|
Hội thảo Luật báo chí
sửa đổi
Ngày
16/7/2008 tại Hà Nội, Bộ Thông tin và Truyền thông đã tổ chức Hội thảo
về Luật báo chí sửa đổi. Tham dự Hội thảo có đại diện lãnh đạo Bộ Thông
tin & Truyền thông, Bộ Tư Pháp, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, Hội Nhà Báo Việt Nam; đại diện lãnh đạo các cơ quan báo chí và chủ
quản báo chí ở trung ương; đại diện lãnh đạo các Báo, Đài phát thanh
truyền hình và sở Thông tin và Truyền thông các tỉnh phía Bắc; đại diện
một số Tập đoàn kinh tế và Tổng công ty trực thuộc Chính phủ và phóng
viên các cơ quan thông tấn, báo chí trung ương và Hà Nội.
Luật Báo chí được Quốc hội nước CHXHCN Việt
Nam khoá VIII thông qua
ngày 28/12/1989 gồm 30 điều. Sau đó kỳ họp thứ 5 quốc hội khoá X đã
thông qua “Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí” ngày
12/6/1999. Tới nay, sau gần 10 năm thực hiện, tình hình phát triển báo
chí ở nước ta có những biến chuyển lớn. Cùng với các loại hình báo chí
truyền thống, báo điện tử đã phát triển hết sức mạnh mẽ. Về mô hình cơ
quan báo chí đã xuất hiện các tổ hợp truyền thông đại chúng đa loại hình.
Một cơ quan báo chí (như VOV) có thể có 4 loại hình báo chí. Sự hợp tác,
liên kết trong hoạt động báo chí cũng đã phát triển dưới nhiều hình thức
khác nhau... Tất cả những điều đó đòi hỏi phải sửa đổi Luật báo chí cho
phù hợp với tình hình thực tế. Dự thảo Luật báo chí lần này (gồm 50 điều)
đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH 10. Luật này quy
định về tổ chức và hoạt động báo chí; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá
nhân tham gia hoạt động báo chí. Luật này áp dụng đối với cơ quan, tổ
chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động báo chí.
Tại Hội thảo nhiều ý kiến đề cập đến trách nhiệm của Hội Nhà
báo Việt Nam đối với việc xây dựng, tổ chức thực hiện các chính sách báo
chí, đào tạo nâng cao nghiệp vụ, bảo vệ quyền lợi cho Nhà báo... Có ý
kiến cho rằng: Luật không thay thế điều lệ của Hội, nên chỉ cần đưa như
dự thảo. Nhiều ý kiến cho rằng điều 12 - Những điều không được thông
tin trên báo chí cần được viết lại một cách chuẩn xác, minh bạch,
câu chữ cần rõ ràng, dễ hiểu, tránh để bị lợi dụng. Có thể chuyển thành
5 mục (dự thảo hiện tại có 4 mục). Có nhiều ý kiến trao đổi, góp ý kiến
bổ sung cho Dự thảo về những vấn đề được nhiều người quan tâm như: quyền
tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân; nhiệm vụ
quyền hạn của báo chí; Đối tượng được thành lập cơ quan báo chí; Nhiệm
vụ, quyền hạn của của cơ quan chủ quản báo chí; Tên gọi, tiêu chuẩn,
nhiệm vụ, quyền hạn của người đứng đầu cơ quan báo chí; Xử lý vi phạm
trong lĩnh vực báo chí.v.v.
Những ý kiến đóng góp, xây dựng tại Hội thảo cũng như góp ý
trực tiếp vào văn bản sẽ được Ban soạn thảo tiếp tục nghiên cứu, tiếp
thu, bổ sung hoàn thiện dự thảo Luật báo chí sửa đổi để trình Quốc hội
vào thời gain thích hợp.
Đông Ngàn Tử - Kinh Bắc
[Về đầu trang]
Tặng quà đối tượng chính sách nhân Ngày Thương
binh, liệt sĩ
Nhân kỷ niệm Ngày
Thương binh, liệt sĩ (27-7-2008), ngày 16-7, Chủ tịch nước Nguyễn Minh
Triết đã ký Quyết định số 914/QÐ-CTN về việc tặng quà các đối tượng
chính sách, cụ thể như sau:
Mức 200 nghìn đồng đối
với:
1. Thương binh, bệnh
binh, người hưởng chính sách như thương binh bị suy giảm khả năng lao
động do thương tật, bệnh tật từ 81% trở lên (bao gồm cả những thương
binh loại B có tỷ lệ thương tật, bị suy giảm khả năng lao động từ 81%
trở lên được công nhận từ trước ngày 31-12-1993) đang được nuôi dưỡng,
điều trị, điều dưỡng tại các đơn vị thuộc ngành lao động-thương binh và
xã hội, Bộ Quốc phòng và Bộ Công an đang quản lý hoặc đã về sinh sống
tại gia đình, hoặc đang công tác tại các cơ quan, xí nghiệp.
2. Bà mẹ Việt Nam Anh
hùng đang hưởng trợ cấp ưu đãi hằng tháng.
3. Thân nhân liệt sĩ
đang hưởng trợ cấp nuôi dưỡng hằng tháng.
Mức 100 nghìn đồng đối
với:
1. Thân nhân của hai
liệt sĩ đang hưởng trợ cấp hằng tháng (tính theo định suất).
2. Thương binh, bệnh
binh, người hưởng chính sách như thương binh bị suy giảm khả năng lao
động do thương tật, bệnh tật từ 80% trở xuống, đang được nuôi dưỡng,
điều trị, điều dưỡng tại các đơn vị thuộc ngành lao động-thương binh và
xã hội, Bộ Quốc phòng và Bộ Công an quản lý hoặc đang điều trị ở các
bệnh viện.
Chủ tịch nước giao Thủ
tướng Chính phủ, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, các cơ quan Nhà nước
có liên quan và Văn phòng Chủ tịch nước chịu trách nhiệm thi hành quyết
định này.
(Theo Nhân Dân)
[Về đầu trang]
Một phong trào đã trở thành đạo
nghĩa của cả dân tộc
"Họ chết cho Tổ quốc sống mãi; vật chất họ mất nhưng tinh
thần họ vẫn luôn luôn sống với non sông Việt
Nam". Ðó là những dòng
xúc động trong thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi bác sĩ Vũ Ðình Tụng -
một trí thức Công giáo yêu nước - chia buồn việc người con trai của bác
sĩ anh dũng hy sinh khi cuộc kháng chiến của toàn dân tộc vừa mới bắt
đầu, tháng 1-1947.
Tháng 6-1947, Chủ tịch Hồ Chủ Minh chỉ thị chọn một ngày
trong năm làm Ngày Thương binh, liệt sĩ. Ngày
27-7-1947 đã được chọn
là Ngày Thương binh, liệt sĩ lần đầu tiên trong cả nước. Cho đến lúc đi
xa, hầu như năm nào Bác Hồ cũng có thư gửi anh em thương bệnh binh và
các gia đình liệt sĩ nhân ngày 27-7...
