|
DIỄN VĂN KHAI MẠC
ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT
NAM
LẦN THỨ VII, NHIỆM KỲ 2009-2014
Hà Nội, ngày 28 tháng 9 năm 2009
- Kính thưa đồng chí Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh
và các các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước,
MTTQ Việt Nam !
- Kính thưa Đoàn Chủ tịch Đại hội,
- Kính thưa các đồng chí lão thành cách mạng,
các Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng Lực lượng
vũ trang, Anh hùng Lao động !
- Thưa các vị khách quốc tế và các đoàn ngoại
giao !
- Thưa toàn thể quý vị đại biểu !
Hôm nay, giữa Thủ đô Hà Nội, trái tim của cả
nước, trong không khí
toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang đẩy
mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước, ra
sức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của
Đảng, đẩy mạnh cuộc vận động "Học tập và làm
theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", kỷ niệm 64
năm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2-9 và 40
năm thực hiện
Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
MTTQ Việt Nam tiến hành
Đại hội đại biểu
toàn quốc
lần thứ VII-Đại hội của khối đại đoàn kết toàn
dân tộc.
Thay mặt Đoàn Chủ tịch Đại hội:
- Tôi nhiệt liệt chào mừng:
+ Đồng chí Nông Đức Mạnh, Tổng Bí thư BCH Trung
ương Đảng Cộng sản Việt Nam và các đồng chí
nguyên Tổng Bí thư: Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu;
+ Nguyên Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam Lê Đức
Anh, Trần Đức Lương.
+ Đồng chí Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ
Nước CHXHCN Việt Nam và nguyên Thủ tướng Chính
phủ Phan Văn Khải.
+ Đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Quốc hội
Nước CHXHCN Việt Nam và nguyên Chủ tịch Quốc hội
Nguyễn Văn An.
+ Đồng chí Phạm Thế Duyệt, nguyên Uỷ viên Thường
vụ Thường trực Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch
UBTW MTTQ Việt Nam.
+ Các đồng chí lãnh đạo và nguyên lãnh đạo Đảng,
Nhà nước, MTTQ Việt Nam; các đồng chí lãnh đạo
các bộ, ban, ngành Trung ương; lãnh đạo các tổ
chức thành viên của Mặt trận.
- Chào mừng các đồng chí lão thành cách mạng,
các Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng lực lượng
vũ trang, Anh hùng Lao động.
- Chào mừng các đồng chí đại diện lãnh đạo Đảng
bộ, chính quyền TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và
tỉnh Thừa Thiên-Huế.
- Chào mừng 989 đại biểu, đại diện cho
các giai cấp, các tầng lớp nhân dân, cho 54 dân
tộc anh em, các tôn giáo, các vị nhân sĩ, trí
thức, các doanh nhân và đồng bào ta đang sinh
sống ở nước ngoài đã về dự Đại hội.
- Chào mừng các đại biểu lực lượng vũ trang nhân
dân Việt Nam anh hùng.
- Chào mừng đại diện các cơ quan thông tấn, báo
chí, phát thanh, truyền hình Trung ương và địa
phương, các phóng viên trong nước và nước ngoài
tới dự và đưa tin Đại hội.
Sự có mặt của các đồng chí lãnh đạo và các vị
đại biểu tại Đại hội thể hiện sự quan tâm sâu
sắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với MTTQ
Việt Nam và là nguồn động viên to lớn đảm bảo sự
thành công của Đại hội.
Đại hội chúng ta nhiệt liệt chào mừng các đoàn
đại biểu: Mặt trận Lào Xây dựng đất nước; Hội
nghị hiệp thương chính trị toàn quốc Trung Quốc;
Mặt trận Đoàn kết, Phát triển Tổ quốc Campuchia;
Uỷ ban Bảo vệ cách mạng Cu Ba và đại điện các tổ
chức quốc tế, các cơ quan ngoại giao nước ngoài
tại Hà Nội...
Sự có mặt của các vị, các đồng chí và các bạn
quốc tế tại Đại hội là biểu hiện sinh động tình
đoàn kết, hữu nghị và hợp tác quốc tế, sự đồng
tình, ủng
hộ và hợp tác giữa nhân dân các nước
trong khu vực và trên thế giới đối với công cuộc
đổi mới,
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Việt
Nam.
- Kính thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước
và MTTQ Việt Nam !
- Kính thưa các cụ, các vị và toàn thể quý đại
biểu !
Trong không khí thắm đượm tình đoàn kết toàn dân
tộc của Đại hội hôm nay, chúng ta
tỏ lòng thành kính, tưởng nhớ và biết ơn vô hạn
Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại - Người kế thừa và
phát huy cao độ truyền thống đại đoàn kết -
nguồn sức mạnh vô địch của dân tộc ta; Người
sáng lập, lãnh đạo Đảng ta và Mặt trận Dân tộc
thống nhất Việt Nam; dẫn dắt nhân dân ta đến độc
lập, tự do, ấm no và hạnh phúc. 40 năm Bác đã đi
xa, để lại Di chúc
thiêng liêng và muôn vàn tình thân yêu, niềm tin
tất thắng cho toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân
ta. Với dân tộc
Việt
Nam, với non sông, đất nước Việt Nam, trong trái
tim của mỗi người con đất Việt, Chủ tịch Hồ Chí
Minh vẫn sống mãi; tư tưởng và Di chúc thiêng
liêng của Người luôn soi đường chỉ lối cho Ðảng
ta, Nhà nước ta, MTTQ Việt Nam và dân tộc Việt
Nam.
Chúng ta tưởng nhớ và biết ơn sâu sắc các vị Chủ
tịch và các vị lãnh đạo Mặt trận,
lãnh đạo các tổ chức
thành viên yêu nước của Mặt trận qua các
thời kỳ cách mạng về những đóng góp to lớn vào
sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc.
Chúng ta đời đời ghi nhớ công ơn các anh hùng,
liệt sĩ, các bậc lão thành cách mạng, Mẹ Việt
Nam anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang, Anh
hùng lao động, các nhân sĩ, trí thức, những
người tiêu biểu trong các dân tộc, các tôn giáo,
đồng bào ở trong nước cũng như đồng bào ta ở
nước ngoài đã cống hiến xương máu, tài năng, sức
lực và của cải cho Tổ quốc, góp phần xứng đáng
vào thắng lợi vĩ đại của sự nghiệp giải phóng
dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc.
Nhân dịp này, một lần nữa, MTTQ Việt Nam bày tỏ
lòng biết ơn sâu sắc đối với sự quan tâm lãnh
đạo của Đảng, sự phối hợp của Nhà nước, tạo điều
kiện cho MTTQ Việt Nam phát huy vai trò, làm
tròn sứ mệnh lịch sử vẻ vang trong suốt chặng
đường 79 năm qua và trong nhiệm kỳ vừa qua. Cảm
ơn nhân dân các nước anh em, bè bạn trên thế
giới đã ủng hộ, giúp đỡ nhân dân Việt Nam trong
sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc.
- Kính thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước
và MTTQ Việt Nam !
- Kính thưa các cụ, các vị và toàn thể quý đại
biểu !
Đại hội MTTQ Việt Nam lần này được tiến hành
thống nhất từ cơ sở lên, tạo thành đợt sinh hoạt
chính trị sâu rộng từ các khu dân cư, góp phần
nâng cao nhận thức về sự nghiệp đại đoàn kết
toàn dân tộc, về MTTQ Việt Nam; qua quá trình
chuẩn bị và tổ chức Đại hội đã tạo thành đợt
sinh hoạt chính trị sâu rộng trong hệ thống
chính trị và trong các tầng lớp nhân dân; đẩy
mạnh được phong trào hành động cách mạng trong
các tầng lớp nhân dân, hướng vào thực hiện thắng
lợi các nhiệm vụ kinh tế, xã hội, quốc phòng, an
ninh của mỗi địa phương và cả nước, nhất là
chung sức chung lòng, cùng Đảng và Nhà nước vượt
qua khó khăn thách thức, kiềm chế lạm phát, ngăn
chặn suy giảm, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo
anh sinh xã hội và duy trì tăng trưởng kinh tế
hợp lý.
Quá trình chuẩn bị đại hội Đại hội VII MTTQ Việt
Nam, cùng với sự tâm huyết, trách nhiệm của Đoàn
Chủ tịch, của UBTW MTTQ Việt Nam, đã nhận được
sự quan tâm lãnh đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí
thư Trung ương Đảng, sự phối hợp của Mặt trận
các tỉnh, thành, các tổ chức thành viên, các bộ,
ban, ngành Trung ương, đặc biệt là các đồng chí
lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, MTTQ các
thời kỳ và sự quan tâm theo dõi, đóng góp của
đông đảo các tầng lớp nhân dân trong nước và
đồng bào ta ở nước ngoài góp ý cả nội dung Báo
cáo chính trị, Điều lệ sửa đổi, bổ sung và
phương hướng xây dựng UBTW MTTQ Việt Nam nhiệm
kỳ mới...
Năm năm qua, MTTQ Việt Nam đã tổ chức thực hiện
Chương trình hành động do Đại hội MTTQ lần thứ
VI đề ra đạt được những kết quả khá toàn diện,
góp phần động viên các tầng lớp nhân dân, đoàn
kết, nỗ lực cùng Đảng và Nhà nước tranh thủ thời
cơ thuận lợi, vượt qua khó khăn thách thức, đẩy
mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, đạt được nhiều
thành tựu quan trọng, góp phần vào những thành
tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của hơn 20 năm
đổi mới đất nước; khối đại đoàn kết được tăng
cường, vai trò của Mặt trận Tổ quốc ngày càng
được khẳng định và phát huy.
Đại hội lần này có nhiệm vụ nhận định, đánh giá
về tình hình khối đại đoàn kết toàn dân tộc và
kiểm điểm việc thực hiện Chương trình hành động
của MTTQ
Việt Nam nhiệm kỳ VI (2004-2009), từ đó rút ra
những bài học kinh nghiệm, đề ra mục tiêu,
phương hướng nhiệm vụ và Chương trình hành động
của MTTQ
Việt Nam nhiệm kỳ VII (2009-2014), với quyết tâm
Nâng cao vai trò,
hiệu quả hoạt động
của MTTQ Việt Nam, tiếp tục phát
huy truyền thống yêu nước,
lòng tự hào
dân tộc, ý chí tự lực, tự cường;
phát huy dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội,
đoàn kết
mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, tạo
thành sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn
dân tộc, góp phần thực hiện thắng lợi
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội, Chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội và
Nghị quyết
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, lần thứ XI;
giữ vững độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh
thổ vì mục tiêu "Dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh";
thông qua Điều lệ MTTQ Việt Nam (sửa đổi, bổ
sung); hiệp thương dân chủ cử ra Uỷ ban Trung
ương MTTQ Việt Nam nhiệm kỳ mới theo hướng mở
rộng, tăng cường tính đại diện, tính tiêu biểu
và tính thiết thực để Uỷ ban Trung ương MTTQ
Việt Nam thực sự là hình ảnh tiêu biểu của khối
đại đoàn kết toàn dân tộc, đáp ứng yêu cầu đổi
mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của MTTQ Việt
Nam trong giai đoạn mới. Đại hội chúng ta sẽ
được nghe bài phát biểu quan trọng của đồng chí
Nông Đức Mạnh, Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng
Cộng sản Việt Nam. Tại Đại hội, MTTQ Việt Nam sẽ
phát động thi đua lập thành tích chào mừng kỷ
niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội, 80 năm thành
lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 80 năm thành lập Mặt
trận dân tộc thống nhất Việt Nam, 120 năm ngày
sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các ngày lễ lớn
của đất nước năm 2010. .
- Kính thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước
và MTTQ Việt Nam !
- Kính thưa các cụ, các vị và toàn thể quý đại
biểu !
Với tinh thần "Đoàn kết, Dân chủ, Đổi mới và
Phát triển",
Đại hội VII MTTQ Việt Nam phải thật sự
là Đại hội của khối đại đoàn kết toàn dân tộc,
góp phần tạo nên những chuyển biến mới trong
nhận thức và hành động của hệ thống chính trị,
của các tầng lớp nhân dân đối với sự nghiệp đại
đoàn kết toàn dân tộc và MTTQ Việt Nam trong
thời kỳ mới; qua đó, tiếp tục Nâng cao vai
trò và hiệu quả hoạt động của MTTQ Việt Nam, phát
huy dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội, xây
dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn
dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới,
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN,
vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh.
Với tinh thần đó, thay mặt Đoàn Chủ tịch Đại hội,
tôi xin
tuyên bố khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc
MTTQ Việt
Nam lần thứ VII (nhiệm kỳ 2009-2014).
Chúc Đại hội thành công tốt đẹp.
Xin trân trọng cảm ơn!
Về đầu trang
Phát biểu của
Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh
tại Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VII MTTQ Việt Nam
Thưa Đoàn Chủ tịch Đại hội,
Thưa các vị đại biểu,
Thưa các vị khách quý,
Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản
Việt Nam, tôi nhiệt liệt chào mừng Đại hội lần
thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đại hội của
khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đại hội biểu thị
quyết tâm của nhân dân ta phấn đấu vì mục tiêu
cao cả "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh ".
Tôi nhiệt liệt chào mừng các vị đại biểu Đại hội,
những người đại diện tiêu biểu cho khối đại đoàn
kết và thống nhất ý chí của 54 dân tộc anh em,
của các tôn giáo, các tầng lớp nhân dân, các
thành phần kinh tế và người Việt Nam ở nước
ngoài, đã hội tụ về Thủ đô ngàn năm văn hiến để
tham dự "Ngày hội đại đoàn kết, dân chủ, đổi mới
và phát triển".
Tôi xin gửi đến các vị đại biểu và các đồng chí
đã từng tham gia công tác Mặt trận Tổ quốc các
thời kỳ, các bậc lão thành cách mạng, gia đình
có công với nước, các Mẹ Việt Nam Anh hùng,
thương binh, gia đình liệt sĩ, cán bộ hưu trí,
đồng bào, chiến sĩ cả nước và bà con ta đang làm
ăn, sinh sống ở nước ngoài lời thăm hỏi ân cần,
lời chúc sức khỏe và thành đạt trong cuộc sống.
Tôi nhiệt liệt
hoan nghênh và chào mừng các đoàn đại biểu Mặt
trận các nước anh em và bầu bạn, đại diện các tổ
chức quốc tế, các đoàn ngoại giao. Sự có mặt của
các đồng chí, các vị và các bạn thể hiện sâu đậm
tình đoàn kết quốc tế, sự đồng tình ủng hộ và
hợp tác quý báu của đồng chí, bạn bè và nhân dân
thế giới đối với nhân dân và Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam chúng tôi.
Thưa các vị đại
biểu, các đồng chí và các bạn,
Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã
làm việc với tập thể Ban Thường trực Ủy ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đã đóng
góp ý kiến vào dự thảo Báo cáo chính trị của Uỷ
ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trình
Đại hội.
Chúng tôi hoan nghênh bản báo cáo vừa trình bày
trước Đại hội. Báo cáo đã phản ánh sát thực tình
hình các tầng lớp nhân dân và hoạt động của Mặt
trận, đồng thời chỉ rõ phương hướng, nội dung
tăng cường và đổi mới công tác Mặt trận, phù hợp
với quá trình đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước.
Tôi tin rằng, thực hiện tốt phương hướng, nhiệm
vụ chung, những chủ trương lớn và các giải pháp
nêu trong Báo cáo chính trị và chương trình hành
động, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhất định sẽ
nâng cao chất lượng hoạt động và vai trò to lớn
của mình trong xã hội và trong hệ thống chính
trị.
Là một thành
viên của Mặt trận, Đảng Cộng sản Việt
Nam tích cực ủng hộ, thực hiện chương trình hành
động chung; tạo những điều kiện thuận lợi nhất
để Mặt trận vươn lên làm tròn nhiệm vụ vẻ vang
của mình trong giai đoạn cách mạng mới của đất
nước.
Thưa các vị đại biểu, các đồng chí và các bạn,
Năm năm qua, đặc biệt là từ sau Đại hội X của
Đảng Cộng sản Việt Nam đến nay, tình hình thế
giới, khu vực có nhiều thay đổi, diễn biến phức
tạp. Nhân dân ta phải đương đầu với nhiều khó
khăn, thách thức do tác động tiêu cực của kinh
tế thế giới cũng như khó khăn nội tại của kinh
tế nước ta... Song, bằng bản lĩnh, trí tuệ và
sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, nhân dân ta
đã nỗ lực phấn đấu, tranh thủ thời cơ, thuận lợi,
vượt qua khó khăn, thách thức, đạt được những
thắng lợi quan trọng: Nền kinh tế nước ta cơ bản
ổn định, duy trì được tốc độ tăng trưởng hợp lý;
các thành phần kinh tế tiếp tục phát triển; các
lĩnh vực giáo dục - đào tạo, khoa học - công
nghệ, y tế, văn hóa, bảo vệ môi trường đều có
những tiến bộ; các chính sách an sinh xã hội
được quan tâm; độc lập, chủ quyền và toàn vẹn
lãnh thổ của Tổ quốc được bảo vệ vững chắc;
chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh
được tăng cường. Các chính sách xây dựng và phát
huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc
tiếp tục được triển khai rộng rãi và có kết quả.
Công tác dân vận được quan tâm. Mặt trận Tổ quốc
và các đoàn thể chính trị - xã hội được củng cố
về tổ chức, từng bước đổi mới nội dung, phương
thức hoạt động, đa dạng hóa các hình thức tập
hợp nhân dân, chú trọng hướng về cơ sở, vùng sâu,
vùng xa, vùng khó khăn; phối hợp với các ngành,
các địa phương tổ chức nhiều phong trào thi đua
yêu nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân,
động viên các tầng lớp nhân dân phấn đấu thực
hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển
kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh;
tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.
Mặt trận và các đoàn thể nhân dân còn mở rộng
quan hệ hữu nghị hợp tác giữa nhân dân ta với
bạn bè quốc tế, góp phần quan trọng tạo ra thế
và lực mới, nâng cao thêm vị thế và uy tín của
nước ta trên trường quốc tế.
Tuy nhiên, chúng ta cũng thấy rằng, những kết
quả đạt được còn thấp so với khả năng, tiềm lực
của đất nước. Ổn định kinh tế vĩ mô chưa thật
vững chắc, còn tiềm ẩn các yếu tố mất ổn định.
