Ðặt làm trang chủ

    Google   

                 | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ |   

             | Hộp Thư |
     
 
 

 

 

 

 

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết dự ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc tại xã Kim Đức, Thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

 

Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam Vũ Trọng Kim dự ngày Hội đại đoàn kết toàn dân tộc tại khu dân cư 1D, phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội 

 
 

    TIN MỚI :                                                                    thông tin được cập nhật liên tục  



                     SỐ 86  ( 8 - 2010 )

   


 

TOÀN DÂN THAM GIA BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ CHÍNH SÁCH DÂN SỐ KHHGĐ

Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia 

Vận động nhân dân bảo vệ đa dạng sinh học, vườn quốc gia Phong Nha...

Nỗ lực bảo vệ môi trường vịnh biển Nha Trang

Công tác dân số kế hoạch hoá gia đình với sự phát triển đất nước

Kết quả hoạt động trung tâm Dân số - KHHGĐ huyện Quỳ Hợp

Xóm Sợi dưới đi lên nhờ công tác Dân số- KHHGĐ



THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA

     Thực hiện chỉ đạo của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Uỷ ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Sở Tài nguyên và môi trường đã ban hành kế hoạch liên tịch với  Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Thành phố và chỉ đạo cho các Phòng Tài nguyên và Môi trường của 24 Quận huyện phối hợp với Mặt trận Tổ quốc tại địa phương lập kế hoạch và tổ chức các hoạt động tại các cấp cơ sở, phù hợp với điều kiện từng địa phương.

Trong công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường, Thành phố đã tổ chức các đợt tập huấn và tuyên truyền các kiến thức cơ bản về môi trường; Luật Bảo vệ môi trường; ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường đến sức khỏe cộng đồng; ô nhiễm trong nhà, chương trình phân loại rác tại nguồn... cho lực lượng nòng cốt, Ban điều hành, Ban công tác Mặt trận, các thành viên của Tổ Tự quản BVMT ở Khu dân cư tại các Quận: 3, 4, 5, 6, 8, 10 Tân Phú, Thủ Đức, Bình Chánh và hướng dẫn các kỹ năng tuyên truyền để lực lượng này sẽ tiếp tục triển khai tại địa phương. Tổ chức khảo sát lấy ý kiến đại diện người dân và cán bộ Mặt trận các cấp cơ sở trong việc góp ý cho tiêu chí, quy ước và cam kết bảo vệ môi trường tại khu dân cư; tổ chức Hội thảo về các giải pháp triển khai thực hiện tiêu chí BVMT ở địa bàn dân cư. Hội thảo đã đưa ra rất nhiều ý kiến nhằm tìm giải pháp tốt nhất để người dân tham gia vào công tác bảo vệ môi trường và góp phần đưa tiêu chí, quy ước, cam kết BVMT gần gũi và thiết thực hơn với đời sống của người dân. Tổ chức triển khai Hội thi Môi trường cấp thành phố cho các đối tượng: tuyên truyền viên về bảo vệ môi trường của các Đoàn thể, Ban công tác Mặt trận, Ban Điều hành Khu phố, ấp, Tổ dân phố, Tổ nhân dân và người dân quan tâm đến công tác bảo vệ môi trường trên toàn địa bàn thành phố với mục đích phổ biến các kiến thức về bảo vệ môi trường trong đời sống hàng ngày, trong lao động sản xuất, góp phần nâng cao hiệu quả của công tác bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó Thành phố tạo diễn đàn cho cộng đồng toàn thành phố cùng tham gia đóng góp ý kiến và đề xuất các giải pháp trong công tác bảo vệ môi trường tại địa phương. Tổ chức triển khai phong trào "Toàn dân hành động vì đường phố không rác" và các hoạt động hưởng ứng Năm thực hiện nếp sống văn minh đô thị của thành phố (2008-2009), tổ chức đi bộ hưởng ứng phong trào với hơn 6.000 người tham gia và xây dựng các mô hình điểm cấp thành phố. Đó là, Quận 1: văn minh - sạch - đẹp; Quận 6: cửa nhà không rác, thu gom đúng giờ; Quận 8: phường không rác; Quận Bình Thạnh: chung sức vì kênh rạch xanh; Huyện Hóc Môn: xác định điểm nóng, xử lý tồn đọng; xây dựng mô hình khu phố không rác dựa vào cộng đồng tại 26 khu dân cư điểm cấp thành phố.

Định kỳ và thông qua các cuộc họp của các giới, các Khu dân cư, Tổ dân phố, Tổ nhân dân và qua ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư, Chi cục Bảo vệ môi trường đã phối hợp với hệ thống Mặt trận, các Đoàn thể thành viên tại quận, huyện tổ chức được 4.000 cuộc tuyên truyền, phổ biến trong cán bộ, công chức, đoàn viên, hội viên, hộ gia đình và cán bộ, công nhân, học sinh trong các cơ quan, đơn vị, xí nghiệp, trường học, các khu chế xuất, khu công nghiệp, với trên 500.000 lượt người tham dự về các nội dung trọng tâm của các chủ trương của Đảng, Nhà nước, trong đó tập trung vào các nội dung thiết thực của Luật Bảo vệ môi trường; Nghị định 81 -150 của Chính phủ; về chủ trương lập lại trật tự đô thị, xây dựng nếp sống văn minh đô thị. Riêng Quận 4, 5, Thủ Đức, huyện Bình Chánh còn phối hợp tổ chức Hội thi tìm hiểu về Luật BVMT, Nghị định 81 và chủ trương thực hiện nếp sống văn minh đô thị trong các lực lượng ở cơ sở và hộ gia đình, với trên 10.000 lượt người tham dự.

Bên cạnh những hoạt động tuyên truyền, vận động nêu trên, hầu hết các quận, huyện đều quan tâm, chủ động phối hợp tham gia với chính quyền để xây dựng, chuyển hóa các địa bàn còn tồn tại về vệ sinh môi trường và trật tự đô thị, như: tham gia Đoàn công tác khảo sát, kiểm tra việc thực hiện công tác bảo vệ môi trường, trật tự đô thị gắn với việc thực hiện Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư" tại 3 phường - xã văn hoá; 48 Khu dân cư văn hóa, các tuyến đường văn minh - kiểu mẫu thuộc Quận 2, 3, 4, 5, 8, 9, 10, 12, quận Phú Nhuận, Bình Thạnh, Thủ Đức, huyện Củ Chi, trong đó, tập trung kiểm tra tình hình vệ sinh môi trường, trật tự đô thị và một số hoạt động khác để phối hợp với cơ sở giải quyết hoặc đề nghị chính quyền xem xét, hỗ trợ phù hợp. Căn cứ theo hướng dẫn của Thành phố và thông qua việc thực hiện Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư" hầu hết các quận, huyện đều có triển khai các biện pháp, mô hình hiệu quả như: thực hiện Quy ước 10 điều vệ sinh văn sinh đường phố - cổng trường sạch đẹp, an toàn - Khu dân cư văn minh, sạch đẹp, an toàn.

