SỐ 62                             

 TOÀN DÂN THAM GIA BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN SỐ - KẾ HOẠCH HOÁ GIA ĐÌNH

Huy động sức mạnh tổng hợp làm tốt công tác Dân số  - KHHGĐ

Công tác truyền thông Dân số  ở  các  huyện miền núi tỉnh Quảng Nam

Công tác Dân số kế hoạch hoá gia đình ở Ngọc Đồng

Kiên Giang tăng cường chỉ đạo công tác Dân số - KHHGĐ

Thôn Đông Nâu, điểm sáng công tác Dân số - KHHGĐ

Mặt trận Sóc Trăng với công tác bảo vệ môi trường

Thanh Hoá thực hiện tốt các hoạt động bảo vệ môi trường

Công tác tuyên truyền toàn dân bảo vệ môi trường ở TP Hoà Bình

Người cán bộ Mặt trận làm tốt công tác bảo vệ môi trường

[ về đầu trang ]


huy động sức mạnh tổng hợp làm tốt
 công tác dân số kế hoạch hoá gia đình

     Vừa qua, Bộ Y tế đã tổ chức hội nghị chuyên đề về công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) toàn quốc và triển khai một số nhiệm vụ y tế trọng tâm 6 tháng cuối năm 2008 dưới sự chủ trì của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Quốc Triệu cùng lãnh đạo một số bộ, ngành liên quan. Đây được coi là bước đệm quan trọng trong việc nâng cao chất lượng hoạt động của công tác DS-KHHGĐ, đặc biệt khi mà tỷ lệ gia tăng dân số đang có xu hướng ngày càng tăng.

TS. Nguyễn Bá Thủy, Thứ trưởng Bộ Y tế kiêm Tổng cục trưởng Tổng cục DS - KHHGĐ cho biết, từ sau năm 2000 đến nay, kết quả thực hiện công tác DS -KHHGĐ đã chững lại và giảm sút. Tỷ lệ tăng dân số từ 1,36% năm 2000 giảm xuống 1,32% năm 2002, nhưng sự tăng nhanh dân số trở lại đã đưa tỷ lệ gia tăng dân số lên tới 1,47% năm 2003 và 1,40% năm 2004. Sự nỗ lực của công tác DS - KHHGĐ đã khôi phục được đà giảm sinh, tỷ lệ gia tăng dân số xuống còn 1,31% năm 2005; 1,24% năm 2006 và 1,21% năm 2007. Tuy nhiên, để có thể đạt được chỉ tiêu giảm tỷ lệ gia tăng dân số xuống còn 1,14% vào năm 2010 sẽ hết sức khó khăn. Bởi, chỉ riêng 6 tháng đầu năm 2008, tổng số trẻ mới sinh đã lên tới 551.969 cháu, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó 61.657 cháu là con thứ 3 trở lên tăng 13,4 % so với cùng kỳ năm 2007. Điều đó cho thấy không chỉ có sự biến động lớn về tỷ lệ gia tăng dân số mà ngay cả tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên của phụ nữ nước ta vẫn còn khá cao và có sự khác biệt giữa các vùng miền, cao nhất là vùng Tây Nguyên ( 30%), tiếp đến là Bắc Trung bộ ( 23,5%) và Nam Trung bộ (21,8%).

Theo số liệu báo cáo của các địa phương, năm 2007 chỉ có 6/64 tỉnh thành đạt chỉ tiêu giảm sinh, còn 58/64 tỉnh không đạt chỉ tiêu, trong đó có 37 tỉnh chỉ đạt từ 30 - 70% chỉ tiêu kế hoạch giảm sinh. Tỷ suất sinh của cả nước không có sự dao động lên - xuống trong 3 năm qua nhưng nhiều tỉnh vẫn có sự dao động đáng kể. Đặc biệt là số đảng viên, cán bộ công chức sinh con thứ 3 trở lên tăng nhiều và việc họ bị xử lý chưa nghiêm đã gây ảnh hưởng tiêu cực đến phong trào thực hiện KHHGĐ trong nhân dân, tạo nên rào cản đối với công tác truyên truyền, vận động nhằm thực hiện có hiệu quả công tác DS - KHHGĐ.

Trước thực trạng trên, TS. Nguyễn Quốc Triệu, Bộ trưởng Bộ Y tế cho rằng, việc giải thể Ủy ban Dân số - Gia đình và Trẻ em trước đây và nhập một bộ phận dân số vào ngành y tế chắc chắn sẽ có những ảnh hưởng không nhỏ. Tuy nhiên, các cấp ngành ở địa phương, đặc biệt là UBND các cấp cần phải chủ động, tích cực hơn nữa trong việc kiểm tra, giám sát công tác dân số. Qua đó phát hiện và xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên vi phạm về DS - KHHGĐ. Đồng thời, tăng cường lập lại công tác truyền thông, dịch vụ KHHGĐ cũng như duy trì đội ngũ cán bộ chuyên trách và lực lượng cộng tác viên dân số có kinh nghiệm, đủ mạnh... nhằm triển khai thực hiện có hiệu quả công tác DS - KHHGĐ.

Phát biểu ý kiến chỉ đạo tại Hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh: công tác DS - KHHGĐ là một trong những giải pháp quan trọng trong chiến lược phát triển KT - XH của đất nước và cũng là giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống toàn dân. Do vậy, để thực hiện thắng lợi mục tiêu dân số, chúng ta phải huy động sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị. Các cấp, ngành cần tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng và chính quyền đối với công tác DS - KHHGĐ. Trước hết phải nghiêm túc kiểm điểm, đánh giá về tình hình của ngành, của địa phương để tìm ra nguyên nhân của sự giảm sút, yếu kém đồng thời có biện pháp khắc phục. Thủ tướng cũng đề nghị Bộ Y tế tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách đồng bộ và hiệu quả từ trung ương đến địa phương nhằm thực hiện có hiệu quả công tác DS - KHHGĐ. Cũng trong hội nghị này, Bộ Y tế đã thông báo những nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm như tiếp tục triển khai hiệu quả các giải pháp phòng chống dịch bệnh; kiện toàn mạng lưới y tế dự phòng; củng cố và phát triển mạng lưới khám chữa bệnh, câng cao chất lượng dịch vụ, đổi mới cơ chế quản lý bệnh viện theo hướng tự chủ, tăng hiệu quả²

                                                Hoàng Anh

[ về đầu trang ]


công tác truyền thông thay đổi hành vi về dân số
Chăm sóc sức khoẻ sinh sản ở miền núi tỉnh Quảng Nam

