|
ỦY BAN TRUNG
ƯƠNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM
MẶT TRẬN
TỔ QUỐC VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BAN THƯỜNG TRỰC
Hà Nội,
ngày 07 tháng 7 năm 2008
Số: 3167
/ CV-MTTW-BTT
"Về
Đề cương báo cáo tại
Đại hội Mặt
trận cấp huyện và cấp tỉnh"
Kính gửi: - Ban Thường trực UBMTTQVN các tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương.
Để thống nhất các nội dung trong Báo cáo tại
Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các quận, huyện, thị xã (gọi chung là cấp
huyện) và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh),
Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gửi đến Ban
Thường trực UBMTTQVN các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Đề cương Báo
cáo của Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện, tỉnh và đề nghị:
Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ vào tình hình, nhiệm vụ
cụ thể của địa phương mình để xây dựng báo cáo của đại hội cấp mình và hướng
dẫn, giúp đỡ Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện xây
dựng báo cáo của Đại hội sát với yêu cầu, nhiệm vụ.
Trong quá trình triển khai công việc, đề nghị
các đồng chí phản ánh kịp thời về Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam (qua Văn phòng, số 46 Tràng Thi, Hà Nội) những ý kiến, kinh
nghiệm ở địa phương để việc triển khai thực hiện nhiệm vụ chung được tốt
hơn.
Nơi nhận:
TM. BAN THƯỜNG TRỰC
- Các Đ/C trong BTT
UBTƯMTTQVN; PHÓ CHỦ TỊCH
KIÊM TỔNG THƯ KÝ
- VP và các ban, đơn
vị thuộc
(Đã ký)
cơ quan UBTƯMTTQVN;
Vũ Trọng Kim
-Lưu VT, TB VKĐH.
Về đầu trang
ĐỀ CƯƠNG BÁO CÁO CỦA ĐẠI HỘI
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM CẤP HUYỆN VÀ CẤP TỈNH
(Ban hành theo Công văn số: 317/ CV-MTTW-BTT,
ngày 07 tháng 7 năm 2008)
---------------------
PHÁT HUY SỨC MẠNH KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN
TỘC,NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM ............
(Quận,
huyện, tỉnh, thành phố) TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI
HOÁ VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ THẾ GIỚI
VÌ MỤC TIÊU "DÂN GIÀU,NƯỚC
MẠNH, XÃ HỘI CÔNG BẰNG, DÂN CHỦ, VĂN MINH"
---------------
*
Mở đầu:
Nêu khái quát bối cảnh, tình hình kinh tế, xã hội và điều kiện xây dựng khối
đoàn kết toàn dân của địa phương trong quá trình thực hiện nghị quyết của
Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN) cấp mình ở nhiệm kỳ trước.
PHẦN THỨ NHẤT
TÌNH HÌNH KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC VÀ KẾT QUẢ
THỰC
HIỆN CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM .... (Quận,
huyện; Tỉnh, thành phố) TRONG NHIỆM KỲ QUA
I. TÌNH HÌNH KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC.
1. Đánh giá mặt tích cực của tình hình khối đại đoàn kết toàn dân ở
địa phương:
- Nêu bật những chuyển biến tích cực:
+
Về cơ cấu xã hội: Số lượng, chất lượng, tâm tư, tình cảm, nguyện vọng công
nhân; nông dân; trí thức; thanh
thiếu nhi; phụ nữ; cựu chiến binh; người cao tuổi; đồng bào các dân tộc
thiểu số; đồng bào là tín đồ các tôn giáo; đồng bào ở địa phương đang sinh
sống và làm việc ở các địa phương trong nước (và nước ngoài, nếu có)
+
Các mối quan hệ đoàn kết, gắn bó giữa các giai cấp, tầng lớp nhân dân; giữa
nhân dân với cấp uỷ đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể..., góp phần
quan trọng vào sự đồng thuận của xã hội, là cơ sở của khối đại đoàn kết toàn
dân ở địa phương.
-
Nêu rõ nhận thức, thái độ của các tầng lớp nhân dân trước những kết quả đạt
được của quá trình thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, xã hội, giữ vững an ninh,
quốc phòng ..., sự tin tưởng của các tầng lớp nhân dân vào những chủ trương,
đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước và công tác vận động,
tập hợp xây dựng khối đoàn kết toàn dân của Mặt trận và các tổ chức thành
viên.
-
Đại hội nhiệt liệt biểu dương, các tầng lớp nhân dân ở địa phương trong
năm năm qua đã chung sức, chung lòng xây dựng khối đoàn kết thống nhất trong
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của cấp đảng bộ vượt qua mọi khó
khăn, thử thách thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế, xã hội, an ninh
quốc phòng của địa phương, góp phần vào thắng lợi chung của cả nước.
2.
Nêu lên những vấn đề còn bất cập, ảnh hưởng đến khối đoàn kết toàn dân ở
địa phương (Sau đây là một số vấn đề chung, tuỳ vào tình hình thực tế ở mỗi
địa phương mà nêu cụ thể):
-
Vấn đề tăng trưởng kinh tế chưa đi đôi với yêu cầu phát triển xã hội.
- Sự thiếu đồng đều về chất lượng cuộc sống vật chất và
tinh thần, trình độ dân trí, mức hưởng thụ các thành quả về kinh tế, xã hội
trong các tầng lớp nhân dân ở các địa bàn dân cư chưa được khắc phục.
- Những yếu kém trong việc thực hiện dân chủ ở cơ sở để bảo
đảm quyền làm chủ của người dân.
- Những vấn đề cụ thể khác của địa phương ảnh hưởng đến sự
đồng thuận của xã hội ...
II. KIỂM ĐIỂM VIỆC THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG CỦA NHIỆM KỲ TRƯỚC:
1. Củng cố, tăng cường khối đại
đoàn kết toàn dân và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong
nhiệm vụ xây dựng và phát triển của địa phương:
- Thực hiện đa dạng hoá các hình
thức tập hợp các lực lượng nhân dân vào khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở địa
phương, mở rộng tổ chức của thành viên, tăng thêm thành viên là tổ chức và
cá nhân tiêu biểu trong Mặt trận...
-
Nêu kết quả của việc tập hợp, đoàn kết lực lượng nhân sĩ, trí thức, doanh
nhân, người tiêu biểu trong chức sắc các tôn giáo, đồng bào dân tộc thiểu số
ở địa phương.
- Mặt trận các cấp đã cùng với cấp
uỷ đảng và chính quyền chăm lo cuộc sống của nhân dân, nhất là các tầng lớp,
các nhóm xã hội gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống, những lúc thiên tai,
hoạn nạn.
- Thực hiện các hoạt động nhằm phát
huy dân chủ từ các cộng đồng dân cư đến toàn xã hội. Tuyên truyền, vận động
nhân dân nghiêm chỉnh thực hành các quy định của pháp luật, đồng thời nêu
những việc làm bênh vực quyền lợi hợp pháp, chính đáng của nhân dân.
2.
Vận động nhân dân tham gia các phong
trào thi đua yêu nước thực hiện thắng lợi các các nhiệm vụ kinh tế, xã hội
của địa phương:
Nêu các kết quả cụ thể của việc vận động các tầng lớp nhân dân hưởng ứng
các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước ở cơ sở, đặc biệt là tham
gia hai cuộc vận động lớn do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
phát động:
-
Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư":
Nêu kết quả cụ thể về phương thức triển khai và kết quả thực hiện 6 nội dung
của Cuộc vận động. Ở từng nội dung cần nêu rõ các phong trào của quần chúng
nhân dân đã thực hiện được; những mô hình, điển hình, cá nhân, tập thể nổi
bật ở địa phương.
- Cuộc vận động "Ngày vì người
nghèo": Đánh giá sự hưởng ứng của các tầng lớp nhân dân và kết quả đạt
được trên các mặt: Xây dựng, quản lý và sử dụng Quỹ vì người nghèo; xây nhà
tình thương, nhà đại đoàn kết; các hoạt động khác của Quỹ theo quy định của
quy chế ...; những đóng góp của Cuộc vận động đối với chủ trương "xoá đói,
giảm nghèo" ở địa phương; những mô hình, điển hình thực hiện Cuộc vận động
...
- Nêu các phong trào, các cuộc vận
động của các tổ chức thành viên đã triển khai thực hiện để huy động đoàn
viên, hội viên, các tầng lớp nhân dân thực hiện 2 cuộc vận động của Mặt trận.
- Đánh giá về hiệu quả đóng góp của
các phong trào, các cuộc vận động triển khai theo 6 nội dung của cuộc vận
động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư và của
các tổ chức thành viên vào việc phát triển kinh tế, xã hội, giữ vững an ninh,
quốc phòng ở địa phương trong 5 năm qua: (minh hoạ bằng kết quả thực tế).
3. Tuyên truyền, động viên nhân dân
thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, giữ vững an ninh, chính trị và
trật tự, an toàn xã hội ở địa phương:
- Nêu rõ các nội dung, phương thức
tuyên truyền, vận động.
- Đẩy mạnh các hoạt động, các phong
trào: Xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Các
hoạt động kết nghĩa, phối hợp với lực lượng vũ trang để quần chúng nhân dân
nhận thức đầy đủ và thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh, quốc phòng, trật tự
xã hội ngay trên địa bàn dân cư.
- Nêu kết quả của Mặt trận tham gia
giải quyết những vấn đề bức xúc của xã hội như tham gia giải quyết những
việc đột xuất, phát sinh điểm nóng; những thủ đoạn thực hiện âm mưu diễn
biến hoà bình của các thế lực thù địch, vấn đề về tôn giáo, dân tộc, dân chủ,
nhân quyền để gây chia rẽ khối đoàn kết dân tộc ...
4. Phát huy quyền làm chủ
của nhân dân, động viên, tổ chức nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng
chính quyền và hệ thống chính trị ở địa phương:
- Kết quả về tuyên truyền các chủ trương, đường lối, chính
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tổ chức cho các tầng lớp nhân dân
tham gia ý kiến đóng góp về sự lãnh đạo của cấp uỷ đảng, sự quản lý, điều
hành của chính quyền; giám sát về đạo đức, tác phong, năng lực làm việc của
cán bộ, đảng viên... góp phần xây dựng tổ chức Đảng trong sạch, chính quyền
vững mạnh, tạo ra sự gắn bó mật thiết giữa Đảng, chính quyền và nhân dân.
- Kết quả về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở để phát huy
quyền làm chủ của nhân dân.
- Kết qủa việc tham gia các cuộc
bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; công
tác tiếp xúc cử tri, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố
cáo của công dân; động viên nhân dân thực hiện luật Phòng chống tham nhũng,
thực hành tiết kiệm, chống lãng phí ...
-
Kết qủa hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư cộng đồng,
các hoạt động hoà giải mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân ....
5. Mở rộng các hoạt động về đối ngoại nhân dân, tăng cường đoàn kết quốc tế
với các tổ chức, vùng, địa phương... ở các nước trên thế giới:
-
Nêu kết quả hoạt động đối ngoại nhân dân của Mặt trận các cấp ở địa phương
góp phần cùng với công tác đối ngoại của cấp uỷ, chính quyền, tăng cường sự
hiểu biết, đoàn kết hữu nghị và hợp tác quốc tế của địa phương với các vùng,
miền, quốc gia trên thế giới.
6. Củng cố,
kiện toàn tổ chức bộ máy; đổi mới phương thức hoạt động của Uỷ ban Mặt trận
các cấp và của các Ban Công tác Mặt trận:
- Về tổ chức cán bộ: Nêu kết quả
xây dựng, củng cố Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Thường trực, bộ máy
chuyên trách và lực lượng tư vấn của Mặt trận các cấp. Đội ngũ cán bộ các
cấp ...
- Về hoạt động: Đánh giá việc đổi
mới phương thức hoạt động, tìm ra những điểm nổi bật góp phần thắng lợi việc
thực hiện Nghị quyết, chương trình hành động của Đại hội Mặt trận cấp mình
nhiệm kỳ qua.
- Về
tổ chức và hoạt động của Ban công tác Mặt trận khu dân cư.
III. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT, CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG
CỦA NHIỆM KỲ QUA VÀ NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
1.
Về ưu điểm: (Nêu những kết quả nổi
bật):
- Trong công tác tuyên truyền, vận
động, tập hợp, đoàn kết các tầng lớp nhân dân;
- Trong việc phối hợp tổ chức các
phong trào thi đua yêu nước;
- Trong nhiệm vụ xây dựng Đảng,
chính quyền và hệ thống chính trị ở địa phương vững mạnh;
- Trong nhiệm vụ phát huy dân chủ,
bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân;
- Trong tăng cường xây dựng, củng
cố về tổ chức và đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận các cấp.
2.
Tuy nhiên, với tinh thần dân chủ, thẳng thắn, nhìn vào sự thật, Đại hội
nghiêm túc nhìn nhận những tồn tại, hạn chế trong tổ chức và hoạt động của
Mặt trận ở địa phương trong nhiệm kỳ qua cần phải khắc phục: (Tuỳ vào tình
hình cụ thể ở địa phương để nêu cho rõ, đúng với thực thực tiễn).
3.
Nguyên nhân của những thành công và hạn chế:
-
Nguyên nhân về thành công
(Tuỳ vào tình hình thực tế của địa phương để nêu rõ nguyên nhân khách quan
và nguyên nhân chủ quan, sau đây chỉ là một số gợi ý)
:
+ Công tác mặt trận
không ngừng được tăng cường sự lãnh đạo của cấp uỷ đảng; ngày càng được sự
quan tâm phối hợp, tạo điều kiện của chính quyền; sự phối hợp hành động của
các tổ chức thành viên và sự hưởng ứng tích cực của các tầng lớp nhân dân.
+ Tình hình kinh tế, xã
hội ở địa phương ngày càng ổn định và phát triển, an ninh chính trị, trật tự
an toàn xã hội ngày càng giữ vững đem lại lòng tin vững chắc trong các tầng
lớp nhân dân. Khối đoàn kết toàn dân, đoàn kết trong các lực lượng vũ trang,
trong cán bộ, viên chức, người lao động, đoàn kết giữa các đồng bào dân tộc,
tôn giáo ... ngày càng bền vững tạo nên những thuận lợi cơ bản cho công tác
vận động, tập hợp của Mặt trận.
+ Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam các cấp và Ban Công tác Mặt trận các khu dân cư đã có nhiều nỗ
lực phấn đấu, khắc phục mọi khó khăn trong việc đổi mới phương thức hoạt
động để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới.
- Nguyên nhân của những
tồn tại, yếu kém:
+
Nhận thức về vai trò, vị trí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong nhiệm vụ
xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân theo quan điểm, đường lối của Đảng có
lúc, có nơi chưa được sâu sắc, không đúng, vai trò nhân dân làm chủ thông
qua Mặt trận chưa được phát huy;, làm cho Mặt trận chưa làm tròn vai trò đại
diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của các tầng lớp nhân dân.
+ Những tác động của mặt trái cơ chế thị trường; những khó
khăn về kinh tế, xã hội của địa phương; tình trạng quan liêu, tham nhũng,
lãng phí ở một bộ phận cán bộ của hệ thống chính trị ... làm giảm lòng tin
của quần chúng nhân dân, gây khó khăn cho công tác tập hợp, đoàn kết nhân
dân.
+ Việc thực hiện cơ chế phối hợp, thống nhất hành động giữa
các tổ chức thành viên trong UBMTTQVN các cấp cũng như giữa chính quyền với
Mặt trận có lúc, có nơi chưa được chặt chẽ, kịp thời. Đặc biệt, do chưa có
những quy định cụ thể, thống nhất từ Trung ương và các cấp để giải quyết
những bất hợp lý về chế độ chính sách, bảo đảm điều kiện, phương tiện làm
việc của Mặt trận ở cơ sở và địa bàn dân cư mà phần lớn phải thực hiện sự
vận dụng của địa phương nên trong thực hiện chưa đồng bộ và thiếu sự nhất
quán.
+
Tổ chức và bộ máy của cơ quan Mặt trận các cấp chưa đáp ứng với yêu cầu và
nhiệm vụ. Cán bộ Mặt trận còn nhiều hạn chế về năng lực tổ chức, thực hiện
nhiệm vụ, chưa được đầu tư đúng mức về quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng chuyên
môn, nghiệp vụ. Sự hướng dẫn, kiểm tra của Mặt trận cấp trên chưa kịp thời,
sâu sát; phương thức hoạt động của Mặt trận cơ sở chậm đổi mới, còn chung
chung, chưa đáp ứng với yêu cầu tình hình nhiệm vụ mới đặt ra.
4. Những bài học kinh
nghiệm:
*
Bài học thứ nhất:
Sự quán triệt sâu sắc các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và tư
tưởng Hồ Chí Minh về vai trò, vị trí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong
khối đại đoàn kết toàn dân, đồng thời tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy đảng
và thực hiện cơ chế, chính sách của chính quyền mang tính quyết định hiệu
quả của công tác mặt trận ở thời kỳ mới.
Nơi nào cấp uỷ đảng lãnh đạo Mặt trận sâu sát trong chỉ đạo,
tổ chức thực hiện có hiệu quả các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng
về công tác mặt trận ở địa phương, là trung tâm điều hoà các mối quan hệ
phối hợp giữa Thường trực HĐND, UBND, Ban Thường trực UBMTTQVN cùng cấp,
đồng thời cử cán bộ có đầy đủ các tiêu chuẩn, ngang tầm với vị trí của Mặt
trận để phụ trách thì nơi đó Mặt trận thực sự có điều kiện phát huy hiệu quả
về tổ chức và hoạt động.
*
Bài học thứ hai: Việc thực hiện
tốt qui chế phối hợp giữa Thường trực HĐND, Lãnh đạo UBND với Ban Thường
trực Uỷ ban MTTQVN cùng cấp là
những điều kiện quan trọng để Mặt trận hoàn thành chức năng, nhiệm vụ theo
luật định. Trong cơ chế thị trường hiện nay, các phong trào, các cuộc vận
động của Mặt trận ngoài việc tập trung tuyên truyền, vận động nhân dân thực
hiện còn phải có sự phối hợp quản lý, cung cấp phương tiện, điều kiện thực
hiện của chính quyền. Thực tiễn cho thấy rằng khi nào có sự phối hợp đầy
trách nhiệm giữa chính quyền với Mặt trận thì hiệu quả công tác của Mặt trận
mới được phát huy đúng mức.
*
Bài học thứ ba:
Bản thân Mặt trận phải không ngừng nâng cao tính chủ động, sáng tạo trong
hoạt động, biết bám sát nhiệm vụ chính trị của địa phương cũng như hướng dẫn
của Mặt trận cấp trên để triển khai công việc. Công tác mặt trận trước yêu
cầu của nhiệm vụ mới cần khắc phục cung cách làm việc chung chung, đại khái
mà phải đi vào những vấn đề, lĩnh vực cụ thể liên quan trực tiếp đến quyền
lợi chính đáng thiết thực của người dân.
*
Bài học thứ tư:
Đội ngũ làm công tác Mặt trận, bao gồm các cán bộ chuyên trách, lực lượng
cộng tác viên, cán bộ tư vấn là nhân tố quan trọng quyết định kết quả của
công tác mặt trận. Do đó, việc đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch cán bộ chuyên
trách của Mặt trận cũng như đầu tư xây dựng lực lượng cộng tác viên, tư vấn
có ý nghĩa chiến lược của công tác mặt trận. Đồng thời, cán bộ Mặt trận phải
tự mình trau dồi đạo đức cách mạng, nhiệt tình và tâm huyết với nhiệm vụ,
thường xuyên thực hiện việc tự bồi dưỡng, nâng cao kiến thức, nghiệp vụ công
tác mặt trận mới đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ.
PHẦN THỨ HAI
PHƯƠNG HƯỚNG
NHIỆM VỤ, CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG
CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM ...
(HUYỆN, TỈNH)
NHIỆM KỲ ...
Nêu khái quát bối cảnh, tình hình, nhiệm vụ
kinh tế, xã hội của địa phương trong nhiệm kỳ mới của Đại hội, trong đó nêu
một số chỉ tiêu cơ bản về kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và xây dựng hệ
thống chính trị của địa phương trong nhiệm kỳ tới để làm cơ sở xác định mục
tiêu, nhiệm vụ của Chương trình hành động.
Nêu khái quát những tác động của quá trình đổi mới
và hội nhập kinh tế thế giới ảnh hưởng đến công tác đoàn kết, tập hợp nhân
dân trong thời gian tới.
I. PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ:
Tiếp tục phát huy mạnh mẽ vai trò
của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên các cấp, tăng
cường củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân ở địa phương, hướng mạnh
về các khu dân cư để triển khai cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng
đời sống văn hoá ở khu dân cư" và cuộc vận động " Ngày vì người nghèo".
Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, huy động sức mạnh khối đại đoàn
kết toàn dân để hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ kinh tế, xã hội, an ninh
quốc phòng, tăng cường hoạt động giám sát và phản biện xã hội để xây dựng
Đảng, chính quyền và hệ thống chính trị vững mạnh, đi đôi với phát huy tốt
hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân. Không ngừng xây dựng và củng cố về tổ
chức, đổi mới hơn nữa phương thức hoạt động của mặt trận các cấp.
II. CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG CỦA NHIỆM KỲ
MỚI:
1. Đa dạng hóa các hình thức tập hợp, vận
động nhân dân để tạo ra sự đồng thuận xã hội trên cơ sở quán triệt sâu sắc
chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước,
thắt chặt mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa
nhân dân với Đảng:
Đẩy mạnh tuyên truyền, quán triệt tư tưởng, quan điểm đại
đoàn kết toàn dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của nghị quyết Đại hội
Đảng lần thứ X, nghị quyết Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ VII "Về
phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh"; "Về công tác Dân tộc"; "Về công tác
tôn giáo" đến mọi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.
UB MTTQVN các cấp ở địa phương
phối hợp chặt chẽ với các tổ chức
thành viên và các cơ quan chức năng của cấp uỷ Đảng, chính quyền thực hiện
có kế hoạch việc tuyên truyền, vận động cán bộ và nhân dân hưởng ứng cuộc
vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", đặc biệt là
học tập, nghiên cứu, thực hành tư tưởng, quan điểm, đường lối đại đoàn kết
toàn dân tộc của chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam trên
từng lĩnh vực công tác và hoạt động của xã hội.