Đặc biệt Mặt trận đã tích cực phối hợp với chính quyền, các đoàn thể tổ chức điều tra, khảo sát và tiến hành phối hợp, hoặc tham gia với chính quyền xây dựng các tuyến đường kiểu mẫu xanh -sạch - đẹp theo chỉ đạo của Thành phố và Quận, Huyện, qua đó tập trung phối hợp, hỗ trợ để tập trung chuyển hóa hiệu quả các khu vực, tuyến đường còn tồn tại về vệ sinh môi trường, trật tự đô thị... Riêng Quận 5, 8, 9, 12, Tân Bình, Bình Tân, Huyện Nhà Bè, Bình Chánh, Củ Chi, phối hợp với ngành Tài nguyên và Môi trường tổ chức đoàn đi kiểm tra, giám sát việc thực hiện vệ sinh môi trường ở các công ty, xí nghiệp, đóng trên địa bàn, qua đó đã kiến nghị với chính quyền xử lý, di dời 85 cơ sở gây ô nhiễm, gây ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân; hoặc yêu cầu các Khu dân cư văn hóa phải đảm bảo vệ sinh môi trường, hàng quý có kiểm tra xét công nhận; tổ chức vận động các cơ sở kinh doanh dịch vụ thực hiện các quy định về bảo đảm vệ sinh môi trường. Phối hợp thực hiện mô hình điểm về Phong trào "Toàn dân tham gia BVMT" tại các Quận có những phường còn tồn tại về vệ sinh môi trường và từ năm 2008 nâng lên thành Cuộc vận động "Toàn dân tham gia bảo vệ môi trường", "Toàn dân tham gia bảo đảm trật tự An toàn giao thông" hưởng ứng chủ trương thực hiện nếp sống văn minh đô thị tại các quận: 4, 5, 6, 8, 10, Tân Phú, Thủ Đức, huyện Bình Chánh.

Để góp phần giữ gìn cảnh quan sạch đẹp - an toàn, trong những năm qua Ngành Tài nguyên và Môi trường cùng với hệ thống Mặt trận Quận, Huyện và cơ sở đã phối hợp vận động các tầng lớp nhân dân tổ chức cho nhân dân làm vệ sinh đường phố, không xả rác bừa bãi ra nơi công cộng, thu gom rác, xử lý rác, khai thông cống rãnh để tránh ngập lụt và phòng chống dịch bệnh sốt xuất huyết và tổ chức trồng cây xanh, cây kiểng các loại trong khu dân cư và trước cửa nhà để góp phần xây dựng thêm môi trường xanh. Ngoài ra, Quận 2, 3, 5, 7, 8, 9, 10, 12, Gò Vấp, Tân Bình, Bình Thạnh, Thủ Đức, Bình Tân, huyện Bình Chánh, Hóc Môn, Cần Giờ đã tích cực vận động nhân dân thực hiện các công trình trong nội bộ khu dân cư như: trồng cây xanh, hiến đất mở đường, mở rộng hẻm, duy tu, sửa chữa nâng cấp, cải tạo vỉa hè, gắn đèn chiếu sáng, với tổng số tiền trên 58 tỷ đồng theo phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm".

Chương trình liên tịch giữa Sở Tài nguyên và Môi trường và Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc thành phố đã góp phần giúp cho công tác tuyên truyền bảo vệ môi trường được nhân rộng đến nhiều tầng lớp nhân dân, qua đó nhiều người hiểu được tầm quan trọng của môi trường và trách nhiệm của mỗi người dân đối với công tác này. Với sự phối hợp chặt chẽ trong chuyên môn của Sở cộng thêm thế mạnh trong việc phát động các chương trình tại địa bàn dân cư của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể đã giúp cho các mô hình điểm về bảo vệ môi trường tại khu dân cư phát huy được thế mạnh và thu hút được nhiều người dân tham gia, góp phần chuyển biến tích cực điều kiện vệ sinh môi trường tại các khu dân cư. Thông qua chương trình liên tịch đã góp phần đa dạng hoá các hoạt động tuyên truyền phù hợp với từng đối tượng, tạo cơ hội cho các ban ngành đoàn thể chia sẻ những kinh nghiệm, cũng như những khó khăn nhằm giúp công tác tuyên truyền có kết quả cao hơn. Đối với một số địa phương còn nhiều tồn tại về trật tự đô thị, vệ sinh môi trường, việc chọn một số đơn vị thực hiện kế hoạch điểm về Cuộc vận động "Toàn dân tham gia bảo vệ môi trường" là biện pháp phù hợp nhằm hỗ trợ kịp thời cho những đơn vị này, qua đó nhân rộng mô hình để Cuộc vận động ngày càng hiệu quả hơn, thực chất hơn, được các tầng lớp nhân dân nhiệt tình ủng hộr

                                                                                                     Kim Lan

| TTCTMT | Trở Về đầu trang  |



VẬN ĐỘNG NHÂN DÂN BẢO VỆ ĐA DẠNG SINH HỌC
 VƯỜN QUỐC GIA PHONG NHA - KẺ BÀNG Ở TUYÊN HÓA

        Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng là một phần của khu vực núi đá vôi cổ nhất ở Châu Á được tạo lập từ hơn 400 triệu năm trước, gắn liền với các chu kỳ kiến tạo và phát triển chính của lịch sử trái đất. Năm 2003, Phong Nha Kẻ Bàng được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới - Di sản thế giới thứ 5 của Việt Nam. Đây là một trong những điểm thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế vì những giá trị phong cảnh núi rừng hùng vĩ, có hệ sinh thái đa dạng, phong phú, đặc biệt là hệ thống hang động ngầm trong lòng núi (Động Phong Nha), là món quà vô giá mà thiên nhiên ban tặng cho Việt Nam nói chung và tỉnh Quảng Bình nói riêng. Vì vậy, công tác bảo vệ đa dạng sinh học, bảo tồn bền vững các giá trị di sản nhằm phát huy tiềm năng du lịch của Vườn quốc gia Phong Nha -Kẻ Bàng đang được các cấp, các ngành và nhân dân Quảng Bình quan tâm, tham gia thực hiện trong đó có vai trò của Mặt trận và các tổ chức đoàn thể huyện Minh Hóa.