Dõi theo những bài nói, bài viết của Người, chúng ta thấy
toát lên một tấm lòng yêu thương ấm áp, quan tâm săn sóc tới anh em
thương bệnh binh và những gia đình liệt sĩ. Người đã dành những tình cảm
sâu sắc nhất cho những người con yêu quý của Tổ quốc, của nhân dân,...
những người đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. "Họ chết cho Tổ
quốc sống mãi; vật chất họ mất nhưng tinh thần họ luôn luôn sống với non
sông Việt Nam".
Không chỉ nêu cao tình cảm biết ơn, yêu thương, chia sẻ với
những mất mát của anh em thương bệnh binh, các gia đình liệt sĩ, Chủ
tịch Hồ Chí Minh xác định rõ trách nhiệm của toàn xã hội cũng như của
mỗi chúng ta với công tác thương binh, liệt sĩ. Người nhấn mạnh: "Thương
binh, bệnh binh, gia đình quân nhân và gia đình liệt sĩ là những người
có công với Tổ quốc, với nhân dân. Cho nên bổn phận chúng ta là phải
biết ơn, phải thương yêu và giúp đỡ họ" (1).
Ðối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, điều quan trọng nhất trong việc
giúp đỡ thương bệnh binh và gia đình liệt sĩ là phải chân thành và thiết
thực. Công tác thương binh, liệt sĩ không được chạy theo hình thức,
không được làm qua loa để báo cáo thành tích.
Tất cả những công việc đó, ngoài ý nghĩa xã hội còn mang nặng
ý nghĩa đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Và chính Người đã xung
phong thực hiện nhiệm vụ đó một cách thiết thực để toàn dân theo đó mà
tự nguyện làm theo, tạo thành phong trào xã hội rộng khắp.
Trong dịp tổ chức Ngày thương binh, liệt sĩ toàn quốc lần đầu
năm 1947, khi cuộc kháng chiến của chúng ta còn đầy khó khăn, thiếu thốn
nhưng Bác Hồ luôn tin vào tấm lòng nhường cơm sẻ áo của đồng bào ta và
chắc rằng "Ngày thương binh, liệt sĩ sẽ thành công.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi tặng tới anh em thương bệnh binh
những món quà bình dị. Ðó chỉ là "một chiếc áo lót lụa của chị em phụ nữ
đã biếu tôi, một tháng lương của tôi, một bữa ăn của tôi, và của các
nhân viên tại Phủ Chủ tịch"... nhưng vô giá bởi những giá trị tinh thần,
chan chứa tình thương yêu ấm áp của một tấm lòng người cha, người anh...
Sau này Bác còn gợi ý những cách thức mà các địa phương có
thể căn cứ vào tình hình thực tế tại chỗ mà vận dụng cho phù hợp như đón
anh em thương binh về chăm sóc tại địa phương. Mỗi xã nếu có thì trích
một phần ruộng công, nếu không thì mượn ruộng của những đồng bào có
ruộng mà nhiệt tình, trường hợp không mượn được ruộng thì chính quyền,
đoàn thể và đồng bào trong xã chung sức phát vỡ một số đất mới để giúp
thương binh.
Chính quyền, đoàn thể và đồng bào trong xã sẽ tổ chức việc
cày cấy, chăm nom, gặt hái và hoa lợi thu được sẽ để nuôi thương binh...
Trong thư gửi Bộ trưởng Thương binh và cựu binh ngày
26-7-1961, Người nêu rõ:
Chính quyền, đồng bào và các đoàn thể nhân dân trong mỗi xã phải tùy
theo sự cố gắng và khả năng chung của mỗi xã mà đón một số anh em thương
binh.
Bác Hồ không chỉ nhấn mạnh một chiều tới trách nhiệm của xã
hội với công tác thương binh, liệt sĩ mà còn yêu cầu thái độ trách nhiệm
của anh em thương binh đối với bản thân và với xã hội. Người động viên
anh em thương binh không được bi quan chán nản vì thương tật, không được
có tư tưởng "công thần", phải hòa mình với quần chúng và cố gắng về mọi
mặt để "tàn mà không phế ", để thương binh đã là những người anh dũng
trong chiến đấu tiếp tục là những người anh dũng trong cuộc sống hòa
bình, để chiến thắng thương tật, tiếp tục cống hiến cho cách mạng, nêu
gương phấn đấu hy sinh cho mọi người noi theo...
Những lời căn dặn của Bác là nguồn động viên to lớn, tiếp
thêm dũng khí cho nhiều anh em thương bệnh binh trong cuộc chiến đấu mới.
Nhiều tấm gương thương binh nặng vẫn không ngừng rèn luyện phấn đấu đã
minh chứng rằng nguồn sức mạnh tiềm tàng sẽ cuộn chảy mạnh mẽ khi được
khơi thông và dẫn đi đúng hướng...
Hôm nay, phong trào này đang được chúng ta đẩy mạnh với
những hoạt động phong phú, sôi nổi và thiết thực như phong trào Chăm sóc
phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam Anh hùng; phong trào tặng nhà tình nghĩa;
tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa; giúp gia đình thương binh, gia đình liệt
sĩ xóa đói, giảm nghèo, vươn lên làm giàu...
Những lời kêu gọi, động viên ấm áp, những tình cảm yêu
thương, và những hành động cụ thể, thiết thực, chân thành của Chủ tịch
Hồ Chí Minh với anh em thương bệnh binh và những gia đình liệt sĩ đã có
sức lay động lòng người. Những lời căn dặn của Người định hướng cho công
tác thương binh, liệt sĩ thấm nhuần đạo nghĩa của dân tộc Việt
Nam, biết ơn những
người có công với dân với nước, đã mau chóng nhận được sự hưởng ứng rộng
rãi của nhân dân. Kể từ Ngày thương binh, liệt sĩ đầu tiên được tổ chức
cách đây đã hơn 60 năm, phong trào ủng hộ thương binh, giúp đỡ gia đình
liệt sĩ đã ngày càng mở rộng, thấm sâu trong mọi tầng lớp đồng bào. Công
tác thương binh, liệt sĩ đã trở thành phong trào xã hội rộng lớn, là mối
quan tâm của các ngành, các cấp, các địa phương với sự đóng góp hăng hái
của nhân dân. Hơn 60 lần, ngày 27-7 đã trở thành một dịp cho đồng bào ta
tỏ lòng hiếu nghĩa, bác ái, là tỏ ý yêu mến thương binh như lời thư Bác
Hồ viết ngày 17-7-1947.
Dù chúng ta có cố gắng nhiều và nhiều hơn nữa cũng chưa bù
đắp được những hy sinh mất mát của những chiến sĩ anh dũng của chúng ta
và cả của gia đình họ... Chúng ta mãi ghi nhớ công lao cống hiến của họ
và công tác đền ơn đáp nghĩa đã, đang và sẽ là một phong tục tốt đẹp mới
trong xã hội Việt
Nam...
