|
Về đầu trang
Tăng cường sự tham gia
của người sống chung với HIV
Tăng cường sự tham gia của người sống chung với
HIV(GIPA) không phải là một dự án hay một chương trình. Đây là một nguyên tắc
nhằm thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người sống với HIV mà Liên Hợp quốc
đã nhất trí thông qua. GIPA là một nguyên tắc quan trọng trong công cuộc phòng
chống AIDS của toàn nhân loại.
Nguyên tắc GIPA đã được chính thức hóa tại Hội nghị thượng đỉnh về AIDS tổ
chức tại Paris vào năm 1994, khi 42 quốc gia nhất trí “hỗ trợ quá trình tăng
cường sự tham gia của những người sống với HIV ở tất cả các cấp độ và thúc đẩy
việc xây dựng môi trường chính trị, pháp lý và xã hội thuận lợi”. Những con số
hơn 40 triệu người đang sống với HIV trên toàn thế giới và hàng ngày có hơn
8000 ca tử vong vì AIDS đã nói lên rằng: HIV/AIDS đang là một trong những
thách thức to lớn nhất mà loài người đang phải đương đầu. Chính những người
sống với HIV mới hiểu rõ nhất về cuộc sống của mình và có thể cung cấp các
thông tin quan trọng và sự hiểu biết sâu sắc về cuộc sống với HIV để thực hiện
một cách có hiệu quả các chương trình phòng chống HIV. Sự tham gia của những
người sống với HIV là khẩn thiết hơn bao giờ hết khi các quốc gia đang tăng
cường mở rộng các hoạt động phòng chống AIDS nhằm đạt mục tiêu tiếp cận phổ
cập với các dịch vụ dự phòng, điều trị và chăm sóc hỗ trợ.
Người sống với HIV có đầy đủ các quyền con người như mọi người khác. Đó là các
quyền được tiếp cận các dịch vụ phù hợp, bình đẳng giới, quyền tự quyết, quyền
được tham gia vào quá trình ra các quyết định có ảnh hưởng tới chất lượng của
cuộc sống của họ và quyền không bị phân biệt đối xử. GIPA ra đời nhằm đảm bảo
những quyền lợi này cho người sống với HIV.
GIPA đem lại lợi ích ở các cấp độ khác nhau.
Ở cấp độ cá nhân, sự tham gia có thể làm tăng long tự trọng và tinh thần cho
người sống với HIV, giúp họ không cảm thấy bị cô lập và trầm uất; tăng cường
sức khỏe qua việc tiếp cận được các thông tin đầy đủ hơn về chăm sóc và dự
phòng. Ở trong các tổ chức, sự tham gia của người sống với HIV có thể làm thay
đổi nhận thức cũng như chia sẻ những trải nghiệm và hiểu biết có giá trị của
chính bản thân họ.
Ở cấp độ cộng đồng và xã hội, sự tham gia của người sống với HIV ở cộng đồng
có thể phá vỡ sự sợ hãi và định kiến do những người sống với HIV xuất hiện
trước công chúng và chứng tỏ họ là những thành viên có ích và có đóng góp cho
xã hội.
Sự tham gia của những người đang sống với HIV thời gian qua đã cho thấy những
lợi ích chung mà nguyên tắc này mang lại là: Tạo điều kiện để xây dựng các
dịch vụ phù hợp hơn và xác định rõ nhu cầu của cá nhân; Giúp cho tất cả các
loại hình can thiệp (các thông điệp về dự phòng, tư vấn tuân thủ điều trị)
càng trở nên tin cậy và thuyết phục hơn với nhóm đối tượng đích; Nâng cao nhận
thức về các vấn đề có liên quan đến hiểu biết về người sống với HIV, đưa tới
việc mở rộng các hoạt động, bao gồm vận động chính sách về các quyền của người
sống với HIV; Tăng cường tính tự tin, nâng cao sức khỏe thể chất và cảm nhận
được trạng thái sức khỏe ổn định của những người sống với HIV đang tham gia
vào các hoạt động; Giảm kì thị và chống lại phân biệt đối xử với người sống
chung với HIV ở những người đang làm các dịch vụ phòng chống AIDS, khách hàng
sử dụng các dịch vụ và cộng đồng nói chung.
Để thực hiện GIPA thành công hiện có nhiều trở ngại, trong đó trở ngại lớn
nhất là sự kì thị và phân biệt đối xử với những người sống với HIV. Kì thị và
phân biệt đối xử hiện hữu ở nhiều nơi, dưới nhiều hình thức, xuất phát từ tình
trạng thiếu thông tin, thiếu hiểu biết và sự sợ hãi. Chừng nào còn tình trạng
này thì những nỗ lực phòng chống AIDS của chúng ta vẫn chưa thành công chừng
đó. Chính tình trạng đã cản trở việc những người sống với HIV tiếp cận với các
dịch vụ, chật vật trong công cuộc mưu sinh và khó khăn để tham gia các tổ chức
của những người sống với HIV. Gánh nặng này càng lớn hơn đối với những người ở
các nhóm bị xã hội bỏ rơi. Tình trạng người sống với HIV bị gia đình hắt hủi,
bạn bè cự tuyệt, cộng đồng xa lánh; bị phân biệt đối xử ở các cơ sở y tế, tại
nơi làm việc và ở trường học là những hiện tượng phổ biến.
Các rào cản đó sẽ vượt qua được khi có sự chung tay của toàn xã hội chứ không
chỉ riêng những người có HIV. Hiện tại GIPA đang triển khai tại bốn tỉnh thành
ở Việt Nam là Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh và Thành phố Hồ Chí Minh. GIPA mới
được triển khai tại Việt Nam từ 2006 nhưng đã xuất hiện trên nhiều quốc gia từ
rất lâu. Ông Gracia Violeta Ross, Chủ tịch Quốc gia, Mạng lưới người sống với
HIV của Bolivia phát biểu: “Sự tham gia và đóng góp của những người sống với
HIv là một trong những tấm gương tốt đẹp nhất của tiến bộ toàn cầu trong ngành
y tế công. Chúng tôi đã đi qua một chặng đượng từ vị trí mà ở đó người sống
với HIV bị buá rìu dư luận hành hạ cho tới chết, để đến một nơi, chúng tôi
được mời cùng đứng trong đội ngũ với các nhà lãnh đạo trên thế giới để cùng
xây dựng ra các chính sách cho toàn thế giới. Song, cuộc hành trình vẫn còn
vạn dặm, nhưng chúng tôi đã tạo ra được những đổi thay mang tính lịch sử và
gặt hái được những thành công khiến chúng tôi tự hào”. Sự lạc quan của ông
Gracia Violeta Ross cũng cho chúng ta tin về sự thành công khi triển khai GIPA
tại đất nước mình!
(Theo Kiều Giang – Báo điện tử ĐCSVN)
Về đầu trang
Cần chú trọng nâng cao
năng lực quản lý và nguồn lực cho công tác phòng, chống HIV/AIDS
So với nhu cầu ngày càng tăng của hoạt động chăm sóc, điều
trị và hỗ trợ ngưòi nhiễm HIV/AIDS thì nhân lực tham gia vào hệ thống phòng
chống HIV/AIDS còn thiếu cả về số lượng và hạn chế về mặt chất lượng.
Về hệ thống chăm sóc điều trị
HIV/AIDS, hiện cả nước có 3 cơ sở điều trị ở tuyến trung ương gồm: Viện các
bệnh truyền nhiễm và Nhiệt đới Quốc gia, Bệnh viện đa khoa Trung ương Huế và
Bệnh viện nhiệt đới TP Hồ Chí Minh.
Ở tuyến tỉnh, tiểu ban điều
trị được thành lập trên cơ sở khoa truyền nhiễm bệnh viện đa khoa tỉnh trực
thuộc Ban phòng chống HIV/AIDS hoặc Văn phòng thường trực HIV/AIDS.
Ở tuyến huyện là bệnh viện
huyện và ở tuyến xã là các trạm y tế xã…Tuy nhiên, theo PGS-TS Nguyễn Đức Hiền
- Viện các Bệnh truyền nhiễm và nhiệt đới quốc gia, mạng lưới điều trị tuy đã
hình thành nhưng còn rất nhiều vấn đề tồn tại: Ngoài các địa phương có triển
khai Phòng khám ngoại trú, có chương trình dự án thì hoạt động tương đối hiệu
quả, còn lại đều tỏ ra rất lúng túng và nhiều yếu điểm. Đặc biệt là hầu hết
các cơ sở tuyến huyện chưa đủ điều kiện cả về nhân lực và cơ sở vật chất,
trang thiết bị, thuốc men…để có thể sẵn sàng tiếp nhận, chăm sóc và điều trị
lâu dài cho người nhiễm HIV/AIDS.
Theo ông Hiền, hiện nay, nhân
sự phòng chống HIV/AIDS không ổn định, chủ yếu là kiêm nhiệm, không có hoặc có
rất ít người làm chuyên trách. Việc thuyên chuyển cán bộ, nhất là những cán bộ
đã được đào tạo về phòng chống HIV/AIDS cũng là một nguyên nhân của tình trạng
thiếu nhân lực chuyên môn cho hoạt động chăm sóc, điều trị và hỗ trợ người
nhiễm HIV. Bên cạnh đó, cũng do tâm lý của một bộ phận cán bộ y tế không
thích làm việc trong môi trường HIV/AIDS vì nguy cơ lây nhiễm cao trong khi
chế độ chính sách còn chưa thoả đáng.
Ông Nguyễn Văn Minh- Cục
trưởng Cục Phòng chống TNXH (Bộ LĐ-TB&XH) nêu lên một thực tế : Cả nước hiện
có 84 trung tâm Chữa bệnh-Giáo dục- Lao động xã hội thường xuyên tiếp nhận,
cai nghiện, chữa trị cho 45.000-50.000 người trong đó có khoảng 18.000-20.000
người nhiễm HIV, trong khi đội ngũ cán bộ trung tâm vừa thiếu về số lượng, vừa
yếu về chuyên môn nghiệp vụ phòng chống HIV/AIDS. Về số lượng, số bệnh nhân
AIDS liên tục tăng khiến nhu cầu chăm sóc, phục vụ tại các trung tâm cũng tăng.
Đặc biệt, khi bệnh nặng phải chuyển lên các bệnh viện để điều trị thì mỗi bệnh
nhân phải cần từ 1-2 cán bộ thay nhau quản lý, chăm sóc (bình quân mỗi bệnh
nhân AIDS phải nằm viện 1 tháng/ năm), bệnh nhân điều trị thuốc kháng HIV (ARV),
điều trị dự phòng nhiễm trùng cơ hội hàng quý phải có cán bộ đưa đi làm xét
nghiệm. Trong khi đó, các trung tâm không được tăng thêm về biên chế nên gây
rất nhiều khó khăn cho cơ sở. Về chất lượng, phần lớn cán bộ trung tâm chưa
được tập huấn về công tác phòng chống AIDS, cán bộ y tế chưa được đào tạo
chuyên sâu về điều trị, chăm sóc bệnh nhân HIV/AIDS trong khi đầu tư kinh phí,
cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác điều trị chưa đáp ứng được
yêu cầu….
Trên thực tế, cho tới nay,
bệnh nhân HIV/AIDS vào điều trị nội trú tại các bệnh viện vẫn được thu dung
vào điều trị và sử dụng các giường bệnh của Khoa truyền nhiễm của các bệnh
viện. Hiện vẫn chưa có quy định về số giường để điều trị cho bệnh nhân
HIV/AIDS tại các bệnh viện cũng như kinh phí cho các giường bệnh này. Các
phòng khám ngoại trú chủ yếu được thành lập dựa trên sự tài trợ của các chương
trình dự án như: Life-Gap, Pepfar, Quỹ toàn cầu…Ở các địa phương không có
chương trình dự án thì việc triển khai công tác chăm sóc, điều trị cho bệnh
nhân HIV vẫn chủ yếu dựa trên cơ sở bệnh viện đa khoa tỉnh, chưa có các quy
định về tổ chức, nhân sự, kinh phí…của các phòng khám ngoại trú cho chăm sóc,
điều trị và hỗ trợ người nhiễm. Và hiện mới chỉ có 30% bệnh nhân AIDS (khoảng
trên 10.000 người) tiếp cận được với thuốc kháng HIV (ARV).
Nâng cao năng lực trong công
tác phòng chống HIV/AIDS
Chương trình hành động quốc
gia về chăm sóc, hỗ trợ và điều trị cho người nhiễm HIV đến năm 2010 đặt ra
mục tiêu là mở rộng và tăng cường chất lượng dịch vụ chăm sóc, hỗ trợ và điều
trị nhằm kéo dài cuộc sống cho người nhiễm HIV; dự phòng lây nhiễm HIV trong
cộng đồng; góp phần khống chế số người nhiễm HIV ở mức dưới 0,3% dân số vào
năm 2010.