Giáo dục - đào tạo vẫn còn nhiều hạn chế. Chất
lượng công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân
dân, đặc biệt là ở cơ sở còn thấp. Sự phát triển
và chất lượng các hoạt động văn hoá, thông tin,
thể thao còn nhiều mặt yếu kém. Đời sống của một
bộ phận nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu
số vùng sâu, vùng xa, các đối tượng chính sách
còn nhiều khó khăn. Chính sách tiền lương, thu
nhập chưa hợp lý; một số vấn đề xã hội bức xúc
chậm được giải quyết. Tình trạng suy thoái về
chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một
bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và nhân dân
và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu
vẫn còn nghiêm trọng. Một số nội dung trong
chính sách xây dựng và phát huy sức mạnh đại
đoàn kết toàn dân tộc chưa được thực hiện đầy đủ.
Công tác dân vận, nội dung và phương thức hoạt
động của Mặt trận, các đoàn thể chính trị - xã
hội còn có mặt chậm đổi mới, có biểu hiện hành
chính hoá và hình thức chủ nghĩa. Việc phát huy
quyền làm chủ của nhân dân, sâu sát cơ sở, nắm
bắt tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của đoàn viên,
hội viên, các tầng lớp nhân dân, đồng bào các
dân tộc thiểu số, đồng bào có đạo còn hạn chế.
Xuất phát từ tình hình trên, để thực hiện thắng
lợi toàn diện Nghị quyết Đại hội X của Đảng,
hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch 5 năm 2006 - 2010,
tạo thuận lợi cho bước phát triển nhanh và bền
vững trong những năm tiếp theo, Hội nghị lần thứ
chín Ban Chấp hành Trung ương khoá X đã đề ra
những mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu
nhằm : Duy trì tốc độ tăng trưởng hợp lý, bền
vững, bảo đảm an sinh xã hội, đẩy mạnh xoá đói,
giảm nghèo, cải thiện và nâng cao đời sống vật
chất, tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ
và công bằng xã hội. Tăng cường hợp tác và chủ
động hội nhập quốc tế đạt hiệu quả ngày càng cao.
Giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng,
an ninh và trật tự an toàn xã hội. Tạo chuyển
biến rõ nét hơn trong công tác xây dựng Đảng.
Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh cải cách hành
chính; phòng chống tham nhũng, thực hành tiết
kiệm, chống lãng phí. Đổi mới, nâng cao chất
lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn
thể chính trị - xã hội.
Đây chính là
những mục tiêu phấn đấu, nhiệm vụ cụ thể phải
làm trong những năm trước mắt của Đảng, Nhà nước,
của toàn dân ta. Xuất phát từ vị trí, vai trò,
nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trên cơ
sở chương trình hành động, tôi đề nghị trong
nhiệm kỳ VII (2009 - 2014), Mặt trận cần tập
trung làm tốt một số việc sau :
1- Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối,
chủ trương, chính sách của Đảng về đại đoàn kết
toàn dân tộc, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát huy
hơn nữa vai trò, vị trí của mình trong việc tiếp
tục củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn
dân tộc, phát huy dân chủ, tăng cường sự đồng
thuận xã hội, thực hiện đại đoàn kết từ cơ sở,
trong từng cộng đồng dân cư đến toàn dân, toàn
quân trên phạm vi toàn quốc.
2- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam làm tốt công tác
động viên các tầng lớp nhân dân hăng hái tham
gia các phong trào thi đua, các cuộc vận động
thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã
hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, phát huy mọi
nguồn lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát
triển.
3- Mặt trận tổ chức và hướng dẫn nhân dân phát
huy quyền làm chủ, chủ động và tích cực tham gia
xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh,
nhất là ở cơ sở; củng cố và tăng cường mối quan
hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân
dân, góp phần cùng các tổ chức đảng tạo ra sự
chuyển biến căn bản trong việc ngăn chặn, từng
bước đẩy lùi sự suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối
sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân
dân. Tham gia cùng các cơ quan xây dựng, hoàn
thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; tạo
sự chuyển biến mạnh mẽ trong thực hành tiết kiệm,
phòng chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác thanh
tra nhân dân; thực hiện tốt chức năng giám sát
và phản biện xã hội theo đúng quy định của pháp
luật.
4- Mặt trận mở rộng và nâng cao hơn nữa hiệu quả
đối ngoại nhân dân, tăng cường đoàn kết, hữu
nghị, hợp tác và tích cực hội nhập quốc tế, góp
phần cùng đối ngoại của Đảng, ngoại giao của Nhà
nước nhằm củng cố môi trường hoà bình, hữu nghị,
hợp tác và phát triển để xây dựng và bảo vệ đất
nước.
Để đưa chương trình hành động vào cuộc sống, đòi
hỏi quan trọng là Mặt trận cần tiếp tục đổi mới
phương thức, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
và hiệu quả hoạt động theo hướng tập trung về cơ
sở, đa dạng hóa các hình thức tập hợp và phát
huy tối đa mọi nguồn lực trong các tầng lớp nhân
dân kể cả người Việt Nam ở nước ngoài. Phấn đấu
để từng bước thực hiện khẩu hiệu: Công tác Mặt
trận là công tác của toàn xã hội, trong đó cán
bộ chuyên trách là hạt nhân, là nòng cốt.
Qua đại hội Mặt trận Tổ quốc các cấp, một vấn đề
rất quan trọng được các đại biểu đề cập là Đảng
phải thực sự đổi mới sự lãnh đạo của mình đối
với công tác Mặt trận. Sự quan tâm đó là rất
chính đáng. Bởi trong cơ chế Đảng lãnh đạo, nhân
dân làm chủ, Nhà nước quản lý, hiện nay muốn
tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt
động của Mặt trận, trước hết Đảng phải đổi mới
phương thức lãnh đạo của mình đối với công tác
Mặt trận theo yêu cầu của thời kỳ mới. Phải coi
sự tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của
Đảng là một trong những điểm mấu chốt để Mặt
trận tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng
hoạt động của mình.
Nhân dịp này, tôi yêu cầu các cấp ủy đảng từ
Trung ương đến cơ sở cần làm tốt chức năng lãnh
đạo và gương mẫu thực hiện trách nhiệm của một
tổ chức thành viên, yêu cầu chính quyền các cấp
phối hợp và tạo mọi điều kiện thuận lợi để Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam hoàn thành những nhiệm vụ
vẻ vang của mình trong giai đoạn mới.
Thưa các vị đại biểu, các đồng chí và các bạn,
Đoàn kết, yêu nước là truyền thống cực kỳ quý
báu của dân tộc ta. Kế thừa và phát huy truyền
thống đó, từ ngày Đảng ta ra đời cho đến nay,
được dẫn dắt bởi tư tưởng đại đoàn kết dân tộc
của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đã không ngừng
chăm lo xây dựng và phát triển Mặt trận Dân tộc
thống nhất, coi đại đoàn kết toàn dân tộc là một
cội nguồn của sức mạnh, động lực chủ yếu và là
nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi
của sự nghiệp cách mạng và phát triển của đất
nước và dân tộc ta.
Bảy mươi chín năm trước đây, ngày 18/11/1930,
Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ban hành một
văn kiện quan trọng: "Chỉ thị về việc thành lập
Hội Phản đế đồng minh" . Đây là hình thức tổ
chức đầu tiên của Mặt trận Dân tộc thống nhất
Việt Nam , đánh dấu một bước phát triển về chất
phong trào yêu nước của dân tộc ta trong cuộc
đấu tranh chống ách thống trị của chủ nghĩa thực
dân Pháp.
Kế tục sự nghiệp cách mạng của Hội Phản đế đồng
minh, những hình thức tổ chức Mặt trận với những
tên gọi khác nhau đã lần lượt ra đời nhằm đáp
ứng yêu cầu, nhiệm vụ của từng giai đoạn cách
mạng.
Năm tháng sẽ qua đi nhưng sức mạnh vĩ đại, thành
tựu nổi bật của khối đại đoàn kết toàn dân tộc
và vai trò của Mặt trận Dân tộc thống nhất trong
cách mạng dân tộc dân chủ trước đây và cách mạng
xã hội chủ nghĩa ngày nay sẽ mãi mãi là những
trang chói lọi trong lịch sử dân tộc ta ở thời
đại Hồ Chí Minh.
Đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh, nhân dân ta
đã làm Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên
nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.
Đoàn kết trong Mặt trận Liên Việt, nhân dân ta
đã kháng chiến thắng lợi, giải phóng một nửa đất
nước, xây dựng miền Bắc vững mạnh, làm hậu
phương vững chắc cho tiền tuyến lớn miền Nam
chống đế quốc Mỹ xâm lược.
Đoàn kết trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trong
Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và
Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa
bình Việt Nam, nhân dân ta đã đánh thắng chiến
tranh xâm lược và chủ nghĩa thực dân mới, giải
phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước,
đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Bước vào thời kỳ mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
xã hội chủ nghĩa, nhất là qua gần 1/4 thế kỷ
tiến hành công cuộc đổi mới, Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam đã tập hợp, đoàn kết nhân dân ta phấn
đấu vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội
và giành được những thành tựu to lớn có ý nghĩa
lịch sử.
Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định :
"Chính sách Mặt trận là chính sách quan trọng.
Công tác Mặt trận là công tác rất quan trọng
trong toàn bộ công tác cách mạng", Đại hội VII
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một sự kiện chính
trị nổi bật diễn ra vào lúc nhân dân ta bằng
những việc làm thiết thực kỷ niệm 40 năm thực
hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Từ
diễn đàn Đại hội, tôi thiết tha kêu gọi toàn
Đảng, toàn dân và toàn quân ra sức "Học tập và
làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", nguyện
suốt đời tuân theo Di chúc của Người, phấn đấu
thực hiện cho được điều mong muốn cuối cùng của
Người mà cũng là mong muốn của toàn dân tộc, của
mỗi người Việt Nam chúng ta là : "Toàn Đảng,
toàn dân đoàn kết xây dựng đất nước Việt Nam hòa
bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh
", góp phần tích cực vào sự nghiệp hòa bình, độc
lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế
giới.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường giáo dục
cán bộ, đảng viên và nhân dân ta:
"Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết,
Thành công, thành công, đại thành công"
Với tư tưởng chỉ đạo đó của Người, tôi xin chúc
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam thành công tốt đẹp.
Xin chúc sức khoẻ các vị đại biểu, các đồng chí
và các bạn.
Xin cảm ơn.
*
* *
Thưa các vị đại biểu, các đồng chí và các bạn,
Nhân dịp đại hội trọng thể này, thay mặt Ban
Chấp hành Trung ương Đảng, tôi xin trao tặng Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam bức trướng mang dòng chữ :
"PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC,
ĐẨY MẠNH TOÀN DIỆN CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI VÌ DÂN GIÀU,
NƯỚC MẠNH, XÃ HỘI CÔNG BẰNG, DÂN CHỦ, VĂN MINH"
Về đầu trang
CÁC ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC TẾ CHÀO MỪNG
ĐẠI HỘI MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM LẦN
THỨ VII
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần
thứ VII,
các đoàn đại biểu quốc tế đã có bài phát biểu
chào mừng Đại hội. Qua đó đã ghi nhận và đánh
giá vao vai trò của MTTQ Việt
Nam trong công cuộc xây dựng và phát triển đất
nước. Chúng tôi xin giới thiệu
lược ghi phát biểu của các đoàn đại biểu quốc tế
tại Đại hội.
* Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào xây
dựng đất nước Si Sa Vạt Kẹo Bun Phăn: MTTQ Việt
Nam đã có được những bước chuyển biến to lớn,
dành được những thành tựu về mọi mặt
Dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng
Cộng sản Việt Nam, với sức mạnh trí tuệ của Nghị
quyết Đại hội lần thứ X làm kim chỉ nam, đã tạo
điều kiện để MTTQ Việt Nam đã có được những bước
chuyển biến to lớn, dành được những thành tựu về
mọi mặt, trước hết là việc tập hợp và đoàn kết
toàn dân, tuyên truyền vận động, tranh thủ sự
ủng hộ của các tổ chức xã hội, vận động người
Việt Nam ở nước ngoài hướng
về quê hương,
lấy Mặt trận làm đại gia đình.
Ông Si Sa Vạt Kẹo Bun Phăn nhấn mạnh: MTTQ Việt
Nam đã mở rộng các hoạt động đối ngoại nhân dân,
tranh thủ sự đồng tình ủng hộ, sự hợp tác toàn
diện của các tổ chức Mặt trận, các nước bạn bè
chiến lược, các tổ chức xã hội trong khu vực và
trên thế giới, đã tạo được uy tín, vị thế của
MTTQ Việt Nam ở trong nước và trên trường quốc
tế ngày càng cao...
* Phó Chủ tịch Chính hiệp Trung Quốc Trương Dung
Minh:
MTTQ Việt
Nam là tổ chức Mặt trận thống nhất có tính đại
diện rộng rãi của Việt Nam
Thay mặt đoàn đại biểu, bà Trương Dung Minh, Phó
Chủ tịch Chính hiệp Trung Quốc bày tỏ lời chúc
mừng nhiệt liệt tới Đại hội. Bà Trương Dung Minh
nhấn mạnh: MTTQ Việt Nam là tổ chức mặt trận
thống nhất có tính đại diện rộng rãi của Việt
Nam, phát huy vai trò quan trọng trong đời sống
chính trị quốc gia Việt Nam. 5 năm trở lại đây,
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,
MTTQ Việt Nam đã huy động nhân dân các dân tộc,
các tôn giáo, các giai tầng và kiều bào Việt Nam
tại hải ngoại cùng xây dựng xã hội đại đoàn kết
dân tộc Việt Nam, tích cực nêu kiến nghị, hiến
kế sách cho việc xây dựng và phát triển quốc gia,
phát huy vai trò quan trọng cho sự hài hòa ổn
định của xã hội và phát triển kinh tế của Việt
Nam, đạt được những thành quả to lớn. Chính hiệp
toàn quốc Trung Quốc thực sự vui mừng trước
những thành tựu to lớn mà MTTQ Việt Nam đạt được.
Bà Trương Dung Minh cho rằng, Hội nghị Hiệp
thương Chính trị nhân dân Toàn quốc Trung Quốc
và MTTQ Việt Nam là tổ chức mặt trận thống nhất
do Đảng Cộng sản lãnh đạo, đứng trước những
nhiệm vụ giống nhau trên các phương diện gìn giữ
xã hội hài hòa, thúc đẩy kinh tế phát triển bình
ổn, lành mạnh, cải thiện đời sống người dân; có
nhiều kinh nghiệm và cách làm có thể cùng tham
khảo lẫn nhau trong việc tham dự công việc chính
trị quốc gia. Việc tăng cường giao lưu và hợp
tác đôi bên có ý nghĩa trọng đại, có lợi cho
nhân dân hai nước, tăng cường hiểu biết, có lợi
cho củng cố tình hữu nghị truyền thống
Trung-Việt, có lợi cho hợp tác song phương thiết
thực trên các lĩnh vực. Cùng với việc quan hệ
hai nước không ngừng phát triển, quan hệ qua lại
giữ Chính hiệp Toàn quốc Trung Quốc và MTTQ Việt
Nam chắc chắn sẽ thiết thực hơn, sâu sắc hơn,
chắc chắn sẽ giành được những thành quả to lớn
hơn nữa.
* Đoàn ủy ban Bảo vệ Cách mạng
Cuba:
Việt
Nam đã có được một sự phát triển to lớn và vững
chắc
Đại hội đại biểu toàn quốc là một sự kiện quan
trọng huy động tất cả các lực lượng yêu nước
nhằm hướng tới đoàn kết toàn dân để gìn giữ một
cách vững chắc nền độc lập và sự thống nhất đất
nước, cũng như vì mục tiêu dân giàu nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Chúng tôi tin chắc rằng Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam trung thành với lịch sử vẻ vang của mình sẽ
tiếp tục đóng góp tích cực vào vào mục tiêu trên,
thực hiện di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh-
người giữa đạn bom tàn phá và chết choc do đế
quốc Mỹ gây ra đã khẳng định: “Kết thúc chiến
tranh dân tộc chúng tôi sẽ xây dựng một đất nước
Việt Nam hơn gấp 10 lần”.
Chúng tôi vui mừng nhận thấy chỉ trong một quá
trình lịch sử ngắn nhưng nhờ áp dụng một cách
phù hợp chính sách đổi mới, Việt Nam đã có được
một sự phát triển to lớn và vững chắc trong mọi
lĩnh vực kinh tế, đạt được nhiều thành tựu trong
xuất khẩu và đầu tư; hiệu quả trong sản xuất,
tăng thu nhập cho nông dân và đặc biệt là các
tiến bộ trong giáo dục và y tế, điển hình là tại
các vùng nông thôn và vùng núi. Trong hoàn cảnh
hiện nay, chúng tôi ý thức được sự hy sinh và
những nỗ lực hết mình của nhân dân Việt Nam
trong đương đầu một cách thành công với khủng
hoảng kinh tế thế giới...”.Năm 2010 sẽ tròn 50
năm kỷ niệm ngày thành lập Ủy ban Bảo vệ Cách
mạng Cuba và ngày thiết lập các mối quan hệ
ngoại giao giữa Việt Nam và Cuba. Những người
Cuba chúng tôi cảm thấy rất tự hào về các mối
quan hệ hữu nghị và đoàn kết trong sáng, thiêng
liêng giữa hai Đảng, hai Chính phủ và hai dân
tộc Việt Nam và Cuba.
Chúng tôi nguyện cống hiến hết mình vào việc
củng cố các mối quan hệ vững chắc trên mọi
phương diện giữa Cuba và Việt Nam. Buổi gặp gỡ
diễn ra giữa Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và
Chủ tịch Raul Castro tại Hội nghị thượng đỉnh
phong trào các nước Không Liên kết tại Ai Cập là
một ví dụ minh chứng.
