Ðặt làm trang chủ

    Google   

                 | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ |   

             | Hộp Thư |
        
 
 

 

 

 

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết dự ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc tại khu dân cư số 7, phường Quán Thánh

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết dự Ngày hội Ðại đoàn kết toàn dân tộc tại khu dân cư Lỗ Xá, xã Nhân Hoà, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng dự Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc tại khu dân cư Đồng Sơn, xã Liên Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam

Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Huỳnh Đảm về dự Ngày Hội đại đoàn kết toàn dân tộc tại thôn Đa Tốn, huyện Gia Lâm, Hà Nội

 
 

      ĐẠI HỘI LẦN THỨ VII  MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM


Văn bản hướng dẫn

Đại hội MTTQ Việt Nam các cấp 


Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII được tổ chức trong các ngày 28, 29 và 30/9/2009 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình, Thủ đô Hà Nội. Tham dự đại hội có 1.300 đại biểu, trong đó có 989 đại biểu chính thức và 311 đại biểu khách mời. Thành phần đại biểu dự có 330 đại biểu là Uỷ viên Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam  khoá VI; 92 đại biểu của các tổ chức thành viên của Mặt trận ở Trung ương; 469 đại biểu do đại hội Mặt trận các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cử ra; 98 đại biểu do Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam chỉ định; 41 Đại biểu là người Việt Nam ở nước ngoài (trong đó có 13 người là Ủy viên Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa VI). Cơ cấu có 262 đại biểu là người dân tộc thiểu số chiếm tỉ lệ 26,49%; 160 đại biểu là tín đồ và chức sắc các tôn giáo chiếm tỉ lệ 16,17%; 278 đại biểu là nữ chiếm tỉ lệ 28,11%; 479 đại biểu là người ngoài Đảng chiếm tỉ lệ 48,43%; 157 đại biểu là người có học học vị thạc sỹ, tiến sĩ chiếm tỉ lệ:15,87%; 629 đại biểu có trình độ đại học và trên đại học chiếm tỉ lệ: 63,59%; 60 đại biểu là các nhà doanh nghiệp, thuộc các thành phần kinh tế chiếm tỉ lê 6,06%; 380 đại biểu có trình độ cao cấp, cử nhân lý luận chính trị chiếm tỉ lệ:38,42%; 249 đại biểu là cán bộ Mặt trận chuyên trách các cấp chiếm tỉ lệ 25,17%; đại biểu cao tuổi nhất là Hòa thượng Thích Phổ Tuệ, Pháp chủ Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam (92 tuổi); đại biểu trẻ tuổi nhất là bà Vũ Thị Xưa, dân tộc Pà Thẻn, Bí thư Chi đoàn Thanh niên thôn Nặm O, xã Tân Bắc, huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang (19 tuổi).

Tham dự đại hội còn có 4 đoàn đại biểu nước ngoài: Đoàn đại biểu Hội nghị chính trị hiệp thương nhân dân Trung quốc; Đoàn đại biểu Mặt trận Lào xây dựng đất nước; Đoàn đại biểu Mặt trận Đoàn kết phát triển Tổ quốc Campuchia; Đoàn đại biểu Uỷ ban Bảo vệ cách mạng Cu Ba và trên 100 đại biểu đại diện các Đại sứ quán của các nước, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam.

Chủ đề của Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII là "Nâng cao vai trò Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, phát huy dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh", đại hội lần này là đợt sinh hoạt chính trị của toàn Đảng, toàn quân và toàn thể nhân dân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Điểm mới của Đại hội lần này là lần đầu tiên đại hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được tổ chức tuần tự từ cấp cơ sở đến toàn quốc: Đại hội Mặt trận cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn) từ quý II đến quý III năm 2008; Đại hội Mặt trận cấp huyện (huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) từ quý IV năm 2008 đến quý I năm 2009; Đại hội Mặt trận cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) từ quý I đến quý II năm 2009. Tại đại hội ngoài việc thảo luận tại Hội trường chính, các đại biểu thảo luận tại 5 trung tâm nhằm tìm giải pháp để đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận trong nhiệm kỳ 2009 – 2014. Đại hội sẽ phát động phong trào thi đua yêu nước trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân lập thành tích chào mừng kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội, 80 năm ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam và các ngày lễ lớn của đất nước và ra lời kêu gọi các tầng lớp nhân dân ở trong nước và ở nước ngoài đoàn kết, đồng tâm hiệp lực cùng toàn Đảng, toàn quân và toàn dân phát huy cao độ lòng yêu nước, ý chí tự lực tự cường, đồng lòng chung sức thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh"

Đạị hội đã cử ra Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khoá VII (Nhiệm kỳ 2009 - 2014) gồm 355 vị, Đoàn Chủ tịch gồm 58 vị. Ban Thường trực gồm 9 vị.

 

Ông Huỳnh Đảm
Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam

 

Ông Vũ Trọng Kim
Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký
Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam

 

Các Phó Chủ tịch chuyên trách Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam khoá VII

 

 

Ông Lê Bá Trình

 

 Bà Hà Thị Liên

         Ông Hà Văn Núi

       

 

Ông Nguyễn Văn Pha

 

Ông Nguyễn Lam

Ông Trần Hoàng Thám

   

 

 
   

Bà Bùi Thị Thanh

 

Các Phó Chủ tịch không chuyên trách Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam khoá VII

Linh mục Nguyễn Công Danh
 Chủ tịch

Ủy ban Đoàn kết Công giáo VN

Ông Dương Quan Hà

Chủ tịch Ủy ban MTTQ TP. Hồ Chí Minh

Ông Phạm Xuân Hằng

Chủ tịch Ủy ban MTTQ TP. Hà Nội

Bà Hoàng Xuân Sính,  Chủ tịch Hội đồng quản trị trường Đại học dân lập Thăng Long

Hòa thượng Thích Trí Tịnh, Chủ tịch Hội đồng trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam

Ông Cư Hòa Vần, Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn về Dân tộc của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam

     

Diễn văn khai mạc của Chủ tịch Huỳnh Đảm tại Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2009 – 2004

Phát biểu của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII MTTQ Việt Nam

Các đoàn đại biểu quốc tế chào mừng Đại hội MTTQ Việt Nam lần thứ VII 

Danh sách Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam khoá VII (Nhiệm kỳ 2009 - 2014)

Danh sách Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khoá VII (Nhiệm kỳ 2009 - 2014)

Danh sách Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khoá VII (Nhiệm kỳ 2009 - 2014)

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII

Phát động đợt thi đua đặc biệt lập thành tích chào mừng những ngày lễ lớn năm 2010

Diễn văn bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII do Chủ tịch MTTQ Việt Nam Huỳnh Đảm trình bày 

Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhiệm kỳ 2009-2014

(Ban Biên tập đang tiếp tục cập nhật)


DIỄN VĂN KHAI MẠC
ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM 

LẦN THỨ VII, NHIỆM KỲ 2009-2014

Hà Nội, ngày 28 tháng 9 năm 2009

- Kính thưa đồng chí Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh và các các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, MTTQ Việt Nam !

- Kính thưa Đoàn Chủ tịch Đại hội,

- Kính thưa các đồng chí lão thành cách mạng, các Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động !

- Thưa các vị khách quốc tế và các đoàn ngoại giao !

- Thưa toàn thể quý vị đại biểu !

Hôm nay, giữa Thủ đô Hà Nội, trái tim của cả nước, trong không khí toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước, ra sức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng, đẩy mạnh cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", kỷ niệm 64 năm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2-9 và 40 năm thực hiện
Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, MTTQ Việt Nam tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII-Đại hội của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thay mặt Đoàn Chủ tịch Đại hội:

- Tôi nhiệt liệt chào mừng:

+ Đồng chí Nông Đức Mạnh, Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và các đồng chí nguyên Tổng Bí thư: Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu;

+ Nguyên Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam Lê Đức Anh, Trần Đức Lương.

+ Đồng chí Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ Nước CHXHCN Việt Nam và nguyên Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải.

+ Đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam và nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An.

+ Đồng chí Phạm Thế Duyệt, nguyên Uỷ viên Thường vụ Thường trực Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch UBTW MTTQ Việt Nam.

+ Các đồng chí lãnh đạo và nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, MTTQ Việt Nam; các đồng chí lãnh đạo các bộ, ban, ngành Trung ương; lãnh đạo các tổ chức thành viên của Mặt trận.

- Chào mừng các đồng chí lão thành cách mạng, các Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động.

- Chào mừng các đồng chí đại diện lãnh đạo Đảng bộ, chính quyền TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Thừa Thiên-Huế.

- Chào mừng 989 đại biểu, đại diện cho các giai cấp, các tầng lớp nhân dân, cho 54 dân tộc anh em, các tôn giáo, các vị nhân sĩ, trí thức, các doanh nhân và đồng bào ta đang sinh sống ở nước ngoài đã về dự Đại hội.

- Chào mừng các đại biểu lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam anh hùng.

- Chào mừng đại diện các cơ quan thông tấn, báo chí, phát thanh, truyền hình Trung ương và địa phương, các phóng viên trong nước và nước ngoài tới dự và đưa tin Đại hội.

Sự có mặt của các đồng chí lãnh đạo và các vị đại biểu tại Đại hội thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với MTTQ Việt Nam và là nguồn động viên to lớn đảm bảo sự thành công của Đại hội.

Đại hội chúng ta nhiệt liệt chào mừng các đoàn đại biểu: Mặt trận Lào Xây dựng đất nước; Hội nghị hiệp thương chính trị toàn quốc Trung Quốc; Mặt trận Đoàn kết, Phát triển Tổ quốc Campuchia; Uỷ ban Bảo vệ cách mạng Cu Ba và đại điện các tổ chức quốc tế, các cơ quan ngoại giao nước ngoài tại Hà Nội...

Sự có mặt của các vị, các đồng chí và các bạn quốc tế tại Đại hội là biểu hiện sinh động tình đoàn kết, hữu nghị và hợp tác quốc tế, sự đồng tình, ủng hộ và hợp tác giữa nhân dân các nước trong khu vực và trên thế giới đối với công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Việt Nam.

- Kính thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và MTTQ Việt Nam !

- Kính thưa các cụ, các vị và toàn thể quý đại biểu !

Trong không khí thắm đượm tình đoàn kết toàn dân tộc của Đại hội hôm nay, chúng ta tỏ lòng thành kính, tưởng nhớ và biết ơn vô hạn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại - Người kế thừa và phát huy cao độ truyền thống đại đoàn kết - nguồn sức mạnh vô địch của dân tộc ta; Người sáng lập, lãnh đạo Đảng ta và Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam; dẫn dắt nhân dân ta đến độc lập, tự do, ấm no và hạnh phúc. 40 năm Bác đã đi xa, để lại Di chúc thiêng liêng và muôn vàn tình thân yêu, niềm tin tất thắng cho toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân ta. Với dân tộc
Việt
Nam, với non sông, đất nước Việt Nam, trong trái tim của mỗi người con đất Việt, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn sống mãi; tư tưởng và Di chúc thiêng liêng của Người luôn soi đường chỉ lối cho Ðảng ta, Nhà nước ta, MTTQ Việt Nam và dân tộc Việt Nam. 

Chúng ta tưởng nhớ và biết ơn sâu sắc các vị Chủ tịch và các vị lãnh đạo Mặt trận, lãnh đạo các tổ chức thành viên yêu nước của Mặt trận qua các thời kỳ cách mạng về những đóng góp to lớn vào sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Chúng ta đời đời ghi nhớ công ơn các anh hùng, liệt sĩ, các bậc lão thành cách mạng, Mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang, Anh hùng lao động, các nhân sĩ, trí thức, những người tiêu biểu trong các dân tộc, các tôn giáo, đồng bào ở trong nước cũng như đồng bào ta ở nước ngoài đã cống hiến xương máu, tài năng, sức lực và của cải cho Tổ quốc, góp phần xứng đáng vào thắng lợi vĩ đại của sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Nhân dịp này, một lần nữa, MTTQ Việt Nam bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với sự quan tâm lãnh đạo của Đảng, sự phối hợp của Nhà nước, tạo điều kiện cho MTTQ Việt Nam phát huy vai trò, làm tròn sứ mệnh lịch sử vẻ vang trong suốt chặng đường 79 năm qua và trong nhiệm kỳ vừa qua. Cảm ơn nhân dân các nước anh em, bè bạn trên thế giới đã ủng hộ, giúp đỡ nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

- Kính thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và MTTQ Việt Nam !

- Kính thưa các cụ, các vị và toàn thể quý đại biểu !

Đại hội MTTQ Việt Nam lần này được tiến hành thống nhất từ cơ sở lên, tạo thành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng từ các khu dân cư, góp phần nâng cao nhận thức về sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc, về MTTQ Việt Nam; qua quá trình chuẩn bị và tổ chức Đại hội đã tạo thành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong hệ thống chính trị và trong các tầng lớp nhân dân; đẩy mạnh được phong trào hành động cách mạng trong các tầng lớp nhân dân, hướng vào thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh của mỗi địa phương và cả nước, nhất là chung sức chung lòng, cùng Đảng và Nhà nước vượt qua khó khăn thách thức, kiềm chế lạm phát, ngăn chặn suy giảm, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo anh sinh xã hội và duy trì tăng trưởng kinh tế hợp lý.

Quá trình chuẩn bị đại hội Đại hội VII MTTQ Việt Nam, cùng với sự tâm huyết, trách nhiệm của Đoàn Chủ tịch, của UBTW MTTQ Việt Nam, đã nhận được sự quan tâm lãnh đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng, sự phối hợp của Mặt trận các tỉnh, thành, các tổ chức thành viên, các bộ, ban, ngành Trung ương, đặc biệt là các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, MTTQ các thời kỳ và sự quan tâm theo dõi,  đóng góp của đông đảo các tầng lớp nhân dân trong nước và đồng bào ta ở nước ngoài góp ý cả nội dung Báo cáo chính trị, Điều lệ sửa đổi, bổ sung và phương hướng xây dựng UBTW MTTQ Việt Nam nhiệm kỳ mới...

Năm năm qua, MTTQ Việt Nam đã tổ chức thực hiện Chương trình hành động do Đại hội MTTQ lần thứ VI đề ra đạt được những kết quả khá toàn diện, góp phần động viên các tầng lớp nhân dân, đoàn kết, nỗ lực cùng Đảng và Nhà nước tranh thủ thời cơ thuận lợi, vượt qua khó khăn thách thức, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần vào những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của hơn 20 năm đổi mới đất nước; khối đại đoàn kết được tăng cường, vai trò của Mặt trận Tổ quốc ngày càng được khẳng định và phát huy.

Đại hội lần này có nhiệm vụ nhận định, đánh giá về tình hình khối đại đoàn kết toàn dân tộc và kiểm điểm việc thực hiện Chương trình hành động của MTTQ
Việt Nam nhiệm kỳ VI (2004-2009), từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm, đề ra mục tiêu, phương hướng nhiệm vụ và Chương trình hành động của MTTQ Việt Nam nhiệm kỳ VII (2009-2014), với quyết tâm
Nâng cao vai trò, hiệu quả hoạt động của MTTQ Việt Nam, tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lực, tự cường; phát huy dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, tạo thành sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần thực hiện thắng lợi Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, lần thứ XI; giữ vững độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ vì mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh"; thông qua Điều lệ MTTQ Việt Nam (sửa đổi, bổ sung); hiệp thương dân chủ cử ra Uỷ ban Trung ương  MTTQ Việt Nam nhiệm kỳ mới theo hướng mở rộng, tăng cường tính đại diện, tính tiêu biểu và tính thiết thực để Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam thực sự là hình ảnh tiêu biểu của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đáp ứng yêu cầu đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của MTTQ Việt Nam trong giai đoạn mới. Đại hội chúng ta sẽ được nghe bài phát biểu quan trọng của đồng chí Nông Đức Mạnh, Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Tại Đại hội, MTTQ Việt Nam sẽ phát động thi đua lập thành tích chào mừng kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội, 80 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 80 năm thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, 120 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các ngày lễ lớn của đất nước năm 2010. .

- Kính thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và MTTQ Việt Nam !

- Kính thưa các cụ, các vị và toàn thể quý đại biểu !