Lấy mục tiêu chung của dân tộc làm điểm tương đồng, tập hợp,
vận động, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, tăng cường khối đại đoàn
kết toàn dân tộc vì sự ổn định chính trị và đồng thuận xã hội. Uỷ ban Mặt
trận các cấp, Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư và mỗi tổ chức thành viên
thông qua các phong trào, các cuộc vận động; thông qua tổ chức và hoạt động
của tổ chức thành viên và cá nhân tiêu biểu; thông qua việc tổ chức Ngày hội
đại đoàn kết toàn dân tộc (18 tháng 11 hằng năm) để có các phương thức tập
hợp và nội dung hoạt động phù hợp, làm cho các tầng lớp nhân dân hiểu rõ
tình hình, nhiệm vụ cụ thể về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trên từng địa
phương, đơn vị, địa bàn dân cư, để có sự thống nhất hành động.
Tạo ra sự đồng bộ trong nhận thức về đường lối, chủ trương
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; sự điều hành, quản lý của các
cấp chính quyền và sự thực hiện tự giác của người dân, trên cơ sở đó, nâng
cao hơn nữa mối quan hệ gắn bó và trách nhiệm công dân với đất nước, với
đại phương, góp phần làm cho Đảng, chính quỳen mạnh lên, Mặt trận mạnh lên.
2. Tiếp tục đẩy mạnh các phong trào
thi đua yêu nước thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế, xã hội, giữ vững
an ninh quốc phòng:
Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động;
nâng cao chất lượng hai cuộc vận động do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam phát động là cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống
văn hoá ở khu dân cư" và cuộc vận động "Ngày vì người nghèo" nhằm
thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, phát huy mọi
tiềm năng và nguồn lực của địa phương nhằm xoá đói, giảm nghèo, đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hoá vì "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh".
Trên cơ sở đó, cần đưa ra những công việc cụ thể của Mặt trận
và các tổ chức thành viên theo từng nhiệm vụ: lĩnh vực sản xuất, kinh doanh,
các hoạt động kinh tế, xã hội,
văn hóa, y tế, giáo dục, thể dục thể thao,dân số, bảo vệ môi trường, an
toàn giao thông, giữ gìn trật tự xã hội ...
3.
Chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, phát huy
quyền làm chủ của nhân dân, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống
chính trị trong sạch, vững mạnh đồng bộ:
Tổ chức, động viên nhân dân có những việc làm thiết thực để
xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân trong sạch vững mạnh; tham gia xây
dựng, chỉnh đốn Đảng để Đảng thực sự xứng đáng với niềm tin yêu của nhân dân
(thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội; tuyên truyền phổ biến
pháp luật; xây dựng cho dân ý thức "Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp
luật"; tập hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân về mọi mặt để phản ảnh cho
Đảng, chính quyền địa phương; tổ chức tốt hơn nữa các hình thức giám sát cơ
quan Nhà nước, đại biểu dân cử về việc thực hiện chính sách, pháp luật, giám
sát cán bộ, viên chức và đảng viên ở khu dân cư về việc làm, đạo đức, lối
sống v.v...).
4.
Tăng cường công tác đối ngoại nhân dân.
5. Củng cố tổ chức, đổi mới nội dung và
phương thức hoạt động của Ủy ban Mặt trận các cấp và Ban Công tác Mặt trận ở
khu dân cư:
-
Về Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Thường trực, bộ máy chuyên trách và
lực lượng cán bộ của mặt trận các cấp, trong đó chú trọng các cán bộ chuyên
trách và lực lượng cộng tác viên, tư vấn.
-
Về Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư và các tổ chức như Ban Thanh tra nhân
dân; Tổ tự quản, hoà giải ... ở cộng đồng dân cư.
-
Về nội dung và phương thức hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
mỗi cấp và ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư cần làm thế nào cho có hiệu
quả (rút ra từ thực tiễn địa phương).
-
Chú ý: Mỗi nội dung của Chương trình hành động cần đề ra các
chỉ tiêu, giải pháp cụ thể, mang tính
khả thi để triển khai thực hiện.
Trên
đây là đề cương mang tính gợi ý, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam cấp huyện, tỉnh căn cứ vào tình hình cụ thể ở địa phương mình để
xây dựng Báo cáo của Đại hội cho chất lượng.
Về đầu trang
ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN VỀ
ĐẠI HỘI MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM CÁC CẤP,
TIẾN TỚI ĐẠI HỘI MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM LẦN
THỨ VII
-----------------
I. TƯ TƯỞNG CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VÀ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG
CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC VÀ MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT.
1.
Trong hệ thống tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, tư
tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc là tư tưởng cơ bản, nhất quán và xuyên suốt
trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh,
muốn xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân vững chắc thì phải có lực lượng và
có thành phần làm nòng cốt. Người chỉ rõ "Đại đoàn kết tức là trước hết
phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân,
nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn
kết". Đó cũng là cơ sở để Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta thành lập và
lãnh đạo hoạt động của tổ chức Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngay từ khi có Đảng
đến nay.
Ngày 18/11/1930 Ban Thường
vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra chỉ thị thành lập Hội Phản đế Đồng
Minh - hình thức tổ chức đầu tiên của Mặt trận dân tộc thống nhất (ngày nay
là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam). Trải qua các thời kỳ cách mạng với những hình
thức tổ chức và tên gọi khác nhau, Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam
không ngừng lớn mạnh và có những đóng góp to lớn vào thắng lợi vĩ đại của
dân tộc, trở thành một nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
từng khẳng định
tại Đại hội thành lập Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam ngày 10/9/1955 như sau: "Lịch
sử trong những năm qua đã tỏ rõ lực lượng đoàn kết của nhân dân là vô địch,
và Mặt trận dân tộc thống nhất đã nhiều lần thắng lợi.
Mặt trận
Việt Minh đã giúp cách mạng tháng Tám thành công.
Mặt trận
Thống nhất Việt Minh - Liên Việt đã giúp kháng chiến thắng lợi.
Chúng ta
có thể tin chắc rằng: với sự cố gắng của mỗi người và sự ủng hộ của toàn dân,
Mặt trận Tổ quốc sẽ làm tròn nhiệm vụ vẻ vang là giúp xây dựng một nước Việt
Nam hoà bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh."
Phát biểu
tại lớp bồi dưỡng cán bộ về công tác Mặt trận ngày 8/1/1962, Người
chỉ rõ:
"Chính sách Mặt trận là một chính sách rất quan trọng. Công tác Mặt trận là
một công tác rất quan trọng trong toàn bộ công tác cách mạng. Cán bộ và Đảng
viên ta cần nắm vững và chấp hành đúng Nghị quyết của Đại hội Đảng và Nghị
quyết Bộ Chính trị về vấn đề Mặt trận Dân tộc thống nhất. Trong cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Mặt trận
Dân tộc thống nhất vẫn là một trong những lực lượng to lớn của cách mạng
Việt Nam."
2.
Thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa
Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng trong lịch sử,
vị trí chiến lược của khối đại đoàn kết toàn dân trong các thời kỳ của cách
mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định nhiệm vụ chiến lược xây
dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong cách mạng giải phóng dân tộc cũng như
cách mạng xã hội chủ nghĩa và trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế thế giới hiện nay.
Trong các thời kỳ đấu
tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, đại đoàn kết dân
tộc trên nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và
đội ngũ tri thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng là nguồn sức mạnh, động lực chủ
yếu, là nhân tố có ý nghĩa quyết định, đảm bảo thắng lợi bền vững của sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Kế thừa việc nhận thức các vấn đề mang
tính chiến lược này, từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) đến
nay, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết nhằm tăng cường, củng cố, mở rộng khối
đại đoàn kết dân tộc trong tình hình mới, tiêu biểu là các nghị quyết Đại
hội Đảng lần thứ VI, VII, VIII, IX, X; Cương lĩnh xây dựng đất nước trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; các Nghị quyết 08B/NC-TW của Hội nghị
BCH TW Đảng lần thứ Tám (khoá VI); Nghị quyết 07-NC/TW, ngày 17/11/1993 của
Bộ Chính trị về Đại đoàn kết dân tộc và tăng cường Mặt trận dân tộc thống
nhất; Nghị quyết 23-NC/TW, ngày 12/3/2003 của Hội nghị lần thứ 7 BCH TW
Đảng (khóa IX) về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc vì "Dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".
Trên cơ sở đó, Đại hội
lần thứ X của Đảng khẳng định quan điểm của Đảng ta về đại đoàn kết toàn dân
tộc và Mặt trận dân tộc thống nhất như sau:
- Đại đoàn kết toàn dân
tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội
ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng, là đường lối chiến lược của cách
mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa
quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc;
- Lấy mục tiêu giữ vững
độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các dân tộc, các
tôn giáo, các tầng lớp nhân dân ở trong nước và người Việt Nam định cư ở
nước ngoài;
- Xoá bỏ mọi mặc cảm,
định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần giai cấp. Tôn trọng những
ý kiến khác nhau không trái với lợi ích của dân tộc;
- Đề cao truyền thống
nhân nghĩa, khoan dung, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau vì sự ổn
định chính trị và đồng thuận xã hội;
- Sự nghiệp xây
dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc và phát huy sức mạnh của đại đoàn kết
dân là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị mà trước hết là trách nhiệm của
Đảng. Đường lối đúng đắn của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước phù
hợp với yêu cầu, nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của nhân dân là yếu tố
quan trọng hàng đầu để khơi dậy và phát huy sức mạnh toàn dân tộc;
- Mặt trận Tổ quốc và các
đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong việc tập hợp, vận động,
đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân; đại diện cho quyền lợi hợp pháp và
nguyện vọng chính đáng của nhân dân; đưa các chủ trương, chính sách của Đảng,
Nhà nước, các chương trình kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng
thành hoạt động thực tiễn sinh động trong cuộc sống của nhân dân;
- Nhà nước
ban hành cơ chế để Mặt trận Tổ quốc Viêt Nam và các đoàn thể nhân dân thực
hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội.
II. VAI TRÒ, VỊ TRÍ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT
NAM TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VÀ ĐỜI SỐNG XÃ HỘI.
1. Từ khi có Đảng là có
Mặt trận. Ngay sau khi giành được chính quyền về tay nhân dân, Mặt trận đã
trở thành một bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị nước ta. Mặt trận và
các tổ chức khác trong hệ thống chính trị nước ta tuy có vai trò, vị trí,
chức năng và phương thức hoạt động khác nhau nhưng đều là công cụ thực hiện
và phát huy quyền làm chủ của nhân dân nhằm một mục đích chung là: Phấn đấu
xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu
mạnh, có vị trí xứng đáng trên trường quốc tế.
Hiến pháp năm 1992 đã xác
định: "Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam là cơ sở chính trị của chính quyền
nhân dân...".
Điều đó càng khẳng định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận không thể
thiếu được của hệ thống chính trị nước ta.
Trên cơ sở quy định của
Hiến pháp, ngày 12/6/1999 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khoá X, kỳ họp thứ 5 đã thông qua Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trong đó
đã khẳng định:
"Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam là một bộ phận của hệ thống chính trị của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, là cơ sở chính trị của chính
quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí nguyện vọng, tập hợp khối đại đoàn kết
toàn dân, phát huy quyền làm chủ của dân, nơi hiệp thương phối hợp và thống
nhất hành động của các thành viên, góp phần giữ vững độc lập dân tộc, chủ
quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, văn minh". (Khoản 2, Điều 1)
Như vậy, vai trò, vị trí
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam do chính nhân dân, chính lịch sử xác định và
thừa nhận.
2. Thực tiễn của cách mạng
Việt Nam càng khẳng định vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam trong hệ thống chính trị nước ta từ trước đến nay:
Thắng lợi huy hoàng của
cách mạng tháng 8/1945 gắn liền với sự nghiệp của Mặt trận Việt Minh. Thành
tích của Mặt trận Việt Minh chính là sự kế tục sự nghiệp cách mạng đã được
chuẩn bị từ trước của Hội phản đế đồng minh (1930-1936) và của Mặt trận Dân
chủ Đông Dương (1936-1939).
Tiếp theo Mặt trận Việt
Minh là Mặt trận Liên Việt đã góp phần đưa cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp đến thắng lợi.
Kế tục Mặt trận Liên Việt,
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ra đời (1955) đã đoàn kết, tập hợp các tầng lớp
nhân dân tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, làm hậu thuẫn vững
chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.
Trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã cùng với Mặt trận dân tộc
giải phóng miền Nam Việt Nam và Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và
hoà bình Việt Nam đoàn kết nhân dân cả nước làm tròn sứ mệnh lịch sử vẻ vang:
giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân
chủ nhân dân trong cả nước.
Từ khi đất nước thống nhất,
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong việc củng cố và tăng
cường khối đại đoàn kết toàn dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ
cách mạng mới.
Con đường lên chủ nghĩa xã
hội ở nước ta là quá trình lâu dài, trải qua nhiều chặng đường với nhiều
thành phần kinh tế, đại diện cho mỗi thành phần kinh tế là một bộ phận trong
nhân dân, một lực lượng xã hội. Cùng với sự cạnh tranh kinh tế để phát triển
là sự phân hoá giầu nghèo. Nhiều tổ chức xã hội, nghề nghiệp ra đời. Sự phát
triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ, sự giao lưu văn hoá sẽ tác động đến
lối sống và cách nghĩ của mỗi người và của mọi tầng lớp trong xã hội. Mặt
khác, các thế lực thù địch không từ bỏ âm mưu thực hiện chiến lược diễn biến
hoà bình nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, phá hoại sự nghiệp cách
mạng của nhân dân ta. Trong giai đoạn mới của cách mạng, với nền dân chủ
ngày càng phát triển thì vai trò, của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân ngày
càng quan trọng, nhiệm vụ càng nặng nề hơn.
Nâng cao vai trò, vị trí
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị và đời sống xã hội là
một yêu cầu khách quan, có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng
khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo đảm cho sự phát triển vững chắc của đất
nước ta hiện nay.
III. NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC
VIỆT NAM.
Tại Khoản 1, Điều 1 của
Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chỉ rõ:
"Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính
trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu
trong các giai cấp và tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người
Việt Nam định cư ở nước ngoài".
Liên minh chính trị là sự
liên kết giữa các lực lượng với nhau thành một khối thống nhất để thực hiện
mục tiêu chính trị chung. Mục tiêu chung đó ở mỗi giai đoạn có khác nhau phù
hợp với nhiệm vụ cách mạng và lợi ích cơ bản của các lực lượng tham gia liên
minh chính trị. Mục tiêu chung trong giai đoạn cách mạng hiện nay là giữ
vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, phấn đấu
thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu tiến lên dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh. Nền tảng của sự liên minh trong Mặt trận là khối liên
minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức.
Các thành viên trong liên
minh chính trị (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam) bao gồm:
Tổ chức chính trị là Đảng
Cộng sản Việt
Nam;
Các tổ chức chính trị - xã
hội là: Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí
Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến
binh Việt Nam …;
Các tổ chức xã hội: Hội
Chữ thập đỏ, Hội Người cao tuổi, Hội Người mù, Hội Kế hoạch hoá gia đình,
Hội Khuyến học Việt Nam, Hội Y học cổ truyền Việt Nam v.v...;
Tổ chức chính trị - xã hội
- nghề nghiệp: Hội Nhà báo Việt Nam, Hội Luật gia Việt Nam ...;
Các tổ chức xã hội - nghề
nghiệp: Hội Sinh vật cảnh, Hội Châm cứu ...;
Quân đội nhân dân Việt Nam
- tiền thân là Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, là thành viên của
Mặt trận Việt Minh, nay kế tục truyền thống đó là thành viên của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam;
Các cá nhân tiêu biểu
trong các giai tầng xã hội: nhân sĩ, trí thức, người dân tộc thiểu số, chức
sắc các tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài... Đó là những người có uy tín
cao, có quan hệ và ảnh hưởng tốt, có sức thuyết phục đối với mỗi giai cấp,
tầng lớp xã hội, mỗi dân tộc, mỗi tôn giáo, mỗi cộng đồng người Việt Nam
định cư ở nước ngoài... Thông qua những cá nhân tiêu biểu này Mặt trận Tổ
quốc có thể tập hợp lôi cuốn lớp người mà họ có quan hệ và ảnh hưởng tham
gia vào khối đại đoàn kết dân tộc, cùng nhau thực hiện chương trình phối hợp
thống nhất hành động chung vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Nguyên tắc tổ chức và
hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam được qui định trong Điều 3 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam: "Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam tổ
chức và hoạt động theo Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, phù hợp với Hiến
pháp và pháp luật.
Tổ chức, hoạt động của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp
thương dân chủ, phối hợp thống nhất hành động.
Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam ở mỗi cấp là cơ quan chấp hành của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
cùng cấp, do Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp đó hiệp thương
cử ra có trách nhiệm tổ chức thực hiện nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam".
Các thành viên gia nhập
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, tán thành
điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, được Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở
mỗi cấp xem xét công nhận. Quan hệ giữa các thành viên trong Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam là hợp tác, bình đẳng, đoàn kết chân thành, tôn trọng lẫn nhau
để cùng thực hiện các nhiệm vụ chính trị kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh
quốc phòng, đối ngoại của Nhà nước và các chương trình của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam.
Trong sinh hoạt, các thành
viên được tự do bày tỏ chính kiến của mình, cùng nhau bàn bạc, hiệp thương
dân chủ để đạt tới sự nhất trí, không dùng mệnh lệnh, áp đặt. Nếu có những ý
kiến khác nhau trên những vấn đề cụ thể thì cùng nhau trao đổi, thuyết phục,
giúp nhau giải quyết. Khi phối hợp và thống nhất hành động, các thành viên
phải thoả thuận với nhau về chương trình hành động chung và có nghĩa vụ phối
hợp giúp đỡ nhau để thực hiện chương trình hành động đã được thoả thuận,
đồng thời các tổ chức thành viên của Mặt trận vẫn giữ tính độc lập của tổ
chức mình.
IV. MỐI QUAN HỆ GIỮA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM VÀ CÁC TỔ
CHỨC TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ.
1.
Mối quan hệ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Đảng Cộng sản Việt Nam: Đảng
là người lãnh đạo Mặt trận, vừa là thành viên của Mặt trận.
- Đảng thực
hiện vai trò lãnh đạo đối với Mặt trận bằng cách đề ra đường lối, chủ trương
đúng đắn, xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan, đáp ứng yêu
cầu nguyện vọng và lợi ích của các tầng lớp nhân dân; Đảng tiến hành công
tác tuyên truyền vận động, thuyết phục, tổ chức kiểm tra và bằng sự gương
mẫu của đảng viên trong sinh hoạt và hoạt động của Mặt trận.
Để lãnh đạo
Mặt trận, Đảng phải ở trong Mặt trận, là một thành viên của Mặt trận.Thực
tiễn lịch sử từ ngày thành lập Mặt trận đến nay đã chứng tỏ các thành viên
tham gia Mặt trận đều tự giác thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng.
- Là thành viên, Đảng tham
gia Mặt trận như mọi thành viên khác. Đảng thực hiện tốt vai trò, nhiệm vụ
và các hoạt động của tổ chức mình trong chương trình thống nhất hành động
của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp. Đại diện cấp uỷ đảng trong Uỷ
ban Mặt trận Tổ quốc có trách nhiệm tham gia sinh hoạt đầy đủ, thực hiện
hiệp thương dân chủ và phối hợp thống nhất hành động. Cấp uỷ đảng phải giáo
dục, yêu cầu đảng viên của mình gương mẫu thực hiện chương trình hành động
chung đã được các tổ chức thành viên thoả thuận và tích cực tham gia công
tác Mặt trận.
2. Quan hệ giữa Mặt trận
Tổ quốc Việt
Nam với Nhà nước:
Điều 5 Luật Mặt trận Tổ
quốc Việt
Nam qui định:
- Quan hệ giữa Mặt trận Tổ
quốc Việt
Nam với Nhà nước là quan hệ phối hợp để thực hiện nhiệm vụ và
quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.
- Quan hệ phối hợp giữa
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Nhà nước được thực hiện theo Quy chế phối hợp
công tác do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan nhà nước hữu quan ở
từng cấp ban hành.
- Nhà nước tạo điều kiện
để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoạt động có hiệu quả.
Nhà nước điều hành, quản
lý xã hội bằng luật pháp, nhân dân là người trực tiếp thực hiện chính sách,
pháp luật của Nhà nước. Nhà nước phải tôn trọng và tạo điều kiện để Mặt trận
và các đoàn thể động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ và sức mạnh có tổ
chức của nhân dân tham gia xây dựng, quản lý và bảo vệ Nhà nước.
Nhà nước phối hợp với Mặt
trận trong việc chăm lo lợi ích chính đáng của nhân dân, trong việc vận động
các tầng lớp nhân dân đẩy mạnh phong trào hành động thực hiện thắng lợi các
chương trình kinh tế - xã hội.
3. Quan hệ giữa Uỷ ban Mặt
trận Tổ quốc với các tổ chức thành viên cùng cấp:
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
mỗi cấp chủ trì việc hiệp thương dân chủ giữa các thành viên để bàn bạc thực
hiện những vấn đề quan trọng của đất nước, của địa phương, của cuộc sống
nhân dân, phối hợp xây dựng chương trình hành động chung và cùng nhau thực
hiện chương trình thống nhất hành động đó.
V. NHIỆM VỤ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM.
1.
Nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được quy định trong Điều 2 Luật Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam là:
- Tập hợp, xây dựng khối
đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần
trong nhân dân;
- Tuyên truyền, động viên
nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách
của Đảng, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật.
- Giám sát hoạt động của
cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức nhà nước; tập hợp ý
kiến, kiến nghị của nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng và Nhà nước.
Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân
dân thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội. Các cấp uỷ đảng và
các cấp chính quyền tăng cường tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với cử tri và
nhân dân; định kỳ nghe ý kiến của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân
tham gia xây dựng chủ trương, chính sách, pháp luật sát hợp với cuộc sống.
Thực hiện tốt Luật Mặt trận Tổ quốc, Quy chế dân chủ ở từng địa phương,
ngành và cơ sở, để Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và các tầng lớp nhân dân
tham gia xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống chính trị trong sạch, vững
mạnh.
- Tham gia xây dựng và
củng cố chính quyền nhân dân.
- Cùng Nhà nước chăm lo,
bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân.
- Tham gia phát triển tình
hữu nghị, hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trong khu vực
và trên thế giới.
Từ nhiệm vụ chung của Mặt
trận Tổ quốc nêu trên, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc từng cấp căn cứ vào yêu cầu
nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ và tình hình cụ thể của mỗi địa phương
để đề ra chương trình hành động cho Mặt trận cấp mình trong mỗi kỳ Đại hội,
hay chương trình phối hợp thống nhất hành động từng năm một cách phù hợp và
có tính khả thi.
2. Nhiệm vụ chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong
những năm tới là: Tiếp tục tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, củng cố mở
rộng tổ chức và hoạt động, đồng thời đổi mới và nâng cao chất lượng mọi hoạt
động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; tích cực, chủ động, sáng tạo, tập hợp
ngày càng rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân, phát huy tinh thần yêu nước, ý chí
tự lực tự cường và quyền làm chủ của nhân dân, giữ vững kỷ cương và ổn định
xã hội, huy động tối đa các nguồn lực để đầu tư phát triển kinh tế -xã hội,
thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đẩy mạnh công cuộc xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, làm tốt vai trò là cơ sở chính trị của chính quyền
nhân dân, cầu nối vững chắc giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước.
VI. MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM QUA NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG.
1. Các tổ chức Mặt trận tiền thân của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam:
·
Ngày
18/11/1930 Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị về thành lập Hội Phản đế
đồng minh – hình thức đầu tiên của Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam. Hội
Phản đế đồng minh đã tuyên truyền vận động dân chúng dấy lên cao trào phản
đế mạnh mẽ trong cả nước, với đỉnh cao là phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh.
·
Trong những năm 1936-1939 Mặt trận dân chủ Đông Dương và Mặt trận dân tộc
thống nhất phản đế Đông Dương đã tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân
chống đế quốc và bè lũ tay sai, đẩy mạnh phong trào đấu tranh cho dân sinh,
dân chủ, dân quyền.
·
Ngày
19/5/1941 Mặt trận Việt Minh ra đời đã giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc,
thu hút mọi giới đồng bào yêu nước, tạo thành cao trào đánh Pháp - đuổi Nhật
và là một nhân tố quyết định đưa cách mạng tháng Tám thành công, lập nên nhà
nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.
·
Ngày
29/5/1946 Mặt trận Liên Việt đã mở rộng hơn nữa khối đại đoàn kết toàn dân
tộc. Liên Việt đã cùng với Việt minh huy động sức mạnh của nhân dân làm chỗ
dựa vững chắc cho chính quyền cách mạng còn non trẻ và đối phó có hiệu quả
với thù trong, giặc ngoài, để vượt qua thử thách trước tình thế cách mạng và
vận mệnh dân tộc như ngàn cân treo sợi tóc.
·
Ngày
3/3/1951 Mặt trận Việt minh và Mặt trận Liên Việt hợp nhất thành Mặt trận
Liên Việt đã động viên sức mạnh toàn dân, toàn quân tập trung sức người, sức
của đẩy mạnh cuộc kháng chiến với tinh thần “Tất cả cho tiền tuyến” làm nên
chiến thắng Điện Biên Phủ, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân
dân ta đến thắng lợi.
·
Thời
kỳ 1955-1975, cả nước làm hai nhiệm vụ chiến lược, ba tổ chức Mặt trận – Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam (10/9/1955), Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt
Nam (20/12/1960), Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hoà bình Việt
Nam (20/4/1968) – cùng nhau phối hợp chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động,
tập hợp và phát huy đến mức cao nhất sức mạnh đoàn kết dân tộc, đoàn kết
quốc tế, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ đến toàn thắng, giải phóng hoàn toàn
miền Nam, thống nhất đất nước.
* Chủ tịch Hồ Chí Minh kính mến đã từng là: Hội trưởng danh
dự Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Liên Việt 5/1946); Chủ tịch
danh dự Mặt trận Liên Việt (3.1951); Chủ tịch danh dự Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam (10/9/1955).
* Cụ Huỳnh Thúc Kháng là
Hội trưởng Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Liên Việt
5/1946).
* Cụ Tôn Đức Thắng là Chủ tịch Mặt trận Liên Việt (3.1951);
Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (10/9/1955); Chủ tịch danh dự Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam (4/1977).
* Luật sư Nguyễn Hữu Thọ là Chủ tịch
Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12/1960).
* Luật sư Trịnh Đình Thảo là Chủ tịch
Liên minh các lực lượng
dân tộc dân chủ và hoà bình Việt Nam (20/4/1968).
2. Sau ngày đất nước thống
nhất (năm 1975), để phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
trong thời kỳ cách mạng mới, các tổ chức Mặt trận của 2 miền đất nước thống
nhất thành Mặt trận Tổ quốc Viêt Nam. Kể từ đó đến nay, Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam đã qua 6 kỳ đại hội:
1. Đại hội lần thứ I
(1977):
Đại hội họp từ ngày 31
tháng 01 đến 04 tháng 02 năm 1977 tại Hội trường Thống nhất, thành phố Hồ
Chí Minh, hợp nhất 3 tổ chức Mặt trận: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận
Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Liên minh các lực lượng dân tộc, dân
chủ và hoà bình Việt Nam, lấy tên là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Đại hội đã hiệp thương,
giới thiệu 191 vị tham gia Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Đoàn
Chủ tịch gồm 45 vị, Ban thư ký gồm 7 vị.
Chủ tịch danh dự: Cụ Tôn
Đức Thắng
Chủ tịch : Cụ Hoàng Quốc
Việt
2. Đại hội lần thứ II
(1983):
Đại hội họp từ ngày 12
tháng 5 đến ngày 14 tháng 5 năm 1983 tại Hội trường Ba Đình, thủ đô Hà Nội.
Chương trình hành động của Đại hội là hướng mọi hoạt động của Mặt trận đi
vào thiết thực, hướng về cơ sở, tới địa bàn dân cư.
Đại hội cử ra Uỷ ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khoá II gồm 184 vị, Đoàn Chủ tịch gồm 45 vị,
Ban thư ký gồm 8 vị.
Chủ tịch danh dự: Cụ Hoàng
Quốc Việt
Chủ tịch: Kiến trúc sư
Huỳnh Tấn Phát
Tổng thư ký: Ông Nguyễn
Văn Tiến
3. Đại hội lần thứ III
(1988):
Đại hội họp từ ngày 02
tháng 11đến ngày 04 tháng 11 năm 1988 tại Hội trường Ba Đình, thủ đô Hà Nội.
Đây là Đại hội biểu dương lực lượng to lớn của toàn dân đoàn kết một lòng
tiến hành công cuộc đổi mới.
Đại hội đã cử ra Uỷ ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khoá III gồm 166 vị, Đoàn Chủ tịch gồm
30 vị, Ban Thư ký gồm 6 vị.
Chủ tịch danh dự: Cụ Hoàng
Quốc Việt
Chủ tịch : Luật sư Nguyễn
Hữu Thọ
Phó Chủ tịch : Luật sư
Phan Anh
Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư
ký: Ông Phạm Văn Kiết
4. Đại hội lần thứ IV
(1994):
Đại hội họp từ ngày 17
tháng 8 đến ngày 19 tháng 8 năm 1994 tại Hội trường Ba Đình, thủ đô Hà Nội.
Tham dự Đại hội có hơn 600 đại biểu đại diện cho các giai cấp và tầng lớp
nhân dân, các dân tộc, các tôn giáo, các thành phần kinh tế ở trong nước và
đồng bào Việt Nam sống ở nước ngoài. Đại hội đã long trọng công bố chương
trình 12 điểm "Đại đoàn kết dân tộc xây dựng và bảo vệ đất nước". Đó là
chương trình thể hiện ý nguyện của toàn Đảng, toàn dân quyết tâm chiến thắng
nghèo nàn, lạc hậu, tiến lên dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh,
thực hiện Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Đại hội đã cử ra Uỷ ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khoá IV gồm: 206 vị. Trong đó Đoàn Chủ
tịch gồm 40 vị, Ban Thường trực Đoàn Chủ tịch gồm 7 vị.
Chủ tịch danh dự: Ông
Nguyễn Hữu Thọ
Chủ tịch : Ông Lê Quang
Đạo
Tổng Thư ký: Ông Trần Văn
Đăng
5. Đại hội lần thứ V
(1999):
Đại hội họp từ ngày 26
tháng 8 đến ngày 28 tháng 8 năm 1999 tại Hội trường Ba Đình, thủ đô Hà Nội.
Tham dự Đại hội có 621 đại biểu đại diện cho các tổ chức thành viên, các địa
phương, các dân tộc, tôn giáo, thành phần kinh tế, người Việt Nam định cư
tại nước ngoài và các đoàn đại biểu nước ngoài gồm: Mặt trận xây dựng đất
nước Lào, Hội nghị hiệp thương chính trị nhân dân Trungquốc, Uỷ ban bảo vệ
Cách mạng Cu ba, Mặt trận đoàn kết xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Cam-Pu-Chia,
Hiệp hội đoàn kết và phát triển liên bang Mianma.
Đại hội Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam lần thứ 5 là cột mốc quan trọng đánh dấu việc thực hiện chính sách
đại đoàn kết toàn dân tộc và tăng cường Mặt trận Dân tộc thống nhất trong
thời kỳ phát triển mới của đất nước, là Đại hội "Phát huy tinh thần yêu
nước, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường Mặt trận Dân tộc
thống nhất, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa".
Đại hội đã cử ra Uỷ ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khoá V gồm 253 vị, Đoàn Chủ tịch gồm 45
vị. Ban Thường trực gồm 9 vị.
Chủ tich: Ông Phạm Thế
Duyệt
Tổng Thư ký: Ông Trần Văn
Đăng
6. Đại hội lần thứ VI
(2004):
Đại hội họp từ ngày 21
tháng 9 đến ngày 23 tháng 9 năm 2004 tại Hội trường Ba Đình, thủ đô Hà Nội.
Tham dự Đại hội có 878 đại biểu, gồm các Uỷ viên Uỷ ban Trung ương khoá 5,
đại diện các tổ chức thành viên, các địa phương, các dân tộc, tôn giáo,
thành phần kinh tế, người Việt Nam định cư tại nước ngoài và các đoàn đại
biểu nước ngoài gồm: Mặt trận Lào xây dựng và bảo vệ đất nước, Hội nghị Hiệp
thương chính trị nhân dân Trung quốc, Uỷ ban bảo vệ Cách mạng Cu Ba, Mặt
trận Đoàn kết xây dựng và Bảo vệ tổ quốc Cam-Pu-Chia.
Đại hội Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam lần thứ VI là đại hội đầu tiên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong
thế kỷ mới, thiên niên kỷ mới, là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước
ta, đánh dấu một thời kỳ phát triển quan trọng của dân tộc ta: thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, là Đại hội "Phát huy sức mạnh
Đại đoàn kết toàn dân tộc nâng cao vai trò Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đẩy
mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước, vì mục tiêu dân giàu
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Đại hội đã cử ra Uỷ ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khoá VI gồm 320 vị, Đoàn Chủ tịch gồm
52 vị. Ban Thường trực gồm 8 vị
Chủ tịch: Ông Phạm Thế
Duyệt
Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư
ký: Ông Huỳnh Đảm
Các vị Phó Chủ tịch: Ông
Lê Truyền; Ông Đỗ Duy Thường; Ông Cư Hoà Vần; Bà Hoàng Xuân Sính; Hoà thượng
Thích Trí Tịnh; Linh mục Huỳnh Tấn Khoá; Ông Phạm Lợi; Ông Trần Thành Long.
* Hội nghị lần thứ 5 Uỷ
ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khoá VI họp tại Hà Nội từ ngày 07
tháng 01 đến ngày 09 tháng 01 năm 2008 đã hiệp thương cử các chức danh Chủ
tịch và Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký mới như sau:
Chủ tịch: Ông Huỳnh Đảm
thay ông Phạm Thế Duyệt nghỉ hưu theo chế độ.
Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư
ký: Ông Vũ Trọng Kim thay ông Huỳnh Đảm đảm nhiệm chức vụ Chủ tịch.
VII. NHỮNG KẾT QUẢ CỦA VIỆC THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM LẦN THỨ VI:
1. Tiếp tục củng cố, tăng cường
và phát huy sức mạnh khối đại đoàn
kết toàn dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: Ủy ban Mặt trận các cấp và
các tổ chức thành viên không ngừng đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, phối hợp
với các tổ chức trong hệ thống chính trị thực hiện có kết quả chủ trương,
đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về đại đoàn kết toàn
dân tộc; đa dạng
hoá các hình thức vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân vì mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
2. Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, nâng cao chất
lượng các cuộc vận động lớn của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Uỷ ban MTTQ các
cấp phối hợp với các tổ chức thành viên tiếp tục đẩy mạnh các phong trào thi
đua yêu nước trên các lĩnh vực: phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo, làm
giàu hợp pháp; nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài;
xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng nền quốc
phòng toàn dân, bảo vệ an ninh Tổ quốc… góp phần hoàn thành thắng lợi nhiệm
vụ kinh tế, xã hội ở các cấp. Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động "Toàn dân
đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư " và cuộc vận động "Ngày vì
người nghèo"; làm tốt các công tác "Đền ơn đáp nghĩa", " uống nước nhớ nguồn",
phát huy tình tương thân, tương ái trong các tầng lớp nhân dân..
3. Phát huy quyền làm chủ
của nhân dân, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền các cấp vững mạnh bằng
việc chủ động tham gia xây dựng cơ chế, chính sách, pháp luật liên quan đến
quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp nhân dân. Phối hợp
với các tổ chức thành viên và cơ quan dân cử giám sát việc thực thi pháp
luật của các cơ quan Nhà nước, về phòng chống tham nhũng, thực hành tiết
kiệm, chống lãng phí và cải cách hành chính. Tổ chức tốt việc thực hiện thí
điểm "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát cán bộ cán bộ công chức, đảng viên
ở khu dân cư"; nâng cao chất lượng thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; triển
khai Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở cơ sở xã, phường, thị trấn; tăng cường
hoạt động của Ban thanh tra nhân dân.
Công tác tham gia xây dựng
luật và các văn bản pháp quy ngày càng có hiệu quả.
Đẩy mạnh công tác tuyên
truyền, phổ biến pháp luật góp phần nâng cao hiểu biết, chấp hành pháp luật
trong các tầng lớp nhân dân, trong hội viên, đoàn viên.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
các cấp đã tích cực, chủ động tham gia công tác bầu cử đại biểu Hội đồng
nhân dân các cấp và bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII góp phần đảm bảo các
cuộc bầu cử diễn ra đúng luật, an toàn, tiết kiệm, thực sự là ngày hội xây
dưụng chính quyền của cử tri và nhân dân cả nước.
4.
Đẩy mạnh hoạt
động đối ngoại nhân dân:
Uỷ ban TW MTTQ Việt Nam, Uỷ
ban MTTQ các tỉnh, thành phố và các tổ chức thành viên tiếp tục mở rộng và
đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại nhân dân với nhiều hình thức phong phú
để tăng cường, củng cố
và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước có quan hệ truyền
thống, các nước láng giềng, các tổ chức tương ứng; mở rộng quan hệ với các
nước, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức quốc tế, góp phần thực hiện
đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, tăng cường tình đoàn
kết hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước;
tạo thêm nguồn lực để góp phần phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm
nghèo.
Các tỉnh có
đường biên giới, Uỷ ban MTTQ và các tổ chức thành viên phối hợp với các
ngành có liên quan tiếp tục vận động nhân dân tham gia xây dựng biên giới
hoà bình, hữu nghị và hợp tác.
5.
Tăng cường tổ
chức, đổi mới phương thức hoạt động của MTTQ, hướng mạnh về cơ sở, khu dân
cư.
Uỷ ban MTTQ và các tổ chức
thành viên tiếp tục kiện toàn tổ chức, tăng cường tập huấn, bồi dưỡng cán
bộ, phối hợp với các cấp chính quyền từng bước tháo gỡ khó khăn về điều kiện
hoạt động.
Ban công tác Mặt trận ở khu
dân cư tiếp tục được củng cố, kiện toàn, nhiều nơi hoạt động
ngày càng hiệu quả;
vị trí, vai trò ngày càng được phát huy, làm nòng cốt trong việc vận động
nhân dân thực hiện các phong trào, các cuộc vận động ở địa bàn dân cư.
Mối quan hệ phối hợp công tác giữa Đoàn Chủ tịch Uỷ ban TW MTTQ Việt Nam với
Chủ tịch Nước, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ; giữa Ban Thường trực
UBTW MTTQ Việt Nam với các tổ chức thành viên, các bộ, ngành ở TW; giữa Uỷ
ban MTTQ các cấp với HĐND, UBND, các ngành chức năng và các tổ chức thành
viên ở địa phương ngày càng thường xuyên, chặt chẽ và đạt kết quả.
Uỷ ban Trung
ương MTTQ Việt Nam và Uỷ ban MTTQ nhiều tỉnh, thành phố tiếp tục quan tâm
kiện toàn và nâng cao chất lượng hoạt động của các Hội đồng tư vấn, đội ngũ
cộng tác viên và phát huy vai trò của các cá nhân tiêu biểu trên một số lĩnh
vực, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Uỷ ban MTTQ ở mỗi cấp.
VIII. NỘI DUNG, THỜI GIAN ĐẠI HỘI MẶT TRẬN
CÁC CẤP TIẾN TỚI ĐẠI HỘI MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM LẦN THỨ VII:
1. Ý nghĩa, mục đích và yêu cầu của Đại hội
Mặt trận các cấp:
Quá trình tiến hành Đại
hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng
trong toàn Đảng, toàn dân;
Là quá trình nâng cao
nhận thức, hành động cách mạng của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp
nhân dân trong việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của
đất nước, đường lối chiến lược của Đảng về chính sách đại đoàn kết toàn dân
tộc và vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam như Nghị quyết Đại hội lần thứ
X của Đảng và các nghị quyết của Trung ương đã đề ra;
Tiếp tục củng cố, tăng cường và xây dựng Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam xứng đáng là tổ chức liên
minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính
trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các cá nhân
tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo
và người Việt Nam định cư ở nước ngoài; là một bộ phận quan trọng của
hệ thống chính trị; là cơ sở chính trị vững chắc của chính quyền nhân dân.
Việc tổ chức Đại hội
phải được chuẩn bị chu đáo, phát huy dân chủ, trang trọng, thiết thực, hiệu
quả và tiết kiệm.
2. Đại hội Mặt trận các cấp và Đại hội lần
thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sẽ tiến hành những nội dung, công việc sau
đây:
- Với chủ đề của Đại
hội: Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tăng cường khối
đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước và hội nhập kinh tế thế giới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, Đại hội Mặt trận các cấp sẽ
tiến hành đánh giá kết quả hoạt động nhiệm kỳ qua, xây dựng chương trình
thống nhất hành động cho nhiệm kỳ mới và tham gia góp ý kiến vào các văn
kiện dự thảo của Đại hội Mặt trận cấp trên với các nội dung sau:
Đánh giá đúng tình hình khối đại đoàn kết
toàn dân tộc ở cấp mình, nêu rõ những mặt làm được, chưa làm được, nguyên
nhân và bài học kinh nghiệm; biểu dương những nhân tố mới, những cách làm
hay và phát hiện kịp thời những xu hướng,
những vấn đề mới đặt ra cần phải giải quyết
trong nhiệm kỳ mới.
Bám sát vào nhiệm vụ chính trị của từng cấp
theo Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng và các Nghị quyết của Trung ương
để xây dựng Chương trình hành động của nhiệm kỳ mới với các mục tiêu, nhiệm
vụ cụ thể; có nội dung phong phú, thiết thực; có giải pháp đúng và gắn liền
với đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đồng thời,
thể hiện rõ vai trò của Mặt trận trong việc thực hiện đa dạng hoá các hình
thức tập hợp và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đẩy mạnh
các cuộc vận động xã hội, các phong trào thi đua yêu nước rộng khắp và có
hiệu quả; đẩy mạnh phát huy dân chủ bằng việc thực hiện tốt quy chế dân chủ
ở các cấp; nắm bắt và phản ánh kịp thời tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị đúng
đắn của các tầng lớp nhân dân; chăm lo bảo vệ quyền lợi chính đáng và hợp
pháp của các tầng lớp nhân dân; tham gia xây dựng hệ thống chính trị vững
mạnh; hướng mạnh về cơ sở, khu dân cư; coi
trọng đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động để Mặt trận các cấp thực hiện
tốt chức năng, nhiệm vụ, vai trò, vị trí của mình trong thời kỳ nước ta thực
hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập với nền kinh tế thế
giới.
Đại hội Mặt trận các cấp sẽ đóng góp ý kiến
vào các văn kiện dự thảo của Đại hội Mặt trận cấp trên và kiến nghị sửa đổi,
bổ sung Điều lệ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để Đại hội lần thứ VII của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam xem xét quyết định việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam cho phù hợp với yêu cầu của tình hình, nhiệm vụ mới
đặt ra.
- Hiệp thương cử ra Uỷ
ban Mặt trận và cơ quan lãnh đạo của Mặt trận Tổ quốc cấp mình:
Việc chuẩn bị nhân sự của Uỷ ban Mặt
trận các cấp phải căn cứ vào tiêu chuẩn cán bộ và cơ cấu, thành phần theo
quy định của Điều lệ Mặt trận; coi trọng tính tiêu biểu, tính đại diện và
tính thiết thực; mở rộng thành phần là những cá nhân tiêu biểu, đại diện đầy
đủ các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam ở
nước ngoài, đồng thời có đủ điều kiện hoàn thành nhiệm vụ của Uỷ viên Uỷ ban
Mặt trận cấp mình trong tình hình mới; tăng số uỷ viên Uỷ ban Mặt trận là
người ngoài Đảng hơn khoá trước (phấn đấu ở Trung ương là trên 50%, ở các
cấp địa phương là trên 30%). Trên cơ sở đó, số lượng ủy viên Ủy ban Mặt trận
các cấp ở địa phương như sau:
+ Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã,
phường, thị trấn: Từ 30 đến 45 vị, nơi có điều kiện có thể nhiều hơn.
+ Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp quận,
huyện: Từ 45 đến 65 vị, nơi có điều kiện có thể nhiều hơn.
+ Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh,
thành phố: Từ 65 đến 90 vị (riêng đối với thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí
Minh, các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa: 120 vị trở lên.
Kiện toàn tổ chức, bộ máy cơ quan Mặt trận
các cấp theo hướng tinh gọn, đội ngũ cán bộ chuyên trách đủ về số lượng, có
chất lượng và có cơ cấu phù hợp, đồng thời, coi trọng việc mở rộng và tạo
điều kiện để phát huy đội ngũ cán bộ hưu trí, cán bộ không chuyên trách, lực
lượng cộng tác viên thông qua hoạt động của các tổ chức tư vấn. Các cấp uỷ
đảng cử đồng chí Uỷ viên Thường vụ cấp uỷ làm bí thư Đảng đoàn (ở cấp tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương) và giới thiệu để Đại hội bầu vào Uỷ ban Mặt
trận và Uỷ ban Mặt trận bầu giữ chức Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam cùng cấp.
