ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN VỀ
ĐẠI HỘI MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM CÁC CẤP,
TIẾN TỚI ĐẠI HỘI MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM LẦN
THỨ VII
-----------------
I. TƯ TƯỞNG CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VÀ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG
CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC VÀ MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT.
1.
Trong hệ thống tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, tư
tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc là tư tưởng cơ bản, nhất quán và xuyên suốt
trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh,
muốn xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân vững chắc thì phải có lực lượng và
có thành phần làm nòng cốt. Người chỉ rõ "Đại đoàn kết tức là trước hết
phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân,
nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn
kết". Đó cũng là cơ sở để Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta thành lập và
lãnh đạo hoạt động của tổ chức Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngay từ khi có Đảng
đến nay.
Ngày 18/11/1930 Ban Thường
vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra chỉ thị thành lập Hội Phản đế Đồng
Minh - hình thức tổ chức đầu tiên của Mặt trận dân tộc thống nhất (ngày nay
là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam). Trải qua các thời kỳ cách mạng với những hình
thức tổ chức và tên gọi khác nhau, Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam
không ngừng lớn mạnh và có những đóng góp to lớn vào thắng lợi vĩ đại của
dân tộc, trở thành một nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
từng khẳng định
tại Đại hội thành lập Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam ngày 10/9/1955 như sau: "Lịch
sử trong những năm qua đã tỏ rõ lực lượng đoàn kết của nhân dân là vô địch,
và Mặt trận dân tộc thống nhất đã nhiều lần thắng lợi.
Mặt trận
Việt Minh đã giúp cách mạng tháng Tám thành công.
Mặt trận
Thống nhất Việt Minh - Liên Việt đã giúp kháng chiến thắng lợi.
Chúng ta
có thể tin chắc rằng: với sự cố gắng của mỗi người và sự ủng hộ của toàn dân,
Mặt trận Tổ quốc sẽ làm tròn nhiệm vụ vẻ vang là giúp xây dựng một nước Việt
Nam hoà bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh."
Phát biểu
tại lớp bồi dưỡng cán bộ về công tác Mặt trận ngày 8/1/1962, Người
chỉ rõ:
"Chính sách Mặt trận là một chính sách rất quan trọng. Công tác Mặt trận là
một công tác rất quan trọng trong toàn bộ công tác cách mạng. Cán bộ và Đảng
viên ta cần nắm vững và chấp hành đúng Nghị quyết của Đại hội Đảng và Nghị
quyết Bộ Chính trị về vấn đề Mặt trận Dân tộc thống nhất. Trong cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Mặt trận
Dân tộc thống nhất vẫn là một trong những lực lượng to lớn của cách mạng
Việt Nam."
2.
Thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa
Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng trong lịch sử,
vị trí chiến lược của khối đại đoàn kết toàn dân trong các thời kỳ của cách
mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định nhiệm vụ chiến lược xây
dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong cách mạng giải phóng dân tộc cũng như
cách mạng xã hội chủ nghĩa và trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế thế giới hiện nay.
Trong các thời kỳ đấu
tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, đại đoàn kết dân
tộc trên nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và
đội ngũ tri thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng là nguồn sức mạnh, động lực chủ
yếu, là nhân tố có ý nghĩa quyết định, đảm bảo thắng lợi bền vững của sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Kế thừa việc nhận thức các vấn đề mang
tính chiến lược này, từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) đến
nay, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết nhằm tăng cường, củng cố, mở rộng khối
đại đoàn kết dân tộc trong tình hình mới, tiêu biểu là các nghị quyết Đại
hội Đảng lần thứ VI, VII, VIII, IX, X; Cương lĩnh xây dựng đất nước trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; các Nghị quyết 08B/NC-TW của Hội nghị
BCH TW Đảng lần thứ Tám (khoá VI); Nghị quyết 07-NC/TW, ngày 17/11/1993 của
Bộ Chính trị về Đại đoàn kết dân tộc và tăng cường Mặt trận dân tộc thống
nhất; Nghị quyết 23-NC/TW, ngày 12/3/2003 của Hội nghị lần thứ 7 BCH TW
Đảng (khóa IX) về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc vì "Dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".
Trên cơ sở đó, Đại hội
lần thứ X của Đảng khẳng định quan điểm của Đảng ta về đại đoàn kết toàn dân
tộc và Mặt trận dân tộc thống nhất như sau:
- Đại đoàn kết toàn dân
tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội
ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng, là đường lối chiến lược của cách
mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa
quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc;
- Lấy mục tiêu giữ vững
độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các dân tộc, các
tôn giáo, các tầng lớp nhân dân ở trong nước và người Việt Nam định cư ở
nước ngoài;
- Xoá bỏ mọi mặc cảm,
định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần giai cấp. Tôn trọng những
ý kiến khác nhau không trái với lợi ích của dân tộc;
- Đề cao truyền thống
nhân nghĩa, khoan dung, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau vì sự ổn
định chính trị và đồng thuận xã hội;
- Sự nghiệp xây
dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc và phát huy sức mạnh của đại đoàn kết
dân là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị mà trước hết là trách nhiệm của
Đảng. Đường lối đúng đắn của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước phù
hợp với yêu cầu, nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của nhân dân là yếu tố
quan trọng hàng đầu để khơi dậy và phát huy sức mạnh toàn dân tộc;
- Mặt trận Tổ quốc và các
đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong việc tập hợp, vận động,
đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân; đại diện cho quyền lợi hợp pháp và
nguyện vọng chính đáng của nhân dân; đưa các chủ trương, chính sách của Đảng,
Nhà nước, các chương trình kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng
thành hoạt động thực tiễn sinh động trong cuộc sống của nhân dân;
- Nhà nước
ban hành cơ chế để Mặt trận Tổ quốc Viêt Nam và các đoàn thể nhân dân thực
hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội.
II. VAI TRÒ, VỊ TRÍ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT
NAM TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VÀ ĐỜI SỐNG XÃ HỘI.
1. Từ khi có Đảng là có
Mặt trận. Ngay sau khi giành được chính quyền về tay nhân dân, Mặt trận đã
trở thành một bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị nước ta. Mặt trận và
các tổ chức khác trong hệ thống chính trị nước ta tuy có vai trò, vị trí,
chức năng và phương thức hoạt động khác nhau nhưng đều là công cụ thực hiện
và phát huy quyền làm chủ của nhân dân nhằm một mục đích chung là: Phấn đấu
xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu
mạnh, có vị trí xứng đáng trên trường quốc tế.