Các chỉ tiêu cụ thể gồm: tăng
10% mỗi năm người nhiễm HIV đủ tiêu chuẩn điều trị theo hướng dẫn của Bộ Y tế
được tiếp cận với thuốc kháng HIV để đến năm 2010 có khoảng 70% người lớn,
100% trẻ em và 90% bệnh nhân lao nhiễm HIV đủ tiêu chuẩn điều trị được tiếp
cận với thuốc kháng HIV; có ít nhất 50% cơ sở điều trị HIV/AIDS các tuyến được
cung cấp đủ các trang thiết bị cơ bản để chẩn đoán, điều trị HIV/AIDS; 70% số
huyện trong cả nước có cơ sở đủ khả năng điều trị ngoại trú cho người nhiễm
HIV; Thuốc kháng HIV sản xuất trong nước có thể đáp ứng được 50% nhu cầu điều
trị; nâng cao năng lực nhân viên y tế tham gia công tác chăm sóc, hỗ trợ vf
điều trị HIV/AIDS…
Để đạt được mục tiêu đó, theo
Cục trưởng Cục phòng chống AIDS Việt Nam Dương Quốc Trọng cần triển khai
nhiều giải pháp như : xã hội hoá công tác chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS; tăng
cường các hoạt động chống kỳ thị, phân biệt đối xử, hoàn thiện hệ thống văn
bản quy phạm pháp luật; cung cấp trang thiết bị, sinh phẩm và thuốc kháng
HIV cho các cơ sở điều trị;…Mặt khác, cần tăng cường nguồn lực cho công tác
phòng chống HIV/AIDS như: đào tạo và đào tạo lại về chuyên môn kỹ thuật cho
đội ngũ cán bộ tham gia chăm sóc, điều trị HIV/AIDS tại các tuyến; tăng cường
hỗ trợ của tuyến trên cho tuyến dưới; hoàn thiện hệ thống thu thập số liệu,
báo cáo và quản lý chưong trình chăm sóc, hỗ trợ và điều trị cho người nhiễm;
tăng cưòng công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của chương trình chăm sóc, hỗ
trợ và điều trị HIV/AIDS…
(TheoTuấn Đạt - Báo điện tử
ĐCSVN)
Về đầu trang
Hội Cựu chiến binh tham
gia phòng, chống các tệ nạn xã hội
Ngày 12/9, tại Hà Nội, Trung ương Hội Cựu chiến
binh (CCB) Việt Nam đã tổng kết 5 năm công tác phòng, chống tội phạm, ma túy,
mại dâm, HIV/AIDS giai đoạn 2003-2007.
Hội CCB Việt Nam xác định: Từ nay đến năm 2010, các cấp hội tích cực vận động
cán bộ, hội viên tham gia các hoạt động an ninh, dân phòng như tuần tra, canh
gác góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa bàn dân
cư. Các cấp hội phấn đấu không phát sinh người nghiện ma túy và tái nghiện
trong gia đình hội viên; giáo dục, vận động 100% số hội viên, người thân CCB
nghiện ma túy tự giác cai nghiện tại các trung tâm và cộng đồng. Ở những tỉnh
miền núi, biên giới, vùng sâu, vùng xa, những nơi có tình trạng tái trồng cây
thuốc phiện, cần sa, Hội CCB tích cực tham gia cùng các ngành chức năng triệt
phá, thay thế loại cây trồng khác góp phần xóa đói, giảm nghèo cho bà con tại
địa phương. Các cấp hội thường xuyên tuyên truyền, giáo dục, quản lý chặt chẽ
hội viên và gia đình CCB, nhất là những đối tượng có nguy cơ cao nhằm nâng cao
hiểu biết về căn bệnh HIV/AIDS; tham gia xây dựng mô hình phòng, chống
HIV/AIDS tại cộng đồng dân cư, không phân biệt đối xử và giúp đỡ người nhiễm
HIV/AIDS hòa nhập cộng đồng.
Những năm qua, công tác phòng, chống tội phạm, ma túy, mại dâm, HIV/AIDS của
Hội CCB Việt Nam đã thu được nhiều kết quả, góp phần xóa đói, giảm nghèo, xây
dựng Hội trong sạch, vững mạnh. Trong quá trình xây dựng chương trình hành
động phòng, chống tội phạm, ma túy, mại dâm, HIV/AIDS, các cấp hội luôn chú
trọng tới nhân tố con người, xây dựng địa bàn trong sạch và quản lý nội bộ gia
đình. Các cấp hội bám sát những “điểm nóng”, nơi có nguy cơ cao; coi trọng
công tác tuyên truyền, giáo dục, xây dựng mô hình điểm; đồng thời kiên trì vận
động, giúp đỡ, cảm hóa những người lầm lỗi hoàn lương, tái hòa nhập cộng đồng./.
Theo TTXVN
Về đầu trang
Hiệu quả từ mô hình Câu
lạc bộ phòng, chống ma tuý - tệ nạn xã hội từ gia đình ở Thường Tín, Hà Tây
" Được sự quan tâm của gia đình, Hội phụ nữ xã Vạn Điểm, huyện
Thường Tín (Hà Tây), em đã cai nghiện được 4 năm nay; hiện đã có việc, thu
nhập ổn định với mức 40.000đ/ngày; có một gia đình hạnh phúc với hai cháu gái
lên 5 và 3 tháng tuổi". Đó là lời tâm sự của anh Nguyễn Văn Tú sau khi đi dự
hội nghị liên tịch về quản lý, giáo dục con em không mắc tệ nạn xã hội do Bộ
Công an tổ chức gần đây.
Sinh ra và lớn lên tại huyện Hương Sơn, tỉnh Hòa Bình, là con một, lại thiếu
sự quan tâm của người cha, Tú đã sa vào con đường nghiện hút lúc nào không
biết. Một lần bị công an bắt quả tang cùng đám bạn đang sử dụng "thuốc", Tú bị
đưa vào trại cai nghiện tập trung. Mãn hạn, Tú được mẹ đưa về quê tại xã Vạn
Điểm để tránh xa đám bạn cũ. Đúng lúc đó, Hội phụ nữ xã, nhất là chị Quyền Thị
Kim Oanh đã đến giúp đỡ và nhận Tú vào học nghề mộc tại xưởng của gia đình.
Được sự động viên, chăm sóc từ chỗ ăn, ở Tú đã xóa đi mặc cảm, chịu khó học
tập và trở thành người thợ có tay nghề vững vàng. Năm 2001, Tú được Hội phụ nữ
xã tạo điều kiện cho vay 5 triệu đồng, phát triển sản xuất, ổn định cuộc sống
gia đình. Nguyễn Văn Tú là một trong những đối tượng được Câu lạc bộ "phòng
chống ma tuý-tệ nạn xã hội từ gia đình" huyện Thường Tín quản lý, giáo dục và
tạo việc làm sau cai.
Trước tình hình trên địa bàn có nhiều đối tượng nghiện, nhất là trong một số
hội viên phụ nữ có chồng, con mắc nghiện, Hội LHPN huyện Thường tín đã sớm
triển khai làm điểm mô hình CLB "Phòng chống ma tuý-tệ nạn xã hội từ gia
đình"tại hai thôn, đến nay, toàn huyện đã thành lập được 62 CLB, thu hút gần
3.000 thành viên tham gia ở hầu hết các xã, thị trấn. CLB sinh hoạt theo quý
nhằm trang bị cho hội viên những kiến thức về phòng chống và tác hại của ma
tuý; chia sẻ khó khăn khi có người thân mắc nghiện và đề ra chương trình hoạt
động giúp đỡ hội viên phát triển kinh tế gia đình.
Các CLB đều xây dựng được quỹ hội với tổng số tiền hơn 64 triệu đồng để thăm
hỏi nhau khi ốm đau, tặng quà và hỗ trợ các gia đình có chồng, con cai nghịên.
Các thành viên trong CLB đã tích cực vận động mọi người cùng ký cam kết thực
hịên quản lý, giáo dục con em trong gia đình không phạm tội và TNXH, thực hiện
4 không với ma tuý; Đối với thành viên có chồng, con mắc TNXH, đặc biệt là gia
đình có hoàn cảnh khó khăn, CLB đã giúp đỡ cho vay vốn phát triển kinh tế gia
đình, ổn định cuộc sống. Với phương châm "mưa dầm thấm lâu" các chị đã trực
tiếp đến tận nhà cùng gia đình có người nghiện để giáo dục, thuyết phục, giúp
đỡ cai nghịên tại cộng đồng.
Cảm động trước sự nhiệt tình của các thành viên trong CLB, nhiều gia đình có
con em mắc nghiện đã mạnh dạn tố cáo những đối tượng buôn bán ma tuý, ổ tiêm
chích ma tuý cho các ngành chức năng. Bên cạnh đó, các CLB còn tích cực tham
gia phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc, tổ hòa giải, tổ tự quản cơ
sở, hàng năm đã hòa giải thành công hơn 70% số vụ mẫu mắc trong nhân dân.
Qua 5 năm hoạt động (2003-2007), các CLB đã phối hợp với ban, ngành địa phương
vận động, thuyết phục 136 lượt đối tượng nghiện cai tại các cơ sở y tế và
Trung tâm cai nghiện, 99 đối tượng cai tại gia đình; 28 đối tượng áp dụng liệu
pháp phòng chống tái nghiện (dự án của Bệnh viện Tâm thần Trung ương ). Các xã
như: Nhị Khê, Vạn Điểm, Hà Hồi, Tô Hiệu đã được đánh giá là những địa bàn có
nhiều chuyển biến tích cực trong công tác phòng chống ma tuý-TNXH./.
(Theo TTXVN)
Về đầu trang
Giảm thiểu
tác hại của ma túy
Quảng Ninh là địa phương có tỷ lệ người nhiễm HIV/AIDS vào loại
cao nhất cả nước. Con đường lây nhiễm chính cũng đã được xác định trong nhóm
người nghiện chích ma túy. Cùng các ngành, các cấp chính quyền địa phương,
ngành y tế Quảng Ninh đang có cách làm riêng trong cuộc chiến với ma túy; bắt
đầu từ chính những người đã, đang sử dụng ma túy.
Cách đây khoảng
mươi năm, ở thị trấn Vân Ðồn không ít người biết đến ông chủ Nguyễn Xuân Thính
với nghề kinh doanh vật liệu xây dựng, với tài sản có đến tiền tỷ. Nhưng rồi,
một vài lần ham vui với bạn bè, anh đã "dính" vào ma túy từ lúc nào. Ðống gia
tài đó cũng chẳng mấy chốc mà tiêu tan, công việc làm ăn thì lụi bại. Ðến tận
cùng như vậy, anh mới từ bỏ được ma túy (sau nhiều lần cai). Nhưng sau cai,
phải làm gì đây để tồn tại, nuôi sống gia đình, hai đứa con ngày càng trưởng
thành.
Ðược sự hỗ trợ
của Tổ chức sức khỏe gia đình quốc tế (FHI), dự án phòng, chống HIV/AIDS trong
nhóm người sử dụng ma túy và bạn tình của họ được triển khai ở Vân Ðồn từ
tháng 11-2005 với mô hình câu lạc bộ (CLB) Vạn Hoa được thành lập. Các hoạt
động chính là tư vấn, hỗ trợ để những người lạm dụng từ bỏ ma túy và dự phòng
HIV và anh là một trong những thành viên đầu tiên của CLB. Triển khai các hoạt
động, CLB thành lập hai nhóm Vượt sóng, trong đó anh Nguyễn Xuân Thính phụ
trách, thu hút 20 đối tượng đang sử dụng ma túy tham gia.
Không dừng lại ở
những hoạt động tuyên truyền, tư vấn hỗ trợ những người lạm dụng từ bỏ ma túy,
anh cùng một số người trong nhóm bán, thế chấp nhà, vay mượn tiền đầu tư nuôi
hải sản. Anh Thính tâm sự: Tạo việc làm để anh em chí thú làm ăn vừa có thu
nhập và mọi người không quay lại với ma túy. Không có việc làm, cứ lêu lổng,
khả năng người đã từng sử dụng nghiện lại là rất cao. Các anh đã đầu tư gần
600 triệu đồng để làm lồng, bè, mua con giống... để nuôi tu hài ở ngoài đảo
Sen. Tạo công ăn việc làm cho 13 người, trong đó phần lớn là những người đã,
đang sử dụng ma túy.
Nhờ tham gia
nhóm, một số người nghiện đã sống tích cực hơn, số khác đã cai nghiện và làm
lại cuộc đời bằng lao động chân chính. Nếu không có gì thay đổi, cuối năm nay
sẽ cho đợt thu hoạch đầu tiên. Tính qua, nếu trừ hết chi phí, các anh cũng có
lời khoảng 200 triệu đồng. Dự kiến số tiền lãi đó tiếp tục được đầu tư để mở
rộng việc nuôi trồng các loại hải sản khác. Mong rằng thời tiết chiều lòng
người, để vụ thu hoạch tu hài đầu tiên đạt kết quả cao. Nếu thành công, đây là
một mô hình lý tưởng để nhân rộng.
Khác với Vân Ðồn,
thị xã Móng Cái có cách tiếp cận khác với người nghiện ma túy. Bác sĩ Nguyễn
Thị Hải, cán bộ giám sát thực địa của nhóm giáo dục đồng đẳng thuộc Trung tâm
tư vấn xét nghiệm tự nguyện dẫn chúng tôi "ra bãi", nơi tập trung để chích và
mua bán ma túy của nhiều người nghiện. "Bãi" nằm ngay ở ngã sáu của thị xã
Móng Cái, nơi nườm nượp xe cộ qua lại mỗi ngày. Thấy người lạ đến, đám thanh
niên đang tụ tập dưới tán cây bàng tản ra, chỉ còn lại hai người mặc áo mầu
xanh da trời, bên hông đeo một chiếc túi vải bố, ngại ngùng đứng lại. Chị Hải
thân mật vỗ vai một thanh niên mặc áo xanh và giới thiệu với chúng tôi họ là
hai trong số tám đồng đẳng viên của trung tâm.
Qua tìm hiểu
được biết "nhiệm vụ" hằng ngày của họ là thay phiên nhau trực tại "điểm nóng"
này để tiếp cận với người nghiện, phát bơm tiêm sạch, tuyên truyền về HIV/AIDS
và cách phòng, tránh lây nhiễm HIV/AIDS. Theo bác sĩ Hải, do người nghiện
thường có mặc cảm và muốn che giấu việc nghiện chích của mình nên người bình
thường rất khó tiếp cận được với họ. Hơn nữa, sau mỗi đợt truy quét của lực
lượng an ninh, điểm tụ tập của những người nghiện lại thay đổi, do vậy chỉ có
các đồng đẳng viên (những người đã từng nghiện hoặc đang nghiện) mới có thể
tiếp cận được với những đối tượng này. Bên cạnh đó việc dùng "tiếng nói của
người nghiện để đến với người nghiện" sẽ có được sự đồng cảm, nên những người
nghiện sẽ dễ hòa nhập và dễ tiếp thu hơn. Do vậy, tại Móng Cái, ở đâu có người
nghiện, ở đó có đồng đẳng.