- Hiệp thương cử
đoàn đại biểu đi dự Đại hội Mặt trận cấp trên trực tiếp.
3. Thời gian tiến hành Đại hội Mặt trận các
cấp:
- Đại hội Mặt trận cấp xã, phường, thị trấn:
Quý II và quý III năm 2008.
- Đại hội Mặt trận cấp huyện, quận: Quý IV
năm 2008 và quý I năm 2009.
- Đại hội Mặt trận cấp tỉnh, thành phố trực
thuộc TW: Quý I và quý II năm 2009.
- Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
lần thứ VII : Quý III năm 2009.
IX. HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ NƯỚC TA VÀ CÁC TẦNG
LỚP NHÂN DÂN HƯỚNG VỀ ĐẠI HỘI MẶT TRẬN CÁC CẤP NHƯ THẾ NÀO?:
1.
Tổ chức đợt sinh hoạt chính trị trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân với
những nội dung như sau:
- Quán triệt và đánh giá kết quả việc thực hiện các chủ trương, đường lối
của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng và phát huy sức
mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc hiện nay ở cấp mình.
-
Khẳng định vị trí, vai trò, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ
thống chính trị nước ta từ khi mới thành lập đến nay, đặc biệt là giai đoạn
thực hiện công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội
nhập kinh tế thế giới.
Nêu bật những yêu cầu và nội dung đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng,
phương thức phối hợp của Nhà nước đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo tinh thần nghị
quyết Đại hội X và nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 (khóa X) của Đảng. Trên cơ
sở đó, cấp ủy đảng, chính quyền và Mặt trận các cấp xem xét lại những việc
đã làm được, những tồn tại, hạn chế cần khắc phục để tiếp tục thực hiện tốt
các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối
với sự nghiệp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nâng cao vị trí, vai
trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
- Kiểm điểm kết quả thực hiện vai trò, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam các cấp trong việc vận động, tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn
dân gắn với thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức
Hồ Chí Minh” tại địa phương, đơn vị, đặc biệt là tư tưởng đại đoàn kết của
Người, về vai trò của
Mặt trận tham
gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền nhân dân ngày càng vững mạnh.
- Đẩy mạnh cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở
khu dân cư và cuộc vận động Ngày vì người nghèo. Phát động các
phong trào thi đua yêu nước, xây dựng các công trình về kinh tế, xã hội,
giữ vững an ninh quốc phòng, trật tự và an toàn xã hội, xây dựng và củng cố
khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên địa bàn dân cư và ở các địa phương, đơn
vị để thiết thực kỷ niệm 60 năm ngày Bác Hồ ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc
(11/6/1948 - 11/6/2008) và lập thành tích chào mừng Đại hội Mặt trận của
từng cấp tiến tới Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
- Đóng góp trí tuệ, tham gia xây dựng dự thảo báo cáo chính trị và cơ cấu
nhân sự Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa mới của Đại hội Mặt trận cấp
mình, dự thảo văn kiện Đại hội Mặt trận cấp trên và Điều lệ Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam sửa đổi (nêu có).
Đợt
sinh hoạt chính trị được triển khai thực hiện đồng bộ từ Trung ương đến địa
bàn dân cư, gắn với kế hoạch tiếp tục thực hiện cuộc vận động “Học tập và
làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và được tổng kết vào dịp kỷ niệm 79
năm ngày thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam (18/11/1930 -
18/11/2009).
2. Đẩy mạnh
công tác tuyên truyền đại hội Mặt trận các cấp:
* Chủ đề tuyên
truyền:
Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tăng cường
khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế thế giới vì mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
-
Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tham mưu cấp uỷ và
phối hợp với Ban Tuyên giáo cấp ủy, các tổ chức thành viên của Mặt trận cùng
cấp và các cơ quan thông tấn, báo chí ở Trung ương và địa phương thường
xuyên tổ chức các hình thức tuyên truyền phù hợp để kịp thời phản ánh các
nội dung và phương thức sinh hoạt chính trị sinh động, các phong trào thi
đua có hiệu quả ở cơ sở, cơ quan, đơn vị, từng khu dân cư; các sự kiện
trước, trong và sau Đại hội Mặt trận các cấp tiến tới Đại hội Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam lần thứ VII;
Phối hợp chặt
chẽ với Đài Phát thanh, Đài Truyền hình, Báo của tỉnh, thành phố mở các
chuyên mục tuyên truyền từ khi tiến hành Đại hội Mặt trận cấp xã tới Đại hội
Mặt trận cấp huyện, cấp tỉnh và Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ
VII; vận động các cơ quan báo chí tích cực tham gia: Giải báo chí Vì sự
nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc
Phát huy lực lượng tuyên truyền viên, báo cáo viên trong việc tổ chức các
hình thức tuyên truyền miệng như các buổi nói chuyện chuyên đề, sinh hoạt
câu lạc bộ, báo cáo trong hội nghị của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các
cấp và các tổ chức thành viên, các buổi sinh hoạt của nhân dân ở khu dân
cư...
Tùy điều kiện cụ thể của từng tổ chức, địa phương, đơn vị, có thể tổ chức
các cuộc thi tìm hiểu và kết quả thực hiện các chủ trương, đường lối của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với nhiệm vụ xây dựng khối đại
đoàn kết toàn dân tộc và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, về các kỳ đại hội của
Mặt trận địa phương và Đại hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Coi
trọng cả công tác tuyên truyền trong nước và tuyên truyền đối ngoại, đấu
tranh với những luận điệu xuyên tạc về dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn
giáo, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc của các thế lực thù địch.
3. Phát động phong trào thi đua yêu nước kỷ
niệm 60 năm ngày Bác Hồ ra lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948 -
11/6/2008) và lập thành tích chào mừng Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các
cấp:
- Trên cơ sở 6 nội dung của cuộc vận động
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” để phát động
các phong trào thi đua thực hiện có hiệu quả, đạt nhiều thắng lợi cụ thể
trên từng lĩnh vực, nội dung, được thể hiện qua mỗi công trình, mỗi việc làm
của các chương trình mục tiêu quốc gia đang triển khai thực hiện ở mỗi địa
bàn dân cư, mỗi địa phương, mỗi cơ quan, đơn vị, cụ thể:
Xây dựng các công trình chào mừng Đại hội Mặt trận các cấp: Lựa chọn các
công trình kinh tế, xã hội thiết thực, phù hợp với khả năng thực hiện ở địa
bàn dân cư như: Xây nhà tình nghĩa cho gia đình chính sách, nhà đại đoàn kết
cho hộ nghèo; xử lý các vụ việc cụ thể đem lại quyền và lợi ích hợp pháp,
phù hợp với nguyện vọng chính đáng của nhân dân trên địa bàn; phấn đấu xây
dựng khu dân cư tiên tiến, làng văn hóa, khu phố văn hóa, cơ quan, đơn vị
văn hóa...
- Đẩy mạnh việc nâng cao chất lượng thực hiện
cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, trong đó tập trung vào các nội dung:
Vận động xây dựng Qũy vì người nghèo, xây
dựng nhà Đại đoàn kết cho người nghèo, giúp đỡ hộ nghèo thoát nghèo bền
vững;
Phối hợp với các cấp các ngành chức năng đẩy
mạnh chương trình làm nhà ở cho hộ nghèo và vận động các doanh nghiệp thực
hiện thư kêu gọi của Thủ tướng Chính phủ về việc giúp đỡ xây dựng nhà đại
đoàn kết cho hộ nghèo. Mỗi địa bàn dân cư, mỗi cấp thi đua phấn đấu sớm xóa
xong nhà dột nát cho hộ nghèo để cùng với cả nước hoàn thành cơ bản xoá nhà
dột nát cho hộ nghèo vào năm 2009.
- Thi đua thực hiện có hiệu qủa Pháp lệnh
dân chủ ở cơ sở gắn liền với việc phòng chống tham nhũng, lãng phí và thực
hành tiết kiệm; giám sát có hiệu quả cán bộ, đảng viên ở khu dân cư. Mỗi địa
bàn dân cư, mỗi địa phương có cách làm hay, sáng tạo để vừa lắng nghe được ý
kiến, tâm tư, nguyện vọng chính đáng của người dân trong việc thực hiện các
chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật, đồng thời bênh vực
được quyền lợi chính đáng, hợp pháp của người dân khi bị vi phạm.
BAN TUYÊN HUẤN
ỦY BAN
TRUNG ƯƠNG MTTQ VIỆT NAM
Về đầu trang
PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM, TĂNG CƯỜNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN
KẾT TOÀN DÂN TỘC XÂY DỰNG QUÊ HƯƠNG ... (XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN)VĂN MINH,
GIÀU ĐẸP
(Đề
cương báo cáo tại Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã, phường, thị trấn)
---------------
* Mở đầu: Nêu khái quát bối cảnh, tình hình kinh tế, xã hội và điều
kiện xây dựng khối đoàn kết toàn dân của địa phương trong quá trình thực
hiện Nghị quyết của Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN) cấp mình ở
nhiệm kỳ trước.
PHẦN THỨ NHẤT
TÌNH
HÌNH KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH
THỐNG NHẤT HÀNH ĐỘNG CỦA MTTQ VIỆT NAM
XÃ (PHƯỜNG, THỊ TRẤN)... TRONG NHIỆM KỲ QUA
I. TÌNH HÌNH CÁC TẦNG LỚP
NHÂN DÂN VÀ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC.
1. Đánh giá mặt
tích cực của tình hình các tầng lớp nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân
ở địa phương: Những chuyển biến về số lượng, chất lượng, các mối quan hệ
giữa các giai cấp, tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với cấp uỷ đảng, chính
quyền, Mặt trận và các đoàn thể..., trong đó tập trung vào các lực lượng:
- Công nhân; nông dân; trí thức; thanh thiếu nhi;
phụ nữ; cựu chiến binh; người cao tuổi; đồng bào các dân tộc thiểu số;
đồng bào là tín đồ các tôn giáo; đồng bào ở địa phương đang sinh sống và
làm việc ở các tỉnh trong nước và nước ngoài...
- Khẳng định sự vui mừng,
phấn khởi của nhân dân trước những kết quả đạt được của quá trình thực
hiện các nhiệm vụ kinh tế, xã hội, giữ vững an ninh, quốc phòng ... từ
những chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước
và công tác vận động, tập hợp xây dựng khối đoàn kết toàn dân của Mặt trận
và các tổ chức thành viên.
- Đại hội nhiệt
liệt biểu dương các giai cấp, các tầng lớp nhân dân ở địa phương trong năm
năm qua đã chung sức, chung lòng xây dựng khối đoàn kết thống nhất trong
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ đảng, vượt qua mọi
khó khăn, thử thách thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế, xã hội, an
ninh quốc phòng của địa phương, góp phần vào thắng lợi chung của cả nước.
2. Nêu lên những
băn khoăn, lo lắng của các tầng lớp nhân dân trước nhiệm vụ phát triển của
địa phương và của đất nước:
- Vấn đề tăng trưởng kinh
tế chưa đi đôi với yêu cầu phát triển xã hội ...
- Sự thiếu đồng đều về
chất lượng cuộc sống, trình độ dân trí, mức hưởng thụ các thành quả của
kinh tế, xã hội trong các tầng lớp nhân dân ở các địa bàn dân cư.
- Những yếu kém trong việc
thực hiện dân chủ ở cơ sở để bảo đảm quyền làm chủ của người dân.
- Những vấn để khác của
địa phương ...
II. ĐÁNH
GIÁ KẾT QUẢ VIỆC THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH THỐNG NHẤT HÀNH ĐỘNG:
1. Tập
hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, vận động nhân dân tham gia
các phong trào thi đua yêu nước thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, xã hội của
địa phương:
Nêu các kết quả cụ thể của việc thu hút các tầng lớp nhân dân hưởng ứng và
tham gia các cuộc vận động, các phong trào ở cơ sở, đặc biệt là tham gia
hai cuộc vận động lớn do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát
động:
1.1 Cuộc vận động "Toàn
dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư": Nêu kết quả cụ
thể về phương thức triển khai và kết quả thực hiện 6 nội dung của Cuộc vận
động. Ở từng nội dung cần nêu rõ các phong trào của quần chúng nhân dân đã
thực hiện được; những mô hình, điển hình, cá nhân, tập thể nổi bật ở địa
phương.
1.2 Cuộc vận
động "Ngày vì người nghèo": Đánh giá sự hưởng ứng của các tầng lớp
nhân dân và kết quả đạt được trên các mặt: Xây dựng, quản lý và sử dụng
Quỹ vì người nghèo; xây nhà tình thương, nhà đại đoàn kết; các hoạt động
khác của Quỹ theo quy định của quy chế...; những đóng góp của Cuộc vận
động đối với chủ trương xoá đói, giảm nghèo ở địa phương; những mô hình,
điển hình thực hiện Cuộc vận động...
1.3 Nêu các
phong trào, các cuộc vận động của các tổ chức thành viên đã triển khai
thực hiện để huy động đoàn viên, hội viên, các tầng lớp nhân dân thực hiện
2 cuộc vận động của Mặt trận.
1.4 Đánh giá
về hiệu quả đóng góp của các phong trào, các cuộc vận động triển khai theo
6 nội dung của cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn
hóa ở khu dân cư và của các tổ chức thành viên vào việc phát triển
kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng ở địa phương trong năm năm qua: (lấy
kết quả về kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng của địa phương để minh hoạ).
1.5.
Nêu kết quả của việc tập hợp, đoàn kết đồng bào tín đồ các tôn giáo, đồng
bào dân tộc thiểu số ở các địa bàn dân cư.
2. Phát huy quyền làm
chủ của nhân dân, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và hệ thống
chính trị ở địa phương:
- Kết quả về tuyên truyền
các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước;
tổ chức cho các tầng lớp nhân dân tham gia ý kiến đóng góp về sự lãnh đạo
của cấp uỷ đảng, sự quản lý, điều hành của chính quyền; giám sát về đạo
đức, tác phong, năng lực làm việc của cán bộ, đảng viên... góp phần xây
dựng tổ chức Đảng trong sạch, chính quyền vững mạnh, tạo ra sự gắn bó mật
thiết giữa Đảng, chính quyền và nhân dân.
- Kết qủa
việc tham gia các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân
dân các cấp; công
tác tiếp xúc cử tri, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo
của công dân; động viên nhân dân thực hiện luật Phòng chống tham nhũng,
thực hành tiết kiệm, chống lãng phí ...
- Kết qủa hoạt động của
ban Thanh tra nhân dân, ban Giám sát đầu tư cộng đồng ....
3. Củng
cố tổ chức, đổi mới phương thức hoạt động của Uỷ ban Mặt trận và của các
Ban Công tác Mặt trận:
- Về tổ chức
và hoạt động Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Viêt Nam xã (phường, thị trấn) theo
Điều lệ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (khoá VI) và theo Nghị quyết, chương
trình thống nhất hành động của Đại hội Mặt trận cấp mình nhiệm kỳ qua.
-
Về tổ chức và hoạt động của Ban công tác Mặt trận khu dân cư.
III. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT
KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT, CHƯƠNG TRÌNH THỐNG NHẤT HÀNH ĐỘNG CỦA NHIỆM
KỲ QUA VÀ NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
1. Về ưu
điểm: (Nêu những kết quả nổi bật)
2. Tuy nhiên, với tinh
thần thẳng thắn, dân chủ, cầu tiến bộ, Đại hội nghiêm túc nhìn nhận những
tồn tại, hạn chế trong tổ chức và hoạt động của Mặt trận ở địa phương
trong nhiệm kỳ qua cần phải khắc phục: (tuỳ vào tình hình cụ thể ở địa
phương để nêu cho rõ, đúng với thực thực tiễn).
3.
Nguyên nhân của những thành công và hạn chế:
3.1. Nguyên nhân về thành công:
Công tác
Mặt trận không ngừng được tăng cuờng sự lãnh đạo của cấp uỷ đảng;
ngày càng được sự quan tâm phối hợp, tạo điều kiện của chính quyền; sự
phối hợp hành động của các tổ chức thành viên và sự hưởng ứng tich cực của
các tầng lớp nhân dân.
Ủy
ban MTTQVN xã (phường, thị trấn) và ban Công tác Mặt trận các khu dân cư
đã có nhiều nỗ lực phấn đấu, khắc phục mọi khó khăn trong việc đổi mới
phương thức tập hợp, nội dung hoạt động để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới.
Tình hình kinh tế, xã hội ở địa phương ngày càng ổn định và phát triển, an
ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ngày càng giữ vững đem lại lòng tin
vững chắc trong các tầng lớp nhân dân. Khối đoàn kết toàn dân, đoàn kết
trong các lực lượng vũ trang, trong cán bộ, viên chức, người lao động,
đoàn kết giữa các đồng bào dân tộc ngày càng bền vững tạo nên những thuận
lợi cơ bản cho công tác vận động, tập hợp của Mặt trận.
3.2. Nguyên nhân của những yếu kém trong công tác
Mặt trận nhiệm kỳ qua
như sau:
Nhận thức về
vai trò, vị trí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong nhiệm vụ xây dựng khối
đại đoàn kết toàn dân theo quan điểm, đường lối của Đảng có lúc, có nơi
chưa được sâu sắc dẫn đến việc thực hiện cơ chế Ðảng lãnh đạo,
Nhà nước
quản lý, nhân dân làm chủ thông qua Mặt trận chưa được nhịp nhàng.
Việc thực hiện
cơ chế phối hợp, thống nhất hành động giữa các tổ chức thành viên trong
UBMTTQVN các cấp cũng như giữa chính quyền với Mặt trận có lúc, có nơi
chưa được chặt chẽ, kịp thời. Đặc biệt, do chưa có những quy định cụ thể,
thống nhất từ Trung ương và các cấp về chế độ chính sách, bảo đảm điều
kiện, phương tiện làm việc của Mặt trận ở cơ sở và địa bàn dân cư mà phần
lớn phải thực hiện sự vận dụng của địa phương nên trong thực hiện chưa
được đồng bộ và thiếu hợp lý.
Về
phía chủ quan, cán bộ Mặt trận còn nhiều hạn chế về năng lực tổ chức, thực
hiện nhiệm vụ, chưa được đầu tư đúng mức nên trong thực hiện nhiệm vụ còn
nhiều lúng túng. Sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra của Mặt trận cấp trên
chưa được kịp thời, sâu sát; phương thức hoạt động của Mặt trận cơ sở chậm
được đổi mới, còn chung chung, chưa có tính kế hoạch cụ thể....
4.
Những bài học kinh nghiệm:
*
Bài học thứ nhất:
Sự quán triệt sâu sắc các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và tư
tưởng Hồ Chí Minh về vai trò, vị trí của Mặt trận Tổ quốc trong khối đại
đoàn kết toàn dân, đồng thời tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy
Đảng mang
tính quyết định hiệu quả của công tác mặt trận ở thời kỳ cách mạng mới.
Cấp uỷ Đảng lãnh đạo công tác Mặt trận ngoài việc chỉ đạo, tổ chức thực
hiện có hiệu quả các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng về công tác
mặt trận ở địa phương còn cần cử cán bộ có đầy đủ các tiêu chuẩn, ngang
tầm với vị trí của Mặt trận để phụ trách. Đồng thời cấp uỷ Đảng là trung
tâm điều hoà các mối quan hệ phối hợp giữa Thường trực HĐND, UBND, Ban
Thường trực UBMTTQVN cùng cấp.
*
Bài học thứ hai:
Việc thực hiện tốt qui chế phối hợp giữa Thường trực HĐND, Lãnh đạo UBND
với Ban Thường trực Uỷ ban MTTQVN xã (phường, thị trấn) là những điều kiện
quan trọng để Mặt trận hoàn thành chức năng, nhiệm vụ theo luật định.
Trong cơ chế thị trường hiện nay, các phong trào, các cuộc vận động của
Mặt trận ngoài việc tập trung tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện
còn phải có sự phối hợp quản lý, cung cấp phương tiện, điều kiện thực hiện
của chính quyền. Thực tiễn cho thấy rằng khi nào có sự phối hợp đầy trách
nhiệm giữa chính quyền với Mặt trận thì hiệu quả công tác của Mặt trận mới
được phát huy đúng mức.
*
Bài học thứ ba:
Bản thân Mặt trận phải không ngừng nâng cao tính chủ động, sáng tạo trong
hoạt động, biết bám sát chương trình, kế hoạch kinh tế, xã hội của địa
phương cũng như hướng dẫn của Mặt trận cấp trên để triển khai công việc.
Công tác mặt trận trước yêu cầu của nhiệm vụ mới cần khắc phục cung cách
làm việc chung chung, đại khái mà phải đi vào những vấn đề, lĩnh vực cụ
thể liên quan trực tiếp đến quyền lợi chính đáng của mỗi người dân.
*
Bài học thứ tư:
Đội ngũ làm công tác Mặt trận, bao gồm các cán bộ chuyên trách, lực lượng
cộng tác viên, cán bộ tư vấn là nhân tố quan trọng quyết định kết quả của
công tác Mặt trận. Do đó, việc đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch cán bộ chuyên
trách của Mặt trận xã (phường, thị trấn), chăm lo đội ngũ cán bộ Ban Công
tác Mặt trận ở khu dân cư cũng như đầu tư xây dựng lực lượng cộng tác
viên, tư vấn cho công tác mặt trận có ý nghĩa chiến lược của công tác
Mặt
trận. Đồng thời cán bộ Mặt trận xã và khu dân cư phải tự mình
trao
dồi đạo đức cách mạng, nhiệt
tình và tâm huyết với nhiệm vụ, thường xuyên thực hiện việc tự bồi dưỡng,
nâng cao kiến thức, nghiệp vụ công tác
Mặt
trận mới đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.
PHẦN THỨ HAI
PHƯƠNG HƯỚNG NHIỆM VỤ, CHƯƠNG TRÌNH THỐNG NHẤT HÀNH ĐỘNG
CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ (PHƯỜNG, THỊ TRẤN) ...
NHIỆM KỲ ... (2008 - 2013)
* Nêu khái quát
bối cảnh, tình hình của địa phương trong nhiệm kỳ mới của Đại hội, trong đó
nêu một số chỉ tiêu cơ bản về kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và xây
dựng hệ thống chính trị của xã (phường, thị trấn) trong nhiệm kỳ tới để làm
cơ sở xác định mục tiêu, nhiệm vụ của Chương trình hành động.
I. MỤC TIÊU,
NHIỆM VỤ, CHỈ TIÊU PHẤN ĐẤU:
*
Mục
tiêu, nhiệm vụ:
Tiếp tục phát
huy mạnh mẽ vai trò của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức
thành viên, tăng cường củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân trong
xã (phường, thị trấn); đổi mới hơn nữa phương thức tập hợp, nội dung hoạt
động, hướng mạnh về các khu dân cư để triển khai cuộc vận động "Toàn dân
đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư" và cuộc vận động " Ngày vì
người nghèo". Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, huy động sức mạnh
khối đại đoàn kết toàn dân để hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ kinh tế, xã
hội, an ninh quốc phòng, tăng cường hoạt động giám sát và phản biện xã hội
để xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống chính trị vững mạnh, đi đôi với
phát huy tốt hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân.
* Các chỉ tiêu cụ
thể thực hiện công tác Mặt trận của xã (phường, thị trấn) trong nhiệm kỳ
mới: (Tùy theo điều kiện cụ thể của từng địa phương để xác dịnh các chỉ tiêu
phấn đấu, sau đây là một số gợi ý):
- 100 % khu dân cư
triển khai thực hiện đầy đủ 6 nội dung của cuộc vận động "
Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư ";
- Hằng năm có 100
% khu dân cư tổ chức "Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc" ;
100% gia đình đạt danh hiệu Gia đình văn hóa không vi phạm các quy định của
hương ước, quy ước; trên …. % khu dân cư đạt tiên tiến;
- 100 % khu dân cư
triển khai cuộc vận động "Ngày vì người nghèo" từng hộ gia đình;
- Trên 90 % Ban
Công tác Mặt trận hoạt động khá trở lên; không còn Ban Công tác Mặt trận yếu
kém;
- ……
II.
CHƯƠNG TRÌNH THỐNG NHẤT HÀNH ĐỘNG:
1. Đa dạng hóa
các hình thức tập hợp, vận động nhân dân để tạo ra sự đồng thuận xã hội trên
cơ sở quán triệt sâu sắc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nước, thắt chặt mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa các tầng lớp nhân dân
với hệ thống chính trị:
Đẩy mạnh tuyên
truyền, quán triệt tư tưởng, quan điểm đại đoàn kết toàn dân tộc của Chủ
tịch Hồ Chí Minh và của
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X,
Nghị quyết Hội
nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ VII "Về phát huy sức mạnh đại đoàn kết
toàn dân tộc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh"; "Về công tác Dân tộc"; "Về công tác tôn giáo" đến mọi cán bộ,
đảng viên và các tầng lớp nhân dân. UB MTTQVN các cấp phối hợp chặt chẽ với
các tổ chức thành viên và các cơ quan chức năng của cấp uỷ Đảng, chính quyền
thực hiện có kế hoạch việc tuyên truyền, vận động cán bộ và nhân dân học
tập, nghiên cứu, thực hành tư tưởng, quan điểm, đường lối đại đoàn kết toàn
dân tộc của chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam trên từng
lĩnh vực công tác và hoạt động của xã hội.
Lấy mục tiêu Đại
đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc làm kim chỉ nam cho
mọi hoạt động của Mặt trận. Mỗi tổ chức thành viên thông qua các phương thức
tập hợp và nội dung hoạt động làm cho các tầng lớp nhân dân hiểu rõ tình
hình, nhiệm vụ cụ thể về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trên từng địa phương,
đơn vị, địa bàn dân cư để có sự thống nhất hành động. Tạo ra sự đồng bộ
trong nhận thức về đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước; sự điều hành, quản lý của các cấp chính quyền và sự thực hiện tự
giác của người dân, trên cơ sở đó, nâng cao hơn nữa sự gắn bó máu thịt giữa
nhân dân với cấp uỷ Đảng, chính quyền, Mặt trận và các tổ chức trong hệ
thống chính trị, tạo ra sự đồng thuận thực sự trong xã hội vì sự phát triển
của quê hương.
2.
Tiếp tục đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước thực hiện thắng lợi các
nhiệm vụ kinh tế, xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng:
Đẩy mạnh các
phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động; nâng cao chất lượng hai cuộc
vận động do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động là cuộc
vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư"
và cuộc vận động "Ngày vì người nghèo" nhằm thực hiện thắng lợi các
nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của
địa phương nhằm xoá đói, giảm nghèo, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá
vì "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Trên cơ sở
đó, cần đưa ra những công việc cụ thể của Mặt trận và các tổ chức thành viên
theo từng nhiệm vụ: Trên lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, các hoạt động kinh
tế (công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp, du lịch, dịch vụ,văn
hóa, y tế, giáo dục, thể dục thể thao,dân số, bảo vệ môi trường, an toàn
giao thông, trật tự xã hội …).
3. Phát huy
quyền làm chủ của nhân dân, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống
chính trị trong sạch, vững mạnh đồng bộ:
Tổ chức, động viên
nhân dân có những việc làm thiết thực để xây dựng Nhà nước của dân, do dân,
vì dân trong sạch vững mạnh; tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng để Đảng thực
sự xứng đáng với niềm tin yêu của nhân dân (thực hiện tốt vai trò giám sát
và phản biện xã hội; tuyên truyền phổ biến pháp luật; xây dựng cho dân ý
thức "Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật"; tập hợp ý kiến, kiến
nghị của nhân dân về mọi mặt để phản ảnh cho Đảng, chính quyền địa phương;
tổ chức tốt hơn các hình thức giám sát cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử về
việc thực hiện chính sách, pháp luật, giám sát cán bộ, viên chức và đảng
viên ở khu dân cư về việc làm, đạo đức, lối sống v.v...).
4.
Tăng cường công tác quan tâm vận
động đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào là tín đồ các tôn giáo, đồng bào
của địa phương đang làm việc các nơi trong nước và ở nước ngoài cùng với
hoạt động đối ngoại nhân dân.
5. Củng cố tổ
chức, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Ủy ban Mặt trận xã
(phường, thị trấn) và Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư:
* Mỗi nội dung của
Chương trình hành động cần đề ra các giải pháp cụ thể và khả thi để đạt được
các nục tiêu, chỉ tiêu đã đề ra ở trên.
**************
Trên đây là đề
cương mang tính gợi ý. Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp
huyện, tỉnh hướng dẫn Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam các xã (phường, thị trấn) căn cứ vào tình hình
thực tế ở địa phương mình
để xây dựng Báo cáo của Đại hội.
Về đầu trang
BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT
NAM
-----------¯------------
~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~
Số: 18-CT/TW Hà
Nội, ngày 22 tháng 11 năm 2007
CHỈ THỊ
CỦA BAN BÍ
THƯ
Về việc
lãnh đạo Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và Đại hội đại biểu
toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII
Đại hội đại
biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII sẽ tổ chức vào cuối quý
III năm 2009. Đây là sự kiện chính trị quan trọng diễn ra trong bối cảnh
nước ta đanh tiếp tục thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng, công
cuộc đổi mới ngày càng toàn diện, đi vào chiều sâu hội nhập kinh tế quốc tế
ngày càng rộng mở, với nhiều thời cơ và thách thức mới. Trong bối cảnh đó,
yêu cầu phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc có ý nghĩa rất quan
trọng, là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết
định bảo đảm thắng lợi vững chắc của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Quá trình tiến
hành Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tiến tới Đại hội đại biểu
toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII là đợt sinh hoạt chính trị
sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, là quá trình nâng cao nhận thức, hành
động cách mạng của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân trong việc
thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của đất nước, đường lối
chiến lược của Đảng về chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc và vai trò của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam như Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng và các
nghị quyết của Trung ương, nhất là Nghị quyết Trung ương 5 (khoá X) đã đề ra.
Để tiếp tục
củng cố, tăng cường và xây dựng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xứng đáng là tổ
chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ
chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các
cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các
tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài; là bộ phận quan trọng của
hệ thống chính trị, là cơ sở chính trị vững chắc của chính quyền nhân dân,
Ban Bí thư yêu cầu các cấp uỷ và tổ chức đảng tập trung chỉ đạo Đại hội Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam lần thứ VII, cụ thể cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ sau:
1- Chỉ đạo Uỷ
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp chuẩn bị và tiến hành đại hội đạt chất
lượng và hiệu quả cao nhất.
- Về báo cáo
tổng kết nhiệm kỳ: Cần đánh giá đúng tình hình khối đại đoàn kết toàn dân
tộc, nêu rõ những mặt làm được, chưa làm được, nguyên nhân và bài học kinh
nghiệm; chú ý biểu dương những nhân tố mới, những cách làm hay và phát hiện
kịp thời những vấn đề mới đặt ra cần phải giải quyết trong nhiệm kỳ mới.
- Chương trình
hành động của nhiệm kỳ mới cần bám sát tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ
X của Đảng và các nghị quyết của Trung ương, nêu rõ mục tiêu, nhiệm vụ cụ
thể, giải pháp đúng đắn, gắn liền với đổi mới phương thức hoạt động của Mặt
trận ở từng cấp. Chương trình hành động phải thể hiện rõ vai trò của Mặt
trận trong việc thực hiện đa dạng hoá các hình thức tập hợp và phát huy sức
mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước
rộng khắp và có hiệu quả; thực hiện tốt quy chế dân chủ ở các cấp; nắm bắt
và phản ánh kịp thời tâm tư nguyện vọng, kiến nghị đúng đắn, chăm lo, bảo vệ
lợi ích chính đáng và hợp pháp của các tầng lớp nhân dân; tham gia xây dựng
hệ thống chính trị; hướng mạnh về cơ sở, khu dân cư. Coi trọng đổi mới tổ
chức và phương thức hoạt động để Mặt trận các cấp thực hiện tốt chức năng,
nhiệm vụ, vai trò, vị trí của mình trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, hội nhập kinh tế quốc tế.
- Đại hội Mặt
trận các cấp cần kiến nghị sửa đổi, bổ sung Điều lệ của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam; để Đại hội toàn quốc xem xét, quyết định việc sửa đổi, bổ sung cho
phù hợp với yêu cầu, tình hình, nhiệm vụ mới.
- Việc chuẩn
bị nhân sự Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp phải căn cứ vào tiêu
chuẩn cán bộ và cơ cấu thành phần theo quy định của Điều lệ Mặt trận, coi
trọng tính tiêu biểu, tính đại diện và tính thiết thực; mở rộng thành phần
là những cá nhân tiêu biểu, đại diện cho các giai cấp, các tầng lớp, các dân
tộc, các tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài; có đủ điều kiện hoàn thành
nhiệm vụ của Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp mình; tăng số uỷ
viên là người ngoài Đảng hơn khoá trước (phấn đấu ở Trung ương là trên 50%,
ở các cấp đia phương là trên 30%) để Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các
cấp thực sự là liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện rộng lớn nhất, là
hình ảnh tiêu biểu nhất cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở mỗi cấp và trên
phạm vi toàn quốc.
- Kiện toàn tổ
chức, bộ máy cơ quan Mặt trận các cấp theo hướng tinh gọn, đội ngũ cán bộ
chuyên trách đủ về số lượng, có chất lượng và cơ cấu phù hợp. Đồng thời coi
trọng việc mở rộng và tạo điều kiện để phát huy đội ngũ cán bộ không chuyên
trách, lực lượng cộng tác viên, thông qua hoạt động của các tổ chức tư vấn.
Các cấp uỷ
Đảng phân công đồng chí uỷ viên thường vụ cấp uỷ làm Bí thư Đảng đoàn Mặt
trận và giới thiệu để đại hội bầu giữ chức Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam cùng cấp.
2- Coi trọng
công tác tuyên truyền trong nước và tuyên truyền đối ngoại về chính sách đại
đoàn kết toàn dân tộc, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, chính sách
đối với kiều bào; về tổ chức, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong
hệ thống chính trị ở nước ta; đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc về dân
chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc
của các thế lực thù địch.
3- Đảng đoàn
Quốc hội chủ trì, phối hợp với Ban cán sự Đảng Chính phủ và Đảng đoàn Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam chỉ đạo các cơ quan chức năng hoàn thiện luật pháp và
các văn bản pháp quy của Nhà nước về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho phù hợp với Nghị
quyết Đại hội lần thứ X của Đảng.
4- Các cấp uỷ
đảng chỉ đạo việc rà soát, điều chỉnh, bổ sung những quy định về chế độ,
chính sách để phát huy vai trò, trách nhiệm, nâng cao năng lực hoạt động của
cán bộ Mặt trận các cấp; chỉ đạo các cấp chính quyền, các đoàn thể phối hợp
và tạo mọi điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tổ chức tốt đại
hội.
5- Đảng đoàn
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì, phối hợp với Ban Dân vận Trung ương, Ban
Tổ chức Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng,
Ban cán sự Đảng Chính phủ giúp Ban Bí thư theo dõi và tổ chức thực hiện Chỉ
thị này; định kỳ báo cáo Ban Bí thư.
Chỉ thị này
phổ biến đến chi bộ Đảngq
T/M BAN BÍ THƯ
TRƯƠNG TẤN
SANG
Về đầu trang
UỶ BAN TRUNG
ƯƠNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT
NAM Độc
lập
– Tự
do – Hạnh
phúc
*** -----------------------------------
BAN THƯỜNG TRỰC
Hà Nội,
ngày 6 tháng 12 năm
2007
Số:
149/TB-MTTW-BTT
THÔNG
BÁO
Ý kiến chỉ
đạo Đại hội MTTQ Việt Nam các cấp tiến tới Đại hội VII MTTQ Việt
Nam
của Ban Bí thư Trung ương Đảng
Ngày 07 tháng
11 năm 2007, Ban Bí thư đã nghe Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam báo cáo
việc chuẩn bị tổ chức Đại hội Mặt trận các cấp tiến tới Đại hội lần thứ VII
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo nhiệm kỳ 2009 - 2014.
Đồng chí Nông
Đức Mạnh, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng chủ trì buổi họp.
Sau khi nghe
đại diện Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam báo cáo về việc tổ chức Đại hội
Mặt trận các cấp và Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII, Ban Bí
thư đã cho ý kiến chỉ đạo:
1. Ban Bí thư
nhất trí việc Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã chủ động chuẩn bị việc
tổ chức Đại hội Mặt trận các cấp và tổ chức Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam vào quý III năm 2009. Để chuẩn bị chu đáo cho Đại hội lần thứ
VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cần tập trung chỉ đạo tốt việc tổ chức Đại
hội Mặt trận các cấp như dự kiến:
- Đại hội Mặt
trận cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn) từ quý II đến quý III năm 2008;
- Đại hội Mặt
trận cấp huyện (huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) từ quý IV năm 2008 đến
quý I năm 2009;
- Đại hội Mặt
trận cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) từ quý I đến quý II
năm 2009;
2. Để tạo ra
sự đồng bộ trong việc chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng đối với Đại hội Mặt trận
các cấp và Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Bí thư đã ban
hành chỉ thị với những nội dung chính như sau:
- Quá trình tổ
chức Đại hội Mặt trận các cấp và Đại hội VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần
tổng kết, đánh giá đúng tình hình khối đại đoàn kết toàn dân, nêu rõ những
mặt làm được, chưa làm được, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm; chú ý biểu
dương những nhân tố mới, những cách làm hay và phát hiện kịp thời những xu
hướng, những vấn đề mới đặt ra cần phải giải quyết trong nhiệm kỳ mới. Đánh
giá kết quả thực hiện vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam đã được xác định tại Đại hội lần thứ X của Đảng, tập trung vào
những nhiệm vụ: Tập hợp, vận động, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân;
đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân; đưa các chủ trương,
chính sách của Đảng, Nhà nước, các chương trình kinh tế, văn hoá, xã hội,
quốc phòng an ninh vào cuộc sống, góp phần xây dựng sự đồng thuận trong xã
hội...
- Chương trình
hành động của nhiệm kỳ mới cần bám sát vào nhiệm vụ chính trị của từng cấp
theo Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng và các Nghị quyết của Trung ương
để thống nhất mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể; có nội dung phong phú, thiết thực;
có giải pháp đúng; nhấn mạnh việc đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận
theo tinh thần hiệu quả, thiết thực, hướng mạnh về cơ sở, khắc phục bệnh
hành chính, phô trương, hình thức để Mặt trận các cấp thực hiện tốt vai trò,
vị trí, chức năng, nhiệm vụ của mình trong thời kỳ nước ta thực hiện sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập với nền kinh tế thế giới.
Theo đó, Đại
hội Mặt trận các cấp cần kiến nghị sửa đổi, bổ sung Điều lệ Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, để Đại hội toàn quốc xem xét quyết định việc sửa đổi bổ sung Điều
lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho phù hợp với yêu cầu của tình hình, nhiệm vụ
mới đặt ra.
- Việc chuẩn
bị nhân sự của Uỷ ban Mặt trận các cấp phải căn cứ vào tiêu chuẩn cán bộ và
cơ cấu, thành phần theo quy định của Điều lệ Mặt trận; coi trọng tính tiêu
biểu, tính đại diện và tính thiết thực; mở rộng thành phần là những cá nhân
tiêu biểu, đại diện đầy đủ các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn
giáo, người Việt Nam ở nước ngoài, đồng thời có đủ điều kiện hoàn thành
nhiệm vụ của Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận cấp mình trong tình hình và nhiệm vụ
mới; tăng số uỷ viên Uỷ ban Mặt trận là người ngoài Đảng hơn khoá trước (phấn
đấu ở Trung ương là trên 50%, ở các cấp địa phương là trên 30%) để Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc các cấp thực sự là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp
tự nguyện rộng lớn nhất là hình ảnh tiêu biểu cho khối đại đoàn kết toàn dân
tộc ở mỗi cấp và toàn quốc.
Kiện toàn tổ
chức, bộ máy cơ quan Mặt trận các cấp theo hướng tinh gọn, đội ngũ cán bộ
chuyên trách đủ về số lượng, có chất lượng và có cơ cấu phù hợp, đồng thời,
coi trọng việc mở rộng và tạo điều kiện để phát huy đội ngũ cán bộ hưu trí,
cán bộ không chuyên trách, lực lượng cộng tác viên thông qua tổ chức và hoạt
động của các tổ chức tư vấn.
Các cấp uỷ
Đảng cử đồng chí Uỷ viên Thường vụ cấp uỷ làm Bí thư Đảng đoàn và giới thiệu
để Đại hội bầu giữ chức Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp.
- Coi trọng
công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức và trách nhiệm của toàn xã hội về
chính sách đại đoàn kết, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, chính sách
kiều bào; về tổ chức, hoạt động thực tiễn của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
trong hệ thống chính trị ở nước ta; đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc
về dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, phá hoại khối đại đoàn kết toàn
dân tộc của các thế lực thù địch.
- Ban Bí thư
cũng yêu cầu các cấp uỷ Đảng và đảng đoàn các cấp phối hợp chỉ đạo hoàn
thiện các văn bản pháp quy của Nhà nước về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; sửa
đổi, bổ sung một số điều cần thiết của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho
phù hợp với Nghị quyết Đại hội X của Đảng trong thời kỳ mới: Rà soát đề nghị
bổ sung những quy định về chế độ, chính sách còn chưa hợp lý để phát huy vai
trò, trách nhiệm, nâng cao năng lực hoạt động của cán bộ Mặt trận các cấp;
phối hợp và tạo mọi điều kiện để Mặt trận Tổ quốc các cấp tổ chức tốt Đại
hội.
3. Trên cơ sở
Chỉ thị của Ban Bí thư, Ban Thường trực sẽ chuẩn bị kế hoạch báo cáo Đoàn
Chủ tịch và Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có Nghị quyết để tổ
chức Đại hội Mặt trận các cấp có kết quả.
Ban Thường
trực Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xin thông báo nhanh những nội dung theo chỉ
thị của Ban Bí thư để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương chủ động có kế hoạch đại hội để báo cáo cấp uỷ Đảng và
chính quyền chỉ đạo phối hợp tổ chức Đại hội Mặt trận các cấp ở địa phương
có kết quảq
TM. BAN THƯỜNG TRỰC
UỶ BAN TRUNG ƯƠNG
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
Chủ tịch
Phạm Thế Duyệt
Về đầu trang
UỶ BAN TRUNG ƯƠNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT
NAM
Độc
lập
– Tự
do – Hạnh
phúc
Số :
09/NQ-MTTW
----------------------------------
Ngày 9 tháng 01 năm 2008
NGHỊ QUYẾT
Hội nghị lần thứ 5 Uỷ ban TW MTTQ Việt Nam
(khóa VI)
về tổ chức Đại hội MTTQ Việt Nam các cấp
và
Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam
lần thứ VII
*
Thực hiện Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, trên cơ sở Kế hoạch tổ chức Đại hội Mặt trận các cấp tiến tới Đại
hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam do Ban Thường trực trình bày,
Hội nghị lần thứ 5 Uỷ ban Trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam (khóa VI) họp từ ngày 07/01/2008 đến ngày 09/01/2008,
tại
thủ đô Hà Nội, thống nhất quyết nghị:
1. Về tổ chức Đại hội MTTQ Việt Nam các cấp
Giao cho Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam tiếp thu ý kiến của Hội nghị để hoàn chỉnh Kế hoạch tổ
chức Đại hội Mặt trận các cấp và hướng dẫn triển khai thực hiện.
2.
Về tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ VII
- Triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII vào quý III năm 2009.
- Căn cứ vào Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
Đại hội sẽ:
+ Tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết và Chương
trình hành động do
Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VI đề ra, xây
dựng Nghị quyết và Chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa
VII (nhiệm kỳ 2009 - 2014).
+ Bổ sung, sửa đổi Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam khóa VI.
+
Hiệp thương cử Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa VII.
3. Giao cho Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam:
- Thành lập các tiểu ban chuẩn bị Đại hội đại
biểu toàn quốc Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII.
- Chỉ đạo các tiểu ban chuẩn bị Đại hội sớm
hoàn thành các dự thảo
văn kiện để xin ý kiến của Đại hội Mặt trận các cấp, các tổ chức thành viên
và lấy ý kiến rộng rãi các tầng lớp nhân dân để bổ sung, hoàn chỉnh các báo
cáo trình Hội nghị lần thứ sáu Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (khoá
VI) vào đầu năm 2009.
- Chuẩn bị nhân sự Đại hội đại biểu toàn quốc
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII.
- Chỉ đạo chặt chẽ, đảm bảo đúng tiến độ và chất
lượng Đại hội Mặt trận Tổ quốc các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII.