Huyện Minh Hóa có 5 xã được quy hoạch vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, đó là xã Thượng Hóa, Hóa Sơn, Trung Hóa, Dân Hóa và xã Trọng Hóa, có diện tích tự nhiên là 98.435ha, gồm 53 thôn bản với 3.114 hộ dân. Đây là các xã biên giới, đa số là đồng bào dân tộc thiểu số (chiếm trên 85%); tỷ lệ hộ nghèo còn cao (chiếm trên 90%). Hiện nay, ở xã Dân Hóa, Trọng Hóa, Thượng Hóa đồng bào một số vùng còn có tập quán sống du canh, du cư, dựa vào rừng để phát nương trồng cây lương thực (như: lúa, ngô, sắn…), khai thác gỗ, săn bắt động vật hoang dã quý hiếm... đời sống của bà con dân tộc thiểu số sống quanh vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha -Kẻ Bàng còn hết sức khó khăn, chưa có ý thức tự giác trong việc bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ đa dạng sinh học Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng nói riêng.

Cùng với cấp ủy Đảng, chính quyền, các cơ quan chức năng làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân bảo vệ môi trường, bảo vệ đa dạng sinh học Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, trong thời gian qua, Mặt trận các cấp huyện Minh Hóa đã tổ chức triển khai nhiều hoạt động thiết thực, có hiệu quả với nhiều nội dung và hình thức khác nhau. Được sự quan tâm của ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ủy ban Mặt trận tỉnh Quảng Bình, Mặt trận huyện Minh Hóa đã tổ chức các lớp tập huấn cho nhân dân 4 xã biên giới là vùng đệm của Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng trong thời gian 3 ngày với 135 người tham gia, thành phần gồm: Bí thư chi bộ, trưởng thôn - bản, chi hội trưởng các tổ chức đoàn thể ở các bản, các già làng, trưởng bản. Nội dung tập huấn chủ yếu gồm các văn bản như: Luật bảo vệ Môi trường; Luật Bảo vệ và phát triển rừng; Luật Biên giới quốc gia và một số chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về đồng bào dân tộc...

Đối với cấp xã, Mặt trận các xã đã phối hợp với các tổ chức thành viên triển khai Đề án 02 - 212 và thông qua hội nghị của các tổ chức này các chi hội đã lồng ghép tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, thay đổi cung cách làm ăn. Đồng thời, Mặt trận các xã cũng đã phối hợp với các đồn Biên phòng hướng dẫn đồng bào về kỹ thuật gieo trồng lúa nước, làm trang trại, phát triển chăn nuôi, trồng rừng nguyên liệu nâng cao thu nhập, ổn định đời sống nên đã hạn chế tình trạng đốt, phát rừng làm nương rẫy, khai thác lâm sản, săn bắt động vật hoang dã trong vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha -Kẻ Bàng.

Cùng với công tác tuyên truyền, vận động nhân dân bảo vệ rừng vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Mặt trận huyện Minh Hóa đã chỉ đạo, hướng dẫn Mặt trận các xã phối hợp với cấp ủy Đảng, chính quyền triển khai thực hiện tốt các chương trình, dự án của Chính phủ như Chương trình 134,135 và một số chế độ chính sách đầu tư hỗ trợ cho đồng bào dân tộc, xây dựng cơ sở hạ tầng điện, đường, trường, trạm, vận động nhân dân vùng đệm mạnh dạn vay vốn đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh, thay đổi phong tục tập quán lạc hậu; nhân rộng các mô hình làm ăn có hiệu quả cho nhân dân học tập, như mô hình trồng rừng nguyên liệu, chăn nuôi trâu, bò, dê, nuôi ong lấy mật… nên đã tăng thu nhập bền vững, ổn định đời sống nhân dân vùng đệm của Vườn. Đặc biệt, hiện nay, huyện Minh Hóa đang triển khai thực hiện Đề án 30a của Thủ tướng Chính phủ về đầu tư phát triển cho 62 huyện nghèo, cơ sở hạ tầng đã có sự phát triển khá, đã hỗ trợ, đầu tư vốn, lương thực, tạo việc làm cho đồng bào dân tộc ở các xã biên giới vùng đệm của Vườn nên đời sống của người dân nơi đây đã từng bước ổn định.

Bằng các hoạt động trên đây, cán bộ, nhân dân và đồng bào các dân tộc đã nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật, tích cực tham gia bảo vệ rừng, bảo vệ đa dạng sinh học Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Từng bước làm giảm nguy cơ phá rừng, hạn chế nạn khai thác gỗ, săn bắt động vật hoang dã quý hiếm, góp phần cùng các cơ quan chức năng bảo vệ đa dạng sinh học Vườn quốc gia Phong Nha -Kẻ Bàng.

Bên cạnh một số kết quả đã đạt được, trong quá trình thực hiện công tác tuyên truyền, vận động cho nhân dân tham gia bảo vệ đa dạng sinh học vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng vẫn còn một số vướng mắc, khó khăn. Đó là:

1. Các xã vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng đa số là đồng bào dân tộc thiểu số nên trình độ nhận thức rất hạn chế, còn tồn tại nhiều phong tục tập quán lạc hậu, có tư tưởng trông chở ỷ lại vào Đảng, Nhà nước, chưa chịu khó tự phấn đấu vươn lên nên rất khó khăn trong việc xóa đói, giảm nghèo cũng như thực hiện công tác tuyên truyền, vận động để họ nâng cao nhận thức hiểu biết về công tác bảo vệ môi trường, bảo vệ Vườn quốc gia Phong Nha -Kẻ Bàng. Bên cạnh đó, các xã này lại nằm trong điều kiện kinh tế -xã hội kém phát triển, cơ sở hạ tầng giao thông đi lại giữa các thôn, bản hết sức khó khăn; người dân sống chủ yếu dựa vào khai thác rừng, không có việc làm ổn định, thu nhập thấp, đời sống khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo còn rất cao.

  2. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền, sự phối hợp của Mặt trận và các đoàn thể trong công tác bảo vệ đa dạng sinh học Vườn quốc gia Phong Nha -Kẻ Bàng ở một số nơi chưa được chú trọng và chưa thường xuyên; các cơ quan chức năng chưa có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, chưa xây dựng được quy chế phối hợp công tác để bảo vệ và quản lý Vườn quốc gia Phong Nha -Kẻ Bàng có hiệu quả.