Trung bình một
ngày các đồng đẳng viên tiếp xúc với khoảng 6-7 "khách hàng" (từ dùng để chỉ
những người nghiện chích ma túy), ngày cao điểm có thể là 14-16 khách hàng.
Ngoài khách hàng cố định, các đồng đẳng viên còn phải cố gắng tiếp cận những
người "khách vãng lai" (những người có nghiện chích nhưng không có trong danh
sách theo dõi của cơ quan chức năng). Hằng tuần các đồng đẳng viên sẽ thực
hiện thu gom bơm kim tiêm vứt bừa bãi để tránh nguồn lây nhiễm HIV/AIDS cho
cộng đồng. Nhờ hoạt động của các đồng đẳng viên, những người nghiện chích ở
Móng Cái đã nắm vững các kiến thức về HIV/AIDS, biết cách dùng bơm kim tiêm
sạch và phòng, tránh lây nhiễm HIV... Trung bình mỗi tháng nhóm đồng đẳng phát
cho những người nghiện khoảng mười nghìn bơm kim tiêm.
Mặc dù đã đạt
những kết quả nhất định, song trong thực tế số người nghiện chích có sự "tiến
bộ" tích cực vẫn còn rất hạn chế. Bên cạnh đó, số các trung tâm, câu lạc bộ
dành cho người nghiện hiện vẫn còn ít, chủ yếu chỉ là các trung tâm và câu lạc
bộ do các tổ chức phi chính phủ tài trợ. Người tham gia sinh hoạt ở đó thực tế
vẫn là những người được lựa chọn với các tiêu chí như: có ý thức, có lối sống
tích cực... Như vậy, ngoài số người này hiện vẫn còn một bộ phận không nhỏ
những người nghiện với tình trạng sức khỏe suy giảm, bị mất lòng tin với người
thân và người chung quanh, rất nhiều người trong số họ không có việc làm. Cuộc
sống buồn chán, nhàn rỗi cộng với sự rủ rê của bạn nghiện dễ khiến họ tái
nghiện.
Thực tế, cai
nghiện là một việc rất khó khăn, tỷ lệ tái nghiện khá cao và có những người
thậm chí đã cai nhiều lần nhưng vẫn không thành công. Mà song hành với ma túy
là HIV/AIDS. Vì vậy, mô hình "sống chung" với ma túy cần tiếp tục được phát
huy. Tuy nhiên, việc hoạt động của các câu lạc bộ hay nhóm đồng đẳng chỉ là
những công việc giải quyết "phần ngọn" của công tác phòng, chống ma túy và lây
nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng... Ðể công tác này có hiệu quả bền vững thì về
lâu dài, có lẽ các ban, ngành chức năng cần có những biện pháp cụ thể, nhất là
giải quyết tận gốc của vấn đề.
MINH HOÀNG
Về đầu trang
VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN CÁC CẤP TỈNH VĨNH PHÚC
TRONG TUYÊN TRUYỀN, VẬN ĐỘNG NHÂN DÂN
THAM GIA PHÒNG CHỐNG TỘI PHẠM, TỆ NẠN XÃ HỘI
CAO THÀNH VĂN
Phó Chủ tịch Thường trực,
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
tỉnh Vĩnh Phúc.
Các chương trình, đề án quốc gia về phòng, chống
tội phạm, tệ nạn xã hội, mại dâm, ma tuý, HIV/AIDS và vệ sinh an toàn thực
phẩm do Mặt trận Tổ quốc tham gia chủ trì được tổ chức triển khai và thực hiện
trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc những năm qua đã đem lại hiệu quả thiết thực, góp
phần ngăn chặn, đẩy lùi các loại tội phạm, tệ nạn xã hội, xây dựng cuộc sống
văn hoá lành mạnh, an toàn ở các địa phương và từng khu dân cư, đảm bảo sự ổn
định về chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo điều kiện để kinh tế - xã hội
phát triển ổn định, bền vững.
Vĩnh Phúc ngày càng có nhiều nhà doanh nghiệp nước
ngoài và trong nước đến đầu tư làm ăn, đã thu hút và góp phần giải quyết nhiều
việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, tăng thu ngân sách cho địa phương.
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi và tích cực nói trên cũng kéo theo những
vấn đề xã hội bức xúc phải giải quyết, như: tình trạng tội phạm, tệ nạn xã hội,
lối sống thực dụng; buôn bán, tàng trữ các chất ma tuý; buôn bán phụ nữ, trẻ
em; môi giới và hoạt động mại dâm; sản xuất, kinh doanh buôn bán hàng giả,
không bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm... làm ảnh hưởng trực tiếp không chỉ
đến phát triển kinh tế - xã hội mà đến cả thuần phong mỹ tục, đời sống và sức
khoẻ của con người, làm mất an ninh thôn xóm và trật tự an toàn xã hội ở cơ sở.
Từ tình hình trên, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh đã
chủ động chủ trì, hướng dẫn và chỉ đạo Mặt trận Tổ quốc các cấp phối hợp tổ
chức triển khai các chương trình, đề án quốc gia về phòng, chống tội phạm, tệ
nạn xã hội một cách thiết thực, bước đầu có hiệu quả rõ rệt ở từng địa phương,
cơ sở. Đặc biệt coi trọng tổ chức chỉ đạo điểm, xây dựng mô hình để đúc rút
kinh nghiệm nhân ra diện rộng ở tất cả các cấp Mặt trận. Công tác tham mưu với
các cấp uỷ đảng, phối hợp với chính quyền, các ngành, các tổ chức thành viên
để triển khai rộng khắp ở tất cả các địa bàn, khu dân cư, hộ gia đình và từng
người dân được quan tâm chú ý. Nhờ đó, cùng với tăng cường công tác tuyên
truyền, giáo dục, vận động và tập hợp các đối tượng nhân dân đã làm cho sức
mạnh đoàn kết của toàn dân, của cả hệ thống chính trị được tăng cường.
Năm 2006, với việc tổ chức triển khai chỉ đạo điểm
thực hiện các chương trình, đề án quốc gia do Mặt trận chủ trì ở các địa
phương trong tỉnh đã mang lại hiệu quả thiết thực. Uỷ ban Mặt trận tỉnh đã bám
sát các Thông tri, Nghị quyết liên tịch của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam để cùng phối hợp với các ngành, các tổ chức thành viên xây dựng các
chương trình, kế hoạch, thành lập các ban chỉ đạo tổ chức thực hiện các chương
trình, đề án, có phân công trách nhiệm cụ thể. Kết quả là, đã phát động được
phong trào quần chúng rộng khắp, động viên và tập hợp được đông đảo các tầng
lớp nhân dân hưởng ứng và tham gia tích cực, thực hiện có kết quả các chương
trình, đề án. Hầu hết các cơ sở đều chọn điểm chỉ đạo, chú ý quan tâm xây dựng
các điểm chỉ đạo ở cơ sở khu dân cư, vùng có nguy cơ cao về tệ nạn xã hội, về
tình hình tội phạm, những bức xúc về môi sinh, môi trường, vệ sinh an toàn
thực phẩm...
Trong những năm qua, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
tỉnh đã xây dựng 158 điểm chỉ đạo (trong đó cấp xã 32 điểm, khu dân cư 126
điểm). Năm 2006, Mặt trận Tổ quốc còn phối hợp với Công an tỉnh chỉ đạo 3 điểm
về phòng, chống tội phạm ở phường Xuân Hoà (thị xã Phúc Yên), phường Đồng Tâm
(thành phố Vĩnh Yên), xã Hợp Châu (huyện Tam Đảo); phối hợp với Sở Lao động -
Thương binh và Xã hội tổ chức 2 điểm chỉ đạo về phòng, chống tệ nạn mại dâm ở
thị trấn Lập Thạch (huyện Lập Thạch), xã Đại Thịnh (huyện Mê Linh)... Qua tổ
chức thực hiện, nhiều mô hình có hiệu quả đã và đang được đúc rút kinh nghiệm
nhân ra diện rộng trên địa bàn tỉnh, nhất là mô hình khu dân cư không có tệ
nạn xã hội và tội phạm ma tuý, không có người nghiện ma tuý, họ giáo bình yên
không có tội phạm, không có người nhiễm HIV/AIDS. Tiêu biểu cho các mô hình
khu dân cư như nói trên có họ giáo Vân Tập (Vân Hội, huyện Tam Dương), họ giáo
Yên Mỹ (thị xã Phúc Yên), khu dân cư Phú Hạnh (Thượng Trưng, huyện Vĩnh Tường),
bản đồng bào Dao (Thành Công, xã Lãng Công, huyện Lập Thạch). Hiệu quả thực tế
cho thấy, các mô hình điển hình trên đã góp phần nâng cao nhận thức của các
tầng lớp nhân dân; tình hình tội phạm, tệ nạn xã hội giảm hẳn và có chuyển
biến theo hướng tích cực, tiến bộ. Các hoạt động tuyên truyền thông tin, các
hội nghị họp dân để tổ chức ký cam kết thực hiện phòng, chống tội phạm được
các hộ gia đình, khu dân cư và từng người dân tích cực hưởng ứng. Đến nay, hầu
hết các nội dung về phòng, chống các loại tội phạm, như: ma tuý, mại dâm,...
đã được đưa vào quy ước, hương ước của làng, xã, được nhân dân bàn bạc thống
nhất và quyết định. Hình thức tự quản của các khu dân cư, hộ gia đình được
phát huy, không chỉ góp phần làm giảm tình trạng mâu thuẫn nội bộ, giảm phát
sinh tội phạm, tệ nạn xã hội mà còn làm cho cán bộ và nhân dân, tình làng
nghĩa xóm nói chung được gắn bó, đoàn kết. Công tác tổ chức chỉ đạo điểm và
những kết quả đạt được của từng chương trình đề án ngày một góp phần khẳng
định vai trò của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên trong công
tác tuyên truyền, vận động và tập hợp quần chúng, động viên tập hợp đông đảo
đoàn viên, hội viên tạo thành phong trào sôi nổi ở cơ sở và từng khu dân cư.
Qua phối hợp thống nhất hành động, bằng công việc
cụ thể có hiệu quả đã làm cho Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp, chính quyền,
các ngành chức năng, các tổ chức thành viên có sự gắn kết; sự lãnh đạo, chỉ
đạo cũng vì thế mà có sự thống nhất và đồng bộ, sự phân công nhiệm vụ rõ ràng
hơn, sâu sát cơ sở hơn, kịp thời hơn. Nhiều vấn đề, từ bảo đảm kinh phí hoạt
động đến chỉ đạo, phối hợp xây dựng nội dung kế hoạch, tổ chức sơ kết, tổng
kết trước đây ít được quan tâm thì nay được các cấp uỷ đảng, chính quyền quan
tâm hơn. Thông qua các hình thức tuyên truyền phong phú, đa dạng, phù hợp với
từng vùng, từng đối tượng; tổ chức được nhiều cuộc thi tìm hiểu về HIV/AIDS;
về phòng, chống ma tuý; tổ chức được nhiều cuộc toạ đàm, các hội nghị khu dân
cư đã góp phần nâng cao một bước nhận thức cho người dân; có tác động lớn đến
cách nghĩ, cách ứng xử của mỗi người dân trong công tác đấu tranh, phòng ngừa
và đẩy lùi các loại tội phạm, tạo thành phong trào quần chúng rộng rãi. Có thể
nói đây là kết quả cốt lõi nhất mà công tác chỉ đạo điểm, xây dựng mô hình,
nhân rộng mô hình thông qua các chương trình, đề án có được trong thời gian
qua. Tiêu biểu như: phường Xuân Hoà (thị xã Phúc Yên) là phường có địa bàn
phức tạp về mại dâm và ma tuý, năm 2005 về trước có 11 đối tượng nghiện ma tuý,
3 đối tượng hoạt động mại dâm. Qua chỉ đạo điểm, thông qua tuyên truyền bằng
nhiều hình thức như truyền thanh, họp dân ở khu dân cư, sinh hoạt tuyên truyền
trong các gia đình có người mắc tệ nạn xã hội, quán triệt các Chỉ thị, Nghị
quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước cho nhân dân ở khu dân cư về phòng,
chống mại dâm ma tuý, đến nay phường không còn đối tượng nghiện ma tuý, không
còn hoạt động mại dâm. Phường Đồng Tâm (thành phố Vĩnh Yên) nhờ làm tốt công
tác tuyên truyền với phương châm “đến từng ngõ phố, gõ cửa từng nhà” tình hình
người nghiện ma tuý đã giảm đáng kể, năm 2002 có 46 đối tượng nghiện hút, năm
2006 giảm xuống còn 24 đối tượng.
Qua chỉ đạo tổ chức triển khai các phong trào, các
chương trình đề án, có thể rút ra một số kinh nghiệm bước đầu như sau:
- Công tác tuyên truyền, vận động là khâu quan
trọng phải được tập trung làm tốt ngay từ khi triển khai phong trào nhằm làm
cho dân hiểu, dân tin, dân ủng hộ và dân hưởng ứng. Nội dung và hình thức
tuyên truyền phải phù hợp với từng địa phương, từng vùng, từng đối tượng và
toàn dân. Kết hợp giữa đấu tranh phòng ngừa với giáo dục cộng đồng, “xây” phải
đi đôi với “chống”, lấy xây là chính, phòng ngừa là quan trọng, huy động được
sức mạnh của toàn dân tham gia vào phong trào.
