|
KỶ
NIỆM 120 NĂM
NGÀY SINH CHỦ TỊCH TÔN ÐỨC THẮNG |

Tóm tắt
tiểu sử Chủ tịch Tôn Đức Thắng
Những chặng đường hoạt động cách mạng của Chủ tịch Tôn Đức Thắng
Chủ tịch Tôn Đức Thắng với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Đồng chí Tôn Đức Thắng, người bạn chiến đấu thân thiết của Chủ tịch Hồ
Chí Minh vĩ đại, vị chủ tịch lâu năm nhất của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Chủ tịch Tôn Đức Thắng - Tấm gương sáng ngời về
đạo đức cách mạng
Đến với
khu lưu niệm bác Tôn
Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Tôn Ðức Thắng (20-8-1888 - 20-8-2008)
Ðồng chí Tôn Ðức Thắng - tấm gương tiêu biểu cho chính sách đại đoàn kết
của Ðảng
Tấm gương đạo đức cách mạng sáng ngời
Hoạt
động kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng gắn với Cuộc vận
động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Hội
thảo khoa học Quốc gia kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng
Bác
Tôn - Nhà lãnh đạo lỗi lạc, người bạn chiến đấu thân thiết của Bác Hồ
Đồng
chí Tôn Đức Thắng – Nhà tuyên truyền, giáo dục cách mạng đức độ và tài
năng
Kỷ niệm trọng
thể 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng
Tôn Đức Thắng
- biểu tượng sức mạnh đại đoàn kết dân tộc
Bài diễn văn
của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết |
[Trang tiếp]
[Về đầu
trang]
|
|
TÓM TẮT TIỂU SỬ
CHỦ TỊCH TÔN ĐỨC THẮNG
Bí
danh: Thoại Sơn
Ngày sinh:
20/8/1888
Quê quán: xã Mỹ Hoà Hưng, Thành phố
Long Xuyên, tỉnh An Giang
Thành phần gia đình xuất thân: Nông
dân
Ngày vào Đảng: 1930
TÓM
TẮT QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC
- Từ 1914 đến 1918: Tham gia hoạt
động cách mạng từ chiến tranh thế giới, lúc đó ở Hải quân Pháp trên Địa
Trung Hải.
- Từ 1919: Dưới sự lãnh đạo của Công
hội Pháp đã tham gia phản chiến và treo cờ đỏ trên chiến hạm ở mặt bể
Hắc Hải để chào mừng cách mạng Nga.
- Từ 1928: Bị địch bắt, bị đưa ra Côn
Đảo với án tù 20 năm khổ sai. Lập chi bộ nhà tù lãnh đạo anh em trong tù
đấu tranh, được Xứ uỷ Nam Kỳ thừa nhận là chi bộ đặc biệt và là đảng
viên từ đó.
- Từ 8/1945: Ở Côn Đảo trở về Nam Bộ
làm Uỷ viên Uỷ ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ phụ trách về vấn đề
lương thực và vũ khí.
- Từ 1946: Trúng cử là đại biểu Quốc
hội và tham gia phái đoàn Quốc hội sang Pháp.
- Từ 1951: Quyền Trưởng ban Thường
trực Quốc hội. Tại Đại hội Đảng lần thứ II được bầu vào Ban Chấp hành
Trung ương Đảng
- Từ tháng 3 - 1951 :Chủ tịch Uỷ ban Toàn quốc Mặt trận Liên Việt
- Từ tháng 9 -1955: Chủ
tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
- Từ tháng 2 – 1977: Chủ tịch danh dự Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
- Từ 1960: Được giữ các chức vụ: Phó
trưởng Ban thường trực Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Tổng Thanh tra
toàn quốc, Trưởng Ban thường trực Quốc hội, Phó Chủ tịch nước Việt Nam
Dân chủ cộng hoà. Tại Đại hội Đảng lần thứ III (9/1960) được bầu làm Uỷ
viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
- Từ 12/1976 đến 1981: Chủ tịch nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam.
Tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (12-1976) của Đảng được bầu
vào Ban Chấp hành Trung ương.
B.B.T
[Về
đầu trang]
|
|
NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG
CỦA
CHỦ TỊCH TÔN ĐỨC THẮNG
I.TÓM TẮT QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC
-Từ 1906-1909: Học Trường Kĩ nghệ Viễn Đông, làm công nhân
Nhà máy Ba Son của Hải quân Pháp ở Sài Gòn;
- Năm 1912: Tổ chức cuộc bãi công của công nhân xưởng Ba Son
- Từ 1914 đến 1918: Tham gia hoạt động cách mạng từ chiến
tranh thế giới, làm công nhân quân giới ở quân cảng
Toulon (miền Nam nước
Pháp) và làm thợ máy trên chiến hạm
France.
- 20/4/1919: Dưới sự lãnh đạo của Công hội Pháp đã tham gia
phản chiến và treo cờ đỏ trên chiến hạm để ủng hộ Cách mạng Tháng Mười
Nga, tham gia cuộc binh biến của binh sĩ Pháp ở mặt bể Hắc Hải, sau đó
bị trục xuất khỏi nước Pháp.
- Năm 1920: Lập Công hội bí mật ở Sài Gòn, đây là tổ chức
Công hội đầu tiên của giai cấp công nhân Việt
Nam.
- Năm 1927: Tham gia Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí
Hội và trực tiếp lãnh đạo phong trào công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn.
- Tháng 12/1928: Bị địch bắt ở Sài Gòn.
- Ngày
26/7/1929: Bị kết án 20
năm khổ sai.
Đêm ngày 2 rạng sáng ngày 3/7/1930, con tàu Armand Roussean
của thực dân Pháp lặng lẽ rời Sài gòn đưa đồng chí Tôn Đức Thắng và một
số cán bộ, quần chúng yêu nước đày ra Côn Đảo. Kể từ đó cho đến ngày
18/8/1945, khi Côn Đảo được giải phóng, người tù mang số tù 5289-TF cùng
với lời ghi chú trong phiếu quản lý “Phần tử nguy hiểm” đã chứng tỏ nghị
lực phi thường, ý chí kiên cường và lòng trung thành vô hạn với cách
mạng. 15 năm ở địa ngục trần gian Côn Đảo là quãng thời gian thử thách
lớn nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Tôn Đức Thắng
nhưng đó cũng là quãng đời đầy vinh quanh khi đồng chí thực sự biến nhà
tù đế quốc thành trường học cách mạng.
- Năm 1930: Lập chi bộ nhà tù lãnh đạo anh em trong tù đấu
tranh, được Xứ ủy Nam Kỳ thừa nhận là chi bộ đặc biệt và là đảng viên từ
đó. Bằng những kinh nghiệm đã có trong tổ chức Công hội bí mật ở Sài Gòn,
đồng chí Tôn Đức Thắng đã bàn với những người cộng sản thành lập Hội
những người tù đỏ làm hạt nhân lãnh đạo, tập hợp tù nhân, tạo sức mạnh
đoàn kết chống lại chế độ lao tù.
Nhiều Đảng viên cộng sản trong đó có đồng chí Tôn Đức Thắng
bị kết án khổ sai cũng bị giam chung với tù thường phạm ở Banh I, nơi
chuyên giam giữ tù lưu manh, trộm cắp, đã nhiều lần mang án. Đây là thủ
đoạn thâm độc của thực dân Pháp mượn bàn tay của những tên tù anh chị
nhằm tiêu diệt những người cộng sản.