3. Việc quy hoạch giao đất, giao rừng quanh vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha -Kẻ Bàng chưa cụ thể, rõ ràng, tiến độ còn chậm, chưa phối hợp với các chương trình dự án khác để đầu tư vốn, giải quyết việc làm tăng thu nhập ổn định đời sống cho người dân vùng đệm Phong Nha -Kẻ Bàng.

Từ tình hình thực tế nêu trên, để công tác bảo vệ, bảo tồn đa dạng sinh học Vườn quốc gia Phong Nha -Kẻ Bàng đạt kết quả tốt, trong thời gian tới các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận các cấp và các tổ chức thành viên cần quan tâm tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo, quản lý và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia bảo vệ môi trường nói chung trong đó có bảo vệ đa dạng sinh học Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Bên cạnh việc chú trọng tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhân dân nâng cao ý thức trách nhiệm cộng đồng trong công tác bảo vệ Vườn, Mặt trận cần có chương trình hành động cụ thể như: mở các lớp tập huấn với nội dung, hình thức tuyên truyền đa dạng phong phú nhằm nâng cao nhận thức về giá trị tinh thần, giá trị kinh tế của Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng để từ đó nâng cao ý thức, trách nhiệm tự giác tham gia bảo vệ môi trường của người dânr

                                                                                                   Nhật Lệ

| TTCTMT | Trở Về đầu trang  |



NỖ LỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VỊNH BIỂN NHA TRANG

 Mỗi ngày danh thắng vịnh Nha Trang phải hứng chịu khoảng 10 tấn rác thải cộng với hàng ngàn m3 nước thải. Thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hoà đã có nhiều cố gắng bảo vệ môi trường sinh thái vịnh.

Dân số thành phố Nha Trang dao động trong khoảng 370.000 người, cộng thêm khoảng 5.000 cư dân sinh sống trên các đảo; ngoài ra mỗi năm, vịnh Nha Trang đón khoảng 1,2 triệu lượt khách du lịch. Dân số và du lịch phát triển, kéo theo lượng rác khổng lồ tấn công vịnh Nha Trang.

Theo thống kê của Ban quản lý Khu Bảo tồn biển vịnh Nha Trang, mỗi ngày có khoảng 10 tấn rác thải du lịch, cộng với rác thải sinh hoạt của dân cư trên 6 khóm đảo đổ xuống biển khoảng 1 tấn rác nữa. Hiện có khoảng 380 lồng với gần 9.000 bè nuôi tôm hùm trên vịnh Nha Trang, thải ra rất nhiều thức ăn thừa, bên cạnh đó là chất thải từ vô số nhà vệ sinh không có hầm chứa trên mặt nước làm ô nhiễm nước vịnh.

Vùng lõi Hòn Mun là khu vực cần bảo vệ nghiêm ngặt, tuy nhiên mùa du lịch cao điểm, mỗi ngày có khoảng 40 tàu thuyền du lịch cùng với 500-600 khách qua lại, lặn ngắm san hô và tắm biển. Để thực hiện việc mở rộng 1ha mặt đất, chủ đầu tư đã đổ xuống mặt biển hàng vạn m3 đất đá,  xây bờ kè, cầu cảng. Vì vậy, khoảng hơn 20ha rừng ngập mặn, cỏ biển, san hô... xung quanh đảo Hòn Tre đã và đang bị các nhà đầu tư chôn vùi không thương tiếc.

Một nghiên cứu mới đây của Viện Hải dương học Nha Trang đã cảnh báo: "Khối trầm tích xuất hiện trong vịnh Nha Trang theo chiều hướng gia tăng, vật chất lơ lửng trong nước biển cũng tăng nhanh”.

Nhiều nỗ lực làm sạch môi trường

Trước tình trạng vịnh Nha Trang bị ô nhiễm, tỉnh Khánh Hoà đã có nhiều cố gắng bảo vệ môi trường. Trước hết, Khánh Hoà chú trọng công tác tuyên truyền vận động người dân sống trên đảo, ven bờ chung tay bảo vệ môi trường biển, hạn chế vứt rác thải bừa bãi xuống biển, không chặt phá rừng ngập mặn. Hàng năm, các hoạt động bảo vệ môi trường biển như thả rùa về biển, bắt sam biển gai, một loài ăn san hô,  thu gom rác nhân ngày bảo vệ môi trường được đông đảo người dân tham gia. Trong những dịp Ngày Môi trường thế giới, Ngày Đa dạng sinh học thế giới, Ngày Lặn trái đất, tỉnh phát động người dân tham gia làm sạch biển để nâng cao ý thức người dân về bảo vệ môi trường biển.

Ông Trương Kỉnh, Giám đốc Ban Quản lý Khu Bảo tồn biển vịnh Nha Trang cho biết: “Chúng tôi có chương trình bảo vệ môi trường sinh thái biển cho con em sinh sống trên đảo, như: tổ chức ngoại khoá. Chúng tôi tuyên truyền người dân phân loại rác thải để người dân biết được ảnh hưởng của rác thải đối với môi trường biển”.

Bắt đầu từ năm 2007, UBND tỉnh Khánh Hoà giao Ban quản lý Khu Bảo tồn biển vịnh Nha Trang phối hợp với các cơ quan chức năng triển khai thực hiện  phương án thu gom, vận chuyển rác trong vịnh Nha Trang. Kinh phí đầu tư ban đầu cho phương án này khoảng 500 triệu đồng gồm các hạng mục như: xây dựng hầm xử lý rác, thùng đựng rác, tập huấn phân loại rác; thuê tàu vận chuyển, hợp đồng lao động, mua thiết bị, dụng cụ… phục vụ cho công tác vận chuyển rác vào đất liền.

Sau 1 năm thực hiện, phương án thu gom, vận chuyển rác trong vịnh Nha Trang ban đầu đã đạt được hiệu quả nhất định. Đến nay, các đơn vị liên quan đã thu gom hơn 1.500 tấn rác thải tại vịnh Nha Trang, trong đó lượng rác thu được chủ yếu tại các lồng, bè (khoảng 800 tấn), số rác còn lại thu được từ các khu dân cư trên đảo. Hiện nay, lượng rác được thu gom hàng ngày từ 4 - 5 tấn, cao điểm lên đến 7 tấn. Hoạt động thu gom rác đã giúp giảm áp lực ô nhiễm trên vùng biển vịnh Nha Trang. Nhờ đó, tại nơi công cộng trên các đảo, mặt nước biển đã phần nào sạch, đẹp hơn. Qua hoạt động thu gom rác trên vịnh Nha Trang, ý thức bảo vệ môi trường biển của người dân cũng được nâng cao.