Với tinh thần "Đoàn kết, Dân chủ, Đổi mới và Phát triển", Đại hội VII MTTQ Việt Nam phải thật sự là Đại hội của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần tạo nên những chuyển biến mới trong nhận thức và hành động của hệ thống chính trị, của các tầng lớp nhân dân đối với sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc và MTTQ Việt Nam trong thời kỳ mới; qua đó, tiếp tục Nâng cao vai trò và hiệu quả hoạt động của MTTQ Việt Nam, phát huy dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội, xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Với tinh thần đó, thay mặt Đoàn Chủ tịch Đại hội, tôi xin tuyên bố khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ VII (nhiệm kỳ 2009-2014).

Chúc Đại hội thành công tốt đẹp.

Xin trân trọng cảm ơn!

Về đầu trang


Phát biểu của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh
tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII MTTQ Việt Nam

 

Thưa Đoàn Chủ tịch Đại hội,

Thưa các vị đại biểu,

Thưa các vị khách quý,

Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, tôi nhiệt liệt chào mừng Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đại hội của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đại hội biểu thị quyết tâm của nhân dân ta phấn đấu vì mục tiêu cao cả "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh ".

Tôi nhiệt liệt chào mừng các vị đại biểu Đại hội, những người đại diện tiêu biểu cho khối đại đoàn kết và thống nhất ý chí của 54 dân tộc anh em, của các tôn giáo, các tầng lớp nhân dân, các thành phần kinh tế và người Việt Nam ở nước ngoài, đã hội tụ về Thủ đô ngàn năm văn hiến để tham dự "Ngày hội đại đoàn kết, dân chủ, đổi mới và phát triển".

Tôi xin gửi đến các vị đại biểu và các đồng chí đã từng tham gia công tác Mặt trận Tổ quốc các thời kỳ, các bậc lão thành cách mạng, gia đình có công với nước, các Mẹ Việt Nam Anh hùng, thương binh, gia đình liệt sĩ, cán bộ hưu trí, đồng bào, chiến sĩ cả nước và bà con ta đang làm ăn, sinh sống ở nước ngoài lời thăm hỏi ân cần, lời chúc sức khỏe và thành đạt trong cuộc sống.
Tôi nhiệt liệt hoan nghênh và chào mừng các đoàn đại biểu Mặt trận các nước anh em và bầu bạn, đại diện các tổ chức quốc tế, các đoàn ngoại giao. Sự có mặt của các đồng chí, các vị và các bạn thể hiện sâu đậm tình đoàn kết quốc tế, sự đồng tình ủng hộ và hợp tác quý báu của đồng chí, bạn bè và nhân dân thế giới đối với nhân dân và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chúng tôi.
Thưa các vị đại biểu, các đồng chí và các bạn,

Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm việc với tập thể Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đã đóng góp ý kiến vào dự thảo Báo cáo chính trị của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trình Đại hội.

Chúng tôi hoan nghênh bản báo cáo vừa trình bày trước Đại hội. Báo cáo đã phản ánh sát thực tình hình các tầng lớp nhân dân và hoạt động của Mặt trận, đồng thời chỉ rõ phương hướng, nội dung tăng cường và đổi mới công tác Mặt trận, phù hợp với quá trình đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Tôi tin rằng, thực hiện tốt phương hướng, nhiệm vụ chung, những chủ trương lớn và các giải pháp nêu trong Báo cáo chính trị và chương trình hành động, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhất định sẽ nâng cao chất lượng hoạt động và vai trò to lớn của mình trong xã hội và trong hệ thống chính trị.
Là một thành viên của Mặt trận, Đảng Cộng sản Việt
Nam tích cực ủng hộ, thực hiện chương trình hành động chung; tạo những điều kiện thuận lợi nhất để Mặt trận vươn lên làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình trong giai đoạn cách mạng mới của đất nước.

Thưa các vị đại biểu, các đồng chí và các bạn,

Năm năm qua, đặc biệt là từ sau Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam đến nay, tình hình thế giới, khu vực có nhiều thay đổi, diễn biến phức tạp. Nhân dân ta phải đương đầu với nhiều khó khăn, thách thức do tác động tiêu cực của kinh tế thế giới cũng như khó khăn nội tại của kinh tế nước ta... Song, bằng bản lĩnh, trí tuệ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, nhân dân ta đã nỗ lực phấn đấu, tranh thủ thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thách thức, đạt được những thắng lợi quan trọng: Nền kinh tế nước ta cơ bản ổn định, duy trì được tốc độ tăng trưởng hợp lý; các thành phần kinh tế tiếp tục phát triển; các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế, văn hóa, bảo vệ môi trường đều có những tiến bộ; các chính sách an sinh xã hội được quan tâm; độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc được bảo vệ vững chắc; chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được tăng cường. Các chính sách xây dựng và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được triển khai rộng rãi và có kết quả. Công tác dân vận được quan tâm. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội được củng cố về tổ chức, từng bước đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân, chú trọng hướng về cơ sở, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn; phối hợp với các ngành, các địa phương tổ chức nhiều phong trào thi đua yêu nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, động viên các tầng lớp nhân dân phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Mặt trận và các đoàn thể nhân dân còn mở rộng quan hệ hữu nghị hợp tác giữa nhân dân ta với bạn bè quốc tế, góp phần quan trọng tạo ra thế và lực mới, nâng cao thêm vị thế và uy tín của nước ta trên trường quốc tế.

Tuy nhiên, chúng ta cũng thấy rằng, những kết quả đạt được còn thấp so với khả năng, tiềm lực của đất nước. Ổn định kinh tế vĩ mô chưa thật vững chắc, còn tiềm ẩn các yếu tố mất ổn định. Giáo dục - đào tạo vẫn còn nhiều hạn chế. Chất lượng công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, đặc biệt là ở cơ sở còn thấp. Sự phát triển và chất lượng các hoạt động văn hoá, thông tin, thể thao còn nhiều mặt yếu kém. Đời sống của một bộ phận nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa, các đối tượng chính sách còn nhiều khó khăn. Chính sách tiền lương, thu nhập chưa hợp lý; một số vấn đề xã hội bức xúc chậm được giải quyết. Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và nhân dân và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu vẫn còn nghiêm trọng. Một số nội dung trong chính sách xây dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc chưa được thực hiện đầy đủ. Công tác dân vận, nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận, các đoàn thể chính trị - xã hội còn có mặt chậm đổi mới, có biểu hiện hành chính hoá và hình thức chủ nghĩa. Việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, sâu sát cơ sở, nắm bắt tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của đoàn viên, hội viên, các tầng lớp nhân dân, đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng bào có đạo còn hạn chế.

Xuất phát từ tình hình trên, để thực hiện thắng lợi toàn diện Nghị quyết Đại hội X của Đảng, hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch 5 năm 2006 - 2010, tạo thuận lợi cho bước phát triển nhanh và bền vững trong những năm tiếp theo, Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khoá X đã đề ra những mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu nhằm : Duy trì tốc độ tăng trưởng hợp lý, bền vững, bảo đảm an sinh xã hội, đẩy mạnh xoá đói, giảm nghèo, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Tăng cường hợp tác và chủ động hội nhập quốc tế đạt hiệu quả ngày càng cao. Giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội. Tạo chuyển biến rõ nét hơn trong công tác xây dựng Đảng. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh cải cách hành chính; phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội.
Đây chính là những mục tiêu phấn đấu, nhiệm vụ cụ thể phải làm trong những năm trước mắt của Đảng, Nhà nước, của toàn dân ta. Xuất phát từ vị trí, vai trò, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trên cơ sở chương trình hành động, tôi đề nghị trong nhiệm kỳ VII (2009 - 2014), Mặt trận cần tập trung làm tốt một số việc sau :

1- Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát huy hơn nữa vai trò, vị trí của mình trong việc tiếp tục củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy dân chủ, tăng cường sự đồng thuận xã hội, thực hiện đại đoàn kết từ cơ sở, trong từng cộng đồng dân cư đến toàn dân, toàn quân trên phạm vi toàn quốc.

2- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam làm tốt công tác động viên các tầng lớp nhân dân hăng hái tham gia các phong trào thi đua, các cuộc vận động thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, phát huy mọi nguồn lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển.

3- Mặt trận tổ chức và hướng dẫn nhân dân phát huy quyền làm chủ, chủ động và tích cực tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh, nhất là ở cơ sở; củng cố và tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, góp phần cùng các tổ chức đảng tạo ra sự chuyển biến căn bản trong việc ngăn chặn, từng bước đẩy lùi sự suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tham gia cùng các cơ quan xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu. Nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác thanh tra nhân dân; thực hiện tốt chức năng giám sát và phản biện xã hội theo đúng quy định của pháp luật.

4- Mặt trận mở rộng và nâng cao hơn nữa hiệu quả đối ngoại nhân dân, tăng cường đoàn kết, hữu nghị, hợp tác và tích cực hội nhập quốc tế, góp phần cùng đối ngoại của Đảng, ngoại giao của Nhà nước nhằm củng cố môi trường hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển để xây dựng và bảo vệ đất nước.

Để đưa chương trình hành động vào cuộc sống, đòi hỏi quan trọng là Mặt trận cần tiếp tục đổi mới phương thức, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và hiệu quả hoạt động theo hướng tập trung về cơ sở, đa dạng hóa các hình thức tập hợp và phát huy tối đa mọi nguồn lực trong các tầng lớp nhân dân kể cả người Việt Nam ở nước ngoài. Phấn đấu để từng bước thực hiện khẩu hiệu: Công tác Mặt trận là công tác của toàn xã hội, trong đó cán bộ chuyên trách là hạt nhân, là nòng cốt.

Qua đại hội Mặt trận Tổ quốc các cấp, một vấn đề rất quan trọng được các đại biểu đề cập là Đảng phải thực sự đổi mới sự lãnh đạo của mình đối với công tác Mặt trận. Sự quan tâm đó là rất chính đáng. Bởi trong cơ chế Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý, hiện nay muốn tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận, trước hết Đảng phải đổi mới phương thức lãnh đạo của mình đối với công tác Mặt trận theo yêu cầu của thời kỳ mới. Phải coi sự tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng là một trong những điểm mấu chốt để Mặt trận tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của mình.

Nhân dịp này, tôi yêu cầu các cấp ủy đảng từ Trung ương đến cơ sở cần làm tốt chức năng lãnh đạo và gương mẫu thực hiện trách nhiệm của một tổ chức thành viên, yêu cầu chính quyền các cấp phối hợp và tạo mọi điều kiện thuận lợi để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoàn thành những nhiệm vụ vẻ vang của mình trong giai đoạn mới.

Thưa các vị đại biểu, các đồng chí và các bạn,

Đoàn kết, yêu nước là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta. Kế thừa và phát huy truyền thống đó, từ ngày Đảng ta ra đời cho đến nay, được dẫn dắt bởi tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đã không ngừng chăm lo xây dựng và phát triển Mặt trận Dân tộc thống nhất, coi đại đoàn kết toàn dân tộc là một cội nguồn của sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của sự nghiệp cách mạng và phát triển của đất nước và dân tộc ta.

Bảy mươi chín năm trước đây, ngày 18/11/1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ban hành một văn kiện quan trọng: "Chỉ thị về việc thành lập Hội Phản đế đồng minh" . Đây là hình thức tổ chức đầu tiên của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam , đánh dấu một bước phát triển về chất phong trào yêu nước của dân tộc ta trong cuộc đấu tranh chống ách thống trị của chủ nghĩa thực dân Pháp.

Kế tục sự nghiệp cách mạng của Hội Phản đế đồng minh, những hình thức tổ chức Mặt trận với những tên gọi khác nhau đã lần lượt ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của từng giai đoạn cách mạng.

Năm tháng sẽ qua đi nhưng sức mạnh vĩ đại, thành tựu nổi bật của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và vai trò của Mặt trận Dân tộc thống nhất trong cách mạng dân tộc dân chủ trước đây và cách mạng xã hội chủ nghĩa ngày nay sẽ mãi mãi là những trang chói lọi trong lịch sử dân tộc ta ở thời đại Hồ Chí Minh.

Đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh, nhân dân ta đã làm Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

Đoàn kết trong Mặt trận Liên Việt, nhân dân ta đã kháng chiến thắng lợi, giải phóng một nửa đất nước, xây dựng miền Bắc vững mạnh, làm hậu phương vững chắc cho tiền tuyến lớn miền Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược.

Đoàn kết trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trong Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam, nhân dân ta đã đánh thắng chiến tranh xâm lược và chủ nghĩa thực dân mới, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Bước vào thời kỳ mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, nhất là qua gần 1/4 thế kỷ tiến hành công cuộc đổi mới, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tập hợp, đoàn kết nhân dân ta phấn đấu vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội và giành được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử.

Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định : "Chính sách Mặt trận là chính sách quan trọng. Công tác Mặt trận là công tác rất quan trọng trong toàn bộ công tác cách mạng", Đại hội VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một sự kiện chính trị nổi bật diễn ra vào lúc nhân dân ta bằng những việc làm thiết thực kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Từ diễn đàn Đại hội, tôi thiết tha kêu gọi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ra sức "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", nguyện suốt đời tuân theo Di chúc của Người, phấn đấu thực hiện cho được điều mong muốn cuối cùng của Người mà cũng là mong muốn của toàn dân tộc, của mỗi người Việt Nam chúng ta là : "Toàn Đảng, toàn dân đoàn kết xây dựng đất nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh ", góp phần tích cực vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân ta:

"Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết,

Thành công, thành công, đại thành công"

Với tư tưởng chỉ đạo đó của Người, tôi xin chúc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành công tốt đẹp.

Xin chúc sức khoẻ các vị đại biểu, các đồng chí và các bạn.

Xin cảm ơn.

*

* *

Thưa các vị đại biểu, các đồng chí và các bạn,

Nhân dịp đại hội trọng thể này, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tôi xin trao tặng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bức trướng mang dòng chữ :

"PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC, ĐẨY MẠNH TOÀN DIỆN CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI VÌ DÂN GIÀU, NƯỚC MẠNH, XÃ HỘI CÔNG BẰNG, DÂN CHỦ, VĂN MINH"

Về đầu trang


CÁC ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC TẾ CHÀO MỪNG

        ĐẠI HỘI MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM LẦN THỨ VII

 

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ VII, các đoàn đại biểu quốc tế đã có bài phát biểu chào mừng Đại hội. Qua đó đã ghi nhận và đánh giá vao vai trò của MTTQ Việt Nam trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Chúng tôi xin giới thiệu lược ghi phát biểu của các đoàn đại biểu quốc tế tại Đại hội.

 

* Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào xây dựng đất nước Si Sa Vạt Kẹo Bun Phăn: MTTQ Việt Nam đã có được những bước chuyển biến to lớn, dành được những thành tựu về mọi mặt

Dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, với sức mạnh trí tuệ của Nghị quyết Đại hội lần thứ X làm kim chỉ nam, đã tạo điều kiện để MTTQ Việt Nam đã có được những bước chuyển biến to lớn, dành được những thành tựu về mọi mặt, trước hết là việc tập hợp và đoàn kết toàn dân, tuyên truyền vận động, tranh thủ sự ủng hộ của các tổ chức xã hội, vận động người Việt Nam ở nước ngoài hướng về quê hương, lấy Mặt trận làm đại gia đình.

Ông Si Sa Vạt Kẹo Bun Phăn nhấn mạnh: MTTQ Việt Nam đã mở rộng các hoạt động đối ngoại nhân dân, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ, sự hợp tác toàn diện của các tổ chức Mặt trận, các nước bạn bè chiến lược, các tổ chức xã hội trong khu vực và trên thế giới, đã tạo được uy tín, vị thế của MTTQ Việt Nam ở  trong nước và trên trường quốc tế ngày càng cao...

 

* Phó Chủ tịch Chính hiệp Trung Quốc Trương Dung Minh: MTTQ Việt Nam là tổ chức Mặt trận thống nhất có tính đại diện rộng rãi của Việt Nam

Thay mặt đoàn đại biểu, bà Trương Dung Minh, Phó Chủ tịch Chính hiệp Trung Quốc bày tỏ lời chúc mừng nhiệt liệt tới Đại hội. Bà Trương Dung Minh nhấn mạnh: MTTQ Việt Nam là tổ chức mặt trận thống nhất có tính đại diện rộng rãi của Việt Nam, phát huy vai trò quan trọng trong đời sống chính trị quốc gia Việt Nam. 5 năm trở lại đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, MTTQ Việt Nam đã huy động nhân dân các dân tộc, các tôn giáo, các giai tầng và kiều bào Việt Nam tại hải ngoại cùng xây dựng xã hội đại đoàn kết dân tộc Việt Nam, tích cực nêu kiến nghị, hiến kế sách cho việc xây dựng và phát triển quốc gia, phát huy vai trò quan trọng cho sự hài hòa ổn định của xã hội và phát triển kinh tế của Việt Nam, đạt được những thành quả to lớn. Chính hiệp toàn quốc Trung Quốc thực sự vui mừng trước những thành tựu to lớn mà MTTQ Việt Nam đạt được.