NGÔ VƯƠNG ANH
--------------
(1)
Thư gửi thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ nhân ngày 17-7-1956 -
Hồ Chí Minh - Toàn tập - Sđd, Tập 8, tr 210
(Theo
Nhân Dân)
[Về đầu trang]
HỒ CHÍ MINH
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ
ĐOÀN KẾT DÂN TỘC
TRÊN BÌNH DIỆN QUỐC
TẾ VÀ KIỀU BÀO
PGS.TS. LÊ
NGỌC THẮNG
Viện Dân tộc,
Uỷ ban Dân tộc; Tổng Thư ký Hội Dân tộc học và Nhân học Việt Nam
Nói tư
tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết các dân tộc sẽ khiếm khuyết nếu chỉ đề cập
đến đoàn kết trong khái niệm dân tộc - tộc người (ethnic) trong phạm vi
nội bộ quốc gia mà không đề cập đến tư tưởng của người là đoàn kết dân
tộc - quốc gia (nation) với các quốc gia khác trên thế giới và với các
Việt kiều, những người có dòng máu Việt Nam nhưng do hoàn cảnh cụ thể
nên sinh sống ở nước ngoài, mang quốc tịch của một nước cụ thể trên thế
giới.
Nội dung
dân tộc, tư tưởng đoàn kết các dân tộc của Hồ Chí Minh trên bình diện
quốc gia trong mối quan hệ với quốc tế không có gì khác và mâu thuẫn với
tư tưởng đoàn kết các dân tộc trong nước vì mục tiêu giải phóng dân tộc,
xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng đó của Hồ Chí Minh thể hiện tính
nhất quán, biện chứng trong “tư duy chiến lược đại đoàn kết” của Người
và cũng từ đó đã hình thành nên chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh. Chính từ
lòng yêu nước, thương dân; từ truyền thống văn hoá dân tộc; từ sự “hoà
đồng” với bạn bè quốc tế trong những năm tháng bôn ba ở nước ngoài.., đã
tạo nên chủ nghĩa nhân văn cao cả đó, yếu tố làm nên cái nền vững chắc
của đoàn kết dân tộc trong phạm vi quốc gia và quốc tế.
Đoàn kết
dân tộc trên tầm quốc tế của Hồ Chí Minh xuất phát từ luận điểm coi cách
mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới. Người ý thức sâu
sắc rằng, cách mạng trong nước sẽ khó thành công nếu không có sự đồng
tình, ủng hộ của cách mạng và nhân dân các dân tộc yêu chuộng hoà bình
trên thế giới. Đó cũng chính là điểm mạnh và khác biệt giữa Hồ Chí Minh
với các chí sĩ yêu nước tiền bối. Người đã khẳng định: “Chính vì biết
kết hợp phong trào cách mạng nước ta với phong trào cách mạng của giai
cấp công nhân quốc tế và của các dân tộc bị áp bức mà Đảng ta đã vượt
qua được mọi khó khăn đưa giai cấp công nhân và nhân dân nước ta đến
những thắng lợi vẻ vang ngày nay”1.
Shingo
Shibata, nhà nghiên cứu Nhật Bản đã nhận xét: “Cống hiến nổi tiếng của
cụ Hồ Chí Minh là ở chỗ, Người đã phát hiện quyền lợi của con người
thành quyền lợi của dân tộc. Như vậy, tất cả mọi dân tộc đều có quyền tự
quyết định lấy vận mệnh của mình và tất cả mọi dân tộc đều có thể và cần
phải thực hiện nền độc lập tự chủ”2.
Khi nghiên
cứu về tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh, có ý kiến cho rằng: “Suy đến
cùng, có đại đoàn kết được hay không, đại đoàn kết đến mức nào tuỳ thuộc
vào việc nhận thức và giải quyết đúng đắn các mối quan hệ lợi ích phức
tạp, chằng chéo giữa: cá nhân - tập thể; gia đình - xã hội; bộ phận -
toàn thể; giai cấp - dân tộc; quốc gia - quốc tế”3. Trong các “cặp quan
hệ” trên của tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh chúng ta thấy không thể
thiếu cặp “quốc gia - quốc tế”. Đó không chỉ là nội hàm trong tư tưởng
đại đoàn kết nói chung của Hồ Chí Minh mà còn là trong tư tưởng đoàn kết
các dân tộc của Người.
Tư tưởng Hồ
Chí Minh về đoàn kết dân tộc trên phạm vi quốc tế thể hiện rất rõ phạm
vi mức độ, quy mô. Với từng đối tượng quốc tế, Hồ Chí Minh vừa có thái
độ chung, vừa có thái độ phân biệt riêng theo “cấp độ ngoại giao”, theo
giá trị thiết thực vì quyền lợi của dân tộc Việt Nam và quyền lợi của
các dân tộc trên thế giới vì hoà bình, hữu nghị và phát triển của các
dân tộc; vì quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc của con người và của các
quốc gia. Từ giác độ đó, chúng ta thấy tư tưởng Hồ Chí Minh vềø đoàn kết
dân tộc trên phạm vi quốc tế có những biểu hiện trên những khía cạnh sau:
- Đoàn kết
với các quốc gia, dân tộc láng giềng
- Đoàn kết
với các quốc gia Đông Nam Á, châu Á.
- Đoàn kết
với các tổ chức, quốc gia trên thế giới.
- Đoàn kết
với kiều bào.
Với các nội
dung đó, chúng ta có thể nhận thấy tư tưởng của Người với các biểu hiện,
nhận thức và họat động trong các mối quan hệ quốc tế vừa phong phú đa
dạng, vừa cụ thể nhằm thực hiện mục tiêu đoàn kết vì độc lập tự do của
đất nước, hạnh phúc của đồng bào.
1. Đoàn kết
với các quốc gia, dân tộc láng giềng:
Người Việt
Nam ta có câu “bán anh em xa mua láng giềng gần”, đó là một thái độ sống,
một triết lý nhân văn trong văn hoá ứng xử có truyền thống lâu đời của
dân tộc. Hồ Chí Minh trên bình diện văn hoá và tầm nhìn chính trị đã ý
thức sâu sắc và thực hiện có hiệu quả tốt truyền thống đó trong đặt nền
móng và xây dựng mối quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt với nhân dân
Lào, Campuchia, Trung Quốc, tạo nên thế trận đặc biệt và làm nên hiệu
quả cao trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của nhân dân
ta.