 

Tỉnh Quảng Nam, một trong những tỉnh miền Trung có nhiều đồng bào dân tộc đang sinh sống ở các vùng cao và những vùng còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế-văn hoá- xã hội. Tuy nhiên, công tác dân số - KHHGĐ  đã được các cấp Uỷ Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các ban, ngành đoàn thể trong tỉnh quan tâm và được nhân dân đồng tình hưởng ứng. Theo kết quả điều tra cho thấy, nhiều nội dung của chương trình dân số- chăm sóc sức khoẻ sinh sản đã được đồng bào biết đến. Nhiều nội dung được phổ biến rộng rãi và được đồng bào biết nhiều nhất là "các biện pháp tránh thai" (86,7%), "Dừng ở 2 con để nuôi dạy cho tốt" (84%), "Khoảng cách giữa hai lần sinh là 3-5 năm". Những nội dung đồng bào các dân tộc thiểu số còn  ít  được tiếp cận  là "các tai biến khi mang thai và cách phòng tránh" (41%), "Các bệnh phụ khoa và cách phòng tránh" (43%) và " tác hại của việc mang thai quá sớm" (58%).

Từ kết quả trên khẳng định đồng bào sống ở các vùng miền núi, dân tộc trình độ học vấn khác nhau vẫn có thể tiếp cận thông tin về công tác dân số một cách đồng đều. Tuy nhiên, các nội dung truy?n thông vẫn tập trung chủ yếu vào việc tuyên truyền các biện pháp tránh thai để giảm sinh mà chưa chú trọng vào các vấn đề khác như tuyên truyền tuổi kết hôn, tuổi sinh con đầu lòng, vấn đề sức khoẻ sinh sản như chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em, bệnh phụ khoa, các tai biến khi mang thai và cách phòng tránh... Đặc biệt, đáng quan tâm là có 9% người khi được hỏi cho biết họ chưa bao giờ được nghe nói về các nội dung cơ bản của chương trình dân số.

Về hình thức và nội dung thông tin đến với đồng bào đã có nhiều thay đổi với sự tham gia của nhiều tổ chức và các hoạt động khá phong phú như thông tin qua hoạt động của các đội tuyên truyền lưu động, các buổi chiếu phim, văn nghệ quần chúng, các cuộc thi cộng tác viên dân số, tuyên truyền viên giỏi, các câu lạc bộ" Sức khoẻ sinh sản" và các chiến dịch truyền thông lồng ghép. Phương tiện truyền thông chủ yếu là tuyên truyền miệng. Tại các thôn, bản được khảo sát, hầu hết đều chưa có hệ thống loa truyền thanh, hoặc có thì số lượng còn rất hạn chế. Những phương tiện truyền thông khác như loa cầm tay, máy tăng âm, máy cacsette..., trang bị cho các xã  thường chỉ được mang ra sử dụng mỗi khi có chiến dịch truyền thông và hiện nay  chất lượng đều rất kém, phần lớn đã hư hỏng. Mặt khác, đồng bào dân tộc phần lớn chưa thông thạo tiếng phổ thông, trong khi đó, ngôn ngữ thông tin chưa phù hợp với trình độ của đồng bào dân tộc, nên việc tiếp nhận thông tin của đồng bào còn gặp nhiều khó khăn.

Các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, là những đối tượng  trực tiếp thu nhận các thông tin về Dân số- KHHGĐ. Tuy nhiên, ở một số xã vùng sâu, vùng xa, số người chưa hoặc ít được tiếp cận với thông tin DS-KHHGĐ và chăm sóc sức khoẻ sinh sản vẫn còn chiếm một tỷ lệ đáng kể, nhất là vùng đồng bào dân tộc (37,5%), trong khi đó ở đồng bào Kinh là 3,9%. Phần lớn phụ nữ các dân tộc thiểu số vẫn phải chịu trách nhiệm chính trong việc thực hiện các biện pháp tránh thai, nhưng bản thân người phụ nữ lại phải gánh vác công việc nương rẫy nặng nhọc, chăm sóc con cái, gia đình nên rất ít có điều kiện và thời gian để  đọc báo, nghe đài, xem vô tuyến truyền hình, đọc các ấn phẩm và tham dự các cuộc họp... Vả lại, theo phong tục, tập quán của một số dân tộc thiểu số, người phụ nữ không được  tham gia vào các hoạt động xã hội... Vì vậy, người phụ nữ dân tộc thiểu số ở các vùng này còn chịu rất nhiều thiệt thòi, gần như họ rất ít được tiếp cận các thông tin  và dịch vụ về chăm sóc sức khoẻ sinh sản. .

Đội ngũ cán bộ và những người cao tuổi, già làng, trưởng tộc và những người có uy tín trong cộng đồng tuy đã được cán bộ Mặt trận Tổ quốc và các ban, ngành đoàn thể các cấp  vận động trực tiếp tham gia trong công tác truyền thông dân số, nhưng vai trò và uy tín của họ vẫn chưa được phát huy triệt để, nhất là các vị già làng, trưởng tộc. Trong quan niệm và tâm lý truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số, việc trao đổi cởi mở về vấn đề sinh đẻ giữa những người thân trong gia đình, gia tộc là một chuyện rất khó nói ra, có khi đó còn là điều cấm kỵ

Qua kết quả khảo sát cho thấy, các kênh truyền thông ngày càng đa dạng như: Truyền thông trực tiếp, pa nô, áp phích, khẩu hiệu... nhưng mức độ tiếp nhận thông tin từ các nguồn nói trên tương đối khác nhau giữa các vùng địa lý và giữa các dân tộc.