Trong một lần liên lạc của Hội, bọn gác ngục đã phát hiện
được Tôn Đức Thắng và phạt giam ở Hầm xay lúa. Hầm là địa ngục của địa
ngục, một hình thức cực hình đối với tù nhân, địch gọi là “Khu trừng
giời”. Với âm mưu thâm độc của địch muốn dùng tay anh chị để hành hạ và
giết Tôn Đức Thắng, hiểu được ý đồ này, đồng chí Tôn Đức Thắng đã tập
hợp một số đồng chí cộng sản cũng bị đày ở Hầm xay lúa bàn cách nắm lấy
quyền lực điều hành để cải thiện đời sống và điều kiện làm việc cho
những bạn tù ở Hầm: bỏ lối cai quản người tù bằng roi vọt, sắp xếp, phân
công để tất cả mọi người làm việc theo điều kiện sức khỏe, người yếu thì
sàng gạo, đóng bao, người khỏe thì xay và khuân vác thóc, kíp đứng cối
thì bố trí thêm người, thay nhau người làm, người nghỉ.
Năm 1934, sau khi rời khỏi Hầm xay lúa, đồng chí Tôn Đức
Thắng làm việc tại Sở Lưới, vừa sửa máy vừa lái canô. Sở lưới, với vai
trò của đồng chí Tôn Đức Thắng trở thành trung tâm giao liên quan trọng
của tổ chức Đảng ở Côn Đảo và là đầu mối để tổ chức cho cán bộ, đảng
viên bị tù ở Côn Đảo trốn về hoạt động trong đất liền.
…
Ngày
8/8/1945, Liên Xô tuyên chiến với phát xít Nhật, nhanh chóng đánh bại
đạo quân Quan Đông hơn một triêu lính tinh nhuệ của Nhật. Ngày
15/8/1945, phát xít Nhật chính thức đầu hàng Liên Xô và các nước đồng
minh không điều kiện. Đảng ta kịp thời chớp thời cơ lãnh đạo nhân dân cả
nước vùng lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Sau khi
nghe lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập do một đài nước
ngoài phát lại, toản đảo vui mừng không xiết. Sáng 23/9/1945, tàu Phú
Quốc cùng 25 chiếc thuyền bầu đã nhổ neo đưa 1800 tù chính trị trở về
đất liền. Chiếc canô vừa được sửa lại mang tên Giải phóng do chính đồng
chí Tôn Đức Thắng lái đưa một số đồng chí trong Ban lãnh đạo trở về. Tuy
gian nan, vất vả nhưng chiều ngày 2/3/9/1945 mọi người đã cập bến Đại
Ngãi, tỉnh Sóc Trăng trong sự đón tiếp nồng nhiệt của Đảng bộ và nhân
dân địa phương.
- Từ 8/1945: Ở Côn Đảo trở về Nam Bộ làm Uỷ viên Uỷ ban Kháng
chiến hành chính Nam Bộ phụ trách về vấn đề lương thực và vũ khí.
- Ngày
06/01/1946: Trúng cử là
đại biểu Quốc hội khóa đầu của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và tham
gia phái đoàn Quốc hội sang Pháp.
- Ngày
11/6/1948, Chủ tịch Hồ
Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua yêu nước, Đảng ta chính thức phát động
cuộc vận động thi đua yêu nước. Đây là thời kỳ đồng chí Tôn Đức Thắng có
nhiều cố gắng và đạt kết quả tốt trong việc làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh
và chủ trương của Đảng về thi đua yêu nước trở thành động lực của cuộc
kháng chiến kiến quốc.
- Nhân dịp đồng chí Khu trưởng khu VIII Nam Bộ ra báo cáo với
Trung ương và Bác Hồ về tình hình cuộc kháng chiến, đồng chí Tôn Đức
Thắng đã đến thăm Đoàn và trao đổi thân tình: “Mặc dầu tham gia vào cuộc
lãnh đão chung ở ngoài này – một nhiệm vụ rất lớn, nhưng lúc nào tôi
cũng nghĩ tới đồng bào Nam Bộ, lúc nào cung nghĩ tới chiến trường Nam Bộ
là nơi đồng chí, đồng bào đương kháng chiến gian lao. Tôi đã nhiều lần
đề nghị với Bác Hồ, với Trung ương cho trở về chiến trường để cùng với
đồng chí, đồng bào Nam Bộ tham gia kháng chiến nhưng Bác Hồ chưa đồng ý
(…). Đề nghị đồng chí, đề nghị đoàn về báo cáo lại với Xử ủy và với đồng
báo Nam Bộ rằng, Tôn Đức Thắng là người con của nhân dân Nam Bộ, lúc nào
cũng nghĩ tới đồng bào Nam Bộ, nghĩ tới xứ sở mà mình đã sinh ra và đã
từng hoạt động”. Trong thời gian này, Ban Thường trực Quốc hội đã phân
công các ủy viên đi các địa phương ở Liên khu III và liên khu Việt Bắc
động viên nhân dân kháng chiến, đồng chí Tôn Đức Thắng được giữ chức
Quyền trưởng Ban.
- Từ 1951: Quyền Trưởng ban Thường trực Quốc hội. Tại Đại hội
Đảng lần thứ II được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt
Nam. Đồng chí là
Đại biểu Quốc hội liên tục các khóa I-VI.
- Từ 1951 - 1955 : Chủ tịch Uỷ ban Toàn quốc Mặt trận Liên
Việt
- Từ 1955 - 1977: Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam
- Từ 1960: Phó trưởng Ban thường trực Quốc hội, Bộ trưởng Bộ
Nội vụ, Tổng Thanh tra toàn quốc, Trưởng Ban thường trực Quốc hội, Phó
Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà (tháng 7/1960). Tại Đại hội Đảng
lần thứ III (9/1960) được bầu làm Uỷ viên chính thức Ban Chấp hành Trung
ương Đảng.
- Ngày
23/9/1969 đến 1981: Chủ
tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tại đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ IV (12-1976) của Đảng được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương.
- Từ 1977 - 1981: Chủ tịch danh dự Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam
- 30/3/1980: Qua đời tại Hà Nội, hưởng thọ 92 tuổi.
II.NHỮNG DANH HIỆU CAO QUÝ ĐÃ ĐƯỢC
ĐẢNG, NHÀ NƯỚC, NHÂN DÂN TA VÀ CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI TRAO TẶNG
- Năm 1955, được Ủy ban Giải thưởng hòa bình quốc tế Lênin
tặng giải thưởng Lênin “Vì hòa bình và hữu nghị giữa các dân tộc”
- Năm 1958, được Quốc hội và Hồ Chủ Tịch tặng thưởng Huân
chương Sao Vàng
- Năm 1967, được Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô tặng
thưởng Huân chương Lênin về những hành động cách mạng góp phần vào cuộc
đấu tranh bảo vệ chính quyền Xô viết trong thời kỳ nội chiến.
- Năm 1978, được Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô tặng
thưởng Huân chương Cách mạng Tháng Mười để ghi nhận công lao đóng góp to
lớn vào việc phát triển và củng cố tình hữu nghị anh em, hợp tác về mọi
mắt giữa Việt Nam – Liên Xô.
- Năm 1978, Đoàn chủ tịch Quốc hội Mông Cổ, tặng thưởng Huân
chương Xu-khechương Xu-khê Ba-to, huân chương cao quý nhất của Mông Cổ,
để ghi nhận công lao to lớn đã cống hiến cho sự nghiệp hòa bình, hữu
nghị và chủ nghĩa xã hội của các dân tộc; trong việc củng cố tình hữu
nghị anh em giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Mông Cổ.