* Ông Min Khin, Phó Chủ tịch Thường trực
kiêm Tổng Thư ký Hội đồng dân tộc Mặt trận đoàn
kết Phát triển Tổ quốc Campuchia:
MTTQ đã góp phần vào thực hiện những nhiệm vụ
phục vụ Tổ quốc phát triển và
nhanh chóng làm thay đổi bộ mặt đất nước
Nhân danh đoàn đại biểu, thay mặt Samdech Akka
Moha Ponhea Chakrey Heng Samrin, Chủ tịch Quốc
hội, Chủ tịch danh dự Đảng Nhân dân Campuchia
kiêm Chủ tịch Hội đồng dân tộc Mặt trận Đoàn kết
Phát triển Tổ quốc Campuchia, tôi vô cùng vui
mừng và có vinh dự lớn lao được tham dự Đại hội
lần thứ VII MTTQ Việt Nam để học hỏi những kinh
nghiệm và kết quả hoạt động trong công tác vận
động quần chúng của MTTQ đã góp phần vào thực
hiện những nhiệm vụ phục vụ Tổ quốc phát triển
và nhanh chóng làm thay đổi bộ mặt đất nước,
đồng thời tăng cường và thắt chặt tình đoàn kết,
hữu nghị, hợp tác giữa Mặt trận hai nước ngày
càng vững mạnh hơn.
Nhân dân Campuchia và nhân dân Việt Nam đã từng
cùng nhau trải qua bao khó khăn và thử thách
trong vô vàn những sự kiện lịch sử của giai đoạn
đấu tranh vì sự nghiệp độc lập, thống nhất và
phát triển đất nước. Bắt nguồn từ tinh thần đó,
ngày nay hai nước đã bước vào trang sử mới của
lịch sử, có được hòa bình, toàn vẹn lãnh thổ,
tiến bộ và đang tự tin tiến bước trong việc góp
phần gìn giữ an ninh, hòa bình, hợp tác thinh
vượng, phát triển kinh tế trong khu vực và trên
thế giới.
Ông Min Khin nhấn mạnh: Qua phần đánh giá cụ thể
của Đại hội MTTQ Việt Nam lần thứ VII và thông
qua các chuyến thăm Campuchia của lãnh đạo Đảng,
Mặt trận, Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, chúng
tôi xin bày tỏ lòng khâm phục và lời chúc mừng
nồng nhiệt đối với sự phát triển nhanh chóng
trên mọi lĩnh vực của nước CHXHCN Việt Nam trong
sự nghiệp xây dựng Tổ quốc thu được nhiều thắng
lợi. Thực tế, công cuộc xây dựng, bảo vệ tổ quốc
để đất nước phát triển có an ninh, hòa bình,
thống nhất dân tộc vững chắc, có nền kinh tế
tiên tiến, nguồn nhân lực dồi dào dưới sự lãnh
đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam mà Việt
Nam còn tích cực làm tròn nghĩa vụ quốc tế, thực
hiện thành công sự hợp tác với các nước trong
khu vực và trên thế giới một cách đáng trân
trọng.
Nhân dịp này, thay mặt Mặt trận và nhân dân
Campuchia, tôi xin bày tỏ biết ơn chân thành và
sâu sắc nhất và luôn ghi nhớ công ơn to lớn của
Đảng, Nhà nước, Mặt trận, Quân đội và nhân dân
Việt Nam với tinh thần đoàn kết sâu sắc vì sự
nghiệp giải phóng nhân dân Campuchia hồi sinh và
tiếp tục hỗ trợ xây dựng, tái thiết đất nước để
có được an ninh hòa bình, phồn vinh như ngày
nay.
Doãn
Hùng (lược ghi)
Về đầu trang
BAN
THƯỜNG TRỰC UỶ BAN TRUNG ƯƠNG MTTQ VIỆT NAM KHOÁ
VII
NHIỆM KỲ 2009 -
2014

Chủ tịch: Ông Huỳnh Đảm
Tiểu sử tóm tắt
ông Huỳnh Đảm
Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt
Nam
- Họ và tên: HUỲNH ĐẢM (Bảy Đảm).
- Ngày sinh: 30/12/1948.
- Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không.
- Quê quán: xã Tân Thành, thành
phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Hiện thường trú tại: số 108
đường Lý Thường Kiệt, phường 7, quận 10, thành
phố Hồ Chí Minh.
- Trình độ: Cử nhân Kinh tế, cử
nhân Luật, Cử nhân Chính trị.
- Chức vụ hiện nay: Uỷ viên BCH
Trung ương Đảng, Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam .
Tóm tắt quá trình
công tác
- Từ 1960 đến 9/1968: Tham gia
cách mạng (làm liên lạc) ngay từ năm 12 tuổi
trong phong trào đồng khởi năm 1960. Năm 1964
ông gia nhập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, lần lượt giữ
các chức vụ: Bí thư chi đoàn ấp, Uỷ viên xã Đoàn,
Thường vụ xã Đoàn Tân Lộc, huyện Thới Bình. Ngày
02/9/1968, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản
Việt Nam.
Sau khi vào Đảng, ông được cử làm cán bộ Huyện
đoàn, rồi Uỷ viên Ban Chấp hành, Uỷ viên Thường
vụ, Bí thư huyện Đoàn Thới Bình. Sau đó, ông là
Uỷ viên Ban Chấp hành tỉnh Đoàn Cà Mau cho tới
ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.
- Từ 30/4/1975 đến 12/1987:Giữ chức Thường vụ
tỉnh Đoàn, Phó Bí thư tỉnh Đoàn, Bí thư tỉnh
Đoàn, Tỉnh uỷ viên tỉnh Minh Hải. Ông được bầu
là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đoàn, rồi Bí
thư Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh khoá IV;
đồng thời, là Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội
Liên hiệp Thanh niên Việt Nam và làm Hiệu trưởng
Trường Đoàn Trung ương II.
- Từ 12/1987 đến năm 1994: Được phân công về
công tác tại thành phố Hồ Chí Minh và được bầu
làm Phó Bí thư, rồi Bí thư Quận uỷ quận 10, Uỷ
viên Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh
khoá V.
- Từ năm 1994 đến nay: Giữ các chức vụ: Uỷ viên
Thường vụ Thành uỷ thành phố Hồ Chí Minh khoá
VI; đại biểu HĐND thành phố, Phó Chủ tịch rồi
Chủ tịch HĐND thành phố Hồ Chí Minh khoá V, khoá
VI, Phó Bí thư Thành uỷ khoá VII. Đại biểu Quốc
hội, Phó đoàn rồi Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội
thành phố Hồ Chí Minh, Uỷ viên Uỷ ban Kinh
tế-Ngân sách Quốc hội khoá X. Tháng 4/2001 ông
được bầu là Uỷ viên BCH Trung ương Đảng Cộng sản
Việt Nam khoá IX; đại biểu Quốc hội, Phó Chủ
tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội khoá XI; Tổng
Thư ký Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam khoá V;
Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Uỷ ban Trung ương
MTTQ Việt Nam khoá VI.
Ngày 9/1/2008, ông được cử làm
Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam đến nay. Tại đại hội
VII MTTQ Việt Nam (28-30/9/2009) ông được tín
nhiệm tái cử Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam.
Hiện nay, ông là Uỷ viên BCH
Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá X. Đại
biểu Quốc hội, Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của
Quốc hội khoá XII.
Trong quá trình công tác ông đã
được lãnh đạo Đảng, Nhà nước khen thưởng: 1 Huân
chương hạng Nhì, 3 Huân chương hạng Ba, Huân
chương Đại đoàn kết dân tộc, nhiều Huy chương và
Kỷ niệm chương.
|
 |
|
Ông Vũ Trọng Kim
Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký
Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam |
Các Phó Chủ tịch chuyên trách Uỷ ban
Trung ương MTTQ Việt Nam khoá VII
|
 |
|
 |
 |
|
Ông
Lê Bá Trình |
|
Bà Hà Thị Liên |
Ông Hà Văn Núi |
| |
|
|
|
|
 |
|
 |
 |
|
Ông Nguyễn Văn Pha |
|
Ông Nguyễn
Lam |
Ông Trần Hoàng Thám |
| |
|
 |
|
| |
|
Bà Bùi Thị Thanh |
|
Các Phó Chủ tịch không chuyên trách Uỷ
ban Trung ương MTTQ Việt Nam khoá VII
|
 |
 |
 |
|
Linh mục Nguyễn Công Danh
Chủ tịch
Ủy ban Đoàn kết Công giáo VN
|
Ông Dương Quan Hà
Chủ tịch Ủy ban MTTQ TP. Hồ Chí Minh
|
Ông
Phạm Xuân Hằng
Chủ tịch Ủy ban MTTQ TP. Hà Nội
|
|
 |
 |
 |
|
Bà
Hoàng Xuân Sính,
Chủ tịch Hội đồng quản trị trường Đại học dân
lập Thăng Long
|
Hòa
thượng Thích Trí Tịnh,
Chủ tịch Hội đồng trị sự Trung ương Giáo hội
Phật giáo Việt Nam
|
Ông
Cư Hòa Vần,
Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn về Dân tộc của Ủy ban
Trung ương MTTQ Việt Nam
|
| |
|
|
Về đầu trang
DANH
SÁCH UỶ BAN TRUNG ƯƠNG MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
KHOÁ VII
NHIỆM KỲ 2009 - 2014
1. Ông Phạm Quốc Anh, Chủ tịch
Hội Luật gia Việt Nam
2. Ông Lê Thúc Anh, Chủ tịch Liên
Đoàn Luật sư Việt Nam
3. Ông Lê Vũ Anh, Phó Chủ tịch
Hội Y tế công cộng Việt Nam
4. Ông Nguyễn Quốc Cường, Ủy
viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội Nông dân Việt
Nam
5. Ông Ngô Thế Dân, Phó Chủ tịch
Thường trực Hội làm vườn Việt Nam
6. Linh mục Nguyễn Công Danh, Chủ
tịch Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam
7. Ông Lê Ngọc Dũng, Chủ tịch Hội
Mỹ nghệ- Kim hoàn- Đá quý Việt Nam
8. Ông Nguyễn Bá Duyệt, Phó Chủ
tịch Hội Cứu trợ Trẻ em tàn tật Việt Nam
9. Ông Phạm Minh Hạc, Chủ tịch
Hội Cựu giáo chức Việt Nam
10. Ông Bùi Mạnh Hải, Chủ tịch
Hội liên lạc với người VN ở nước ngoài.
11. Ông Hồ Ngọc Hải, Chủ tịch Hội
Nước sạch và Môi trường Việt Nam
12. Ông Trần Hanh, Chủ tịch Hội
Cựu chiến binh Việt Nam
13. Bà Nguyễn Thị Thanh Hoà, Ủy
viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội Liên hiệp
Phụ nữ Việt Nam.
14. Ông Vũ Xuân Hồng, Chủ tịch
Liên hiệp các tổ chức Hữu nghị Việt Nam
15. Ông Bùi Văn Huấn, Ủy viên
Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính
trị QĐND Việt Nam.
16. Bà Hà Thị Khiết, Bí thư
Trungương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương
Đảng
17. Ông Dương Trung Quốc, Tổng
thư ký Hội Khoa học lịch sử Việt Nam
18. Bà Vũ Giáng Hương, Chủ tịch
Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam
19. Ông Nguyễn Xuân Hướng, Chủ
tịch Hội Đông y Việt Nam
20. Ông Đinh Thế Huynh, Ủy viên
Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam
21. Ông Cao Sỹ Kiêm, Chủ tịch
Hiệp Hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam
22. Ông Nguyễn Kiểm, Chủ tịch Hội
Xuất bản Việt Nam
23. Ông Hồ Uy Liêm, Q. Chủ tịch
Liên hiệp các Hội Khoa học - kỹ thuật Việt Nam
24. Ông Nguyễn Anh Liên, Chủ tịch
Hội Cựu Thanh niên xung phong Việt Nam
25. Ông Nguyễn Đình Liêu, Chủ
tịch Hội Bảo trợ Người tàn tật và trẻ mồ côi
Việt Nam
26. Ông Nguyễn Phước Lộc, Phó Chủ
tịch Thường trực Hội Liên hiệp thanh niên Việt
Nam
27. Ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
28. Mục sư Nguyễn Hữu Mạc, Hội
trưởng Hội Thánh Tin lành Việt Nam (Miền Bắc)
29. Ông Đỗ Phượng, Chủ tịch Hội
Sinh vật cảnh Việt Nam
30. Ông Trần Hồng Quân, Chủ tịch
Hiệp Hội các trường ĐH và CĐ ngoài công lập Việt
Nam
31. Ông Nguyễn Tiến Quân, Chủ
tịch Liên minh các hợp tác xã Việt Nam
32. Ông Trần Vinh Quang, Chủ tịch
Hiệp Hội SXKD của người tàn tật Việt Nam
33. Ông Nguyễn Văn Rinh, Chủ tịch
Hội nạn nhân chất độc da cam -Dioxin Việt Nam
34. Ông Đào Soát, Chủ tịch Hội
Người mù Việt Nam
35. Ông Phạm Song, Chủ tịch Tổng
Hội Y học Việt Nam
36. Ông Trần Ngọc Tăng, Chủ tịch
Hội Chữ thập đỏ Việt Nam
37. Ông Nguyễn Việt Thắng, Chủ
tịch Hội Nghề cá Việt Nam
38. Ông Nguyễn Tài Thu, Chủ tịch
Hội Châm cứu Việt Nam
39. Ông Nguyễn Trung Thực, Chủ
tịch Hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt - Đức
40. Ông Võ Văn Thưởng, Ủy viên
dự khuyết Trung ương Đảng, Bí thư thứ nhất TW
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
41. Hoà thượng Thích Trí Tịnh,
Chủ tịch Hội đồng trị sự TW Giáo hội Phật giáo
Việt Nam
42. Ông Nguyễn Tấn Trịnh, Chủ
tịch Hội Người cao tuổi Việt Nam
43. Ông Nguyễn Thiện Trưởng, Chủ
tịch Hội Kế hoạch hoá Gia đình Việt Nam
44. Ông Vũ Quốc Tuấn, Chủ tịch
Hiệp Hội Làng nghề Việt Nam
45. Ông Đặng Ngọc Tùng, Ủy viên
TƯ Đảng, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt
Nam
46. Ông Phan Thanh Ba, Chủ tịch
UB MTTQ tỉnh Đắc Nông
47. Ông Phan Thanh Bình, Chủ tịch
UB MTTQ tỉnh Kiên Giang
48. Ông Huỳnh Nam Bình, Chủ tịch
UB MTTQ tỉnh Bến Tre
49. Bà Hoàng Thị Bình, Chủ tịch
UB MTTQ tỉnh Cao Bằng
50. Ông Kiều Như Bổn, Chủ tịch
UBMTTQ Ninh Thuận
51. Ông Phạm Minh Chánh, Chủ tịch
UB MTTQ tỉnh Khánh Hòa
52. Bà Trương Thị Chi, Chủ tịch
UB MTTQ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
53. Ông Nguyễn Thanh Dân, Chủ
tịch UBMTTQ tỉnh An Giang.
54. Ông Từ Văn Diện, Chủ tịch UB
MTTQ tỉnh Hà Tĩnh
55. Ông Ma Từ Đông Điền, Chủ tịch
UBMTTQ tỉnh Bắc Kạn
56. Ông Nguyễn Phụ Đông, Chủ
tịch UB MTTQ tỉnh Bắc Ninh
57. Ông Thạch Dư, Chủ tịch UB
MTTQ tỉnh Trà Vinh
58. Ông Phan Minh Đức, Chủ tịch
UB MTTQ tỉnh Tây Ninh
59. Ông Trần Văn Gôm, Chủ tịch
UB MTTQ tỉnh Bình Phước
60. Ông Dương Quan Hà, Chủ tịch
UB MTTQ thành phố Hồ Chí Minh
61. Ông Tống Văn Bé Hai, Chủ tịch
UBMTTQ tỉnh Tiền Giang
62. Ông Trương Quang Hai, Chủ
tịch UB MTTQ tỉnh Bình Thuận
63. Ông Phạm Xuân Hằng, Chủ tịch
UB MTTQ thành phố Hà Nội
64. Ông Y Déc H’Dơk, Chủ tịch UB
MTTQ tỉnh Đắc Lắc
65. Ông Đặng Quang Hồng, Chủ tịch
UB MTTQ tỉnh Vĩnh Phúc
66. Ông Nguyễn Thế Hùng, Chủ tịch
UB MTTQ tỉnh Bắc Giang
67. Ông Nguyễn Thái Hùng, Chủ
tịch UB MTTQ tỉnh Thái Bình
68. Ông Phạm Quốc Huynh, Chủ tịch
UB MTTQ thành phố Hải Phòng
69. Ông Bá Thanh Kia, Chủ tịch UB
MTTQ tỉnh Phú Yên
70. Ông Sí Xuân Kìn, Chủ tịch UB
MTTQ tỉnh Lào Cai
71. Ông Lê Văn Lai, Chủ tịch UB
MTTQ tỉnh Quảng Nam
72. Bà Nông Thị Lâm, Chủ tịch UB
MTTQ tỉnh Lạng Sơn
73. Ông Phan Quang Lãm, Chủ tịch
UB MTTQ thành phố Cần Thơ
74. Bà Nay Lan, Chủ tịch UB MTTQ
tỉnh Gia Lai
75. Bà Nguyễn Thị Kim Liên, Chủ
tịch UB MTTQ tỉnh Đồng Nai
76. Ông Lương Văn Luyến, Chủ
tịch UB MTTQ tỉnh Quảng Bình
77. Ông Nguyễn Hồng Nhị, Chủ
tịch UB MTTQ tỉnh Nghệ An
78. Ông Quảng Trọng Ninh, Chủ
tịch UB MTTQ tỉnh Bạc Liêu
79.Bà Đào Ngọc Nữ, Chủ tịch UB
MTTQ tỉnh Bình Dương
80. Ông Tẩn Vản Pao, Chủ tịch UB
MTTQ tỉnh Lai Châu
81.Ông Thào Sếnh Páo, Chủ tịch UB
MTTQ tỉnh Sơn La
82. Ông Đinh Quang Phòng, Chủ
tịch UB MTTQ tỉnh Hòa Bình
83.Ông Trần Phùng, Chủ tịch UB
MTTQ tỉnh Thừa Thiên - Huế
84.Ông Nguyễn Hải Quân, Chủ tịch
UB MTTQ tỉnh Đồng Tháp
85. Ông Phạm Hồng Quang, Chủ
tịch UB MTTQ tỉnh Ninh Bình
86.Ông Nguyễn Thanh Quang, Chủ
tịch UB MTTQ thành phố Đà Nẵng
87. Ông Thạch Kim Sêng, Chủ tịch
UBMTTQ tỉnh Sóc Trăng
88. Ông Lương Trọng Thái, Chủ
tịch UB MTTQ tỉnh Hà Nam
89. Ông Nguyễn Chí Thăng, Chủ
tịch UB MTTQ tỉnh Quảng Ninh
90.Ông Phạm Xuân Thăng, Chủ tịch
UB MTTQ tỉnh Hải Dương
91.Ông Hồ Ngọc Thắng, Chủ tịch UB
MTTQ tỉnh Lâm Đồng.