Nguồn truyền thông trực tiếp cho người dân là từ cán bộ dân số, cán bộ y tế, cán bộ Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể Hội Nông dân, Phụ nữ, Đoàn thanh niên (82%)... và một phần nữa từ cán bộ Đảng, chính quyền (18%). Một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số khi được khảo sát, mức độ tiếp nhận các thông tin qua các phương tiện thông tin đại chúng rất hạn chế. Phần lớn đồng bào dân tộc nhận thông tin qua hệ thống radio, hệ thống vô tuyến truyền hình hiện nay đang được đồng bào ưa chuộng,  nhưng lại chưa thể coi là phương tiện nghe nhìn có hiệu quả do sức mua hạn chế, nguồn điện thiếu, sóng bắt yếu, không rõ hình. Các tài liệu, sách, báo rất ít hoặc hầu như không có trong các thôn, bản vì các ấn phẩm văn hoá xã hội thường chỉ được phân bổ với số lượng hạn chế và chỉ lưu hành chủ yếu trong cán bộ, hơn nữa đồng bào thường không có thời gian rỗi để đọc hoặc muốn đọc nhưng không có tiền để mua, do đó đa số đồng bào chưa có thói quen tiếp cận sách, báo. Theo đánh giá khảo sát về hiệu quả của các kênh truyền thông, đáng chú ý, kênh truyền thông không chính thức như chị em bạn, hay chị em họ hàng lại có ảnh hưởng rất lớn tới các quyết định về Dân số- chăm sóc sức khoẻ sinh sản như giúp chị em lựa chọn các biện pháp tránh thai hoặc đi thăm khám bệnh vì theo tập quán, người phụ nữ dân tộc thường phải có bạn đi cùng và rất dễ ảnh hưởng của tâm lý "theo nhau làm". Kết quả đánh giá về nội dung và hình thức tuyên truyền cũng cần được chú ý: 54% cán bộ cho là nội dung tuyên truyền phù hợp; 42 % cho là hình thức tuyên truyền phù hợp. Về nội dung và hình thức tuyên truyền chưa phù hợp với các đối tượng là đồng bào dân tộc thiểu số một phần do nội dung nghèo nàn và chưa phù hợp với đối tượng, hình thức thể hiện thiếu sinh động và chưa lồng ghép chặt chẽ với các chương trình kinh tế- xã hội khác, tính xã hội hoá của công tác tuyên truyền về Dân số- KHHGĐ chỉ mới phát triển theo chiều rộng mà chưa chú ý đến chiều sâu. Các tổ chức tham gia các hoạt động truyền thông, giáo dục thay đổi hành vi thường chưa chủ động dành kinh phí hoạt động thích hợp; mức độ tham gia tuyên truyền của các tầng lớp nhân dân tại cộng đồng cũng còn quá ít và chưa được phát huy.

Chính vì vậy, muốn nâng cao chất lượng công tác truyền thông- giáo dục thay đổi hành vi về Dân số- CSSKSS ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số cần chú ý:

- Tại những địa bàn mà kênh truyền thông đại chúng còn hạn chế như vùng miền núi tỉnh Quảng Nam, cần chú ý phát huy hiệu quả của lực lượng truyền thông trực tiếp trong việc truyền thông, giáo dục chuyển đổi hành vi về dân số- KHHGĐ và chăm sóc sức khoẻ sinh sản vì chính lực lượng này thường xuyên thực hiện việc giao tiếp trực tiếp với người dân, bao gồm trong các cuộc họp thôn, bản và có thể trở thành các tác nhân kích thích và khuyến khích liên tục việc thực hiện các mục tiêu của chương trình dân số tại cộng đồng. Vì vậy, cần tuyển chọn và xây dựng đội ngũ cộng tác viên dân số giỏi, trong đó có cả cán bộ các chương trình kinh tế, văn hoá, xã hội khác như cán bộ y tế thôn, bản, bộ đội biên phòng... sẽ tạo thêm được sức mạnh mới và duy trì tính hiệu quả, bền vững của chương trình.

- Các hình thức truyền thông cần phải phong phú, đa dạng như tổ chức chiến dịch truyền thông kết hợp với đối thoại, tư vấn và hướng dẫn cụ thể cho từng đối tượng, lứa tuổi, nhóm dân tộc tại cộng đồng. Các hoạt động và biện pháp thực hiện phải thật đơn giản, dễ hiểu, chủ yếu dựa vào hình ảnh và sử dụng ngôn ngữ địa phương. Do đó, ngoài các lực lượng truyền thông đã có và thông thạo tiếng đồng bào dân tộc, cần huy động những người có uy tín trong cộng đồng, các vị già làng, trưởng bản, trưởng tộc và những người tích cực tham gia chương trình DS- KHHGĐ.

- Ngoài việc chú trọng những thông tin về các biện pháp tránh thai và lợi ích của KHHGĐ phục vụ cho mục tiêu giảm sinh, cần đặc biệt chú ý bổ sung các nội dung về chăm sóc sức khoẻ sinh sản nhất là với tuổi vị thành niên. Việc sao nhãng chăm sóc phụ nữ có thai và tập quán sinh con tại nhà của đồng bào đều có thể dẫn đến tăng tỷ lệ bệnh tật và tỷ lệ chết mẹ và trẻ sơ sinh..

- Tăng cường việc xây dựng và nâng cao hiệu quả các mô hình truyền thông lồng ghép  với dịch vụ sức khoẻ sinh sản- KHHGĐ ở cộng đồng, đưa nội dung truyền thông dân số vào cuộc vận động"Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư", lồng ghép dân số với phát triển,  mô hình Câu lạc bộ "Sức khoẻ sinh sản"  từng bước được nhân rộng theo hướng dân số gắn liền với phát triển²

                                                                                  nguyễn minh

[ về đầu trang ]


Công tác dân số - KHHGĐ ở ngọc đồng

     Ngọc Đồng là một xã miền núi xa trung tâm của huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ xuất phát điểm kinh tế thấp, đồng bào dân tộc Mường chiếm 80%, đời sống còn nhiều khó khăn nhưng trong mấy năm trở lại đây, công tác DS - KHHGĐ luôn được cấp uỷ chính quyền, các ban ngành địa phương quan tâm, chỉ đạo và coi việc xây dựng gia đình ít con là một trong những tiêu chí để phát triển KT - XH ở địa phương.

Toàn xã có 3.336 khẩu, trong đó 723/981 chị em là phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đã xây dựng gia đình. Tuy đời sống kinh tế đã được cải thiện nhưng lại gặp một số khó khăn trong thực hiện KHHGD như: Số phụ nữ bước vào độ tuổi sinh đẻ tăng, dân cư phân bổ thưa, địa hình đi lại khó khăn cộng với việc người dân chưa hiểu rõ Pháp lệnh dân số ban hành năm 2003, nhất là các cặp vợ chồng sinh con một bề là gái. Trước thực trạng đó, cấp uỷ chính quyền xã xác định công tác truyền thông, giáo dục là nhiệm vụ hàng đầu. Trong các đợt chiến dịch truyền thông lồng ghép dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản xuống các khu vùng sâu đã có sự phối hợp ra quân tuyên truyền, vận động của các đoàn thể một cách đồng bộ tạo nên phong trào rộng khắp, có tác dụng trong nhân dân. Nhiều hình thức và biện pháp tuyên truyền phù hợp với từng đối tượng được áp dụng như: phát tờ rơi về KHHGĐ, làm mẹ an toàn, tuyên truyền qua đài truyền thanh của xã, panô, kẻ nhiều khẩu hiệu về mục đích ý nghĩa của việc thực hiện KHHGĐ, chăm sóc sức khỏe sinh sản, tuyên truyền rộng rãi chủ trương chính sách của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước về DS - KHHGĐ đến mọi người dân nhất là các chị em phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, các đối tượng sinh con một bề là gái, các khu dân cư, các khu có mức sinh cao, khu xa trung tâm. Công tác tuyên truyền được tập trung chủ yếu vào các đợt thực hiện chiến dịch tuyên truyền, vận động lồng ghép với cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ.