B.B.T
[Về
đầu trang]
CHỦ TỊCH TÔN ĐỨC
THẮNG
VỚI MẶT
TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
Vũ Trọng Kim
Ủy viên BCHTƯ Đảng
Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký
Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam
Chủ
tịch Tôn Đức Thắng, người chiến sỹ cộng sản kiên cường, mẫu mực, cống
hiến trọn đời cho cách mạng, cho dân tộc; người bạn chiến đấu thân thiết
của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời là một trong những nhà lãnh đạo xuất
sắc của Đảng, Nhà nước và Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam. Trong
suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, ở bất cứ hoàn cảnh nào, dù khó khăn,
gian khổ đến mấy, Chủ tịch Tôn Đức Thắng luôn tỏ rõ rất mực trung thành,
tận tụy đối với Đảng, nhân dân, luôn nêu cao tinh thần anh dũng, bất
khuất, phẩm chất đạo đức: cần, khiệm, liêm chính, chí công, vô tư
[1].
Chủ tịch
Tôn Đức Thắng sinh ngày
20
tháng 8
năm
1888 trong một gia đình nông dân
tại
Cù Lao
Ông Hổ,
tổng Bình Thành, tỉnh Long Xuyên, nay là xã Mỹ Hòa Hưng, thị xã Long
Xuyên, tỉnh An Giang. Năm 1910, sau khi tốt nghiệp Trường Bách nghệ Sài
Gòn với điểm tối ưu (20/20), Bác gia nhập hàng ngũ giai cấp công nhân
Việt Nam và làm việc tại xưởng sửa chữa tàu thuỷ Ba Son của thực dân
Pháp tại Sài Gòn. Truyền thống yêu nước, quật cường của quê hương, đất
nước và cuộc sống của giai cấp công nhân đã sớm thức tỉnh tinh thần yêu
nước của Bác. Năm 1912, khi mới 24 tuổi, Bác đã tổ chức và lãnh đạo cuộc
bãi công của công nhân nhà máy sửa chữa tàu thủy Ba Son mở đầu cho cuộc
đời hoạt động cách mạng đầy gian lao nhưng cũng rất vinh quang của mình.
Bị thực dân Pháp lùng bắt, cuối năm 1912, Bác lánh sang Pháp và làm thủy
thủ trên các tàu viễn dương. Năm 1919, khi mới hơn 30 tuổi, Bác đã tham
gia cuộc binh biến của hải quân Pháp ở Hắc Hải chống cuộc chiến can
thiệp của đề quốc Pháp tại Biển Đen, góp phần bảo vệ Nhà nước Xô- Viết,
Nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới
[2].
Năm 1920, do tham gia cuộc binh biến đó, Bác buộc phải rời Pháp. Trở về
Sài Gòn, Bác cùng với các bạn chiến đấu, xây dựng những cơ sở công hội
bí mật đầu tiên tại Sài Gòn- Chợ lớn nhằm tập hợp đoàn kết, bảo vệ quyền
lợi giai cấp công nhân và người lao động làm nòng cốt cho cuộc đấu tranh
của nhân dân ta chống sự áp bức, bóc lột của bọn đế quốc và bè lũ tay
sai. Năm 1926, Bác tham gia Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội -
một tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam do đồng chí Nguyễn Ái
Quốc sáng lập. Cuối năm 1929, do hoạt động cách mạng, Bác Tôn bị Thực
dân Pháp bắt giam tại Khám lớn Sài Gòn, sau đó bị đày ra Côn Đảo suốt 17
năm và trở thành người tù có thâm niên lâu nhất ở đây. Cách mạng tháng
Tám thành công, Bác được chính quyền cách mạng đón về đất liền và tham
gia ngay vào cuộc chiến đấu mới chống thực dân Pháp xâm lược. Giữa năm
1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đón Bác ra Hà Nội. Từ đó,
Bác Tôn và Bác Hồ luôn luôn sát cánh bên nhau - một hình ảnh tiêu biểu
cho đoàn kết Bắc - Nam, để cùng Trung ương Đảng, Chính phủ lo việc nước.
Với uy tín lớn trong Đảng, trong nhân dân và phẩm chất cách mạng, đạo
đức trong sáng, Bác Tôn đã được giao nhiều trọng trách: Tổng thanh tra
của Chính phủ, quyền Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng ban thi đua ái quốc
Trung ương, Chủ tịch danh dự Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Chủ tịch
Uỷ ban Liên Việt toàn quốc (từ 7-3-1951 đến 10-9-1955), Hội trưởng Hội
hữu nghị Việt Nam - Liên Xô... liên tục là Uỷ viên Ban chấp hành Trung
ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ khóa II đến lúc ra đi. 20 năm kháng chiến
chống Mỹ cứu nước, cũng là 20 năm Bác liên tục được đại diện các tầng
lớp nhân dân suy tôn làm Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam (từ 10-9-1955 đến 2-1977) và Chủ tịch danh dự Đoàn
Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho đến ngày qua
đời. Cũng trong thời gian đó, Bác còn đảm nhiệm nhiều trọng trách:
Trưởng ban thường trực Quốc hội, Chủ tịch danh dự Uỷ ban bảo vệ hòa bình
thế giới của Việt Nam, Uỷ viên Hội đồng hòa bình thế giới. Ngày
15-7-1960, Bác được Quốc hội thay mặt nhân dân ta bầu làm Phó Chủ tịch
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Năm 1969 khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua
đời, Bác được Quốc hội bầu làm Chủ tịch nước, đồng thời kiêm Chủ tịch
Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để cùng các
đồng chí lãnh đạo khác của Đảng, Nhà nước, Mặt trận lãnh đạo, tổ chức
động viên nhân dân ta kiên cường chiến đấu, đưa cuộc kháng chiến chống
Mỹ cứu nước đến toàn thắng, thống nhất nước nhà.
Hơn nửa thế kỷ hoạt động cách mạng đầy
gian lao và nguy hiểm, trong đó có 27 năm liên tục làm Chủ tịch Mặt trận
Liên Việt và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và hơn 10 năm làm Chủ tịch nước,
Bác Tôn đã để lại cho Đảng ta, Nhà nước ta nhiều bài học sâu sắc, cho
nhân dân ta một tấm gương sáng về chuẩn mực sống của một công dân yêu
nước. Với cương vị là người lãnh đạo cao nhất
và lâu năm nhất của Mặt trận Liên Việt, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bác
đã hoạt động hết mình vì sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc, góp phần tạo
nên sức mạnh tổng hợp dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Năm 1946, Bác Tôn được cử làm Hội trưởng
Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (tức Liên Việt)- một tổ chức nhằm
tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam yêu nước. Là người miền Nam lần đầu
tiên sống trên đất Bắc với khí hậu thay đổi thất thường bệnh tật hậu quả
những tháng bị tù đầy, tra tấn, song Bác vẫn kiên trì thực hiện khẩu
hiệu “Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”. Bác đã không quản
ngại khó khăn vượt đèo, lội suối, gặp gỡ, tiếp xúc với nhiều nhân sĩ,
trí thức, đại diện lãnh đạo các đảng phái, chức sắc, các tôn giáo nhằm
làm cho mọi người nhận thức rõ thời cuộc, chính sách của Chính phủ kháng
chiến và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc chống thực dân xâm
lược. Bác thường nhắc nhở các thành viên trong Hội Liên Việt tôn
trọng tự do tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện đời sống mới, bảo vệ
quyền lợi chính đáng của nhân dân, bảo trợ người già yếu, tàn tật, phụ
nữ và trẻ em; phát triển nền văn hóa dân tộc, đồng thời tiếp thu có chọn
lọc văn hóa phương Đông và phương Tây để bổ sung cho nền văn hóa nước
nhà. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, với tư cách là
đại biểu chính thức của Đại hội, Bác đã có những đóng góp quan trọng vào
việc xác định vai trò và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận
dân tộc thống nhất, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân.
Được Đoàn Chủ tịch Đại hội phân công
chuẩn bị và đọc diễn văn bế mạc Đại hội, Bác nhấn mạnh: "Chính sách
Mặt trận của chúng ta là chính sách liên minh giai cấp để kháng chiến.
Không phải liên minh giai cấp suông, mà liên minh giai cấp để kháng
chiến. Đã là liên minh giai cấp để kháng chiến thì những mâu thuẫn quyền
lợi giữa giai cấp phải được điều giải hợp lý. Nhưng bao giờ chúng ta
cũng đặc biệt chú trọng đến quyền lợi của quần chúng cần lao và đông
đảo, vì họ là nền tảng của Mặt trận dân tộc thống nhất và là lực lượng
chủ yếu của kháng chiến"[3].
Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, Bác
được phân công chuẩn bị mọi mặt cho Đại hội toàn quốc thống nhất Việt
Minh - Liên Việt. Với kinh nghiệm công tác Mặt trận nhiều năm và với uy
tín lớn trong Đảng, trong dân, Bác đã góp phần quan trọng tổ chức Đại
hội thành công tốt đẹp. Việt Minh và Liên Việt thống nhất thành
một Mặt trận chung mang tên Mặt trận Liên Việt và Bác Hồ được cử
làm Chủ tịch danh dự, Bác Tôn được cử làm Chủ tịch. Thành công của Đại
hội là một thắng lợi to lớn của nhân dân ta về chính trị. Đúng như Bác
Hồ đã nhận xét: "Hôm nay trông thấy rừng cây đại đoàn kết đã nở hoa,
kết quả và gốc rễ nó đang ăn sâu, lan rộng khắp toàn dân và nó có một
tương lai "trường xuân bất lão".
Tháng 9 năm 1955, Đại hội Mặt trận dân
tộc thống nhất đã khai mạc tại Hà Nội và quyết định lấy tên là Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam. Tại Đại hội này, Bác được cử làm Chủ tịch
Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Trong diễn
văn đọc tại đại hội, Bác đặc biệt nhấn mạnh đến yêu cầu đoàn kết toàn
dân trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh hoàn thành
Cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, hướng đến mục tiêu xây dựng một
nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Bác
kêu gọi đồng bào cả nước: “Chúng ta cùng chung
một Tổ quốc, cùng có chung hàng nghìn năm lịch sử, đau khổ có nhau, vinh
quang có nhau. Điều đó đã gắn liền đồng bào toàn quốc, gắn liền đại biểu
chúng ta làm một khối”[4].
Bác đã động viên cả
nước ra sức thực hiện lời dạy của Bác Hồ “Đoàn kết, đoàn kết, đại
đoàn kết! Thành công, thành công, đại thành công!”.
Do những công lao to lớn của Bác đối với
cách mạng và sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc, tháng 8 năm 1958 nhân dịp
tròn 70 tuổi, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ Việt Nam dân chủ
cộng hòa quyết định tặng Bác Huân chương Sao Vàng - Huân chương cao quý
nhất của Nhà nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Đảng, Nhà nước
trao tặng huân chương cho Bác và phát biểu: “Thay mặt nhân dân và
Chính phủ, tôi trân trọng trao tặng đồng chí Tôn Đức Thắng huân chương
Sao Vàng là huân chương cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mà
đồng chí Tôn Đức Thắng là người đầu tiên và người rất xứng đáng được
tặng huân chương ấy”
[5].
Với cương vị là người lãnh đạo của Đảng,
người đứng đầu Nhà nước, Công đoàn và Mặt trận, Bác cùng với Bác Hồ là
hình ảnh tiêu biểu của khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết Bắc, Nam.
Nét nổi bật ở Bác mà mọi người dễ nhận thấy là đức tính khiêm nhường,
lối sống giản dị, lòng bao dung và tài cảm hoá mọi người. Chính phẩm
chất cao quý ấy cùng với lòng trung thành vô hạn với Tổ quốc và ý chí
chiến đấu kiên cường, bất khuất trước kẻ thù của dân tộc đã in đậm trong
trái tim mỗi người Việt Nam yêu nước sự ngưỡng mộ và kính phục.
Kỷ niệm 120 năm ngày sinh của Bác
(20/8/1888- 20/8/2008) giữa lúc toàn Đảng, toàn dân ta đang ra sức phấn
đấu để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
X của Đảng và tiếp tục thực hiện các Nghị quyết của Trung ương, nhất là
Hội nghị lần thứ 07 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về dân tộc,
tôn giáo, về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tiếp tục đổi
mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vì mục tiêu "dân giầu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Mỗi cán bộ, đảng
viên, đoàn viên các đoàn thể nhân dân, những người công nhân lao động
chúng ta càng tự hào về Người Chủ tịch Mặt trận kính mến của mình, càng
phải ra sức rèn luyện, học tập đạo đức Cách mạng "Cần kiệm, liêm
chính - chí công, vô tư" của Người; càng phải toàn tâm, toàn ý phục
vụ nhân dân, vì sự nghiệp đổi mới phải hoàn thành mọi nhiệm vụ Đảng và
nhân dân giao phó. Hãy phấn đấu hết sức mình để góp phần xây dựng khối
đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng nở hoa, kết trái.
Trước mắt, phát huy kết quả của 60 năm
phấn đấu thực hiện Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
tất cả chúng ta và các tổ chức thành viên Mặt trận cần động viên nhân
dân đẩy mạnh các phong trào thi đua lao động, sản xuất, học tập, công
tác và hoạt động xã hội; phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm,
chống lãng phí, sát cách cùng Đảng, Nhà nước thực hiện có hiệu quả các
chủ trương, giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo
an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững, thực hiện thắng lợi kế hoạch
kinh tế-xã hội Nhà nước năm 2008; tập trung chỉ đạo thành công đại hội
Mặt trận các cấp và Đại hội đại biểu Mặt trận toàn quốc lần thứ VII; tất
cả mọi hoạt động phải tập trung, đầu tư cho cơ sở và các khu dân cư để
phấn đấu sớm hoàn thành mục tiêu xoá đói, giảm nghèo; xây dựng gia đình
văn hóa, khu dân cư văn hóa tiên tiến; tổ chức thật tốt "Ngày hội Đại
đoàn kết toàn dân tộc" 18-11 ở các khu dân cư, tạo điều kiện để mọi
cán bộ, đảng viên và lãnh đạo các cấp đều về sinh hoạt, dự "Ngày hội
Đại đoàn kết toàn dân tộc" cùng nhân dân ở khu dân cư của mình./.
Tháng 8-2003, nhân kỷ niệm 115
năm ngày sinh của chủ tịch Tôn Đức Thắng, khi trả lời phỏng
vấn đài BBC giáo sư Christoph Giebel (dạy tại khoa Sử đại
học Washington, Hoa Kỳ và là một chuyên gia nghiên cứu về ông
Tôn Đức Thắng), có nói:
...ông Tôn, một người
rất khiêm tốn, giản dị, sống thật với bản chất và lý
tưởng của mình. Ông ấy được mô tả như một nhà cách mạng
kiểu mẫu. Một bài viết về ông Tôn có tựa đề “Một người
bình thường, vĩ đại” và tôi nghĩ cái hình ảnh “một
người bình thường, vĩ đại” là cách mà ông Tôn được
nhìn nhận ở góc độ cá nhân.
Về sau để ghi nhận vai trò của ông trong sự kiện này, tên ông được
đặt cho một đường phố ở thành phố Odessa-Ukraina (tham khảo cuốn
“Người
thủy thủ phản chiến ở Biển đen" NXB Thông tin lý luận,
1988)...
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 12, NXB Chính
trị quốc gia Hà Nội 2001, tr 488.
Đồng chí Tôn Đức Thắng, người chiến sỹ cộng sản kiên cường, mẫu mực,
Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1982, tr32.
Đồng chí Tôn Đức Thắng, người chiến sỹ cộng sản kiên cường, mẫu mực,
Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1982, tr35.
[Về đầu
trang]
|
|
ĐỒNG CHÍ TÔN ĐỨC THẮNG,
NGƯỜI BẠN CHIẾN ĐẤU THÂN THIẾT CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VĨ ĐẠI, VỊ CHỦ
TỊCH LÂU NĂM NHẤT CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
Phạm Thế Duyệt *
Tôi không có may mắn như nhiều đồng chí khác
là được sống và làm việc gần Bác Tôn. Là lớp hậu sinh, tôi chỉ được nhìn
thấy Bác Tôn cùng Bác Hồ trên Lễ đài Quảng trường Ba Đình trong các ngày
lễ lớn và lần đầu tiên vinh dự gặp Bác tại Đại hội lần thứ IV Công đoàn
toàn quốc, năm 1978.
Song với nhiệm vụ được Đảng và nhân dân giao
phó : Làm Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam và hiện nay là Chủ tịch Đoàn
Chủ tịch ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tôi có điều kiện
thuận lợi và dành nhiều thời gian tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của
Bác - người lãnh tụ của mình trong công tác Dân vận - Mặt trận của Đảng.
Như chúng ta đã biết : Bác Tôn sinh ngày
20-8-1888 trong một gia đình nông dân giàu truyền thống yêu nước, tại Cù
Lao Ông Hổ, tổng Bình Thành, tỉnh Long Xuyên, nay là xã Mỹ Hòa Hưng,
thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Vào thời điểm đó, thực dân Pháp đã mở rộng
cuộc xâm lược ra toàn cõi Việt Nam và cũng là thời điểm mà phong trào
yêu nước của nhân dân ta phát triển mạnh mẽ ở khắp ba kỳ nhằm chống lại
cuộc xâm lược của thực dân Pháp.
Tình hình đó đã tác động mạnh mẽ đến tư
tưởng, tình cảm của người thanh niên Tôn Đức Thắng. Ngay khi còn là học
sinh của Trường Bách nghệ Sài Gòn, cùng với việc học giỏi nhất trường
(1), Bác Tôn còn là "người chỉ huy" nhiều cuộc bãi khóa để
phản đối sự đàn áp dã man của thực dân Pháp đối với phong trào nông dân
ở nhiều nơi.
Tốt nghiệp Trường Bách nghệ với điểm tối ưu
(20/20), Bác Tôn gia nhập hàng ngũ giai cấp công nhân Việt Nam và làm
việc tại xưởng sửa chữa tàu thủy Ba Son. Chính tại đây, ở tuổi 24, Bác
Tôn đã lãnh đạo cuộc đấu tranh của công nhân Ba Son thắng lợi, ghi một
dấu ấn đậm nét đầu tiên trong quá trình hoạt động cách mạng của mình.
Làm thủy thủ trên các tàu viễn dương, đi tới
nhiều nước, ở nhiều nơi, tiếp xúc với nhiều lớp người có mầu da và tiếng
nói khác nhau, cũng như Bác Hồ, Bác Tôn nhận thức ra một điều là : ở đâu,
người lao động cũng là người cùng khổ, bị bóc lột, đàn áp đến thậm tệ.
Tinh thần yêu nước nồng cháy trong Bác được nâng lên thành tình yêu giai
cấp, tình đoàn kết quốc tế thiết tha. Sự kiện người thanh niên Việt Nam
Tôn Đức Thắng tham gia cuộc binh biến của hải quân Pháp ở Hắc Hải năm
1919, để ủng hộ và bảo vệ Cách mạng Tháng Mười Nga, là một minh chứng cụ
thể về tình đoàn kết quốc tế cao cả. Nó đánh dấu một mốc son chói lọi
trong lịch sử phát triển và nâng cao mối quan hệ hợp tác và hữu nghị
Việt - Xô sau này.
Do tham gia cuộc binh biến lịch sử đó, Bác
buộc phải rời Pháp trở về nước. Bác Tôn thành lập tổ chức Công hội nhằm
tập hợp, đoàn kết, bảo vệ quyền lợi giai cấp công nhân, làm nòng cốt cho
cuộc đấu tranh của nhân dân ta chống lại sự áp bức, bóc lột của bọn đế
quốc và bè lũ tay sai của chúng.
Năm 1925, Bác Tôn tham gia Hội Việt Nam Cách
mạng Thanh niên - một tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam do
đồng chí Nguyễn Aái Quốc sáng lập. Sự kiện đó đánh dấu bước chuyển biến
tư tưởng có tính chất quyết định từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa
Mác - Lê-nin của Bác. Từ đó, tạo điều kiện cho việc truyền bá chủ nghĩa
Mác - Lê-nin vào phong trào công nhân Sài Gòn do Bác Tôn tổ chức và lãnh
đạo, nhanh chóng nâng cao trình độ tổ chức, trình độ tự giác của giai
cấp công nhân, thúc đẩy cuộc đấu tranh ngày càng phát triển. Lịch sử
phong trào công nhân và Công đoàn Việt Nam đã khẳng định : Các tổ chức
công hội mà Bác Tôn là người sáng lập là những tổ chức tiền thân của
Công đoàn Việt Nam có vai trò quan trọng trong lịch sử phong trào công
nhân Việt Nam vào những năm đầu cách mạng vô sản ở nước ta.
Đọc cuốn "Sơ lược lịch sử Côn Đảo" do Ban
Nghiên cứu lịch sử Đảng đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo ấn hành cho thấy, Bác
Tôn là một trong những đảng viên cộng sản lớp đầu tiên bị kẻ địch giam
cầm ở đây lâu nhất.
Ròng rã gần 17 năm trời bị đọa đầy trong
ngục tù đế quốc, với bao cực hình vô cùng dã man, bọn thực dân, đế quốc
không lay chuyển nổi ý chí kiên trung, bất khuất của Bác. Ngược lại,
chúng càng làm cho khí phách của người cộng sản lớp tiền bối lan tỏa và
nêu gương cho các thế hệ kế tiếp, cho mọi người dân Việt Nam yêu nước
noi theo. Cũng chính tại Côn Đảo, Bác đã tham gia thành lập chi bộ Đảng
Cộng sản đầu tiên ở đó và tích cực tham gia đấu tranh chống chế độ lao
tù hà khắc của thực dân Pháp.
Cách mạng Tháng Tám vừa thành công, theo sự
chỉ đạo của Thường vụ Trung ương Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ủy
ban nhân dân cách mạng lâm thời Nam Bộ cử đoàn đại biểu ra đón Bác Tôn
cùng các đồng chí Lê Duẩn, Phạm Hùng trở về đất liền. Tại Hội nghị cán
bộ toàn xứ Nam Kỳ họp ngày 15-10-1945, Bác Tôn và các đồng chí Lê Duẩn,
Phạm Hùng... được bầu vào Xứ ủy. Giữa năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh và
Trung ương đón Bác Tôn ra Hà Nội. Từ đó, Bác Tôn và Bác Hồ luôn luôn sát
cánh bên nhau - một hình ảnh tiêu biểu cho đoàn kết Bắc - Nam, để cùng
Trung ương Đảng, Chính phủ lo việc nước. Với uy tín lớn lao trong Đảng,
trong nhân dân và phẩm chất cách mạng, đạo đức trong sáng, Bác Tôn đã
được giao nhiều trọng trách : Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân
Pháp, Bác lần lượt đảm nhận các chức vụ : Tổng Thanh tra của Chính phủ,
Quyền Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng Ban Thi đua ái quốc Trung ương, Trưởng
Ban Thường trực Quốc hội, Chủ tịch danh dự Tổng Liên đoàn Lao động Việt
Nam, Chủ tịch Ủy ban Liên Việt toàn quốc (từ 7-3-1951 đến 10-9-1955),
Hội trưởng Hội Hữu nghị Việt Nam - Liên Xô, liên tục là Ủy viên Ban Chấp
hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ khóa II đến lúc Bác ra đi.
Hai mươi năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước
cũng là 20 năm Bác Tôn liên tục được đại diện các tầng lớp nhân dân suy
tôn làm Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam (từ 10-9-1955 đến 2-1977) và Chủ tịch danh dự Đoàn Chủ tịch Ủy ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho đến ngày Bác qua đời. Cũng
trong thời gian đó, Bác còn đảm nhiệm các chức vụ : Trưởng Ban Thường
trực Quốc hội, Chủ tịch danh dự Ủy ban Bảo vệ hòa bình thế giới của Việt
Nam, Ủy viên Hội đồng hòa bình thế giới. Ngày 15-7-1960, Bác được nhân
dân ta bầu làm Phó Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Năm 1969, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần,
Bác Tôn được Quốc hội bầu làm Chủ tịch nước, đồng thời kiêm Chủ tịch
Đoàn Chủ tịch ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để cùng các
đồng chí lãnh đạo khác của Đảng, Nhà nước, Mặt trận lãnh đạo, động viên
nhân dân ta kiên cường chiến đấu, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
đến toàn thắng, thống nhất nước nhà.
Hơn nửa thế kỷ hoạt động cách mạng đầy gian
lao và nguy hiểm, trong đó có 17 năm ròng bị đầy đọa và chịu mọi cực
hình trong ngục tù Côn Đảo của thực dân Pháp, 27 năm liên tục làm Chủ
tịch Mặt trận Liên Việt và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và hơn 10 năm làm
Chủ tịch nước, Bác Tôn đã để lại cho Đảng ta, Nhà nước ta nhiều bài học
sâu sắc, cho nhân dân ta một tấm gương sáng về chuẩn mực sống của một
công dân yêu nước.
Còn sáng mãi trong nhân dân ta hình ảnh một
vị Chủ tịch nước cao tuổi về thăm quê với bộ quần áo bạc màu với yêu cầu
hết sức hạn chế xe đưa, người đón vì "sợ hao phí tiền của và công sức
của Nhà nước và nhân dân".
Với cương vị là người lãnh đạo của Đảng,
người đứng đầu Nhà nước, Công đoàn và Mặt trận, Bác Tôn và Bác Hồ là
hình ảnh của khối đại đoàn kết toàn dân. Nét nổi bật ở Bác Tôn mà mọi
người dễ nhận thấy là đức tính khiêm nhường và lối sống giản dị. Chính
phẩm chất cao quý ấy cùng với lòng trung thành vô hạn với Tổ quốc và ý
chí chiến đấu kiên cường, bất khuất trước kẻ thù của dân tộc đã in đậm
trong trái tim mỗi người Việt Nam yêu nước sự ngưỡng mộ và kính phục.
Kỷ niệm Ngày sinh lần thứ 115 của Bác Tôn
giữa lúc toàn Đảng, toàn dân ta đang ra sức phấn đấu thực hiện thắng lợi
Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng được cụ thể hóa bằng các nghị
quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trong đó Nghị quyết có tầm quan
trọng sống còn đối với vận mệnh của dân tộc ta lúc này là Nghị quyết Hội
nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (phần
II) về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới,
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".
Để kỷ niệm ngày sinh của Bác Tôn một cách
thiết thực nhất, mỗi chúng ta hãy học tập đạo đức cách mạng, lối sống
cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư của Bác, noi gương Bác hãy tận
tụy với công việc được Đảng và nhân dân giao phó, đóng góp hết mình cho
công cuộc đổi mới, làm cho rừng cây đoàn kết mà Bác đã cùng Chủ tịch Hồ
Chí Minh suốt đời vun đắp không ngừng nở hoa, kết trái, để hoài bão "dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" của Bác Hồ, Bác
Tôn, của toàn Đảng và của mỗi chúng ta sớm thành hiện thực trên Tổ quốc
thân yêu.
---------------------------------
* Chủ tịch Đoàn Chủ tịch
Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
(1) Năm 1975, khi miền
Nam hoàn toàn giải phóng, đã tìm được Học bạ (gốc) của Bác Tôn còn lưu
giữ tại Trường.
(Theo Tạp
chí Cộng sản số phát hành 42 năm 2003)
[Về đầu
trang]
|
|
CHỦ TỊCH TÔN ĐỨC THẮNG
TẤM GƯƠNG SÁNG NGỜI
VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG
Sinh ra và lớn lên trong cảnh đất nước bị rơi vào tay thực
dân Pháp xâm lược, chứng kiến sự hành hạ, đối xử bất công của chúng đối
với người dân nước Việt, ở Tôn Đức Thắng sớm xuất hiện tình cảm yêu nước,
căm ghét bọn thực dân. Rồi tiếng vang của các nghĩa quân: Trương Định,
Nguyễn Trung Trực, Võ Duy Dương và nhiều tấm gương anh dũng chống thực
dân Pháp đã in sâu trong tâm hồn cậu bé Tôn Đức Thắng.
Chính với hành trang
yêu nước, thương nòi ấy, năm 1912, anh thanh niên Tôn Đức Thắng đã tham
gia tổ chức cuộc bãi công của học sinh trường Bá Nghệ và công nhân Nhà
máy sửa chữa tàu thủy Ba Son. Gần 10 năm sau, năm 1920, trở về Sài Gòn
sau sự kiện kéo cờ trên Hắc Hải nổi tiếng, Tôn Đức Thắng cùng những
người bạn thân thiết lập ra tổ chức đầu tiên của giai cấp công nhân Việt
Nam - Công hội bí mật tại Sài Gòn - Chợ Lớn, nhằm đấu tranh bênh vực
quyền lợi của công nhân, đấu tranh chống đế quốc tư bản.
Bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Tôn Đức Thắng mở ra
vào một ngày cuối năm 1926, khi nhận được chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Ái
Quốc, Tôn Đức Thắng nhanh chóng tán thành gia nhập Hội Việt Nam Cách
mạng Thanh niên, tán thành con đường cứu nước giải phóng dân tộc gắn
liền với giải phóng giai cấp công nhân, độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội. Từ đây, trong con người Tôn Đức Thắng, yêu nước gắn liền
với yêu chủ nghĩa xã hội, trung thành với Tổ quốc, với dân tộc cũng đồng
thời là trung thành với sự nghiệp cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo.
Ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã nâng lòng yêu nước chân chính của
Tôn Đức Thắng lên một tầm cao mới, thêm sức mạnh và hăng hái lao vào
hoạt động cách mạng. Năm 1927, Kỳ bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở
Nam Kỳ thành lập. Tôn Đức Thắng được cử là một thành viên trong ban lãnh
đạo Kỳ bộ và trực tiếp phụ trách phong trào công nhân Sài Gòn - Chợ Lớn.
Trên cương vị này, Tôn Đức Thắng đã tích cực tuyên truyền giác ngộ và
cùng các đồng chí của mình tham gia chuẩn bị cho sự ra đời của một đảng
mác-xít chân chính ở Việt Nam.