TM. UỶ
BAN TRUNG ƯƠNG
MẶT TRẬN
TỔ QUỐC VIỆT NAM
CHỦ TỊCH
HUỲNH
ĐẢM
Về đầu trang
CHƯƠNG
TRÌNH PHỐI HỢP VÀ THỐNG NHẤT
HÀNH ĐỘNG CỦA MTTQ VIỆT NAM NĂM 2008
Năm 2008 là năm
"bản lề" thực hiện kế hoạch kinh tế-xã hội 5 năm (2006- 2010), năm kỷ niệm
60 năm ngày Bác Hồ ra lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948-11/6/2008), năm
tổ chức Đại hội MTTQ các cấp từ cơ sở, tiến tới Đại hội lần thứ VII MTTQ
Việt Nam vào năm 2009, bên cạnh những thuận lợi cơ bản, đất nước ta còn phải
đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức đòi hỏi sự cố gắng, nỗ lực của toàn
xã hội.
Nhiệm vụ cơ bản,
hàng đầu của Uỷ ban MTTQ các cấp và các tổ chức thành viên là không ngừng
đổi mới phương thức hoạt động, phối hợp với các cơ quan, tổ chức trong hệ
thống chính trị mở rộng và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân; đẩy mạnh
các phong trào thi đua yêu nước của nhân dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ
kinh tế-xã hội năm 2008; tham gia xây dựng Đảng, xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, trong sạch, vững mạnh;
tăng cường đoàn kết quốc tế và tổ chức thành công Đại hội MTTQ các cấp...,
với các nhiệm vụ cụ thể sau đây:
1. Chuẩn bị và tổ
chức tốt Đại hội MTTQ các cấp, tiến tới Đại hội VII MTTQ Việt Nam
Trên tinh thần
không ngừng đổi mới phương thức hoạt động, Uỷ ban MTTQ các cấp và các tổ
chức thành viên quán triệt Chỉ thị số 18, ngày 22/11/2007, của Ban Bí thư TW
Đảng về lãnh đạo Đại hội MTTQ Việt Nam các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc
MTTQ Việt Nam lần thứ VII nhằm tạo ra đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong
toàn Đảng, toàn dân, nâng cao nhận thức, hành động cách mạng của cả hệ thống
chính trị và các tầng lớp nhân dân trong việc thực hiện thắng lợi các nhiệm
vụ phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, đường lối chiến lược của Đảng về
chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc và vai trò của MTTQ Việt Nam trong tình
hình mới.
Quá trình chuẩn bị
nội dung Đại hội cần phát huy trí tuệ của Uỷ ban MTTQ và các tổ chức thành
viên, nhằm đánh giá đúng tình hình khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tổng kết
những bài học kinh nghiệm, những điển hình tốt, những nhân tố mới; đề ra mục
tiêu, nhiệm vụ cụ thể; có giải pháp đồng bộ để thực hiện có hiệu quả.
Công tác nhân sự
của Uỷ ban MTTQ cần được thật sự coi trọng, đổi mới nội dung và phương pháp
chuẩn bị; căn cứ vào tiêu chuẩn cán bộ và cơ cấu, thành phần theo quy định
của Điều lệ Mặt trận; coi trọng tính tiêu biểu, tính đại diện và tính thiết
thực; mở rộng thành phần là những cá nhân tiêu biểu, đại diện đầy đủ các
giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam ở nước
ngoài và người ngoài Đảng; đồng thời, có đủ điều kiện hoàn thành nhiệm vụ
của Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận cấp mình trong tình hình mới.
2. Tiếp tục đa
dạng hoá các hình thức tập hợp, xây dựng khối Đại đoàn kết toàn dân tộc
- Tiếp tục đẩy
mạnh tuyên truyền và thực hiện Nghị quyết Đại hội X và các Nghị quyết Trung
ương Đảng khoá X; chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là về Đại đoàn
kết toàn dân tộc trong tình hình mới; đẩy mạnh cuộc vận động "Học tập và làm
theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", các phong trào, các cuộc vận đông… Qua
đó, tập hợp và phát huy sức mạnh khối Đại đoàn kết toàn dân tộc, góp sức
cùng Đảng, Nhà nước tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức trong quá trình
hội nhập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Qua việc phối
hợp thực hiện các chính sách liên quan đến công nhân, nông dân, nhân sĩ, trí
thức, doanh nhân, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài để củng cố
và tăng cường khối Đại đoàn kết toàn dân tộc.
- Tổ chức tốt các
hoạt động kỷ niệm 78 năm ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất và Ngày
hội Đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư (18/11).
3. Tiếp tục đẩy
mạnh phong trào thi đua yêu nước, nâng cao chất lượng các cuộc vận động
- Kỷ niệm 60 năm
ngày Bác Hồ ra lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948-11/6/2008), Uỷ ban
MTTQ các cấp và các tổ chức thành viên có chương trình hành động đẩy mạnh
các phong trào thi đua yêu nước phù hợp với địa phương, tổ chức mình; góp
phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế-xã hội năm 2008, lập thành
tích thiết thực chào mừng Đại hội MTTQ các cấp tiến tới Đại hội VII MTTQ
Việt Nam.
- Đẩy mạnh và nâng
cao chất lượng cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở
khu dân cư"; quan tâm đưa các chương trình, mục tiêu quốc gia, các cuộc vận
động của các tổ chức thành viên, nhất là xây dựng xã hội học tập, bảo vệ môi
trường… vào nội dung cuộc vận động.
- Đẩy mạnh cuộc
vận động “Ngày vì người nghèo”, tập trung làm nhà đại đoàn kết cho người
nghèo; phối hợp với các cơ quan Nhà nước thực hiện tốt Chương trình 134,
chăm lo cho đồng bào các dân tộc thiểu số; phối hợp với các cấp chính quyền
vận động các doanh nghiệp thực hiện thư của Thủ tướng Chính phủ, góp phần
xây dựng nhà đại đoàn kết cho người nghèo. Đồng thời, cần quan tâm phối hợp
chăm lo công ăn việc làm, học hành, khám chữa bệnh cho người nghèo.
- Tiếp tục phối
hợp với các cơ quan Nhà nước, vận động các tầng lớp nhân dân, đẩy mạnh phong
trào đền ơn đáp nghĩa đối với những người có công với nước; giúpđỡ các nạn
nhân chất độc da cam, người tàn tật và trẻ mồ côi.
4. Phát huy quyền
làm chủ của nhân dân, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền
XHCN
- Uỷ ban MTTQ các
cấp, các tổ chức thành viên chủ động tham gia xây dựng cơ chế, chính sách,
pháp luật, nhất là những vấn đề liên quan đến nông dân, công nhân, trí thức
và đông đảo các tầng lớp nhân dân. Khẩn trương chuẩn bị dự thảo Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật MTTQ Việt Nam để trình Quốc hội sớm thông
qua; tiếp tục kiến nghị và giúp Ban Bí thư ban hành Chỉ thị về giám sát và
phản biện xã hội của MTTQ, các đoàn thể và nhân dân theo Nghị quyết Đại hội
X của Đảng và chủ động đề xuất với các cơ quan Nhà nước sớm thể chế hoá để
thực hiện.
- Uỷ ban MTTQ phối
hợp với các tổ chức thành viên và các cơ quan dân cử (Quốc hội, HĐND) có
chương trình cụ thể để giám sát việc thực thi pháp luật của các cơ quan Nhà
nước, nhất là về phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng
phí và cải cách hành chính…; sơ kết việc làm điểm thực hiện Quy chế "Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam giám sát cán bộ, công chức và đảng viên ở khu dân cư";
triển khai Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; tăng cường
giám sát đầu tư cộng động; tiếp tục đẩy mạnh hoạt động của Ban Thanh tra
nhân dân
- Tiếp tục đổi mới
và nâng cao chất lượng các cuộc tiếp xúc cử tri của đại biểu dân cử; tập hợp
ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân để phản ánh tại các kỳ họp Quốc
hội, HĐND các cấp; cùng Quốc hội, HĐND phối hợp giám sát việc giải quyết
kiến nghị đó. Làm tốt công tác tiếp dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo của
công dân; đôn đốc các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết dứt điểm
những vụ khiếu nại, tố cáo tồn đọng, phức tạp ở địa phương; bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân.
5. Đẩy mạnh hoạt
động đối ngoại nhân dân
- Trong bối cảnh
đất nước hội nhập quốc tế sâu rộng, Uỷ ban MTTQ và các tổ chức thành viên
tiếp tục triển khai đề án đối ngoại nhân dân của MTTQ Việt Nam; tăng cường
phối hợp với các cơ quan Nhà nước đẩy mạnh công tác đối ngoại nhân dân, góp
phần thực hiện có hiệu quả chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước.
- Tăng cường đoàn
kết quốc tế, tiếp tục duy trì và phát triển mối quan hệ hữu nghị với các
nước, các tổ chức có quan hệ truyền thống và mở rộng quan hệ với các nước,
các tổ chức khác vì hoà bình, hợp tác, cùng phát triển.
- Tiếp tục triển
khai công tác vận động nhân dân các tỉnh có đường biên giới xây dựng biên
giới hoà bình, hữu nghị với Lào, Trung Quốc, Campuchia. Tạo điều kiện và
phối hợp với Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức thành công Đại lễ Phật đản
Liên hiệp Quốc năm 2008 tại Hà Nội.
6. Tiếp tục củng
cố kiện toàn tổ chức, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động
- Tiếp tục kiện
toàn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chuyên trách của Mặt
trận và các tổ chức thành viên, chú trọng công tác tập huấn, bồi dưỡng
chuyên môn nghiệp vụ; trong quá trình chuẩn bị và tổ chức Đại hội MTTQ Việt
Nam các cấp cần coi trọng việc bố trí cán bộ chủ chốt đúng tầm, đáp ứng với
yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
- Tiếp tục đổi mới
phương thức hoạt động của Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp và các tổ chức thành
viên, nhất là cấp cơ sở và Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư, làm cho phạm
vi, chất lượng, hiệu quả hoạt động của Mặt trận ngày càng được mở rộng và
nâng cao.
- Phát huy vai trò
của các vị Uỷ viên Uỷ ban MTTQ Việt Nam các cấp. Đổi mới phương thức trao
đổi và tăng cường thông tin giữa các vị Uỷ viên Uỷ ban MTTQ Việt Nam, các
Hội đồng tư vấn với Ban Thường trực. Tăng cường và nâng cao hiệu quả hoạt
động của các Hội đồng tư vấn và đội ngũ tư vấn, cộng tác viên của Mặt trận.
- Tiếp tục nâng
cao hiệu quả phối hợp công tác với các cơ quan Nhà nước, thực hiện tốt các
quy chế phối hợp công tác, các văn bản liên tịch đã ký kết nhằm thực hiện
tốt vai trò, chức năng, nhiệm vụ của MTTQ Việt Nam. Đối với Trung ương, Đoàn
Chủ tịch nâng cao chất lượng hiệu quả công tác với Chủ tịch nước, Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội, Chính Phủ để kịp thời giải quyết những vấn đề đặt ra cho
công tác Mặt trận trong tình hình mới.
- Nâng cao chất
lượng thông tin, báo cáo; đổi mới công tác thi đua-khen thưởng trong hệ
thống Mặt trận; đồng thời, đẩy mạnh phối hợp và phát huy vai trò các cơ quan
báo chí trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc.
BAN
THƯỜNG TRỰC
ỦY
BAN TƯMTTQ
VIỆT
NAM
Về đầu trang
UỶ BAN TRUNG ƯƠNG
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
Độc lập - Tự do -
Hạnh phúc
BAN THƯỜNG
TRỰC ------------------------------------------------
Số:
257 /KH/MTTW Hà
Nội, ngày 17 tháng 3 năm 2008
KẾ HOẠCH
Tổ chức đợt
sinh hoạt chính trị và tuyên truyền Đại hội Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam các
cấp tiến tới Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Uỷ ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (khóa VI)
Về tổ chức Đại hội MTTQ Việt Nam các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII;
Thực hiện Chỉ thị số 18/CT-TW, ngày 22/11/2007 của Ban Bí
thư
Về việc lãnh đạo Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và Đại hội VII
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
và
Hướng dẫn số 31, ngày 07/3/2008 của Ban Tuyên
giáo Trung ương về
Triển khai đợt sinh hoạt chính trị và công tác tuyên truyền Đại hội Mặt trận
các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam lần thứ VII;
Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
xây dựng Kế hoạch tổ chức đợt sinh hoạt chính trị và tuyên truyền Đại hội
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tiến tới Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam lần thứ VII như sau:
I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU:
1.
Thông qua đợt sinh hoạt chính trị và công tác tuyên truyền,
góp phần làm cho hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân nhận thức đầy
đủ về nội dung, ý nghĩa và tầm quan trọng của Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam các cấp và Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trên cơ sở các
quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước và trách nhiệm của hệ thống chính trị về xây dựng khối đại đoàn kết
toàn dân tộc và vai trò, vị trí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
để thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Động
viên các tầng lớp nhân dân tham gia tích cực vào các phong trào thi đua yêu
nước, các cuộc vận động của Mặt trận, nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu
kinh tế, xã hội, các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở cơ sở để chào mừng Đại
hội Mặt trận các cấp.
2.
Đợt sinh hoạt chính trị và tuyên truyền về Đại hội Mặt trận
các cấp tiến tới Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ
thống Mặt trận phải được triển khai thực hiện đồng bộ từ Trung ương đến địa
bàn dân cư, gắn với kế hoạch tiếp tục thực hiện cuộc vận động “Học tập và
làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; coi trọng cả công tác tuyên truyền
trong nước và tuyên truyền đối ngoại, đấu tranh với những luận điệu xuyên
tạc về dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, phá hoại khối đại đoàn kết
toàn dân tộc của các thế lực thù địch.
II. NỘI DUNG:
1. Về tổ chức đợt sinh hoạt chính trị:
- Đánh giá kết quả việc thực hiện các chủ trương, đường lối
của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng và phát huy sức
mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc hiện nay.
- Khẳng định vị trí, vai trò, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam trong hệ thống chính trị nước ta từ khi mới thành lập đến nay, đặc
biệt là giai đoạn thực hiện công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước và hội nhập kinh tế thế giới. Nêu bật những yêu cầu và nội
dung đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, phương thức phối hợp của Nhà
nước đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; phương thức hoạt động của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam theo tinh thần nghị quyết Đại hội X và nghị quyết Hội
nghị lần thứ 5 (khóa X) của Đảng. Trên cơ sở đó, Mặt trận các cấp xem xét
lại những việc đã làm được, những tồn tại, hạn chế cần khắc phục để thực
hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước đối với sự nghiệp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nâng cao vị
thế, vai trò Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
- Kiểm điểm kết quả thực hiện vai trò, nhiệm vụ của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam các cấp trong việc vận động, tập hợp, xây dựng khối đại
đoàn kết toàn dân gắn với thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh” tại địa phương, đơn vị, đặc biệt là tư tưởng đại
đoàn kết của Người, về vai trò của
Mặt trận tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền nhân
dân ngày càng vững mạnh.
- Đẩy mạnh cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hoá ở khu dân cư và cuộc vận động Ngày vì người nghèo.
Phát động các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng các công trình về kinh
tế, xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng, trật tự và an toàn xã hội, xây dựng
và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên địa bàn dân cư và ở các địa
phương, đơn vị để thiết thực kỷ niệm 60 năm ngày Bác Hồ ra Lời kêu gọi thi
đua ái quốc và lập thành tích chào mừng Đại hội Mặt trận của từng cấp tiến
tới Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
- Đóng góp ý kiến, tham gia xây dựng dự thảo báo cáo chính
trị và cơ cấu nhân sự Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa mới của Đại hội
Mặt trận cấp mình, dự thảo văn kiện Đại hội Mặt trận cấp trên và Điều lệ Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam sửa đổi (nêu có).
2. Về tuyên truyền đại hội Mặt trận các cấp:
- Chủ đề tuyên truyền: Nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn
sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định đảm bảo thắng
lợi vững chắc của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện thành
công sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, vì mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh.
- Nội dung tuyên truyền:
Những quan điểm, chủ trương của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh
về đại đoàn kết toàn dân tộc và xây dựng Mặt trận Dân tộc thống nhất; lịch
sử, truyền thống và vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; những kết quả về
việc thực hiện Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Nghị định 50/CP của Chính phủ
và các văn bản pháp quy liên quan đến vai trò, vị trí, nhiệm vụ của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam.
Quá trình chuẩn bị và tổ chức Đại hội Mặt trận các cấp: Nêu
bật những kết quả đạt được trong nhiệm kỳ vừa qua, những vấn đề đặt ra để
tiếp tục phát huy vai trò, vị trí của Mặt trận ở địa phương trong nhiệm kỳ
mới; những tập thể, cá nhân tiên tiến, những bài học kinh nghiệm qua phong
trào thi đua yêu nước, các phong trào của Mặt trận trên các lĩnh vực khác
nhau ở địa phương, cơ sở, đặc biệt là 2 cuộc vận động: Toàn dân đoàn kết
xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư và Ngày vì người nghèo,
những kết quả cụ thể về thực hiện xoá nhà dột nát cho người nghèo, phấn đấu
giảm hộ nghèo ở các địa phương.
Về kết quả Mặt trận tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, tham
gia xây dựng chính sách pháp luật, phòng chống tham nhũng, thực hành tiết
kiệm, chống lãng phí; công tác giám sát cán bộ, công chức, đảng viên ở khu
dân cư; phối hợp thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; Mặt trận và các tổ chức
thành viên thực hiện giám sát và phản biện xã hội; công tác đối ngoại nhân
dân, vận động tôn giáo, dân tộc...
III.
TỔ CHỨC THỰC HIỆN:
1.
Ban
Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung
ương thực hiện các công việc như sau:
- Xây dựng văn bản hướng dẫn nội dung và kế hoạch triển khai
việc tổ chức đợt sinh hoạt chính trị và công tác tuyên truyền về Đại hội Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tiến tới Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
lần thứ VII.
- Biên soạn tài liệu phục vụ đợt sinh hoạt chính trị và công
tác tuyên truyền phát hành đến Ban Công tác Mặt trận khu dân cư.
- Tổ chức hội nghị báo cáo viên ở 3 khu vực và tổ chức họp
báo để giới thiệu Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
- Theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra, sơ, tổng kết việc thực hiện
theo nội dung hướng dẫn và kế hoạch thời gian dự kiến.
2.
Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp phối hợp với Ban
Tuyên giáo cấp ủy, các tổ chức thành viên của Mặt trận cùng cấp và các cơ
quan thông tấn, báo chí ở Trung ương và địa phương có kế hoạch cụ thể tổ
chức đợt sinh hoạt chính trị và công tác tuyên truyền các nội dung nêu trên
ở cấp mình; thường xuyên tổ chức các hình thức tuyên truyền phù hợp để kịp
thời phản ánh các nội dung và phương thức sinh hoạt chính trị sinh động, có
hiệu quả ở cơ sở, cơ quan, đơn vị, từng khu dân cư; các sự kiện trước,
trong và sau Đại hội Mặt trận các cấp tiến tới Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam lần thứ VII.
Phối hợp chặt chẽ với Đài Phát thanh, Đài Truyền hình, Báo
của tỉnh, thành phố mở các chuyên mục tuyên truyền từ khi tiến hành Đại hội
Mặt trận cấp xã tới Đại hội Mặt trận cấp huyện, cấp tỉnh và Đại hội Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII.
Phát huy lực lượng tuyên truyền viên, báo cáo viên trong việc
tổ chức các hình thức tuyên truyền miệng như các buổi nói chuyện chuyên đề,
sinh hoạt câu lạc bộ, báo cáo trong hội nghị của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên, các buổi sinh hoạt của nhân dân
ở khu dân cư...
Tùy điều kiện cụ thể của từng tổ chức, địa phương, đơn vị, có
thể tổ chức các cuộc thi tìm hiểu và kết quả thực hiện các chủ trương, đường
lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với nhiệm vụ xây dựng
khối đại đoàn kết toàn dân tộc và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, về các kỳ đại
hội của Mặt trận địa phương và Đại hội của MTTQ Việt Nam.
3.
Đợt sinh hoạt chính trị và công tác tuyên truyền được triển khai sâu rộng
trong hệ thống Mặt trận và các tổ chức thành viên từ Trung ương đến địa bàn
khu dân cư với kế hoạch thời gian như sau:
- Từ Quý II năm 2008 đến hết Quý II năm 2009, ứng với thời
gian tổ chức Đại hội Mặt trận cấp xã, cấp huyện và cấp tỉnh:
Xây dựng kế hoạch và triển khai các hình thức sinh hoạt trong
Ủy ban Mặt trận và các tổ chức thành viên cùng cấp, cùng với sinh hoạt của
tổ chức đảng (từ chi bộ trở lên),
sinh hoạt cơ quan, công đoàn, các đoàn thể, các hội quần chúng và khu dân cư
với các nội dung nêu trên, gắn với quá trình chuẩn bị và tổ chức Đại hội Mặt
trận từ cấp xã đến cấp tỉnh.
Tập trung tuyên truyền các hình thức và nội dung sinh hoạt
chính trị, công việc chuẩn bị và quá trình diễn ra Đại hội Mặt trận các cấp;
phản ánh kết quả cụ thể của Đại hội Mặt trận từ cấp xã đến cấp tỉnh.
Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận các cấp tổ chức sơ kết đợt
sinh họat chính trị và tuyên truyền về Đại hội Mặt trận từ cấp cơ sở đến cấp
tỉnh, rút kinh nghiệm để triển khai đợt sinh hoạt chính trị chào mừng Đại
hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII.
- Từ Quý II năm 2009 đến Quý IV năm 2009: Ứng với thời gian
kết thúc đại hội Mặt trận cấp tỉnh và triển khai Đại hội Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam lần thứ VII:
Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
tổ chức sơ kết đợt sinh hoạt chính trị và công tác tuyên truyền về Đại hội
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp từ cơ sở đến tỉnh, tiếp tục triển khai đợt
sinh hoạt chính trị và tuyên truyền về Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam.
Tiếp tục phát động các phong trào thi đua yêu nước, thực hiện
nhiều công trình chào mừng Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII .
Tổ chức sơ kết 3 năm Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gắn với
chuẩn bị nghị quyết Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khoá VII và kết quả
phấn đấu thực hiện nghị quyết của Đại hội X của Đảng. Kết quả thực hiện
Cuộc vận động trong hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
tổ chức thành viên sẽ là sản phẩm cụ thể góp phần chuẩn bị Đại hội của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên
tổ chức mít - tinh và các hoạt động chào mừng thành công của Đại hội lần thứ
VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tuyên truyền về kết quả của Đại hội Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII.
-
Tổng kết đợt sinh hoạt chính trị và công tác tuyên truyền về Đại hội Mặt
trận các cấp và Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII:
Tổ chức vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất
Việt Nam (18/11/1930 – 18/11/2009).
4. Một số điểm cần lưu ý:
- Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp
tham mưu với cấp ủy và phối hợp với chính quyền cùng cấp thực hiện tốt nội
dung Kế hoạch này.
- Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp
chỉ đạo Ban công tác Mặt trận ở khu dân cư phối hợp, tổ chức vận động nhân
dân làm vệ sinh đường làng, ngõ xóm, ngõ phố, treo cờ Tổ quốc, pa nô, áp
phích, khẩu hiệu chào mừng... trong quá trình diễn ra Đại hội Mặt trận các
cấp.
- Đối với việc xây dựng các công trình chào mừng Đại hội Mặt
trận các cấp: Lựa chọn các công trình kinh tế, xã hội thiết thực, phù hợp
với khả năng thực hiện ở địa bàn dân cư như: Xây nhà tình nghĩa cho gia đình
chính sách, nhà đại đoàn kết cho hộ nghèo; xử lý các vụ việc cụ thể đem lại
quyền và lợi ích hợp pháp, phù hợp với nguyện vọng chính đáng của nhân dân
trên địa bàn; phấn đấu xây dựng khu dân cư tiên tiến, làng văn hóa, khu phố
văn hóa, cơ quan, đơn vị văn hóa... Khi sơ tổng kết cần nêu được việc làm,
công trình cụ thể, mô hình tốt, cách làm hay, không báo cáo chung chung.
- Coi trọng cả công tác tuyên truyền trong nước và tuyên
truyền đối ngoại về chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, chính sách dân tộc,
chính sách tôn giáo, chính sách kiều bào; về tổ chức, hoạt động của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị ở nước ta; đấu tranh với những
luận điệu xuyên tạc về dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, phá hoại khối
đại đoàn kết toàn dân tộc của các thế lực thù địch.
Trên cơ sở
Hướng dẫn số 31,
ngày 07/3/2008 của Ban Tuyên giáo Trung ương và Kế hoạch này, Ban
Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành
viên xây dựng kế hoạch cụ thể và triển khai thực hiện ở cấp mình, báo cáo
kết quả thực hiện theo định kỳ thời gian về Ban Thường trực Uỷ ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (qua Ban Tuyên huấn, số 46 Tràng Thi, Hà Nội;
Điện thoại: 04 8257447; 04 9287401) để kịp thời theo dõi, tổng hợp.
T/M.
BAN THƯỜNG TRỰC
* Nơi nhận:
UỶ BAN TRUNG ƯƠNG MTTQ VIỆT NAM
- CT và PCT
UBTƯMTTQVN (để báo cáo);
UỶ
VIÊN
- BTT UBMTTQ
các tỉnh, thành
phố trực
thuộc TƯ;
- Các tổ chức
thành viên;
- Ban Tuyên
giáo TƯ;
(Đã
ký)
-
Ban Dân vận TƯ;
Lê Bá Trình
- Các Đ/C
trong
Ban TT UBTƯMTTQVN;
-
Các
ban, đơn vị thuộc CQ UBTƯMTTQVN;
- Lưu: V.P,
TH.
Về đầu trang

Về đầu trang
ỦY BAN
TRUNG ƯƠNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc
------------------------
BAN THƯỜNG TRỰC
Hà Nội, ngày 04 tháng 4 năm 2008
Số: 32 /TT - MTTW
THÔNG TRI
Hướng dẫn Đại hội Mặt trận Tổ
quốc cấp huyện, cấp tỉnh
tiến tới Đại hội Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam lần thứ VII
Thực hiện Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa
VI; thực hiện Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 22 tháng 11 năm 2007 của Ban Bí Thư
Trung ương Đảng và Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt
Nam về việc tổ chức Đại hội Mặt trận Tổ quốc các cấp tiến tới Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VII của MTTQ Việt Nam, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương
MTTQ Việt Nam hướng dẫn việc tổ chức Đại hội Mặt trận Tổ quốc cấp huyện, cấp
tỉnh tiến tới Đại hội MTTQ Việt Nam lần thứ VII như sau:
I- MỤC ĐÍCH YÊU CẦU
1. Quá trình chuẩn bị và tổ chức Đại hội Mặt trận
Tổ quốc cấp huyện, cấp tỉnh tiến tới Đại hội lần thứ VII của MTTQ Việt Nam là
tiến hành một đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong Đảng, chính quyền và các
tầng lớp nhân dân nhằm nâng cao nhận thức về khối đại đoàn kết toàn dân tộc,
về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đẩy
mạnh phong trào thi đua yêu nước, lập thành tích chào mừng Đại hội Mặt trận Tổ
quốc các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc của MTTQ Việt Nam lần thứ
VII.
2. Đánh giá kết quả hoạt động trong nhiệm kỳ vừa
qua, xây dựng chương trình phối hợp thống nhất hành động cho nhiệm kỳ tới nhằm
góp phần tích cực thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế- xã hội của Nghị
quyết Đại hội Đảng bộ cấp mình và chương trình phối hợp thống nhất hành động
của Uỷ ban MTTQ các cấp. Đồng thời tham gia góp ý kiến vào các văn kiện dự
thảo của Đại hội cấp trên.
3. Hiệp thương cử ra Uỷ ban Mặt trận và cơ quan
lãnh đạo của Mặt trận Tổ quốc cấp mình; cử đoàn đại biểu đi dự Đại hội Mặt
trận cấp trên trực tiếp.
4. Việc tổ chức Đại hội phải được chuẩn bị chu đáo,
phát huy dân chủ, trang trọng, thiết thực, hiệu quả và tiết kiệm.
II- VỀ CÁC NỘI DUNG CỦA ĐẠI HỘI
1- Về xây dựng nội dung báo cáo
1.1. Đánh giá tổng kết nhiệm kỳ
- Trong nội dung tổng kết nhiệm kỳ, cần đánh giá
về tình hình của các tầng lớp nhân dân ở địa phương, kết quả thực hiện nghị
quyết nhiệm kỳ vừa qua, nêu rõ những mặt làm được, chưa làm được, nguyên nhân
và kinh nghiệm. Trên cơ sở đó đề xuất phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp thiết
thực để thực hiện trong nhiệm kỳ tới. Cụ thể tập trung kiểm điểm, đánh giá
việc thực hiện các nội dung sau:
+ Đánh giá tình hình các tầng lớp nhân dân ở địa
phương.
+ Kết quả việc đa dạng hoá tập hợp các tầng lớp
nhân dân, tăng cường và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
+ Việc tuyên truyền, động viên nhân dân tham gia
các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động thực hiện thắng lợi các
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh chính trị
và trật tự an toàn xã hội trong tình hình mới. Tập trung đánh giá kết quả thực
hiện 6 nội dung của cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá
ở khu dân cư” và kết quả cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”.
+ Kết quả công tác tổ chức và đổi mới phương thức,
nâng cao hiệu quả hoạt động của MTTQ Việt Nam.
- Đánh giá chung: (những ưu điểm, tồn tại, nguyên
nhân và kinh nghiệm)
1.2. Xây dựng chương trình hành động cho nhiệm
kỳ tới.
- Chương trình hành động của nhiệm kỳ mới cần bám
sát vào nhiệm vụ chính trị của cấp uỷ Đảng các địa phương và chương trình hành
động của Mặt trận cấp trên, nêu rõ mục tiêu, nhiệm vụ, biện pháp thực hiện gắn
với đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của MTTQ Việt Nam ở từng cấp theo
các nội dung cơ bản sau:
+ Đa dạng hoá các hình thức tập hợp và phát huy
sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
+ Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, các
cuộc vận động của Mặt trận Tổ quốc trong thời kỳ mới, nhất là nâng cao chất
lượng 2 cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân
cư” và cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”.
+ Tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền
cùng cấp góp phần xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.
+ Mở rộng và tăng cường hoạt động đối ngoại nhân
dân.
+ Kiện toàn tổ chức và
đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống Mặt trận các cấp và các tổ chức
thành viên để Mặt trận thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, vai trò, vị trí của
mình trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập kinh tế quốc tế.
1.3. Kiểm điểm
hoạt động của Uỷ ban Mặt trận nhiệm kỳ qua (hoặc xây dựng thành báo cáo
riêng)
2. Về thảo luận các dự thảo báo cáo.
- Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ cấp triệu tập Đại
hội gợi ý những vấn đề trọng tâm trong báo cáo chính trị của Đại hội cấp mình
để các thành viên và đại biểu Đại hội nghiên cứu thảo luận. Tổ chức thảo luận
trước Đại hội và tại Đại hội cần tách riêng thành 2 phần:
+ Đóng góp ý kiến văn kiện của Đại hội cấp mình.
+ Đóng góp ý kiến văn kiện của Đại hội cấp trên
trực tiếp và sửa đổi, bổ sung Điều lệ MTTQ Việt Nam khoá VI.
- Việc tổ chức thảo luận các dự thảo văn kiện cần
được tiến hành dân chủ, thu hút được sự tham gia của các tổ chức thành viên,
cán bộ Mặt trận đương nhiệm; các đồng chí lão thành cách mạng và các đồng chí
cán bộ Mặt trận trong các thời kỳ; các nhà khoa học và lãnh đạo quản lý...
- Phần thảo luận các dự thảo văn kiện tại Đại hội
cần xác định những vấn đề trọng tâm, trình bày ngắn gọn những vấn đề đặt ra,
nhất là những đề xuất, kiến nghị về nội dung và giải pháp thực hiện.
- Việc thảo luận các văn kiện của Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VII của MTTQ Việt Nam sẽ thực hiện theo hướng dẫn riêng của
Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam.
3. Về việc chuẩn bị nhân sự Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc cấp huyện, cấp tỉnh nhiệm kỳ mới
3.1. Tiêu chuẩn Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
cấp huyện, cấp tỉnh.
- Trung thành với Tổ quốc, tán thành sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh.
- Nhận thức đúng đắn về vai trò, vị trí và nhiệm
vụ của tổ chức MTTQ Việt Nam. Có năng lực, kinh nghiệm tập hợp, đoàn kết nhân
dân và tự nguyện tham gia làm Uỷ viên Uỷ ban MTTQ các cấp.
- Chấp hành Hiến pháp, các chủ trương đường lối
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và Điều lệ MTTQ Việt Nam.
- Có tín nhiệm trong một tổ chức chính trị-xã hội,
tổ chức chính trị-xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội- nghề
nghiệp hoặc một tầng lớp nhân dân mà mình hoạt động, công tác, cư trú...
- Đủ sức khoẻ, có kiến thức và khả năng đóng góp ý
kiến với cấp ủy Đảng, chính quyền và Mặt trận các cấp trong việc xây dựng và
thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
3.2. Cơ cấu thành phần Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
cấp huyện, cấp tỉnh:
Cơ cấu thành phần Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
cấp huyện, cấp tỉnh thực hiện theo quy định tại điều 22 Điều lệ Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và căn cứ vào tiêu chuẩn cán bộ, tình hình thực tế của từng địa
phương, coi trọng tính tiêu biểu, tính đại diện và tính thiết thực. Mở rộng
thành phần là những cá nhân tiêu biểu, đại diện cho các giai cấp, các tầng lớp,
các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài, đồng thời có đủ điều
kiện hoàn thành nhiệm vụ của Uỷ viên Uỷ ban MTTQ Việt Nam. Tăng số Uỷ viên Uỷ
ban Mặt trận là người ngoài Đảng hơn khoá trước (phấn đấu đạt trên 30%)
để Uỷ ban MTTQ cấp huyện, cấp tỉnh thực sự là liên minh chính trị, liên hiệp
tự nguyện rộng lớn nhất, là hình ảnh tiêu biểu nhất cho khối đại đoàn kết toàn
dân tộc ở các địa phương.
3.3. Số lượng Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
cấp huyện, cấp tỉnh.
Thực hiện khoản 2, điều 8 Điều lệ Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam hướng dẫn số lượng
Uỷ viên Uỷ ban MTTQ cấp huyện, cấp tỉnh như sau:
- Đối với Uỷ ban MTTQ cấp huyện: Số lượng Uỷ viên
Uỷ ban Mặt trận từ 45 đến 65 người. Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
cấp huyện có số lượng từ 3 - 7 người, gồm các chức danh Chủ tịch, các Phó Chủ
tịch và các Uỷ viên Thường trực.
- Đối với Uỷ ban MTTQ cấp tỉnh: Số lượng Uỷ viên
Uỷ ban Mặt trận từ 65 đến 90 người. Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ cấp tỉnh có số
lượng 7 đến 11 người gồm các chức danh Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Uỷ
viên Thường trực. (Riêng Thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Thanh Hóa
và tỉnh Nghệ An có thể cơ cấu số lượng Uỷ viên Uỷ ban tối đa 120 người, Uỷ
viên Thường trực tối đa 13 người).
* Lưu ý: - Thực hiện điều 1, chương I và
khoản 1, điều 22, chương IV, Điều lệ MTTQ Việt Nam đề nghị mời tổ chức Đảng và
Quân đội ở các địa phương cử người đứng đầu hoặc đại diện lãnh đạo tham gia Uỷ
ban MTTQ Việt Nam cùng cấp.
- Thực hiện khoản 2, điều 25, chương IV, Điều lệ
MTTQ Việt Nam, Uỷ ban MTTQ từ cấp huyện trở lên có thể cử một số Phó Chủ tịch
không chuyên trách.
3.4. Số lượng Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
cấp xã:
- Thực hiện khoản 1, điều 24, chương IV, Điều lệ
MTTQ Việt Nam, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam hướng dẫn bổ
sung như sau:
+ Căn cứ vào điều kiện cụ thể của một số xã,
phường, Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ cấp tỉnh báo cáo Ban Thường trực Uỷ ban
Trung ương MTTQ Việt Nam và hướng dẫn số lượng Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
cấp xã có thể ít hơn quy định của Thông tri hướng dẫn số 28-/TT-MTTW ngày
14/02/2008 song phải đảm bảo cơ cấu, thành phần Uỷ ban theo quy định của Điều
lệ.
+ Đối với những phường có nhiều Ban Công tác Mặt
trận thì chỉ lựa chọn một số Trưởng Ban Công tác Mặt trận tham gia Uỷ ban MTTQ
cấp phường.
3.5. Quy trình giới thiệu người tham gia Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc cấp huyện, cấp tỉnh.
- Đối với thành phần đại diện của tổ
chức thành viên cùng cấp và Uỷ ban MTTQ cấp dưới trực tiếp:
+ Người đứng đầu các tổ chức thành viên và Chủ
tịch Uỷ ban MTTQ cấp dưới trực tiếp hiện đang là Uỷ viên Uỷ ban MTTQ khóa
đương nhiệm, nếu đến thời điểm Đại hội mà chưa thay đổi thì Ban Thường trực Uỷ
ban MTTQ cấp tổ chức Đại hội lập danh sách dự kiến nhân sự để giới thiệu vào
Uỷ ban MTTQ khóa mới và thông báo cho tổ chức thành viên cùng cấp và Uỷ ban
MTTQ cấp dưới trực tiếp biết.
+ Sau khi nhận được thông báo, nếu đề nghị tiếp
tục hoặc thay thế người khác thì các tổ chức thành viên và Uỷ ban MTTQ cấp
dưới trực tiếp có văn bản gửi đến Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ cấp tổ chức Đại
hội báo cáo và ghi tên vào danh sách chính thức để Đại hội hiệp thương cử vào
Uỷ ban MTTQ khóa mới.
- Đối với cá nhân tiêu biểu ở các lĩnh vực
có liên quan đến hoạt động của MTTQ các cấp:
+ Đối với cá nhân tiêu biểu của khóa đương
nhiệm:
Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ cấp tổ chức Đại hội
cần rà soát lại những vị là cá nhân tiêu biểu và chuyên gia của khóa đương
nhiệm để đề xuất ai tiếp tục, ai không tiếp tục tham gia khóa mới, lý do vì
sao. Sau đó trao đổi với các tổ chức, cơ quan, đơn vị đang quản lý các cá nhân
tiêu biểu và chuyên gia để xin ý kiến. Người được giới thiệu để tiếp tục tham
gia Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc khóa mới phải được tổ chức, cơ quan, đơn vị quản
lý nhân sự đồng ý và bản thân các vị đó tự nguyện tiếp tục tham gia mới lập
danh sách trình Đại hội hiệp thương cử vào Uỷ ban MTTQ khóa mới.
+ Đối với các cá nhân tiêu biểu chưa tham gia
Uỷ ban MTTQ khóa đương nhiệm:
Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ khóa đương nhiệm phát
hiện và giới thiệu nhân sự, đồng thời liên hệ với Ban lãnh đạo các tổ chức
thành viên, các cơ quan, các tổ chức có liên quan đến hoạt động của Mặt trận
và Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp dưới trực tiếp để cùng phát
hiện và giới thiệu nhân sự mới. Tiến hành phối hợp với các cơ quan quản lý cán
bộ của địa phương xem xét và thống nhất danh sách trình ra Đại hội hiệp thương
cử vào Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc khóa mới. Người được giới thiệu để đưa vào danh
sách hiệp thương phải được tổ chức, cơ quan, đơn vị đang trực tiếp quản lý
nhân sự đồng tình và bản thân các vị đó tự nguyện tham gia.
+ Đối với cán bộ chuyên trách tại cơ quan Uỷ
ban MTTQ:
Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ cấp tổ chức Đại hội
phối hợp với cơ quan quản lý cán bộ cùng cấp tổ chức cho cán bộ, công chức cơ
quan Mặt trận tiến hành giới thiệu để lập danh sách nhân sự (kể cả số cán bộ
chuyên trách đang là Uỷ viên và Ban Thường trực khóa đương nhiệm).
Trên cơ sở quy hoạch, đánh giá cán bộ và tham khảo
ý kiến tín nhiệm của cán bộ, công chức cơ quan, tập thể Ban Thường trực Uỷ ban
MTTQ cấp tổ chức Đại hội phối hợp cùng cơ quan quản lý cán bộ trao đổi và
thống nhất về danh sách nhân sự để Đại hội hiệp thương cử vào Uỷ ban MTTQ cấp
mình nhiệm kỳ mới.
3.6. Quy trình hiệp thương cử các chức danh
lãnh đạo của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp huyện, cấp tỉnh.
Thực hiện điều 9, chương II, Điều lệ MTTQ Việt
Nam, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam hướng dẫn việc cử các
chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Uỷ viên Thường trực của Uỷ ban MTTQ cấp
huyện, cấp tỉnh như sau:
+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch hoặc Uỷ viên Thường trực
khóa trước triệu tập hội nghị và là chủ tọa Hội nghị lần thứ nhất Uỷ ban MTTQ
các cấp ở địa phương khóa mới để cử Chủ tịch Uỷ ban MTTQ khóa mới.
+ Chủ tọa hội nghị giới thiệu nhân sự dự kiến là
Chủ tịch Uỷ ban MTTQ khóa mới.
+ Hội nghị trao đổi và hiệp thương cử Chủ tịch Uỷ
ban MTTQ khóa mới.
+ Chủ tịch Uỷ ban MTTQ khóa mới chủ trì Hội nghị
và trình bày dự kiến danh sách các Phó Chủ tịch chuyên trách và không chuyên
trách (nếu có) theo dự kiến chuẩn bị của Ban Thường trực khóa trước.
+ Hội nghị trao đổi và hiệp thương cử các Phó Chủ
tịch Uỷ ban MTTQ Việt Nam khóa mới.
+ Chủ tịch Uỷ ban MTTQ khóa mới chủ trì hội nghị
và trình bày dự kiến danh sách Uỷ viên Thường trực khóa mới theo dự kiến chuẩn
bị của Ban Thường trực khóa trước.
+ Hội nghị trao đổi và hiệp thương cử các Uỷ viên
Thường trực Uỷ ban MTTQ khóa mới.
+ Chủ tịch Uỷ ban MTTQ khóa mới công bố danh sách
Ban Thường trực đã được cử hoặc bầu ở trên.
3.7. Về một số tiêu chuẩn của Chủ tịch MTTQ
nhiệm kỳ mới:
- Căn cứ hướng dẫn số 14-HD/BTCTW ngày 29/02/2008
của Ban Tổ chức Trung ương Đảng, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt
Nam hướng dẫn như sau:
+ Đối với những vị Chủ tịch MTTQ mới tham gia lần
đầu cần đảm bảo độ tuổi để có thể tham gia ít nhất một nhiệm kỳ.
+ Đối với những vị Chủ tịch MTTQ đương nhiệm có đủ,
điều kiện, tiêu chuẩn và còn tuổi để công tác ít nhất 2/3 nhiệm kỳ khoá mới
thì tiếp tục giới thiệu bầu làm Chủ tịch MTTQ khoá mới cho đến khi đủ tuổi
nghỉ hưu.
4. Về cơ cấu thành phần và số lượng đại biểu
tham dự Đại hội Mặt trận Tổ quốc cấp huyện, cấp tỉnh
Thực hiện khoản 4, điều 7, Điều lệ MTTQ Việt Nam,
Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam hướng dẫn cơ cấu thành phần,
số lượng đại biểu của Đại hội MTTQ Việt Nam cấp huyện, cấp tỉnh như sau:
4.1. Cơ cấu thành phần đại biểu của Đại
hội MTTQ cấp huyện, cấp tỉnh.
- Đại biểu của Đại hội MTTQ Việt Nam cấp huyện,
cấp tỉnh phải là những người đủ tiêu chuẩn, tiêu biểu, có tín nhiệm và có khả
năng đóng góp ý kiến vào những quyết định của Đại hội, không bị kỷ luật từ
cảnh cáo trở lên. Cơ cấu thành phần đại biểu chính thức của Đại hội gồm:
+ Các vị Uỷ viên Uỷ ban MTTQ đương nhiệm của cấp
tổ chức Đại hội.
+ Đại biểu phân bổ cho MTTQ cấp dưới trực tiếp và
các tổ chức thành viên cùng cấp.
+ Các cá nhân tiêu biểu được Ban Thường trực Uỷ
ban MTTQ cấp tổ chức Đại hội giới thiệu làm đại biểu để hiệp thương cử vào Uỷ
ban Mặt trận khóa mới.
+ Một số cán bộ chuyên trách cơ quan MTTQ cấp tổ
chức Đại hội.
4.2. Về số lượng đại biểu của Đại hội Mặt trận
cấp huyện, cấp tỉnh.
- Đại hội MTTQ cấp huyện: Từ 120 - 200 đại biểu.
- Đại hội MTTQ cấp tỉnh: Từ 200 - 300 đại
biểu.
4.3. Về khách mời của Đại hội Mặt trận cấp
huyện, cấp tỉnh.