Hiến pháp năm 1992 đã xác
định: "Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam là cơ sở chính trị của chính quyền
nhân dân...".
Điều đó càng khẳng định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận không thể
thiếu được của hệ thống chính trị nước ta.
Trên cơ sở quy định của
Hiến pháp, ngày 12/6/1999 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khoá X, kỳ họp thứ 5 đã thông qua Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trong đó
đã khẳng định:
"Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam là một bộ phận của hệ thống chính trị của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, là cơ sở chính trị của chính
quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí nguyện vọng, tập hợp khối đại đoàn kết
toàn dân, phát huy quyền làm chủ của dân, nơi hiệp thương phối hợp và thống
nhất hành động của các thành viên, góp phần giữ vững độc lập dân tộc, chủ
quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, văn minh". (Khoản 2, Điều 1)
Như vậy, vai trò, vị trí
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam do chính nhân dân, chính lịch sử xác định và
thừa nhận.
2. Thực tiễn của cách mạng
Việt Nam càng khẳng định vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam trong hệ thống chính trị nước ta từ trước đến nay:
Thắng lợi huy hoàng của
cách mạng tháng 8/1945 gắn liền với sự nghiệp của Mặt trận Việt Minh. Thành
tích của Mặt trận Việt Minh chính là sự kế tục sự nghiệp cách mạng đã được
chuẩn bị từ trước của Hội phản đế đồng minh (1930-1936) và của Mặt trận Dân
chủ Đông Dương (1936-1939).
Tiếp theo Mặt trận Việt
Minh là Mặt trận Liên Việt đã góp phần đưa cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp đến thắng lợi.
Kế tục Mặt trận Liên Việt,
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ra đời (1955) đã đoàn kết, tập hợp các tầng lớp
nhân dân tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, làm hậu thuẫn vững
chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.
Trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã cùng với Mặt trận dân tộc
giải phóng miền Nam Việt Nam và Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và
hoà bình Việt Nam đoàn kết nhân dân cả nước làm tròn sứ mệnh lịch sử vẻ vang:
giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân
chủ nhân dân trong cả nước.
Từ khi đất nước thống nhất,
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong việc củng cố và tăng
cường khối đại đoàn kết toàn dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ
cách mạng mới.
Con đường lên chủ nghĩa xã
hội ở nước ta là quá trình lâu dài, trải qua nhiều chặng đường với nhiều
thành phần kinh tế, đại diện cho mỗi thành phần kinh tế là một bộ phận trong
nhân dân, một lực lượng xã hội. Cùng với sự cạnh tranh kinh tế để phát triển
là sự phân hoá giầu nghèo. Nhiều tổ chức xã hội, nghề nghiệp ra đời. Sự phát
triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ, sự giao lưu văn hoá sẽ tác động đến
lối sống và cách nghĩ của mỗi người và của mọi tầng lớp trong xã hội. Mặt
khác, các thế lực thù địch không từ bỏ âm mưu thực hiện chiến lược diễn biến
hoà bình nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, phá hoại sự nghiệp cách
mạng của nhân dân ta. Trong giai đoạn mới của cách mạng, với nền dân chủ
ngày càng phát triển thì vai trò, của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân ngày
càng quan trọng, nhiệm vụ càng nặng nề hơn.
Nâng cao vai trò, vị trí
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị và đời sống xã hội là
một yêu cầu khách quan, có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng
khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo đảm cho sự phát triển vững chắc của đất
nước ta hiện nay.
III. NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC
VIỆT NAM.
Tại Khoản 1, Điều 1 của
Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chỉ rõ:
"Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính
trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu
trong các giai cấp và tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người
Việt Nam định cư ở nước ngoài".
Liên minh chính trị là sự
liên kết giữa các lực lượng với nhau thành một khối thống nhất để thực hiện
mục tiêu chính trị chung. Mục tiêu chung đó ở mỗi giai đoạn có khác nhau phù
hợp với nhiệm vụ cách mạng và lợi ích cơ bản của các lực lượng tham gia liên
minh chính trị. Mục tiêu chung trong giai đoạn cách mạng hiện nay là giữ
vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, phấn đấu
thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu tiến lên dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh. Nền tảng của sự liên minh trong Mặt trận là khối liên
minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức.
Các thành viên trong liên
minh chính trị (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam) bao gồm:
Tổ chức chính trị là Đảng
Cộng sản Việt
Nam;
Các tổ chức chính trị - xã
hội là: Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí
Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến
binh Việt Nam …;
Các tổ chức xã hội: Hội
Chữ thập đỏ, Hội Người cao tuổi, Hội Người mù, Hội Kế hoạch hoá gia đình,
Hội Khuyến học Việt Nam, Hội Y học cổ truyền Việt Nam v.v...;
Tổ chức chính trị - xã hội
- nghề nghiệp: Hội Nhà báo Việt Nam, Hội Luật gia Việt Nam ...;
Các tổ chức xã hội - nghề
nghiệp: Hội Sinh vật cảnh, Hội Châm cứu ...;
Quân đội nhân dân Việt Nam
- tiền thân là Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, là thành viên của
Mặt trận Việt Minh, nay kế tục truyền thống đó là thành viên của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam;
Các cá nhân tiêu biểu
trong các giai tầng xã hội: nhân sĩ, trí thức, người dân tộc thiểu số, chức
sắc các tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài... Đó là những người có uy tín
cao, có quan hệ và ảnh hưởng tốt, có sức thuyết phục đối với mỗi giai cấp,
tầng lớp xã hội, mỗi dân tộc, mỗi tôn giáo, mỗi cộng đồng người Việt Nam
định cư ở nước ngoài... Thông qua những cá nhân tiêu biểu này Mặt trận Tổ
quốc có thể tập hợp lôi cuốn lớp người mà họ có quan hệ và ảnh hưởng tham
gia vào khối đại đoàn kết dân tộc, cùng nhau thực hiện chương trình phối hợp
thống nhất hành động chung vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Nguyên tắc tổ chức và
hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam được qui định trong Điều 3 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam: "Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam tổ
chức và hoạt động theo Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, phù hợp với Hiến
pháp và pháp luật.
Tổ chức, hoạt động của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp
thương dân chủ, phối hợp thống nhất hành động.
Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam ở mỗi cấp là cơ quan chấp hành của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
cùng cấp, do Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp đó hiệp thương
cử ra có trách nhiệm tổ chức thực hiện nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam".
Các thành viên gia nhập
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, tán thành
điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, được Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở
mỗi cấp xem xét công nhận. Quan hệ giữa các thành viên trong Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam là hợp tác, bình đẳng, đoàn kết chân thành, tôn trọng lẫn nhau
để cùng thực hiện các nhiệm vụ chính trị kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh
quốc phòng, đối ngoại của Nhà nước và các chương trình của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam.
Trong sinh hoạt, các thành
viên được tự do bày tỏ chính kiến của mình, cùng nhau bàn bạc, hiệp thương
dân chủ để đạt tới sự nhất trí, không dùng mệnh lệnh, áp đặt. Nếu có những ý
kiến khác nhau trên những vấn đề cụ thể thì cùng nhau trao đổi, thuyết phục,
giúp nhau giải quyết. Khi phối hợp và thống nhất hành động, các thành viên
phải thoả thuận với nhau về chương trình hành động chung và có nghĩa vụ phối
hợp giúp đỡ nhau để thực hiện chương trình hành động đã được thoả thuận,
đồng thời các tổ chức thành viên của Mặt trận vẫn giữ tính độc lập của tổ
chức mình.
IV. MỐI QUAN HỆ GIỮA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM VÀ CÁC TỔ
CHỨC TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ.
1.
Mối quan hệ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Đảng Cộng sản Việt Nam: Đảng
là người lãnh đạo Mặt trận, vừa là thành viên của Mặt trận.
- Đảng thực
hiện vai trò lãnh đạo đối với Mặt trận bằng cách đề ra đường lối, chủ trương
đúng đắn, xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan, đáp ứng yêu
cầu nguyện vọng và lợi ích của các tầng lớp nhân dân; Đảng tiến hành công
tác tuyên truyền vận động, thuyết phục, tổ chức kiểm tra và bằng sự gương
mẫu của đảng viên trong sinh hoạt và hoạt động của Mặt trận.
Để lãnh đạo
Mặt trận, Đảng phải ở trong Mặt trận, là một thành viên của Mặt trận.Thực
tiễn lịch sử từ ngày thành lập Mặt trận đến nay đã chứng tỏ các thành viên
tham gia Mặt trận đều tự giác thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng.
- Là thành viên, Đảng tham
gia Mặt trận như mọi thành viên khác. Đảng thực hiện tốt vai trò, nhiệm vụ
và các hoạt động của tổ chức mình trong chương trình thống nhất hành động
của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp. Đại diện cấp uỷ đảng trong Uỷ
ban Mặt trận Tổ quốc có trách nhiệm tham gia sinh hoạt đầy đủ, thực hiện
hiệp thương dân chủ và phối hợp thống nhất hành động. Cấp uỷ đảng phải giáo
dục, yêu cầu đảng viên của mình gương mẫu thực hiện chương trình hành động
chung đã được các tổ chức thành viên thoả thuận và tích cực tham gia công
tác Mặt trận.
2. Quan hệ giữa Mặt trận
Tổ quốc Việt
Nam với Nhà nước:
Điều 5 Luật Mặt trận Tổ
quốc Việt
Nam qui định:
- Quan hệ giữa Mặt trận Tổ
quốc Việt
Nam với Nhà nước là quan hệ phối hợp để thực hiện nhiệm vụ và
quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.
- Quan hệ phối hợp giữa
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Nhà nước được thực hiện theo Quy chế phối hợp
công tác do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan nhà nước hữu quan ở
từng cấp ban hành.
- Nhà nước tạo điều kiện
để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoạt động có hiệu quả.
Nhà nước điều hành, quản
lý xã hội bằng luật pháp, nhân dân là người trực tiếp thực hiện chính sách,
pháp luật của Nhà nước. Nhà nước phải tôn trọng và tạo điều kiện để Mặt trận
và các đoàn thể động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ và sức mạnh có tổ
chức của nhân dân tham gia xây dựng, quản lý và bảo vệ Nhà nước.
Nhà nước phối hợp với Mặt
trận trong việc chăm lo lợi ích chính đáng của nhân dân, trong việc vận động
các tầng lớp nhân dân đẩy mạnh phong trào hành động thực hiện thắng lợi các
chương trình kinh tế - xã hội.
3. Quan hệ giữa Uỷ ban Mặt
trận Tổ quốc với các tổ chức thành viên cùng cấp:
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
mỗi cấp chủ trì việc hiệp thương dân chủ giữa các thành viên để bàn bạc thực
hiện những vấn đề quan trọng của đất nước, của địa phương, của cuộc sống
nhân dân, phối hợp xây dựng chương trình hành động chung và cùng nhau thực
hiện chương trình thống nhất hành động đó.
V. NHIỆM VỤ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM.
1.
Nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được quy định trong Điều 2 Luật Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam là:
- Tập hợp, xây dựng khối
đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần
trong nhân dân;
- Tuyên truyền, động viên
nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách
của Đảng, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật.
- Giám sát hoạt động của
cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức nhà nước; tập hợp ý
kiến, kiến nghị của nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng và Nhà nước.
Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân
dân thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội. Các cấp uỷ đảng và
các cấp chính quyền tăng cường tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với cử tri và
nhân dân; định kỳ nghe ý kiến của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân
tham gia xây dựng chủ trương, chính sách, pháp luật sát hợp với cuộc sống.
Thực hiện tốt Luật Mặt trận Tổ quốc, Quy chế dân chủ ở từng địa phương,
ngành và cơ sở, để Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và các tầng lớp nhân dân
tham gia xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống chính trị trong sạch, vững
mạnh.
- Tham gia xây dựng và
củng cố chính quyền nhân dân.
- Cùng Nhà nước chăm lo,
bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân.
- Tham gia phát triển tình
hữu nghị, hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trong khu vực
và trên thế giới.
Từ nhiệm vụ chung của Mặt
trận Tổ quốc nêu trên, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc từng cấp căn cứ vào yêu cầu
nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ và tình hình cụ thể của mỗi địa phương
để đề ra chương trình hành động cho Mặt trận cấp mình trong mỗi kỳ Đại hội,
hay chương trình phối hợp thống nhất hành động từng năm một cách phù hợp và
có tính khả thi.