92. Ông Nguyễn Đình Thanh, Chủ
tịch UB MTTQ tỉnh Bình Định
93. Ông Trịnh Minh Thành, Chủ
tịch UB MTTQ tỉnh Cà Mau
94. Ông Lương Bằng Thiên, Chủ
tịch UB MTTQ tỉnh Hậu Giang
95. Ông Lương Trung Thông, Chủ
tịch UB MTTQ tỉnh Quảng Trị
96. Ông Hà Văn Thương, Chủ tịch
UB MTTQ tỉnh Thanh Hóa
97.Ông Bùi Tân Tiến, Chủ tịch UB
MTTQ tỉnh Nam Định
98. Ông Trần Phù Tiêu, Chủ tịch
UB MTTQ tỉnh Phú Thọ
99. Ông Giàng A Tính, Chủ tịch
UB MTTQ tỉnh Điện Biên
100. Ông Bàn Xuân Triều, Chủ
tịch UB MTTQ tỉnh Tuyên Quang
101. Ông Đào Quốc Trịnh, Chủ tịch
UB MTTQ tỉnh Hưng Yên
102. Ông Trần Bình Trọng, Chủ
tịch UB MTTQ tỉnh Kon Tum
103. Ông Võ Lê Tuấn, Chủ tịch UB
MTTQ tỉnh Long An
104. Ông Nguyễn Minh Tuấn, Chủ
tịch UB MTTQ tỉnh Quảng Ngãi
105.Ông Nguyễn Thanh Tùng, Chủ
tịch UB MTTQ tỉnh Thái Nguyên
106. Ông Lê Văn Ửng, Chủ tịch UB
MTTQ tỉnh Vĩnh Long
107. Ông Sùng A Vàng, Chủ tịch
UB MTTQ tỉnh Yên Bái
108. Ông Bàn Đức Vinh, Chủ tịch
UB MTTQ tỉnh Hà Giang
109. Ông Trần Đông A, Nguyên PGĐ
BV Nhi đồng 2 - TP. Hồ Chí Minh
110. Ông Phan Kế An, Uỷ viên Hội
Mỹ Thuật Việt Nam
111. Ông Trần Thoại Duy Bảo,
Nguyên Viện trưởng phân viện Vật lý tại TP. Hồ
Chí Minh
112. Bà Phạm Thanh Bình, Phó Viện
trưởng Viện nghiên cứu Công nghệ và phát triển
113. Ông Ngô Huy Cẩn, Phó Chủ
tịch Hội Cơ học thuỷ khí Việt Nam
114. Ông Nguyễn Hữu Có, Nguyên BT
Bộ QP chính quyền Sài Gòn
115. Ông Trịnh Anh Cơ, Tổng thư
ký Hội Trắc địa bản đồ viễn thám Việt Nam
116. Bà Nguyễn Thị Kim Cương,
Phó Chủ tịch Hội bảo trợ người tàn tật và trẻ mồ
côi TP. Hồ Chí Minh
117. Ông Lê Dân, Nghệ sỹ ưu tú,
Đạo diễn điện ảnh
118. Ông Nguyễn Ngọc Đào, Phó
Trưởng khoa đào tạo, Học viện Chính trị - Hành
chính Quốc gia Hồ Chí Minh
119. Ông Đàm Trung Đồn, Nguyên
chủ nhiệm bộ môn Vật lý- Đại học Quốc gia Hà Nội
120. Ông YA Đuck, Phó Chủ tịch
UBMTTQ tỉnh Lâm Đồng
121. Ông Nguyễn Đăng Dung, Giảng
viên khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội
122. Ông Ninh Viết Giao, Chủ tịch
Hội Văn nghệ Dân gian tỉnh Nghệ An.
123. Ông Nguyễn Hữu Hạnh, Nhân sỹ
thành phố Hồ Chí Minh
124. Ông Phan Hòa, Chủ tịch Công
đoàn Đại học Huế
125. Bà Khuất Thu Hồng, Viện
trưởng Viện Nghiên cứu phát triển Xã hội
126. Ông Phạm Ngọc Hùng, Nhân sỹ
Thành phố Hồ Chí Minh
127. Ông Quách Sỹ Hùng, Giảng
viên Viện Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính
trị- Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
128. Ông Phạm Khiêm Ích, Nguyên
Phó Viện trưởng Viện Thông tin Khoa học- Xã hội
129. Bà Linh Nga Niê Kdam, Nhà
nghiên cứu Văn hóa dân gian Tây Nguyên
130. Ông Nguyễn Xuân Khang, Hiệu
trưởng Trường Dân lập Mari Quyri – Hà Nội
131. Bà Bùi Thị Lạng, Chuyên viên
KH Sở KHCN và Môi trường TP. Hồ Chí Minh
132. Bà Trần Thị Lành, Viện
trưởng Viện sinh thái - Chính sách Xã hội
133. Ông Trần Đình Long, Viện sĩ
- Chủ tịch Hội Giống cây trồng Việt Nam
134. Ông Lê Mã Lương, Thiếu tướng
anh hùng lực lượng vũ trang, Giám đốc Bảo tàng
lịch sử Quân sự Việt Nam
135. Ông Trương Hán Minh, Ủy viên
Ban Chấp hành Hội Mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh
136. Ông Phạm Duy Nghĩa, Trưởng
bộ môn Luật - Kinh doanh - Khoa luật Đại học
Quốc gia Hà Nội
137. Ông Hồ Ngọc Nhuận, Nhân sỹ
TP. Hồ Chí Minh
138. Ông Đinh Bằng Phi, Nghệ sĩ
nhân dân - Hội sân khấu TP. Hồ Chí Minh
139. Ông Cao Xuân Phổ, Ủy viên
Ban chấp hành Hội khoa học Đông Nam Á
140. Ông Trình Quang Phú, Viện
trưởng Viện Nghiên cứu phát triển phương Đông
141. Bà Nguyễn Thị Minh Phương,
Cán bộ nghiên cứu Viện Khoa học giáo dục Việt
Nam
142. Bà Nguyễn Thị Ngọc Phượng,
Nguyên Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ, TP. Hồ
Chí Minh
143. Bà Lương Tú Quyên, Phó chủ
nhiệm khoa Quy hoạch- Đại học Kiến trúc.
144. Ông Phạm Bích San, Tổng thư
ký Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam
145. Bà Hoàng Xuân Sính, Chủ tịch
HĐQT trường Đại học dân lập Thăng Long.
146. Bà Trần Thị Ngọc Sơn, Phó
Trưởng phòng Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long
147. Ông Chu Phạm Ngọc Sơn, Phó
Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật TP.
Hồ Chí Minh
148. Bà Nguyễn Ngọc Sương, Nhà
giáo ưu tú, nguyên giảng viên đại học Khoa học
tự nhiên TP. Hồ Chí Minh
149. Ông Trần Văn Tấn, Nhà giáo
nhân dân, nguyên giảng viên đại học sư phạm TP.
Hồ Chí Minh
150. Ông Trần Hữu Thăng, Phó Chủ
tịch Tổng Hội Y học Việt Nam
151. Ông Lương Tấn Thành, Nguyên
Trưởng khoa Hóa sinh Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội
152. Ông Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội
nhà văn Việt Nam
153. Ông Ca Lê Thuần, Chủ tịch
Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật TP. Hồ Chí
Minh
154. Ông Trần Công Toại, Viện
trưởng viện Công nghệ và quản trị thành phố Hồ
Chí Minh
155. Ông Lều Thọ Trình, Nguyên
giảng viên Trường Đại học xây dựng Hà Nội
156. Ông Lý Chánh Trung, Nhân sỹ
TP Hồ Chí Minh
157. Ông Nguyễn Thành Trung, Anh
hùng lực lượng vũ trang, Nguyên Phó Tổng giám
đốc Tổng Cty Hàng không Việt Nam
158. Bà Lương Thị Trường, Giám
đốc Trung tâm vì sự phát triển bền vững miền
núi
159. Ông Trần Tý, Giám đốc TT Địa
Môi trường- Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật
Việt Nam
160. Ông Nguyễn Văn Vy, Nguyên
Hiệu trưởng trường Văn hóa nghệ thuật tỉnh Đồng
Nai.
161. Ông Y Brơm, Nguyên Phó giám
đốc Sở Văn hoá Thông tin tỉnh Gia Lai
162. Bà Trương Thị Bẩy, Ủy viên
UBMTTQ tỉnh Vĩnh Phúc khóa VIII
163. Bà Nguyễn Thị Bích, Ủy viên
Ban chấp hành Hội Phụ nữ thị trấn Kỳ Sơn, huyện
Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình
164. Bà H’Hoa Byă, Bí thư tỉnh
đoàn TNCS TP. Hồ Chí Minh tỉnh Đắc Lắc.
165. Bà Phù Thị Chuyên, Chi hội
trưởng hội Phụ nữ thôn Trung Sơn, xã Hữu Sản,
Bắc Quang, Hà Giang.
166. Ông Điểu Hà Điệp, Người tiêu
biểu xã Thọ Sơn, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
167. Ông Cao Lê Đức, Người tiêu
biểu thôn Ông Chinh, xã Hóa Tiến huyện Minh Hóa
Tỉnh Quảng Bình
168. Bà Bờ Ríu Thị Gươnh, Chủ
tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Nam Giang, tỉnh
Quảng Nam
169. Bà Phạm Thị Hạ, Kế toán xí
nghiệp bao bì Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu
tỉnh Nghệ An
170. Bà Hầu Thị Hồng, Phó Chủ
tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Tân Hương, huyện
Yên Bình, tỉnh Yên Bái.
171. Bà Ka Lệ Hợp, Ủy viên Ban
Thường vụ Hội LHPN huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.
172. Bà Diệp Thị Huyền, Cán bộ
Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất, huyện Đồng
Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
173. Bà Đàng Thị Mỹ Hương, Hiệu
trưởng Trường Dân tộc Nội trú tỉnh Ninh Thuận
174. Bà Đinh Thị Thu Hương, Phó
Chủ tịch MTTQ huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi.
175. Bà Ma Hương, Giáo viên
trường THPT xã DRó, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm
Đồng.
176. Bà Rơ Chăm H’Yeo, Phó Chủ
tịch Hội Cựu chiến binh tỉnh Gia Lai
177. Bà Y Lan, Trưởng Phòng y tế
huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum
178. Bà Lý Thị Liền, Phó Chủ tịch
HĐND xã Mường Hum, huyện Bát Sát, Lào Cai
179. Bà Củng Thị Mẩy, Phó Chủ
tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Bắc Mê, tỉnh Hà
Giang
180. Ông A Minh, Phó Chủ tịch
UBMTTQ xã Mô Rai, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum
181. Ông Vương Đức Minh, Chủ tịch
Liên đoàn lao động huyện Xín Mần tỉnh Hà Giang
182. Bà Phùng Lê Na, Uỷ viên Ban
Chấp hành Hội Phụ nữ huyện Mường Tè, tỉnh Lai
Châu.
183. Ông Xeo Văn Nam, Bí thư Đảng
uỷ xã Bắc Lý, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.
184. Bà Lồ Thị Hồng Nhinh, Cán bộ
Trung tâm Y tế dự phòng huyện Mường Khương, tỉnh
Lào Cai.
185. Bà Y Pan, Người tiêu biểu xã
Bờ Y, huyện Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum.
186. Ông Lường Văn Pẩu, Phó Chủ
tịch MTTQ xã Noong Lay, huyện Thuận Châu, tỉnh
Sơn La.
187. Bà Tao Thị Pêm, Người tiêu
biểu xã Bản Hon, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu.
188. Ông Cao Phai, Người tiêu
biểu huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.
189. Bà Lò Thị Phấn, Người tiêu
biểu xã Xiêng Pằn, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
190. Bà Chi Thị Phiến, Người tiêu
biểu xóm Khuổi Khom xã Kim Cúc huyện Bảo Lạc
tỉnh Cao Bằng
191. Bà Vì Thị Phượng, Phó Chủ
tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Sốp Cộp, tỉnh
Sơn La.
192. Bà Giàng Cố Phượng, Chi Hội
trưởng Hội Nông dân bản Xeo Hay, xã Can Hồ,
huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.
193. Ông Lợi Hồng Sơn, Nguyên
Trưởng khoa phẫu thuật Nhi, bệnh viện Việt - Đức
194. Ông Hoàng Văn Sương, Phó
trưởng Ban Tổ chức Huyện ủy Mường La, tỉnh Sơn
La.
195. Ông Hồ Văn Thà, Cán bộ Quản
lý điện tại trung tâm huyện Nam Trà My, tỉnh
Quảng Nam
196. Bà Chang Thị Hồng Thanh, Cán
bộ Trung tâm Y tế Huyện Mường Nhé, tỉnh Điện
Biên.
197. Bà Vương Thị Thảo, cán bộ xã
Túng Sán, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang.
198. Ông Điểu Thiệt, Chủ trang
trại xã Đồng Nơ, huyện Bình Long, tỉnh Bình
Phước.
199. Ông Côn Thương, Chủ tịch
MTTQ huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị.
200. Bà Chang Thị Thuỷ, Phó Chủ
tịch Hội Phụ nữ xã Nậm Khao, huyện Mường Tè,
tỉnh Lai Châu
201. Ông Lô Xuân Tình, Phó Chủ
tịch Hội Nông dân xã Kim Đa, huyện Tương Dương,
tỉnh Nghệ An.
202. Ông Sìn Văn Toán, Cán bộ
chuyên trách UBMTTQ huyện Sìn Hồ tỉnh Lai Châu.
203. Ông Đinh Văn Trung, Trạm
Phó Khuyến nông, huyện Sơn Hà tỉnh Quảng Ngãi
204. Ông Thổ Út, Ủy viên Thường
trực UBMTTQ tỉnh Đồng Nai
205. Ông Hồ Thanh Xoa, Chủ tịch
Hội Người cao tuổi xã A Ngo, huyện A Lưới, tỉnh
Thừa Thiên - Huế.
206. Bà Bàn Thị Xuyên, Bác sĩ
Viện Điều dưỡng Phục hồi chức năng TP Bắc Giang,
Bắc Giang
207. Chánh Phối sư Huỳnh Văn Bảy,
Trưởng Ban TT Hội thánh Cao đài Tiên Thiên
208. Ông Tống Hồ Cầm, Phó viện
trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. Hồ
Chí Minh
209. Linh mục Thiện Cẩm, Phó
Chủ tịch Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam
210. Linh mục Trần Mạnh Cường,
Chủ tịch Ủy Đoàn kết Công giáo tỉnh Đắc Lắc
211. Ông Nguyễn Tấn Đạt, Phó
Trưởng ban thường trực Ban Trị sự Trung ương
Phật giáo Hoà Hảo.
212. Bà Nguyễn Thị Ngọc Điệp,
Chánh Hội trưởng, trưởng ban quản lý Thánh Đức
Tổ Đình Cao đài Chiếu Minh Tam Thanh
213. Đại trưởng lão Trần Tích
Định, Hội trưởng Ban Trị sự Trung ương Giáo hội
Phật giáo Đường Nam Tông Minh Sư đạo
214. Ông Bùi Văn Đương, Phó ban
Trị sự Trung ương Phật giáo Hoà Hảo
215. Hòa thượng Thích Thiện Duyên,
Trưởng ban Hướng dẫn phật tử Trung ương Giáo hội
Phật giáo Việt Nam
216. Mục sư Y Ky Ê Ban, Ban Đại
diện Tin Lành tỉnh Đắc Lắc
217. Linh mục Nguyễn Văn Hậu, Phó
Chủ tịch Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam, Chủ
tịch Ủy ban Đoàn kết Công giáo tỉnh Bà Rịa- Vũng
Tàu
218. Linh mục Nguyễn Đức Hiệp,
Phó Chủ tịch Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt
Nam
219. Nữ tu Bùi Thị Hồng Hạnh, Phó
Chủ tịch Ủy ban Đoàn kết Công giáo TP Hồ Chí
Minh
220. Ông Nguyễn Phương Hiếu, Hội
trưởng Ban Trị sự Trung ương Tịnh độ Cư sĩ Phật
hội
221. Mục sư Vũ Quang Huyên,
Mục sư, quản nhiệm Hội Thánh tin lành TP. Nam
Định
222. Mục sư Phùng Quang Huyến,
Phó Hội trưởng Hội Thánh Tin lành Việt Nam (miền
Bắc)
223 Linh mục Nguyễn Tấn Khoá,
Phó Chủ tịch không chuyên trách UBTƯ MTTQ Việt
Nam khóa VI
224. Ni trưởng Thích nữ Ngoạt
Liên, Ủy viên thủ quỹ Hội đồng Trị sự Trung ương
Giáo hội Phật giáo Việt Nam
225. Sư cô Thích nữ Tín Liên, Uỷ
viên Ban Giáo dục Tăng ni Giáo hội Phật giáo
Việt Nam
226. Ông Nguyễn Văn Lộ, Phó ban
trị sự đạo Bửu Sơn Kỳ Hương
227. Nữ tu Nguyễn Thị Mỹ, Phó Chủ
tịch Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam
228. Chánh Phối sư Võ Văn Nho,
Trưởng Ban TT Hội thánh Cao đài Ban chỉnh đạo.
229. Hòa thượng Dương Nhơn, Phó
Chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội
Phật giáo Việt Nam
230. Hòa thượng Thích Từ Nhơn,
Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Trị sự Trung
ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam
231. Hòa thượng Đào Như, Trưởng
Ban Trị sự Phật giáo thành phố Cần Thơ
232. Hòa thượng Danh Nhưỡng, Phó
Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Trưởng
Ban trị sự Phật giáo Khơ me tỉnh Kiên Giang.