Bà Trương Dung Minh cho rằng, Hội nghị Hiệp thương Chính trị nhân dân Toàn quốc Trung Quốc và MTTQ Việt Nam là  tổ chức mặt trận thống nhất do Đảng Cộng sản lãnh đạo, đứng trước những nhiệm vụ giống nhau trên các phương diện gìn giữ xã hội hài hòa, thúc đẩy kinh tế phát triển bình ổn, lành mạnh, cải thiện đời sống người dân; có nhiều kinh nghiệm và cách làm có thể cùng tham khảo lẫn nhau trong việc tham dự công việc chính trị quốc gia. Việc tăng cường giao lưu và hợp tác đôi bên có ý nghĩa trọng đại, có lợi cho nhân dân hai nước, tăng cường hiểu biết, có lợi cho củng cố tình hữu nghị truyền thống Trung-Việt, có lợi cho hợp tác song phương thiết thực trên các lĩnh vực. Cùng với việc quan hệ hai nước không ngừng phát triển, quan hệ qua lại giữ Chính hiệp Toàn quốc Trung Quốc và MTTQ Việt Nam chắc chắn sẽ thiết thực hơn, sâu sắc hơn, chắc chắn sẽ giành được những thành quả to lớn hơn nữa.

 

* Đoàn ủy ban Bảo vệ Cách mạng Cuba: Việt Nam đã có được một sự phát triển to lớn và vững chắc

Đại hội đại biểu toàn quốc là một sự kiện quan trọng huy động tất cả các lực lượng yêu nước nhằm hướng tới đoàn kết toàn dân để gìn giữ một cách vững chắc nền độc lập và sự thống nhất đất nước, cũng như vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Chúng tôi tin chắc rằng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trung thành với lịch sử vẻ vang của mình sẽ tiếp tục đóng góp tích cực vào vào mục tiêu trên, thực hiện di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh- người giữa đạn bom tàn phá và chết choc do đế quốc Mỹ gây ra đã khẳng định: “Kết thúc chiến tranh dân tộc chúng tôi sẽ xây dựng một đất nước Việt Nam hơn gấp 10 lần”.

Chúng tôi vui mừng nhận thấy chỉ trong một quá trình lịch sử ngắn nhưng nhờ áp dụng một cách phù hợp chính sách đổi mới, Việt Nam đã có được một sự phát triển to lớn và vững chắc trong mọi lĩnh vực kinh tế, đạt được nhiều thành tựu trong xuất khẩu và đầu tư; hiệu quả trong sản xuất, tăng thu nhập cho nông dân và đặc biệt là các tiến bộ trong giáo dục và y tế, điển hình là tại các vùng nông thôn và vùng núi. Trong hoàn cảnh hiện nay, chúng tôi ý thức được sự hy sinh và những nỗ lực hết mình của nhân dân Việt Nam trong đương đầu một cách thành công với khủng hoảng kinh tế thế giới...”.Năm 2010 sẽ tròn 50 năm kỷ niệm ngày thành lập Ủy ban Bảo vệ Cách mạng Cuba và ngày thiết lập các mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Cuba. Những người Cuba chúng tôi cảm thấy rất tự hào về các mối quan hệ hữu nghị và đoàn kết trong sáng, thiêng liêng giữa hai Đảng, hai Chính phủ và hai dân tộc Việt Nam và Cuba.

Chúng tôi nguyện cống hiến hết mình vào việc củng cố các mối quan hệ vững chắc trên mọi phương diện giữa Cuba và Việt Nam. Buổi gặp gỡ diễn ra giữa Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và Chủ tịch Raul Castro tại Hội nghị thượng đỉnh phong trào các nước Không Liên kết tại Ai Cập là một ví dụ minh chứng.

 

* Ông Min Khin, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hội đồng dân tộc Mặt trận đoàn kết Phát triển Tổ quốc Campuchia: MTTQ đã góp phần vào thực hiện những nhiệm vụ phục vụ Tổ quốc phát triển và nhanh chóng làm thay đổi bộ mặt đất nước

Nhân danh đoàn đại biểu, thay mặt Samdech Akka Moha Ponhea Chakrey Heng Samrin, Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch danh dự Đảng Nhân dân Campuchia kiêm Chủ tịch Hội đồng dân tộc Mặt trận Đoàn kết Phát triển Tổ quốc Campuchia, tôi vô cùng vui mừng và có vinh dự lớn lao được tham dự Đại hội lần thứ VII MTTQ Việt Nam để học hỏi những kinh nghiệm và kết quả hoạt động trong công tác vận động quần chúng của MTTQ đã góp phần vào thực hiện những nhiệm vụ phục vụ Tổ quốc phát triển và nhanh chóng làm thay đổi bộ mặt đất nước, đồng thời tăng cường và thắt chặt tình đoàn kết, hữu nghị, hợp tác giữa Mặt trận hai nước ngày càng vững mạnh hơn.

Nhân dân Campuchia và nhân dân Việt Nam đã từng cùng nhau trải qua bao khó khăn và thử thách trong vô vàn những sự kiện lịch sử của giai đoạn đấu tranh vì sự nghiệp độc lập, thống nhất và phát triển đất nước. Bắt nguồn từ tinh thần đó, ngày nay hai nước đã bước vào trang sử mới của lịch sử, có được hòa bình, toàn vẹn lãnh thổ, tiến bộ và đang tự tin tiến bước trong việc góp phần gìn giữ an ninh, hòa bình, hợp tác thinh vượng, phát triển kinh tế trong khu vực và trên thế giới.

Ông Min Khin nhấn mạnh: Qua phần đánh giá cụ thể của Đại hội MTTQ Việt Nam lần thứ VII và thông qua các chuyến thăm Campuchia của lãnh đạo Đảng, Mặt trận, Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, chúng tôi xin bày tỏ lòng khâm phục và lời chúc mừng nồng nhiệt đối với sự phát triển nhanh chóng trên mọi lĩnh vực của nước CHXHCN Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng Tổ quốc thu được nhiều thắng lợi. Thực tế, công cuộc xây dựng, bảo vệ tổ quốc để đất nước phát triển có an ninh, hòa bình, thống nhất dân tộc vững chắc, có nền kinh tế tiên tiến, nguồn nhân lực dồi dào dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam mà Việt Nam còn tích cực làm tròn nghĩa vụ quốc tế, thực hiện thành công sự hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới một cách đáng trân trọng.

Nhân dịp này, thay mặt Mặt trận và nhân dân Campuchia, tôi xin bày tỏ biết ơn chân thành và sâu sắc nhất và luôn ghi nhớ công ơn to lớn của Đảng, Nhà nước, Mặt trận, Quân đội và nhân dân Việt Nam với tinh thần đoàn kết sâu sắc vì sự nghiệp giải phóng nhân dân Campuchia hồi sinh và tiếp tục hỗ trợ xây dựng, tái thiết đất nước để có được an ninh hòa bình, phồn vinh như ngày nay.

 Doãn Hùng (lược ghi)

Về đầu trang


BAN THƯỜNG TRỰC UỶ BAN TRUNG ƯƠNG MTTQ VIỆT NAM KHOÁ VII

NHIỆM KỲ 2009 - 2014

 

 

Chủ tịch: Ông Huỳnh Đảm

 

Tiểu sử tóm tắt ông Huỳnh Đảm
Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt
Nam

 

- Họ và tên: HUỲNH ĐẢM (Bảy Đảm).

- Ngày sinh: 30/12/1948.

- Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không.

- Quê quán: xã Tân Thành, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Hiện thường trú tại: số 108 đường Lý Thường Kiệt, phường 7, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh.

- Trình độ: Cử nhân Kinh tế, cử nhân Luật, Cử nhân Chính trị.

- Chức vụ hiện nay: Uỷ viên BCH Trung ương Đảng, Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam .


Tóm tắt quá trình công tác

- Từ 1960 đến 9/1968: Tham gia cách mạng (làm liên lạc) ngay từ năm 12 tuổi trong phong trào đồng khởi năm 1960. Năm 1964 ông gia nhập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, lần lượt giữ các chức vụ: Bí thư chi đoàn ấp, Uỷ viên xã Đoàn, Thường vụ xã Đoàn Tân Lộc, huyện Thới Bình. Ngày 02/9/1968, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.


Sau khi vào Đảng, ông được cử làm cán bộ Huyện đoàn, rồi Uỷ viên Ban Chấp hành, Uỷ viên Thường vụ, Bí thư huyện Đoàn Thới Bình. Sau đó, ông là Uỷ viên Ban Chấp hành tỉnh Đoàn Cà Mau cho tới ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.


- Từ 30/4/1975 đến 12/1987:Giữ chức Thường vụ tỉnh Đoàn, Phó Bí thư tỉnh Đoàn, Bí thư tỉnh Đoàn, Tỉnh uỷ viên tỉnh Minh Hải. Ông được bầu là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đoàn, rồi Bí thư Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh khoá IV; đồng thời, là Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam và làm Hiệu trưởng Trường Đoàn Trung ương II.


- Từ 12/1987 đến năm 1994: Được phân công về công tác tại thành phố Hồ Chí Minh và được bầu làm Phó Bí thư, rồi Bí thư Quận uỷ quận 10, Uỷ viên Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh khoá V.


- Từ năm 1994 đến nay: Giữ các chức vụ: Uỷ viên Thường vụ Thành uỷ thành phố Hồ Chí Minh khoá VI; đại biểu HĐND thành phố, Phó Chủ tịch rồi Chủ tịch HĐND thành phố Hồ Chí Minh khoá V, khoá VI, Phó Bí thư Thành uỷ khoá VII. Đại biểu Quốc hội, Phó đoàn rồi Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hồ Chí Minh, Uỷ viên Uỷ ban Kinh tế-Ngân sách Quốc hội khoá X. Tháng 4/2001 ông được bầu là Uỷ viên BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá IX; đại biểu Quốc hội, Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội khoá XI; Tổng Thư ký Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam khoá V; Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam khoá VI.

Ngày 9/1/2008, ông được cử làm Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam đến nay. Tại đại hội VII MTTQ Việt Nam (28-30/9/2009) ông được tín nhiệm tái cử Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam.

Hiện nay, ông là Uỷ viên BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá X. Đại biểu Quốc hội, Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội khoá XII.

Trong quá trình công tác ông đã được lãnh đạo Đảng, Nhà nước khen thưởng: 1 Huân chương hạng Nhì, 3 Huân chương hạng Ba, Huân chương Đại đoàn kết dân tộc, nhiều Huy chương và Kỷ niệm chương.

 

Ông Vũ Trọng Kim
Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký
Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam

 

Các Phó Chủ tịch chuyên trách Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam khoá VII

 

 

Ông Lê Bá Trình

 

 Bà Hà Thị Liên

         Ông Hà Văn Núi

       

 

Ông Nguyễn Văn Pha

 

Ông Nguyễn Lam

Ông Trần Hoàng Thám

   

 

 
   

Bà Bùi Thị Thanh

 

Các Phó Chủ tịch không chuyên trách Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam khoá VII

Linh mục Nguyễn Công Danh
 Chủ tịch

Ủy ban Đoàn kết Công giáo VN

Ông Dương Quan Hà

Chủ tịch Ủy ban MTTQ TP. Hồ Chí Minh

Ông Phạm Xuân Hằng

Chủ tịch Ủy ban MTTQ TP. Hà Nội

Bà Hoàng Xuân Sính,  Chủ tịch Hội đồng quản trị trường Đại học dân lập Thăng Long

Hòa thượng Thích Trí Tịnh, Chủ tịch Hội đồng trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam

Ông Cư Hòa Vần, Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn về Dân tộc của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam

     

 

 Về đầu trang


 DANH SÁCH UỶ BAN TRUNG ƯƠNG MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM KHOÁ VII

NHIỆM KỲ 2009 - 2014

1. Ông Phạm Quốc Anh, Chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam 

2. Ông Lê Thúc Anh, Chủ tịch Liên Đoàn Luật sư Việt Nam 

3. Ông Lê Vũ Anh, Phó Chủ tịch Hội Y tế công cộng Việt Nam 

4. Ông  Nguyễn Quốc Cường, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam 

5. Ông Ngô Thế Dân, Phó Chủ tịch Thường trực Hội làm vườn Việt Nam

6. Linh mục Nguyễn Công Danh, Chủ tịch Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam 

7. Ông Lê Ngọc Dũng, Chủ tịch Hội Mỹ nghệ- Kim hoàn- Đá quý Việt Nam  

8. Ông Nguyễn Bá Duyệt, Phó Chủ tịch Hội Cứu trợ Trẻ em  tàn tật Việt Nam 

9. Ông Phạm Minh Hạc, Chủ tịch Hội Cựu giáo chức Việt Nam 

10. Ông  Bùi Mạnh Hải, Chủ tịch Hội liên lạc với người VN ở nước ngoài.

11. Ông Hồ Ngọc Hải, Chủ tịch Hội Nước sạch và Môi trường Việt Nam 

12. Ông  Trần Hanh, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam   

13. Bà Nguyễn Thị Thanh Hoà, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội  Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. 

14. Ông Vũ Xuân Hồng, Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức Hữu nghị Việt Nam

15. Ông  Bùi Văn Huấn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Tổng  cục Chính  trị  QĐND Việt Nam.

16. Bà Hà Thị Khiết, Bí thư Trungương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương Đảng   

17. Ông Dương Trung Quốc, Tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử Việt Nam 

18. Bà Vũ Giáng Hương,  Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam

19. Ông Nguyễn Xuân Hướng, Chủ tịch Hội Đông y Việt Nam 

20. Ông  Đinh Thế Huynh, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam   

21. Ông Cao Sỹ Kiêm, Chủ tịch Hiệp Hội  doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam  

22. Ông Nguyễn Kiểm, Chủ tịch Hội Xuất bản Việt Nam    

23. Ông Hồ Uy Liêm, Q. Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học - kỹ thuật Việt Nam

24. Ông Nguyễn Anh Liên, Chủ tịch Hội  Cựu Thanh niên xung phong Việt Nam

25. Ông Nguyễn Đình Liêu, Chủ tịch Hội Bảo trợ Người tàn tật và trẻ mồ côi  Việt Nam     

26. Ông Nguyễn Phước Lộc, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam   

27. Ông  Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

 28. Mục sư Nguyễn Hữu Mạc, Hội trưởng Hội Thánh Tin lành Việt Nam (Miền Bắc)

29. Ông  Đỗ Phượng, Chủ tịch Hội Sinh vật cảnh Việt Nam   

30. Ông  Trần Hồng Quân, Chủ tịch Hiệp Hội các trường ĐH và CĐ ngoài công lập Việt Nam 

31. Ông Nguyễn Tiến Quân, Chủ tịch Liên minh các hợp tác xã Việt Nam 

32. Ông Trần Vinh Quang, Chủ tịch Hiệp Hội  SXKD của người tàn tật Việt Nam     

33. Ông Nguyễn Văn Rinh, Chủ tịch Hội  nạn nhân chất độc da cam -Dioxin Việt Nam   

34. Ông  Đào Soát, Chủ tịch Hội Người mù Việt Nam   

35. Ông Phạm Song, Chủ tịch Tổng Hội  Y học Việt Nam   

36. Ông Trần Ngọc Tăng, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam 

37. Ông Nguyễn Việt Thắng, Chủ tịch Hội Nghề cá Việt Nam 

38. Ông Nguyễn Tài Thu, Chủ tịch Hội Châm cứu Việt Nam 

39. Ông Nguyễn Trung Thực, Chủ tịch Hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt - Đức

40. Ông  Võ Văn Thưởng, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Bí thư thứ nhất TW Đoàn TNCS Hồ Chí Minh 

41. Hoà thượng Thích Trí Tịnh, Chủ tịch Hội đồng trị sự TW  Giáo hội Phật giáo Việt Nam   

42. Ông  Nguyễn Tấn Trịnh, Chủ tịch Hội Người cao tuổi Việt Nam 

43. Ông Nguyễn Thiện Trưởng, Chủ tịch Hội  Kế hoạch hoá Gia đình Việt Nam 

44. Ông  Vũ Quốc Tuấn, Chủ tịch Hiệp Hội  Làng nghề Việt Nam 

45. Ông Đặng Ngọc Tùng, Ủy viên TƯ Đảng, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam     

46. Ông Phan Thanh Ba, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Đắc Nông   

47. Ông Phan Thanh Bình, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Kiên Giang   

48. Ông Huỳnh Nam Bình, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Bến Tre  

49. Bà Hoàng Thị Bình, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Cao Bằng     

50. Ông Kiều Như Bổn, Chủ tịch UBMTTQ Ninh Thuận    

51. Ông Phạm Minh Chánh, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Khánh Hòa   

52. Bà Trương Thị Chi, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh  Bà Rịa - Vũng Tàu 

53. Ông Nguyễn Thanh Dân, Chủ tịch UBMTTQ tỉnh An Giang.