- Tăng cường phối hợp thống nhất hành động giữa
Mặt trận với chính quyền, các ngành, các tổ chức thành viên, đẩy mạnh phát
triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo, xây dựng đời sống văn hoá tinh
thần cho nhân dân, giải quyết tốt việc làm, tạo điều kiện cho mọi người có thu
nhập ổn định, thường xuyên quan tâm giúp đỡ hộ nghèo, đặc biệt là những người
phạm tội đã hoàn lương... Phải gắn các chương trình, đề án phòng, chống tội
phạm, tệ nạn xã hội, với việc thực hiện các chương trình, đề án về phát triển
kinh tế - xã hội.
- Mặt trận Tổ quốc các cấp phải làm tốt vai trò
tham mưu, chủ động, sáng tạo trong vai trò chủ trì, đồng thời phối hợp tốt
giữa các tổ chức thành viên với các ngành, duy trì và giữ vững được phong trào,
đảm bảo sự phát triển bền vững. Các cấp uỷ đảng, chính quyền phải thường xuyên
quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo; tạo điều kiện về mọi mặt và bảo đảm sự thống nhất
cao trong quá trình chỉ đạo, tổ chức thực hiện, thực sự sâu sát với cơ sở, đến
từng hộ gia đình, từng khu dân cư, nhằm quy tụ được sức mạnh toàn dân tham gia.
- Việc triển khai các chương trình, đề án về phòng, chống tội
phạm, tệ nạn xã hội, mại dâm, ma tuý, HIV/AIDS phải gắn kết chặt chẽ với việc
mở rộng nâng cao chất lượng cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống
văn hoá ở khu dân cư”, thường xuyên coi trọng công tác tuyên truyền phổ biến
giáo dục pháp luật trong cộng đồng dân cư, tổ chức sơ kết, tổng kết khen
thưởng kịp thời.
Về đầu trang
PHONG TRÀO TOÀN DÂN THAM GIA
PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM; TỆ NẠN XÃ HỘI
Ở THÔN CHIÊN CHIẾT
NGUYỄN ĐĂNG BÌNH
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
tỉnh Kon Tum.
Thôn Chiên Chiết, xã Đăk Xú, huyện Ngọc Hồi, tỉnh
Kon Tum là một thôn đồng bào dân tộc thiểu số, được định cư dọc hai bên đường
quốc lộ 40 nối liền với cửa khẩu quốc tế Bờ Y. Dân số toàn thôn có hơn 700
nhân khẩu; có 4 dân tộc, là: Kinh, Xê Đăng, Thái, Mường từ mọi miền của đất
nước quần tụ về đây sinh sống, làm ăn. Trong 4 dân tộc trên, thì người dân tộc
thiểu số tại chỗ (Xê Đăng) chiếm số đông. Đời sống của người dân hiện nay, chủ
yếu nhờ vào nghề nông, trình độ của người dân còn thấp.
Từ năm 1995 trở về trước, đời sống của nhân dân
rất vất vả, khó khăn, lam lũ quanh năm nhưng vẫn không đủ ăn, đủ mặc, số hộ
đói nghèo chiếm tỉ lệ khá cao. Mặc dù là thôn có đông dân cư là các dân tộc
khác nhau cùng sinh sống, song bà con trong thôn luôn có mối đoàn kết keo sơn
gắn bó, giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất, lúc ốm đau, hoạn nạn, khó khăn. Khối
đại đoàn kết toàn dân ở từng cộng đồng khu dân cư ngày một được củng cố bền
vững hơn. 9 đối tượng chính sách là các gia đình liệt sĩ, thương bình, người
có công với nước và 25 đối tượng xã hội là người già cô đơn, tàn tật, trẻ em
mồ côi không nơi nương tựa luôn được cấp uỷ đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ
quốc và các đoàn thể chăm lo giúp đỡ. Song bên cạnh đó, do mặt trái của cơ chế
thị trường, một số người muốn có cuộc sống giàu sang nhanh chóng nhưng lại
lười lao động nên đã lén lút buôn bán, tàng trữ trái phép các chất ma tuý. Các
tệ nạn xã hội khác, như: trộm cắp, mại dâm, say rượu quậy phá... luôn xảy ra ở
địa bàn.
Xác định khu dân cư thôn Chiên Chiết, xã Đăk Xú là
một trọng điểm về tệ nạn xã hội, có nguy cơ ảnh hưởng lan rộng đến các nơi
khác, Đảng uỷ xã, Mặt trận và các đoàn thể đã phối hợp với công an để có biện
pháp tích cực trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội,
mại dâm, ma tuý, trả lại sự bình yên cho nhân dân trên địa bàn. Theo sự chỉ
đạo của huyện, xã đã tổ chức cho nhân dân học tập, quán triệt Nghị định số 09/NĐ-CP
của Chính phủ về “Tăng cường công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trong
tình hình mới”; Quyết định số 138/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về
chương trình phòng, chống tội phạm. Với sự chỉ đạo sát sao của Đảng uỷ và Uỷ
ban nhân dân xã, Trưởng thôn cùng Ban Công tác Mặt trận đã tích cực chăm lo
xây dựng mạng lưới an ninh nhân dân, phát huy vai trò của Ban Thanh tra nhân
dân, tổ tự quản, tổ hoà giải ở thôn. Đặc biệt phải kể đến việc chăm lo xây
dựng đội ngũ cán bộ cốt cán trong phong trào “Toàn dân tham gia phòng, chống,
ngăn ngừa tội phạm, tệ nạn xã hội, ma tuý, mại dâm”. Với sự cố gắng nói trên,
thời gian qua hoạt động của thôn đã có nhiều chuyển biến rõ nét. Kết quả, đã
bắt, xử lý và truy tố để đưa ra xét xử 3 vụ án ma tuý, gồm 3 đối tượng. Xử lý
2 đối tượng mại dâm là người dân tộc tại chỗ bằng cảm hoá, giáo dục và xử phạt
hành chính theo quy ước của cộng đồng; có hai đối tượng phạm tội trộm cắp
nhiều lần đã bị bắt và truy tố, đưa ra xét xử, tuyên phạt 4 năm tù giam, nay
đã mãn hạn tù được tha về địa phương.
Những đối tượng trên đều được xử lý đúng người,
đúng tội, được nhân dân trong thôn đồng tình, nhất trí. Hầu hết nhân dân đều
tích cực tham gia vào công tác đấu tranh phòng, chống, ngăn ngừa tội phạm mại
dâm, ma tuý và các tệ nạn xã hội khác, nhờ đó trật tự an ninh ở khu dân cư đã
được giữ vững.
Cấp uỷ, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể của
xã qua thực tế đã rút ra được nhiều điều bổ ích, càng thường xuyên chăm lo cảm
hoá, giáo dục các đối tượng ngay tại cộng đồng. Đặc biệt với các đối tượng sau
khi đã mãn hạn tù trở về địa phương đã được cấp uỷ, chính quyền tạo mọi điều
kiện cho họ hoà nhập với cộng đồng, tạo điều kiện thuận lợi cho làm ăn, phát
triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng bằng chính mồ
hôi công sức của họ. Những kết quả đó đã đưa lại hiệu quả thiết thực, góp phần
làm thay đổi diện mạo cuộc sống của người dân ở thôn Chiên Chiết. Hiện nay,
toàn thôn có 8 ha lúa nước hai vụ, 5 ha lúa rẫy, 150 ha cây mì, 29 ha cây bắp,
60 ha cây cao su, 5 ha cây cà phê, 40 ha cây bời lời, 3 ha cây ăn quả các loại
và 1 ha cây tiêu. Tổng sản lượng lương thực quy thóc đạt 2.151 tấn, bình quân
lương thực đầu người đạt 300 kg/người/năm. Qua phân loại mức sống của hộ gia
đình, toàn thôn có 5 hộ giàu, 36 hộ khá, 80 hộ trung bình, 38 hộ nghèo, chỉ
còn 8 hộ đói (chủ yếu rơi vào đối tượng già yếu, neo đơn, không có sức lao
động). Đây còn là điều trăn trở của cấp uỷ đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc,
các đoàn thể xã tới cán bộ thôn, bởi lẽ phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội,
ma tuý không thể tách rời với chăm lo phát triển kinh tế, xoá đói, giảm nghèo.
Phát huy những kết quả đạt được, khắc phục những
tồn tại, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, cán bộ và nhân dân thôn
Chiên Chiết đang tiếp tục phấn đấu xây dựng khu dân cư trong sạch lành mạnh,
không còn tệ nạn xã hội và đối tượng hình sự, để trở thành khu dân cư tiên
tiến xuất sắc trong cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá
ở khu dân cư”.
Về đầu trang
Ngày sáng tạo phòng,
chống AIDS Việt Nam
Ðó là chủ đề của chương trình do Ngân hàng Thế
giới khởi xướng nhằm cấp vốn ban đầu cho những ý tưởng sáng tạo và tạo cơ hội
cho các cá nhân, tổ chức có ý tưởng sáng tạo trong lĩnh vực phòng, chống AIDS.
Chương trình tập trung vào những vấn đề quan tâm của quốc gia cũng như của khu
vực và tạo cơ hội cho việc hình thành các dự án nhỏ trong nước.
Năm 2004, với sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới và Bộ Y tế, Ngày sáng tạo phòng,
chống AIDS lần đầu được tổ chức. Phát huy những kết quả đạt được từ Ngày sáng
tạo Việt Nam - 2004, Ngày sáng tạo phòng, chống AIDS Việt Nam - 2007 được Bộ Y
tế, Ngân hàng Thế giới phối hợp phát động với sự tham gia của Bộ Thông tin và
Truyền thông. Với số giải thưởng: 35 giải; số tiền tài trợ: 332.618 USD, trong
đó Ngân hàng Thế giới tài trợ 85.406 USD cùng các nhà tài trợ chính: Ðại sứ
quán Australia, Ðại sứ quán Canada, các tổ chức DANIDA, DFID...
Với chủ đề "Giữ vững cam kết, quyết tâm ngăn chặn AIDS", Ngày sáng tạo phòng,
chống AIDS Việt Nam - 2007 tập trung vào ba lĩnh vực chính: Truyền thông thay
đổi hành vi, các mô hình can thiệp có hiệu quả phòng lây nhiễm HIV/AIDS tại
cộng đồng; Chăm sóc, hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS, chống kỳ thị và phân biệt
đối xử; Huy động lãnh đạo cộng đồng, các tổ chức, đoàn thể, các thành viên
cộng đồng ủng hộ và tham gia các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS.
Theo báo cáo của Bộ Y tế, tốc độ phát triển của dịch HIV/AIDS ở Việt Nam hiện
có chậm lại, nhưng số nhiễm HIV/AIDS vẫn ở mức cao. Tính đến 29-6-2007 số
nhiễm HIV/AIDS tích lũy trong cả nước là 128.367 trường hợp, trong đó 25.219
bệnh nhân AIDS và 14.042 trường hợp tử vong do AIDS.
TS Thanh Long (Phó Cục trưởng Phòng, chống HIV/AIDS) cho biết, tiêu chí để
đánh giá một sáng kiến phải bám sát chủ đề, nội dung, yêu cầu của Ngày sáng
tạo, phải phù hợp với đường lối, chủ trương, chiến lược phòng, chống HIV/AIDS
của Việt Nam. Có tính khả thi và khả năng nhân rộng mô hình. Có tính sáng tạo
và sự khác biệt với các công trình nghiên cứu, các đề án, dự án về phòng,
chống HIV/AIDS đã và đang được nghiên cứu.
Sáng kiến phải cải thiện chất lượng cuộc sống cho người nghèo và các đối tượng
dễ bị tổn thương do HIV/AIDS. Ba phần tư số người nhiễm HIV/AIDS hiện nay đang
sống tại cộng đồng có nhu cầu được chăm sóc về y tế và xã hội. Do việc điều
trị bằng thuốc chống vi rút HIV rất tốn kém và phải tuân thủ quy định điều trị
nghiêm ngặt, cho nên việc chăm sóc y tế ở đây chủ yếu là hướng dẫn điều trị
tại nhà. Các hỗ trợ về xã hội gồm công ăn việc làm, thăm hỏi giúp đỡ vật chất
gia đình người nhiễm HIV/AIDS có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, nhất là phụ nữ
và trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS. Cho nên các sáng kiến nên hướng vào việc chăm sóc
và hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS tại nơi họ đang sinh sống; chống lại thái độ kỳ
thị và phân biệt đối xử để bảo đảm cho những người nhiễm HIV được sống hòa
nhập với cộng đồng.
Tiến sĩ Long cho biết thêm, các sáng kiến phải có tác dụng nhất định nhằm can
thiệp có hiệu quả, bảo đảm những người có nguy cơ nhiễm hoặc bị ảnh hưởng bởi
HIV/AIDS có thể tiếp cận thuận lợi các dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV tại cộng
đồng như: sử dụng bơm kim tiêm sạch, bao cao-su, tư vấn và xét nghiệm tự
nguyện.
Ngoài ra, thực hiện nhiều biện pháp hay mô hình để lôi cuốn người thân, gia
đình người nhiễm HIV/AIDS, các tổ chức xã hội, cán bộ y tế cùng tham gia chăm
sóc, hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS dưới nhiều hình thức. Ðặc biệt, các mô hình
truyền thông thay đổi hành vi phòng lây nhiễm HIV/AIDS, phải có hiệu quả tác
động trực tiếp đến đối tượng bị tổn thương do HIV/AIDS, đặc biệt là thanh niên
trẻ.