Ngày
3-3-1951, trong Bài nói tại buổi khai mạc Đại hội thống nhất Việt Minh -
Liên Việt, Chủ tịch Hồ Chí Minh không giấu nổi sự sự sung sướng trước sự
đoàn kết của các tổ chức và nhân dân Việt Nam, Cao Miên và Ai Lao. Có lẽ,
ít khi ta bắt gặp một thái độ sung sướng của Hồ Chí Minh đến vậy. Cái
căn nguyên dẫn đến sự sung sướng của Hồ Chí Minh chính là sự phát triển
của tinh thần và xu thế đoàn kết của các dân tộc ở Đông Dương. Hồ Chí
Minh đã dùng các cụm từ biểu hiện những cấp độ phấn khởi, sung sướng mà
ít khi ta bắt gặp trong các bài nói, bài viết khác, như: “Tôi rất sung
sướng” ở mở đầu bài nói, rồi “sung sướng không thể tả”, “lòng tôi sung
sướng vô cùng” và “tôi sung sướng hơn nữa” ở các đoạn tiếp sau.
Vì sao Hồ
Chí Minh có những sự sung sướng mà ít khi bộc lộ đó? Phải chăng vì Người
đánh giá rất cao kết quả và ý nghĩa của Đại hội Thống nhất Việt Minh -
Liên Việt; là vì “trông thấy rừng cây đại đoàn kết ấy đã nở hoa kết quả
và gốc rễ của nó đang ăn sâu, lan rộng khắp toàn dân, và nó có một cái
tương lai “trường xuân bất lão”. Phải chăng sự sung sướng của Hồ Chí
Minh trước sự kiện trên đây còn là biểu hiện của một dự cảm, của một
“mầm mống” quan trọng cho một dự báo thắng lợi tất yếu của cách mạng
Việt
Nam
trong tương lai không xa.
Điều đó còn
là biểu hiện của tư tưởng đoàn kết của Hồ Chí Minh, sự quan tâm đặc biệt
của Người đối với các nước láng giềng gần gũi. Người nói: “Tôi sung
sướng hơn nữa vì từ nay chẳng những là toàn dân Việt Nam đại đoàn kết,
mà toàn dân hai nước anh em là Cao Miên và Ai Lao cùng đi đến đại đoàn
kết. Tin mừng đại đoàn kết của hai dân tộc anh em ấy do các vị đại biểu
Miên - Lào thân hành mang đến cho chúng ta.
Thế là dân
tộc Việt đại đoàn kết, dân tộc Miên đại đoàn kết, dân tộc Lào đại đoàn
kết. Rồi đây, chúng ta nhất định đi đến Việt - Miên - Lào đại đoàn kết.
Với sự đồng
tâm nhất trí của ba dân tộc anh em, với sức đại đoàn kết của ba dân tộc
anh em, chúng ta nhất định đánh tan lũ thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ,
chúng ta nhất định làm cho ba nước độc lập và thống nhất thật sự”4.
Người còn
nói: “Lào - Việt là hai nước anh em. Mối quan hệ giữa hai dân tộc rất là
mật thiết. Đối với kiều bào ta làm ăn sinh sống ở đất nước Lào thì Lào
lại như một Tổ quốc thứ hai. Tục ngữ có câu: “Bán bà con xa, mua láng
giềng gần” ý nghĩa là như thế”5.
Đối với
nước láng giềng Campuchia, Hồ Chí Minh trân trọng và thành tâm xây dựng,
bồi đắp tình hữu nghị giữa hai dân tộc. Trong điện mừng gửi Vua Nôrôđôm
xuramarít và Hoàng hậu nước Khơme nhân ngày độc lập của Vương quốc Khơme
(tháng 11-1956), với tư cách Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Hồ
Chí Minh viết: “Kính chúc nhân dân Khơme, dưới sự lãnh đạo của Quốc
vương và Hoàng hậu, thu được nhiều thắng lơi mới trong sự nghiệp xây
dựng đất nước Khơme và trong việc thực hiện chính sách hoà bình, trung
lập; chúc tình hữu nghị giữa hai dân tộc Việt Nam và Khơme càng phát
triển”6.
Đối với
tình đoàn kết với nhân dân Trung quốc láng giềng, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ:
“Hai dân tộc Trung - Việt chúng ta, mấy ngàn năm nay, huyết thống tương
thông, chung nền văn hoá, trong lịch sử vẫn được gọi là hai nước anh em;
hơn nữa, đất nước liền kề, núi sông kế tiếp, càng như môi với răng che
chở cho nhau”.
Sau khi đất
nước hoà bình, khi đi thăm đồng bào, cán bộ, chiến sĩ tỉnh Cao Bằng (tháng
2-1961), Người nói: “Tỉnh Cao Bằng ở sát Trung Quốc nên cần phát huy tốt
hơn nữa tình đoàn kết hữu nghị giữa hai dân tộc”7.
2. Đoàn kết
với các dân tộc, quốc gia khu vực Đông Nam Á, châu Á
Sau khi
ngừng bắn ở Đông Dương, Uỷ ban Quốc tế vào giám sát hai bên Việt - Pháp
trong việc thi hành hiệp định Giơnevơ. Hồ Chí Minh hoan nghênh các đại
biểu là người Ấn Độ, Ba Lan, Canađa đã đến thi hành nhiệm vụ. Tháng
8-1954, trong buổi tiếp đoàn của Uỷ ban Quốc tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh
tiếp tục khẳng định thái độ của Chính phủ Việt Nam đối với nhân dân Pháp,
với nhân dân các nước Đông Dương và Đông Nam Á vì hoà bình. Người phát
biểu: “Hoà bình trở lại Việt Nam, chúng tôi sẽ thắt chặt tình hữu nghị
giữa hai dân tộc Việt - Pháp, chúng tôi sẽ đoàn kết chặt chẽ với hai
nước Khơme, Lào và các nước Đông - Nam Á để góp phần vào sự nghiệp giữ
gìn hoà bình châu Á và hoà bình thế giới”8.
Đối với các
quốc gia khu vực Đông Nam Á, Hồ Chí Minh luôn luôn quý trọng tinh thần
đoàn kết, giúp đỡ nhân dân ta trong kháng chiến chống ngoại xâm, bày tỏ
tình hữu nghị và biết ơn sâu sắc, chân thành. Chính vì lẽ đó mà các nước
Đông Nam Á luôn bên cạnh nhân dân và chính phủ Hồ Chí Minh trong cuộc
kháng chiến chống Pháp cũng như chống Mỹ, tạo nên hậu thuẫn, sức mạnh
tinh thần và vật chất quan trọng góp phần làm nên thắng lợi chống ngoại
xâm của dân tộc ta. Trong Điện mừng kỷ niệm lần thứ 10 Hội nghị Băng
Đung, Hồ Chí Minh viết: “Nhân dân Inđônêxia rất gần gũi với chúng tôi,
đã đứng hẳn về phía chúng tôi và ủng hộ chúng tôi nhiệt liệt và thắm
tình anh em nhất. Tôi xin phép được nói lên ở đây sự biết ơn sâu sắc của
nhân dân Việt Nam đối với tình đoàn kết anh em của những người bạn chiến
đấu Inđônêxia, của tất cả các chính phủ, các tổ chức và nhân sĩ các nước
ở Á, Phi, Mỹ latinh và trên thế giới”9.