54. Ông  Từ Văn Diện, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Hà Tĩnh     

55. Ông Ma Từ Đông Điền, Chủ tịch UBMTTQ tỉnh Bắc Kạn   

56. Ông  Nguyễn Phụ Đông, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Bắc Ninh 

57. Ông Thạch Dư, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Trà Vinh             

58. Ông  Phan Minh Đức, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Tây Ninh  

59. Ông  Trần Văn Gôm, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Bình Phước   

60. Ông Dương Quan Hà, Chủ tịch UB MTTQ thành phố Hồ Chí Minh 

61. Ông Tống Văn Bé Hai, Chủ tịch UBMTTQ  tỉnh Tiền Giang 

62. Ông Trương Quang Hai, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Bình Thuận 

63. Ông Phạm Xuân Hằng, Chủ tịch UB MTTQ thành phố Hà Nội 

64. Ông  Y Déc H’Dơk, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Đắc Lắc   

65. Ông Đặng Quang Hồng, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Vĩnh Phúc 

66. Ông Nguyễn Thế Hùng, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Bắc Giang         

67. Ông Nguyễn Thái Hùng, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Thái Bình          

68. Ông Phạm Quốc Huynh, Chủ tịch UB MTTQ thành phố Hải Phòng 

69. Ông Bá Thanh Kia, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Phú Yên   

70. Ông  Sí Xuân Kìn, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Lào Cai      

71. Ông Lê Văn Lai, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Quảng Nam        

72. Bà Nông Thị Lâm, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Lạng Sơn      

73. Ông Phan Quang Lãm, Chủ tịch UB MTTQ  thành phố  Cần Thơ 

74. Bà  Nay Lan, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Gia Lai   

75. Bà Nguyễn Thị Kim Liên, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Đồng Nai 

76. Ông  Lương Văn Luyến, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Quảng Bình 

77. Ông  Nguyễn Hồng Nhị, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Nghệ An            

78. Ông Quảng Trọng Ninh, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Bạc Liêu    

79.Bà  Đào Ngọc Nữ, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Bình Dương     

80. Ông Tẩn Vản Pao, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh  Lai Châu   

81.Ông Thào Sếnh Páo, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Sơn La   

82. Ông  Đinh Quang Phòng, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Hòa Bình          

83.Ông Trần Phùng, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Thừa Thiên - Huế 

84.Ông Nguyễn Hải Quân, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Đồng Tháp 

85. Ông  Phạm Hồng Quang, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Ninh Bình  

86.Ông  Nguyễn Thanh Quang, Chủ tịch UB MTTQ thành phố  Đà Nẵng 

87. Ông  Thạch Kim Sêng, Chủ tịch UBMTTQ tỉnh Sóc Trăng  

88. Ông Lương Trọng Thái, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Hà Nam   

89. Ông  Nguyễn Chí Thăng, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Quảng Ninh 

90.Ông Phạm Xuân Thăng, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Hải Dương   

91.Ông Hồ Ngọc Thắng, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Lâm Đồng.        

92. Ông Nguyễn Đình Thanh, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Bình Định 

93. Ông Trịnh Minh Thành, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Cà Mau   

94. Ông Lương Bằng Thiên, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh  Hậu Giang 

95. Ông Lương Trung Thông, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Quảng Trị      

96. Ông Hà Văn Thương, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Thanh Hóa         

97.Ông  Bùi Tân Tiến, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Nam Định     

98. Ông Trần Phù Tiêu, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Phú Thọ     

99. Ông  Giàng A Tính, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh  Điện Biên           

100. Ông  Bàn Xuân Triều, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Tuyên Quang 

101. Ông Đào Quốc Trịnh, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Hưng Yên    

102. Ông  Trần Bình Trọng, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Kon Tum          

103. Ông Võ Lê Tuấn, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Long An     

104. Ông Nguyễn Minh Tuấn, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Quảng Ngãi

105.Ông Nguyễn Thanh Tùng, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Thái Nguyên 

106. Ông  Lê Văn Ửng, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Vĩnh Long   

107. Ông  Sùng A Vàng, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Yên Bái   

108. Ông  Bàn Đức Vinh, Chủ tịch UB MTTQ tỉnh Hà Giang          

109. Ông Trần Đông A, Nguyên PGĐ BV Nhi đồng 2 - TP. Hồ Chí Minh     

110. Ông Phan Kế An, Uỷ viên Hội  Mỹ Thuật Việt Nam   

111. Ông Trần Thoại Duy Bảo, Nguyên Viện trưởng phân viện Vật lý tại TP. Hồ Chí Minh 

112. Bà Phạm Thanh Bình, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Công nghệ và phát triển     

113. Ông Ngô Huy Cẩn, Phó Chủ tịch Hội  Cơ học thuỷ khí Việt Nam       

114. Ông Nguyễn Hữu Có, Nguyên BT Bộ QP chính quyền Sài Gòn 

115. Ông Trịnh Anh Cơ, Tổng thư ký Hội Trắc địa bản đồ viễn thám Việt Nam  

116. Bà Nguyễn Thị Kim Cương,  Phó Chủ tịch Hội bảo trợ người tàn tật và trẻ mồ côi TP. Hồ Chí Minh 

117. Ông Lê Dân, Nghệ sỹ ưu tú, Đạo diễn điện ảnh     

118. Ông Nguyễn Ngọc Đào, Phó Trưởng khoa đào tạo, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh 

119. Ông Đàm Trung Đồn, Nguyên chủ nhiệm bộ môn Vật lý- Đại học Quốc gia Hà Nội 

120. Ông  YA Đuck, Phó Chủ tịch UBMTTQ  tỉnh Lâm Đồng   

121. Ông Nguyễn Đăng Dung, Giảng viên khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội        

122. Ông Ninh Viết Giao, Chủ tịch Hội Văn nghệ Dân gian tỉnh Nghệ An.      

123. Ông Nguyễn Hữu Hạnh, Nhân sỹ thành phố Hồ Chí Minh   

124. Ông Phan Hòa, Chủ tịch Công đoàn Đại học Huế   

125. Bà Khuất Thu Hồng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển Xã hội  

126. Ông  Phạm Ngọc Hùng, Nhân sỹ Thành phố Hồ Chí Minh  

127. Ông Quách Sỹ Hùng, Giảng viên Viện Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị- Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh     

128. Ông Phạm Khiêm Ích, Nguyên Phó Viện trưởng Viện Thông tin Khoa học- Xã hội

129. Bà Linh Nga Niê Kdam, Nhà nghiên cứu Văn hóa dân gian Tây Nguyên

130. Ông Nguyễn Xuân Khang, Hiệu trưởng Trường Dân lập Mari Quyri – Hà Nội 

131. Bà Bùi Thị Lạng, Chuyên viên KH  Sở KHCN và Môi trường TP. Hồ Chí Minh

132. Bà Trần Thị Lành, Viện trưởng Viện sinh thái - Chính sách Xã hội 

133. Ông Trần Đình Long, Viện sĩ - Chủ tịch Hội Giống cây trồng Việt Nam

134. Ông Lê Mã Lương, Thiếu tướng anh hùng lực lượng vũ trang,  Giám đốc Bảo tàng lịch sử  Quân sự Việt Nam

135. Ông Trương Hán Minh, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Mỹ thuật  TP. Hồ Chí Minh    

136. Ông Phạm Duy Nghĩa, Trưởng bộ môn Luật - Kinh doanh - Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội 

137. Ông Hồ Ngọc Nhuận, Nhân sỹ TP. Hồ Chí Minh  

138. Ông Đinh Bằng Phi, Nghệ sĩ nhân dân - Hội sân khấu TP. Hồ Chí Minh  

139. Ông  Cao Xuân Phổ, Ủy viên Ban chấp hành Hội khoa học Đông Nam Á 

140. Ông  Trình Quang Phú, Viện trưởng  Viện Nghiên cứu phát triển phương  Đông   

141. Bà Nguyễn Thị Minh Phương, Cán bộ nghiên cứu Viện Khoa học giáo dục Việt Nam 

142. Bà  Nguyễn Thị Ngọc Phượng, Nguyên Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ, TP. Hồ Chí Minh  

143. Bà Lương Tú Quyên, Phó chủ nhiệm khoa Quy hoạch- Đại học Kiến trúc. 

144. Ông Phạm Bích San, Tổng thư ký Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam

145. Bà Hoàng Xuân Sính, Chủ tịch HĐQT trường Đại học dân lập Thăng Long. 

146. Bà Trần Thị Ngọc Sơn, Phó Trưởng phòng Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long 

147. Ông Chu Phạm Ngọc Sơn, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh 

148. Bà Nguyễn Ngọc Sương, Nhà giáo ưu tú, nguyên giảng viên đại học Khoa học tự nhiên TP. Hồ Chí Minh 

149. Ông Trần Văn Tấn, Nhà giáo nhân dân, nguyên giảng viên đại học sư phạm TP. Hồ Chí Minh   

150. Ông Trần Hữu Thăng, Phó Chủ tịch Tổng Hội Y học Việt Nam 

151. Ông Lương Tấn Thành,  Nguyên Trưởng khoa Hóa sinh Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội   

152. Ông Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam   

153. Ông Ca Lê Thuần, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật TP. Hồ Chí Minh

154. Ông Trần Công Toại, Viện trưởng viện Công nghệ và quản trị thành phố Hồ Chí Minh   

155. Ông Lều Thọ Trình, Nguyên giảng viên Trường Đại học xây dựng Hà Nội 

156. Ông Lý Chánh Trung, Nhân sỹ TP Hồ Chí Minh

157. Ông Nguyễn Thành Trung, Anh hùng lực lượng vũ trang, Nguyên Phó Tổng giám đốc Tổng Cty Hàng không Việt Nam

158. Bà  Lương Thị Trường, Giám đốc Trung  tâm vì sự phát triển bền vững miền núi 

159. Ông Trần Tý, Giám đốc TT Địa Môi trường- Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam   

160. Ông Nguyễn Văn Vy, Nguyên Hiệu trưởng trường Văn hóa nghệ thuật  tỉnh Đồng Nai.    

161. Ông  Y Brơm, Nguyên Phó giám đốc Sở Văn hoá Thông tin tỉnh Gia Lai 

162. Bà Trương Thị Bẩy, Ủy viên UBMTTQ tỉnh Vĩnh Phúc  khóa VIII 

163. Bà Nguyễn Thị Bích, Ủy viên Ban chấp hành Hội Phụ nữ thị trấn Kỳ Sơn, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình 

164. Bà H’Hoa Byă, Bí  thư  tỉnh  đoàn TNCS  TP. Hồ Chí Minh tỉnh  Đắc Lắc. 

165. Bà Phù Thị Chuyên, Chi hội trưởng hội Phụ nữ thôn Trung Sơn, xã  Hữu Sản, Bắc Quang, Hà Giang.  

166. Ông Điểu Hà Điệp, Người tiêu biểu xã Thọ Sơn, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

167. Ông Cao Lê Đức, Người tiêu biểu thôn Ông Chinh, xã Hóa Tiến huyện Minh Hóa Tỉnh Quảng Bình 

168. Bà Bờ Ríu Thị Gươnh, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam    

169. Bà Phạm Thị Hạ, Kế toán xí nghiệp bao bì Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu tỉnh Nghệ An

170. Bà Hầu Thị Hồng, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Tân Hương, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái.

171. Bà Ka Lệ Hợp, Ủy viên Ban Thường vụ Hội LHPN huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.     

172. Bà Diệp Thị Huyền, Cán bộ Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên     

173. Bà Đàng Thị Mỹ Hương, Hiệu trưởng Trường Dân tộc Nội trú  tỉnh Ninh Thuận     

174. Bà Đinh Thị Thu Hương, Phó Chủ tịch MTTQ  huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi.   

175. Bà Ma Hương, Giáo viên trường THPT xã  DRó, huyện  Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng.   

176. Bà Rơ Chăm H’Yeo, Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh tỉnh Gia Lai   

177. Bà Y Lan, Trưởng Phòng y tế huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum 

178. Bà Lý Thị Liền, Phó Chủ tịch HĐND xã Mường Hum, huyện Bát Sát, Lào Cai 

179. Bà Củng Thị Mẩy, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang 

180. Ông A Minh, Phó Chủ tịch UBMTTQ xã Mô Rai, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum     

181. Ông Vương Đức Minh, Chủ tịch Liên đoàn lao động huyện Xín Mần tỉnh Hà Giang   

182. Bà Phùng Lê Na, Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Phụ nữ huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. 

183. Ông Xeo Văn Nam, Bí thư Đảng uỷ xã Bắc Lý, huyện Kỳ Sơn, tỉnh  Nghệ An. 

184. Bà Lồ Thị Hồng Nhinh, Cán bộ Trung tâm Y tế dự phòng huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. 

185. Bà Y Pan, Người tiêu biểu xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum. 

186. Ông Lường Văn Pẩu, Phó Chủ tịch MTTQ xã Noong  Lay, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. 

187. Bà Tao Thị Pêm, Người tiêu biểu xã  Bản Hon, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu.   

188. Ông Cao Phai,  Người tiêu biểu huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận. 

189. Bà Lò Thị Phấn, Người tiêu biểu xã Xiêng Pằn, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.

190. Bà Chi Thị Phiến, Người tiêu biểu xóm Khuổi Khom xã Kim Cúc huyện Bảo Lạc tỉnh Cao Bằng 

191. Bà Vì Thị Phượng, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện  Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.     

192. Bà Giàng Cố Phượng, Chi Hội trưởng Hội Nông dân bản Xeo Hay, xã Can Hồ, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. 

193. Ông Lợi Hồng Sơn, Nguyên Trưởng khoa phẫu thuật Nhi, bệnh viện Việt - Đức 

194. Ông Hoàng Văn Sương, Phó trưởng Ban Tổ chức Huyện ủy Mường La, tỉnh  Sơn La.   

195. Ông Hồ Văn Thà, Cán bộ Quản lý điện tại trung tâm huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam 

196. Bà Chang Thị Hồng Thanh, Cán bộ Trung tâm Y tế Huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.   

197. Bà Vương Thị Thảo, cán bộ xã Túng Sán, huyện  Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang.     

198. Ông Điểu Thiệt, Chủ trang trại xã Đồng Nơ, huyện Bình Long, tỉnh Bình Phước.     

199. Ông Côn Thương, Chủ tịch MTTQ huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị. 

200. Bà Chang Thị Thuỷ, Phó Chủ tịch Hội Phụ nữ xã Nậm Khao, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu

201. Ông Lô Xuân Tình, Phó Chủ tịch Hội Nông dân xã Kim  Đa, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. 

202. Ông Sìn Văn Toán, Cán bộ chuyên trách UBMTTQ huyện Sìn Hồ tỉnh Lai Châu. 

203. Ông  Đinh Văn Trung, Trạm Phó Khuyến nông, huyện Sơn Hà tỉnh Quảng Ngãi     

204. Ông Thổ Út, Ủy viên Thường trực UBMTTQ tỉnh Đồng Nai 

205. Ông Hồ Thanh Xoa, Chủ tịch Hội Người cao tuổi xã A Ngo, huyện A Lưới,  tỉnh Thừa Thiên - Huế.   

206. Bà Bàn Thị Xuyên,  Bác sĩ Viện Điều dưỡng Phục hồi chức năng TP Bắc Giang, Bắc Giang   

207. Chánh Phối sư Huỳnh Văn Bảy, Trưởng Ban TT Hội thánh Cao đài Tiên Thiên      

208. Ông Tống Hồ Cầm, Phó viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh    

209. Linh mục Thiện  Cẩm,  Phó Chủ tịch  Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam

210. Linh mục Trần Mạnh Cường, Chủ tịch Ủy Đoàn kết Công giáo tỉnh Đắc Lắc     

211. Ông Nguyễn Tấn  Đạt, Phó Trưởng ban thường trực Ban Trị sự Trung ương Phật giáo Hoà Hảo. 