Theo Báo Nhân dân
Về đầu trang
Khánh Hoà: Nhiều hoạt
động phòng chống HIV/AIDS
Theo báo cáo của Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS
tỉnh Khánh Hòa, đến thời điểm này, toàn tỉnh có gần 2.020 người nhiễm HIV, gần
950 người đã chuyển sang bệnh AIDS, 728 người chết vì AIDS.
Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS tỉnh Khánh Hòa đã thường xuyên cung cấp thông
tin phòng chống HIV cho nhân dân, nhất là các đối tượng có nguy cơ cao; coi
trọng việc tư vấn và điều trị cho những bệnh nhân HIV/AIDS. Trung tâm Phòng
chống HIV/AIDS chú trọng các hoạt động giáo dục đồng đẳng, giúp đỡ kinh tế, hỗ
trợ vốn cho người nhiễm HIV/AIDS ổn định cuộc sống. Bác sĩ Phạm Thị Thu Hà,
Trưởng Khoa Tư vấn, chăm sóc và điều trị bệnh nhân của Trung tâm, cho biết,
Trung tâm nhận khám bệnh, xét nghiệm và tư vấn miễn phí cho bệnh nhân HIV. Mọi
người bệnh đến Trung tâm đều được tư vấn, cung cấp kiến thức cơ bản, hướng dẫn
cách sống tích cực và được giữ kín thông tin của cá nhân người bệnh. Hiện nay,
Trung tâm đang điều trị miễn phí cho gần 90 ca nhiễm HIV. Toàn bộ chi phí điều
trị này do Quỹ Toàn cầu và Quỹ Quốc gia tài trợ.
Tỉnh còn thành lập Câu lạc bộ (CLB) Sức khỏe nam giới "Muôn sắc màu" (MSM).
Sau 4 năm thành lập, câu lạc bộ này đã có 40 hội viên. Ông Nguyễn Mạnh Cường,
Chủ nhiệm CLB Muôn sắc mầu cho biết: Đối tượng của câu lạc bộ là gần 1.420
người nam có bạn tình đồng giới ở địa phương. Với mục đích trang bị các kiến
thức về an toàn sức khỏe tình dục, tránh lây nhiễm HIV cho những đối tượng MSM,
CLB hình thành các dự án, hỗ trợ và vận động các thành viên tham gia hoạt động
có hiệu quả. Các đối tượng này đã cung cấp và truyền bá thông tin cần thiết
đến cho người đồng cảnh để phòng tránh các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục,
tránh HIV/AIDS. CLB còn giúp cho cộng đồng hiểu hơn về những người nhiễm HIV
để bớt kỳ thị, xa lánh họ. Đáng chú ý là các thành viên của CLB đã vận động
được nhiều đối tượng đi kiểm tra sức khỏe, xét nghiệm HIV/AIDS và có 295 mẫu
xét nghiệm của những đối tượng MSM có kết quả HIV âm tính./.
(Theo Báo điện tử ĐCSVN)
Về đầu trang
Các tôn giáo tham gia
phòng chống tệ nạn xã hội
Gần 150 chức sắc, người
điều hành việc đạo tham dự hội nghị trao đổi kinh nghiệm về việc vận động thực
hiện các phong trào phòng chống tội phạm, ma túy, tệ nạn xã hội, HIV/AIDS, vệ
sinh an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày
29/10.
Tại hội nghị, Uỷ ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho biết thời gian tới, Ủy ban sẽ phối hợp Qũy
Nhi đồng Liên hợp quốc tại Việt Nam, Tổ chức Bắc Âu trợ giúp Việt Nam, các tổ
chức quốc tế, các tổ chức thuộc Chính phủ và phi chính phủ khác tiếp tục thực
hiện nhiều chương trình nhằm phát huy vai trò các tôn giáo tham gia phòng
chống tội phạm, ma túy, tệ nạn xã hội, bảo vệ môi trường, HIV/AIDS.
Trọng tâm của hoạt động này là nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của chức
sắc và tín đồ các tôn giáo về những hiểm họa nói trên, chia sẻ kinh nghiệm, mô
hình thực hiện hiệu quả của các tôn giáo và đạt được cam kết của các tôn giáo
trong việc hưởng ứng và tham gia tích cực vào các hoạt động trên.
Năm 2006, các chức sắc tôn giáo trong cả nước đã
ký Bản Cam kết chung thể hiện sự quan tâm, đồng thuận và khẳng định sẽ tham
gia sâu rộng hơn vào những nỗ lực chung của quốc gia trong công tác phòng
chống HIV/AIDS./.
(Theo TTXVN)
Về đầu trang
Hưởng ứng Ngày Thế giới
phòng chống HIV/AIDS (1/12): Dưới tán cây bồ đề
“Con người muốn có sự an lạc thì phải giải
quyết ngay trong cuộc sống hiện tại. Đạo Phật muốn mang lại sự an lạc cho con
người cũng phải được đem áp dụng vào cuộc sống hàng ngày chứ không thể chỉ là
sự thuyết giảng. Cũng giống như người bác sĩ phải chữa bệnh chứ không phải chỉ
bàn về phương pháp chữa bệnh” - Sư thầy Thích Thanh Huân trụ trì chùa Pháp Vân,
Hà Nội đã giãi bày như vậy khi nói về câu lạc bộ Hương Sen do chính thầy nhóm
lập ngay trong chùa Pháp Vân để chia sẻ, tư vấn, giúp đỡ những người có
HIV/AIDS mà thầy vẫn gọi là “những người có H”.
Thầy bảo, trong khi chưa phải chịu nỗi đau về thể xác thì những người có “H”
đã phải chịu nỗi đau tột cùng về tinh thần, nỗi khổ đau không thể nào đo đếm
được. Không phải chỉ là nỗi lo cho bản thân mà đau đớn hơn là nỗi lo về hậu
quả họ có thể để lại cho những người thân, cho gia đình. Vì vậy, những người
khi phát hiện mình có H thường hoảng hốt, hoang mang đến cùng cực. Và, trong
khi vẫn phải giấu những người thân thì họ lại rất cần một chỗ dựa về tinh thần
để lấy lại sự cân bằng trong tâm trí.
“Có phải thế chăng mà những người có “H” thường tìm đến cửa chùa, có thể trước
tiên là để giãi bày và sau đó là hy vọng tìm được sự giải thoát trong sự bế
tắc đến cùng cực ấy” - Thầy Thích Thanh Huân trầm ngâm như đang cảm nhận thấu
nỗi đau của chúng sinh. Với những người có “H'', điều đầu tiên là phải giải
quyết căn bệnh trong tâm, sau đó mới là tư vấn cho họ biết cách chung sống với
căn bệnh về thể xác. Cách đây mười lăm, hai mươi năm, khi ấy thế giới còn gọi
là “si đa” (SIDA) chứ chưa gọi là “ết” (AIDS) như bây giờ, lần đầu tiên nghe
nói đến căn bệnh này và sự nguy hiểm của nó, thầy cũng thấy lo cho chúng sinh.
Nhưng là người tu hành, thầy không quan tâm nhiều “vì cứ nghĩ đến là nghĩ nó
liên quan đến những tệ nạn, những điều không lành mạnh, xa lạ đối với người tu
hành”.
Nhưng trong quá trình đi thuyết pháp, quá trình đi học ở nước ngoài thầy đã
vào cả các nhà tù, các trại như những trại cải tạo, phục hồi nhân phẩm ở bên
ta để giảng đạo, tiếp xúc với những con người đang chịu hành hạ cả về thể xác
và tinh thần, thầy thấy hiện dần lên một mảng tối của xã hội và thấy cần phải
làm gì đó để cứu vớt chúng sinh. Ý nghĩ ấy càng thôi thúc thầy khi gặp những
con người đau khổ tìm đến nơi cửa Phật giãi bày tâm sự. Thầy vỗ về, an ủi,
động viên, làm chỗ dựa về tinh thần cho những người có “H” gượng dậy, nương
theo mà bước tiếp trên đường đời.
“Lúc đầu, tình thương của thầy chỉ đặt nặng lên người bị bệnh”. Nói đến đây,
thầy cầm một chén nước trên bàn đặt sang bên trái rồi nói tiếp: “Ban đầu, thầy
nghĩ cần phải cứu vớt những con người đau khổ này. Nhưng càng ngày, như cán
cân mà một bên là người bệnh và gia đình họ còn một bên là cả xã hội, càng
nghiêng về số đông”. Nói đến đây, thầy cầm lấy cả cái khay đặt sang bên phải
rồi nói tiếp: “Càng tìm hiểu, thầy càng biết đây là căn bệnh quái ác nhưng lại
dễ phòng - khó lây nếu biết cách, nếu cả cộng đồng cùng biết cảm thông, chia
sẻ. Ngược lại, nó cũng là mối đe dọa cho cả xã hội, tương lai, giống nòi nếu
người ta không hiểu biết về nó và kỳ thị, xa lánh những người có “H”.
Rồi thầy nói đại ý: Nếu bị xã hội kỳ thị, những người có “H” càng rơi vào
khủng hoảng trầm trọng. Họ có thể nảy sinh tư tưởng bất cần đời, trả thù đời
bằng cách đi gieo rắc căn bệnh thế kỷ này. Chí ít, sự kỳ thị làm cho người ta
thường ngần ngại đi xét nghiệm để có thể phát hiện sớm, lại càng không dám
công khai căn bệnh...
Chính từ suy nghĩ như thế, năm 2003, thầy hỗ trợ cho ra đời một nhóm gồm những
người có “H” lấy tên là “Vì ngày mai tươi sáng”. Từ cái nôi ở chùa Pháp Vân,
nhiều nhóm tự nguyện khác ra đời. Sau một thời gian xin được tài trợ của một
dự án, nhóm “Vì ngày mai tươi sáng” chuyển địa bàn sang Gia Lâm cho tiện sinh
hoạt, thầy Thích Thanh Huân lại cùng một số thành viên cốt cán thành lập Câu
lạc bộ “Hương Sen” đặt văn phòng tham vấn ngay trong khuôn viên chùa Pháp Vân.
Bây giờ, Câu Lạc bộ Hương Sen vẫn là nơi chia sẻ tâm tư, tư vấn nhưng hoạt
động đã được mở rộng từ những việc làm cụ thể như giúp đỡ, chăm sóc bệnh nhân
AIDS đến việc đẩy mạnh tuyên truyền về HIV/AIDS trong cộng đồng, đặc biệt là
tuyên truyền để mọi người hiểu, biết cách phòng, chống bệnh có hiệu quả và
giảm kỳ thị, phân biệt đối xử với người có HIV/AIDS.
Thầy Thích Thanh Huân tâm sự: “Nhà chùa luôn rộng cửa từ bi; nếu cả xã hội
cùng dang rộng vòng tay đón họ thì họ cũng sẽ biết sống có trách nhiệm hơn với
xã hội. Và khi ấy mới ngăn chặn được từ nguồn lây nhiễm. Trị bệnh như thế mới
là trị từ gốc”./.
(Theo TTXVN)
Về đầu trang
Các chức sắc tôn giáo
có vai trò quan trọng trong phòng chống HIV/AIDS
Đó là khẳng định tại Hội thảo "Vai trò của chức
sắc tôn giáo trong phòng chống HIV/AIDS và chống phân biệt đối xử với những
người có HIV" do Trung ương Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam phối hợp với Hội
Liên hiệp phụ nữ tỉnh Ninh Bình tổ chức tại huyện Kim Sơn (Ninh Bình), ngày
11/12. Hội thảo thu hút hơn 30 đại biểu là các vị linh mục, chánh trương, chùm
trưởng các xứ họ đạo và tăng ni các chùa trên địa bàn huyện Kim Sơn.
Các vị chức sắc tôn giáo đã thảo luận về vấn đề tuyên truyền, vận động giáo
dân nhiệt tình tham gia công tác phòng chống HIV/AIDS. Nhiều vị chức sắc như:
Linh mục xứ đạo Ân Hoà, chính xứ chính toà Phát Diệm... đã trao đổi kinh
nghiệm trong việc vận động giáo dân tham gia tuyên truyền phòng chống
HIV/AIDS, bày tỏ thái độ, thông cảm chia sẻ và giúp đỡ những người nhiễm
HIV/AIDS ở địa phương. Điều đó có ý nghĩa rất quan trọng với một huyện có đông
đồng bào theo đạo Thiên chúa như Kim Sơn, đây cũng là địa phương có số người
nhiễm HIV/AIDS nhiều nhất tỉnh với gần 500 trường hợp ở 24/27 xã, thị trấn
trong huyện./.
(Theo TTXVN)
Về đầu trang
Long An: Triển khai
tháng chiến dịch truyền thông phòng chống HIV/AIDS
Sở Y tế Long An vừa phát động triển khai tháng
Chiến dịch truyền thông nhân ngày Thế giới phòng, chống HIV/AIDS 1/12. Mục
tiêu chính của tháng chiến dịch nhằm nâng cao nhận thức toàn xã hội và các cấp
lãnh đạo trong công cuộc phòng chống đại dịch đang tiếp tục lan tràn trong
cộng đồng và lây lan trong nhóm dân cư bình thường.
Để công tác truyền thông có tác dụng sâu rộng trong cộng đồng, ngoài phân phát
tài liệu rộng rãi cho các nhóm đối tượng, tăng cường thời lượng thông tin trên
hệ thống Báo Đài tỉnh, tổ chức xe thông tin cổ động, treo băng rôn…nhiều cơ
quan đoàn thể, các đơn vị trực thuộc Sở có kế hoạch tổ chức hội thảo chuyên đề
nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ công chức về chủ đề tháng chiến dịch, Luật
Phòng, chống HIV/AIDS.