233. Linh mục Dương Phú Oanh, Phó
Chủ tịch Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam
234. Hòa thượng Thích Trí Quảng,
Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội
Phật giáo Việt Nam, Trưởng ban trị sự thành hội
Phật giáo TP. Hồ Chí Minh
235. Hòa thượng Thích Thanh
Sam, Trưởng ban Trị sự tỉnh Hội phật giáo tỉnh
Bắc Ninh
236. Ông Haji Idrí lsmail,
Trưởng ban Ban đại diện cộng đồng Hồi giáo TP.
Hồ Chí Minh
237. Linh mục Phan Đình Sơn,
Chủ tịch Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam
thành phố Cần Thơ
238. Hoà thượng Thích Thiện Tâm,
Uỷ viên thường trực Hội đồng Trị sự, phó ban
Hoằng pháp Giáo hội Phật giáo Việt Nam
239. Thái đầu sư Trần Đức Tăng,
Trưởng ban thường trực Hội thánh Cao đài Minh
Chơn Đạo.
240. Hòa Thượng Thích Giác Toàn,
Phó Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam
241. Hòa Thượng Thích Đức Thanh,
Phó trưởng ban Trị sự Phật giáo tỉnh Thừa Thiên
- Huế
242. Phối sư Thượng Hậu Thanh,
Chức sắc lãnh đạo Hội thánh Truyền giáo Cao Đài
243. Đầu sư Thượng Tám Thanh,
Chưởng quản Hội thánh Cao đài Tây Ninh
244. Ông Nguyễn Hữu Nghi, Phó Ban
vận động đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa
245. Hòa thượng Thích Chơn Thiện,
Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng trị sự Trung
ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam
246. Ông Phạm Trung Thứ, Trưởng
ban Quản lý Minh Lý Đạo- Tam Tông Miếu
247. Ông Nguyễn Văn Thuận, Ủy
viên Thường trực Ban Trị sự Trung ương Phật giáo
Hòa hảo Trưởng ban đại diện tại tỉnh Đồng Tháp.
248. Ông Nguyễn Thức, Chủ tịch
Hội đồng tinh thần tôn giáo Baha’i Việt Nam
249. Hòa Thượng Thích Thanh Tứ,
Phó Chủ nhiệm HĐTV Tôn giáo của UBTWMTTQ Việt
Nam.
250. Linh mục Phan Khắc Từ, Phó
Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Ủy ban Đoàn kết Công
giáo Việt Nam
251. Hòa thượng Thích Phổ Tuệ, Tu
sĩ phật giáo, Pháp chủ Hội đồng Chứng minh Giáo
hội Phật giáo Việt Nam
252. Hòa Thượng Thích Quảng Xả,
Ủy viên Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt
Nam, Trưởng ban Trị sự Phật giáo tỉnh Kon Tum
253. Hòa thượng Thạch Sok Xane,
Phó Chủ tịch TT Hội đoàn kết sư sãi yêu nước
tỉnh Trà Vinh.
254. Bà Đồng Thị Ánh, Giám đốc
Công ty TNHH Ánh Vy- Bình Định
255. Ông Nguyễn Văn Bình, Tổng
Giám đốc Công ty Thép HPS-Thành phố Hải Phòng
256. Ông Phạm Đức Bình, Chủ tịch
HĐQT Cty TNHH Thanh Bình, tỉnh Đồng Nai.
257. Ông Lê Hải Châu, Tổng Giám
đốc Công ty Tài Chính, đầu tư, xây dựng Chu Việt
- TP. Hồ Chí Minh
258. Ông Nguyễn Văn Đệ, Chủ tịch
Hội Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa tỉnh Thanh Hoá
259. Ông Phạm Đình Đoàn, Chủ tịch
Hội Doanh nghiệp trẻ Hà Nội, Chủ tịch kiêm Tổng
Giám đốc Tập đoàn Phú Thái
260. Ông Phạm Văn Du, Chủ nhiệm
Hợp tác xã dịch vụ Duy Sơn 2- huyện Duy Xuyên,
Quảng Nam
261. Ông Vũ Mạnh Hà, Tổng Giám
đốc Công ty CPCN Tàu thủy và xe máy ViNaShin
262. Ông Triệu Quốc Huân, Chủ
nhiệm HTX Ngôi Sao Sáng, thị xã Cao Bằng, tỉnh
Cao Bằng
263. Bà Phạm Thị Diệu Hiền, Giám
đốc Cty TNHH XDTM Diệu Hiền tại TP Cần Thơ.
264. Ông Đỗ Quang Hiển, Tổng Giám
đốc Cty Điện tử - Điện máy T&T, tại Hà Nội
265. Ông Đoàn Văn Hợi, Chủ nhiệm
HTXNN xã Nghĩa Hồng, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam
Định
266. Ông Trần Khắc Hùng, Chủ tịch
HĐQT các công ty thuộc Tập đoàn SARA
267. Bà Nguyễn Thị Thu Hường,
Giám đốc Công ty TNHH Hướng Dương- Cát Bà,
thành phố Hải Phòng.
268. Bà Nguyễn Thị Nguyệt Hường,
Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần tập đoàn Đầu tư
phát triển Việt Nam
269. Ông Đặng Văn Khoa, Chủ tịch
HĐQT Cty Việt Văn Khoa Sài Gòn
270. Ông Nguyễn Chánh Khê, Doanh
nhân khu công nghệ cao TP. Hồ Chí Minh
271. Bà Phạm Thị Mỹ Lệ, Giám đốc
Công ty TNHH Mỹ Lệ tỉnh Bình Phước
272. Ông Đỗ Long, Tổng Giám đốc
Cty SX HTD Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh
273. Ông Lý Ngọc Minh, Tổng Giám
đốc cty TNHH Minh Long, tỉnh Bình Dương.
274. Ông Huỳnh Văn Minh, Chủ tịch
Hiệp hội doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh
275. Ông Huỳnh Hữu Nghĩa, Chủ
nhiệm HTX gốm sứ Thái Dương, tỉnh Đồng Nai.
276. Ông Tài Phương, Chủ tịch
Công ty Bắc Mỹ tại TP. Hà Nội
277. Bà Huỳnh Thị Ri, Giám đốc
Quỹ tín dụng Nhân dân Mỹ Bình- tỉnh An Giang.
278. Ông Nguyễn Trường Sơn, Chủ
tịch Hội doanh nghiệp trẻ tỉnh Bắc Giang
279. Ông Hà Văn Thắm, Chủ tịch
Hiệp hội Công thương thành phố Hà Nội
280. Ông Võ Quốc Thắng, Chủ tịch
HĐQT Công ty cổ phần Đồng Tâm, Chủ tịch Hội
Doanh nghiệp trẻ Việt Nam
281. Ông Trần Văn Thành, Chủ tịch
Hội đồng quản trị, Giám đốc công ty cổ phần
DIPLOMAT
282. Ông Trần Kim Thành, Chủ tịch
HĐQT, Tổng Giám đốc Công ty Kinh Đô, TP. Hồ Chí
Minh
283. Vưu Khải Thành, Tổng giám
đốc Tổng Cty Bình Tiên ( Bitis)
284. Ông Đặng Văn Thành, Chủ tịch
HĐQT Ngân hàng TMCP Sài gòn Thương tín
285. Bà Đào Thu Thảo, Chủ tịch
Công ty Cổ phần Tập đoàn Hưng Thịnh phát
286. Ông Đào Lê Thảo, Giám đốc
Cty TNHH Dịch vụ Công nghệ Mạng, Hà Nội
287. Ông Lê Ngọc Thiệp, Chủ tịch
kiêm Giám đốc điều hành công ty TNHH MTV- Điện
lực Hải Phòng
288. Ông Đỗ Hoàng Thiệu, Phó Tổng
Giám đốc Ngân hàng cổ phần Việt Á
289. Ông Nguyễn Gia Thọ, Chủ
nhiệm Hợp tác xã Song Long- thành phố Hà Nội
290. Ông Vũ Văn Tiền, Chủ tịch
HĐQT, Tổng Giám đốc Cty cổ phần XNK tổng hợp Hà
Nội.
291. Bà Nguyễn Thị Huệ Trinh,
Tổng Giám đốc Cty TNHH SX-TM-DV Thuận An
292. Ông Trần Quang Tuấn, Giám
đốc Công ty xây lắp & công nghiệp tàu thủy Miền
Trung
293. Ông Đào Hồng Tuyển, Chủ tịch
HĐQT Công ty Du lịch Tuần Châu, tỉnh Quảng Ninh.
294. Ông Phương Hữu Việt, Chủ
tịch HĐQT Công ty cổ phần Tập đoàn đầu tư Việt
Phương
295. Bà Trương Kim Anh, Giám đốc
Đối ngoại Cty Thương mại hải sản bang Texas, Cố
vấn đối ngoại cộng đồng người Châu Á của Bộ Tư
pháp Hoa Kỳ
296. Ông Nguyễn Trọng Bình, Tiến
sĩ- Trung tâm Nghiên cứu phát triển toàn cầu
PFIZER, California, Hoa Kỳ
297.Ông Châu Văn Chi, Ủy viên
BTV Hội hữu nghị Việt Nam - Căm pu chia
298. Ông Nguyễn Quý Đạo, Giám đốc
Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp
299. Ông Hoàng Văn Diểu, Chủ tịch
Hội Người Việt Nam tại Lào
300. Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Chủ
tịch Hội hỗ trợ Phụ nữ và TN Việt Nam tại Đức
301. Ông Đỗ Xuân Hoàng, Phó Chủ
tịch Hội Người Việt Nam tại Liên bang Nga
302. Ông Hoàng Lộc, Phó Chủ tịch
Hội người Việt Nam tại Anh
303. Ông Nguyễn Thành Mỹ, Chủ
tịch Công ty American Dye Sou rce- Canađa
304. Ông Hà Thuỷ Nguyên, Chủ tịch
HĐQT Công ty cổ phần Hà Thuỷ Nguyên, Kiều bào
tại Newzealand.
305. Ông Trần Bá Phúc, Luật sư-
Chủ tịch Hội Việt Kiều thành phố Melbourne-
Australia
306. Ông Cao Văn San, Chủ tịch
Hội người Việt Nam tỉnh Sakon Nakhon- Thái Lan
307. Ông Lê Văn Tâm, Giám đốc
Công ty Vinaseiko, Hội viên Tổng hội người Việt
Nam tại Nhật
308. Ông Nguyễn Văn Thái, Chủ
tịch Hội Người Việt Nam tại Ba Lan “Đoàn kết và
Hữu nghị”
309. Ông Hoàng Đình Thắng, Chủ
tịch Hội người Việt Nam tại Séc
310. Ông Ngô Xuân Thanh, Kiều
bào tại Đan Mạch.
311. Bà Phan Bích Thiện, Chủ tịch
Hội Phụ nữ Việt Nam tại Hunggary
312. Bà Phạm Thị Trân Châu, Phó
Chủ nhiệm HĐTV về KH- GD của UBTƯ MTTQ Việt Nam
313. Ông Hồ Ngọc Cứ, Phó Chủ
nhiệm HĐTV về Dân chủ pháp luật của UB TƯ MTTQ
Việt Nam
314. Ông Lưu Văn Đạt, Chủ nhiệm
Hội đồng tư vấn Dân chủ pháp luật của UBTƯMTTQ
Việt Nam.
315. Ông Phan Đình Diệu, Chủ
nhiệm Hội đồng tư vấn về KH - GĐ của UBTƯ MTTQ
Việt Nam.
316. Ông Nguyễn Lân Dũng, Phó Chủ
nhiệm Hội đồng tư vấn về KH - GD của UBTƯ MTTQ
Việt Nam.
317. Ông Lê Ngọc Dũng, Chủ tịch
Hội thân nhân kiều bào thành phố Đà Nẵng.
318. Ông Trần Ngọc Đường, Chuyên
gia cao cấp Văn phòng Quốc hội.
319. Ông Trần Hậu, Nguyên Tổng
biên tập Tạp chí Mặt trận.
320. Ông Lê Minh Hiền, Ủy viên
Thường trực UBTƯ MTTQ VN khoá VI.
321. Ông Đỗ Quang Hưng, Giảng
viên khoa Khoa học chính trị Trường Đại học Khoa
hoc xã hội và nhân văn.
322. Ông Nguyễn Minh Hồng, Giám
đốc Trung tâm nghiên cứu ứng dụng tiến bộ y học
Việt Nam.
323. Bà Y Mưởi, Phó Bí thư Tỉnh
ủy tỉnh Kon Tum.
324. Đại đức Danh Lung, Ủy viên
Hội đồng tư vấn về Văn hoá của UBTƯMTTQ Việt
Nam.
325. Ông Nguyễn Ngọc Minh, Thầy
thuốc nhân dân - Nguyên Chủ tịch Liên hiệp các
hội KHKT TT- Huế.
326. Ông Trương Công Phú, Chủ
nhiệm Hội đồng tư vấn Kinh tế của UBTƯ MTTQ Việt
Nam.
327. Ông Trần Đình Phùng, Ủy viên
Thường trực UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa VI
328. Ông Lù Văn Que, Phó Chủ
nhiệm HĐTV về Dân tộc của UBTƯ MTTQ Việt Nam.
329. Ông Nguyễn Duy Quý, Chủ
nhiệm HĐTV về Văn hoá của UBTƯ MTTQ Việt Nam.
330. Ông Đỗ Tấn Sĩ, Phó Chủ tịch
Hội liên lạc với người Việt Nam ở nước ngoài -
TP. Hồ Chí Minh.
331. Ông Đỗ Duy Thường, Nguyên
Phó Chủ tịch chuyên trách UBTƯ MTTQ Việt Nam
khóa VI
332. Bà Trần Thị Đoan Trang,
Trưởng phòng Khám bệnh, Bệnh viện TƯ Huế.
333. Ông Lê Truyền, Nguyên Phó
Chủ tịch chuyên trách UBTƯ MTTQ VN khóa VI
334. Ông Nguyễn Túc, Phó Chủ
nhiệm Hội đồng tư vấn về Xã hội UBTƯMTTQ Việt
Nam
335. Ông Tương Lai, Phó Chủ nhiệm
Hội đồng tư vấn về Xã hội của UBTƯ MTTQ Việt Nam
336. Bà Lương Bạch Vân, Phó Chủ
tịch UBMTTQ TP. Hồ Chí Minh
337.
Ông Cư Hòa Vần, Phó Chủ tịch
không chuyên trách UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa VI,
Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn về Dân tộc của UBTƯ
MTTQ Việt Nam.
338. Ông Bằng Việt, Phó Chủ tịch
Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam
339. Ông Nguyễn Văn Vĩnh, Ủy viên
Thường trực UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa VI
340. Ông Nguyễn Tiến Võ, Phó Chủ
nhiệm Hội đồng Tư vấn về Đối ngoại kiều bào
341. Ông Huỳnh Đảm, Ủy viên Trung
ương Đảng, Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa VI
342. Ông Nguyễn Quang Du, Tổng
Biên tập Tạp chí Mặt trận
343. Ông Bùi Xuân Đức, Phó Trưởng
Ban Dân chủ pháp luật cơ quan UBTƯ MTTQ Việt Nam
344. Bà Má Thị Hà, Chuyên viên
Ban DT&TG Cơ quan UBTƯ MTTQ Việt Nam
345. Ông Hoàng Hải, Giám đốc
Trung tâm Công tác lý luận, cơ quan UBTƯ MTTQ
Việt Nam
346. Ông Lê Sơn Hải, Trưởng Ban
Kinh tế và Đối ngoại, Cơ quan UBTƯ MTTQ Việt Nam
347. Ông Vũ Trọng Kim, Ủy viên TƯ
Đảng Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký UBTƯ MTTQ
Việt Nam khóa VI
348. Ông Nguyễn Lam, Ủy viên
Thường trực UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa VI
349. Ông Đinh Đức Lập, Tổng Biên
tập báo Đại Đoàn Kết
350. Bà Hà Thị Liên, Ủy viên
Thường trực UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa VI
351. Ông Hà Văn Núi, Ủy viên
Thường trực UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa VI
352. Ông Nguyễn Văn Pha, Ủy viên
Thường trực UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa VI
353. Ông Trần Hoàng Thám, Trưởng
đoàn đại biểu Quốc hội TP. Hồ Chí Minh
354. Bà Bùi Thị Thanh, Trưởng Ban
Dân vận Tỉnh ủy tỉnh Hòa Bình
355. Ông Lê Bá Trình, Ủy viên
Thường trực UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa VI.
* Tại Hội nghị Đoàn Chủ tịch Ủy
ban Trung ương MTTQ Việt Nam lần thứ VII, ngày
10 tháng 1 năm 2012 đã nhất trí
bổ sung Ủy viên Ủy ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa VII,
nhiệm kỳ 2009 - 2014 gồm:
1. Ông Đào Duy Minh, Phó
Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân
VN.
2. Ông Nguyễn Đắc Vinh, Bí
thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đoàn thanh
niên Cộng sản Hồ Chí Minh.
3. Bà Cù Thị Hậu, Chủ tịch
Hội Người cao tuổi Việt Nam.
4. Ông Phạm Mạnh Hùng,
Chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam.
5. Ông Nguyễn Bá Thuỷ, Chủ
tịch Hội kế hoạch hoá gia đình Việt Nam.
6. Ông Lưu Duy Dần, Chủ
tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam.
7. Ông Bùi Văn Hai, Uỷ
viên Ban Thường vụ Thành uỷ, Chủ tịch Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Cần Thơ.
8. Ông Vy Văn Vũ, Uỷ viên
Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam tỉnh Đồng Nai.
9. Ông
Lê Hùng Phi, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh
uỷ, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
tỉnh Quảng Bình.
10. Ông Cù Quang Hải, Uỷ
viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Chủ tịch Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Đồng Tháp.
11. Ông Nguyễn Ngọc Minh,
Tỉnh uỷ viên, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam tỉnh Quảng Ninh.
12. Ông Nguyễn Xuân Thu,
Tỉnh uỷ viên, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam tỉnh Bắc Ninh.
13. Ông Hoàng Văn Toàn,
Tỉnh uỷ viên, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam tỉnh Vĩnh Phúc.
14. Ông Đinh Văn Dực, Tỉnh
uỷ viên, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam tỉnh Hoà Bình.
15. Ông Trần Văn Chuyện,
Tỉnh uỷ viên, Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam tỉnh Sóc Trăng.
16. Ông Ngô Sách Thực,
Tỉnh uỷ viên, Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam tỉnh Bắc Giang.
17. Ông Lương Anh Tế, Tỉnh
uỷ viên, Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam tỉnh Hải Dương.