Bà Nguyễn Thị Gái, người dân phường Vĩnh Nguyên, thành phố Nha Trang cho biết, người dân ở đây không còn thói quen vứt rác thải xuống biển nữa mà thu gom lại, chờ tàu đến chở đi. Bà con cũng thường xuyên nhắc nhở con em mình không xả rác bừa bãi.

Các biện pháp khoa học phục hồi hệ sinh thái, bảo vệ môi trường biển vịnh Nha Trang cũng được đẩy mạnh. Riêng Viện Hải dương học Nha Trang có những nghiên cứu giúp phát triển vịnh Nha Trang, có những biện pháp công nghệ như phục hồi hệ sinh thái rạn san hô, nuôi trồng mới rạn san hô.

Phó Giáo sư-TSKH Nguyễn Tác An, nguyên Viện trưởng Viện Hải dương học Nha Trang, hiện là Chủ tịch Ủy ban Hải dương học Việt Nam cho biết,  Viện đã có những nghiên cứu thực hiện 1 số công nghệ phục hồi cảnh quan vịnh Nha Trang, đặc biệt 2004-2006 nghiên cứu nuôi trồng hệ san hô, ngoài ra còn nuôi một số sinh vật biển sống trong hệ san hô như cá khoang..

Tuy nhiên việc bảo vệ môi trường biển vịnh Nha Trang vẫn còn nhiều hạn chế. Hiện nay, hàng ngàn lồng bè nuôi thủy sản trên vịnh xả ra hàng tấn rác thải mỗi ngày nhưng người nuôi trồng thuỷ sản chưa nộp phí thu gom rác, kinh phí cho việc bảo vệ môi trường hạn chế, quy hoạch phát triển nuôi trồng thuỷ sản, phát triển du lịch không theo kịp thực tế²

                                                                                    Thanh Hà

| TTCTMT | Trở Về đầu trang  |



CÔNG TÁC DÂN SỐ KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH VỚI SỰ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

 

1. Dân số, phát triển và chất lượng của cuộc sống

Dân số của mỗi quốc gia hoặc mỗi địa phương có liên quan rất mật thiết đến sự phát triển của quốc gia, địa phương đó cũng như có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống của người dân.

Về mặt tích cực, dân số đông đem lại nguồn lao động cho sản xuất, nhất là khi trình độ cơ giới hóa, tự động hóa chưa cao. Tuy nhiên về mặt tiêu cực, dân số đông dẫn đến nhiều vấn đề nghiêm trọng nhất là khi cung không đáp ứng đủ cầu. Về mặt kinh tế, khi mà tài nguyên thiên nhiên, đầu tư cơ sở vật chất không đáp ứng kịp tỉ lệ tăng dân số, nạn thất nghiệp sẽ là một vấn đề nan giải. Từ đó dẫn đến những vấn đề như người lang thang, ăn xin thậm chí là những tệ nạn xã hội như trộm cướp, mại dâm v.v... chưa kể đến sự đổ xô của nhiều người lên thành thị trở thành gánh nặng cho các thành phố lớn. Về mặt giáo dục, dân số tăng nhanh có thể vượt mức đáp ứng của hệ thống giáo dục cộng với điều kiện kinh tế gia đình khó khăn làm tăng tình trạng thất học, bỏ học dẫn đến trình độ dân trí trung bình giảm thấp, ảnh hưởng đến sự phát triển chung của xã hội cũng như chất lượng cuộc sống.

Về mặt y tế, dân số tăng nhanh vượt quá mức cung ứng sẽ dẫn đến dịch bệnh gia tăng dẫn đến giảm sức lao động, thương tật, tử vong. Hậu quả nghiêm trọng nhất của việc tăng dân số là vấn đề môi trường. Việc khai thác thiên nhiên một cách bừa bãi như phá rừng lấy đất canh tác, khai thác gỗ làm chất đốt, vật dụng, khai thác thú rừng, đào quặng bừa bãi v.v... đã tàn phá trầm trọng đến nguồn tài nguyên thiên nhiên gián tiếp ảnh hưởng đến các thay đổi về mặt sinh thái như nạn lũ lụt, hạn hán. Dân số tăng đặc biệt ở thành thị dẫn đến những vùng có mật độ dân cư cao, sống chen chúc, mất vệ sinh dẫn đến sự gia tăng các dịch bệnh. Khói thải, nước thải, rác thải làm ô nhiễm môi trường không khí, nước, đất làm trọng trầm thêm những vấn đề sức khỏe nhất là ở các đô thị hoặc khu công nghiệp. Ảnh hưởng về mặt kinh tế, giáo dục, y tế, môi trường đã tác động mạnh đến đời sống xã hội và tâm lý của người dân. Cuộc sống khó khăn dẫn đến quẫn bách hoặc, mâu thuẫn trong gia đình gia tăng, càng làm giảm thêm chất lượng cuộc sống.

2. Kế hoạch hóa gia đình

Từ những phân tích trên, bên cạnh các biện pháp phát triển kinh tế, y tế, giáo dục, kiểm soát việc khai thác tài nguyên, phân bố dân cư hợp lý, giải quyết ô nhiễm môi trường thì kế hoạch hóa gia đình là một biện pháp cơ bản giúp giải quyết vấn đề dân số và nâng cao chất lượng cuộc sống. Kế hoạch hóa gia đình ngoài mục đích hạn chế sự gia tăng dân số còn nhằm bảo vệ sức khỏe của người phụ nữ và trẻ em đồng thời đem lại hạnh phúc cho gia đình.

- Nên sinh từ 1-2 con: sinh ít con sẽ làm giảm khả năng tai biến sản khoa, tránh sa sinh dục, bảo vệ được sức khỏe người phụ nữ tránh các tình trạng kém dinh dưỡng đồng thời còn bảo vệ vẻ đẹp của người phụ nữ.

- Khoảng cách sinh con nên từ 3-5 năm: không làm tăng thêm gánh nặng cho người phụ nữ về dinh dưỡng cũng như về sức khỏe giúp giảm suy dinh dưỡng, giảm tai biến sản khoa, giúp sinh dễ. Đồng thời người mẹ có thời gian chăm sóc trẻ, tránh bệnh tật. Không sinh khoảng cách quá xa vì có thể đã quên kinh nghiệm nuôi con.

- Tuổi có con nên từ khoảng 22-35. Sinh lúc còn quá trẻ khi cơ thể chưa phát triển đầy đủ làm tăng tai biến sản khoa, tăng tỉ lệ suy dinh dưỡng cho cả mẹ và con.