Hiện nay trạm y tế xã đã có y sĩ sản khoa thuận lợi cho người dân tới trạm thực hiện KHHGĐ. Ngoài ra vào ngày thứ 3 hàng tuần đội dịch vụ của trung tâm y tế huyện Yên Lập về khám thai, phát thuốc và thực hiện KHHGĐ. Các đoàn thể trong xã như Đoàn thanh niên đã tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề DS -KHHGĐ, thành lập các CLB gia đình trẻ giúp nhau làm kinh tế, Hội phụ nữ duy trì CLB phụ nữ không sinh con thứ ba... 12/12 khu đều có các cộng tác viên dân số, thường xuyên được tập huấn nâng cao nghiệp vụ, công tác tuyên truyền tư vấn SKSS- KHHGĐ đến chị em phụ nữ tại các thôn, bản. Thông qua các cộng tác viên dân số để thực hiện việc tự quản lý thai sản và phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ tại trạm y tế. Nhờ hoạt động tích cực, hiệu quả của các CTV dân số nên nhận thức của người dân về KHHGĐ đã dần thay đổi, đặc biệt là với nam giới, họ đã biết chia sẻ những khó khăn với phụ nữ, cùng nhau lựa chọn các biện pháp KHHGĐ phù hợp. Hiện nay, xã Ngọc Đồng có 650 cặp vợ chồng sử dụng các biện pháp tránh thai, đạt tỷ lệ 77% tăng 3% so với năm trước. Nhờ có các biện pháp truyền thông có hiệu quả mà tỷ lệ sinh con thứ ba giảm dần hàng năm. Nếu như tỷ lệ sinh con thứ ba của Ngọc Đồng năm 2004 là 16%, năm 2005 là 10% thì năm 2006 và 6 tháng đầu năm 2007, tỷ lệ sinh con thứ 3 chỉ còn 4%. Tiếp tục duy trì các hoạt động tuyên truyền trên truyền thanh CTV tuyên truyền tại các gia đình bổ sung kỹ năng, kiến thức truyền thông về chăm sóc SKSS/KHHGĐ, thực hiện mô hình "gia đình ít con, khỏe mạnh", tổ chức đăng ký thực hiện không sinh con thứ 3, đăng ký giữ mức sinh thấp, điển hình là các khu 2; 6; 9; 11... Để hạn chế các trường hợp đẻ sớm, đẻ dày, đẻ nhiều ở các thôn bản vùng sâu.

Do nhận thức về công tác DS - KHHGĐ của người dân Ngọc Đồng đã có nhiều thay đổi, nên công tác bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em được quan tâm đúng mức, mô hình gia đình có từ một đến hai con để xây dựng gia đình hạnh phúc, ấm no, phát triển bền vững đã và đang góp phần thay đổi đời sống của nhân dân, đưa kinh tế xã hội của địa phương từng bước đi lênq

                                                                               PHƯƠNG THANH

[ về đầu trang ]


KIÊN GIANG TĂNG CƯỜNG CHỈ ĐẠO CÔNG TÁC DÂN SỐ - KHHGĐ

   Kiên Giang là tỉnh có mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 cao nhất khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Nếu xem nhẹ, buông lơi công tác DS – KHHGĐ sẽ ảnh hưởng lớn đến thành quả phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh năm 2008 và những năm tiếp theo. Ngày 24/7/2008, Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang ban hành công văn về ổn định tổ chức bộ máy và tăng cường chỉ đạo thực hiện công tác DS – KHHGĐ…

Theo công văn, Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo như sau: Giao Giám đốc Sở Y tế phối hợp với Sở Nội vụ rà soát, chuyển nhiệm vụ về gia đình và trẻ em sang các chức danh khác ở xã đảm nhiệm để bố trí cán bộ dân số, gia đình và trẻ em trước đây làm công tác DS - KHHGD và gọi tên là cán bộ chuyên trách DS - KHHGĐ xã, phường, thị trấn; Chủ tịch UBND các huyện, thị, thành phố có trách nhiệm phối hợp với ngành Y tế chỉ đạo kiểm tra việc bàn giao nhân lực, trụ sở làm việc và toàn bộ cơ sở vật chất, phương tiện của Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em trước đây cho Trung tâm Dân số - KHHGĐ quản lý và sử dụng theo đúng tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Đối với cấp xã, củng cố và kiện toàn Ban Dân số, Gia đình và Trẻ em trước đây do Phó Chủ tịch khối Văn xã làm Trưởng ban và đổi tên thành Ban Dân số - KHHGĐ. Chỉ đạo UBND các xã, phường, thị trấn bàn giao toàn bộ tài liệu, phương tiện truyền thông và các trang thiết bị khác, như: vỏ máy, tivi, đầu máy (nếu có) cho cán bộ chuyên trách DS - KHHGĐ quản lý đảm bảo sử dụng đúng mục đích và hiệu quả; Giao Sở Y tế khẩn trương chuyển nguồn kinh phí mục tiêu, chương trình DS - KHHGĐ cho Trung tâm Dân số - KHHGĐ các huyện, thị, thành phố và các đơn vị trực thuộc để sớm triển khai các hoạt động; Các sở, ban ngành liên quan cần tăng cường lồng ghép chương trình dân số với các chương trình kinh tế, văn hoá - xã hội ở địa phương với sự tham gia của nhiều cấp, nhiều ngành nhằm xã hội hoá công tác DS - KHHGĐ. Đồng thời hỗ trợ thêm nguồn lực, kinh phí và giám sát sử dụng các nguồn kinh phí một cách hiệu quả góp phần hoàn thành các Chương trình mục tiêu về DS - KHHGĐ trên địa bàn tỉnh²

                                              Mai Bích Ngọc


Thôn Đông nâu - điểm sáng công tác dân số - khhgđ

Thôn Đông Nâu, (Hoàn Sơn, Tiên Du, Bắc Ninh) có 137 hộ với 492 nhân khẩu, người dân chủ yếu làm nông nghiệp và kết hợp với một số nghề phụ nhỏ. Từ năm 2000 trở về trước, năm nào thôn cũng có trường hợp sinh con thứ 3, nhất là năm 2000 có tới 3 trường hợp sinh con thứ 3. Đây là một trong những trở ngại không nhỏ ảnh hưởng đến công tác phát triển KTXH của địa phương.