Đối với
quốc gia Miến Điện trong khu vực Đông Nam Á, Hồ Chí Minh đã đại diện cho
Chính phủ và nhân dân Việt Nam khẳng định sự gần gũi, tương đồng trên
nhiều phương diện tự nhiên và xã hội, là cơ sở của tình đoàn kết lâu đời
và bền vững. Trong Bài nói tại cuộc họp báo ở Rănggun (Miến Điện) ngày
16-2-1958, nhân chuyến thăm hữu nghị Miến Điện, Hồ Chí Minh khẳng định:
“Hai nước Việt Nam và Miến Điện đều là những nước ở châu Á có nhiều điểm
giống nhau, gần nhau về văn hoá, phong tục tập quán, cũng như về địa lý
khí hậu, tài nguyên. Hai nước chúng ta đã trải qua những cuộc đấu tranh
gian khổ chống thực dân, giành lấy độc lập dân tộc. Chính phủ và nhân
dân Miến Điện đã ủng hộ tích cực nhân dân nước chúng tôi trong lúc kháng
chiến và đã cùng với Ấn Độ và nhiều nước Á - Phi khác đóng góp một phần
quan trọng vào việc lập lại hoà bình ở Việt Nam. Ngày nay hai nước chúng
ta đã độc lập, gắn bó bằng tinh thần Băng Đung, bằng mối tình đoàn kết
giữa các dân tộc Á - Phi, hai dân tộc Việt Nam và Miến Điện mong muốn có
một nền hoà bình lâu dài để xây dựng một cuộc đời tự do, no ấm, để kiến
thiết xứ sở giàu mạnh”10.
Trong kháng
chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh kêu gọi “anh em dân tộc châu Á” thấu rõ sự
hy sinh của nhân dân Việt Nam trong chiến tranh, để ủng hộ nhân dân Việt
Nam kháng chiến. Trong Lời kêu gọi gửi nhân dân thế giới, Hồ Chí Minh
viết: “Hỡi anh em dân tộc châu Á!
Gần hai
mươi năm trường, thực dân Pháp đang dày xéo nhân dân Việt Nam, gần hai
mươi năm trường nhân dân Việt Nam đang hy sinh tranh đấu.
Việt Nam là
một bộ phận trong đại gia đình châu Á. Tranh đấu cho tự do độc lập của
Việt Nam tức là tranh đấu cho tự do độc lập của đại gia đình châu Á.
Trước kia, anh em đã đồng tình với chúng tôi. Từ đây mong anh em càng
ủng hộ nữa. Với sự đồng tình và ủng hộ của anh em, cuộc kháng chiến cứu
quốc của Việt Nam nhất định thắng lợi”11.
Hồ Chí Minh
dùng thuật ngữ “anh em dân tộc châu Á”, “đại gia đình châu Á” và kêu gọi
“sự đồng tình” nhằm thực hiên mục tiêu đoàn kết với các nước gần gũi địa
lý và văn hoá tạo nên sức mạnh tổng hợp của công cuộc đấu tranh giải
phóng dân tộc khỏi ách thống trị của thực dân Pháp. Và cuối Lời kêu gọi
trên, Người viết: “Các dân tộc châu Á đoàn kết muôn năm!”...q
(Còn nữa)
_______________
1. Hồ Chí
Minh: Toàn tập: Nxb ST, H, 1989, t.8, tr. 106.
2. Thế giới
ca ngợi và thương tiếc Hồ Chủ tịch, Nxb ST, H, 1976, tr.240.
3. Phùng Hữu
Phú: Chiến lược đại đoàn kết của Hồ Chí Minh trong Tư tưởng Hồ Chí Minh.
Nxb CTQG, H, 1995, tr.138.
4. Hồ Chí
Minh: Sđd, t.6, tr.181.
5. Hồ Chí
Minh: Sđd, t.4, tr.139.
6. Hồ Chí
Minh: Sđd, t.8, tr.267.
7. Hồ Chí
Minh: Sđd, t.10, tr.286.
8. Hồ Chí
Minh: Sđd, t.7, tr.330.
9. Hồ Chí
Minh: Sđd, t.11, tr.421.
10. Hồ Chí
Minh: Sđd, t.9, tr.64-65
11. Hồ Chí
Minh: Sđd, t.5, tr.153
(Theo Tạp chí Mặt trận - Số 54)
[Về đầu trang]
VỀ GIÁM SÁT VÀ PHẢN
BIỆN XÃ HỘI CỦA
MẶT TRẬN TỔ QUỐC TRONG
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Theo Hiến
pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 và Điều 12 của
Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1999) quy định ba hình thức thực hiện
giám sát Đảng, Nhà nước của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: “động viên nhân
dân thực hiện quyền giám sát; cùng giám sát với cơ quan nhà nước; Mặt
trận trực tiếp giám sát”. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng
(2006) khẳng định thêm vai trò quan trọng của phản biện xã hội bên cạnh
vai trò giám sát của Mặt trận. Tăng cường vai trò giám sát và phản biện
xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Đảng, Nhà nước là thiết yếu để
góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh; đồng thời cũng là tăng cường Mặt trận
Dân tộc Thống nhất Việt Nam, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm
cơ sở vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong công cuộc
đổi mới và hội nhập.
Kết quả
hoạt động giám sát của Mặt trận những năm qua theo quy định của Luật Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam, mặc dù đã có những thành tựu nhất định, nhưng
trên nhiều vấn đề mới đạt được những kết quả còn khiêm tốn. Công tác
tiếp dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân; giám sát quá
trình triển khai thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, tập hợp các ý kiến
của cử tri phản ánh với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền; giám sát các
quá trình bầu cử các cơ quan dân cử, tổ chức lấy phiếu tín nhiệm của cử
tri với các đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân; tham gia với Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước, với Hội đồng
nhân dân trong các đoàn kiểm tra, giám sát theo chương trình hàng quý,
hàng năm... vẫn còn nhiều việc phải làm.
Trên thực
tế, hoạt động giám sát của Mặt trận còn mang tính hình thức, chất lượng
và hiệu quả giám sát chưa cao, nội dung giám sát chưa cụ thể, hình thức
giám sát chưa linh hoạt, chưa được thực hiện nền nếp thường xuyên. Điều
đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân:
- Những quy
định pháp luật về giám sát của Mặt trận chủ yếu mới dừng lại ở những quy
định chung, có tính chất khung; chưa có những quy định cụ thể và đầy đủ
về trách nhiệm, cơ chế, hiệu quả pháp lý, cũng như những điều kiện bảo
đảm cho hoạt động giám sát của Mặt trận; còn thiếu các quy định và chưa
rõ về phạm vi, chủ thể, đối tượng giám sát, cơ chế tiếp thu và trả lời;
chưa có các quy định dưới luật để hướng dẫn và tổ chức thực hiện.