3. Công tác truyền thông chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) trong cán bộ công chức, viên chức ngành y tế

Do tầm quan trọng đặc biệt của vấn đề DS-KHHGĐ, nhiều chính sách, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước đã được ban hành nhằm thúc đẩy công tác DS-KHHGĐ trong đó đặc biệt là công tác truyền thông vận động. Tuy nhiên vì nhiều lý do như đã phân tích trong Thông báo kết luận của Ban Bí thư số 160-TB/TW, ngày 04 tháng 6 năm 2008 về tình hình thực hiện chính sách DS-KHHGĐ và một số giải pháp cấp bách, công tác truyền thông DS-KHHGĐ chưa đạt được những kết quả mong muốn. Các lý do có thể kể như:

- Cấp uỷ đảng và chính quyền các cấp còn có tư tưởng chủ quan, thoả mãn, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình; chưa quán triệt đầy đủ các nội dung Nghị quyết 47-NQ/TW, ngày 22-3-2005 của Bộ Chính trị về ''tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình''.

- Các cơ quan cấp Trung ương ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện mô hình tổ chức bộ máy mới còn chậm, dẫn tới việc mỗi địa phương hiểu và thực hiện rất khác nhau. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh Dân số thiếu chặt chẽ.

- Các cấp, các ngành chưa xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thiếu gương mẫu, vi phạm chính sách DS-KHHGĐ gia đình.

- Hệ thống tổ chức làm công tác DS-KHHGĐ gia đình trong những năm qua có nhiều thay đổi, không ổn định.

- Một bộ phận nhân dân, trong đó có cả cán bộ, đảng viên cho rằng, công tác DS-KHHGĐ gia đình đã kết thúc, dẫn tới việc coi nhẹ công tác này, tỉ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai giảm mạnh mà hậu quả là việc tăng sinh con.

Trước tình hình này Ban Bí thư cũng đã nêu các phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp để thực hiện tốt chính sách DS-KHHGĐ trong đó có những nội dung liên quan đến công tác truyền thông.

- Cần sớm sửa ngay Điều 10 Pháp lệnh Dân số trong năm 2008, khắc phục nhanh chóng những thiếu sót của Pháp lệnh Dân số năm 2003.

- Tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân để hiểu và thực hiện đúng chính sách dân số -kế hoạch hóa gia đình của Đảng và Nhà nước.

Trên cơ sở Thông báo kết luận của Ban Bí thư số 160-TB/TW đã có những chuyển biến tích cực:

- Chính phủ đã ra Nghị quyết số 27/2008/NQ-CP ngày 25 tháng 11 năm 2008 trong đó giao Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ tiếp thu ý kiến các thành viên Chính phủ tại phiên họp, hoàn chỉnh dự án Pháp lệnh sửa đổi Điều 10 Pháp lệnh Dân số năm 2003.

- Hệ thống tổ chức làm công tác DS-KHHGĐ cũng đã từng bước được kiện toàn với sự thành lập của Chi cục Dân số-KHHGĐ trực thuộc Sở Y tế.

- Tổ chức Đảng các cấp, trong đó có Đảng ủy Sở Y tế TP.Hồ Chí Minh cũng đã triển khai quán triệt cho tất cả đảng viên, cán bộ công chức, viên chức, nhân dân để hiểu và thực hiện đúng chính sách dân số -kế hoạch hóa gia đình của Đảng và Nhà nước.

Về nội dung và phương pháp truyền thông về DS-KHHGĐ, Chiến lược dân số Việt Nam 2001-2010 cũng đã nhấn mạnh giải pháp Truyền thông - giáo dục thay đổi hành vi là một phương pháp tiếp cận truyền thông hướng đến những thông điệp, hình thức truyền thông phù hợp và cụ thể cho từng loại đối tượng và từng giai đoạn thay đổi hành vi.

Cụ thể về nội dung phải phù hợp với trình độ nhận thức, điều kiện kinh tế-xã hội của đối tượng. Về phương pháp phải đa dạng bao gồm từ những hình thức truyền thông đại chúng (phát thanh, truyền hình, báo chí) đến truyền thông trực tiếp của đội ngũ cán bộ tuyên truyền viên, các chức sắc tôn giáo, già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng, đội ngũ cán bộ chuyên trách dân số, cán bộ y tế và cộng tác viên dân số. Các sản phẩm truyền thông cũng cần phải đa dạng về hình thức và phong phú về nội dung phù hợp với từng nhóm đối tượng.

Như vậy, trước những chuyển biến đáng kể về luật pháp, tổ chức và định hướng hoạt động truyền thông, Trung tâm Truyền thông-Giáo dục Sức khỏe sẽ phối hợp chặt chẽ với Chi cục Dân số-KHHGĐ TP.Hồ Chí Minh để triển khai thực hiện các hoạt động truyền thông, đặc biệt chú trọng đến đối tượng cán bộ công chức, viên chức ngành y tế, theo đúng những định hướng, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước góp phần đạt được mục tiêu về DS-KHHGĐ vào năm 2010 cũng chính là góp phần bảo vệ và nâng cao sức khỏe người dân²

                                                                                                       BS.TS Trọng Hoàng

| TTCTMT | Trở Về đầu trang  |



KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG TRUNG TÂM DÂN SỐ KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH HUYỆN QUỲ HỢP

        Trung tâm DS - KHHGĐ huyện được thành lập theo Quyết định số: 499/QĐ/SYT ngày 9 tháng 7 năm 2008 của Sở Y tế Nghệ An. Ngay sau khi thành lập Trung tâm đã sớm kiện toàn, ổn định tổ chức bộ máy, biên chế và triển khai thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn theo chức năng nhiệm vụ được phân công. Cùng với việc củng cố, ổn định tổ chức bộ máy và triển khai thực hiện nhiệm vụ, chất lượng đội ngũ cán bộ từ huyện đến cơ sở cũng được quân tâm, nâng cao. Trung tâm đã tổ chức cho cán bộ, viên chức Trung tâm và cán bộ chuyên trách mới được thay thế tham gia các lớp tập huấn nâng cao nghiệp vụ tại Tỉnh. Ngoài ra, Trung tâm còn mở được nhiều lớp tập huấn nâng cao nghiệp vụ cho 100% cán bộ chuyên trách và Cộng tác viên Dân số - kế hoạch hóa gia đình cơ sở.