2. Nhiệm vụ chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong
những năm tới là: Tiếp tục tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, củng cố mở
rộng tổ chức và hoạt động, đồng thời đổi mới và nâng cao chất lượng mọi hoạt
động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; tích cực, chủ động, sáng tạo, tập hợp
ngày càng rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân, phát huy tinh thần yêu nước, ý chí
tự lực tự cường và quyền làm chủ của nhân dân, giữ vững kỷ cương và ổn định
xã hội, huy động tối đa các nguồn lực để đầu tư phát triển kinh tế -xã hội,
thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đẩy mạnh công cuộc xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, làm tốt vai trò là cơ sở chính trị của chính quyền
nhân dân, cầu nối vững chắc giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước.
VI. MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM QUA NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG.
1. Các tổ chức Mặt trận tiền thân của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam:
·
Ngày
18/11/1930 Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị về thành lập Hội Phản đế
đồng minh – hình thức đầu tiên của Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam. Hội
Phản đế đồng minh đã tuyên truyền vận động dân chúng dấy lên cao trào phản
đế mạnh mẽ trong cả nước, với đỉnh cao là phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh.
·
Trong những năm 1936-1939 Mặt trận dân chủ Đông Dương và Mặt trận dân tộc
thống nhất phản đế Đông Dương đã tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân
chống đế quốc và bè lũ tay sai, đẩy mạnh phong trào đấu tranh cho dân sinh,
dân chủ, dân quyền.
·
Ngày
19/5/1941 Mặt trận Việt Minh ra đời đã giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc,
thu hút mọi giới đồng bào yêu nước, tạo thành cao trào đánh Pháp - đuổi Nhật
và là một nhân tố quyết định đưa cách mạng tháng Tám thành công, lập nên nhà
nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.
·
Ngày
29/5/1946 Mặt trận Liên Việt đã mở rộng hơn nữa khối đại đoàn kết toàn dân
tộc. Liên Việt đã cùng với Việt minh huy động sức mạnh của nhân dân làm chỗ
dựa vững chắc cho chính quyền cách mạng còn non trẻ và đối phó có hiệu quả
với thù trong, giặc ngoài, để vượt qua thử thách trước tình thế cách mạng và
vận mệnh dân tộc như ngàn cân treo sợi tóc.
·
Ngày
3/3/1951 Mặt trận Việt minh và Mặt trận Liên Việt hợp nhất thành Mặt trận
Liên Việt đã động viên sức mạnh toàn dân, toàn quân tập trung sức người, sức
của đẩy mạnh cuộc kháng chiến với tinh thần “Tất cả cho tiền tuyến” làm nên
chiến thắng Điện Biên Phủ, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân
dân ta đến thắng lợi.
·
Thời
kỳ 1955-1975, cả nước làm hai nhiệm vụ chiến lược, ba tổ chức Mặt trận – Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam (10/9/1955), Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt
Nam (20/12/1960), Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hoà bình Việt
Nam (20/4/1968) – cùng nhau phối hợp chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động,
tập hợp và phát huy đến mức cao nhất sức mạnh đoàn kết dân tộc, đoàn kết
quốc tế, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ đến toàn thắng, giải phóng hoàn toàn
miền Nam, thống nhất đất nước.
* Chủ tịch Hồ Chí Minh kính mến đã từng là: Hội trưởng danh
dự Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Liên Việt 5/1946); Chủ tịch
danh dự Mặt trận Liên Việt (3.1951); Chủ tịch danh dự Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam (10/9/1955).
* Cụ Huỳnh Thúc Kháng là
Hội trưởng Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Liên Việt
5/1946).
* Cụ Tôn Đức Thắng là Chủ tịch Mặt trận Liên Việt (3.1951);
Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (10/9/1955); Chủ tịch danh dự Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam (4/1977).
* Luật sư Nguyễn Hữu Thọ là Chủ tịch
Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12/1960).
* Luật sư Trịnh Đình Thảo là Chủ tịch
Liên minh các lực lượng
dân tộc dân chủ và hoà bình Việt Nam (20/4/1968).
2. Sau ngày đất nước thống
nhất (năm 1975), để phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
trong thời kỳ cách mạng mới, các tổ chức Mặt trận của 2 miền đất nước thống
nhất thành Mặt trận Tổ quốc Viêt Nam. Kể từ đó đến nay, Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam đã qua 6 kỳ đại hội:
1. Đại hội lần thứ I
(1977):
Đại hội họp từ ngày 31
tháng 01 đến 04 tháng 02 năm 1977 tại Hội trường Thống nhất, thành phố Hồ
Chí Minh, hợp nhất 3 tổ chức Mặt trận: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận
Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Liên minh các lực lượng dân tộc, dân
chủ và hoà bình Việt Nam, lấy tên là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Đại hội đã hiệp thương,
giới thiệu 191 vị tham gia Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Đoàn
Chủ tịch gồm 45 vị, Ban thư ký gồm 7 vị.
Chủ tịch danh dự: Cụ Tôn
Đức Thắng
Chủ tịch : Cụ Hoàng Quốc
Việt
2. Đại hội lần thứ II
(1983):
Đại hội họp từ ngày 12
tháng 5 đến ngày 14 tháng 5 năm 1983 tại Hội trường Ba Đình, thủ đô Hà Nội.
Chương trình hành động của Đại hội là hướng mọi hoạt động của Mặt trận đi
vào thiết thực, hướng về cơ sở, tới địa bàn dân cư.
Đại hội cử ra Uỷ ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khoá II gồm 184 vị, Đoàn Chủ tịch gồm 45 vị,
Ban thư ký gồm 8 vị.
Chủ tịch danh dự: Cụ Hoàng
Quốc Việt
Chủ tịch: Kiến trúc sư
Huỳnh Tấn Phát
Tổng thư ký: Ông Nguyễn
Văn Tiến
3. Đại hội lần thứ III
(1988):
Đại hội họp từ ngày 02
tháng 11đến ngày 04 tháng 11 năm 1988 tại Hội trường Ba Đình, thủ đô Hà Nội.
Đây là Đại hội biểu dương lực lượng to lớn của toàn dân đoàn kết một lòng
tiến hành công cuộc đổi mới.
Đại hội đã cử ra Uỷ ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khoá III gồm 166 vị, Đoàn Chủ tịch gồm
30 vị, Ban Thư ký gồm 6 vị.