Trong tháng chiến dịch, Sở Giáo dục đào tạo phối hợp Sở Y tế tổ chức hội thi
phòng chống AIDS trong học đường cho hàng ngàn học sinh 37 trường phổ thông
trung học trong toàn tỉnh, ngành Y tế tuyến huyện tập trung tổ chức các hoạt
động giáo dục thay đổi hành vi phòng chống HIV/AIDS cho nhóm lao động phổ
thông, người nghiện ma túy và nữ tiếp viên. Riêng Đài Truyền hình Long An đã
có kế hoạch phối hợp Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS thực hiện 2 phóng sự,
phát sóng liên tục 24 ngày spot truyền hình kêu gọi mọi người không phân biệt
kỳ thị HIV/AIDS và tự nguyện đi tư vấn xét nghiệm HIV.
Ngoài ra Đài đã lên kế hoạch phát sóng trực tiếp truyền hình 2 chương trình về
Diễn đàn học sinh với chủ đề “Tuổi trẻ chung tay vì ngày mai không AIDS” và
chương trình văn nghệ kết hợp gây quỹ hỗ trợ người nhiễm HIV theo Quyết định
Chính phủ đã ban hành./.
Ngọc
Toản - Tuấn Đạt
Về đầu trang
Kinh nghiệm hoạt động phòng,
chống tệ nạn xã hội của phường Lê Hồng Phong
Không còn đối tượng hoạt động mại dâm, không
còn các điểm nóng về trật tự xã hội, số người nghiện ma tuý giảm mạnh đó là
một trong nhiều thành công lớn của phường Lê Hồng Phong, thành phố Thái Bình
trong hoạt động phòng, chống tệ nạn xã hội.
Phường Lê Hồng Phong, thành phố Thái Bình có dân cư đông đúc, với 1.876 hộ dân,
gần 100 cơ quan, xí nghiệp, toà giám mục đóng trên địa bàn. Đây cũng là đầu
mối giao thông nối liền thành phố với các huyện và tỉnh bạn; là nơi trung tâm
diễn ra các hoạt động văn hoá, lễ hội của tỉnh và thành phố… Với đặc điểm đó,
các phần tử xấu thường lợi dụng địa bàn phường để hoạt động phạm pháp như lừa
đảo, trộm cắp, buôn bán, tiêm chích ma tuý và hoạt động mại dâm. Một số khu
vực dân cư một thời phần tử xấu hoạt động và đã gắn với những cái tên như phố
“Hồng Kông” - nơi mà ma tuý được bày bán rất nhiều; phố “tiêm chích ma tuý”;
phố đầu cầu Độc Lập; phố “đèn mờ, bia ôm, cà phê ôm”. Nhiều năm trước đây, ở
các khu vực này mỗi ngày xảy ra hàng chục vụ phạm pháp hình sự, gây mất an
ninh trật tự, gây hoang mang, lo lắng trong các tầng lớp nhân dân, nhất là làm
cản trở và ảnh hưởng không tốt đến các hoạt động sản xuất - kinh doanh của
nhân dân.
Trước tình hình đó, ngày 19/10/2004, Đảng uỷ phường Lê Hồng Phong đã thành lập
Ban chỉ đạo thống nhất tập trung chỉ đạo, lãnh đạo công tác bảo vệ an ninh
trật tự, phòng chống tệ nạn xã hội, cương quyết tấn công, truy quét tội phạm.
Ban chỉ đạo của phường có các tiểu ban, các tổ chức công tác giúp việc được
hình thành ở các tổ dân phố, cụm dân cư do đồng chí Bí thư chi bộ và Trưởng
tiểu ban phòng, chống ma tuý, mại dâm, HIV/AIDS và các ban, ngành, đoàn thể
trong cụm dân cư làm uỷ viên. Ban chỉ đạo cũng tập trung xây dựng kế hoạch,
chương trình hành động; chủ động tổ chức nhiều cuộc họp với các ban, ngành,
đoàn thể tổ dân phố, cụm dân cư và bàn biện pháp tháo gỡ khó khăn, giải quyết
các bức xúc nhằm lập lại kỷ cương trên địa bàn, tạo sự ổn định để phát triển
kinh tế - văn hoá - xã hội; từng bước nâng cao chất lượng đời sống nhân dân;
tăng cường tuyên truyền bằng các hình thức như panô, áp phích, khẩu hiệu và
bằng hệ thống truyền thanh của phường. Đã có 129 khẩu hiệu và 470 lượt bài và
tin phản ánh công tác phòng, chống ma tuý, mại dâm, HIV/AIDS được thực hiện.
Nhìn tổng thể, tệ nạn xã hội ở phường Lê Hồng Phong đã giảm dần qua từng năm.
Nếu như, tháng 5 năm 2002 có 115 người nghiện ma tuý, 9 người hoạt động mại
dâm, thì tháng 5 năm 2003 con số này đã giảm xuống, tương ứng chỉ còn 90 người
và 7 người; tháng 5 năm 2004 là 70 người và 2 người; tháng 5 năm 2005 là 40
người và không còn người hoạt động mại dâm; tháng 5 năm 2006 chỉ còn 34 người
nghiện ma tuý. Tuy nhiên, do hệ quả của những năm trước, nên đầu năm 2007,
toàn phường có 39 người bị nhiễm HIV/AIDS, trong đó có 36 nam, 3 nữ và 13
người đã chết. Phân tích đối tượng nghiện ma tuý ở phường Lê Hồng Phong cho
thấy, đối tượng nghiện trong độ tuổi từ 18-35 chiếm đa số, với 70%. Hầu hết
các đối tượng này chỉ học hết trung học cơ sở, chiếm 75%; đa số đối tượng này
không có việc làm, với 90% và hình thức sử dụng ma tuý chủ yếu là tiêm chích
và hít heroin.
Số đối tượng nghiện ma tuý giảm mạnh, không còn đối tượng hoạt động mại dâm là
thành công lớn trong hoạt động phòng, chống tệ nạn xã hội của phường Lê Hồng
Phong, thành phố Thái Bình.
Từ thành công của phường Lê Hồng Phong, có thể rút ra một số bài học kinh
nghiệm sau:
Một là, huy động sức mạnh của các ngành, đoàn thể, của mọi tầng lớp
nhân dân vào công tác phòng, chống các tệ nạn xã hội. Do vậy, công tác phòng,
chống các tệ nạn xã hội đã được đảng uỷ, UBND phường tập trung lãnh đạo, chỉ
đạo và có nhiều nghị quyết, kế hoạch, chương trình hành động để huy động sức
mạnh tập thể, đề ra các biện pháp phù hợp và tạo được phong trào quần chúng
bảo vệ an ninh trật tự. Hoàn thành công tác phòng, chống các tệ nạn xã hội
được coi là một trong những tiêu chuẩn để bình xét thi đua khen thưởng đối với
các ngành, đoàn thể và phân loại đảng viên hàng năm. Để các chỉ thị, nghị
quyết của các cấp về công tác bảo vệ an ninh trật tự được triển khai và tổ
chức thực hiện có hiệu quả ở cơ sở, đảng uỷ, UBND phường Lê Hồng Phong đã phân
công trách nhiệm cho một đồng chí đảng uỷ, uỷ viên, uỷ ban phụ trách theo dõi
từng cụm dân cư, giao cho các đồng chí đảng viên theo dõi giúp đỡ các đối
tượng và nắm bắt tình hình chấp hành pháp luật của các hộ gia đình. Bằng cách
làm này, mọi diễn biến bất thường về an ninh trật tự, mọi mâu thuẫn, thắc mắc
trong quần chúng nhân dân đều được cán bộ, đảng viên nắm bắt kịp thời để tập
trung cùng cơ sở giải quyết hoặc phản ánh về đảng uỷ, UBND phường giải quyết,
ổn định tình hình ngay tại cơ sở.
Hai là, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết 09 và Chương trình quốc gia về
phòng, chống tội phạm, phòng, chống ma tuý, mại dâm của Chính phủ; các chỉ thị,
nghị quyết của cấp trên. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, đảng uỷ, UBND phường
Lê Hồng Phong đã thành lập các Ban chỉ đạo cụ thể và phân công đồng chí Phó Bí
thư đảng uỷ, Chủ tịch UBND phường trực tiếp làm Trưởng ban. Phường chỉ đạo các
ngành, đoàn thể xây dựng các chương trình hành động của ngành, đoàn thể mình.
Thành lập 6 tiểu ban ở 6 cụm dân cư; thành lập, củng cố và duy trì hoạt động
32 tổ tự quản an ninh trật tự, 36 tổ tự quản an toàn giao thông, 18 tổ phụ nữ
tự quản. Sau khi đã kiện toàn các tổ chức xã hội làm công tác an ninh, Đảng uỷ
- UBND phường Lê Hồng Phong tập trung tăng cường chỉ đạo tổ chức tuyên truyền,
giáo dục đến từng hộ gia đình và tập trung vào những gia đình có người nghiện
và hoạt động mại dâm để nhân dân nâng cao ý thức cảnh giác, tinh thần trách
nhiệm trong công tác phòng ngừa, phát hiện tố giác tội phạm và các hành vi vi
phạm pháp luật khác. Vận động nhân dân tham gia quản lý giáo dục “đến tận nhà,
rà tận ngõ, gõ tận tên” giúp đỡ người lầm lỗi tại cộng đồng dân cư xây dựng
các quy ước bảo về an ninh trật tự, chủ động nắm bắt tình hình và hoà giải các
vụ việc mâu thuẫn xảy ra.
Ba là, tập trung giải quyết kịp thời các vấn để nổi cộm, đặc biệt là
các địa bàn phức tạp, nơi nhân dân có nhiều kiến nghị. Trên cơ sở đó, Đảng uỷ,
UBND phường Lê Hồng Phong đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết, đem lại
lòng tin trong nhân dân. Các điểm nóng về trật tự xã hội trước đây như tệ nạn
buôn bán ma tuý tại tổ 21, khu phố Nguyễn Du, Phan Bội Châu; hoạt động của các
đối tượng mại dâm tại dốc cầu Bo; trộm cắp nơi công cộng tại đường Lê Quý Đôn
và chợ đường Trần Thánh Tông từng bước được giải quyết triệt để.
Phát huy cao độ vai trò của lực lượng an ninh. Công an phường đã tham mưu cho
Uỷ ban nhân dân phường tổ chức phát động phong trào như quần chúng bao vây,
cấm vận các tụ điểm phức tạp. Lực lượng an ninh cơ sở cùng quần chúng nhân dân
thành lập các chốt an ninh kiểm soát địa bàn vừa để cô lập đối tượng. Các lực
lượng an ninh kiên trì bám trụ giữ chốt không cho đối tượng hoạt động; có
những chốt hoạt động liên tục 3 - 4 tháng như: Chốt an ninh tổ 14, tổ 21. Do
hoạt động tích cực của an ninh cơ sở đã tạo điều kiện cho công an phường và
công an cấp trên bắt giữ hàng chục đối tượng có hành vi mua bán trái phép các
chất ma tuý ở các tụ điểm trên làm trong sạch địa bàn. Sau khi các đối tượng
mua bán ma tuý bị bắt giữ, lực lượng ANTT tiếp tục kiểm soát giữ vững địa bàn
không để tái phức tạp trở lại.
Đi đôi với tổ chức thành lập các chốt an ninh, các lực lượng an ninh cùng các
ngành, đoàn thể tăng cường quản lý giáo dục đối tượng tại địa bàn, đã lập 315
lượt hồ sơ đưa đối tượng vào diện quản lý tại địa bàn dân cư, giao cho đảng
viên, quần chúng tích cực theo dõi, giúp đỡ. Đã có nhiều đối tượng cải tạo
tiến bộ thành người có ích cho xã hội như anh Nguyễn Hồng Trường ở tổ 25. Do
có sự tập trung lãnh đạo chỉ đạo giải quyết tụ điểm phức tạp, những năm trước
đây, phường Lê Hồng Phong có 6 tụ điểm phức tạp về hình sự, ma tuý, mại dâm;
đến nay cả 6 tụ điểm trên đã được giải quyết, từng bước thực hiện thắng lợi
phong trào “ 5 xoá, 5 xây” do Thành uỷ, UBND Thành phố phát động, đó là: Xoá
các tụ điểm tiêm chích, buôn bán ma tuý, hoạt động mại dâm; xoá tệ nạn cờ bạc,
số đề; xoá lấn chiếm vỉa hè làm nơi sản xuất kinh doanh; xoá nhà cấp 4 ở thành
phố; xoá hộ nghèo và Xây dựng tổ dân phố, cụm dân cư không có ma tuý, mại dâm;
xây dựng ý thức chấp hành luật lệ giao thông; xây dựng nếp sống văn minh đô
thị; xây dựng trường học, trạm y tế đạt chuẩn quốc gia; xây dựng vỉa hè, đường
phố “Sáng, xanh, sạch đẹp”.
Bốn là, tập trung chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Liên tịch giữa Bộ Công
an với các ngành, đoàn thể trong công tác bảo vệ an ninh trật tự; Mặt trận tổ
quốc với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”.
Trên cơ sở đó, đảng uỷ, UBND phường Lê Hồng Phong đã gắn công tác an ninh trật
tự trong việc bình xét thi đua ở các khu dân cư, các hộ gia đình. Vì vậy, đã
góp phần không ngừng giữ vững an ninh trật tự ở cơ sở. Kết quả bình bầu phân
loại hàng năm có 96% số hộ gia đình đạt gia đình văn hoá, 85% khu dân cư đạt
khu dân cư văn hoá. Đoàn thanh niên ngoài việc đẩy mạnh phong trào “thanh niên
lập nghiệp”, còn tổ chức nhiều hoạt động như phát động đoàn viên tham gia viết
5.780 bài dự thi tìm hiểu công tác phòng, chống tội phạm do cấp trên phát động.