Trước tình trạng đó, địa phương thường xuyên tổ chức họp chuyên đề bàn về công tác dân số KHHGĐ, trong đó, trọng tâm là việc không sinh con thứ 3. Nhiều ý kiến thảo luận được đưa ra, tranh luận xung quanh vấn đề này. Cuối cùng địa phương đã thống nhất đưa nội dung không sinh con thứ 3 vào quy ước, hương ước của thôn để đánh giá, bình xét danh hiệu Gia đình văn hóa. Mặt trận các đoàn thể có trách nhiệm quán triệt, vận động, tuyên truyền đến từng hội viên của Chi hội mình. Đội văn nghệ đẩy mạnh tuyên truyền các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác dân số KHHGĐ. Chỉ đạo cộng tác viên dân số phối hợp với các đoàn thể tổ chức vận động các gia đình chấp hành nghiêm Pháp lệnh Dân số. Từ năm 2002 đến nay, thôn không có tình trạng sinh con thứ 3. Đội ngũ CTV dân số là những người có công không nhỏ, họ đã phải đến tận gia đình gặp gỡ, ông bà, bố mẹ và bản thân các cặp vợ chồng để nắm tình hình tâm lý, tư tưởng, rồi mới có biện pháp vận động, giải thích.

Bằng nhiều biện pháp thiết thực và sự vào cuộc thực hiện đồng bộ các biện pháp nhằm giảm thiểu tình trạng sinh con thứ 3 cũng như gia tăng dân số của các tổ chức xã hội, sự nỗ lực của các cá nhân đã góp phần quan trọng vào công tác KHHGĐ ở Đông Nâu đạt kết quả cao. Cái đói, cái nghèo đang từng bước được đẩy lùi, tỷ lệ hộ khá giả đang được tăng lên. Qua thống kê hiện nay, toàn thôn có khoảng 60% hộ gia đình khá giả, đời sống nhân dân đang được cải thiện rõ rệt²

                                                                         Đình Bắc


những hoạt động của tỉnh sóc trăng
hưởng ứng ngày môi trường thế giới

Căn cứ vào Hướng dẫn số 68/HD-MTTW-BTT của Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về việc tổ chức triển khai các hoạt động hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới năm 2008; Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Sóc Trăng phối hợp với các tổ chức thành viên, Sở Tài nguyên & Môi trường và có công văn chỉ đạo Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ các huyện, thành phố phối hợp tổ chức các hoạt động hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới năm 2008, đã đạt được những kết quả tích cực đáng ghi nhận.

Uỷ ban MTTQ các huyện trong tỉnh đã phối hợp với Phòng Tài nguyên & Môi trường cùng cấp tổ chức mít tinh, tuyên truyền, triển khai các hoạt động về bảo vệ môi trường và vận động các tầng lớp nhân dân hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới 05/6/2008 và đã tổ chức được 9 cuộc có trên 2.000 người dự.

Tại các khu dân cư, nhân dân đã tham gia khai thông cống rãnh, ao tù nước đọng; xử lý các tụ điểm rác thải nơi công cộng; trồng, chăm sóc và bảo vệ cây xanh, phát hoang cây um tùm, tạo sự thông thoáng, sạch đẹp trong địa bàn dân cư. Tổng cộng đã trồng được trên 50.000 cây Bạch đàn và trên 500 dây hoa mười giờ. Được tuyên truyền, vận động các gia đình đêud tham gia tổng vệ sinh trước, trong và xung quanh nơi ở. Các Ban vận động, nhắc nhở và hướng dẫn những hộ có cơ sở sản xuất, chăn nuôi, chế biến, xử lý các chất thải, không để làm ảnh hưởng đến môi trường. Ngoài ra, các xã phối hợp với trạm y tế diệt lăng quăng và phun thuốc xịt muỗi cho các hộ gia đình ở địa phương. Treo băng rôn, panô cổ động, hưởng ứng Ngày Môi trường Thế giới năm 2008 với chủ đề: Hãy thay đổi thói quen: Hướng đến một nền kinh tế ít cacbon, được phát hành trong hệ thống Mặt trận và khẩu hiệu hưởng ứng ở gia đình và các tụ điểm công cộng.

ở 2 mô hình điểm đã tổ chức sinh hoạt khu dân cư, đánh giá việc thực hiện các nội dung cam kết của từng gia đình trong việc xây dựng "Gia đình thực hiện hài hoà xoá đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường", có 475 hộ đăng ký và thực hiện khá tốt, từng thành viên trong gia đình có ý thức hơn trong việc bảo vệ môi trường. Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ tỉnh phối hợp với Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ huyện Mỹ Xuyên, huyện Long Phú và Uỷ ban nhân dân xã Tham Đôn (Mỹ Xuyên) và xã Đại Ngãi (Long Phú), tổ chức lễ phát động hưởng ứng ngày Môi trường thế giới 05/6/2008 có trên 600 người dự và tổ chức hội thảo, hái hoa dân chủ tại 2 mô hình điểm tìm hiểu về bảo vệ môi trường trong cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư" và Luật bảo vệ môi trường, được 4 cuộc có 242 lượt người tham dự, tặng thưởng 40 phần quà cho 40 đại biểu tham gia trả lời các câu hỏi.

Các cấp uỷ Đảng, chính quyền, Mặt trận và đoàn thể trong tỉnh xác định bảo vệ môi trường là nhiệm vụ rất quan trọng, trong việc phát triển sản xuất, xoá đói giảm nghèo, bảo vệ sức khoẻ của nhân dân. Mặt trận Tổ quốc các cấp tham mưu cho cấp uỷ Đảng, phối hợp chính quyền và các tổ chức thành viên, tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân hưởng ứng thực hiện Ngày Môi trường Thế giới với nhiều hình thức, đa dạng, phong phú tạo ra phong trào thi đua sôi nổi trong các tầng lớp nhân dân, bảo vệ, giữ gìn vệ sinh môi trường trong gia đình và ngoài cộng đồng khu dân cư. Nhận thức trong nhân dân được nâng lên, từng cá nhân và gia đình từng bước tự biết điều chỉnh hành vi của mình trong sinh hoạt, lao động sản xuất hàng ngày, không để tổn hại đến Môi trường.