18. Bà Hoàng Thanh Bình,
Tỉnh uỷ viên, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam tỉnh Cao Bằng.
19. Ông Nguyễn Tuấn Anh,
Trưởng ban Tuyên giáo cơ quan Uỷ ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
20. Bà Nguyễn Thị Thu Hà,
Trưởng ban Phong trào cơ quan Uỷ ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
21.Ông Vương Văn Nam,
Trưởng ban Dân tộc và Tôn giáo cơ quan Uỷ ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
22. Ông Nguyễn Công Nguyên,
Trưởng ban Kinh tế và Đối ngoại cơ quan Uỷ ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
23. Ông Phùng Khánh Tài,
Chánh Văn phòng cơ quan Uỷ ban Trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam.
24. Ông Võ Văn Thiện,
Trưởng ban Công tác phía Nam cơ quan Uỷ ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Về đầu trang
DANH
SÁCH ĐOÀN CHỦ TỊCH
UỶ BAN TRUNG ƯƠNG MTTQ VIỆT NAM KHOÁ VII
1.Ông Phạm Quốc Anh
2.Ông Nguyễn Quốc Cường
3.Linh mục Nguyễn Công Danh
4.Ông Bùi Mạnh Hải
5.Ông Trần Hanh
6.Bà Nguyễn Thị Thanh Hòa
7.Ông Vũ Xuân Hồng
8.Ông Bùi Văn Huấn
9.Bà Vũ Giáng Hương
10.Ông Đinh Thế Huynh
11.Bà Hà Thị Khiết
12.Ông Vũ Tiến Lộc
13.Ông Nguyễn Tiến Quân
14.Ông Nguyễn Văn Rinh
15.Ông Trần Ngọc Tăng
16.Ông Võ Văn Thưởng
17.Hoà thượng Thích Trí Tịnh
18.Ông Đặng Ngọc Tùng
19.Bà Phạm Thị Trân Châu
20.Ông Lưu Văn Đạt
21.Ông Phan Đình Diệu
22.Ông Lê Minh Hiền
23.Ông Đỗ Quang Hưng
24.Bà Rơ Chăm H’Yeo
25.Ông Lý Ngọc Minh
26.Hòa
thượng Dương Nhơn
27.Ông Trương Công Phú
28.Ông Trần Đình Phùng
29.Bà Nguyễn Thị Ngọc Phượng
30.Ông Lù Văn Que
31.Ông Nguyễn Duy Quý
32.Bà Hoàng Xuân Sính
33.Bà Trần Thị Ngọc Sơn
34.Ông Võ Quốc Thắng
35.Ông Đỗ Duy Thường
36.Ông Lý Chánh Trung
37.Ông Lê Truyền
38.Hòa
thượng Thích Thanh Tứ
39.Ông Nguyễn Túc
41.Ông Nguyễn Văn Vĩnh
42.Ông Nguyễn Tiến Võ
43.Ông Huỳnh Đảm
44.Ông Dương Quan Hà
45.Ông Phạm Xuân Hằng
46.Ông Phạm Quốc Huynh
47.Ông Vũ Trọng Kim
48.Ông Nguyễn Lam
49.Ông Phan Quang Lãm
50.Bà Hà Thị Liên
51.Ông Hà Văn Núi
52.Ông Nguyễn Văn Pha
53.Ông Trần Phùng
54.Ông Nguyễn Thanh Quang
55.Ông Trần Hoàng Thám
56.Bà Bùi Thị Thanh
57.Ông Trần Phù Tiêu
58.Ông Lê Bá Trình
Về đầu trang
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII
Đại hội Đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam
lần thứ VII đã họp từ ngày 28 đến ngày
30-9-2009 tại Thủ đô Hà Nội.
Đại hội đã vinh dự được đón đồng chí Nông Đức Mạnh, Tổng Bí thư Ban chấp
hành Trung ương Đảng và các đồng chí lãnh đạo
Đảng và Nhà nước đến tham dự Đại hội.
1. Thông qua Báo cáo chính trị của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam khóa VI với chủ đề "Nâng cao vai trò
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, xây dựng khối đại
đoàn kết toàn dân tộc, phát huy dân chủ, góp
phần tăng cường đồng thuận xã hội, vì dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh";
Đề ra Chương trình hành động của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam nhiệm kỳ VII (2009 - 2014);
2. Thông qua Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam
(sửa đổi);
3. Hiệp thương cử Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam,
Đoàn Chủ tịch và các chức danh trong Ban Thường
trực UBTƯ MTTQ Việt
Nam
khóa VII (nhiệm kỳ 2009 - 2014).
Đại hội nhất trí giao cho Đoàn Chủ tịch và Ban Thường trực UBTƯ MTTQ Việt
Nam khóa VII tiếp thu đầy đủ ý kiến của đại biểu
tham dự Đại hội, hoàn chỉnh và công bố các văn
kiện của Đại hội.
Ủy ban MTTQ Việt
Nam
các cấp, các tổ chức thành viên của Mặt trận có
trách nhiệm tuyên truyền và tổ chức thực hiện
thành công Chương trình hành động do Đại
hội đề ra.
Đại hội phát động đợt thi đua đặc biệt lập thành tích chào mừng kỷ niệm
1000 năm Thăng Long - Hà Nội, 80 năm thành lập
Đảng Cộng sản Việt Nam, 120 năm ngày sinh Chủ
tịch Hồ Chí Minh, 65 năm ngày thành lập nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 80 năm ngày
thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam
và những ngày lễ lớn của đất nước năm 2010.
Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt
Nam
lần thứ VII kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước,
đồng bào ta ở nước ngoài nêu cao tinh thần yêu
nước, tăng cường đoàn kết, chung sức chung lòng,
phấn đấu thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của MTTQ
Việt
Nam
trong giai đoạn mới.
Hà Nội, ngày 30 tháng 9 năm 2009
Đại hội Đại biểu toàn quốc MTTQ Việt
Nam lần thứ VII
Về đầu trang
PHÁT ĐỘNG ĐỢT THI
ĐUA ĐẶC BIỆT
LẬP THÀNH TÍCH CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 1000 NĂM THĂNG
LONG - HÀ NỘI,
80 NĂM NGÀY THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM,
120 NĂM NGÀY SINH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH, 65 NĂM
THÀNH LẬP NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM,
80 NĂM NGÀY THÀNH LẬP MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG
NHẤT VIỆT NAM
VÀ CÁC NGÀY LỄ LỚN CỦA ĐẤT NƯỚC NĂM 2010
Hà Nội, ngày 30 tháng 9 năm 2008
Thưa đồng bào và chiến sĩ cả nước !
Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam lần thứ VII- Đại hội của khối đại đoàn kết
toàn dân tộc diễn ra tại thủ đô Hà Nội (trong
các ngày 28, 29 và 30/9/2009), trong lúc toàn
Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang đẩy mạnh
toàn diện công cuộc đổi mới đất nước, ra sức
thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của
Đảng, đẩy mạnh cuộc vận động "Học tập và làm
theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", kỷ niệm 64
năm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2-9 và 40
năm thực hiện Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch
Hồ Chí Minh, hướng tới kỷ niệm
80 năm Ngày thành lập
Ðảng Cộng sản Việt Nam, 120 năm ngày sinh Chủ
tịch Hồ Chí Minh, 65 năm thành lập Nước Cộng hòa
XHCN Việt Nam, 35 năm Ngày giải phóng hoàn toàn
miền Nam, thống nhất đất nước; 80 năm ngày thành
lập Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam; Ðại
hội Ðảng các cấp tiến tới Ðại hội Ðảng toàn quốc
lần thứ XI và Ðại hội thi đua các cấp tiến tới
Ðại hội thi đua toàn quốc lần thứ VIII..., đặc
biệt là kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.
Kế thừa và phát huy kết quả của phong trào thi
đua yêu nước lập thành tích chào mừng Đại hội
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tiến tới Đại
hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Hưởng
ứng
đợt thi đua đặc biệt "Cả nước hướng tới kỷ niệm
1000 năm Thăng Long - Hà Nội" do Thủ tướng Chính
phủ phát động.
Từ Thủ đô Hà Nội, trái tim thân yêu của Tổ quốc,
nơi hội tụ hồn thiêng núi sông, Đại hội đại biểu
toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII
phát động đợt thi đua yêu nước đặc biệt từ
30/9/2009 đến 18/11/2010, với những nội dung
trọng tâm sau:
1. Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động trong các
tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước, nhất là
thế hệ trẻ về truyền thống lịch sử đấu tranh
dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, nhất là về
1000 năm Thăng Long-Hà Nội; về truyền thống cách
mạng vẻ vang của Đảng, của Mặt trận dân tộc
thống nhất và của dân tộc ta trong sự nghiệp
giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Qua đó, luôn tự hào và phát huy truyền thống
đoàn kết, yêu nước,
đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động "Học tập và làm
theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"; ra
sức giữ gìn, phát huy truyền thống văn hóa tốt
đẹp của dân tộc Việt Nam, của Thăng Long-Hà Nội
ngàn năm văn hiến; tăng cường khối đại đoàn kết
toàn dân tộc, vì mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".
2. Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân
tộc, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, nâng
cao chất lượng hiệu quả cuộc vận động "Toàn dân
đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư"
và cuộc vận động "Ngày vì người nghèo"; hưởng
ứng cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng
hàng Việt Nam"... bằng những công trình, những
sản phẩm, tác phẩm, những phần việc cụ thể thiết
thực, hướng vào thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ
kinh tế-xã hội, quốc
phòng, an ninh của đất nước, của Thủ đô
Hà Nội và mỗi địa phương, cơ sở năm 2009 và năm
2010, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết
Đại hội X của Đảng. Trước mắt, cần tiếp tục
chung sức chung lòng, cùng Đảng và Nhà nước vượt
qua khó khăn thách thức, phòng ngừa lạm phát,
ngăn chặn suy giảm kinh tế, ổn định kinh tế vĩ
mô, đảm bảo anh sinh xã hội và duy trì tăng
trưởng kinh tế hợp lý.
Với niềm tự hào về truyền thống đoàn kết, yêu
nước của dân tộc ta, Đại hội đại biểu toàn quốc
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII tha thiết
kêu gọi đồng bào, chiến sỹ cả nước, đồng bào ta
đang sinh sống ở nước ngoài hưởng ứng mạnh mẽ
đợt thi đua đặc biệt, với tinh thần "Người
người thi đua; Nhà nhà thi đua; Ngành ngành thi
đua", lập thành tích thiết thực chào mừng
kỷ niệm 1000 năm
Thăng Long - Hà Nội, 80 năm ngày thành lập Ðảng
Cộng sản Việt Nam, 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ
Chí Minh, 65 năm thành lập Nước Cộng hòa XHCN
Việt Nam, 80 năm ngày thành lập Mặt trận dân tộc
thống nhất Việt Nam và các ngày lễ lớn của đất
nước năm 2010²
ĐẠI HỘI VII
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
Về đầu trang
DIỄN VĂN BẾ MẠC ĐẠI HỘI
ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
LẦN THỨ VII, DO CHỦ TỊCH HUỲNH ĐẢM TRÌNH BÀY
Hà Nội, ngày 30 tháng 9 năm 2009
Kính thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước
và
MTTQ Việt Nam,
Thưa các vị khách quý, các cụ và các vị đại biểu,
Thưa đồng bào và chiến sĩ cả nước, đồng bào ta ở
nước ngoài !
Qua gần ba ngày làm việc khẩn trương, với tinh
thần Đoàn kết - Dân chủ - Đổi mới và Phát triển,
với nhiệt huyết và trách nhiệm đối với sự nghiệp
đại đoàn kết toàn dân tộc, Đại hội đại biểu toàn
quốc Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII (nhiệm kỳ
2009-2014) đã hoàn thành toàn bộ chương trình,
đạt được mục tiêu và yêu cầu đề ra.
Đại hội đã sôi nổi thảo luận và thông qua Báo
cáo
Chính trị của Đại hội; thông qua Điều lệ MTTQ
Việt Nam (sửa đổi, bổ sung) với tinh thần nâng
cao vai trò, hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam, phát huy dân chủ, tăng cường đồng
thuận xã hội, xây dựng khối đại đoàn kết toàn
dân tộc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh. Đây là hai văn kiện
quan trọng của Đại hội, là sự kết tinh trí tuệ,
nhiệt huyết và trách nhiệm của các cấp Mặt trận,
các tổ chức thành viên, của cả hệ thống chính
trị và các tầng lớp nhân dân đối với sự nghiệp
đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc.
Đại hội đã hiệp thương dân chủ cử ra UBTW MTTQ
Việt Nam khoá VII gồm 355 vị, tăng cường được
tính tiêu biểu, tính đại diện và thiết thực, có
đủ đại diện của các giai cấp, các tầng lớp nhân
dân, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam
ở nước ngoài, đây thực sự là hình ảnh tiêu biểu
của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đáp ứng yêu
cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
Đại hội đã chính thức phát động phong trào thi
đua yêu nước kỷ niệm đại lễ 1000 năm Thăng Long-Hà
Nội, 80 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt
Nam, 80 năm ngày thành lập Mặt trận dân tộc
thống nhất Việt Nam và các ngày lễ lớn của đất
nước, tiến tới Đại hội thi đua yêu nước toàn
quốc lần thứ VIII vào năm 2010.
Với những kết quả đó, chúng ta vui mừng báo cáo
với đồng bào và chiến sỹ cả nước, đồng bào ta ở
nước ngoài, cùng bè bạn quốc tế rằng: Đại hội
đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần
thứ VII (nhiệm kỳ 2009-2014), Đại hội của khối
đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam đã thành công
tốt đẹp.
Đại hội chân thành cảm ơn đồng chí Tổng Bí thư
BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nông Đức
Mạnh đã đến dự và có bài phát biểu quan trọng.
Cảm ơn đồng chí Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn
Dũng, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng, cùng
các đồng chí lãnh đạo và nguyên lãnh đạo Đảng,
Nhà nước, MTTQ Việt Nam; lãnh đạo các bộ, ban,
ngành Trung ương, các tổ chức thành viên của Mặt
trận, lãnh đạo TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và
tỉnh Thừa Thiên Huế đã về dự Đại hội.
Đại hội xin chân thành cảm ơn đồng bào và chiến
sỹ cả nước đã hướng về Đại hội, đẩy mạnh phong
trào hành động cách mạng, thiết thực lập thành
tích chào mừng Đại hội. Cảm ơn đại diện đồng bào
ta ở nước ngoài đã về tham dự Đại hội với tấm
lòng của những người con xa Tổ quốc luôn hướng
về quê hương, đất nước.
Đại hội nhiệt liệt hoan nghênh và cảm ơn các
đoàn đại biểu của các nước anh em và bè bạn quốc
tế, các cơ quan ngoại giao nước ngoài tại Hà Nội
đã đến dự Đại hội, mang đến cho nhân dân ta
những tình cảm tốt đẹp, tình đoàn kết và hợp tác
quốc tế trong sáng và sự ủng hộ quý báu đối với
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước của chúng
ta. Đại hội trân trọng cảm ơn Đảng nhân dân cách
mạng Lào, Nhà nước CHDCND Lào, Mặt trận Lào xây
dựng đất nước và nhân dân Lào anh em đã trao
tặng MTTQ Việt Nam và hai đồng Chủ tịch và
nguyên Chủ tịch UBTW MTTQ Việt Nam huân chương
cao quý. Đây là biểu hiện sinh động và thêm một
lần nữa khẳng định tình đoàn kết đặc biệt Việt
Nam-Lào. Chúng ta luôn ra sức tăng cường tình
đoàn kết hữu nghị và sự hợp tác giữa nhân dân ta
với nhân dân các nước láng giềng, các nước trong
khu vực và trên thế giới, vì hoà bình, hợp tác,
phát triển và công bằng xã hội trong khu vực và
trên thế giới.
Kính thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước
và
MTTQ Việt Nam,
Thưa các vị khách quý, các cụ và các vị đại biểu,
Đại hội chúng ta đánh giá cao và chân thành cảm
ơn sự đóng góp to lớn của đồng chí Phạm Thế
Duyệt-nguyên Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và các cụ, các vị, các đồng chí
Ủy viên Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam khoá VI đối với sự nghiệp đại đoàn kết toàn
dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong những
năm qua. Mong rằng, thời gian tới, dù tiếp tục
tham gia hay thôi tham gia UBTW MTTQ Việt Nam,
các cụ, các vị và các đồng chí cũng luôn phát
huy tài năng trí tuệ, tâm huyết, trách nhiệm của
mình đối với sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc,
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung và đối với
hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Đại hội hoan nghênh và cảm ơn nhiều tổ chức, cá
nhân đã gửi thư, điện, hoa chúc mừng đại hội;
hoan nghênh và cảm ơn các cơ quan thông tấn, báo
chí, phát thanh, truyền hình của trung ương, địa
phương và nước ngoài đã kịp thời đưa tin, tuyên
truyền về đại hội. Đại hội biểu dương và cảm ơn
cán bộ, công nhân viên Trung tâm Hội nghị quốc
gia Mỹ Đình, các nhà khách, khách sạn; cán bộ,
chiến sĩ các lực lượng vũ trang của Trung ương
và Hà Nội đã tận tụy với công việc phục vụ và
bảo vệ đại hội, góp phần vào sự thành công của
đại hội.
Về phần mình, UBTW MTTQ Việt Nam khoá VII sẽ
đoàn kết, phấn đấu, thực hiện tốt trọng trách
được Đại hội giao phó, xứng đáng với niềm tin
của Đảng, của đồng bào, chiến sỹ cả nước và đồng
bào ta ở nước ngoài.
Kính thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước
và MTTQ Việt Nam !
Kính thưa các cụ, các vị và toàn thể quý đại
biểu !
Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã
thành công tốt đẹp, đây là mốc son mới trong
chặng đường phát triển của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam gần 80 năm qua. Đại hội mong rằng, mỗi đại
biểu tham dự đại hội, Uỷ ban MTTQ các cấp, các
tổ chức thành viên của Mặt trận, đồng bào và
chiến sỹ cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài hăng
hái tuyên truyền Nghị quyết của Đại hội, đưa
Nghị quyết vào cuộc sống, biến Nghị quyết thành
hành động của các tầng lớp nhân dân, hưởng ứng
thực hiện Chương trình hành động của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam; góp phần Nâng cao vai trò, hiệu
quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, tiếp tục phát
huy truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc,
ý chí tự lực, tự cường; phát huy dân chủ, tăng
cường đồng thuận xã hội, đoàn kết mọi người Việt
Nam ở trong và ngoài nước, tạo thành sức mạnh to
lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần
thực hiện thắng lợi Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và Nghị
quyết Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ X, lần thứ XI; giữ
vững độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ vì
mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh".