Tổ chức cho đoàn viên, các em học sinh tham gia các hoạt động hè, cắm trại
trung thu; thu hút được đông đảo đoàn viên tham gia phòng tránh các tệ nạn xã
hội. Hội phụ nữ với phong trào “phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tể', “xây
dựng hạnh phục gia đình”. Hội đã thành lập 18 tổ tự quản an toàn giao thông và
đưa vào hoạt động có nền nếp góp phần giữ vững trật tự giao thông đô thị -
trật tự an ninh trên địa bàn. Hội Cựu chiến binh phát huy truyền thống “Bộ đội
Cụ Hồ”, đã tích cực giúp đỡ con, em hội viên mắc nghiện đi cai nghiện ma tuý
và tích cực vận động hội viên tham gia các chốt an ninh xoá các tụ điểm phức
tạp ở khu dân cư, hàng trăm hội viên cùng tham gia. Ban quân sự phường đi đôi
với việc duy trì quân số, luyện tập sẵn sàng chiến đấu và phục vụ chiến đầu
còn tích cực tham gia cùng Công an phường thực hiện các kế hoạch, phương án
bảo vệ và tuần tra kiểm soát địa bàn các thời gian cao điểm như lễ, tết, các
ngày kỷ niệm lớn của dân tộc, hàng nghìn lượt quần chúng tự quản cơ sở cùng
tham gia.
Với những cách làm trên, công tác phòng, chống các tệ nạn xã hội của phường Lê
Hồng Phong trong những năm qua được củng cố và phát triển vững chắc. Quần
chúng nhân dân đã cung cấp nhiều nguồn tin về tội phạm có giá trị cho cơ quan
Công an bắt giữ, xử lý. Điển hình như vụ bắt các đối tượng Nguyễn Thị Lan,
Nguyễn Thị Thuý, Trần Văn Mỹ, Nguyễn Văn Thọ là những đối tượng buôn bán ma
tuý nguy hiểm, cố thủ trong các boong ke nhiều năm mới được giải quyết. Quần
chúng nhân dân đã hỗ trợ và cùng lực lượng công an bắt giữ 16 đối tượng có
lệnh truy nã, vận động 15 đối tượng ra tự thú, cảm hoá giáo dục giúp đỡ hơn
600 lượt đối tượng, đưa ra kiểm điểm trước dân 46 đối tượng; áp dụng biện pháp
giáo dục tại xã phường 315 lượt đối tượng. Quần chúng nhân dân cùng các ngành,
đoàn thể giải quyết trên 85% vụ việc xảy ra tại cơ sở.
Điểm đáng chú ý, từ phong trào quần chúng đã xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân
có thành tích xuất sắc được các cấp trên khen thưởng, là tấm gương sáng góp
phần đưa phong trào quần chúng bảo vệ an ninh trật tự ở phường Lê Hồng Phong
ngày càng phát triển vững chắc; phục vụ thiết thực cho công cuộc đổi mới phát
triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Với những kết quả, thành tích trong phong
trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc và phòng chống tệ nạn xã hội, phường Lê
Hồng Phong, thành phố Thái Bình 3 năm liên tục (2004-2006) được Bộ Công an
tặng Lá cờ đầu đơn vị thi đua xuất sắc trong phong trào quần chúng bảo vệ an
ninh Tổ quốc.
Đặng Hiếu
Về đầu trang
Nhiều sáng kiến trong công tác phòng, chống ma tuý ở thành phố Nam Định
Vận động nhân dân tham gia phòng, chống ma túy là một trong những nhiệm vụ
trọng tâm được MTTQ các cấp trên địa bàn thành phố Nam Đinh (Nam Định) thực
hiện quyết liệt thời gian qua. Bà Lương Thị Hòa, Phó Chủ tịch UBMTTQ thành phố
Nam Định đã có cuộc trao đổi với báo chí xung quanh nội dung này.
PV: Thưa bà,
phong trào Toàn dân tham gia phòng, chống tội phạm, ma túy trên địa bàn đã
được MTTQ các cấp triển khai như thế nào?
Bà Lương Thị Hòa: Với mục tiêu xây dựng thôn, tổ dân phố không có ma túy, MTTQ thành
phố đã ký kết các nghị quyết liên tịch về công tác phối hợp tuyên truyền sâu
rộng về Luật Phòng, chống ma túy và Pháp lệnh Phòng, chống HIV/AIDS, mại dâm
đến từng dòng họ, gia đình, từng thành viên trong xã hội bằng nhiều nội dung
và hình thức phong phú, phù hợp. Trong đó chú trọng việc tuyên truyền phổ biến
kiến thức, cách phòng, tránh và hướng dẫn thực hiện hành vi an toàn phòng,
chống lây nhiễm HIV/AIDS cho mọi tầng lớp nhân dân, tập trung vào những đối
tượng có nguy cơ lây nhiễm cao như thanh thiếu niên, gia đình có người đi làm
ăn xa.
MTTQ phối hợp với
báo Đại Đoàn Kết và các cơ quan thông tấn địa phương duy trì và các chuyên mục
giáo dục pháp luật đến toàn dân, phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường
và xã hội tăng cường quản lý, giáo dục học sinh, sinh viên sống lành mạnh,
không để mắc tệ nạn ma túy, lây nhiễm HIV/AIDS. Song song với phát huy vai trò
của các tổ chức thành viên, những người tiêu biểu, có uy tín trong cộng đồng,
trong dòng họ, MTTQ các cấp thường xuyên hướng dẫn các khu dân cư đưa nội dung
phòng, chống ma túy vào hương ước, quy ước, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh
thực tế để nhân dân thảo luận, cam kết và cùng nhau thực hiện, tạo thành dư
luận xã hội, nói “không” với ma túy. Chúng tôi phối hợp với chính quyền, các
ban, ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội, tổ tự quản làm tốt việc quản lý người
nhiễm HIV/AIDS tại cộng đồng, chăm sóc, điều trị tích cực đối với các đối
tượng trên thông qua mô hình tự chăm sóc tại gia đình.
* Quản lý giáo
dục, giúp người nghiện cai nghiện là một trong những biện pháp hữu hiệu để
giảm thiểu tình trạng nghiện hút trong cộng đồng. Công tác này được MTTQ quan
tâm ra sao, thưa bà?
- Với khu dân cư
chưa có tội phạm, ma túy thì chúng tôi phấn đấu giữ trong sạch địa bàn, còn
với những khu có tệ nạn ma túy, thì phấn đấu không có tụ điểm buôn bán, vận
chuyển, tiêm chích, tàng trữ, hút hít, không phát sinh người nghiện và giảm số
người nghiện bằng cai nghiện tại cộng đồng. Ban công tác Mặt trận phối hợp với
các cơ quan chức năng thường xuyên điều tra, nắm chắc số đối tượng ma túy có
mặt tại cơ sở đồng thời tổ chức cho họ tự khai báo về tình trạng nghiện hút
của mình và tự giác đăng ký hình thức cai nghiện.
Ngoài ra, MTTQ
các cấp còn vận động các gia đình cán bộ đảng viên, đoàn viên, hội viên có con
em nghiện hút phải có trách nhiệm tổ chức cho con em mình cai nghiện trước để
làm gương cho mọi đối tượng nghiện. Ban công tác Mặt trận và các tổ chức thành
viên còn tích cực tuyên truyền trong nhân dân về thái độ không kỳ thị, không
xa lánh đối với người nghiện. Mặt khác, tạo mọi điều kiện để cảm hoá, thuyết
phục và giúp người nghiện cai nghiện thành công, tổ chức dạy nghề, tạo việc
làm cho họ, đón họ về hòa nhập với cộng đồng.
Đến nay, chúng
tôi đã vận động và giúp được hơn 1.000 đối tượng cai nghiện thành công, duy
trì các tổ tự quản ngăn chặn có hiệu quả sự xâm nhập, lôi kéo của nạn ma túy
từ bên ngoài. MTTQ các cấp còn phát huy vai trò giám sát của mình đối với công
tác xử lý, giải quyết các vụ việc, đối tượng phạm pháp, xem xét đề nghị ân xá,
đặc xá, đưa các đối tượng đi cải tạo tập trung. Do đó đã có tác dụng tích cực
đến công tác phòng ngừa, quản lý, giáo dục các đối tượng ở cộng đồng dân cư.
Cũng từ các phong trào thi đua yêu nước, MTTQ các cấp đã vận động chức sắc và
tín đồ các tôn giáo tham gia phong trào với nhiều việc làm thiết thực như vận
động người nghiện cai nghiện tại cộng đồng, giáo dục và cảm hóa người lầm lỗi.
* Theo bà, đâu là
giải pháp hữu hiệu để hạn chế số người nghiện ma túy, lây nhiễm HIV/AIDS trên
địa bàn vẫn tăng lên hàng năm?
- Cơ bản là do sự
chuyển biến trong nhận thức và hành động của một bộ phận nhân dân còn hạn chế,
chưa dám đấu tranh, ngăn chặn, tố giác tệ nạn và tội phạm. Mặt khác, thái độ
kỳ thị, phân biệt đối xử nhiều khi khiến người nghiện mặc cảm, xa lánh, dấu
kín tình trạng nghiện hút của mình, dẫn đến lây lan trong cộng đồng. Một số
cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, đoàn thể còn hiểu công tác phòng, chống
tội phạm, ma túy, mại dâm... là việc của các cơ quan chức năng, nên chưa có
hành động tích cực và hiệu quả. Giúp người nghiện cai nghiện thành công đã khó,
tạo việc làm cho họ có cuộc sống ổn định càng khó hơn, không có việc làm cũng
là nguyên nhân làm phát sinh tái nghiện, phạm tội. Năm nay, chủ trương của
MTTQ là hướng mạnh các hoạt động về cơ sở, tăng cường công tác tuyên truyền
sâu rộng trong nhân dân, phối hợp chặt chẽ hơn nữa với các cơ quan, đoàn thể,
chính quyền địa phương, xây dựng thế trận liên hoàn để phòng, chống tội phạm,
ma túy, mại dâm, HIV/AIDS có hiệu quả hơn nữa.
* Xin trân trọng
cảm ơn bà!
(Theo Hoàng Lâm - Báo Đại Đoàn kết)
Về đầu trang
Thực hiện hiệu quả Luật Phòng,
chống ma túy
Ngày 21-2, tại
Hà Nội, Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS, MT, MD tổ chức hội nghị tổng kết
sáu năm thi hành Luật Phòng, chống ma túy (PCMT) và lấy ý kiến về việc sửa đổi,
bổ sung Luật PCMT.
Dự hội nghị có
các ông: Trương Vĩnh Trọng, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ; Lê
Hồng Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Công an, cùng đại diện các bộ, ngành
và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc T.Ư.
Luật PCMT có
hiệu lực thi hành từ ngày 1-6-2001 và được Chính phủ chỉ đạo triển khai quyết
liệt trong sáu năm qua. Các bộ, ngành và UBND các tỉnh, thành phố nghiêm túc
tổ chức thực hiện đồng bộ từ việc hoàn thiện ban hành các văn bản hướng dẫn
thi hành, vừa tổ chức tuyên truyền phổ biến rộng rãi đến các tầng lớp nhân dân
đồng thời chú trọng đến các hoạt động kiểm tra, đôn đốc nhằm phát hiện những
sai lệch trong quá trình thực hiện, kịp thời uốn nắn để việc thi hành Luật và
các văn bản pháp luật về PCMT đạt hiệu quả. Do có sự quan tâm chỉ đạo thường
xuyên, liên tục của cấp ủy và chính quyền các cấp, sự tham gia tích cực của
các tổ chức chính trị - xã hội với sự ủng hộ nhiệt tình của các tầng lớp nhân
dân nên Luật PCMT đã thật sự đi vào cuộc sống, tạo chuyển biến rõ nét trong
PCMT ở nhiều địa bàn dân cư và trên cả nước.
Nhờ triển khai
liên tục và đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực tuyên truyền, giáo dục, đấu tranh
chống tội phạm, truy tố, xét xử, tổ chức cai nghiện phục hồi, xóa bỏ và thay
thế cây có chất ma túy, hợp tác quốc tế, phát động quần chúng nhân dân xây
dựng địa bàn, cơ quan, doanh nghiệp, cụm dân cư trong sạch không có tệ nạn ma
túy, từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật, vì vậy công tác PCMT đã đạt
được nhiều kết quả quan trọng trên nhiều lĩnh vực, góp phần phục vụ đắc lực
nhiệm vụ bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và phát
triển kinh tế - văn hóa - xã hội của đất nước. Bên cạnh đó, vẫn còn một số tồn
tại như ý thức chấp hành các quy định của Luật trong một bộ phận nhân dân, cơ
quan Nhà nước, đoàn thể chưa nghiêm túc, khâu tổ chức thực hiện của cơ quan
hành pháp ở một số nơi còn có những yếu kém nên kết quả chưa đúng tinh thần và
yêu cầu của Luật PCMT.
Từ thực tiễn
cuộc sống và diễn biến phát triển của thực tế đặt ra cần phải nghiên cứu, bổ
sung, sửa đổi một số điều của Luật PCMT. Các đại biểu tham dự hội nghị tập
trung thảo luận về những vấn đề, tồn tại, vướng mắc và khó khăn qua sáu năm
thi hành Luật PCMT và tham gia ý kiến về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật PCMT.
(Theo Báo ND)
Về đầu trang
Quảng Trị với công tác
phòng, chống HIV/AISD: Thực trạng và giải pháp
Tỉnh Quảng Trị, nằm trên tuyến Hành lang kinh
tế Đông – Tây, gồm 10 tỉnh của 3 nước: Mianma, Thái Lan, Lào và 3 tỉnh của
nước ta; cũng là tỉnh “đầu cầu” về phía Việt Nam bắt đầu từ cửa khẩu quốc tế
Lao Bảo nối với 2 thành phố lớn Thừa Thiên-Huế và Đà Nẵng.