Trung tâm DS - KHHGĐ huyện Quỳ Hợp là một trong 5 đơn vị đầu tiên của tỉnh tổ chức thành công Hội nghị chuyên đề bàn về công tác DS - KHHGĐ kết hợp ra mắt Trung tâm, là đơn vị duy nhất trong toàn tỉnh tổ chức thành công Hội thi tìm hiểu và tuyên truyền về công tác DS - KHHGĐ trong năm 2008. Ngay sau khi có Đề án thành lập Ban chỉ đạo thực hiện công tác DS – KHHGĐ các cấp, Trung tâm DS - KHHGD huyện đã tham mưu cho UBND huyện thành lập Ban chỉ đạo thực hiện công tác DS – KHHGĐ cấp huyện đồng thời ban hành quy chế hoạt động của Ban chỉ đạo.

Trong chương trình hoạt động chào mừng kỉ niệm ngày Dân số Thế giới 11/7/2009, Trung tâm DS - KHHGĐ huyện đã tham mưu cho UBND huyện ban hành công văn đôn đốc Chính quyền các xã, thị trấn tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức triển khai có hiệu quả các hoạt động về DS - KHHGĐ; đặc biệt là tham mưu UBND huyện ban hành Đề án “Nâng cao chất lượng DS - KHHGĐ từ nay đến năm 2015” được Chi cục, Huyện uỷ, UBND huyện ghi nhận đánh giá cao và tạo được một động lực mạnh mẽ tác động sâu sắc đến nhận thức, sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và triển khai các hoạt động của các cấp uỷ, Chính quyền địa phương trên lĩnh vực DS – KHHGĐ.

Song song với việc tham mưu với cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, Trung tâm DS - KHHGĐ huyện Quỳ Hợp quan tâm chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả các hoạt động chuyên môn, như chỉ đạo triển khai thực hiện chiến dịch truyền thông, tư vấn, vận động và lồng ghép cung cấp dịch vụ Chăm sóc SKSS/KHHGĐ tại 21 xã, thị trấn. Thông qua đó, tỷ lệ các cặp vợ chồng được trang bị các kiến thức về sức khoẻ sinh sản, KHHGĐ và các chính sách về DS - KHHGĐ trong giai đoạn hiện nay được nâng lên đồng thời tăng tỷ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ sử dụng các BPTT hiện đại.

Đến nay, 21/21 xã, thị trấn trên địa bàn huyện Quỳ Hợp đã thực hiện hoàn thành chiến dịch chăm sóc SKSS/KHHGĐ năm 2009 đạt và vượt các chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Hiện nay có 19/21 nữ hộ sinh làm việc tại các trạm Y tế đều đã được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ để đáp ứng yêu cầu thực hiện các dịch vụ khám, điều trị phụ khoa, đặt dụng cụ tử cung và tư vấn chăm sóc SKSS/KHHGĐ. Nhờ vậy mà công tác chăm sóc SKSS – KHHGĐ cho đối tượng được thực hiện một cách kịp thời, thuận tiện và an toàn hơn. Do đó, người dân tin tưởng và an tâm hơn khi tham gia các dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ. Công tác tư vấn, vận động và cung cấp các biện pháp tránh thai phi lâm sàng được thực hiện tương đối tốt, các phương tiện tránh thai được cung cấp kịp thời và tương đối đầy đủ cho đối tượng (thuốc uống tránh thai, bao cao su). Thông qua việc chỉ đạo và triển khai các hoạt động về DS – KHHGĐ đã từng bước khống chế được tỷ lệ tăng dân số, đặc biệt là tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên, góp phần từng bước ổn định quy mô dân số và tiến tới đạt mức sinh thay thế.

Bên cạnh những kết quả đã được, trong chỉ đạo, điều hành và triển khai các hoạt động về DS - KHHGĐ trên địa bàn huyện Quỳ Hợp vẫn còn những khó khăn như: trình độ của đội ngũ chuyên trách và Cộng tác viên DS – KHHGĐ ở cơ sở chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. Chế độ phụ cấp cho cán bộ DS - KHHGĐ ở cơ sở còn quá thấp do đó ít nhiều ảnh hưởng đến tinh thần và chất lượng hoạt động của đội ngũ cán bộ cơ sở.

Để tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả công tác DS – KHHGĐ trong thời gian tới, Trung tâm DS – KHHGĐ huyện cần tập trung nỗ lực triển khai thực hiện tốt một số nhiệm vụ như: tham mưu cho cấp uỷ Đảng và chính quyền địa phương tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và sự phối kết hợp, vào cuộc của các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức lồng ghép triển khai thực hiện các hoạt động trên lĩnh vực DS - KHHGĐ một cách khoa học, có hiệu quả thiết thực. Tổ chức tuyên truyền, phổ biến và giáo dục các chủ trương, chính sách, những quy định của Đảng và Nhà nước ta đối với công tác DS - KHHGĐ một cách đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung, nhằm nâng cao nhận thức của người dân đối với quyền lợi và trách nhiệm trong việc thực hiện các chính sách về DS - KHHGĐ kết hợp cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ. Quan tâm kiện toàn, nâng cao chất lượng của đội ngũ chuyên trách và CTV DS – KHHGĐ ở cơ sở. Phối hợp triển khai có hiệu quả chiến dịch chăm sóc SKSS/KHHGĐ đợt 2 năm 2009. Tăng cường đầu tư các nguồn lực cho công tác DS – KHHGĐ như huy động lực lượng toàn xã hội tham gia công tác DS – KHHGĐ, chính quyền địa phương ưu tiên ngân sách đầu tư, hỗ trợ cho các hoạt động DS – KHHGĐ, tăng cường mối quan hệ phối hợp với các cơ quan chức năng và các ban ngành đoàn thể để triển khai thưc hiện các hoạt động một cách đồng bộ góp phần thực hiện tốt các chương trình mục tiêu về DS - KHHGĐ trên địa bàn²

                                                                                  Nguyễn Thị Phương

| TTCTMT | Trở Về đầu trang  |



XÓM SỢI DƯỚI ĐI LÊN NHỜ CÔNG TÁC DÂN SỐ - KHHGĐ

 

        Xóm Sợi Dưới, xã Thọ Hợp huyện Quỳ Hợp có 160 hộ dân, với 756 nhân khẩu, có 80 khẩu dân tộc Kinh còn lại là dân tộc Thổ. Trong những năm qua, cùng với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, ban CTMT, cộng tác viên DS/KHHGĐ đã phối hợp với các đoàn thể xóm để tuyên truyền, phổ biến và vận động người dân thực hiện tốt các chính sách DS/KHHGĐ, Nhờ đó, đời sống của người dân ngày một đi lên rõ rệt, nhiều gia đình thoát khỏi cảnh nghèo đói và đi lên làm giàu, xóm làng có nhiều khởi sắc, đường làng ngõ xóm khang trang, sạch sẽ, được phủ bê tông đến từng hộ gia đình, đời sống của người dân khá giả, toàn xóm không có hộ đói, chỉ có 10 % hộ nghèo. Bà con nhân dân đoàn kết, vui vẻ, phấn khởi xây dựng đời sống mới ở khu dân cư.