Trước mắt, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước,
thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kinh tế-xã hội năm
2009, năm 2010, góp phần thực hiện thắng lợi
Nghị quyết Đại hội X của Đảng, thiết thực lập
thành tích chào mừng kỷ niệm 1000 năm Thăng
Long-Hà Nội, 80 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt
Nam, 80 năm thành lập Mặt trận dân tộc thống
nhất Việt Nam và các ngày lễ lớn của đất nước
năm 2010.
Ngay sau Đại hội này, tôi trân trọng đề nghị các
vị đại biểu, Mặt trận Tổ quốc các cấp, các tổ
chức thành viên của Mặt trận, nhất là ở các tỉnh,
thành phố miền Trung vận động các tầng lớp nhân
dân, phát huy truyền thống đoàn kết, tương thân,
tương ái, cùng cấp uỷ, chính quyền địa phương
giúp đỡ các gia đình bị thiệt hại do cơn bão số
9 gây ra, khắc phục hậu quả của cơn bão, sớm ổn
định cuộc sống và khôi phục sản xuất.
Đoàn kết, Đoàn kết, Đại đoàn kết - Thành công,
Thành công, Đại thành công !
Với tinh thần đó, tôi xin tuyên bố bế mạc Đại
hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
lần thứ VII (nhiệm kỳ 2009-2014).
Xin kính chúc các cụ, các vị, các đồng chí và
toàn thể quý đại biểu sức khỏe, hạnh phúc và
thành công !
Xin
trân trọng cảm ơn !
Về đầu trang
ĐIỀU LỆ
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
Mặt trận Dân tộc thống
nhất Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ
tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo, được thành
lập ngày 18 tháng 11 năm 1930.
Trải qua các thời kỳ
hoạt động với những tên gọi khác nhau, Mặt trận
không ngừng phát huy tinh thần yêu nước, truyền
thống đoàn kết dân tộc Việt Nam - một nhân tố
quyết định thắng lợi của sự nghiệp giành độc lập
dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc.
Kế tục và phát huy vai trò lịch sử của Mặt trận Dân tộc
thống nhất Việt Nam các thời kỳ, Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam ngày nay là tổ chức liên minh
chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính
trị, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức
xã hội, các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp,
các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo,
người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài.
Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam chủ trương phát huy truyền thống yêu nước,
lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lực, tự cường,
đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài
nước, không phân biệt thành phần xã hội, dân tộc,
tôn giáo, tín ngưỡng, quá khứ, ý thức hệ và
chính kiến, miễn là tán thành công cuộc đổi mới,
nhằm mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất chủ
quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện
thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh, thực hiện Di chúc
của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Xây dựng một nước
Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ
và giàu mạnh", góp phần tích cực vào sự nghiệp
hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã
hội trên thế giới.
Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam là bộ phận của hệ thống chính trị của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng
sản Việt Nam lãnh đạo, là cơ sở chính trị của
chính quyền nhân dân, đại diện cho quyền và lợi
ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, nơi thể
hiện ý chí, nguyện vọng, tập hợp khối đại đoàn
kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân
dân, nơi hiệp thương, phối hợp và thống nhất
hành động của các thành viên.
Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam có nhiệm vụ tập hợp, xây dựng khối đại đoàn
kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính
trị và tinh thần trong nhân dân; tuyên truyền,
động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực
hiện đường lối, chủ trương của Đảng, nghiêm
chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật; phản biện
xã hội đối với dự thảo chủ trương của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước,
giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại
biểu dân cử và cán bộ, công chức nhà nước; tập
hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân để phản ánh,
kiến nghị với Đảng và Nhà nước; tham gia xây
dựng và củng cố chính quyền nhân dân; cùng Nhà
nước chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng
của nhân dân; tham gia phát triển tình hữu nghị,
hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các
nước trong khu vực và trên thế giới.
Biểu trưng của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam hình tròn, nửa phía trên là
hình tượng cờ đỏ sao vàng năm cánh, dưới là hoa
sen trắng. Đường ngoài vòng cung màu vàng biểu
hiện hai nhánh lúa vươn lên nâng dòng chữ Mặt
trận Tổ quốc trên nền cờ đỏ. Phía dưới cùng là
hình tượng nửa bánh xe màu đỏ có dòng chữ Việt
Nam.
Lấy ngày 18 tháng 11 hàng năm là
ngày Hội đại đoàn kết toàn dân tộc.
Chương I
THÀNH VIÊN CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT
NAM
Điều 1.
Thành viên
Thành viên của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam các cấp bao gồm tổ chức chính
trị, các tổ chức chính trị-xã hội, các tổ chức
xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai
cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn
giáo và người Việt Nam ở nước ngoài.
Việc gia nhập Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam được thực hiện trên cơ sở tự nguyện,
tán thành Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp xem xét
công nhận.
Điều 2. Nghĩa vụ của
thành viên
1. Thực hiện Điều lệ
và Chương trình Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
tập hợp và phản ánh ý kiến, kiến nghị của
nhân dân và thông báo kết quả thực hiện
chương trình phối hợp và thống nhất hành động
với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp;
2. Tuyên truyền, vận
động hội viên, đoàn viên, nhân dân thi hành Hiến
pháp và pháp luật, thực hiện Chương trình Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam;
3. Đôn đốc các thành
viên của tổ chức mình thực hiện đúng chính sách
đại đoàn kết toàn dân tộc và tham gia công tác
Mặt trận ở nơi cư trú;
4. Đoàn kết, hợp tác,
giúp đỡ những tổ chức, cá nhân chưa gia nhập Mặt
trận nhưng có tinh thần hưởng ứng, ủng hộ, thực
hiện Chương trình Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Điều 3. Quyền của
thành viên
1. Thảo luận, chất vấn,
phê bình, kiến nghị về tổ chức và hoạt động của
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
2. Yêu cầu Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp tổ chức hiệp
thương để phối hợp hoạt động giữa các thành viên
có liên quan, nhằm hưởng ứng sáng kiến của mình
về các cuộc vận động nhân dân thực hiện
Chương trình Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
3. Tham gia xây dựng,
quản lý, giám sát và bảo vệ chính quyền nhân dân;
4. Yêu cầu Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam bảo vệ quyền lợi chính
đáng của mình;
5. Được nhận thông tin
về hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam cùng cấp;
6. Giới thiệu người để
hiệp thương cử vào Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam các cấp.
Điều 4. Quan hệ giữa
các thành viên
Quan hệ giữa các thành
viên trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là hợp tác
bình đẳng, đoàn kết chân thành, tôn trọng lẫn
nhau, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống
nhất hành động để cùng thực hiện các nhiệm vụ
chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng,
an ninh, đối ngoại của Nhà nước và Chương
trình Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Chương II
NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC,
HOẠT ĐỘNG VÀ CƠ CẤU
TỔ CHỨC CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
Điều 5. Nguyên tắc
tổ chức và hoạt động
Tổ chức, hoạt động của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thực hiện theo
nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối
hợp và thống nhất hành động.
Khi phối hợp và thống
nhất hành động, các thành viên của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam tuân theo Điều lệ Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam; đồng thời vẫn giữ tính độc
lập của tổ chức mình.
Điều 6. Hệ thống tổ
chức
Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam được tổ chức theo cấp hành chính:
-
Trung ương;
- Tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh);
- Huyện, quận, thị xã,
thành phố trực thuộc tỉnh (gọi chung là cấp
huyện);
- Xã, phường, thị trấn
(gọi chung là cấp xã);
Ở mỗi cấp có Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam.
Dưới cấp xã có Ban công tác Mặt
trận ở khu dân cư.
Điều 7. Đại hội
1. Đại hội đại biểu Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam mỗi cấp là cơ quan hiệp
thương cao nhất của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
cấp đó, 5
năm họp một lần.
2. Số lượng đại biểu, cơ cấu
thành phần đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn
quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam do hội nghị Ủy
ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiệp
thương thỏa thuận.
3. Đại hội đại biểu
toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có nhiệm vụ:
a) Thảo luận và thông
qua báo cáo nhiệm kỳ của Ủy ban Trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam và Chương trình hành
động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhiệm kỳ
mới;
b) Sửa đổi, bổ sung
Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
c) Hiệp thương dân chủ
cử ra Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam;
d) Thông qua nghị quyết
đại hội.
4. Số lượng đại biểu,
cơ cấu thành phần đại biểu dự Đại hội đại biểu
Mặt trận Tổ quốc các cấp ở địa phương do hội
nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp đó
thỏa thuận theo hướng dẫn của Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam cấp trên trực tiếp. Đại hội Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam cấp nào do Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam cấp đó triệu tập, có nhiệm vụ:
a) Thảo luận và thông
qua báo cáo nhiệm kỳ của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và Chương trình hành động của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam cấp mình nhiệm kỳ mới;
b) Góp ý kiến vào dự
thảo đề cương báo cáo và Chương trình hành động
của cấp trên trực tiếp và sửa đổi Điều lệ Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam (nếu có);
c) Hiệp thương dân chủ
cử ra Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp mình;
d) Cử đại biểu đi dự
Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp trên trực
tiếp;
đ) Thông qua Nghị
quyết đại hội.
Điều 8.
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam
1. Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam ở mỗi cấp là cơ quan chấp hành
giữa hai kỳ đại hội của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam cùng cấp.
2. Số lượng Ủy viên Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp nào, do đại
hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp đó
hiệp thương thỏa thuận và quyết định theo cơ cấu
thành phần quy định tại Điều 13, Điều 22, Điều
24 Điều lệ này và hướng dẫn của Ủy ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp trên trực tiếp.
3. Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam ở mỗi cấp đương nhiên không còn là
Ủy viên trong những trường hợp sau đây:
a) Không còn là đại
diện của tổ chức thành viên đã cử ra;
b) Không còn là đại
diện của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp
dưới;
c) Cán bộ Mặt trận
chuyên trách chuyển công tác khác hoặc nghỉ hưu.
Việc công nhận người
thay thế do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp
đó quyết định.
4. Trong nhiệm kỳ đại
hội, khi cần thiết mở rộng Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
mỗi cấp có quyền cử bổ sung một số Ủy viên,
nhưng không vượt quá một phần ba tổng số Ủy viên
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã được đại hội
cử ra.
5. Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam các cấp có thể cử một số Phó Chủ
tịch không chuyên trách.
6. Trong nhiệm kỳ Ủy ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nếu có sự thay đổi về
đơn vị hành chính như: nhiều đơn vị hành chính
sáp nhập thành đơn vị hành chính mới; một đơn vị
hành chính được chia thành nhiều đơn vị hành
chính mới; một đơn vị hành chính được thay đổi
cấp quản lý hành chính, thì việc kiện toàn Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ban Thường trực
ở cấp hành chính đó do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam cấp trên trực tiếp thống nhất với các
cơ quan có liên quan cùng cấp hướng dẫn.
Điều 9. Việc cử các
chức danh của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Việc cử các chức danh
lãnh đạo của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
các cấp theo Điều 14, Điều 23, Điều 25 và Điều
26 của Điều lệ này được thực hiện theo
nguyên tắc hiệp thương dân chủ, nếu không nhất
trí được thì bầu bằng phiếu kín; người trúng cử
phải được quá nửa tổng số Ủy viên Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam của cấp bầu tín nhiệm.
Điều 10. Chế độ làm việc của Ban
Thường trực
Ban Thường trực Ủy ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp làm việc theo
chế độ tập thể bàn bạc và quyết định theo đa số,
có phân công cá nhân phụ trách.
Điều 11. Tổ chức và
cán bộ cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
1. Căn cứ chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam được quy định tại Luật Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, các văn bản pháp luật liên quan,
Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sau
khi thống nhất với cơ quan có thẩm quyền, quy
định về tổ chức và cán bộ của cơ quan Ủy ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp huyện; tổ
chức và cán bộ của Ban Thường trực Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã.
2. Ủy ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có trách nhiệm bồi
dưỡng, nâng cao năng lực, phẩm chất cán bộ
chuyên trách của cơ quan Ủy ban Trung ương và cơ
quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh.
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức việc
bồi dưỡng, nâng cao năng lực, phẩm chất cán bộ
chuyên trách của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam cấp mình và cấp huyện.
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam cấp huyện có trách nhiệm tổ chức việc
bồi dưỡng nghiệp vụ công tác Mặt trận cho cán bộ
chuyên trách cấp mình, cán bộ Ban Thường trực Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, Ban công
tác Mặt trận ở khu dân cư.
3. Khi có sự thay đổi
Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên Thường trực Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp
huyện, cấp xã giữa nhiệm kỳ, Ban Thường trực cấp
đó phải báo cáo Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam cấp trên trực tiếp. Việc cử, bổ
sung, công nhận chức danh đó tiến hành theo quy
định tại Điều 23, Điều 25, Điều 26 Điều lệ
này.
Điều 12. Tổ chức tư vấn, cộng tác viên
1. Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam các cấp thành lập các tổ chức tư
vấn, mở rộng cộng tác viên ở cấp mình, giúp Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn.
2. Tổ chức tư vấn là tổ
chức không chuyên trách, gồm: Ủy viên Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc Việt
Nam, chuyên gia ở một số lĩnh vực có liên quan đến hoạt động của Mặt trận Tổ
quốc Việt
Nam.
3. Ban Thường trực Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mỗi cấp hướng dẫn,
bảo đảm điều kiện cho hoạt động của các tổ chức
tư vấn, cộng tác viên của cấp mình.
Chương III
CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
Ở CẤP TRUNG ƯƠNG
Điều 13. Ủy ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Ủy ban Trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam (gọi chung là Ủy ban Trung
ương) do Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam hiệp thương dân chủ cử, bao gồm:
1. Người đứng đầu của
tổ chức thành viên cùng cấp. Trong trường hợp
đặc biệt tổ chức thành viên mới cử đại diện lãnh
đạo;
2. Chủ tịch Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương;
3. Một số cá nhân tiêu
biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, tổ
chức kinh tế, các dân tộc, các tôn giáo, người
Việt Nam ở nước ngoài;
4. Một số chuyên gia ở
những lĩnh vực có liên quan đến hoạt động của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
5. Một số cán bộ chuyên
trách ở cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam.
Điều 14. Nhiệm vụ,
quyền hạn của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam
Ủy ban Trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam có những nhiệm vụ và quyền
hạn sau đây:
1. Hiệp thương dân chủ
thỏa thuận chương trình phối hợp và thống nhất
hành động hàng năm nhằm thực hiện chương trình
hành động của Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam;
2. Hiệp thương dân chủ
cử Đoàn Chủ tịch, Ban Thường trực; cử, cử bổ
sung, thay thế, cho thôi các chức danh Chủ tịch,
Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký, các Phó Chủ tịch
Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; cử
bổ sung, thay thế, cho thôi Ủy viên Ủy ban Trung
ương, Ủy viên Đoàn Chủ tịch;
3. Xét, quyết định công
nhận làm thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam;
4. Góp ý kiến, kiến
nghị với Đảng về chủ trương, đường lối; với Nhà
nước về chính sách pháp luật và những vấn đề về
quốc kế dân sinh. Giám sát hoạt động của cơ quan
nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ công chức nhà
nước;
5. Quyết định kế hoạch
chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam nhiệm kỳ tiếp theo.
Điều 15.
Chế độ họp Ủy ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Ủy ban Trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam họp thường kỳ ít nhất một
năm một lần, họp bất thường khi cần thiết.
Chủ tịch, các Phó Chủ
tịch do Ban Thường trực cử chủ tọa các hội nghị
của Ủy ban Trung ương.
Điều 16.
Đoàn Chủ tịch Ủy ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
1. Đoàn Chủ tịch Ủy ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (gọi chung
là Đoàn Chủ tịch) do Ủy ban Trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam hiệp thương dân chủ cử trong số
Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, là đại diện
của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
giữa hai kỳ họp.
2. Đoàn Chủ tịch bao gồm
các vị:
- Người đứng đầu hoặc
đại diện lãnh đạo của tổ chức chính trị; người
đứng đầu của các tổ chức chính trị - xã hội, một
số tổ chức xã hội;
- Một số nhân sỹ, trí
thức, cá nhân tiêu biểu trong các tầng lớp xã
hội, trong dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam ở
nước ngoài;
- Một số vị Ủy viên Ủy
ban Trung ương là cán bộ chuyên trách ở cơ quan
Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và ở
cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc địa phương.
Số lượng Ủy viên Đoàn
Chủ tịch do Ủy ban Trung ương quyết định.
Điều 17.
Nhiệm vụ, quyền hạn của
Đoàn Chủ tịch
Đoàn Chủ tịch có những
nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1. Quyết định những chủ
trương, công tác để thực hiện chương trình phối
hợp và thống nhất hành động và Nghị quyết của Ủy
ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam do Ban
Thường trực trình;
2. Góp ý kiến, kiến
nghị với Đảng về chủ trương, đường lối; với Nhà
nước về những vấn đề quan trọng của đất nước, về
chính sách pháp luật;
3. Trình dự án luật;
báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và
nhân dân ra trước Quốc hội;
4. Hiệp thương dân chủ,
lựa chọn giới thiệu người thuộc cơ quan, tổ chức,
đơn vị ở Trung ương ứng cử đại biểu Quốc hội;
5. Cùng với Chủ tịch
nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính
phủ ban hành và kiểm điểm việc thực hiện quy chế
phối hợp công tác;
6. Khi cần thiết ra lời
kêu gọi nhân dân hưởng ứng chủ trương của Đảng,
Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với sự
kiện trong nước; ra tuyên bố thể hiện chính kiến
đối với sự kiện quan trọng ở ngoài nước;
7. Thực hiện chủ trương
đối ngoại nhân dân của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam;
8. Cho ý kiến về việc cử bổ sung,
thay thế, cho thôi chức danh Chủ tịch, Phó Chủ
tịch kiêm Tổng Thư ký, Phó Chủ tịch, Uỷ viên
Đoàn Chủ tịch, Uỷ viên Ủy ban Trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam trước khi trình Ủy ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quyết định;
9. Quyết định thành lập
các Hội đồng tư vấn.