Chủ tịch danh dự: Cụ Hoàng
Quốc Việt
Chủ tịch : Luật sư Nguyễn
Hữu Thọ
Phó Chủ tịch : Luật sư
Phan Anh
Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư
ký: Ông Phạm Văn Kiết
4. Đại hội lần thứ IV
(1994):
Đại hội họp từ ngày 17
tháng 8 đến ngày 19 tháng 8 năm 1994 tại Hội trường Ba Đình, thủ đô Hà Nội.
Tham dự Đại hội có hơn 600 đại biểu đại diện cho các giai cấp và tầng lớp
nhân dân, các dân tộc, các tôn giáo, các thành phần kinh tế ở trong nước và
đồng bào Việt Nam sống ở nước ngoài. Đại hội đã long trọng công bố chương
trình 12 điểm "Đại đoàn kết dân tộc xây dựng và bảo vệ đất nước". Đó là
chương trình thể hiện ý nguyện của toàn Đảng, toàn dân quyết tâm chiến thắng
nghèo nàn, lạc hậu, tiến lên dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh,
thực hiện Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Đại hội đã cử ra Uỷ ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khoá IV gồm: 206 vị. Trong đó Đoàn Chủ
tịch gồm 40 vị, Ban Thường trực Đoàn Chủ tịch gồm 7 vị.
Chủ tịch danh dự: Ông
Nguyễn Hữu Thọ
Chủ tịch : Ông Lê Quang
Đạo
Tổng Thư ký: Ông Trần Văn
Đăng
5. Đại hội lần thứ V
(1999):
Đại hội họp từ ngày 26
tháng 8 đến ngày 28 tháng 8 năm 1999 tại Hội trường Ba Đình, thủ đô Hà Nội.
Tham dự Đại hội có 621 đại biểu đại diện cho các tổ chức thành viên, các địa
phương, các dân tộc, tôn giáo, thành phần kinh tế, người Việt Nam định cư
tại nước ngoài và các đoàn đại biểu nước ngoài gồm: Mặt trận xây dựng đất
nước Lào, Hội nghị hiệp thương chính trị nhân dân Trungquốc, Uỷ ban bảo vệ
Cách mạng Cu ba, Mặt trận đoàn kết xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Cam-Pu-Chia,
Hiệp hội đoàn kết và phát triển liên bang Mianma.
Đại hội Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam lần thứ 5 là cột mốc quan trọng đánh dấu việc thực hiện chính sách
đại đoàn kết toàn dân tộc và tăng cường Mặt trận Dân tộc thống nhất trong
thời kỳ phát triển mới của đất nước, là Đại hội "Phát huy tinh thần yêu
nước, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường Mặt trận Dân tộc
thống nhất, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa".
Đại hội đã cử ra Uỷ ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khoá V gồm 253 vị, Đoàn Chủ tịch gồm 45
vị. Ban Thường trực gồm 9 vị.
Chủ tich: Ông Phạm Thế
Duyệt
Tổng Thư ký: Ông Trần Văn
Đăng
6. Đại hội lần thứ VI
(2004):
Đại hội họp từ ngày 21
tháng 9 đến ngày 23 tháng 9 năm 2004 tại Hội trường Ba Đình, thủ đô Hà Nội.
Tham dự Đại hội có 878 đại biểu, gồm các Uỷ viên Uỷ ban Trung ương khoá 5,
đại diện các tổ chức thành viên, các địa phương, các dân tộc, tôn giáo,
thành phần kinh tế, người Việt Nam định cư tại nước ngoài và các đoàn đại
biểu nước ngoài gồm: Mặt trận Lào xây dựng và bảo vệ đất nước, Hội nghị Hiệp
thương chính trị nhân dân Trung quốc, Uỷ ban bảo vệ Cách mạng Cu Ba, Mặt
trận Đoàn kết xây dựng và Bảo vệ tổ quốc Cam-Pu-Chia.
Đại hội Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam lần thứ VI là đại hội đầu tiên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong
thế kỷ mới, thiên niên kỷ mới, là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước
ta, đánh dấu một thời kỳ phát triển quan trọng của dân tộc ta: thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, là Đại hội "Phát huy sức mạnh
Đại đoàn kết toàn dân tộc nâng cao vai trò Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đẩy
mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước, vì mục tiêu dân giàu
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Đại hội đã cử ra Uỷ ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khoá VI gồm 320 vị, Đoàn Chủ tịch gồm
52 vị. Ban Thường trực gồm 8 vị
Chủ tịch: Ông Phạm Thế
Duyệt
Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư
ký: Ông Huỳnh Đảm
Các vị Phó Chủ tịch: Ông
Lê Truyền; Ông Đỗ Duy Thường; Ông Cư Hoà Vần; Bà Hoàng Xuân Sính; Hoà thượng
Thích Trí Tịnh; Linh mục Huỳnh Tấn Khoá; Ông Phạm Lợi; Ông Trần Thành Long.
* Hội nghị lần thứ 5 Uỷ
ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khoá VI họp tại Hà Nội từ ngày 07
tháng 01 đến ngày 09 tháng 01 năm 2008 đã hiệp thương cử các chức danh Chủ
tịch và Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký mới như sau:
Chủ tịch: Ông Huỳnh Đảm
thay ông Phạm Thế Duyệt nghỉ hưu theo chế độ.
Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư
ký: Ông Vũ Trọng Kim thay ông Huỳnh Đảm đảm nhiệm chức vụ Chủ tịch.
VII. NHỮNG KẾT QUẢ CỦA VIỆC THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM LẦN THỨ VI:
1. Tiếp tục củng cố, tăng cường
và phát huy sức mạnh khối đại đoàn
kết toàn dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: Ủy ban Mặt trận các cấp và
các tổ chức thành viên không ngừng đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, phối hợp
với các tổ chức trong hệ thống chính trị thực hiện có kết quả chủ trương,
đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về đại đoàn kết toàn
dân tộc; đa dạng
hoá các hình thức vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân vì mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
2. Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, nâng cao chất
lượng các cuộc vận động lớn của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Uỷ ban MTTQ các
cấp phối hợp với các tổ chức thành viên tiếp tục đẩy mạnh các phong trào thi
đua yêu nước trên các lĩnh vực: phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo, làm
giàu hợp pháp; nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài;
xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng nền quốc
phòng toàn dân, bảo vệ an ninh Tổ quốc… góp phần hoàn thành thắng lợi nhiệm
vụ kinh tế, xã hội ở các cấp. Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động "Toàn dân
đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư " và cuộc vận động "Ngày vì
người nghèo"; làm tốt các công tác "Đền ơn đáp nghĩa", " uống nước nhớ nguồn",
phát huy tình tương thân, tương ái trong các tầng lớp nhân dân..