Tuy nhiên việc tuyên truyền vận động các tầng lớp nhân dân hưởng ứng công tác bảo vệ môi trường chưa được sâu rộng, nhiều người dân chưa hiểu về ý nghĩa, mục đích tầm quan trọng việc bảo vệ môi trường. Trong thời gian tới công tác tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân tham gia bảo vệ môi trường cần được quan tâm đẩy mạnh hơn nữa để các phong trào, các cuộc vận động về bảo vệ môi trường được nhân dân thật sự tham gia hưởng ứng tích cực¨

                       lý bình


Thanh hoá thực hiện tốt chương trình
 phối hợp MTTQ tham gia bảo vệ môi trường

         Triển khai chương trình phối hợp giữa Ban Thường trực MTTQ tỉnh với Sở Tài nguyên Môi trường về công tác bảo vệ môi trường trong cộng đồng dân cư giai đoạn 2006 - 2010, ngày 11/12/2007, Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ tỉnh Thanh Hoá đã xây dựng Kế hoạch số 350/KH- MTTH về việc tổ chức triển khai thực hiện chương trình phối hợp hành động bảo vệ môi trường trong cộng đồng dân cư năm 2008 và đã tổ chức hội nghị sơ kết 1 năm triển khai thực hiện chương trình phối hợp BVMT trong cộng đồng dân cư ở cấp tỉnh và triển khai kế hoạch thực hiện chương trình phối hợp năm 2008. MTTQ tỉnh đã hướng dẫn MTTQ các huyện, thị, thành phố tiếp tục đẩy mạnh chương trình phối hợp giữa MTTQ với chính quyền các cấp, Phòng Tài nguyên Môi trường, các ngành chức năng, các đoàn thể nhằm tập trung, tuyên truyền Luật bảo vệ môi trường và các Nghị định của Chính phủ về công tác bảo vệ môi trường; động viên nhân dân tích cực hưởng ứng Thư kêu gọi của Chủ tịch Uỷ ban MTTQ tỉnh về công tác bảo vệ môi trường. Tiếp tục chỉ đạo đẩy mạnh phong trào toàn dân tham gia bảo vệ môi trường.

Uỷ ban MTTQ các huyện, thị, thành phố đã củng cố ban chỉ đạo ở các cấp cơ sở tiếp tục chỉ đạo xuống các đơn vị xã, phường, thị trấn là điểm chỉ đạo công tác bảo vệ môi trường năm 2007, làm điểm chỉ đạo tiếp trong năm 2008. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, triển khai phát động đến từng cơ quan đơn vị, trường học, các xã, phường, thị trấn, KDC và từng gia đình tham gia thực hiện các công việc cụ thể như: thu gom rác thải, chất phế liệu, phát quang hàng rào, nạo vét cống rãnh trước khi bước vào mùa hè, phòng ngừa dịch bệnh lây lan, đặc biệt MTTQ cấp cơ sở đã phối hợp tổ chức tuyên truyền động viên nhân dân tích cực tham gia các hoạt động tiêu độc, khử trùng, phòng chống dịch bệnh, nhất là ở những địa bàn đã xảy ra dịch bệnh.

Hưởng ứng ngày Môi trường thế giới năm 2008, Uỷ ban MTTQ Tỉnh đã có công văn hướng dẫn MTTQ các huyện, thị, thành phố triển khai phát động, hưởng ứng ra quân ngày Môi trường thế giới với nhiều hoạt động như: kỷ niệm mít tinh, cổ động, tạo khí thế sôi động, góp phần đẩy mạnh phong trào toàn dân tham gia bảo vệ môi trường trong các cơ quan, đơn vị và cộng đồng dân cư. Ngày 5/6/2008, cơ quan MTTQ tỉnh đã tổ chức lễ phát động hưởng ứng ngày môi trường thế giới, đồng thời ra quân dọn vệ sinh, thu gom rác thải, tu bổ khuôn viên, chăm sóc cây xanh, cây bóng mát. Tổ chức kiểm tra hai điểm chỉ đạo công tác bảo vệ môi trường là xã Quảng Cư, thị xã Sầm Sơn và xã Hoàng Trạch, huyện Hoằng Hoá.

Qua báo cáo của các huyện, thị, thành phố, 5 tháng đầu năm 2008 đã có thêm 1.950 hộ gia đình xây dựng được công trình mới về nước sạch; 2.315 hộ gia đình xây dựng công trình vệ sinh đạt chuẩn. Nhân dân đã tự đóng góp xây dựng và làm mới được 35 km đường rãnh thoát nước trong các KDC, trị giá gần 2 tỷ đồng, thu gom 135 tấn rác thải.v.v... Các xã, phường, thị trấn, đơn vị được chọn làm điểm chỉ đạo, 5 tháng đầu năm đã bổ sung mua thêm được 52 xe thô sơ vận chuyển rác; 200 thùng đựng rác nơi công cộng; 6.000 đôi gang tay, 250 xẻng, quốc... với số tiền trên 70 triệu đồng, bằng nguồn kinh phí thu từ quỹ bảo vệ môi trường của các hộ dân đóng góp và một phần tiền của ngân sách địa phương. 100% các KDC của 27 xã, phường, thị trấn điểm chỉ đạo và ở 3 thành phố, thị xã đã hoàn thành triển khai, ký cam kết thực hiện bảo vệ môi trường với 80.000 hộ gia đình. Những đơn vị có phong trào hoạt động tốt như: thị trấn huyện Nga Sơn, thị trấn huyện Triệu Sơn, thị trấn huyện Nông cống, xã Hà Bình, huyện Tĩnh Gia và phường Ba Đình, thành phố Thanh Hoá.

Để làm tốt công tác bảo vệ môi trường trong thời gian tới MTTQ các cấp trong Tỉnh, tiếp tục chỉ đạo các đơn vị mô hình điểm về chương trình bảo vệ môi trường trong cộng đồng dân cư năm 2008, gắn với thực hiện cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư" đồng thời  Phân công cán bộ, các ban chuyên môn, phụ trách, theo dõi, đôn đốc hướng dẫn MTTQ các huyện, thị, thành phố, triển khai tốt các nhiệm vụ hoạt động bảo vệ môi trường ở đơn vị điểm chỉ đạo, tổng kết rút kinh nghiệm, nhân rộng mô hình trên địa bàn toàn tỉnhr

                   Nguyên Minh


công tác tuyên truyền vận động toàn dân
tham gia bảo vệ môi trường ở thành phố hoà bình
 

     Thành phố Hoà Bình với diện tích tự nhiên là 13.921ha, dân số 91795 người và 7 dân tộc anh em chung sống và được xem là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hoá của tỉnh Hoà Bình. Ngoài những điều kiện thuận lợi về mặt tự nhiên thì trong giai đoạn đổi mới, Hoà Bình đang đứng trước những khó khăn lớn về tốc độ phát triển của các khu công nghiệp, khu chế xuất kéo theo tình trạng ô nhiễm môi trường đang diễn ra trầm trọng.