212. Bà Nguyễn Thị Ngọc Điệp, Chánh Hội trưởng, trưởng ban quản lý Thánh Đức Tổ Đình Cao đài Chiếu Minh Tam Thanh 

213. Đại trưởng lão Trần Tích Định, Hội trưởng Ban Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Đường Nam Tông Minh Sư đạo 

214. Ông Bùi Văn Đương, Phó ban Trị sự Trung ương Phật giáo Hoà Hảo 

215. Hòa thượng Thích Thiện Duyên, Trưởng ban Hướng dẫn phật tử Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam   

216. Mục sư Y Ky Ê Ban, Ban Đại diện Tin Lành tỉnh Đắc Lắc

217. Linh mục Nguyễn Văn Hậu, Phó Chủ tịch Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam, Chủ tịch Ủy ban Đoàn kết Công giáo tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu   

218. Linh mục Nguyễn  Đức Hiệp, Phó Chủ tịch Ủy ban Đoàn kết  Công giáo Việt Nam   

219. Nữ tu Bùi Thị Hồng Hạnh, Phó Chủ tịch Ủy ban Đoàn kết Công  giáo TP Hồ Chí Minh   

220. Ông Nguyễn Phương Hiếu, Hội trưởng Ban Trị sự Trung ương Tịnh độ Cư sĩ Phật hội   

221. Mục sư  Vũ  Quang  Huyên, Mục sư, quản nhiệm Hội Thánh tin lành TP. Nam Định   

222. Mục sư Phùng Quang  Huyến, Phó Hội trưởng Hội Thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) 

223 Linh  mục Nguyễn Tấn Khoá, Phó Chủ tịch không chuyên trách UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa VI 

224. Ni trưởng Thích nữ Ngoạt Liên, Ủy viên thủ quỹ Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam 

225. Sư cô Thích nữ Tín Liên,  Uỷ viên Ban Giáo dục Tăng ni Giáo hội Phật giáo Việt Nam   

226. Ông Nguyễn Văn Lộ, Phó ban trị sự đạo Bửu Sơn Kỳ Hương 

227. Nữ tu Nguyễn Thị Mỹ, Phó Chủ tịch Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam 

228. Chánh Phối sư Võ Văn Nho, Trưởng Ban TT Hội thánh Cao đài Ban chỉnh đạo.

229. Hòa thượng Dương Nhơn,  Phó  Chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam

230. Hòa thượng Thích Từ Nhơn, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam 

231. Hòa thượng Đào  Như, Trưởng Ban Trị sự Phật giáo thành phố Cần Thơ 

232. Hòa thượng Danh Nhưỡng, Phó Pháp chủ Giáo hội  Phật giáo Việt Nam, Trưởng Ban trị sự Phật giáo Khơ me tỉnh Kiên Giang. 

233. Linh mục Dương Phú Oanh, Phó Chủ tịch Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam     

234. Hòa thượng Thích Trí Quảng, Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Trưởng ban trị sự thành hội Phật giáo TP. Hồ Chí Minh  

235. Hòa thượng Thích  Thanh  Sam, Trưởng  ban Trị sự tỉnh Hội phật giáo tỉnh  Bắc Ninh   

236. Ông  Haji Idrí lsmail, Trưởng ban Ban đại diện cộng đồng Hồi giáo TP. Hồ Chí Minh   

237.  Linh mục Phan  Đình  Sơn, Chủ tịch Ủy  ban  Đoàn  kết Công  giáo Việt Nam thành  phố  Cần Thơ 

238. Hoà thượng Thích Thiện Tâm, Uỷ viên thường trực Hội đồng Trị sự, phó ban Hoằng pháp Giáo hội Phật giáo Việt Nam 

239.  Thái đầu sư Trần Đức Tăng, Trưởng ban thường trực Hội thánh Cao đài Minh Chơn Đạo.   

240. Hòa Thượng Thích Giác Toàn, Phó Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam     

241. Hòa Thượng Thích  Đức Thanh, Phó trưởng ban Trị sự Phật giáo tỉnh Thừa Thiên - Huế   

242. Phối sư Thượng Hậu Thanh, Chức sắc lãnh đạo Hội  thánh Truyền giáo Cao Đài     

243. Đầu sư Thượng Tám Thanh, Chưởng quản  Hội  thánh Cao đài Tây Ninh

244. Ông Nguyễn Hữu Nghi, Phó Ban vận động đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa

245. Hòa thượng Thích Chơn Thiện, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam 

246. Ông Phạm Trung Thứ, Trưởng ban Quản lý Minh Lý Đạo- Tam Tông Miếu

247. Ông Nguyễn Văn Thuận, Ủy viên Thường trực Ban Trị sự Trung ương Phật giáo Hòa hảo Trưởng ban đại diện tại tỉnh Đồng Tháp.

248. Ông Nguyễn Thức, Chủ tịch Hội đồng tinh thần tôn giáo Baha’i Việt Nam 

249. Hòa Thượng Thích Thanh Tứ, Phó Chủ nhiệm HĐTV Tôn giáo của UBTWMTTQ Việt Nam. 

250. Linh mục Phan Khắc Từ, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam 

251. Hòa thượng Thích Phổ Tuệ, Tu sĩ phật giáo, Pháp chủ Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam 

252. Hòa Thượng Thích Quảng Xả, Ủy viên Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Trưởng ban  Trị sự Phật giáo tỉnh Kon Tum   

253. Hòa thượng Thạch  Sok Xane, Phó Chủ tịch TT Hội đoàn kết sư sãi yêu nước tỉnh Trà Vinh. 

254. Bà Đồng Thị Ánh, Giám đốc Công ty TNHH Ánh Vy- Bình Định 

255. Ông Nguyễn Văn Bình, Tổng Giám đốc Công ty Thép HPS-Thành phố Hải Phòng   

256. Ông  Phạm Đức Bình, Chủ tịch HĐQT Cty TNHH Thanh Bình, tỉnh Đồng Nai.     

257. Ông Lê Hải Châu, Tổng Giám đốc Công ty Tài Chính, đầu tư, xây dựng Chu Việt - TP. Hồ Chí Minh 

258. Ông Nguyễn Văn Đệ, Chủ tịch Hội Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa tỉnh Thanh Hoá     

259. Ông Phạm Đình Đoàn, Chủ tịch Hội Doanh nghiệp trẻ Hà Nội, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Phú Thái 

260. Ông Phạm Văn Du, Chủ nhiệm Hợp tác xã dịch vụ Duy Sơn 2- huyện Duy Xuyên, Quảng Nam 

261. Ông Vũ Mạnh Hà, Tổng Giám đốc Công ty CPCN Tàu thủy và xe máy ViNaShin   

262. Ông Triệu Quốc Huân, Chủ nhiệm HTX Ngôi Sao Sáng,  thị xã Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng 

263. Bà Phạm Thị Diệu Hiền, Giám đốc Cty TNHH XDTM Diệu Hiền tại TP Cần Thơ.   

264. Ông Đỗ Quang Hiển, Tổng Giám đốc Cty Điện tử - Điện máy T&T, tại Hà Nội        

265. Ông Đoàn Văn Hợi, Chủ nhiệm HTXNN xã Nghĩa Hồng, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định 

266. Ông Trần Khắc Hùng, Chủ tịch HĐQT các công ty thuộc Tập đoàn SARA 

267. Bà Nguyễn Thị Thu Hường, Giám đốc Công  ty TNHH Hướng Dương- Cát Bà, thành phố Hải Phòng.   

268. Bà Nguyễn Thị Nguyệt Hường, Tổng Giám đốc Công  ty Cổ phần tập đoàn Đầu tư phát triển Việt Nam    

269. Ông  Đặng Văn Khoa, Chủ tịch HĐQT Cty Việt Văn Khoa Sài Gòn                

270. Ông Nguyễn Chánh Khê, Doanh nhân khu công nghệ cao TP. Hồ Chí Minh 

271. Bà Phạm Thị Mỹ Lệ, Giám đốc Công ty TNHH Mỹ Lệ tỉnh Bình Phước 

272. Ông Đỗ Long, Tổng Giám đốc Cty SX HTD Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh

273. Ông Lý Ngọc Minh, Tổng Giám đốc cty TNHH Minh Long, tỉnh Bình Dương.   

274. Ông Huỳnh Văn Minh, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh 

275. Ông Huỳnh Hữu Nghĩa, Chủ nhiệm HTX gốm sứ Thái Dương, tỉnh Đồng Nai.      

276. Ông Tài Phương, Chủ tịch Công ty Bắc Mỹ tại TP. Hà Nội  

277. Bà Huỳnh Thị Ri, Giám đốc Quỹ  tín dụng Nhân dân Mỹ Bình- tỉnh An Giang.     

278. Ông  Nguyễn Trường Sơn, Chủ tịch Hội doanh nghiệp trẻ tỉnh Bắc Giang 

279. Ông Hà Văn Thắm, Chủ tịch Hiệp hội Công thương thành phố Hà Nội 

280. Ông Võ Quốc Thắng,  Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Đồng Tâm, Chủ tịch Hội Doanh nghiệp trẻ Việt Nam   

281. Ông Trần Văn Thành, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc công ty cổ phần DIPLOMAT 

282. Ông Trần Kim Thành, Chủ tịch HĐQT, Tổng Giám đốc Công ty Kinh Đô, TP. Hồ Chí Minh   

283.  Vưu Khải Thành, Tổng giám đốc Tổng Cty Bình Tiên ( Bitis)

284. Ông Đặng Văn Thành, Chủ tịch HĐQT Ngân hàng TMCP Sài gòn Thương tín

285. Bà Đào Thu Thảo, Chủ tịch Công ty Cổ phần Tập đoàn Hưng Thịnh phát 

286. Ông  Đào Lê Thảo, Giám đốc Cty TNHH Dịch vụ Công nghệ Mạng, Hà Nội 

287. Ông Lê Ngọc Thiệp, Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành công ty TNHH MTV-  Điện lực Hải Phòng

288. Ông Đỗ Hoàng Thiệu, Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng cổ phần Việt Á 

289. Ông Nguyễn Gia Thọ, Chủ nhiệm Hợp tác xã Song Long- thành phố Hà Nội 

290. Ông Vũ Văn Tiền,  Chủ tịch HĐQT, Tổng Giám đốc Cty cổ phần XNK tổng hợp Hà Nội.

291. Bà Nguyễn Thị Huệ Trinh, Tổng Giám đốc Cty TNHH SX-TM-DV Thuận An     

292. Ông Trần Quang Tuấn, Giám đốc Công ty xây lắp & công nghiệp tàu thủy Miền Trung   

293. Ông Đào Hồng Tuyển, Chủ tịch HĐQT Công ty Du lịch Tuần Châu, tỉnh Quảng Ninh.   

294. Ông Phương Hữu Việt, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Tập đoàn đầu tư Việt Phương   

295. Bà Trương Kim Anh, Giám đốc Đối ngoại Cty Thương mại hải sản bang Texas, Cố vấn đối ngoại cộng đồng người Châu Á của  Bộ Tư pháp Hoa Kỳ 

296. Ông Nguyễn Trọng Bình, Tiến sĩ- Trung tâm Nghiên cứu phát triển toàn cầu PFIZER, California, Hoa Kỳ 

297.Ông Châu Văn  Chi, Ủy viên BTV Hội hữu nghị Việt Nam - Căm pu chia   

298. Ông Nguyễn Quý Đạo, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp   

299. Ông Hoàng Văn Diểu, Chủ tịch Hội Người Việt Nam tại Lào 

300. Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Chủ tịch Hội hỗ trợ Phụ nữ và TN  Việt Nam tại Đức     

301. Ông Đỗ Xuân Hoàng, Phó Chủ tịch Hội Người Việt Nam tại Liên bang Nga

302. Ông Hoàng Lộc, Phó Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Anh 

303. Ông Nguyễn Thành Mỹ, Chủ  tịch  Công ty American  Dye  Sou rce- Canađa  

304. Ông Hà Thuỷ Nguyên, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Hà Thuỷ Nguyên, Kiều bào tại Newzealand. 

305. Ông Trần Bá Phúc, Luật sư- Chủ tịch Hội Việt Kiều thành phố Melbourne- Australia   

306. Ông Cao Văn San, Chủ tịch Hội người Việt Nam tỉnh Sakon Nakhon- Thái Lan

307. Ông Lê Văn Tâm, Giám đốc Công ty Vinaseiko, Hội viên Tổng hội người Việt Nam tại Nhật   

308. Ông Nguyễn Văn Thái, Chủ tịch Hội Người Việt Nam tại  Ba Lan “Đoàn kết và Hữu nghị” 

309. Ông Hoàng Đình Thắng, Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Séc 

 310. Ông Ngô Xuân Thanh,  Kiều bào tại Đan Mạch. 

311. Bà Phan Bích Thiện, Chủ tịch Hội Phụ nữ Việt Nam tại Hunggary 

312. Bà Phạm Thị Trân Châu, Phó Chủ nhiệm HĐTV về KH- GD  của UBTƯ MTTQ Việt Nam  

313. Ông Hồ Ngọc Cứ, Phó Chủ nhiệm HĐTV về Dân chủ pháp luật của UB TƯ MTTQ Việt Nam

314. Ông Lưu Văn Đạt, Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn Dân chủ pháp luật của UBTƯMTTQ Việt Nam.   

315. Ông Phan Đình Diệu, Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn về KH - GĐ của UBTƯ MTTQ Việt Nam.  

316. Ông Nguyễn Lân Dũng, Phó Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn về KH - GD của UBTƯ MTTQ Việt Nam. 

317. Ông  Lê Ngọc Dũng, Chủ tịch Hội thân nhân kiều bào thành phố Đà Nẵng. 

318. Ông Trần Ngọc Đường, Chuyên gia cao cấp Văn phòng Quốc hội.   

319. Ông Trần Hậu, Nguyên Tổng biên tập Tạp chí Mặt trận.     

320. Ông Lê Minh Hiền, Ủy viên  Thường trực UBTƯ MTTQ VN  khoá VI. 

321. Ông Đỗ Quang Hưng, Giảng viên khoa Khoa học chính trị Trường Đại học Khoa hoc xã hội và nhân văn.   

322. Ông  Nguyễn Minh Hồng, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu ứng dụng tiến bộ y học Việt Nam. 

323. Bà Y Mưởi, Phó Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Kon Tum.     

324. Đại đức  Danh  Lung, Ủy viên Hội đồng tư vấn về Văn hoá của UBTƯMTTQ Việt Nam.

325. Ông Nguyễn Ngọc Minh, Thầy thuốc nhân dân - Nguyên Chủ tịch Liên hiệp các hội KHKT TT- Huế.   

326. Ông Trương Công  Phú, Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn Kinh tế của UBTƯ MTTQ Việt Nam.     

327. Ông Trần Đình Phùng, Ủy viên  Thường trực UBTƯ MTTQ Việt Nam  khóa VI      

328. Ông Lù Văn Que, Phó Chủ nhiệm HĐTV về Dân tộc của UBTƯ MTTQ  Việt Nam.

329. Ông Nguyễn Duy Quý, Chủ nhiệm HĐTV về Văn hoá của UBTƯ MTTQ Việt Nam.     

330. Ông Đỗ Tấn Sĩ, Phó Chủ tịch Hội liên lạc với người Việt Nam ở nước ngoài - TP. Hồ Chí Minh.

331. Ông Đỗ Duy Thường, Nguyên Phó Chủ tịch chuyên trách  UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa VI     

332. Bà Trần Thị Đoan Trang, Trưởng phòng Khám bệnh, Bệnh viện TƯ Huế. 

333. Ông Lê Truyền, Nguyên Phó Chủ tịch chuyên trách  UBTƯ MTTQ VN  khóa VI

334. Ông Nguyễn Túc, Phó Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn về Xã hội UBTƯMTTQ Việt Nam    

335. Ông Tương Lai, Phó Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn về Xã hội của UBTƯ MTTQ Việt Nam

336. Bà Lương Bạch Vân, Phó Chủ tịch UBMTTQ  TP. Hồ Chí Minh 

337. Ông Cư Hòa Vần, Phó Chủ tịch không chuyên trách UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa VI, Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn về Dân tộc của UBTƯ MTTQ Việt Nam.

