ. Bằng sự tập trung
lãnh đạo của Cấp uỷ, ban cán sự xóm và sự cố gắng của CTV, chị đã
“đi từng ngõ, gõ từng nhà và rà từng đối tượng” để nắm bắt tâm tư
nguyện vọng và tâm lí của họ để tìm cách vận động, thuyết phục họ tự
nguyện chấp nhận quy mô gia đình ít con, chỉ dừng lại hai con để
nuôi dạy cho tốt. Đặc biệt, xóm Sợi Dưới thường xuyên quan tâm tổ
chức nhiều hoạt động thông về lĩnh vực DS/KHHGĐ một cách phong phú
và đa dạng như: sinh hoạt câu lạc bộ gia đình không sinh con thứ 3
trở lên, câu lạc bộ gia đình 4 chuẩn mực, Câu lạc bộ gia đình sinh
con một bề, gặp gỡ các điển hình thực hiện tốt công tác DS/KHHGĐ….
Do đó được người dân quan tâm, hưởng ứng.
Anh Trương Văn Nhất tâm sự: “ Tôi là con trai cả trong gia
đình, tôi xây dựng gia đình đã được 8 năm, hiện tại gia đình tôi có
2 con gái, lúc đầu tôi và ông bà nội, ngoại đều có ý định phải đẻ
thêm cho bằng được thằng con trai, nhưng sau khi tham gia sinh hoạt
Câu lạc bộ gia đình sinh con một bề tôi đã hiểu và quyết tâm thuyết
phục cha mẹ hai bên chấp nhận chỉ dừng lại hai con thôi. Vì nếu đẻ
nhiều thì sẽ không có điều kiện chăm sóc con cái và không thể xây
dựng kinh tế gia đình được”… Gia đình Anh Nhất hiện nay có hai con
gái khoẻ mạnh, học giỏi, chăm ngoan, nhà anh có một đàn bò, một đàn
dê, hơn 2 ha rừng keo, lát ngoài ra anh còn chăn nuôi lợn bầy, ao cá,
hàng năm thu nhập của gia đình lên tới hơn 50 triệu đồng. Không chỉ
có gia đình Anh Nhất mà gia đình chị Thuý, chị Thương, chị Hồng đều
là những gia đình sinh hai con gái, nhưng gia đình các chị đều hạnh
phúc, con cái chăm ngoan, học giỏi, đời sống kinh tế khá giả, được
bà con hàng xóm tin yêu, mến phục. Khi chúng tôi hỏi đến, các chị
cười rất tươi và vui vẻ trả lời: “Để có cuộc sống gia đình khá giả,
hạnh phúc như hôm nay là nhờ kế hoạch hoá gia đình đấy chị ạ”. Thiết
nghĩ, nếu như các xóm, bản làng khác đều làm tốt công tác DS/KHHGĐ,
bà con tự nguyện thực hiện các chính sách DS/KHHGĐ thì mọi người dân
sẽ có cuộc sống ấm no hơn²
Phan
Thị Oanh
|
TTCTMT
| Trở Về đầu trang
| |
|
|
|
|
 |
|
|

Ngày hội đại
đoàn kết toàn dân tộc năm 2009

Các điển
hình tiêu biểu trong CVĐ TDĐKXDĐSVH ở KDC
(2004-2009)

Đối ngoại
nhân dân MTTQ
(2004-2009)
|
|

Ngày hội đại
đoàn kết toàn dân tộc năm 2008 |
|
|
|
|
| |
 |
|
|