3. Phát huy quyền làm chủ
của nhân dân, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền các cấp vững mạnh bằng
việc chủ động tham gia xây dựng cơ chế, chính sách, pháp luật liên quan đến
quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp nhân dân. Phối hợp
với các tổ chức thành viên và cơ quan dân cử giám sát việc thực thi pháp
luật của các cơ quan Nhà nước, về phòng chống tham nhũng, thực hành tiết
kiệm, chống lãng phí và cải cách hành chính. Tổ chức tốt việc thực hiện thí
điểm "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát cán bộ cán bộ công chức, đảng viên
ở khu dân cư"; nâng cao chất lượng thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; triển
khai Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở cơ sở xã, phường, thị trấn; tăng cường
hoạt động của Ban thanh tra nhân dân.
Công tác tham gia xây dựng
luật và các văn bản pháp quy ngày càng có hiệu quả.
Đẩy mạnh công tác tuyên
truyền, phổ biến pháp luật góp phần nâng cao hiểu biết, chấp hành pháp luật
trong các tầng lớp nhân dân, trong hội viên, đoàn viên.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
các cấp đã tích cực, chủ động tham gia công tác bầu cử đại biểu Hội đồng
nhân dân các cấp và bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII góp phần đảm bảo các
cuộc bầu cử diễn ra đúng luật, an toàn, tiết kiệm, thực sự là ngày hội xây
dưụng chính quyền của cử tri và nhân dân cả nước.
4.
Đẩy mạnh hoạt
động đối ngoại nhân dân:
Uỷ ban TW MTTQ Việt Nam, Uỷ
ban MTTQ các tỉnh, thành phố và các tổ chức thành viên tiếp tục mở rộng và
đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại nhân dân với nhiều hình thức phong phú
để tăng cường, củng cố
và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước có quan hệ truyền
thống, các nước láng giềng, các tổ chức tương ứng; mở rộng quan hệ với các
nước, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức quốc tế, góp phần thực hiện
đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, tăng cường tình đoàn
kết hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước;
tạo thêm nguồn lực để góp phần phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm
nghèo.
Các tỉnh có
đường biên giới, Uỷ ban MTTQ và các tổ chức thành viên phối hợp với các
ngành có liên quan tiếp tục vận động nhân dân tham gia xây dựng biên giới
hoà bình, hữu nghị và hợp tác.
5.
Tăng cường tổ
chức, đổi mới phương thức hoạt động của MTTQ, hướng mạnh về cơ sở, khu dân
cư.
Uỷ ban MTTQ và các tổ chức
thành viên tiếp tục kiện toàn tổ chức, tăng cường tập huấn, bồi dưỡng cán
bộ, phối hợp với các cấp chính quyền từng bước tháo gỡ khó khăn về điều kiện
hoạt động.
Ban công tác Mặt trận ở khu
dân cư tiếp tục được củng cố, kiện toàn, nhiều nơi hoạt động
ngày càng hiệu quả;
vị trí, vai trò ngày càng được phát huy, làm nòng cốt trong việc vận động
nhân dân thực hiện các phong trào, các cuộc vận động ở địa bàn dân cư.
Mối quan hệ phối hợp công tác giữa Đoàn Chủ tịch Uỷ ban TW MTTQ Việt Nam với
Chủ tịch Nước, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ; giữa Ban Thường trực
UBTW MTTQ Việt Nam với các tổ chức thành viên, các bộ, ngành ở TW; giữa Uỷ
ban MTTQ các cấp với HĐND, UBND, các ngành chức năng và các tổ chức thành
viên ở địa phương ngày càng thường xuyên, chặt chẽ và đạt kết quả.
Uỷ ban Trung
ương MTTQ Việt Nam và Uỷ ban MTTQ nhiều tỉnh, thành phố tiếp tục quan tâm
kiện toàn và nâng cao chất lượng hoạt động của các Hội đồng tư vấn, đội ngũ
cộng tác viên và phát huy vai trò của các cá nhân tiêu biểu trên một số lĩnh
vực, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Uỷ ban MTTQ ở mỗi cấp.
VIII. NỘI DUNG, THỜI GIAN ĐẠI HỘI MẶT TRẬN
CÁC CẤP TIẾN TỚI ĐẠI HỘI MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM LẦN THỨ VII:
1. Ý nghĩa, mục đích và yêu cầu của Đại hội
Mặt trận các cấp:
Quá trình tiến hành Đại
hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng
trong toàn Đảng, toàn dân;
Là quá trình nâng cao
nhận thức, hành động cách mạng của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp
nhân dân trong việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của
đất nước, đường lối chiến lược của Đảng về chính sách đại đoàn kết toàn dân
tộc và vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam như Nghị quyết Đại hội lần thứ
X của Đảng và các nghị quyết của Trung ương đã đề ra;
Tiếp tục củng cố, tăng cường và xây dựng Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam xứng đáng là tổ chức liên
minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính
trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các cá nhân
tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo
và người Việt Nam định cư ở nước ngoài; là một bộ phận quan trọng của
hệ thống chính trị; là cơ sở chính trị vững chắc của chính quyền nhân dân.
Việc tổ chức Đại hội
phải được chuẩn bị chu đáo, phát huy dân chủ, trang trọng, thiết thực, hiệu
quả và tiết kiệm.
2. Đại hội Mặt trận các cấp và Đại hội lần
thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sẽ tiến hành những nội dung, công việc sau
đây:
- Với chủ đề của Đại
hội: Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tăng cường khối
đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước và hội nhập kinh tế thế giới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, Đại hội Mặt trận các cấp sẽ
tiến hành đánh giá kết quả hoạt động nhiệm kỳ qua, xây dựng chương trình
thống nhất hành động cho nhiệm kỳ mới và tham gia góp ý kiến vào các văn
kiện dự thảo của Đại hội Mặt trận cấp trên với các nội dung sau:
Đánh giá đúng tình hình khối đại đoàn kết
toàn dân tộc ở cấp mình, nêu rõ những mặt làm được, chưa làm được, nguyên
nhân và bài học kinh nghiệm; biểu dương những nhân tố mới, những cách làm
hay và phát hiện kịp thời những xu hướng,
những vấn đề mới đặt ra cần phải giải quyết
trong nhiệm kỳ mới.