Điều 18.
Chế độ họp Đoàn Chủ tịch
Đoàn Chủ tịch họp
thường lệ ít nhất sáu tháng một lần.
Chủ tịch, các Phó Chủ
tịch do Ban Thường trực cử chủ tọa hội nghị Đoàn
Chủ tịch.
Điều 19.
Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt
Nam
1. Ban Thường trực Ủy ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam do Ủy ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiệp thương dân
chủ cử trong số Ủy viên Đoàn Chủ tịch, là cơ
quan đại diện của Đoàn Chủ tịch và Ủy ban Trung
ương giữa hai kỳ họp.
2. Ban Thường trực Ủy
ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (gọi
chung là Ban Thường trực) gồm có Chủ tịch, Phó
Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký và các
Phó Chủ tịch chuyên trách, là những người hoạt
động chuyên trách.
Điều 20.
Nhiệm vụ và quyền hạn
của Ban Thường trực
Ban Thường trực có
những nhiệm vụ và quyền hạn:
1. Chuẩn bị các hội
nghị của Đoàn Chủ tịch và giúp Đoàn Chủ tịch
chuẩn bị các hội nghị của Ủy ban Trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam;
2. Tổ chức thực hiện
chương trình phối hợp và thống nhất hành động
hàng năm của Ủy ban Trung ương; các nghị quyết
của Ủy ban Trung ương, Đoàn Chủ tịch; chủ trương,
chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước có
liên quan đến trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam;
3. Thường xuyên tập hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và
nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng, Nhà
nước. Thay mặt Ủy ban Trung ương và Đoàn Chủ
tịch để kiến nghị với Đảng, Nhà nước về các chủ
trương, chính sách pháp luật cần ban hành, sửa
đổi;
4. Giải thích Điều
lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
5. Hướng dẫn, kiểm tra
hoạt động của Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam cấp tỉnh;
6. Xem xét công nhận
việc cử, bổ sung hoặc thay đổi chức danh Chủ
tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên Thường trực Ủy ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh;
7. Tổ chức, chỉ đạo,
quản lý bộ máy giúp việc ở cơ quan Ủy ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
8. Giữ mối quan hệ phối hợp công tác với cơ quan nhà nước,
tổ chức thành viên;
9. Hướng dẫn, bảo đảm
điều kiện hoạt động của các Hội đồng tư vấn,
cộng tác viên của Ủy ban Trung ương;
10. Ban hành quyết định,
thông tri, văn bản liên tịch và kiểm tra việc
thực hiện các văn bản đó;
11. Xét, quyết định
việc khen thưởng, kỷ luật.
Điều 21.
Chế độ họp Ban Thường
trực
1. Ban Thường trực họp
thường lệ mỗi tháng ít nhất hai lần.
2. Chủ tịch, Phó Chủ
tịch kiêm Tổng Thư ký chủ tọa các phiên họp của
Ban Thường trực.
Chương IV
CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CỦA
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
CÁC CẤP Ở ĐỊA PHƯƠNG
Điều 22. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp
tỉnh, cấp huyện
1. Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương (gọi chung là cấp tỉnh), huyện, quận, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện)
do Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
cấp tỉnh, cấp huyện hiệp thương dân chủ cử, là
cơ quan chấp hành giữa hai kỳ đại hội, bao gồm:
a) Người đứng đầu của
tổ chức thành viên cùng cấp; trong trường hợp
đặc biệt tổ chức thành viên mới cử đại diện lãnh
đạo;
b) Chủ tịch Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam cấp dưới trực tiếp;
c) Một số Chủ tịch công
đoàn doanh nghiệp lớn của Nhà nước, công đoàn
ngành trung ương có trụ sở ở địa phương; đại
diện lãnh đạo của một số tổ chức kinh tế tập thể
và thành phần kinh tế khác ở địa phương;
d) Một số nhân sỹ, trí
thức, cá nhân tiêu biểu trong các tổ chức, các
giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các
tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài;
đ) Một số chuyên gia ở
những lĩnh vực có liên quan đến hoạt động của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
e) Một số cán bộ chuyên
trách ở cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
cấp mình;
2. Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp huyện họp thường lệ
ít nhất sáu tháng một lần.
Chủ tịch, Phó Chủ tịch
và một số Ủy viên Thường trực do Ban Thường trực
cử chủ tọa hội nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam cấp mình.
Điều 23. Nhiệm vụ,
quyền hạn của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
cấp tỉnh, cấp huyện
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam cấp tỉnh, cấp huyện có những nhiệm vụ,
quyền hạn sau đây:
1. Thảo luận về tình
hình và kết quả thực hiện chương trình phối hợp
và thống nhất hành động thời gian qua; quyết
định chương trình phối hợp và thống nhất hành
động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp
mình thời gian tới;
2. Quyết định kế hoạch
chuẩn bị đại hội đại biểu cấp mình theo hướng
dẫn của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp
trên trực tiếp;
3. Góp ý kiến, kiến
nghị với cấp ủy Đảng, chính quyền cùng cấp và
cấp trên về những chủ trương, chính sách, pháp
luật. Giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước,
đại biểu dân cử, cán bộ công chức nhà nước;
4. Hiệp thương dân chủ
cử Ban Thường trực; cử, cử bổ sung, thay thế
hoặc cho thôi các chức danh Chủ tịch, các Phó
Chủ tịch, các Ủy viên Thường trực, Ủy viên Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp;
5. Xét, quyết định kết
nạp làm thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
cấp mình;
6. Ra lời kêu gọi nhân
dân địa phương hưởng ứng chủ trương của Đảng,
Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với sự
kiện quan trọng khi cần thiết.
Điều 24.
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam cấp xã
1. Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam xã, phường, thị trấn (gọi chung là
cấp xã) do Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam cùng cấp hiệp thương dân chủ cử, là cơ
quan chấp hành giữa hai kỳ đại hội, bao gồm:
a) Người đứng đầu của
tổ chức thành viên cùng cấp; trong trường hợp
đặc biệt tổ chức thành viên mới cử đại diện lãnh
đạo;
b) Các Trưởng ban công
tác Mặt trận;
c) Một số cá nhân tiêu
biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội,
các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam sinh
sống ở nước ngoài;
d) Một số Chủ tịch công
đoàn công ty, nghiệp đoàn, hội lao động đóng
trên địa bàn. Đại diện lãnh đạo của một số tổ
chức kinh tế tập thể và thành phần kinh tế khác
ở địa phương;
đ) Một số cán bộ chuyên
trách và không chuyên trách của Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam khóa trước.
2. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã thực hiện các
nhiệm vụ, quyền hạn như của Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp huyện, quy định tại
Điều 23 Điều lệ này. Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam cấp xã còn có nhiệm vụ, quyền hạn:
Ra quyết định thành lập Ban công tác Mặt trận,
ra văn bản công nhận Ban thanh tra nhân dân, Ban
giám sát đầu tư của cộng đồng; thảo luận và
quyết định những vấn đề khác thuộc nhiệm vụ,
quyền hạn của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc do Ban
Thường trực trình.
3. Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam cấp xã họp thường kỳ ít nhất ba
tháng một lần.
Chủ tịch, Phó Chủ tịch
chủ tọa hội nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam.
Điều 25.
Ban Thường trực Ủy ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp huyện
1. Ban Thường trực Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp
huyện (gọi chung là Ban Thường trực) do Ủy ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mỗi cấp hiệp thương
dân chủ cử trong số Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam, là cơ quan đại diện của Ủy ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp giữa hai kỳ
họp.
2. Ban Thường trực Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp
huyện gồm có Chủ tịch, các Phó Chủ tịch chuyên
trách và các Ủy viên Thường trực là những người
hoạt động chuyên trách. Số lượng Phó Chủ tịch và
Ủy viên Thường trực theo hướng dẫn của Ủy ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
3. Ban Thường trực có
những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
a) Tổ chức việc chuẩn
bị, triệu tập và chủ trì các hội nghị Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam cấp mình;
b) Tổ chức thực hiện
nghị quyết, chương trình phối hợp và thống nhất
hành động hàng năm, sáu tháng của Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam cấp mình và các chủ trương
công tác của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
cấp trên; chủ trương của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân
dân, quyết định của Uỷ ban nhân dân có liên quan
đến nhiệm vụ, quyền hạn của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam;
c) Thường xuyên tập hợp
ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân để phản
ánh, kiến nghị với cấp ủy Đảng, chính quyền, Ban
Thường trực cấp trên trực tiếp. Thay mặt Ủy ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam góp ý kiến, kiến nghị
với cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương về việc
thực hiện các chính sách pháp luật tại địa
phương. Giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước,
đại biểu dân cử, cán bộ, công chức nhà nước;
d) Hướng dẫn, kiểm tra
hoạt động của Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam cấp dưới trực tiếp;
đ) Xem xét công nhận
việc cử, bổ sung hoặc thay thế chức danh Chủ
tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên Thường trực Ủy ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp dưới trực tiếp;
e) Tổ chức, chỉ đạo,
quản lý bộ máy giúp việc cơ quan Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam cấp mình;
g) Giữ mối quan hệ phối
hợp công tác với cơ quan nhà nước, các tổ chức
thành viên;
h) Tổ chức, hướng dẫn, bảo đảm điều kiện hoạt động của các tổ chức tư vấn,
cộng tác viên của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam cấp mình;
i) Ban hành quyết định,
thông tri, quy chế phối hợp công tác và kiểm tra
thực hiện các văn bản đó;
k) Xét, quyết định khen
thưởng, kỷ luật.
4. Ban Thường trực Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp
huyện họp thường lệ mỗi tháng ít nhất hai lần.
Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam mỗi cấp chủ tọa phiên họp của
Ban Thường trực. Nếu Chủ tịch vắng mặt, Phó Chủ
tịch Thường trực chủ tọa phiên họp.
Điều 26.
Ban Thường trực Ủy ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã
1. Ban Thường trực Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã, phường, thị
trấn (gọi chung là Ban Thường trực cấp xã) do Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp đó hiệp thương
dân chủ cử trong số Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam, là cơ quan đại diện của Ủy ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữa hai kỳ họp Ủy ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
2. Ban Thường trực cấp
xã gồm có Chủ tịch, hai Phó Chủ tịch và Ủy viên
Thường trực.
3. Ban Thường trực cấp
xã có những nhiệm vụ, quyền hạn sau:
a) Tổ chức việc chuẩn
bị, triệu tập và chủ trì các kỳ họp Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã;
b) Tổ chức thực hiện
nghị quyết, chương trình phối hợp và thống nhất
hành động hàng năm, sáu tháng của Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam cấp mình và các chủ trương
công tác của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
cấp trên; chủ trương của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân
dân, quyết định của Ủy ban nhân dân có liên quan
đến nhiệm vụ, quyền hạn của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam;
c) Thường xuyên tập hợp
ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân để phản
ánh, kiến nghị với cấp ủy Đảng, chính quyền, Ban
Thường trực cấp trên trực tiếp. Góp ý kiến, kiến
nghị với cấp ủy Đảng, chính quyền về việc thực
hiện chính sách, pháp luật tại địa phương;
d) Tổ chức thực hiện
các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu
nước trong nhân dân; các nhiệm vụ Mặt trận tham
gia xây dựng và củng cố chính quyền; bảo vệ
quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân; giám
sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân
cử và cán bộ công chức nhà nước; thực hiện pháp
luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở; tham gia giải
quyết khiếu nại tố cáo ở địa phương;
đ) Chỉ đạo, hướng dẫn
hoạt động của Ban công tác Mặt trận, Ban thanh
tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng;
e) Giữ mối quan hệ phối
hợp công tác với chính quyền và các tổ chức
thành viên cùng cấp;
g) Hướng dẫn hoạt động
của các tổ chức tư vấn, cộng tác viên của Ủy ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp;
h) Ban hành quyết định,
quy chế phối hợp công tác và tổ chức thực hiện
các văn bản đó;
i) Xét, quyết định khen
thưởng, kỷ luật.
4. Ban Thường trực Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã họp thường
lệ mỗi tháng ít nhất hai lần.
Chủ tịch Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam chủ tọa phiên họp của Ban
Thường trực. Nếu Chủ tịch vắng mặt, Phó Chủ tịch
Thường trực chủ tọa phiên họp.
Điều 27.
Ban công tác Mặt trận
1. Ban công tác Mặt
trận được thành lập ở thôn, làng, ấp, bản, buôn,
phum, sóc, tổ dân phố,
khu phố,
khối phố ... (gọi chung là khu dân cư).
2. Cơ cấu của Ban công
tác Mặt trận bao gồm:
a) Ủy viên Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã cư trú ở khu dân cư;
b) Đại diện chi ủy;
c) Những người đứng đầu
của chi đoàn Thanh niên, chi hội Phụ nữ, chi hội
Nông dân, chi hội Cựu chiến binh, chi hội Người
cao tuổi, chi hội Chữ Thập đỏ ...;
d) Một số người tiêu
biểu trong các tầng lớp nhân dân, trong các dân
tộc, các tôn giáo...;
3. Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam cấp xã ra quyết định thành lập Ban
công tác Mặt trận, trong đó có chức danh Trưởng
ban, Phó ban.
4. Khi có sự thay đổi
Trưởng ban, Phó ban hoặc thay đổi, bổ sung thành
viên Ban công tác Mặt trận, thì Ban công tác Mặt
trận báo cáo Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
cấp xã ra quyết định thay đổi, bổ sung.
5. Ban công tác Mặt trận có chức
năng phối hợp và thống nhất hành động giữa các
thành viên; phối hợp với Trưởng thôn (làng, ấp,
bản...) để thực hiện nhiệm vụ:
a) Trực tiếp tuyên
truyền,
vận động nhân dân thực hiện các chủ
trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước; nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết
định của Ủy ban nhân dân; chương trình hành động
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp;
b) Thu thập, phản ánh ý
kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân ở khu dân
cư với cấp ủy Đảng và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam cấp xã;
c) Động viên nhân dân
giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại
biểu dân cử, cán bộ công chức nhà nước;
d) Phối hợp thực hiện
pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở và hoạt
động tự quản ở cộng đồng dân cư.
Chương V
QUAN HỆ GIỮA ỦY BAN
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM CÁC CẤP,
QUAN HỆ GIỮA ỦY BAN MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
VỚI CƠ QUAN NHÀ NƯỚC, VỚI NHÂN DÂN
Điều 28. Quan hệ giữa
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp
1. Quan hệ giữa Ủy ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp trên với Ủy ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp dưới là quan hệ
hướng dẫn, kiểm tra.
2. Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam cấp dưới thực hiện chủ trương,
chương trình hành động của Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam cấp trên; thực hiện chế độ báo cáo
với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp trên;
kiến nghị với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
cấp trên về các vấn đề có liên quan đến tổ chức
và hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam.
3. Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam các cấp trao đổi kinh nghiệm, phối
hợp và giúp đỡ nhau trong hoạt động.
Điều 29. Quan hệ
giữa Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với cơ
quan Nhà nước
1. Quan hệ giữa Ủy ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với các cơ quan Nhà
nước là quan hệ phối hợp để thực hiện nhiệm vụ
và quyền hạn theo quy định của Hiến pháp
và pháp luật.
2. Quan hệ phối hợp
giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Nhà nước được
thực hiện theo quy chế phối hợp công tác do Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan nhà
nước hữu quan ở từng cấp ban hành.
Điều 30. Quan hệ
giữa Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với nhân
dân
Trong quan hệ với nhân
dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt nam, các thành
viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp mở
rộng và đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân
dân, phát huy vai trò người tiêu biểu, xây dựng
cộng đồng dân cư tự quản hoạt động trên cơ sở
hương ước, quy ước; động viên nhân dân phát huy
quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng, nghiêm chỉnh thi hành Hiến
pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ
quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ công
chức nhà nước; thường xuyên tập hợp ý kiến, kiến
nghị của nhân dân để phản ánh, kiến nghị với
Đảng và Nhà nước; chăm lo, bảo vệ quyền và lợi
ích chính đáng của nhân dân.
Chương VI
KHEN THƯỞNG - KỶ LUẬT
Điều 31. Khen thưởng
Cơ quan, tổ chức, đơn
vị, cá nhân có thành tích xuất sắc trong sự
nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc thì được khen
thưởng.
Hình thức khen thưởng
cao nhất của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam là Kỷ niệm chương "Vì sự nghiệp Đại
đoàn kết dân tộc".
Điều 32. Kỷ luật
Thành viên làm trái
những quy định của Điều lệ Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam thì tùy mức độ sai phạm mà bị khiển
trách, cảnh cáo hoặc thôi công nhận là thành
viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam ở mỗi cấp xem xét, quyết định hình thức
kỷ luật thành viên ở cấp mình.
Chương VII
KINH PHÍ HOẠT ĐỘNG, TÀI SẢN
CỦA ỦY BAN MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
Điều 33. Kinh phí
hoạt động
Nguồn kinh phí hoạt
động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các
cấp bao gồm:
1. Kinh phí hoạt động
do ngân sách Nhà nước cấp;
2. Kinh phí được cấp
khi thực hiện các chương trình, dự án;
3. Thu nhập từ hoạt
động kinh doanh theo pháp luật;
4. Tổ chức, cá nhân ở
trong nước và nước ngoài ủng hộ.
Kinh phí của Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam cấp nào do Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam cấp đó quản lý, sử dụng theo
quy định của pháp luật.
Điều 34. Tài sản
Tài sản của Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam các cấp bao gồm:
1. Tài sản Nhà nước
giao;
2. Tài sản do tổ chức,
cá nhân trong nước hoặc nước ngoài tặng cho.
Việc nhận, quản lý, sử
dụng tài sản đó theo quy định của pháp luật.
Chương VIII
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 35.
Hiệu lực thi hành
Điều lệ này có
hiệu lực từ ngày Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII thông qua.
Những quy định trước
đây trái với Điều lệ này đều bãi bỏ.
Điều 36. Sửa đổi
Điều lệ
Chỉ có Đại hội đại biểu toàn quốc
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mới có quyền sửa đổi
Điều lệ.
Điều 37.
Hướng dẫn thi hành
Ban Thường trực Ủy ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn
thi hành Điều lệ này.
Điều lệ này đã
được Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam lần thứ VII họp tại Thủ đô Hà Nội từ
ngày 28 đến ngày 30 tháng 9 năm 2009 nhất trí
thông qua.
Về đầu trang
|