338. Ông Bằng Việt, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam

339. Ông Nguyễn Văn Vĩnh, Ủy viên Thường trực UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa VI

340. Ông Nguyễn Tiến Võ, Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về Đối ngoại kiều bào

341. Ông Huỳnh Đảm, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa VI

342. Ông Nguyễn Quang Du, Tổng Biên tập Tạp chí Mặt trận

343. Ông Bùi Xuân Đức, Phó Trưởng Ban Dân chủ pháp luật cơ quan UBTƯ MTTQ Việt Nam

344. Bà Má Thị Hà, Chuyên viên Ban DT&TG Cơ quan UBTƯ MTTQ Việt Nam

345. Ông Hoàng Hải, Giám đốc Trung tâm Công tác lý luận, cơ quan UBTƯ MTTQ Việt Nam

346. Ông Lê Sơn Hải, Trưởng Ban Kinh tế và Đối ngoại, Cơ quan UBTƯ MTTQ Việt Nam

347. Ông Vũ Trọng Kim, Ủy viên TƯ Đảng Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa VI

348. Ông Nguyễn Lam, Ủy viên Thường trực UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa VI

349. Ông Đinh Đức Lập, Tổng Biên tập báo Đại Đoàn Kết

350. Bà Hà Thị Liên, Ủy viên Thường trực UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa VI

351. Ông Hà Văn Núi, Ủy viên Thường trực UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa VI

352. Ông Nguyễn Văn Pha, Ủy viên Thường trực UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa VI

353. Ông Trần Hoàng Thám, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội TP. Hồ Chí Minh

354. Bà Bùi Thị Thanh, Trưởng Ban Dân vận Tỉnh ủy tỉnh Hòa Bình

355. Ông Lê Bá Trình, Ủy viên Thường trực UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa VI. 

* Tại Hội nghị Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam lần thứ VII, ngày 10 tháng 1 năm 2012 đã nhất trí bổ sung Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa VII, nhiệm kỳ 2009 - 2014 gồm:

1. Ông Đào Duy Minh, Phó Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân VN.

2. Ông Nguyễn Đắc Vinh, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.

3. Bà Cù Thị Hậu, Chủ tịch Hội Người cao tuổi Việt Nam.

4. Ông Phạm Mạnh Hùng,  Chủ tịch Tổng hội Y  học Việt Nam.

5. Ông Nguyễn Bá Thuỷ, Chủ tịch Hội kế hoạch hoá gia đình Việt Nam.

6. Ông Lưu Duy Dần, Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam.

7. Ông Bùi Văn Hai, Uỷ viên Ban Thường vụ Thành uỷ, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Cần Thơ.

8. Ông Vy Văn Vũ, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Đồng Nai.

9. Ông Lê Hùng Phi, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Quảng Bình.

10. Ông Cù Quang Hải, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Đồng Tháp.

11. Ông Nguyễn Ngọc Minh, Tỉnh uỷ viên, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Quảng Ninh.

12. Ông Nguyễn Xuân Thu, Tỉnh uỷ viên, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Bắc Ninh.

13. Ông Hoàng Văn Toàn, Tỉnh uỷ viên, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Vĩnh Phúc.

14. Ông Đinh Văn Dực, Tỉnh uỷ viên, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Hoà Bình.

15. Ông Trần Văn Chuyện, Tỉnh uỷ viên, Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Sóc Trăng.

 16. Ông Ngô Sách Thực, Tỉnh uỷ viên, Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Bắc Giang.

17. Ông Lương Anh Tế, Tỉnh uỷ viên, Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Hải Dương.

18. Bà Hoàng Thanh Bình, Tỉnh uỷ viên, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Cao Bằng.

19. Ông Nguyễn Tuấn Anh, Trưởng ban Tuyên giáo cơ quan Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

20. Bà Nguyễn Thị Thu Hà, Trưởng ban Phong trào cơ quan Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

21.Ông Vương Văn Nam, Trưởng ban Dân tộc và Tôn giáo cơ quan Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

22. Ông Nguyễn Công Nguyên, Trưởng ban Kinh tế và Đối ngoại cơ quan Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

23. Ông Phùng Khánh Tài, Chánh Văn phòng cơ quan Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

24. Ông Võ Văn Thiện, Trưởng ban Công tác phía Nam cơ quan Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Về đầu trang


 DANH SÁCH ĐOÀN CHỦ TỊCH
UỶ BAN TRUNG ƯƠNG MTTQ VIỆT NAM KHOÁ VII

1.Ông Phạm  Quốc Anh

2.Ông Nguyễn Quốc Cường

3.Linh mục Nguyễn Công Danh

4.Ông Bùi Mạnh Hải

5.Ông Trần Hanh

6.Bà Nguyễn Thị Thanh Hòa

7.Ông Vũ Xuân Hồng

8.Ông Bùi Văn Huấn

9.Bà Vũ Giáng Hương

10.Ông Đinh Thế Huynh

11.Bà Hà Thị Khiết

12.Ông Vũ Tiến Lộc

13.Ông Nguyễn Tiến Quân

14.Ông Nguyễn Văn Rinh

15.Ông Trần Ngọc Tăng

16.Ông Võ Văn Thưởng

17.Hoà thượng Thích Trí Tịnh

18.Ông Đặng Ngọc Tùng

19.Bà Phạm Thị Trân Châu

20.Ông Lưu Văn Đạt

21.Ông Phan Đình Diệu

22.Ông Lê Minh Hiền

23.Ông Đỗ Quang Hưng

24.Bà Rơ Chăm H’Yeo

25.Ông Lý Ngọc Minh

26.Hòa thượng Dương Nhơn

27.Ông Trương Công  Phú

28.Ông Trần Đình Phùng

29.Bà Nguyễn Thị Ngọc Phượng

30.Ông Lù Văn Que

31.Ông Nguyễn Duy Quý

32.Bà Hoàng Xuân Sính

33.Bà Trần Thị Ngọc Sơn

34.Ông Võ Quốc Thắng

35.Ông Đỗ Duy Thường

36.Ông Lý Chánh Trung

37.Ông Lê Truyền

38.Hòa thượng Thích Thanh  Tứ

39.Ông Nguyễn Túc

40.Ông Cư Hòa Vần

41.Ông Nguyễn Văn Vĩnh

42.Ông Nguyễn Tiến Võ

43.Ông Huỳnh Đảm

44.Ông Dương Quan Hà

45.Ông  Phạm Xuân Hằng

46.Ông Phạm Quốc Huynh

47.Ông Vũ Trọng Kim

48.Ông Nguyễn Lam

49.Ông Phan Quang Lãm

50.Bà Hà Thị Liên

51.Ông Hà Văn Núi

52.Ông Nguyễn Văn Pha

53.Ông Trần Phùng

54.Ông Nguyễn Thanh Quang

55.Ông Trần Hoàng Thám

56.Bà Bùi Thị Thanh

57.Ông Trần Phù Tiêu

58.Ông Lê Bá Trình

Về đầu trang


Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII

Đại hội Đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII đã họp từ ngày 28 đến ngày 30-9-2009 tại Thủ đô Hà Nội.

Đại hội đã vinh dự được đón đồng chí Nông Đức Mạnh, Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng và các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đến tham dự Đại hội.

1. Thông qua Báo cáo chính trị của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa VI với chủ đề "Nâng cao vai trò Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy dân chủ, góp phần tăng cường đồng thuận xã hội, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh"; Đề ra Chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhiệm kỳ VII (2009 - 2014);

2. Thông qua Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (sửa đổi);

3. Hiệp thương cử Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Chủ tịch và các chức danh trong Ban Thường trực UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa VII (nhiệm kỳ 2009 - 2014).

Đại hội nhất trí giao cho Đoàn Chủ tịch và Ban Thường trực UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa VII tiếp thu đầy đủ ý kiến của đại biểu tham dự Đại hội, hoàn chỉnh và công bố các văn kiện của Đại hội.

Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp, các tổ chức thành viên của Mặt trận có trách nhiệm tuyên truyền và tổ chức thực hiện thành công Chương trình hành động do Đại hội đề ra.

Đại hội phát động đợt thi đua đặc biệt lập thành tích chào mừng kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, 80 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 65 năm ngày thành lập nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 80 năm ngày thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam và những ngày lễ lớn của đất nước năm 2010.

Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ VII kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài nêu cao tinh thần yêu nước, tăng cường đoàn kết, chung sức chung lòng, phấn đấu thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của MTTQ Việt Nam trong giai đoạn mới.

Hà Nội, ngày 30 tháng 9 năm 2009

Đại hội Đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ VII

Về đầu trang


PHÁT ĐỘNG ĐỢT THI ĐUA ĐẶC BIỆT

LẬP THÀNH TÍCH CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 1000 NĂM THĂNG LONG - HÀ NỘI,
80 NĂM NGÀY THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM, 120 NĂM NGÀY SINH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH, 65 NĂM THÀNH LẬP NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM, 
80 NĂM NGÀY THÀNH LẬP MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT VIỆT NAM
VÀ CÁC NGÀY LỄ LỚN CỦA ĐẤT NƯỚC NĂM 2010

                                                    Hà Nội, ngày  30 tháng  9  năm 2008

Thưa đồng bào và chiến sĩ cả nước !

Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII- Đại hội của khối đại đoàn kết toàn dân tộc diễn ra tại thủ đô Hà Nội (trong các ngày 28, 29 và 30/9/2009), trong lúc toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước, ra sức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng, đẩy mạnh cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", kỷ niệm 64 năm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2-9 và 40 năm thực hiện Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Ðảng Cộng sản Việt Nam, 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 65 năm thành lập Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, 35 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước; 80 năm ngày thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam; Ðại hội Ðảng các cấp tiến tới Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ XI và Ðại hội thi đua các cấp tiến tới Ðại hội thi đua toàn quốc lần thứ VIII..., đặc biệt là kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.

Kế thừa và phát huy kết quả của phong trào thi đua yêu nước lập thành tích chào mừng Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tiến tới Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Hưởng ứng đợt thi đua đặc biệt "Cả nước hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội" do Thủ tướng Chính phủ phát động.

Từ Thủ đô Hà Nội, trái tim thân yêu của Tổ quốc, nơi hội tụ hồn thiêng núi sông, Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII phát động đợt thi đua yêu nước đặc biệt từ 30/9/2009 đến 18/11/2010, với những nội dung trọng tâm sau:

1. Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động trong các tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước, nhất là thế hệ trẻ về truyền thống lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, nhất là về 1000 năm Thăng Long-Hà Nội; về truyền thống cách mạng vẻ vang của Đảng, của Mặt trận dân tộc thống nhất và của dân tộc ta trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Qua đó, luôn tự hào và phát huy truyền thống đoàn kết, yêu nước, đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"; ra sức giữ gìn, phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, của Thăng Long-Hà Nội ngàn năm văn hiến; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, vì mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".

2. Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, nâng cao chất lượng hiệu quả cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư" và cuộc vận động "Ngày vì người nghèo"; hưởng ứng cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam"... bằng những công trình, những sản phẩm, tác phẩm, những phần việc cụ thể thiết thực, hướng vào thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, của Thủ đô Hà Nội và mỗi địa phương, cơ sở năm 2009 và năm 2010, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng. Trước mắt, cần tiếp tục chung sức chung lòng, cùng Đảng và Nhà nước vượt qua khó khăn thách thức, phòng ngừa lạm phát, ngăn chặn suy giảm kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo anh sinh xã hội và duy trì tăng trưởng kinh tế hợp lý.

Với niềm tự hào về truyền thống đoàn kết, yêu nước của dân tộc ta, Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII tha thiết kêu gọi đồng bào, chiến sỹ cả nước, đồng bào ta đang sinh sống ở nước ngoài hưởng ứng mạnh mẽ đợt thi đua đặc biệt, với tinh thần "Người người thi đua; Nhà nhà thi đua; Ngành ngành thi đua", lập thành tích thiết thực chào mừng kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, 80 năm ngày thành lập Ðảng Cộng sản Việt Nam, 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 65 năm thành lập Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, 80 năm ngày thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam và các ngày lễ lớn của đất nước năm 2010²

         ĐẠI HỘI VII
                                                          MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

 

Về đầu trang


DIỄN VĂN BẾ MẠC ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM 
LẦN THỨ VII, DO CHỦ TỊCH HUỲNH ĐẢM TRÌNH BÀY

                                                               Hà Nội, ngày 30 tháng 9 năm 2009

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và MTTQ Việt Nam,
        
Thưa các vị khách quý, các cụ và các vị đại biểu,
        
Thưa đồng bào và chiến sĩ cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài !

Qua gần ba ngày làm việc khẩn trương, với tinh thần Đoàn kết - Dân chủ - Đổi mới và Phát triển, với nhiệt huyết và trách nhiệm đối với sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc, Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII (nhiệm kỳ 2009-2014) đã hoàn thành toàn bộ chương trình, đạt được mục tiêu và yêu cầu đề ra.

Đại hội đã sôi nổi thảo luận và thông qua Báo cáo Chính trị của Đại hội; thông qua Điều lệ MTTQ Việt Nam (sửa đổi, bổ sung) với tinh thần nâng cao vai trò, hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, phát huy dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đây là hai văn kiện quan trọng của Đại hội, là sự kết tinh trí tuệ, nhiệt huyết và trách nhiệm của các cấp Mặt trận, các tổ chức thành viên, của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân đối với sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đại hội đã hiệp thương dân chủ cử ra UBTW MTTQ Việt Nam khoá VII gồm 355 vị, tăng cường được tính tiêu biểu, tính đại diện và thiết thực, có đủ đại diện của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam ở nước ngoài, đây thực sự là hình ảnh tiêu biểu của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

Đại hội đã chính thức phát động phong trào thi đua yêu nước kỷ niệm đại lễ 1000 năm Thăng Long-Hà Nội, 80 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 80 năm ngày thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam và các ngày lễ lớn của đất nước, tiến tới Đại hội thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ VIII vào năm 2010.

Với những kết quả đó, chúng ta vui mừng báo cáo với đồng bào và chiến sỹ cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài, cùng bè bạn quốc tế rằng: Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII (nhiệm kỳ 2009-2014), Đại hội của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam đã thành công tốt đẹp.

Đại hội chân thành cảm ơn đồng chí Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nông Đức Mạnh đã đến dự và có bài phát biểu quan trọng. Cảm ơn đồng chí Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng, cùng các đồng chí lãnh đạo và nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, MTTQ Việt Nam; lãnh đạo các bộ, ban, ngành Trung ương, các tổ chức thành viên của Mặt trận, lãnh đạo TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Thừa Thiên Huế đã về dự Đại hội.

Đại hội xin chân thành cảm ơn đồng bào và chiến sỹ cả nước đã hướng về Đại hội, đẩy mạnh phong trào hành động cách mạng, thiết thực lập thành tích chào mừng Đại hội. Cảm ơn đại diện đồng bào ta ở nước ngoài đã về tham dự Đại hội với tấm lòng của những người con xa Tổ quốc luôn hướng về quê hương, đất nước.

Đại hội nhiệt liệt hoan nghênh và cảm ơn các đoàn đại biểu của các nước anh em và bè bạn quốc tế, các cơ quan ngoại giao nước ngoài tại Hà Nội đã đến dự Đại hội, mang đến cho nhân dân ta những tình cảm tốt đẹp, tình đoàn kết và hợp tác quốc tế trong sáng và sự ủng hộ quý báu đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước của chúng ta. Đại hội trân trọng cảm ơn Đảng nhân dân cách mạng Lào, Nhà nước CHDCND Lào, Mặt trận Lào xây dựng đất nước và nhân dân Lào anh em đã trao tặng MTTQ Việt Nam và hai đồng Chủ tịch và nguyên Chủ tịch UBTW MTTQ Việt Nam huân chương cao quý. Đây là biểu hiện sinh động và thêm một lần nữa khẳng định tình đoàn kết đặc biệt Việt Nam-Lào. Chúng ta luôn ra sức tăng cường tình đoàn kết hữu nghị và sự hợp tác giữa nhân dân ta với nhân dân các nước láng giềng, các nước trong khu vực và trên thế giới, vì hoà bình, hợp tác, phát triển và công bằng xã hội trong khu vực và trên thế giới.