- Một vấn
đề bức xúc đặt ra hiện nay là, đường lối và pháp luật đã khẳng định đối
tượng phản biện và giám sát của Mặt trận là Đảng và Nhà nước, nhưng phạm
vi còn rất hẹp và từ cấp cơ sở đến cấp huyện, tỉnh, Trung ương có nhiều
điều còn chưa rõ ràng. Chẳng hạn, ngoài giám sát của Mặt trận với tổ
chức đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên ở cơ sở, tổ dân phố, thôn,
làng, bản là cần thiết, thì các tổ chức đảng và cơ quan công quyền, gắn
với đó là các cán bộ lãnh đạo có chịu sự giám sát của Mặt trận không và
cơ chế cụ thể giám sát như thế nào cho có hiệu quả, hiện vẫn chưa có quy
định pháp luật. Hiện tượng nhiều cán bộ, đảng viên ở một nơi nhưng sinh
hoạt dân phố một nơi khác, hoặc về không tham gia sinh hoạt với khu dân
cư thì Mặt trận cũng không thể giám sát được. Và hệ quả tất yếu sẽ là,
có nhiều cấp quyền lực và nhiều cán bộ cao cấp đứng ngoài đối tượng bị
giám sát của Mặt trận! Đây là một lỗ hổng trong tổ chức quyền lực, dễ
dẫn đến vi phạm dân chủ.
- Áp lực,
quyền lực và hiệu quả pháp lý giám sát của Mặt trận còn chưa đủ mạnh để
thể hiện đúng và đầy đủ quyền lực và quyền làm chủ của nhân dân. Hầu hết
các đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân gửi đến Mặt trận vẫn chỉ là
chuyển tiếp lên các cơ quan, địa phương liên quan và không có hồi âm.
- Nhiều suy
nghĩ, tâm tư, nguyện vọng bức xúc của cán bộ, nhân dân được tập hợp,
phản ánh đến Mặt trận, nhưng Mặt trận cũng chỉ có ý kiến phản ánh,
chuyển tiếp đến Đảng và Nhà nước mà chưa có các biện pháp giải quyết cụ
thể, chưa bảo vệ được người lương thiện khi quyền lợi của họ bị xâm phạm,
chưa có cơ chế gì để bảo vệ và khích lệ những người dám mạnh dạn giám
sát, tố cáo. Có những dẫn chứng và bài học đau xót cho thấy rằng chính
những người đi tố cáo lại là người bị ảnh hưởng đầu tiên, phải chịu
những tác động tiêu cực.
- Các hoạt
động giám sát chưa được quan tâm thực hiện thường xuyên, liên tục.
Thường chỉ khi có các vấn đề bức xúc, nổi cộm trong nhân dân, được các
phương tiện thông tin đại chúng đưa tin hoặc nhiều đơn thư khiếu nại, tố
cáo gửi nhiều lần thì lúc đó Mặt trận mới nghiên cứu, đề xuất với các cơ
quan Đảng và Nhà nước liên quan xem xét, giải quyết.
- Những hạn
chế trong hoạt động giám sát của Mặt trận còn có nguyên nhân từ sự thiếu
đồng bộ của cả hệ thống chính trị, của Đảng, của Nhà nước. Ngay đến Quốc
hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan dân cử cao nhất, có
quyền giám sát tối cao tất cả các cơ quan nhà nước, nhưng vẫn còn nhiều
việc chưa được tập trung, hiệu quả giám sát chưa cao, như: giám sát việc
thi hành Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Luật Phòng, chống
tham nhũng; Luật Đất đai...
Từ những
nguyên nhân phân tích trên đây, càng cho thấy những bất cập cũng như
quyền năng thực tế của Mặt trận còn bị hạn chế. Thí dụ, việc giám sát
Đảng và Nhà nước thông qua việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của
công dân gửi đến Mặt trận, cho thấy bên cạnh Đảng và Nhà nước còn thiếu
những cơ chế cụ thể thì bản thân Mặt trận cũng còn nhiều hạn chế về
trình độ và năng lực của cán bộ, khả năng để thẩm định, kiểm tra, thẩm
tra. Chính vì vậy, sau khi tiếp nhận đơn thư, Mặt trận chuyển thẳng đến
cơ quan có thẩm quyền chờ giải quyết là điều cũng dễ hiểu. Các cơ quan
nhận lại đơn thư của Mặt trận cũng chưa có quy định gì ràng buộc trong
việc bắt buộc phải phản hồi cho Mặt trận. Điều rõ ràng, trên thực tế là,
Mặt trận còn thiếu quyền, chưa có đủ thẩm quyền giám sát, phản biện,
điều đó cũng đồng nghĩa và khó tránh khỏi bệnh hình thức, hành chính hoá,
tình trạng thụ động để phát huy vai trò giám sát, phản biện của Mặt trận
theo đúng nghĩa thật sự của nó.
Đổi mới,
phát huy vai trò hoạt động giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam đối với sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước là một trong
những yêu cầu bức thiết của sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Để bảo
đảm quyền lực của dân, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta
hiện nay cũng là để củng cố, xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước trong sạch,
hiệu lực, hiệu quả, phải phát huy vai trò hoạt động giám sát và phản
biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trên thực tế, bằng một cơ chế cụ thể
và thích hợp theo những vấn đề chủ yếu sau đây:
Thứ nhất,
bản thân Mặt trận phải tự đổi mới trong thực hiện chức năng giám sát,
phản biện.
Vai trò
giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc đã được Đảng khẳng định, luật
pháp khẳng định, là sự thể hiện vị thế của Mặt trận. Vì vậy, để thực
hiện tốt chức năng này, Mặt trận không thể trông chờ đến khi hoàn chỉnh
pháp luật mới thực hiện. Song song với quá trình hoàn chỉnh pháp luật về
giám sát và phản biện, đòi hỏi Mặt trận phải chủ động đổi mới về tổ chức
bộ máy và cán bộ, trên cơ sở đó mà đổi mới phương thức hoạt động. Cần
chủ động tìm tòi thử nghiệm để mở rộng các hình thức thực hiện giám sát,
phản biện (tập hợp nhân chứng, thu thập thông tin, phỏng vấn, điều tra,
thẩm định các đơn thư khiếu nại, tố cáo trước khi kiến nghị với Đảng,
Nhà nước…).
Cần nghiên
cứu, kiến nghị với Đảng và Nhà nước để Mặt trận Tổ quốc sớm thoát ra
khỏi cơ chế xin - cho, được tự chủ về kinh phí. Kinh phí hoạt động phải
căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, nhưng không cào bằng và phải tính đến
tính đặc thù hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam.
Chỉ có chủ động về kinh phí nhằm tạo thế độc lập tương đối, Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam mới khắc phục được tính thụ động trong phản biện và giám
sát xã hội.
Thứ hai,
cần sớm hoàn chỉnh hành lang pháp lý về hoạt động giám sát và phản biện
của Mặt trận.