Trở lại những năm trước đây, Sợi Dưới là một trong 4 xóm thuộc “điểm nóng” của xã Thọ Hợp về vi phạm chính sách DS/KHHGĐ, toàn xã có 132 hộ thì có đến 20 hộ sinh con thứ 3 trở lên, trong đó, cá biệt còn có hộ sinh con thứ 4, thứ 5. Do đó, đời sống của người dân hết sức khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo của xóm chiếm tới 42%. Chị Trương Thị Lan – CTV DS/KHHGĐ xóm Sợi Dưới tâm sự: “ Trước đây, đời sống của bà con trong xóm rất khó khăn, nhiều gia đình thường xuyên thiếu đói, phải lo chạy bữa hàng ngày, con cái không được quan tâm chăm sóc, nhiều gia đình phải cho con nghỉ học vì không có tiền để lo cho các cháu. Một trong những nguyên nhân đói nghèo của xóm là do sinh đẻ không có kế hoạch…”.

Đứng trước tình hình đó, cấp uỷ và ban cán sự xóm đã tập trung sự lãnh đạo, chỉ đạo các đoàn thể xóm phối hợp với CTV DS/KHHGĐ tăng cường phổ biến, giáo dục các chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác DS/KHHGĐ, đồng thời tuyên truyền, tư vấn và vận động mọi người dân trong xóm thực hiện tốt chính sách DS/KHHGĐ. Bằng sự tập trung lãnh đạo của Cấp uỷ, ban cán sự xóm và sự cố gắng của CTV, chị đã “đi từng ngõ, gõ từng nhà và rà từng đối tượng” để nắm bắt tâm tư nguyện vọng và tâm lí của họ để tìm cách vận động, thuyết phục họ tự nguyện chấp nhận quy mô gia đình ít con, chỉ dừng lại hai con để nuôi dạy cho tốt. Đặc biệt, xóm Sợi Dưới thường xuyên quan tâm tổ chức nhiều hoạt động thông về lĩnh vực DS/KHHGĐ một cách phong phú và đa dạng như: sinh hoạt câu lạc bộ gia đình không sinh con thứ 3 trở lên, câu lạc bộ gia đình 4 chuẩn mực, Câu lạc bộ gia đình sinh con một bề, gặp gỡ các điển hình thực hiện tốt công tác DS/KHHGĐ…. Do đó được người dân quan tâm, hưởng ứng.

Anh Trương Văn Nhất tâm sự: “ Tôi là con trai cả trong gia đình, tôi xây dựng gia đình đã được 8 năm, hiện tại gia đình tôi có 2 con gái, lúc đầu tôi và ông bà nội, ngoại đều có ý định phải đẻ thêm cho bằng được thằng con trai, nhưng sau khi tham gia sinh hoạt Câu lạc bộ gia đình sinh con một bề tôi đã hiểu và quyết tâm thuyết phục cha mẹ hai bên chấp nhận chỉ dừng lại hai con thôi. Vì nếu đẻ nhiều thì sẽ không có điều kiện chăm sóc con cái và không thể xây dựng kinh tế gia đình được”… Gia đình Anh Nhất hiện nay có hai con gái khoẻ mạnh, học giỏi, chăm ngoan, nhà anh có một đàn bò, một đàn dê, hơn 2 ha rừng keo, lát ngoài ra anh còn chăn nuôi lợn bầy, ao cá, hàng năm thu nhập của gia đình lên tới hơn 50 triệu đồng. Không chỉ có gia đình Anh Nhất mà gia đình chị Thuý, chị Thương, chị Hồng đều là những gia đình sinh hai con gái, nhưng gia đình các chị đều hạnh phúc, con cái chăm ngoan, học giỏi, đời sống kinh tế khá giả, được bà con hàng xóm tin yêu, mến phục. Khi chúng tôi hỏi đến, các chị cười rất tươi và vui vẻ trả lời: “Để có cuộc sống gia đình khá giả, hạnh phúc như hôm nay là nhờ kế hoạch hoá gia đình đấy chị ạ”. Thiết nghĩ, nếu như các xóm, bản làng khác đều làm tốt công tác DS/KHHGĐ, bà con tự nguyện thực hiện các chính sách DS/KHHGĐ thì mọi người dân sẽ có cuộc sống ấm no hơn²

                                                                               Phan Thị Oanh

| TTCTMT | Trở Về đầu trang  |



       Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc năm 2009     
     Các điển hình tiêu biểu trong CVĐ TDĐKXDĐSVH ở KDC (2004-2009)
     Đối ngoại nhân dân MTTQ (2004-2009)


    Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc năm 2008

 
 
 
 

 
Giới thiệu Uỷ ban MTTQ Việt Nam 63 tỉnh, thành phố trong cả nước !
 

 

 

 

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh dự Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc tại Tổ dân phố 13 (Khu tập thể Ba Tầng), phường Nguyễn Trãi, quận Hà Đông, T.P Hà Nội

 

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dự Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc tại thôn Dương Đình, xã Dương Xá, Gia Lâm, Hà Nội.

 

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng dự Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc tại khu dân cư Bồ Dương, xã Hồng Phong, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương

 

Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam Huỳnh Đảm dự Ngày hội Đại đòan kết toàn dân tộc tại xóm Bãi Bệ I.

 
  ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM          
 

   bến nhà Rồng ( TP Hồ Chí Minh )


Khuê các Văn miếu
TP Hà Nội

 

    Dinh Thống nhất

              Mai Châu Hoà Bình


    Biển Hà Tiên       

 
 

|   Giới thiệu  |   Mặt trận Tỉnh Thành  | Tổ chức thành viên |  Hội đồng tư vấn   |   English

| TTCTMT | Trở Về đầu trang  |

Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2008 Trang TTĐT - Cơ quan UBTW MTTQ Việt Nam.
Giấy phép số:111/GP-BC của Bộ Thông tin và Truyền thông • Trưởng ban Biên tập: LÊ BÁ TRÌNH • Phó ban Biên tập: NGUYỄN TUẤN ANH
Địa chỉ: 46 Tràng Thi - Hà Nội • ĐT:04-9287401;  Email:
ubmttqvn@mattran.org.vn