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và MTTQ Việt Nam,
         
Thưa các vị khách quý, các cụ và các vị đại biểu,

Đại hội chúng ta đánh giá cao và chân thành cảm ơn sự đóng góp to lớn của đồng chí Phạm Thế Duyệt-nguyên Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cụ, các vị, các đồng chí Ủy viên Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khoá VI đối với sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong những năm qua. Mong rằng, thời gian tới, dù tiếp tục tham gia hay thôi tham gia UBTW MTTQ Việt Nam, các cụ, các vị và các đồng chí cũng luôn phát huy tài năng trí tuệ, tâm huyết, trách nhiệm của mình đối với sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung và đối với hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Đại hội hoan nghênh và cảm ơn nhiều tổ chức, cá nhân đã gửi thư, điện, hoa chúc mừng đại hội; hoan nghênh và cảm ơn các cơ quan thông tấn, báo chí, phát thanh, truyền hình của trung ương, địa phương và nước ngoài đã kịp thời đưa tin, tuyên truyền về đại hội. Đại hội biểu dương và cảm ơn cán bộ, công nhân viên Trung tâm Hội nghị quốc gia Mỹ Đình, các nhà khách, khách sạn; cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang của Trung ương và Hà Nội đã tận tụy với công việc phục vụ và bảo vệ đại hội, góp phần vào sự thành công của đại hội.

Về phần mình, UBTW MTTQ Việt Nam khoá VII sẽ đoàn kết, phấn đấu, thực hiện tốt trọng trách được Đại hội giao phó, xứng đáng với niềm tin của Đảng, của đồng bào, chiến sỹ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài.

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và MTTQ Việt Nam !
        
Kính thưa các cụ, các vị và toàn thể quý đại biểu !

Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã thành công tốt đẹp, đây là mốc son mới trong chặng đường phát triển của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gần 80 năm qua. Đại hội mong rằng, mỗi đại biểu tham dự đại hội, Uỷ ban MTTQ các cấp, các tổ chức thành viên của Mặt trận, đồng bào và chiến sỹ cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài hăng hái tuyên truyền Nghị quyết của Đại hội, đưa Nghị quyết vào cuộc sống, biến Nghị quyết thành hành động của các tầng lớp nhân dân, hưởng ứng thực hiện Chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; góp phần Nâng cao vai trò, hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lực, tự cường; phát huy dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, tạo thành sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần thực hiện thắng lợi Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, lần thứ XI; giữ vững độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ vì mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".

Trước mắt, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kinh tế-xã hội năm 2009, năm 2010, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng, thiết thực lập thành tích chào mừng kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội, 80 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 80 năm thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam và các ngày lễ lớn của đất nước năm 2010.

Ngay sau Đại hội này, tôi trân trọng đề nghị các vị đại biểu, Mặt trận Tổ quốc các cấp, các tổ chức thành viên của Mặt trận, nhất là ở các tỉnh, thành phố miền Trung vận động các tầng lớp nhân dân, phát huy truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái, cùng cấp uỷ, chính quyền địa phương giúp đỡ các gia đình bị thiệt hại do cơn bão số 9 gây ra, khắc phục hậu quả của cơn bão, sớm ổn định cuộc sống và khôi phục sản xuất.

Đoàn kết, Đoàn kết, Đại đoàn kết - Thành công, Thành công, Đại thành công !

Với tinh thần đó, tôi xin tuyên bố bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII (nhiệm kỳ 2009-2014).

Xin kính chúc các cụ, các vị, các đồng chí và toàn thể quý đại biểu sức khỏe, hạnh phúc và thành công !

 Xin trân trọng cảm ơn !

Về đầu trang


ĐIỀU LỆ
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

 

          Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo, được thành lập ngày 18 tháng 11 năm 1930.

          Trải qua các thời kỳ hoạt động với những tên gọi khác nhau, Mặt trận không ngừng phát huy tinh thần yêu nước, truyền thống đoàn kết dân tộc Việt Nam - một nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

          Kế tục và phát huy vai trò lịch sử của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam các thời kỳ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày nay là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài.

          Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trương phát huy truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lực, tự cường, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, không phân biệt thành phần xã hội, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, quá khứ, ý thức hệ và chính kiến, miễn là tán thành công cuộc đổi mới, nhằm mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh", góp phần tích cực vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

          Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là bộ phận của hệ thống chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nơi hiệp thương, phối hợp và thống nhất hành động của các thành viên.

          Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có nhiệm vụ tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân; tuyên truyền, động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật; phản biện xã hội đối với dự thảo chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức nhà nước; tập hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng và Nhà nước; tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân; cùng Nhà nước chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân; tham gia phát triển tình hữu nghị, hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trong khu vực và trên thế giới.

          Biểu trưng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hình tròn, nửa phía trên là hình tượng cờ đỏ sao vàng năm cánh, dưới là hoa sen trắng. Đường ngoài vòng cung màu vàng biểu hiện hai nhánh lúa vươn lên nâng dòng chữ Mặt trận Tổ quốc trên nền cờ đỏ. Phía dưới cùng là hình tượng nửa bánh xe màu đỏ có dòng chữ Việt Nam.

            Lấy ngày 18 tháng 11 hàng năm là ngày Hội đại đoàn kết toàn dân tộc.

Chương I
THÀNH VIÊN CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT
NAM

          Điều 1. Thành viên

          Thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp bao gồm tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị-xã hội, các tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam ở nước ngoài.

          Việc gia nhập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, tán thành Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp xem xét công nhận.

          Điều 2. Nghĩa vụ của thành viên

          1. Thực hiện Điều lệChương trình Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; tập hợp và phản ánh ý kiến, kiến nghị của nhân dân và thông báo kết quả thực hiện chương trình phối hợp và thống nhất hành động với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp;

          2. Tuyên truyền, vận động hội viên, đoàn viên, nhân dân thi hành Hiến pháp và pháp luật, thực hiện Chương trình Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

          3. Đôn đốc các thành viên của tổ chức mình thực hiện đúng chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc và tham gia công tác Mặt trận ở nơi cư trú;

          4. Đoàn kết, hợp tác, giúp đỡ những tổ chức, cá nhân chưa gia nhập Mặt trận nhưng có tinh thần hưởng ứng, ủng hộ, thực hiện Chương trình Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

          Điều 3. Quyền của thành viên

          1. Thảo luận, chất vấn, phê bình, kiến nghị về tổ chức và hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

          2. Yêu cầu Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp tổ chức hiệp thương để phối hợp hoạt động giữa các thành viên có liên quan, nhằm hưởng ứng sáng kiến của mình về các cuộc vận động nhân dân thực hiện Chương trình Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

          3. Tham gia xây dựng, quản lý, giám sát và bảo vệ chính quyền nhân dân;

          4. Yêu cầu Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình;

          5. Được nhận thông tin về hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp;

          6. Giới thiệu người để hiệp thương cử vào Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp.        

          Điều 4. Quan hệ giữa các thành viên

          Quan hệ giữa các thành viên trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là hợp tác bình đẳng, đoàn kết chân thành, tôn trọng lẫn nhau, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động để cùng thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của Nhà nước và Chương trình Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Chương II
NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG VÀ CƠ CẤU
TỔ CHỨC CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

          Điều 5. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động

          Tổ chức, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động.

          Khi phối hợp và thống nhất hành động, các thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tuân theo Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; đồng thời vẫn giữ tính độc lập của tổ chức mình.

          Điều 6. Hệ thống tổ chức

          Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được tổ chức theo cấp hành chính:

            - Trung ương;

            - Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh);

          - Huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện);

          - Xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã);

          Ở mỗi cấp có Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

          Dưới cấp xã có Ban công tác Mặt trận ở khu dân cư.

          Điều 7. Đại hội

          1. Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mỗi cấp là cơ quan hiệp thương cao nhất của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp đó, 5 năm họp một lần.

            2. Số lượng đại biểu, cơ cấu thành phần đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam do hội nghị Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiệp thương thỏa thuận.

          3. Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có nhiệm vụ:

          a) Thảo luận và thông qua báo cáo nhiệm kỳ của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhiệm kỳ mới;

          b) Sửa đổi, bổ sung Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

          c) Hiệp thương dân chủ cử ra Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

          d) Thông qua nghị quyết đại hội.

          4. Số lượng đại biểu, cơ cấu thành phần đại biểu dự Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc các cấp ở địa phương do hội nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp đó thỏa thuận theo hướng dẫn của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp trên trực tiếp. Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp nào do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp đó triệu tập, có nhiệm vụ:

          a) Thảo luận và thông qua báo cáo nhiệm kỳ của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp mình nhiệm kỳ mới;

          b) Góp ý kiến vào dự thảo đề cương báo cáo và Chương trình hành động của cấp trên trực tiếp và sửa đổi Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (nếu có);

          c) Hiệp thương dân chủ cử ra Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp mình;

          d) Cử đại biểu đi dự Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp trên trực tiếp;

           đ) Thông qua Nghị quyết đại hội.

          Điều 8. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

          1. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở mỗi cấp là cơ quan chấp hành giữa hai kỳ đại hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp.

          2. Số lượng Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp nào, do đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp đó hiệp thương thỏa thuận và quyết định theo cơ cấu thành phần quy định tại Điều 13, Điều 22, Điều 24 Điều lệ này và hướng dẫn của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp trên trực tiếp.

            3. Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở mỗi cấp đương nhiên không còn là Ủy viên trong những trường hợp sau đây:

          a) Không còn là đại diện của tổ chức thành viên đã cử ra;

          b) Không còn là đại diện của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp dưới;

          c) Cán bộ Mặt trận chuyên trách chuyển công tác khác hoặc nghỉ hưu.

          Việc công nhận người thay thế do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp đó quyết định.

          4. Trong nhiệm kỳ đại hội, khi cần thiết mở rộng Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mỗi cấp có quyền cử bổ sung một số Ủy viên, nhưng không vượt quá một phần ba tổng số Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã được đại hội cử ra.

          5. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp có thể cử một số Phó Chủ tịch không chuyên trách.

         6. Trong nhiệm kỳ Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nếu có sự thay đổi về  đơn vị hành chính như: nhiều đơn vị hành chính sáp nhập thành đơn vị hành chính mới; một đơn vị hành chính được chia thành nhiều đơn vị hành chính mới; một đơn vị hành chính được thay đổi cấp quản lý hành chính, thì việc kiện toàn Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ban Thường trực ở cấp hành chính đó do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp trên trực tiếp thống nhất với các cơ quan có liên quan cùng cấp hướng dẫn.

          Điều 9.  Việc cử các chức danh của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

         Việc cử các chức danh lãnh đạo của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp theo Điều 14, Điều 23, Điều 25 và Điều 26 của Điều lệ này được thực hiện theo nguyên tắc hiệp thương dân chủ, nếu không nhất trí được thì bầu bằng phiếu kín; người trúng cử phải được quá nửa tổng số Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam của cấp bầu tín nhiệm.

          Điều 10. Chế độ làm việc của Ban Thường trực

          Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp làm việc theo chế độ tập thể bàn bạc và quyết định theo đa số, có phân công cá nhân phụ trách.

          Điều 11. Tổ chức và cán bộ cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

          1. Căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được quy định tại Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các văn bản pháp luật liên quan, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sau khi thống nhất với cơ quan có thẩm quyền, quy định về tổ chức và cán bộ của cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp huyện; tổ chức và cán bộ của Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã.

          2. Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có trách nhiệm bồi dưỡng, nâng cao năng lực, phẩm chất cán bộ chuyên trách của cơ quan Ủy ban Trung ương và cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh.

          Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức việc bồi dưỡng, nâng cao năng lực, phẩm chất cán bộ chuyên trách của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp mình và cấp huyện.

          Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện có trách nhiệm tổ chức việc bồi dưỡng nghiệp vụ công tác Mặt trận cho cán bộ chuyên trách cấp mình, cán bộ Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, Ban công tác Mặt trận ở khu dân cư.

          3. Khi có sự thay đổi Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã giữa nhiệm kỳ, Ban Thường trực cấp đó phải báo cáo Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp trên trực tiếp. Việc cử, bổ sung, công nhận chức danh đó tiến hành theo quy định tại Điều 23, Điều 25, Điều 26 Điều lệ này.

          Điều 12. Tổ chức tư vấn, cộng tác viên

          1. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp thành lập các tổ chức tư vấn, mở rộng cộng tác viên ở cấp mình, giúp Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn.

          2. Tổ chức tư vấn là tổ chức không chuyên trách, gồm: Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, chuyên gia ở một số lĩnh vực có liên quan đến hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

          3. Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mỗi cấp hướng dẫn, bảo đảm điều kiện cho hoạt động của các tổ chức tư vấn, cộng tác viên của cấp mình.

Chương III
CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
 Ở CẤP TRUNG ƯƠNG

          Điều 13. Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

          Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (gọi chung là Ủy ban Trung ương) do Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiệp thương dân chủ cử, bao gồm:

          1. Người đứng đầu của tổ chức thành viên cùng cấp. Trong trường hợp đặc biệt tổ chức thành viên mới cử đại diện lãnh đạo;

          2. Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

          3. Một số cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, tổ chức kinh tế, các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài;

          4. Một số chuyên gia ở những lĩnh vực có liên quan đến hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

          5. Một số cán bộ chuyên trách ở cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

          Điều 14. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

          Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

          1. Hiệp thương dân chủ thỏa thuận chương trình phối hợp và thống nhất hành động hàng năm nhằm thực hiện chương trình hành động của Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

          2. Hiệp thương dân chủ cử Đoàn Chủ tịch, Ban Thường trực; cử, cử bổ sung, thay thế, cho thôi các chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký, các Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; cử bổ sung, thay thế, cho thôi Ủy viên Ủy ban Trung ương, Ủy viên Đoàn Chủ tịch;

          3. Xét, quyết định công nhận làm thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

          4. Góp ý kiến, kiến nghị với Đảng về chủ trương, đường lối; với Nhà nước về chính sách pháp luật và những vấn đề về quốc kế dân sinh. Giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ công chức nhà nước;

          5. Quyết định kế hoạch chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhiệm kỳ tiếp theo.

          Điều 15. Chế độ họp Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

          Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam họp thường kỳ ít nhất một năm một lần, họp bất thường khi cần thiết.

          Chủ tịch, các Phó Chủ tịch do Ban Thường trực cử chủ tọa các hội nghị của Ủy ban Trung ương.

          Điều 16. Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

          1. Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (gọi chung là Đoàn Chủ tịch) do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiệp thương dân chủ cử trong số Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, là đại diện của  Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữa hai kỳ họp.

         2. Đoàn Chủ tịch bao gồm các vị:

          - Người đứng đầu hoặc đại diện lãnh đạo của tổ chức chính trị; người đứng đầu của các tổ chức chính trị - xã hội, một số tổ chức xã hội;

          - Một số nhân sỹ, trí thức, cá nhân tiêu biểu trong các tầng lớp xã hội, trong dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài;

          - Một số vị Ủy viên Ủy ban Trung ương là cán bộ chuyên trách ở cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và ở cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc địa phương.

          Số lượng Ủy viên Đoàn Chủ tịch do Ủy ban Trung ương quyết định.

          Điều 17. Nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn Chủ tịch

          Đoàn Chủ tịch có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

          1. Quyết định những chủ trương, công tác để thực hiện chương trình phối hợp và thống nhất hành động và Nghị quyết của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam do Ban Thường trực  trình;

          2. Góp ý kiến, kiến nghị với Đảng về chủ trương, đường lối; với Nhà nước về những vấn đề quan trọng của đất nước, về chính sách pháp luật;

          3. Trình dự án luật; báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân ra trước Quốc hội;

          4. Hiệp thương dân chủ, lựa chọn giới thiệu người thuộc cơ quan, tổ chức, đơn vị ở Trung ương ứng cử đại biểu Quốc hội;

          5. Cùng với Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ ban hành và kiểm điểm việc thực hiện quy chế phối hợp công tác;

          6. Khi cần thiết ra lời kêu gọi nhân dân hưởng ứng chủ trương của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với sự kiện trong nước; ra tuyên bố thể hiện chính kiến đối với sự kiện quan trọng ở ngoài nước;

          7. Thực hiện chủ trương đối ngoại nhân dân của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

8. Cho ý kiến về việc cử bổ sung, thay thế, cho thôi chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký, Phó Chủ tịch, Uỷ viên Đoàn Chủ tịch, Uỷ viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trước khi trình Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quyết định;

          9. Quyết định thành lập các Hội đồng tư vấn.

          Điều 18. Chế độ họp Đoàn Chủ tịch

          Đoàn Chủ tịch họp thường lệ ít nhất sáu tháng một lần.

          Chủ tịch, các Phó Chủ tịch do Ban Thường trực cử chủ tọa hội nghị Đoàn Chủ tịch.

          Điều 19. Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 

1. Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiệp thương dân chủ cử trong số Ủy viên Đoàn Chủ tịch, là cơ quan đại diện của Đoàn Chủ tịch và Ủy ban Trung ương giữa hai kỳ họp.

          2. Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (gọi chung là Ban Thường trực) gồm có Chủ tịch, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký và các Phó Chủ tịch chuyên trách, là những người hoạt động chuyên trách.

          Điều 20. Nhiệm vụ và quyền hạn của Ban Thường trực

          Ban Thường trực có những nhiệm vụ và quyền hạn:

          1. Chuẩn bị các hội nghị của Đoàn Chủ tịch và giúp Đoàn Chủ tịch chuẩn bị các hội nghị của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

          2. Tổ chức thực hiện chương trình phối hợp và thống nhất hành động hàng năm của Ủy ban Trung ương; các nghị quyết của Ủy ban Trung ương, Đoàn Chủ tịch; chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước có liên quan đến trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

          3. Thường xuyên tập hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng, Nhà nước. Thay mặt Ủy ban Trung ương và Đoàn Chủ tịch để kiến nghị với Đảng, Nhà nước về các chủ trương, chính sách pháp luật cần ban hành, sửa đổi;

          4. Giải thích Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

          5. Hướng dẫn, kiểm tra hoạt động của Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh;

          6. Xem xét công nhận việc cử, bổ sung hoặc thay đổi chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh;

          7. Tổ chức, chỉ đạo, quản lý bộ máy giúp việc ở cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

          8. Giữ mối quan hệ phối hợp công tác với cơ quan nhà nước, tổ chức thành viên;

          9. Hướng dẫn, bảo đảm điều kiện hoạt động của các Hội đồng tư vấn, cộng tác viên của Ủy ban Trung ương;

          10. Ban hành quyết định, thông tri, văn bản liên tịch và kiểm tra việc thực hiện các văn bản đó;

          11. Xét, quyết định việc khen thưởng, kỷ luật.   

          Điều 21. Chế độ họp Ban Thường trực  

          1. Ban Thường trực  họp thường lệ mỗi tháng ít nhất hai lần.

          2. Chủ tịch, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký chủ tọa các phiên họp của Ban Thường trực.    

Chương IV
CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC  VIỆT NAM
CÁC CẤP Ở ĐỊA PHƯƠNG

            Điều 22. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp huyện

          1. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh), huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện) do Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp huyện hiệp thương dân chủ cử, là cơ quan chấp hành giữa hai kỳ đại hội, bao gồm:

          a) Người đứng đầu của tổ chức thành viên cùng cấp; trong trường hợp đặc biệt tổ chức thành viên mới cử đại diện lãnh đạo; 

          b) Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp dưới trực tiếp;

          c) Một số Chủ tịch công đoàn doanh nghiệp lớn của Nhà nước, công đoàn ngành trung ương có trụ sở ở địa phương; đại diện lãnh đạo của một số tổ chức kinh tế tập thể và thành phần kinh tế khác ở địa phương;

          d) Một số nhân sỹ, trí thức, cá nhân tiêu biểu trong các tổ chức, các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài;

          đ) Một số chuyên gia ở những lĩnh vực có liên quan đến hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

          e) Một số cán bộ chuyên trách ở cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp mình;

          2. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp huyện họp thường lệ ít nhất sáu tháng một lần.

          Chủ tịch, Phó Chủ tịch và một số Ủy viên Thường trực do Ban Thường trực cử chủ tọa hội nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp mình.

          Điều 23. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp huyện

          Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp huyện có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

          1. Thảo luận về tình hình và kết quả thực hiện chương trình phối hợp và thống nhất hành động thời gian qua; quyết định chương trình phối hợp và thống nhất hành động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp mình thời gian tới;

          2. Quyết định kế hoạch chuẩn bị đại hội đại biểu cấp mình theo hướng dẫn của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp trên trực tiếp;

          3. Góp ý kiến, kiến nghị với cấp ủy Đảng, chính quyền cùng cấp và cấp trên về những chủ trương, chính sách, pháp luật. Giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ công chức nhà nước;

          4. Hiệp thương dân chủ cử Ban Thường trực; cử, cử bổ sung, thay thế hoặc cho thôi các chức danh Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, các Ủy viên Thường trực, Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp;

          5. Xét, quyết định kết nạp làm thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp mình;

          6. Ra lời kêu gọi nhân dân địa phương hưởng ứng chủ trương của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với sự kiện quan trọng  khi cần thiết.

          Điều 24. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã

          1. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) do Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp hiệp thương dân chủ cử, là cơ quan chấp hành giữa hai kỳ đại hội, bao gồm:

          a) Người đứng đầu của tổ chức thành viên cùng cấp; trong trường hợp đặc biệt tổ chức thành viên mới cử đại diện lãnh đạo;

          b) Các Trưởng ban công tác Mặt trận;

          c) Một số cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài;

          d) Một số Chủ tịch công đoàn công ty, nghiệp đoàn, hội lao động đóng trên địa bàn. Đại diện lãnh đạo của một số tổ chức kinh tế tập thể và thành phần kinh tế khác ở địa phương;

          đ) Một số cán bộ chuyên trách và không chuyên trách của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa trước.

          2. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn như của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp huyện, quy định tại Điều 23 Điều lệ này. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã còn có nhiệm vụ, quyền hạn: Ra quyết định thành lập Ban công tác Mặt trận, ra văn bản công nhận Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng; thảo luận và quyết định những vấn đề khác thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc do Ban Thường trực  trình.

          3. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã họp thường kỳ ít nhất ba tháng một lần.

         Chủ tịch, Phó Chủ tịch chủ tọa hội nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

          Điều 25. Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp huyện

          1. Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp huyện (gọi chung là Ban Thường trực) do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mỗi cấp hiệp thương dân chủ cử trong số Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, là cơ quan đại diện của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp giữa hai kỳ họp.

          2. Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp huyện gồm có Chủ tịch, các Phó Chủ tịch chuyên trách và các Ủy viên Thường trực là những người hoạt động chuyên trách. Số lượng Phó Chủ tịch và Ủy viên Thường trực theo hướng dẫn của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

          3. Ban Thường trực có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

          a) Tổ chức việc chuẩn bị, triệu tập và chủ trì các hội nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp mình;

          b) Tổ chức thực hiện nghị quyết, chương trình phối hợp và thống nhất hành động hàng năm, sáu tháng của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp mình và các chủ trương công tác của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp trên; chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định của Uỷ ban nhân dân có liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

          c) Thường xuyên tập hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân để phản ánh, kiến nghị với cấp ủy Đảng, chính quyền, Ban Thường trực cấp trên trực tiếp. Thay mặt Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam góp ý kiến, kiến nghị với cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương về việc thực hiện các chính sách pháp luật tại địa phương. Giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức nhà nước;

          d) Hướng dẫn, kiểm tra hoạt động của Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp dưới trực tiếp;

          đ) Xem xét công nhận việc cử, bổ sung hoặc thay thế chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp dưới trực tiếp;

          e) Tổ chức, chỉ đạo, quản lý bộ máy giúp việc cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp mình;

          g) Giữ mối quan hệ phối hợp công tác với cơ quan nhà nước, các tổ chức thành viên;

         h) Tổ chức, hướng dẫn, bảo đảm điều kiện hoạt động của các tổ chức tư vấn, cộng tác viên của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp mình;

          i) Ban hành quyết định, thông tri, quy chế phối hợp công tác và kiểm tra thực hiện các văn bản đó;

          k) Xét, quyết định khen thưởng, kỷ luật.

          4. Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp huyện họp thường lệ mỗi tháng ít nhất hai lần.

          Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mỗi cấp chủ tọa phiên họp của Ban Thường trực. Nếu Chủ tịch vắng mặt, Phó Chủ tịch Thường trực chủ tọa phiên họp.

          Điều 26. Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã

          1. Ban Thường trực  Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã, phường, thị trấn (gọi chung là Ban Thường trực cấp xã) do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp đó hiệp thương dân chủ cử trong số Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, là cơ quan đại diện của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữa hai kỳ họp Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

          2. Ban Thường trực cấp xã gồm có Chủ tịch, hai Phó Chủ tịch và Ủy viên Thường trực.

          3. Ban Thường trực cấp xã có những nhiệm vụ, quyền hạn sau:

          a) Tổ chức việc chuẩn bị, triệu tập và chủ trì các kỳ họp Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã;

          b) Tổ chức thực hiện nghị quyết, chương trình phối hợp và thống nhất hành động hàng năm, sáu tháng của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp mình và các chủ trương công tác của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp trên; chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định của Ủy ban nhân dân có liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

         c) Thường xuyên tập hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân để phản ánh, kiến nghị với cấp ủy Đảng, chính quyền, Ban Thường trực cấp trên trực tiếp. Góp ý kiến, kiến nghị với cấp ủy Đảng, chính quyền về việc thực hiện chính sách, pháp luật tại địa phương;

          d) Tổ chức thực hiện các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước trong nhân dân; các nhiệm vụ Mặt trận tham gia xây dựng và củng cố chính quyền; bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân; giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ công chức nhà nước; thực hiện pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở; tham gia giải quyết khiếu nại tố cáo ở địa phương;

          đ) Chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động của Ban công tác Mặt trận, Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng;

          e) Giữ mối quan hệ phối hợp công tác với chính quyền và các tổ chức thành viên cùng cấp;

          g) Hướng dẫn hoạt động của các tổ chức tư vấn, cộng tác viên của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp;

          h) Ban hành quyết định, quy chế phối hợp công tác và tổ chức thực hiện các văn bản đó;

          i) Xét, quyết định khen thưởng, kỷ luật.

          4. Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã họp thường lệ mỗi tháng ít nhất hai lần.

          Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ tọa phiên họp của Ban Thường trực. Nếu Chủ tịch vắng mặt, Phó Chủ tịch Thường trực chủ tọa phiên họp.

          Điều 27. Ban công tác Mặt trận

          1. Ban công tác Mặt trận được thành lập ở thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, khối phố ... (gọi chung là khu dân cư).

          2. Cơ cấu của Ban công tác Mặt trận bao gồm:

          a) Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã cư trú ở khu dân cư;

          b) Đại diện chi ủy;

          c) Những người đứng đầu của chi đoàn Thanh niên, chi hội Phụ nữ, chi hội Nông dân, chi hội Cựu chiến binh, chi hội Người cao tuổi, chi hội Chữ Thập đỏ ...;

          d) Một số người tiêu biểu trong các tầng lớp nhân dân, trong các dân tộc, các tôn giáo...;

          3. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã ra quyết định thành lập Ban công tác Mặt trận, trong đó có chức danh Trưởng ban, Phó ban.

          4. Khi có sự thay đổi Trưởng ban, Phó ban hoặc thay đổi, bổ sung thành viên Ban công tác Mặt trận, thì Ban công tác Mặt trận báo cáo Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam  cấp xã ra quyết định thay đổi, bổ sung.

          5. Ban công tác Mặt trận có chức năng phối hợp và thống nhất hành động giữa các thành viên; phối hợp với Trưởng thôn (làng, ấp, bản...) để thực hiện nhiệm vụ:

          a) Trực tiếp tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định của Ủy ban nhân dân; chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp;       

          b) Thu thập, phản ánh ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân ở khu dân cư với cấp ủy Đảng và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã;

          c) Động viên nhân dân giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ công chức nhà nước;

          d) Phối hợp thực hiện pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở và hoạt động tự quản ở cộng đồng dân cư.

Chương V
QUAN HỆ GIỮA ỦY BAN MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM CÁC CẤP,
QUAN HỆ GIỮA ỦY BAN MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
VỚI  CƠ QUAN NHÀ NƯỚC, VỚI NHÂN DÂN

            Điều 28. Quan hệ giữa Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp

          1. Quan hệ giữa Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp trên với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp dưới là quan hệ  hướng dẫn, kiểm tra.

          2. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp dưới thực hiện chủ trương, chương trình hành động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp trên; thực hiện chế độ báo cáo với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp trên; kiến nghị với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp trên về các vấn đề có liên quan đến tổ chức và hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

          3. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trao đổi kinh nghiệm, phối hợp và giúp đỡ nhau trong hoạt động.

          Điều 29.  Quan hệ giữa Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với cơ quan Nhà nước

          1. Quan hệ giữa Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với các cơ quan Nhà nước là quan hệ phối hợp để thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.

          2. Quan hệ phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Nhà nước được thực hiện theo quy chế phối hợp công tác do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan nhà nước hữu quan ở từng cấp ban hành.

          Điều 30. Quan hệ giữa Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với nhân dân

          Trong quan hệ với nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt nam, các thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp mở rộng và đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân, phát huy vai trò người tiêu biểu, xây dựng cộng đồng dân cư tự quản hoạt động trên cơ sở hương ước, quy ước; động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ công chức nhà nước; thường xuyên tập hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng và Nhà nước; chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân.

Chương VI
KHEN THƯỞNG - KỶ LUẬT

          Điều 31. Khen thưởng

          Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thành tích xuất sắc trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc thì được khen thưởng.

          Hình thức khen thưởng cao nhất của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là Kỷ niệm chương "Vì sự nghiệp Đại đoàn kết dân tộc".

          Điều 32. Kỷ luật

          Thành viên làm trái những quy định của Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thì tùy mức độ sai phạm mà bị khiển trách, cảnh cáo hoặc thôi công nhận là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.   

          Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở mỗi cấp xem xét, quyết định hình thức kỷ luật thành viên ở cấp mình.

Chương VII
KINH PHÍ HOẠT ĐỘNG, TÀI SẢN
CỦA ỦY BAN MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

          Điều 33. Kinh phí hoạt động

          Nguồn kinh phí hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp bao gồm:

          1. Kinh phí hoạt động do ngân sách Nhà nước cấp;

          2. Kinh phí được cấp khi thực hiện các chương trình, dự án;

          3. Thu nhập từ hoạt động kinh doanh theo pháp luật;

          4. Tổ chức, cá nhân ở trong nước và nước ngoài ủng hộ.

          Kinh phí của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp nào do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp đó quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật.

          Điều 34. Tài sản

          Tài sản của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc  Việt Nam các cấp bao gồm:

          1. Tài sản Nhà nước giao;

          2. Tài sản do tổ chức, cá nhân trong nước hoặc nước ngoài tặng cho.

          Việc nhận, quản lý, sử dụng tài sản đó theo quy định của pháp luật.

Chương VIII
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

          Điều 35. Hiệu lực thi hành

          Điều lệ này có hiệu lực từ ngày Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII thông qua.

          Những quy định trước đây trái với Điều lệ này đều bãi bỏ.

          Điều 36. Sửa đổi Điều lệ

          Chỉ có Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mới có quyền sửa đổi Điều lệ.

          Điều 37. Hướng dẫn thi hành

          Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn thi hành Điều lệ này.

          Điều lệ này đã được Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII họp tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 28 đến ngày 30 tháng 9 năm 2009 nhất trí thông qua.

 

Về đầu trang


 

NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG
 ĐẠI HỘI MTTQ VIỆT NAM LẦN THỨ VII THÀNH CÔNG TỐT ĐẸP

 

Giới thiệu Uỷ ban MTTQ Việt Nam 63 tỉnh, thành phố trong cả nước !

 

 

 

 

 

 

 

 

Kết quả thực hiện Quy chế phối hợp giữa Chủ tịch Nước và Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam năm 2008

Làm việc với Ðoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương  MTTQ Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để ngăn chặn suy giảm kinh tế, phát triển bền vững

Hội nghị liên tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

  ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM          
 
 
 
 
 
 
 
 

|   Giới thiệu  |   Mặt trận Tỉnh Thành  | Tổ chức thành viên |  Hội đồng tư vấn   |   English

 | Trở Về đầu trang    |

Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2008 Trang TTĐT - Cơ quan UBTW MTTQ Việt Nam.
Giấy phép số:111/GP-BC của Bộ Thông tin và Truyền thông • Trưởng ban Biên tập: LÊ BÁ TRÌNH • Phó ban Biên tập: NGUYỄN TUẤN ANH
Địa chỉ: 46 Tràng Thi - Hà Nội • ĐT:04-9287401;  Email:
ubmttqvn@mattran.org.vn