Các nguyên
tắc pháp lý trong hoạt động giám sát, phản biện của Mặt trận không chỉ
dừng lại ở những nguyên tắc chung, mà cần cụ thể hơn về nhiều phương
diện:
Đối tượng,
phạm vi giám sát không nên dừng lại ở cấp cơ sở mà cần mở rộng ở tất cả
bốn cấp quyền lực. Kết hợp phản biện của Mặt trận với các hình thức phản
biện xã hội khác; phát huy vai trò phản biện của các cơ quan báo chí.
Nội dung phản biện không dừng lại ở giai đoạn khởi thảo chủ trương,
chính sách, pháp luật mà cần mở rộng phạm vi phản biện đến tất cả các
bước, từ hoạch định, xác lập nghị trình chính sách; xây dựng và lựa chọn
chính sách tối ưu; tổ chức, phân công thực hiện chính sách; tổng kết,
rút kinh nghiệm, bổ sung, hoàn chỉnh chính sách. Sản phẩm của các quá
trình chính sách chính là kết quả đầu ra của hệ thống chính trị, phản
ánh chất lượng của nền dân chủ.
Mặt trận
cần chủ động, không chỉ trông chờ khi Đảng, Nhà nước có yêu cầu mới phản
biện, mà còn phản biện từ những yêu cầu khác, chẳng hạn, từ đơn thư
khiếu nại, tố cáo, phàn nàn của dân về chính sách của Đảng, về thực hiện
chính sách của các cơ quan công quyền, hoặc theo sáng kiến của chính Mặt
trận. Trên cơ sở đó, Mặt trận tập hợp nhân chứng, thu thập thông tin,
phỏng vấn, điều tra, thẩm định, từ đó đưa ra kiến nghị.
Cần cụ thể
hóa các nguyên tắc chung về giám sát và phản biện của Mặt trận trên các
mặt: tổ chức, cơ chế và trách nhiệm giải quyết, trả lời của tổ chức đảng,
các cơ quan nhà nước, điều kiện đảm bảo cho hoạt động giám sát của Mặt
trận, cơ chế tiếp thu và trả lời, các quy định hướng dẫn và tổ chức thực
hiện, quyền và cơ chế được thành lập các đoàn đi giám sát.
Cần thiết
phải xây dựng hai loại cơ chế phản biện đối với các chủ trương của Đảng
riêng và cơ chế phản biện riêng đối với luật, nghị định, nghị quyết,
chính sách của Nhà nước, trong đó, kể cả phản biện công tác cán bộ, bởi
hai lĩnh vực phản biện này thuộc hai hệ thống và chủ thể quyền lực có
khác nhau.
Cần có các
nguyên tắc luật pháp bảo vệ các tổ chức và người tố cáo, chống tiêu cực.
Phải có kỷ luật, xử lý nghiêm minh đối với các hành vi trấn áp, trù úm
người tố cáo đúng sự thật; phát huy tối đa vai trò của Mặt trận và các
tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan nhà nước có chức năng bảo vệ
pháp luật (thanh tra). Nhà nước cũng cần nghiên cứu có thể cho phép hình
thành các tổ chức phi nhà nước trong vai trò bảo vệ các quyền công dân
theo pháp luật với điều kiện tự chủ về tài chính (thông qua tài trợ,
tiền thù lao của người được họ đại diện quyền lợi, tiền thưởng cho các
thành viên...).
Thứ ba,
phải công khai, minh bạch thông tin, tạo điều kiện thuận lợi cho công
chúng tiếp cận các nguồn thông tin; thông tin phải kịp thời, trung thực,
toàn diện trong toàn bộ hoạt động của các cơ quan công quyền và trong
suốt các quá trình hoạch định và thực hiện các chủ trương, chính sách.
Phát triển loại hình thông tin trực tuyến trên mạng intenet, báo điện tử,
thiết lập hệ thống các Website của mỗi cơ quan công quyền. Phát huy vai
trò của báo chí; phát triển chính phủ điện tử nhằm giúp người dân nắm
bắt được các thông tin liên quan đến các chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước.
Phát huy
vai trò giám sát, phản biện của Mặt trận đối với Đảng và Nhà nước là một
vấn đề lớn, quan trọng, nhưng rất mới cả trong nhận thức, kinh nghiệm
hoạt động và tổ chức thực hiện. Điều đó đòi hỏi phải có sự chuyển biến
của cả hệ thống chính trị và với mỗi công dân, cần có sự tham gia đóng
góp của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách.
TS. ĐẶNG ĐÌNH
TÂN
Viện Chính
trị học, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
(Theo Tạp chí Mặt trận - Số 54)
[Về đầu trang]
ĐỔI MỚI ĐỂ PHÁT HUY CÓ HIỆU QUẢ
VỊ TRÍ, VAI TRÒ MẶT TRẬN VÀ CÁC ĐOÀN THỂ
NHÂN DÂN
TS. NGUYỄN
THỊ HIỀN OANH
Học viện
Chính trị - Hành chính khu vực II
1.Mấu chốt
trong đổi mới hệ thống chính trị là minh định rõ vị trí, tính chất và
chức năng của mỗi thành viên trong hệ thống.
Đổi mới Mặt
trận và các đoàn thể nhân dân đòi hỏi phải minh định thật rõ vị trí,
tính chất, chức năng và mối quan hệ giữa các tổ chức này với Đảng và Nhà
nước.
Trước hết,
cần xác định rõ Mặt trận và các đoàn thể nhân dân trong hệ thống chính
trị. Đây là những tổ chức mang tính chính trị rõ nét do Đảng lập ra để
tập hợp quần chúng cách mạng. Nhưng trước hết và căn bản nó là những tổ
chức xã hội, tổ chức của nhân dân, đại diện cho tiếng nói và quyền lợi
của nhân dân. Cần khẳng định rõ: Mặt trận và các đoàn thể nhân dân không
thuộc cấu trúc đảng chính trị, cũng không thuộc cấu trúc nhà nước, mà nó
thuộc cấu trúc xã hội dân sự. Đổi mới tổ chức, hoạt động của Mặt trận và
các đoàn thể nhân dân trong mỗi giai đoạn cách mạng, vấn đề quan trọng
là phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa tính chính trị và tính xã
hội của các tổ chức này. Xác định tính chất, vị trí, vai trò của Mặt
trận và các đoàn thể nhân dân trong hệ thống chính trị nước ta hiện nay
cần khắc phục quan niệm và cách nhìn không đúng trong thực tiễn lâu nay
là coi Mặt trận, đoàn thể như cái đuôi, như bộ phận trang trí để làm
tăng thêm vẻ đẹp của cả hệ thống. Vị trí, vai trò của Mặt trận và các
đoàn thể nhân dân phải được thể chế hóa thành pháp luật nhà nước, thành
môi trường pháp lý cụ thể, bảo đảm tính độc lập của nó, đồng thời phải
bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tuyệt đối hóa một mặt
nào đó đều là cực đoan và sẽ dẫn tới sai lầm, gây hậu quả xấu cho xã hội.
2. Thực
chất của việc đổi mới hệ thống chính trị là nhằm thực hiện dân chủ xã
hội chủ nghĩa.