Cuối năm 1929, giữa lúc
phong trào cách mạng đang phát triển mạnh mẽ thì Tôn Đức Thắng bị mật
thám Pháp bắt, đưa về Khám lớn Sài Gòn và dùng mọi cực hình tàn bạo hòng
khai thác những tin tức về cách mạng. Nhưng chúng đã thất bại trước khí
phách kiên cường, bất khuất của người chiến sĩ cộng sản. Chúng kết án
Tôn Đức Thắng 20 năm khổ sai và đày ra Côn Đảo. Ở nơi "địa ngục trần
gian", Tôn Đức Thắng vẫn vững lòng tin vào thắng lợi của cách mạng Việt
Nam, cùng các đồng chí ở Banh 1 thành lập Chi bộ đặc biệt và trở thành
một trong những người lãnh đạo của chi bộ cùng anh em trong tù tiếp tục
đấu tranh.
Cách mạng Tháng Tám
thành công, vừa được đón về đất liền, người chiến sĩ cộng sản Tôn Đức
Thắng đã hăng hái cùng quân dân miền nam chiến đấu chống thực dân Pháp;
sau đó được điều ra bắc, lần lượt đảm nhiệm các trọng trách: Phó Hội
trưởng Hội Liên Việt, Chủ tịch Mặt trận Liên Việt, Trưởng ban Thường
trực Quốc hội, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó
Chủ tịch rồi Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sau đó là nước
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Dù ở cương vị nào, Chủ tịch Tôn Đức
Thắng cũng luôn luôn nêu cao phẩm chất trung thành với Tổ quốc, với dân
tộc, với Đảng, hết lòng, hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân.
Có thể nói, khiêm tốn và giản dị, tình nghĩa và trong sáng là những đức
tính của Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Chủ tịch Tôn Đức Thắng rất khiêm nhường.
Một người dân thuộc địa tham gia cuộc binh biến ở Hắc Hải năm 1919 để
bảo vệ nước Cộng hòa Xô-viết trẻ tuổi là một sự kiện được nhân dân Liên
Xô cũng như nhân dân yêu chuộng hòa bình, tiến bộ thế giới khâm phục,
ngợi ca. Vậy nhưng khi hồi tưởng lại sự kiện này, Chủ tịch khiêm tốn
viết: "Tôi tin rằng, bất kỳ người Việt Nam yêu nước nào, nhất là công
nhân, được tham gia vào những giờ phút lịch sử đó tại Biển Đen, không
thể hành động khác tôi. Bởi vì yêu Tổ quốc và căm thù đế quốc, cũng có
nghĩa là yêu Cách mạng Tháng Mười và căm thù những kẻ chống lại Cách
mạng Tháng Mười".
Là người đầu tiên được
nhận huân chương cao quý nhất của Nhà nước ta- Huân chương Sao Vàng,
trong lời phát biểu tại buổi lễ, Chủ tịch xúc động nói: "Trong buổi lễ
vinh quang này, tôi nghĩ đến thời kỳ tôi còn ấu trĩ, nghĩ đến những lúc
khó khăn hiểm nghèo, Đảng đã dìu dắt, giáo dục tôi, nhân dân đã rèn
luyện và giúp đỡ tôi để có được ngày hôm nay".
Tháng 10-1975, về thăm
quê ở Cù lao Ông Hổ thuộc xã Mỹ Hòa Hưng, TP Long Xuyên, An Giang, Chủ
tịch Tôn Đức Thắng chỉ nhận mình là một người được Đảng và Nhà nước cho
phép về thăm quê nhà, gặp lại anh em họ mạc, thăm hỏi bà con xóm ấp. Đến
cây xoài trước cổng nhà, cây cầu gỗ thuở nhỏ đi học qua, Chủ tịch vẫn
nhớ mãi trong ký ức. Khi đã trở thành một vị nguyên thủ quốc gia, Chủ
tịch vẫn giữ nếp sống khiêm tốn, giản dị của người lao động, thích đi bộ,
thích lao động chân tay và tự mình làm mọi việc cho bản thân mà không
muốn phiền ai giúp đỡ. Chủ tịch ăn mặc rất giản dị. Có lần, các đồng chí
miền nam đến thăm thấy Chủ tịch mặc chiếc áo ấm cũ có nối thêm một đoạn
cho khỏi ngắn, đã cảm động hỏi: Bác ơi, làm Chủ tịch nước sao Bác mặc áo
nối thế này? Chủ tịch vui vẻ trả lời: Chủ tịch nước mặc áo nối thì dân
mới có đủ cơm ăn. Thật hồn hậu, giản dị biết bao!
Chủ tịch Tôn Đức Thắng
thường xuyên dành tình cảm ân cần chăm lo cho đồng chí, đồng bào, đặc
biệt là với các cháu thanh niên, thiếu niên, nhi đồng. Được tặng Giải
thưởng Lê-nin "Vì hòa bình và hữu nghị giữa các dân tộc" và kèm theo
mười vạn rúp, Chủ tịch đã ủng hộ số tiền này cho Phong trào bảo vệ thiếu
nhi thủ đô. Số tiền một vạn rúp các bạn Liên Xô đưa để mua quà tặng, Chủ
tịch cũng chỉ dùng một phần nhỏ để mua một chiếc cối xay hạt tiêu tặng
người vợ thân yêu, còn lại đem gửi trả bạn.
Là một người yêu nước chân chính, Chủ tịch Tôn Đức Thắng đồng thời là
một chiến sĩ tiêu biểu cho tinh thần quốc tế trong sáng của giai cấp
công nhân. Điều này được thể hiện rõ nét thông qua hành động cách mạng
quả cảm của Tôn Đức Thắng khi tham gia cuộc binh biến Hắc Hải vào tháng
4-1919, để bảo vệ Cách mạng Tháng Mười Nga và lãnh đạo cuộc bãi công và
lãn công của công nhân xưởng Ba Son từ tháng 8 đến tháng 11-1925, giam
chân chiến hạm Juyn Mi-sơ-lê ba tháng, để ủng hộ phong trào đấu tranh
cách mạng của nhân dân Trung Quốc.
Ánh sáng chủ nghĩa Mác
- Lê-nin đã giúp người công nhân yêu nước Tôn Đức Thắng thấm nhuần sâu
sắc tinh thần quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân và ý nghĩa của
chính những hành động cách mạng ủng hộ cách mạng Nga và cách mạng Trung
Quốc mà bản thân đã tham gia. Từ đó, ở Tôn Đức Thắng, lòng yêu nước chân
chính đã thật sự gắn chặt với tinh thần quốc tế trong sáng của giai cấp
công nhân.
Là người cống hiến
không mệt mỏi cho sự nghiệp xây dựng, phát huy sức mạnh khối đại đoàn
kết toàn dân tộc, Chủ tịch Tôn Đức Thắng đồng thời là người góp phần
tích cực vào việc thực hiện tình đoàn kết gắn bó giữa giai cấp công nhân
và nhân dân lao động các nước. Do những cống hiến đối với phong trào
cách mạng thế giới, Chủ tịch Tôn Đức Thắng đã được bầu là Chủ tịch Ủy
ban bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam, Ủy viên Hội đồng hòa bình thế
giới và được trao tặng Giải thưởng Lê-nin "Vì hòa bình và hữu nghị giữa
các dân tộc", cùng nhiều huân chương cao quý nhất của các nước anh em.
Trọn đời, Chủ tịch Tôn Đức Thắng nêu một tấm gương ngời sáng về phẩm
chất cao đẹp của người cộng sản. Ngày nay, trước những đòi hỏi của cuộc
sống mới, tấm gương đạo đức cách mạng của Chủ tịch Tôn Đức Thắng càng có
ý nghĩa để mỗi cán bộ, đảng viên tích cực học tập, rèn luyện, noi theo
để phấn đấu góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Thạc sĩ LÝ VIỆT QUANG
(Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh)
(Theo Báo điện tử
- Đảng Cộng Sản Việt Nam)
[Về đầu
trang]
Đến với khu lưu niệm bác Tôn
Tôi
đến khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng (xã Mỹ Hòa Hưng, Long Xuyên, An
Giang) cùng với các nhà điêu khắc tham dự Trại sáng tác điêu khắc gỗ năm
2008, nhằm chào mừng kỷ niệm 120 năm ngày sinh Bác Tôn (20-8- 1888 - 20-
8- 2008) và cảm nhận đây là nơi giáo dục lý tưởng cộng sản, truyền thống
cách mạng tốt nhất ở An Giang.
Nhìn dòng người nối nhau đi vào thăm khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức
Thắng, tôi biết ngoài việc đón tiếp các đoàn khách từ các đơn vị Trung
ương, các tỉnh... có dịp về An Giang công tác, nơi đây còn thường xuyên
tiếp đón những đoàn tham quan của các trường học trong và ngoài tỉnh,
không chỉ bởi cảnh trí của khuôn viên khu lưu niệm này được thiết kế hài
hòa, trang nghiêm, đẹp đẽ mà còn vì đến đây, khách tham quan và học sinh
sẽ được hiểu rõ hơn những nét lớn của cuộc đời và sự nghiệp Chủ tịch Tôn
Đức Thắng.
Đền thờ Bác Tôn có 1600m2, phòng chính diện rộng 110 mét vuông với
bức tượng của Bác Tôn bằng đồng, nét mặt nhân từ, bao dung. Thắp nén
nhang tưởng nhớ người anh hùng của quê hương An Giang, vị lãnh tụ đã
cống hiến cả cuộc đời mình cho đất nước.
Đối diện với Đền thờ Bác Tôn là nhà trưng bày thân thế và sự nghiệp
của Người. Hơn 200 hiện vật, vật dụng mà khi sinh thời Bác Tôn đã sử
dụng như: Xe đạp, đôi giày, bộ quần áo, cối xay tiêu v,v... và mô hình
được phục chế dựng lại phòng làm việc và phòng tiếp khách của Bác Tôn
tại nhà Chủ tịch Tôn Đức Thắng ở Hà Nội khiến ai trong chúng tôi cũng
phải xúc động. Tất cả đều toát lên phẩm chất cao cả, sáng trong của một
người Cộng Sản đã từng được Bác Hồ khen ngợi: "Đồng chí Tôn Đức Thắng là
gương mẫu đạo đức cách mạng, suốt đời cần kiệm, liêm chính; suốt đời hết
lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân".
Chúng tôi đến đây, xem qua các hiện vật, càng hiểu sâu sắc hơn cuộc
đời hoạt động cách mạng của Bác Tôn từ thời thành lập Công Hội Đỏ ở nhà
máy Ba Son, hiểu thêm về lòng yêu nước của Bác Tôn ngay từ lúc Tổ quốc
còn trong tay kẻ thù. Trước đây, tôi có dịp đến với Côn Đảo, có tìm đến
phòng biệt giam mà thực dân Pháp dành cho Người, đến với hầm xay lúa,
nơi mà Người đã tuyên truyền giáo dục cho tù nhân biết yêu thương đùm
bọc lẫn nhau, đấu tranh chống lại chế độ đọa đày khắc nghiệt của bọn cai
ngục. Có lẽ, cũng như tôi, mọi người khi biết rõ hơn những gian khổ của
Bác Tôn trong những năm tháng tù đày ngoài Côn Đảo, hiểu thế nào là ý
chí bất khuất kiên cường của người Cộng sản chân chính.
Đến với khu lưu niệm, thắp nén nhang trước tượng Bác Tôn uy nghiêm,
nhân từ chắc chắn ai cũng tưởng nhớ đến vị lãnh tụ của đất nước và nhìn
lại bản thân mình, để nỗ lực phấn đấu sống theo gương của Người.
(Mai Bửu
Minh – Báo ĐĐK)
[Về đầu
trang]
Kỷ
niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Tôn Ðức Thắng (20-8-1888 - 20-8-2008)
Sáng
14-8, tại Bảo tàng Tôn Ðức Thắng, LÐLÐ TP Hồ Chí Minh phối hợp Bảo tàng
Tôn Ðức Thắng tổ chức Hội thi tìm hiểu cuộc đời hoạt động cách mạng của
Chủ tịch Tôn Ðức Thắng, người sáng lập Công hội đỏ tại Sài Gòn - Chợ Lớn,
người truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong phong trào công nhân đấu
tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam.
471
bài dự thi được tuyển chọn trong 145 nghìn 549 bài của công đoàn viên
chức khối đảng, chính quyền, các trường đại học trên địa bàn quận, huyện,
phường tham dự, được bình chọn dự thi cấp thành phố. Với chủ đề "Chủ
tịch Tôn Ðức Thắng - một nhân cách lớn", hội thi đã khơi dậy niềm tự hào,
nhận thức rõ rét và sinh động về Bác Tôn qua các bài thuyết trình và các
câu hỏi vấn - đáp trong CNVC-LÐ, truyền thống đấu tranh cách mạng của
phong trào công nhân - công đoàn Việt Nam, góp phần xây dựng giai cấp
công nhân trong sự nghiệp CNH - HÐH đất nước. Ban tổ chức đã chọn mười
bài thuyết trình xuất sắc vào vòng thi thuyết trình cấp thành phố, mười
bài được nhận giải khuyết khích.
* Kỷ
niệm 120 năm Ngày sinh của Chủ tịch Tôn Ðức Thắng (20-8-1888 -
20-8-2008), Thư viện tỉnh An Giang đã in hơn 20 tên sách với 6.300 bản
sách về Bác Tôn. Số sách trên được phân phối cho 314 thư viện, bưu điện
văn hóa xã, phòng đọc sách của xã và các điểm đọc sách khóm ấp trong
tỉnh.
(Theo Báo ND)
[Về đầu
trang]
Ðồng
chí Tôn Ðức Thắng - tấm gương tiêu biểu cho chính sách đại đoàn kết của
Ðảng
Từ
những cuộc đấu tranh đầu tiên trên con đường cách mạng của mình, người
thanh niên yêu nước Tôn Ðức Thắng đã hiểu rõ rằng đoàn kết làm nên sức
mạnh.
Gần 17 năm
bị giam cầm trong lao tù đế quốc, trải qua nhiều cuộc đấu tranh chống
đàn áp, hành hạ tù nhân, bằng kinh nghiệm, bằng đức độ và uy tín của
mình, đồng chí Tôn Ðức Thắng đã đoàn kết được anh em trong tù. Ðồng chí
đã lãnh đạo anh em tự đấu tranh thắng lợi trong những điều kiện ngặt
nghèo. Cái tên anh Hai Thắng; già Thắng trở nên rất thân thương và quý
mến với tất cả tù nhân ở Côn Ðảo khi đó, kể cả tù thường phạm.
Những năm
1945 - 1946, trước tình thế thù trong giặc ngoài vô cùng khó khăn, Ðảng
chỉ rõ một trong những nhiệm vụ cấp bách là ra sức giữ vững, tăng cường
và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, nhằm thực hiện nhiệm vụ chiến
lược "Dân tộc trên hết - Tổ quốc trên hết". "Khẩu hiệu căn bản của cả
một giai đoạn cách mạng hiện thời phải là: Lập Mặt trận dân tộc thống
nhất chống phản động Pháp, tiến tới giành độc lập hoàn toàn"(1).
Ðể đoàn kết,
tập h | |