Tùy tình hình cụ thể của từng địa phương để
quyết định số lượng khách mời cho phù hợp. Khách mời của Đại hội Mặt trận Tổ
quốc cấp huyện, cấp tỉnh thường có các thành phần sau:
Đại diện Ban Thường trực MTTQ cấp trên, đại diện
của cấp ủy Đảng, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, một số đại diện lãnh đạo
các cơ quan, đơn vị có quan hệ công tác thường xuyên với Uỷ ban MTTQ cùng cấp;
đại diện các Bà mẹ Việt Nam anh hùng, gia đình liệt sĩ, lão thành cách mạng...
của địa phương; một số vị trong Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ chuyên trách của
cấp mình các nhiệm kỳ trước; đại biểu là Uỷ viên Uỷ ban MTTQ cấp trên đang cư
trú và công tác tại địa phương; đại diện Uỷ ban MTTQ một số địa phương bạn...
5. Về cử đại biểu dự Đại hội Mặt trận Tổ quốc
cấp trên.
- Trên cơ sở số lượng, cơ cấu thành phần đại biểu
do Uỷ ban MTTQ cấp trên trực tiếp phân bổ, Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ cấp
được phân bổ đại biểu tiến hành dự kiến cơ cấu thành phần, số lượng và danh
sách đoàn đại biểu của địa phương mình trình ra đại hội cùng cấp để tiến hành
hiệp thương cử đoàn đại biểu đi dự đại hội cấp trên. Người được cử đi dự đại
hội cấp trên phải được quá nửa tổng số đại biểu dự Đại hội tán thành.
- Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ cấp dưới trực
tiếp có trách nhiệm báo cáo danh sách trích ngang đoàn đại biểu đi dự đại hội
cấp trên của đơn vị mình theo yêu cầu của Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ cấp tổ
chức Đại hội để tiến hành các thủ tục triệu tập đại biểu.
III. CHƯƠNG TRÌNH ĐẠI HỘI MẶT TRẬN CẤP HUYỆN,
CẤP TỈNH
1. Về chương trình Đại hội:
Đại hội cấp huyện tiến hành trong 02 ngày, Đại hội
cấp tỉnh tiến hành trong 03 ngày. Căn cứ vào điều kiện cụ thể của từng địa
phương để xây dựng chương trình Đại hội bảo đảm hoàn thành các nội dung của
Đại hội theo quy định tại khoản 4, điều 7, Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Chương trình Đại hội gồm các nội dung như sau:
- Lễ chào cờ, hát Quốc ca.
- Hiệp thương cử Đoàn Chủ tịch và Thư ký Đại hội.
- Tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu. Khai mạc
Đại hội.
- Trình bày báo cáo tổng kết nhiệm kỳ, dự kiến
chương trình hành động của nhiệm kỳ mới (đầy đủ hoặc tóm tắt) và báo cáo kiểm
điểm hoạt động của Uỷ ban Mặt trận khóa cũ.
- Chào mừng của đại diện Mặt trận địa phương bạn (nếu
có).
- Báo cáo tổng hợp tình hình đại biểu đi dự Đại
hội MTTQ cấp mình.
- Báo cáo tổng hợp ý kiến đóng góp vào dự thảo văn
kiện của Uỷ ban MTTQ cấp mình và ý kiến đóng góp vào dự thảo văn kiện của Đại
hội MTTQ cấp trên và các ý kiến đề nghị sửa đổi Điều lệ MTTQ Việt Nam.
- Tham luận của đại biểu dự Đại hội.
- Phát biểu của đại diện Ban Thường trực Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc cấp trên, của đại diện cấp Uỷ, chính quyền cùng cấp.
- Báo cáo danh sách nhân sự và hiệp thương cử Uỷ
ban Mặt trận Tổ quốc nhiệm kỳ mới.
- Họp Uỷ ban MTTQ nhiệm kỳ mới phiên đầu tiên để
cử Ban Thường trực (Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Uỷ viên Thường trực).
- Công bố kết quả phiên họp đầu tiên của Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc khóa mới về việc cử nhân sự vào các chức danh trong Ban
Thường trực.
- Ra mắt Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc khóa
mới, đại diện Uỷ ban MTTQ khoá mới phát biểu nhận nhiệm vụ.
- Hiệp thương cử đoàn đại biểu đi dự Đại
hội Mặt trận Tổ quốc cấp trên trực tiếp.
- Công bố các quyết định khen thưởng (nếu
có).
- Thông qua Nghị quyết Đại hội.
- Bế mạc Đại hội (chào cờ).
Những nơi có điều kiện nên tổ chức các tổ hoặc
trung tâm thảo luận theo các chuyên đề về tập hợp, củng cố tăng cường khối đại
đoàn kết toàn dân tộc, về 2 cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hóa ở khu dân cư" và cuộc vận động "Ngày vì người nghèo",
về phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tham gia xây dựng Đảng và Chính quyền,
về đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận...)
2. Về Đại hội MTTQ của các đơn vị mới chia tách,
sáp nhập
- Thực hiện khoản 5, điều 8, chương II, Điều lệ
MTTQ Việt Nam, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam hướng dẫn như
sau:
+ Đối với những đơn vị mới chia tách, sáp nhập đã
tổ chức Đại hội MTTQ quá ½ nhiệm kỳ theo quy định của Điều lệ thì tổ
chức Đại hội MTTQ nhiệm kỳ mới
+ Đối với những đơn vị mới Đại hội MTTQ chưa quá
½ nhiệm kỳ theo quy định của Điều lệ thì tổ chức Hội nghị đại biểu
để góp ý kiến vào văn kiện của Đại hội MTTQ Việt
Nam cấp trên, đánh giá kết quả thực hiện chương trình phối hợp thống nhất hành
động của cấp mình từ Đại hội đến nay, bổ sung phương hướng nhiệm vụ thời gian
tới và cử đại biểu dự Đại hội MTTQ Việt Nam cấp trên trực tiếp (Để đảm bảo
thời gian Đại hội MTTQ các cấp thống nhất thì nhiệm kỳ Đại hội MTTQ tiếp theo
của các đơn vị trên tính từ thời gian tổ chức Hội nghị đại biểu).
IV. VỀ TRANG TRÍ ĐẠI HỘI
Căn cứ vào điều kiện cụ thể của từng địa phương mà
tiến hành công tác tuyên truyền và trang trí Đại hội, Ban Thường trực Uỷ ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn như sau:
- Đường chính tới địa điểm tổ chức Đại hội và xung
quanh phía ngoài có thể bố trí cờ, pa nô, áp phích, băng rôn...
- Trong hội trường nhìn từ dưới lên:
+ Phía bên trái phông là cờ tổ quốc, tượng Bác
hoặc ảnh Bác, chính giữa phông là biểu trưng của MTTQ Việt Nam, dưới biểu
trưng là dòng chữ “Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam......Nhiệm kỳ........ngày...tháng....năm.....”
(có thể bố trí 2 hoặc 3 hàng với 2 kiểu chữ khác nhau).
+ Dưới chân phông có thể bố trí một hàng cây cảnh.
+ Hai bên phía trên hội trường có thể để 2 tấm pa
nô, áp phích, khẩu hiệu hành động hoặc chủ đề của Đại hội (Có ma két trang trí
kèm theo)
+ Xung quanh hội trường có thể trang trí khẩu hiệu,
tranh cổ động tuyên truyền hoặc triển lãm ảnh về các hoạt động của MTTQ Việt
Nam trong nhiệm kỳ vừa qua.
Nội dung khẩu hiệu tuyên truyền theo hướng dẫn số
31- HD/BTGTW ngày 07/03/2008 của Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng.
V. VIỆC DUYỆT CÔNG TÁC CHUẨN BỊ ĐẠI HỘI MẶT
TRẬN CẤP HUYỆN, CẤP TỈNH
- Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam duyệt nội dung chương trình Đại hội Mặt trận cấp tỉnh; Ban
Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh duyệt nội dung chương trình Đại
hội Mặt trận cấp huyện
- Hồ sơ duyệt công tác tổ chức Đại
hội gồm:
+ Dự kiến chương trình Đại hội.
+ Dự thảo báo cáo tổng kết nhiệm kỳ, chương trình
hành động nhiệm kỳ mới và báo cáo kiểm điểm hoạt động của Uỷ ban Mặt trận khóa
cũ.
+ Đề án xây dựng Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc khóa mới,
danh sách trích ngang dự kiến Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
khóa mới.
VI. VỀ VIỆC CHUẨN Y KẾT QUẢ BẦU CỬ.
- Sau Đại hội, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc khóa mới phải báo cáo về Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp trên
trực tiếp biên bản Đại hội, biên bản hội nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc lần thứ
nhất, công văn đề nghị công nhận các chức danh của Ban Thường trực và sơ yếu
lý lịch của Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và Uỷ viên Thường trực.
- Sau khi nhận được báo cáo của Ban Thường trực Uỷ
ban Mặt trận Tổ quốc cấp dưới về kết quả cử hoặc bầu, Ban Thường trực Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc cấp trên trực tiếp chuẩn y danh sách Ban Thường trực và các
chức danh của cấp dưới theo quy định của Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
VII. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
- Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp
huyện, cấp tỉnh xây dựng kế hoạch tổ chức Đại hội, chủ động báo cáo với Ban
Thường vụ cấp uỷ cùng cấp về nội dung của Đại hội và công tác chuẩn bị nhân sự
Uỷ viên Uỷ ban, Ban Thường trực của nhiệm kỳ mới theo tinh thần Chỉ thị số
18/CT/TW ngày 22/11/2007 của Ban Bí thư Trung ương Đảng và hướng dẫn số 14-
HD/BTCTW ngày 29/2/2008 của Ban Tổ chức Trung ương Đảng.
- Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh
cần chọn và chỉ đạo điểm Đại hội MTTQ cấp huyện để rút kinh nghiệm, đồng thời
phân công các Uỷ viên Thường trực hướng dẫn, kiểm tra việc tổ chức Đại hội
MTTQ của cấp huyện. Duy trì chế độ thông tin, báo cáo tiến độ, kết quả Đại hội
MTTQ cấp huyện, cấp tỉnh về Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam
(qua Ban Tổ chức cán bộ).
- Phối hợp với các tổ chức thành viên, các ban,
ngành của cấp huyện, cấp tỉnh, tổ chức các hoạt động, phát động phong trào thi
đua chào mừng Đại hội Mặt trận Tổ quốc các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn
quốc của MTTQ Việt Nam lần thứ VII.
- Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam
phân công các Uỷ viên Thường trực theo dõi, hướng dẫn Đại hội điểm cấp huyện ở
các tỉnh, thành phố để rút kinh nghiệm chỉ đạo chung trong toàn quốc.
Trong quá trình triển khai thực hiện hướng dẫn
trên đây, nếu có vấn đề gì nảy sinh vướng mắc đề nghị Ban Thường trực Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh tập hợp, phản ánh về Ban Thường trực Uỷ ban Trung
ương MTTQ Việt Nam (qua Ban Tổ chức cán bộ) để xem xét giải quyết.
Nơi nhận:
T/M. BAN THƯỜNG TRỰC
- Ban BTTW Đảng (để báo cáo)
UỶ BAN TRUNG ƯƠNG MTTQ VIỆT NAM
- Ban TT UBMTTQ các tỉnh,
Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký
thành phố
(để triển khai, thực hiện)
(Đã ký)
- Ban Dân vận Trung ương (để phối hợp) Vũ Trọng Kim
- Các Ban, đơn vị trực thuộc (để thực hiện)
- Lưu VP, TCCB.
Về đầu trang
BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
BAN TUYÊN GIÁO
*
Hà Nội, ngày 7 tháng 3 năm 2008
Số 31- HD/BTGTW
HƯỚNG DẪN
Triển
khai đợt sinh hoạt chính trị và công tác tuyên truyền
Đại hội
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tiến tới
Đại hội
đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII
Thực hiện Chỉ thị số 18-CT/TW,
ngày 22-11-2007 của Ban Bí thư về việc lãnh đạo Đại hội Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
lần thứ VII, Ban Tuyên giáo Trung ương hướng dẫn việc triển khai đợt
sinh hoạt chính trị và công tác tuyên truyền như sau:
I. Mục đích, yêu cầu
1.
Tổ chức đợt sinh hoạt chính trị và tuyên truyền sâu rộng làm cho cán bộ,
đảng viên và nhân dân nhận thức đầy đủ, đúng đắn những chủ trương, đường lối
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng và phát huy sức
mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc và về vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam trong giai đoạn đất nước đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới,
hội nhập kinh tế quốc tế vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh.
2. Đẩy
mạnh công tác tuyên truyền trong nước và tuyên truyền đối ngoại về chính
sách đại đoàn kết toàn dân tộc, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo,
chính sách đối với kiều bào; đấu tranh bác bỏ những luận điệu của các thế
lực thù địch xuyên tạc, vu khống ta vi phạm về dân chủ, nhân quyền, dân tộc,
tôn giáo nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
3.
Đợt sinh hoạt chính trị và công tác tuyên truyền về Đại hội Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam các cấp tiến tới Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII cần
được các cấp uỷ đảng quan tâm chỉ đạo, triển khai thực hiện đồng bộ từ Trung
ương đến cơ sở, gắn với triển khai thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm
theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” để góp phần tích cực vào thành công của
Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII.
4.
Cổ vũ, động viên nhân dân hăng hái tham gia các phong trào thi đua yêu nước,
làm kinh tế giỏi, phát triển kinh tế đi liền với phát triển văn hóa - xã hội;
giải quyết tốt các vấn đề xã hội, đẩy mạnh thực hành dân chủ xã hội chủ
nghĩa, tạo ra không khí phấn khởi trong các tầng lớp nhân dân; xây dựng niềm
tin, ý chí quyết tâm phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực
hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X.
II. NỘI DUNG
1.
Tổ
chức đợt sinh hoạt chính trị
Đợt
sinh hoạt chính trị được triển khai sâu rộng trong hệ thống chính trị từ
Trung ương đến cơ sở tập trung vào các nội dung chủ yếu sau:
-
Khẳng định vị trí, vai trò, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ
thống chính trị của nước ta từ khi mới thành lập đến nay, đặc biệt là giai
đoạn đất nước đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc
tế hiện nay. Nêu bật những yêu cầu và nội dung đổi mới phương thức lãnh đạo
của Đảng; phương thức phối hợp của Nhà nước đối với Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam; phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo tinh thần Nghị
quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X và Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành
Trung ương lần thứ 5 (khóa X) của Đảng. Trên cơ sở đó, từng tổ chức đảng,
chính quyền và mặt trận cùng cấp kiểm điểm, đánh giá những việc đã làm được, những
tồn tại, hạn chế cần khắc phục để bổ sung các biện pháp đưa chủ trương,
đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với sự nghiệp xây
dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực sự đi
vào cuộc sống.
-
Tham gia ý kiến, đóng góp trí tuệ vào việc xây dựng dự thảo Báo cáo chính
trị của Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và dự thảo Điều lệ Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam (bổ sung, sửa đổi).
-
Kiểm điểm, đánh giá kết quả việc thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm
theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” tại địa phương, đơn vị; kết quả thực
hiện đại đoàn kết theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh; kết quả Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam tham gia phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết những khó
khăn bức xúc trong nhân dân, xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững
mạnh.
-
Các đợt sinh hoạt chính trị được tổ chức trước, trong và sau Đại hội của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và thông qua các buổi sinh hoạt của các tổ
chức đảng, sinh hoạt cơ quan, các đoàn thể nhân dân và khu dân cư để triển
khai thực hiện các nội dung nêu trên. Các cấp ủy đảng chỉ đạo nội dung và kế
hoạch sinh hoạt theo định kỳ, phù hợp với thời gian Đại hội của Mặt trận các
cấp.
-
Ngoài các sinh hoạt chung, tùy điều kiện cụ thể của từng tổ chức, địa phương,
đơn vị, có thể tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về kết quả thực hiện các chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với nhiệm
vụ xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, về
các kỳ Đại hội của Mặt trận Tổ quốc ở địa phương và Đại hội Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam.
2. Tuyên truyền Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp
-
Chủ đề tuyên truyền: Nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, phát
huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu
và là nhân tố có ý nghĩa quyết định đảm bảo thắng lợi vững chắc của sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện thành công sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh.
-
Nội dung, tư liệu, tài liệu sử dụng để tuyên truyền:
+ Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 22-11-2007 của Ban Bí thư về việc lãnh
đạo Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII; Nghị quyết số 09 ngày 9-1-2008
của Hội nghị lần thứ 5 Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (khóa
VI) về tổ chức Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và Đại hội đại
biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII.
+ Những quan điểm của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về đại đoàn kết
toàn dân tộc và xây dựng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; lịch sử, truyền thống và
vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; kết quả thực hiện Luật Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và Nghị định 50/CP của Chính phủ.
+ Quá trình chuẩn bị và tổ chức Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các
cấp: kết quả đạt được trong nhiệm kỳ vừa qua, những vấn đề đặt ra và giải
pháp để tiếp tục phát huy vai trò, vị trí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở
địa phương trong nhiệm kỳ mới; những tập thể, cá nhân tiên tiến, những bài
học kinh nghiệm qua phong trào thi đua yêu nước, các phong trào của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam trên các lĩnh vực khác nhau ở địa phương, đơn vị, đặc biệt
là hai cuộc vận động lớn: “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở
khu dân cư” ,“Ngày vì người nghèo”; kết quả cụ thể về thực hiện
xoá nhà tạm, nhà dột nát cho người nghèo, phấn đấu giảm hộ nghèo tiến tới
xoá hộ nghèo ở các địa phương.
+ Kết quả Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tham gia xây dựng Đảng,
chính quyền; tham gia xây dựng chính sách pháp luật, phòng chống tham nhũng,
thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; công tác giám sát, phản biện xã hội;
công tác giám sát cán bộ, công chức, đảng viên ở khu dân cư; phối hợp thực
hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; công tác đối ngoại nhân dân, công tác dân tộc,
tôn giáo...
III. TỔ
CHỨC THỰC HIỆN
1.
Thời
gian:
Thời
gian tiến hành Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đến Đại hội đại
biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII khá dài (từ quý II/2008
đến quý III/2009). Căn cứ vào thời gian tổ chức Đại hội Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam của từng địa phương, đơn vị, các cấp Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xây
dựng kế hoạch tổ chức sinh hoạt chính trị và công tác tuyên truyền trước,
trong, sau Đại hội đảm bảo có trọng tâm, trọng điểm và đạt chất lượng, hiệu
quả.
2. Đề nghị Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam:
-
Hướng dẫn các tổ chức thành viên, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh,
thành phố trong cả nước tổ chức thực hiện đợt sinh hoạt chính trị; biên soạn
phát hành tài liệu phục vụ đợt sinh hoạt chính trị và công tác tuyên truyền
trước, trong và sau Đại hội.
-
Phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức hội nghị Báo cáo viên ở 3 khu
vực để giới thiệu về Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
lần thứ VII.
-
Phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ Thông tin và Truyền thông tổ
chức họp báo về Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ
VII.
3. Ban Tuyên giáo các cấp, các ngành:
-
Phối hợp chặt chẽ với Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng
cấp chuẩn bị kỹ về nội dung, kế hoạch sinh hoạt chính trị và tuyên truyền,
báo cáo với cấp ủy đảng để triển khai thực hiện; tổ chức Hội nghị báo cáo
viên, họp báo, tọa đàm giới thiệu những nội dung chính của Đại hội Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và truyền thống vẻ vang của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, những cá nhân, tập thể tiểu biểu thực hiện tốt chính sách đại đoàn kết
toàn dân tộc. Theo dõi nắm tình hình tư tưởng các tầng lớp nhân dân, định
hướng dư luận xã hội xung quanh Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp.
-
Định hướng thông tin về Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trong Bản
tin Thông báo nội bộ của Ban Tuyên giáo các tỉnh, thành, đảng ủy trực
thuộc Trung ương.
-
Chỉ đạo các cơ quan báo chí của địa phươnng có kế hoạch tuyên truyền, mở
chuyên trang, chuyên mục chào mừng Đại hội Mặt trận các cấp và Đại hội đại
biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII .
-
Phối hợp với chính quyền cùng cấp chỉ đạo việc tổ chức các cụm panô, áp
phích, triển lãm, treo cờ Tổ quốc và khẩu hiệu chào mừng Đại hội Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam các cấp; phát động đợt thi đua lập nhiều thành tích trên các
lĩnh vực chào mừng Đại hội; xây dựng các công trình về kinh tế, xã hội, giữ
vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; xây dựng và củng cố khối
đoàn kết toàn dân trên địa bàn dân cư…
4. Các
cơ quan thông tấn, báo chí ở Trung ương và địa phương:
- Có
kế hoạch cụ thể tổ chức tuyên truyền các nội dung nêu trên; kịp thời phản
ánh các nội dung, hình thức sinh hoạt chính trị sinh động, có hiệu quả ở cơ
sở, cơ quan, đơn vị; thông tin các sự kiện trước, trong và sau Đại hội Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII .
-
Đài truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, các tạp chí, ấn phẩm thông
tin đối ngoại, có kế hoạch thông tin ra nước ngoài không khí dân chủ, đoàn
kết xung quanh Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp.
-
Đài truyền hình Việt Nam, đài phát thanh, truyền hình các tỉnh, thành phố
phối hợp với Hãng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương xây dựng phim tài
liệu, các phóng sự phản ảnh hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp
chiếu vào dịp tổ chức Đại hội.
IV.
MỘT SỐ KHẨU HIỆU TUYÊN TRUYỀN
1.
Nhiệt liệt chào mừng Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tiến tới Đại
hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII !
2.
Nhiệt liệt chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
lần thứ VII !
3.
Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành
công, thành công, đại thành công !
4.
Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh !
5.
Thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam lần thứ VII !
6.
Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm !
7.
Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam muôn năm!
8. Chủ
tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta!
Ban
Tuyên giáo các tỉnh uỷ, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương phối hợp
chặt chẽ với Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp triển
khai thực hiện, báo cáo kết quả về Ban Tuyên giáo Trung ương để tổng hợp báo
cáo Ban Bí thư.
Nơi nhận:
K/T TRƯỞNG BAN
- Thường trực Ban Bí thư (để báo cáo);
PHÓ TRƯỞNG BAN
-
Văn phòng Trung ương Đảng;
Đã ký
-
Ban Dân vận Trung ương;
Vũ Văn Phúc
- Uỷ
ban Trung ương MTTQ Việt Nam;
-
Trung ương các đoàn thể chính trị-xã hội;
-
Ban tuyên giáo các tỉnh, thành,
đảng
uỷ trực thuộc TW;
- Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
các tỉnh, thành phố Trực thuộc TW;
- Các báo, đài TW;
- Lưu Vụ TT, HC.
Về đầu trang
|