Bám sát vào nhiệm vụ chính trị của từng cấp
theo Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng và các Nghị quyết của Trung ương
để xây dựng Chương trình hành động của nhiệm kỳ mới với các mục tiêu, nhiệm
vụ cụ thể; có nội dung phong phú, thiết thực; có giải pháp đúng và gắn liền
với đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đồng thời,
thể hiện rõ vai trò của Mặt trận trong việc thực hiện đa dạng hoá các hình
thức tập hợp và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đẩy mạnh
các cuộc vận động xã hội, các phong trào thi đua yêu nước rộng khắp và có
hiệu quả; đẩy mạnh phát huy dân chủ bằng việc thực hiện tốt quy chế dân chủ
ở các cấp; nắm bắt và phản ánh kịp thời tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị đúng
đắn của các tầng lớp nhân dân; chăm lo bảo vệ quyền lợi chính đáng và hợp
pháp của các tầng lớp nhân dân; tham gia xây dựng hệ thống chính trị vững
mạnh; hướng mạnh về cơ sở, khu dân cư; coi
trọng đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động để Mặt trận các cấp thực hiện
tốt chức năng, nhiệm vụ, vai trò, vị trí của mình trong thời kỳ nước ta thực
hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập với nền kinh tế thế
giới.
Đại hội Mặt trận các cấp sẽ đóng góp ý kiến
vào các văn kiện dự thảo của Đại hội Mặt trận cấp trên và kiến nghị sửa đổi,
bổ sung Điều lệ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để Đại hội lần thứ VII của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam xem xét quyết định việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam cho phù hợp với yêu cầu của tình hình, nhiệm vụ mới
đặt ra.
- Hiệp thương cử ra Uỷ
ban Mặt trận và cơ quan lãnh đạo của Mặt trận Tổ quốc cấp mình:
Việc chuẩn bị nhân sự của Uỷ ban Mặt
trận các cấp phải căn cứ vào tiêu chuẩn cán bộ và cơ cấu, thành phần theo
quy định của Điều lệ Mặt trận; coi trọng tính tiêu biểu, tính đại diện và
tính thiết thực; mở rộng thành phần là những cá nhân tiêu biểu, đại diện đầy
đủ các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam ở
nước ngoài, đồng thời có đủ điều kiện hoàn thành nhiệm vụ của Uỷ viên Uỷ ban
Mặt trận cấp mình trong tình hình mới; tăng số uỷ viên Uỷ ban Mặt trận là
người ngoài Đảng hơn khoá trước (phấn đấu ở Trung ương là trên 50%, ở các
cấp địa phương là trên 30%). Trên cơ sở đó, số lượng ủy viên Ủy ban Mặt trận
các cấp ở địa phương như sau:
+ Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã,
phường, thị trấn: Từ 30 đến 45 vị, nơi có điều kiện có thể nhiều hơn.
+ Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp quận,
huyện: Từ 45 đến 65 vị, nơi có điều kiện có thể nhiều hơn.
+ Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh,
thành phố: Từ 65 đến 90 vị (riêng đối với thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí
Minh, các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa: 120 vị trở lên.
Kiện toàn tổ chức, bộ máy cơ quan Mặt trận
các cấp theo hướng tinh gọn, đội ngũ cán bộ chuyên trách đủ về số lượng, có
chất lượng và có cơ cấu phù hợp, đồng thời, coi trọng việc mở rộng và tạo
điều kiện để phát huy đội ngũ cán bộ hưu trí, cán bộ không chuyên trách, lực
lượng cộng tác viên thông qua hoạt động của các tổ chức tư vấn. Các cấp uỷ
đảng cử đồng chí Uỷ viên Thường vụ cấp uỷ làm bí thư Đảng đoàn (ở cấp tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương) và giới thiệu để Đại hội bầu vào Uỷ ban Mặt
trận và Uỷ ban Mặt trận bầu giữ chức Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam cùng cấp.
- Hiệp thương cử
đoàn đại biểu đi dự Đại hội Mặt trận cấp trên trực tiếp.
3. Thời gian tiến hành Đại hội Mặt trận các
cấp:
- Đại hội Mặt trận cấp xã, phường, thị trấn:
Quý II và quý III năm 2008.
- Đại hội Mặt trận cấp huyện, quận: Quý IV
năm 2008 và quý I năm 2009.
- Đại hội Mặt trận cấp tỉnh, thành phố trực
thuộc TW: Quý I và quý II năm 2009.
- Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
lần thứ VII : Quý III năm 2009.
IX. HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ NƯỚC TA VÀ CÁC TẦNG
LỚP NHÂN DÂN HƯỚNG VỀ ĐẠI HỘI MẶT TRẬN CÁC CẤP NHƯ THẾ NÀO?:
1.
Tổ chức đợt sinh hoạt chính trị trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân với
những nội dung như sau:
- Quán triệt và đánh giá kết quả việc thực hiện các chủ trương, đường lối
của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng và phát huy sức
mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc hiện nay ở cấp mình.
-
Khẳng định vị trí, vai trò, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ
thống chính trị nước ta từ khi mới thành lập đến nay, đặc biệt là giai đoạn
thực hiện công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội
nhập kinh tế thế giới.
Nêu bật những yêu cầu và nội dung đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng,
phương thức phối hợp của Nhà nước đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo tinh thần nghị
quyết Đại hội X và nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 (khóa X) của Đảng. Trên cơ
sở đó, cấp ủy đảng, chính quyền và Mặt trận các cấp xem xét lại những việc
đã làm được, những tồn tại, hạn chế cần khắc phục để tiếp tục thực hiện tốt
các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối
với sự nghiệp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nâng cao vị trí, vai
trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
- Kiểm điểm kết quả thực hiện vai trò, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam các cấp trong việc vận động, tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn
dân gắn với thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức
Hồ Chí Minh” tại địa phương, đơn vị, đặc biệt là tư tưởng đại đoàn kết của
Người, về vai trò của
Mặt trận tham
gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền nhân dân ngày càng vững mạnh.