Đứng trước thực trạng đó, từ năm 2006 đến nay, Phòng Tài nguyên môi trường đã đẩy mạnh và tăng cường công tác quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đồng thời phối hợp chặt chẽ với UBMTTQ thành phố, các cơ quan chức năng, đơn vị sản xuất cùng đoàn thể trong việc tổ chức tuyên truyền bằng nhiều hình thức nhằm góp phần nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường của các cơ quan đơn vị, khu phố và hộ gia đình, lồng ghép và xây dựng kế hoạch tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện có hiệu quả CVĐ “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” gắn với cuộc vận động “Toàn dân tham gia bảo vệ môi trường” với những hình thức phong phú như tuyên truyền qua Đài truyền hình, truyền thanh thành phố, tổ chức mít tinh, diễu hành, tổ chức tuyên truyền về Luật bảo vệ môi trường tới các phường, xã, khu dân cư đồng thời các ban công tác Mặt trận phối hợp tổ chức các buổi họp thông báo tiêu chí phấn đấu tất cả các khu dân cư đạt chuẩn văn hoá, có môi trường xanh, sạch, đẹp.

Thông qua phong trào “Toàn dân tham gia bảo vệ môi trường” lồng ghép vào cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” bước đầu đã làm chuyển biến nhận thức và trách nhiệm của người dân vào các hoạt động bảo vệ môi trường bằng việc khai thông cống rãnh, trồng cây bổ sung vào các ngõ, phố, cơ quan, thực hiện ăn chín uống sôi, phòng chống các bệnh mùa hè nhằm sử dụng hợp lý tài nguyên, khắc phục những tập tục và thói quen xấu trong sinh hoạt ảnh hưởng đến môi trường...

Từ năm 2001 đến nay thành phố đã trồng được 2049 ha rừng, đưa độ che phủ rừng từ 34% năm 2001 lên 54% năm 2008, đồng thời phối kết hợp với Ngành kiểm lâm để ngăn chặn tình trạng chặt phá rừng, buôn bán và vận chuyển lâm sản trái phép. Dưới sự chỉ đạo của UBND tỉnh, Phòng Tài nguyên môi trường và chính quyền ở các phường, xã và những hoạt động thiết thực của phong trào “Toàn dân tham gia bảo vệ môi trường” đến nay, diện tích trồng cây xanh của thành phố là 34.41ha, đạt bình quân 4.97m2/ người đồng thời tổ chức triển khai, áp dụng các mô hình mẫu về quản lý và bảo vệ môi trường tại các khu dân cư, các tuyến phố như: tuyến đường Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên tự quản, lắp đặt hệ thống thùng rác công cộng tại tuyến đường như Cù Chính Lan, Trần Hưng Đạo, hỗ trợ xe rác tại các phường như: Tân Thịnh, Tân Hoà, Hữu Nghị, Thịnh Lang. Ngoài ra còn ký hợp đồng với Công ty dịch vụ môi trường xanh thực hiện thí điểm công tác quét và thu gom rác thải trên địa bàn bờ sông Đà, kết hợp với các cơ quan chức năng giam sát, kiểm tra việc thực hiện và xử lý nghiêm việc gây ô nhiễm môi trường tại Công ty xi măng sông Đà, Công ty bia Đông Á, Công ty mía đường Hoà Bình...

Từ khi xây dựng đập thủy điện Hoà Bình ngăn Sông Đà, ngoài nhiệm vụ phát điện phục vụ 40% tổng sản lượng điện toàn quốc còn góp phần giải quyết nước cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân các dân tộc trên địa bàn. Đến nay, có khoảng 91% người dân thành phố được sử dụng nước đã qua xử lý như ở các phường Đồng Tiến, Phương Lâm, Thái Bình, Mát Hoà, Tân Thịnh, Hữu Nghị, Thịnh Lang... nhìn chung nguồn nước cung cấp cho sinh hoạt người dân đã được đảm bảo. Có thể nói, kết quả bước đầu trong việc lồng ghép nội dung cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” với việc tuyên truyền “Toàn dân tham gia bảo vệ môi trường” của Mặt trận thành phố, phường, xã  trong đó chủ yếu là Ban công tác Mặt trận ở khu dân cư đã đem lại kết quả đáng khích lệ, góp phần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của người dân.

Trong thời gian tới cùng với việc tăng cường quản lý như đào tạo, tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ để triển khai tốt Luật bảo vệ môi trường và các văn bản hướng dẫn thi hành luật cho lãnh đạo, cán bộ làm công tác môi trường của Phòng tài nguyên môi trường; MTTQ Thành phố cần phối hợp chặt chẽ với Sở tài nguyên môi trường tổ chức hội thảo tập huấn cho cán bộ lãnh đạo, cán bộ phụ trách môi trường tại các cơ sở xã, phường, phòng, ban và các đoàn thể nhằm nâng cao nhận thức, vai trò và năng lực quản lý công tác môi trường tai cơ sở. Tổ chức điều tra cơ bản các thành phần môi trường như: đất, nước sinh hoạt, không khí, đa dạng sinh học, đánh giá tình hình ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường tại các cụm công nghiệp và nơi tập trung nhiều khu dân cư, tổ chức các hoạt động kiểm tra, kiểm soát việc chấp hành bảo vệ môi trường, tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật để bảo vệ môi trường bằng nhiều hình thức như phát tờ rơi, khẩu hiệu, diễu hành, mít tinh. Vận động nhân dân xây dựng mô hình xanh, sạch, đẹp về vệ sinh môi trường cho các đường phố, cụm dân cư, tổ dân phố, lồng ghép với việc công nhận gia đình văn hoá, khu phố văn hoá với công tác bảo vệ môi trường.