Sau khi cầu Hữu Nghị 2 nối Mục-đa-hán và savannakhet được hoàn thành và đưa
vào sử dụng đã tạo ra sự giao thương giữa các nước, các tỉnh, thành phố trên
tuyến Hành lang, trong đó có Quảng Trị. Ngoài ra, tỉnh Quảng Trị về phía Tây
có đường Hồ Chí Minh; phía đông có các bãi biển đẹp, một số bãi biển còn hoang
sơ ẩn chứa bao điều huyền bí. Đặc biệt, Quảng Trị có đường quốc lộ 1 A, đường
sắt chạy dọc địa hình, được coi là tâm điểm của “Con đường di sản miền Trung”,
nối Phong Nha “Nam thiên nhất động” với Cố đô Huế, thành phố Đà Nẵng và Phố cổ
Hội An.
Với những lợi thế nói trên, một mặt Quảng Trị có cơ hội, điều kiện “vàng” để
phát triển, nhất là trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, du lịch. Nhưng mặt
khác, Quảng Trị cũng phải đối mặt với tệ nạn xã hội, trong đó, sẽ có nguy cơ
tiềm ẩn lây nhiễm HIV/AIDS.
Trước năm 1994, Quảng Trị là một tỉnh được coi là “sạch AIDS”, vậy mà từ năm
1994 đến cuối tháng 8/2007, tổng số người nhiễm HIV/AIDS của Quảng Trị đã lên
đến 797, trong đó, người Quảng Trị có 100, số còn lại là trại viên của cơ sở
giáo dục Hoàn Cát. Trong số 100 người Quảng Trị đã có 86 người chuyển sang
AIDS và 19 người đã tử vong. So với cả nước thì tuy con số không lớn, nhưng
phải thấy rằng: Quảng Trị về cơ bản vẫn là tỉnh thuần nông; kinh tế chậm phát
triển, số lượng các trung tâm công nghiệp thương mại, dịch vụ còn khiêm tốn;
vậy mà số trường hợp nhiễm HIV lại năm sau cao hơn năm trước, tốc độ tăng
nhiễm có năm đột biến và địa bàn lây nhiễm ngày càng mở rộng.Đến nay, trừ mới
thành lập còn 9/10 huyện thị, hơn ¼ số xã, phường, thị trấn trên địa bàn có
người nhiễm HIV/ AIDS.Điều đáng quan tâm, đối tượng lây nhiễm độ tuổi còn rất
trẻ (từ 20-29 tuổi) và hầu như có mặt ở tất cả các nghành nghề. Rất nhiều
người trong số đó là nông dân, kinh tế còn khó khăn, tranh thủ lúc nông nhàn
đến các trung tâm kinh tế lớn trong nước và các tỉnh biên giới tìm thêm việc
làm để kiếm sống. Trong môi trường mới, có người có lúc không làm chủ bản thân
đã bị nhiễm bệnh. Khi trở về với gia đình , tuy đã mang mầm bệnh nhưng có thể
họ không hay biết, hoặc muốn dấu vợ con nên rất khó tiếp cận, tư vấn. Bên cạnh
đó, một số vùng đồng bào dân tộc Vân Kiều tập quán đi “sim” bị biến tướng dẫn
đến sự lây nhiễm của căn bệnh quái ác này. Ngoài ra, trong gần 2 năm lại đây,
từ 1 tỉnh trắng về ma tuý thì nay số đối tượng sử dụng ma tuý tại Quảng Trị
cũng có dấu hiệu gia tăng , làm cho công tác phòng , chống HIV/ AIDS đứng
trước những thách thức mới.
Trước tình hình đó, quán triệt Chỉ thị 54-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng,
Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Quảng Trị đã ban hành Chỉ thị 05- CT/TU, nhằm tăng cường
sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng đối với công tác phòng, chống HIV/AIDS. Với
quan điểm coi công tác phòng chống HIV/AIDS vừa cấp bách, vừa lâu dài, các cấp
uỷ Đảng, Chính quyền đã tập trung chỉ đạo công tác phòng chống HIV/AIDS một
cách mạnh mẽ và quyết liệt.
Trước hết, tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức và sự hiểu
biết trong nhân dân về chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phòng
chống HIV/AIDS.Huy động sự phối kết hợp giữa chính quyền địa phương và các ban
nghành,đoàn thể các cấp trong việc lập kế hoạch và tổ chức các hoạt động
truyền thông phòng chống HIV/AIDS. Kết hợp chặt chẽ các nhiệm vụ phòng chống
AIDS với phòng chống tệ nạn xã hội( nghiện hút, tiêm chích ma tuý, mại dâm…).
Thực hiện đồng bộ các biện pháp như: giáo dục , hành chính, tổ chức và cả
chuyên môn nghiệp vụ. Lồng ghép mạnh hơn nữa, chặt chẽ hơn nữa các hoạt động
phòng chống HIV/ AIDS với đẩy mạnh việc thực hiện quy chế dân chủ ở xã, phường,
thị trấn, xây dựng làng văn hoá, gia đình văn hoá, xây dựng đời sống mới ở khu
dân cư, phát triển kinh tế xã hội, tích cực xoá đói giảm nghèo. Chú trọng công
tác nhân điển hình tiên tiến về các địa phương , đơn vị thực hiện tốt việc
phòng chống HIV/AIDS. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, khắc phục các
hoạt động chồng chéo, kém hiệu qủa. Các địa phương, đơn vị trên cơ sở các giải
pháp chung, đã có giải pháp phù hợp với từng địa phương, đơn vị. Kiện toàn tổ
chức bộ máy, nâng cao năng lực cán bộ làm công tác phòng chống HIV/AIDS từ
tỉnh đến cơ sở. Mở rộng các dịch vụ tư vấn, phòng chống, chăm sóc người bị
nhiễm.Nhanh chóng xây dựng và hình thành mạng lưới “ tình nguyện viên cộng
đồng” các nhóm “đồng đẳng”, nhóm “ bạn giúp bạn”vv… để hỗ trợ thêm trong công
tác tuyên truyền, chăm sóc bệnh nhân, tư vấn và giúp làm một số việc gia đình.
Sở y tế xây dựng kế hoạch tổng thể, dài hơi về công tác phòng chống HIV/AIDS
thích hợp với quá trình hội nhập, mở cửa, trên một địa bàn có nhiều lợi thế về
phát triển kinh tế trên lĩnh vực thương mại và du lịch.Đồng thời, đẩy mạnh
công tác xã hội hoá chăm sóc sức khoẻ nhân dân nói chung, phòng chống HIV/AIDS
nói riêng.Huy động sự đóng góp của toàn xã hội, tăng mức đầu tư của Nhà nước,
tranh thủ tối đa các nguồn lực, nhất là nguồn viện trợ của các tổ chức quốc tế
cho nhiệm vụ phòng chống HIV/AIDS.
Quán triệt quan điểm “coi phòng chống HIV/AIDS là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn
dân, của cả cộng đồng”, “ thực hiện phương châm phòng là chính”. “Chống kỳ thị
phân biệt đối xử với những người nhiễm HIV/ AIDS”, “Phòng chống HIV/AIDS gắn
chặt với việc phòng chống tệ nạn mại dâm và nghiện chích ma tuý”, với những
giải pháp nói trên, Quảng Trị quyết tâm đẩy lùi căn bệnh HIV/AIDS, để phát
triển nhanh và bền vững.
(Theo Báo điện Tử Đcsvn)
Về đầu trang
Thí điểm mô hình dòng
họ tham gia phòng chống tệ nạn xã hội
Sáng nay 11/3 tại Hà nội, Cục phòng chống tệ
nạn xã hội, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đã tổ chức buổi toạ đàm báo chí
để thông báo kết quả của công tác phòng chống mại dâm và cai nghiện phục hồi
trong năm 2007 và đề ra một số phương hướng và nhiệm vụ trong năm 2008.
Tại buổi toạ đàm, Phó Cục trưởng Cục phòng chống tệ nạn xã hội, Bộ Lao động -
Thương binh - Xã hội Lê Đức Hiền đã nêu một số kết quả đạt được của công tác
phòng chống ma tuý và cai nghiện phục hồi trong năm 2007. Đến cuối tháng
12/2007, cả nước có 134.157 người cai nghiện có hồ sơ quản lý và 62.565 lượt
người đã được hỗ trợ cai nghiện, trong đó 25.874 người được hỗ trợ vốn và tạo
việc làm sau cai. Ngoài ra, các tỉnh và thành phố trong cả nước đã chữa trị
cho 5.104 đối tượng là gái mại dâm và tạo việc làm cho 3.714 đối tượng. Nhiều
địa phương số gái mại dâm đưa vào trung tâm giảm mạnh như thành phố Hồ Chí
Minh, Khánh Hoà, Đồng Nai, Cần Thơ, Bà Rịa-Vũng Tàu, Tiền Giang và An Giang…
Tuy nhiên công tác phòng chống mại dâm và cai nghiện phục hồi vẫn còn những
tồn tại và khó khăn nhất định. Mại dâm nơi công cộng xảy ra ở nhiều địa phương
mặc dù đã được các cơ quan chức năng xoá bỏ nhưng lại nhanh chóng tái diễn,
nhiều cơ sở hoạt động mại dâm trá hình đặc biệt là các vũ trường, khách sạn,
nhà nghỉ và mại dâm khu vực biên giới ngày càng gia tăng. Công tác kiểm tra,
thanh tra các cơ sở kinh doanh dịch vụ này tuy đã được tăng cường nhưng hình
thức xử phạt chưa cao.
Công tác cai nghiện-phục hồi ở một số địa phương còn mang tính hình thức,
phong trào. Công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động đối tượng đăng ký đi cai
nghiện chưa thực sự đi vào chiều sâu. Việc phối kết hợp của các ngành, đoàn
thể đôi khi còn thiếu đồng bộ nên số đối tượng được cai nghiện chưa nhiều. Hơn
nữa cơ sở vật chất của một số trung tâm cai nghiện còn chưa đáp ứng đủ yêu cầu
của quá trình cai nghiện và tổ chức các hoạt động dạy văn hoá, dạy nghề và tổ
chức lao động sản xuất cho học viên trong thời gian chữa trị và cai nghiện tại
trung tâm.
Phó Cục trưởng Lê Đức Hiền cũng đưa ra một số chỉ tiêu cần phải đạt được trong
năm 2008: phấn đấu giảm 80% số tụ điểm mại dâm ở nơi công cộng và không phát
sinh tụ điểm mới; Đấu tranh triệt phá, xử lý 100% số vụ việc, đường dây hoạt
động mại dâm bị phát hiện; Giảm 80% số cơ sở kinh doanh dịch vụ như khách sạn,
nhà hàng, nhà nghỉ, vũ trường…và các hoạt động mại dâm trá hình dưới mọi hình
thức; Ngăn chặn, giảm đối tượng tham gia tham gia hoạt động mại dâm, nhất là
trẻ em, người chưa thành niên, xử lý nghiêm minh 100% đối tượng vị phạm bị
phát hiện; Chữa trị, giáo dục, dạy nghề hỗ trợ tái hoà nhập cộng đồng cho 70%
số người bán dâm có hồ sơ quản lý và giảm 50% tỷ lệ tái phạm; Giữ vững số xã,
phường, thị trấn hiện không có tệ nạn mại dâm và xây dựng mới ít nhất 10% xã,
phường, thị trấn không có tệ nạn mại dâm.
Để đạt được các mục tiêu trên, Cục phòng chống tệ nạn xã hội đã đưa ra một số
giải pháp, như sửa đổi, bổ sung và điều chỉnh một số văn bản pháp luật để đáp
ứng yêu cầu thực tế của công tác cai nghiện phục hồi trong giai đoạn phát
triển mới của đất nước, trọng tâm là Luật Phòng chống ma tuý; Đánh giá tổng
kết việc triển khai thực hiện Nghị quyết 16/2003/QH của Quốc Hội về thí điểm
“Tổ chức quản lý, dạy nghề và giải quyết việc làm cho người sau cai tại thành
phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh, thành khác trực thuộc Trung ương”; Đánh giá,
tổng kết và nhân rộng mô một số mô hình cai nghiện có hiệu quả ở một số địa
phương;
Ngoài ra cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục nhằm phát động phong trào
toàn dân phát hiện người nghiện, vận động người nghiện và gia đình họ tự khai
báo và nhận hình thức cai nghiện; Nâng cao năng lực cơ sở vật chất, trang
thiết bị của các trung tâm cai nghiện; Tăng cường chỉ đạo các hoạt động giúp
đỡ, hỗ trợ, quản lý giám sát người sau cai, giải quyết tốt các vấn đề xã hội
sau cai để họ có điều kiện thuận lợi tái hoà nhập cộng đồng; Tiếp tục xã hội
hoá và đa dạng hoá các hình thức, mô hình cai nghiện phục hồi để động viên,
lôi cuốn toàn xã hội tham gia tích cực hoạt động cai nghiện phục hồi; Và tổng
kết, đánh giá việc thành lập và hoạt động của đội hoạt động tình nguyện cấp xã.
Hiện nay 24/64 tỉnh thành có đội tình nguyện tham gia phòng chống mại dâm và
cai nghiện.
Phó Cục trưởng cũng nhấn mạnh đến vai trò của cộng đồng trong phòng chống mại
dâm và cai nghiên phục hồi. Sắp tới Cục sẽ triển khai thí điểm mô hình dòng họ
phòng chống tệ nạn xã hội, trong đó trưởng họ sẽ có trách nhiệm răn dạy và
khuyên nhủ con em trong dòng họ mình tránh xa cạm bẫy ma tuý và mại dâm.
(Theo Báo ĐTĐCSVN)
Về đầu trang
|