- Đẩy mạnh cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở
khu dân cư và cuộc vận động Ngày vì người nghèo. Phát động các
phong trào thi đua yêu nước, xây dựng các công trình về kinh tế, xã hội,
giữ vững an ninh quốc phòng, trật tự và an toàn xã hội, xây dựng và củng cố
khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên địa bàn dân cư và ở các địa phương, đơn
vị để thiết thực kỷ niệm 60 năm ngày Bác Hồ ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc
(11/6/1948 - 11/6/2008) và lập thành tích chào mừng Đại hội Mặt trận của
từng cấp tiến tới Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
- Đóng góp trí tuệ, tham gia xây dựng dự thảo báo cáo chính trị và cơ cấu
nhân sự Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa mới của Đại hội Mặt trận cấp
mình, dự thảo văn kiện Đại hội Mặt trận cấp trên và Điều lệ Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam sửa đổi (nêu có).
Đợt
sinh hoạt chính trị được triển khai thực hiện đồng bộ từ Trung ương đến địa
bàn dân cư, gắn với kế hoạch tiếp tục thực hiện cuộc vận động “Học tập và
làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và được tổng kết vào dịp kỷ niệm 79
năm ngày thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam (18/11/1930 -
18/11/2009).
2. Đẩy mạnh
công tác tuyên truyền đại hội Mặt trận các cấp:
* Chủ đề tuyên
truyền:
Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tăng cường
khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế thế giới vì mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
-
Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tham mưu cấp uỷ và
phối hợp với Ban Tuyên giáo cấp ủy, các tổ chức thành viên của Mặt trận cùng
cấp và các cơ quan thông tấn, báo chí ở Trung ương và địa phương thường
xuyên tổ chức các hình thức tuyên truyền phù hợp để kịp thời phản ánh các
nội dung và phương thức sinh hoạt chính trị sinh động, các phong trào thi
đua có hiệu quả ở cơ sở, cơ quan, đơn vị, từng khu dân cư; các sự kiện
trước, trong và sau Đại hội Mặt trận các cấp tiến tới Đại hội Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam lần thứ VII;
Phối hợp chặt
chẽ với Đài Phát thanh, Đài Truyền hình, Báo của tỉnh, thành phố mở các
chuyên mục tuyên truyền từ khi tiến hành Đại hội Mặt trận cấp xã tới Đại hội
Mặt trận cấp huyện, cấp tỉnh và Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ
VII; vận động các cơ quan báo chí tích cực tham gia: Giải báo chí Vì sự
nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc
Phát huy lực lượng tuyên truyền viên, báo cáo viên trong việc tổ chức các
hình thức tuyên truyền miệng như các buổi nói chuyện chuyên đề, sinh hoạt
câu lạc bộ, báo cáo trong hội nghị của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các
cấp và các tổ chức thành viên, các buổi sinh hoạt của nhân dân ở khu dân
cư...
Tùy điều kiện cụ thể của từng tổ chức, địa phương, đơn vị, có thể tổ chức
các cuộc thi tìm hiểu và kết quả thực hiện các chủ trương, đường lối của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với nhiệm vụ xây dựng khối đại
đoàn kết toàn dân tộc và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, về các kỳ đại hội của
Mặt trận địa phương và Đại hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Coi
trọng cả công tác tuyên truyền trong nước và tuyên truyền đối ngoại, đấu
tranh với những luận điệu xuyên tạc về dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn
giáo, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc của các thế lực thù địch.
3. Phát động phong trào thi đua yêu nước kỷ
niệm 60 năm ngày Bác Hồ ra lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948 -
11/6/2008) và lập thành tích chào mừng Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các
cấp:
- Trên cơ sở 6 nội dung của cuộc vận động
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” để phát động
các phong trào thi đua thực hiện có hiệu quả, đạt nhiều thắng lợi cụ thể
trên từng lĩnh vực, nội dung, được thể hiện qua mỗi công trình, mỗi việc làm
của các chương trình mục tiêu quốc gia đang triển khai thực hiện ở mỗi địa
bàn dân cư, mỗi địa phương, mỗi cơ quan, đơn vị, cụ thể:
Xây dựng các công trình chào mừng Đại hội Mặt trận các cấp: Lựa chọn các
công trình kinh tế, xã hội thiết thực, phù hợp với khả năng thực hiện ở địa
bàn dân cư như: Xây nhà tình nghĩa cho gia đình chính sách, nhà đại đoàn kết
cho hộ nghèo; xử lý các vụ việc cụ thể đem lại quyền và lợi ích hợp pháp,
phù hợp với nguyện vọng chính đáng của nhân dân trên địa bàn; phấn đấu xây
dựng khu dân cư tiên tiến, làng văn hóa, khu phố văn hóa, cơ quan, đơn vị
văn hóa...
- Đẩy mạnh việc nâng cao chất lượng thực hiện
cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, trong đó tập trung vào các nội dung:
Vận động xây dựng Qũy vì người nghèo, xây
dựng nhà Đại đoàn kết cho người nghèo, giúp đỡ hộ nghèo thoát nghèo bền
vững;
Phối hợp với các cấp các ngành chức năng đẩy
mạnh chương trình làm nhà ở cho hộ nghèo và vận động các doanh nghiệp thực
hiện thư kêu gọi của Thủ tướng Chính phủ về việc giúp đỡ xây dựng nhà đại
đoàn kết cho hộ nghèo. Mỗi địa bàn dân cư, mỗi cấp thi đua phấn đấu sớm xóa
xong nhà dột nát cho hộ nghèo để cùng với cả nước hoàn thành cơ bản xoá nhà
dột nát cho hộ nghèo vào năm 2009.
- Thi đua thực hiện có hiệu qủa Pháp lệnh
dân chủ ở cơ sở gắn liền với việc phòng chống tham nhũng, lãng phí và thực
hành tiết kiệm; giám sát có hiệu quả cán bộ, đảng viên ở khu dân cư. Mỗi địa
bàn dân cư, mỗi địa phương có cách làm hay, sáng tạo để vừa lắng nghe được ý
kiến, tâm tư, nguyện vọng chính đáng của người dân trong việc thực hiện các
chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật, đồng thời bênh vực
được quyền lợi chính đáng, hợp pháp của người dân khi bị vi phạm.
BAN TUYÊN HUẤN
ỦY BAN
TRUNG ƯƠNG MTTQ VIỆT NAM
Về đầu trang