Cùng với việc đầu tư xây dựng khu xử lý rác thải với diện tích 17ha tại khu vực xã Yên Mông với tổng kinh phí đầu tư xấp xỉ 25 tỷ đồng sẽ được xây dựng trong thời gian tới, đây là một công trình xử lý có quy mô lớn, xử lý trung bình 65 – 100 m3 rác thải hàng ngày của nhân dân trên địa bàn thành phố đã có ý nghĩa lớn trong việc tiếp tục đẩy mạnh chủ trương xã hội hoá công tác nước sạch và vệ sinh môi trường trên địa bàn thành phố. Trong thời gian tới để công tác bảo vệ môi trường được thực hiện tốt, cần vận động nhân dân, cán bộ, tham gia tổng vệ sinh nơi làm việc, giữ gìn cảnh quan môi trường, tiếp tục tuyên truyền chính sách pháp luật môi trường, vận động nhân dân thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường lồng ghép với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” nhằm góp phần xây dựng khu phố, cơ quan, đơn vị xanh, sạch, đẹp²

                  Trịnh Thấm

(Phường Thịnh Lang – TP Hoà Bình)


người cán bộ mặt trận làm tốt công tác bảo vệ môi trường
 

      Sau 42 năm miệt mài với công tác ở ngành Y tế, bác Tô Văn Bảo đã vinh dự được Chủ tịch nước tặng danh hiệu “Thầy thuốc ưu tú”, đến cuối năm 1997 thì Bác nghỉ hưu, chính thức tham gia công tác xã hội từ năm 2001 và đảm nhiệm cương vị Trưởng ban công tác Mặt trận khu phố I, phường Cẩm Thạch, thị xã Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh cho đến nay.

 Những ngày đầu tham gia công tác Mặt trận, cũng là thời điểm mà cả nước đang triển khai sâu rộng cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”. Không ngại tuổi cao, sức yếu bác Bảo cùng với các cán bộ thành viên của Mặt trận đã đến từng Tổ dân để vận động mọi người đồng tâm, đồng thuận thực hiện tốt các tiêu chí xây dựng “Gia đình văn hoá” cũng như “Khu phố văn hoá”, tích cực tham gia đóng góp tiền của cùng với nguồn hỗ trợ của nhà nước đâu tư xây dựng các công trình, cơ sở hạ tầng.

Kết quả chỉ trong một thời gian ngắn, trục đường “xương sống” của khu phố từ ngoài quốc lộ 18 chạy vào các tổ dân dài hơn 1.800m, rộng 3m đã được bê tông hoá, gần 1.300m đường điện chiếu sáng đã được thi công, dọc các tuyến đường nhỏ khắp 12 tổ dân ban đêm đều có điện chiếu sáng, không chỉ phục vụ cho sinh hoạt của người dân được thuận tiện mà còn góp phần làm cho bộ mặt khu phố được “thay da đổi thịt”, theo đó là công tác bảo vệ an ninh trật tự được đảm bảo.

Là một cán bộ người dân tộc Sán Dìu, bác Bảo đã có công lớn trong việc vận động các gia đình dân tộc ít người xoá bỏ được các hủ tục lạc hậu trong việc mai táng người chết. Cả khu phố có hơn 270 hộ dân, trong đó 12% số dân thuộc dân tộc Sán Dìu, Hoa, Tày, Thổ. Trước đây, mỗi khi trong gia đình có người chết, các hộ dân tộc trong khu phố cũng như các khu phố khác trong vùng Cọc Sáu cũ thường đưa người quá cố lên rừng nằm phía sau khu phố I, chọn những mảnh đất trống, bằng phẳng, cáo ráo, hướng đẹp, gần nhà, dễ trông nom để chôn cất, vào mùa mưa, rác thải, phế liệu của những ngôi mộ lẫn lộn với đất đá và tạp chất trên đồi trôi dạt xuống khe suối và khu phố, gây ô nhiễm môi trường. Mặt khác, chính trong khu rừng là nơi có mạch nước ngầm chảy ra khe duy nhất còn lại, vốn vẫn là nguồn nước chính của gần 300 hộ dân trong khu phố vẫn sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày.

Do vậy, những ngôi mộ được chôn cất trên đồi và nằm ở gần khe suối đã làm cho người dân nơi đây lo ngại không chỉ vì mức độ ô nhiễm môi trường mà hơn thế là chất lượng an toàn vệ sinh nguồn nước đang sử dụng. Trước tình hình trên, các già làng trong khu phố đã bàn bạc và vận động các gia đình dân tộc không đưa người chết lên chôn cất trên đồi nhưng kết quả vẫn không được như ý muốn.

Với trách nhiệm của một người làm Trưởng ban công tác Mặt trận, mỗi khi được tin trong khu phố có người chết, nhât là trong những hộ dân tộc ít người, bác Bảo đã chủ động đến thăm hỏi, chia buồn và bàn việc mai táng. Nếu gia đình có ý định đưa người quá cố lên đồi, Bác liền vận động, thuyết phục gia đình chuyển về nghĩa trang khu 9 Cửa Ông hoặc nghĩa trang miền Tây của thị xã để chôn cất. Những hộ nghèo nào gặp khó khăn về phương tiện đưa tang, Bác cùng với người nhà nhờ đến lãnh đạo các doanh nghiệp trên địa bàn để được giúp đỡ.

 Từ năm 2003 đến nay, hầu hết các gia đình trong khu phố đều đã thực hiện việc mai táng người chết ở nghĩa trang của địa phương. Bác Bảo còn tích cực vận động các hộ có mộ của thân nhân nằm rải rác trên đồi tiến hành quy tập lại trong một khu vực và trồng cây xanh để tạo cảnh quan trên đồi.

Với những đóng góp ấy của bác Bảo, các hộ dân tộc ít người đã xoá bỏ được tập tục chôn người chết trên đồi, làm tốt công tác vệ sinh và đưa khu phố I, đạt danh hiệu “Khu phố văn hoá” liên tục trong 5 năm liền (từ 2002 – 2007), bác Tô Văn Bảo xứng đáng là người Trưởng ban công tác Mặt trận làm tốt công tác bảo vệ môi trườngr

       Đặng Phi Sơn

(Tổ 8 Cẩm Thành, Cẩm Phả, Quảng Ninh)

[ về đầu trang ]


 

 

 

 
 
English
Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2007 Trang TTĐT - Cơ quan UBTW MTTQ Việt Nam.
Giấy phép số:111/GP-BC của Bộ Thông tin và Truyền thông, Ngày 20 tháng 3 năm 2008 • Tổng Biên tập: LÊ BÁ TRÌNH • Phó Tổng Biên tập: NGUYỄN TUẤN ANH
Địa chỉ: 46 Tràng Thi - Hà Nội • ĐT: • Fax:  Email: mttqvn@mattran.org.vn