Đảng ta đã
chỉ rõ: Thực hiện dân chủ xã hôi chủ nghĩa là thực chất của việc đổi mới
và kiện toàn hệ thống chính trị. Đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực
của công cuộc đổi mới1.
Nhân dân
làm chủ là đặc trưng, bản chất của hệ thống chính trị nước ta. Trong hệ
thống chính trị đó, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân có vị trí, vai trò
đặc biệt quan trọng. Hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân đã
và đang góp phần bảo đảm tính chất dân chủ và cả tính nhân dân của chế
độ chính trị nước ta nói chung, cũng như trong việc tổ chức quyền lực
nói riêng. Đặc điểm của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là ở chỗ,
trong khi thực thi quyền lực nhà nước, vẫn thực hiện và phát huy rộng
rãi các thể chế, các tổ chức chính trị - xã hội phi nhà nước để tham gia
quản lý các công việc của xã hội. Phương hướng phát triển cơ bản của hệ
thống chính trị xã hội chủ nghĩa nói chung và của xã hội ta nói riêng là
phải tiếp tục mở rộng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm
chủ của nhân dân, lôi kéo sự tham gia đông đảo của nhân dân vào quá
trình quản lý xã hội và các công việc của nhà nước.
Để thực sự
đổi mới, tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trong hoạt động của Mặt trận và
các đoàn thể nhân dân cần chú trọng các vấn đề sau:
- Thứ nhất,
Mặt trận và các đoàn thể nhân dân cần xác định và tăng cường có hiệu lực
vai trò là người đại diện cho quyền làm chủ của quần chúng, nói tiếng
nói đích thực của quần chúng giới mình. Trong hoạt động, các tổ chức này
không chỉ tập trung vào mục tiêu dân sinh, mà phải chuyển hướng mạnh mẽ
tới vấn đề dân chủ, như: phấn đấu cho sự bình đẳng, công bằng xã hội,
thực thi quyền và nghĩa vụ công dân, chống quan liêu, tham nhũng,... Đặc
biệt: Mặt trận Tổ quốc với tư cách là liên minh chính trị, cần hướng
mạnh mẽ vào các vấn đề quốc kế dân sinh quan trọng của đất nước, các vấn
đề dân chủ, giám sát nhà nước, chứ không chỉ quan tâm làm công tác xã
hội, nhân đạo, từ thiện,…
- Thứ hai,
Mặt trận và các đoàn thể nhân dân tăng cường vai trò của mình trong việc
đấu tranh bênh vực, bảo vệ lợi ích chính đáng, hợp pháp của thành viên,
đoàn viên, hội viên và quần chúng khi bị xâm hại. Vấn đề mấu chốt là cần
nhận thức và xác lập đúng đắn trong thực tế mối quan hệ hai chiều Mặt
trận và các đoàn thể nhân dân đối với Nhà nước trong việc thực hiện dân
chủ, xây dựng cơ chế vận hành của nhà nước, bảo đảm nguyên tắc tất cả
quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân, Mặt trận và các đoàn thể chính
trị - xã hội vừa là cơ sở chính trị của chính quyền, vừa là người đại
diện cho quyền làm chủ của nhân dân trước pháp luật. Đại diện cho quyền
làm chủ của nhân dân, điều đó nghĩa là phải nói được tiếng nói của nhân
dân, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân trước pháp luật,
tham gia phản biện để làm cho các quyết sách của chính quyền hoàn thiện
hơn, hợp ý nguyện của nhân dân hơn.
- Thứ ba,
Mặt trận và các đoàn thể nhân dân cần có chính kiến của mình trước các
kiến nghị của nhân dân, trình bày rõ quan điểm và đề xuất những biện
pháp cần thiết nhằm giải quyết các kiến nghị của nhân dân.
- Thứ tư,
thực hiện tốt chức năng tư vấn, giám sát và phản biện xã hội của Mặt
trận và các đoàn thể nhân dân nhằm thực thi dân chủ, góp phần tham gia
quản lý nhà nước, làm cho các chủ trương, chính sách ngày càng đúng đắn
và hoàn thiện hơn.
- Thứ năm,
tăng cường vai trò của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân thực hiện tốt
Quy chế dân chủ ở cơ sở. Trước hết, cần nhận thức rõ: cơ chế nhân dân tự
quản - một hình thức dân chủ trực tiếp được thực hiện ở hầu hết các khu
dân cư trong cả nước. Trong thiết chế dân chủ này, Mặt trận và các đoàn
thể nhân dân có vị trí quan trọng và là một trong những nhân tố quyết
định sự vận hành của thiết chế này.
3. Vấn đề
căn bản và lâu dài là phải đổi mới, cải tổ về tổ chức của Mặt trận và
các đoàn thể nhân dân.
Với tư cách
là những tổ chức thuộc khu vực xã hội dân sự nên tổ chức của Mặt trận và
các đoàn thể nhân dân phải được cải tổ cho phù hợp với cấu trúc xã hội
dân sự. Cụ thể hệ thống, hình thức tổ chức phải linh hoạt, đa dạng trên
cơ sở nhiệm vụ chính trị, nhu cầu, lợi ích và điều kiện tập hợp của đối
tượng quần chúng, bộ máy phải được tổ chức theo hướng tinh gọn, giảm cán
bộ chuyên trách, tăng cán bộ không chuyên trách.
Hướng đổi
mới quan trọng của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân là tăng cường mở
rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Cần đa dạng hoá các hình thức tập hợp nhân dân, vận động sự tham gia của
các đoàn thể nhân dân xây dựng Đảng và Nhà nước, tập hợp rộng rãi thành
phần tham gia Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp, mở rộng các tổ chức thành
viên; các hội quần chúng nhằm tăng cường và phát triển Mặt trận. Ngoài
thành viên là tổ chức, Mặt trận các cấp cần mở rộng thành viên là các cá
nhân tiêu biểu.
Minh định
rạch ròi vai trò vừa là thành viên, vừa là hạt nhân lãnh đạo của Đảng
trong Mặt trận là điều rất cần thiết. Yêu cầu phải thay đổi về nhận thức,
trước hết từ trong Đảng, Đảng lãnh đạo Mặt trận chứ không đứng trên Mặt
trận. Cần thay đổi cả cách bố trí cán bộ, phương thức công tác, làm việc
để khắc phục tình trạng và thói quen chỉ thấy nổi lên vai trò lãnh đạo
bên trên của Đảng, chưa rõ vai trò Đảng là thành viên. Trong sinh hoạt,
hội nghị bàn việc quan trọng của Mặt trận, ngoài đồng chí cán bộ phụ
trách công tác Mặt trận của Đảng, Đảng phải cử đại diện chủ chốt (bí thư,
phó bí thư) đến tham dự đúng với tư cách thành viên Mặt trận, cùng tham
gia sinh hoạt một cách dân chủ, bình đẳng; hợp tác, thống nhất hành động
như các tổ chức thành viên khác.
Vị trí chủ
chốt như Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc |