|
|
 |
|
|
|
|
|
 |
|
|
 |
|
|

|
|
Sự kiện
TÌNH HÌNH KINH TẾ -
XÃ HỘI NĂM 2011
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO NĂM 2012
NGUYỄN LANG*
Cần nhìn lại tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2011 với tinh
thần “ôn cố, tri tân”, làm rõ những tồn tại vướng mắc đang cản trở
quá trình phát triển của chúng ta để đề xuất những giải pháp có hiệu
quả và khả thi nhằm vượt qua những trở lực đó. Tư duy theo chiều
hướng đó thể hiện tinh thần cách mạng tiến công nhằm đưa nền kinh tế
- xã hội nước ta phát triển một cách bền vững chứ không phải là để
hạ thấp thành quả đã đạt được, được nhân dân trong nước cũng như dư
luận thế giới xác nhận.
I. Tình hình kinh tế - xã hội năm 2011 và nhiệm vụ của năm 2012
Báo cáo của Chính phủ tại kỳ họp thứ 2 của Quốc hội khóa XIII, cũng
như tại phiên họp thường kỳ của Chính phủ tại tháng 11-2011 đã chỉ
rõ những thành tựu, khó khăn tồn tại và phương hướng nhiệm vụ của
năm 2012. Đồng thời, tại kỳ họp này, Quốc hội cũng đã thông qua kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2012 và năm 2011 - 2015. Nội
dung của Nghị quyết Đại hội XI cũng được thể hiện cụ thể hơn qua Kết
luận 02/KL-TƯ của Bộ Chính trị và nội dung Hội nghị Trung ương 3. Từ
đó, có thể tóm tắt một số điểm chính sau đây:
1. Một số nét về tình hình chung
Trên phạm vi thế giới, tình hình không ổn định diễn ra trên nhiều
mặt.
Ở phạm vi trong nước có một số nét nổi bật. Ngay từ đầu năm đã xuất
hiện tình hình tái lạm phát nên ngay từ 24-2-2011, Chính phủ đã ban
hành Nghị quyết 11/NQ-CP để kiềm chế lạm phát. Mãi đến quý IV, tình
hình mới bước đầu được cải thiện, nhưng nhìn chung, lạm phát của năm
2011 vẫn có thể ở mức khoảng 18%. Đại hội XI của Đảng đã thành công
tốt đẹp, qua bản kiểm điểm của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X
trước Đại hội XI, nổi lên tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật” để thấy
rõ những trở lực phát sinh ngay từ nội tại của nền kinh tế - xã hội
nước ta, để có giải pháp khắc phục. Quá trình này được thể hiện ngay
từ Kết luận 02/KL-TƯ (15-3-2011) của Bộ Chính trị về tình hình kinh
tế - xã hội, trong đó có xác định chủ trương: “Trong năm 2011 và một
vài năm đầu của kế hoạch 5 năm 2011 - 2015 không quá câu thúc bởi
mục tiêu đạt tốc độ tăng trưởng GDP năm 2011 cao hơn năm 2010 để
tránh tạo ra lạm phát cao, tạo tiền đề vững chắc cho tăng trưởng cao
hơn ở những năm cuối của kế hoạch 5 năm”. Từ đó, Kết luận đề ra 9
nhóm giải pháp và nhóm giải pháp về tài chính và đầu tư có xác định
nhiệm vụ “kiên quyết khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, kéo dài
thời gian hoàn thành công trình như lâu nay...”. Tiếp đó là kết quả
của Hội nghị Trung ương 3, dù mới được thể hiện qua bài bế mạc Hội
nghị do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đọc và được công bố toàn văn
trêân các phương tiện thông tin đại chúng, cũng được dư luận quan
tâm và hoan nghênh. Quốc hội khóa XIII và các thành viên mới của
Chính phủ cũng đã tiếp tục thể hiện tinh thần nhìn thẳng vào sự thật,
đấu tranh trên nhiều lĩnh vực thể hiện chủ yếu qua một số chủ trương
của các Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải, Bộ Tài chính,... yêu cầu
bảo đảm minh bạch và công khai tình hình tài chính của EVN và Tổng
công ty Xăng dầu Việt Nam, tại buổi chất vấn và trả lời chất vấn tại
kỳ họp lần thứ 2 của Quốc hội... Vấn đề Biển Đông cũng đã được Thủ
tướng Chính phủ trả lời rõ ràng khi trả lời chất vấn tại Quốc hội,
nhất là đối với vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa. Đây là một khẳng định minh bạch, rõ ràng
không chỉ đối với nội bộ nhân dân Việt Nam mà cả đối với sự quan tâm
của thế giới.
2. Một số thành quả và những tồn tại, thách thức chủ yếu trong năm
2011
Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2012 của Quốc
hội có đề cập đến tình hình kinh tế - xã hội năm 2011 như sau:
“... Trong nước, thiên tai, dịch bệnh cùng với những khó khăn, hạn
chế, yếu kém tích tụ từ nhiều năm qua đã làm gia tăng biến động về
kinh tế vĩ mô, tác động đến sản xuất và đời sống người dân. Với sự
nỗ lực, phấn đấu vượt qua khó khăn, nền kinh tế nước ta vẫn duy trì
được tốc độ tăng trưởng khoảng 6%, các cân đối vĩ mô đã chuyển biến
theo hướng tích cực. Chính trị ổn định, quốc phòng, an ninh trật tự,
an toàn xã hội được giữ vững; quan hệ đối ngoại tiếp tục được tăng
cường. Các vấn đề biên giới, lãnh thổ trên đất liền và hải đảo được
giải quyết một cách thỏa đáng, phù hợp luật pháp quốc tế. Tuy nhiên,
nền kinh tế nước ta vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức, lạm phát ở
mức cao; mặt trái của các giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh
tế vĩ mô... đã ảnh hưởng làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế. Đời
sống của người dân, nhất là người nghèo, người lao động có thu nhập
thấp còn nhiều khó khăn. Lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y tế, văn hóa,
thể thao còn nhiều mặt bất cập. Các vấn đề xã hội như tội phạm, tai
nạn giao thông, ô nhiễm môi trường vẫn gây bức xúc trong nhân dân”.
3. Những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu của năm 2012
Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm
2012 đã thể hiện một cách tổng quát và vắn tắt nội dung này. Cụ thể
là:
- Về mục tiêu tổng quát. Nghị quyết đã xác định “Ưu tiên kiềm chế
lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý
gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, nâng
cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; bảo đảm phúc lợi xã hội,
an sinh xã hội và cải thiện đời sống nhân dân; giữ vững ổn định
chính trị, củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an
toàn xã hội; nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc
tế”. Trên cơ sở đó, xác định chỉ tiêu GDP trong năm 2012 tăng khoảng
6 - 6,5% (Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội 2011 - 2015 đã xác định chỉ tiêu tăng GDP bình quân 5 năm là
khoảng 6,5 - 7%). Như vậy, so với chỉ tiêu về tốc độ tăng trưởng
bình quân 5 năm 2011 - 2015 là 7 - 7,5% của Đại hội XI thì việc xác
định chỉ tiêu tăng GDP như Nghị quyết của Quốc hội đã quán triệt
quan điểm “phát triển bền vững”, không lệ thuộc bởi quan điểm phát
triển nhanh là quan điểm đã từng chi phối sự phát triển của những
năm qua, và là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến lạm phát.
- Về nhiệm vụ, giải pháp chính. Nghị quyết đã xác định 9 nội dung:
(1) Giao Chính phủ khẩn trương hoàn thành đề án tổng thể tái cơ cấu
nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao
chất lượng... (2) Bảo đảm sự phối hợp đồng bộ của các cơ quan quản
lý nhà nước, sự chấp hành và tổ chức, triển khai và thực hiện nghiêm
túc của các cấp chính quyền trong thực hiện mục tiêu ưu tiên hàng
đầu là kiềm chế lạm phát... (3) Tiếp tục đẩy mạnh phát triển công
nghiệp phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu, nhất là các ngành
dịch vụ có giá trị gia tăng, các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh và
có khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu... (4) Triển khai thực
hiện hiệu quả 3 đột phá chiến lược, năm 2012 tập trung tổng kết
thiết thực việc thi hành và xây dựng các nội dung sửa đổi, bổ sung
Hiến pháp năm 1992 làm nền tảng cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ
thống pháp luật đồng bộ, ổn định, minh bạch... (5) Tiếp tục thực
hiện tốt chính sách an sinh xã hội, triển khai hiệu quả chương trình
giảm nghèo nhanh, bền vững, nhất là ở các vùng bị thiên tai, dịch
bệnh, vùng kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn... (6)
Tăng cường cơ chế, chính sách, biện pháp trồng, bảo vệ rừng... (7)
Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động điều tra, truy tố, xét xử,
thi hành án... (8) Tăng cường củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh
trong các khu vực phòng thủ địa phương, nhất là các khu vực trọng
điểm, biên giới, hải đảo; kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng,
an ninh trong chiến lược quy hoạch, kế hoạch và từng dự án đầu tư
phát triển;... (9) Tiếp tục mở rộng và xử lý hài hòa quan hệ đối
ngoại, đưa quan hệ với các đối tác, nhất là các nước láng giềng, khu
vực, các nước lớn và đối tác tiềm năng, bạn bè truyền thống, đi vào
chiều sâu, ổn định và bền vững hơn, tạo môi trường hòa bình để phát
triển và bảo vệ đất nước...
II. Một số gợi ý để bảo đảm tổ chức triển khai nhiệm vụ phát triển
kinh tế - xã hội của năm 2012 một cách có hiệu quả cao
1. Một số nhận xét ban đầu.
Từ thực trạng nền kinh tế - xã hội năm 2011 và nhiệm vụ phát triển
kinh tế - xã hội năm 2012, có mấy điểm chủ yếu cần được xem xét kỹ
hơn vì liên quan đến việc tổ chức thực hiện một cách có hiệu lực và
hiệu quả những giải pháp cần được triển khai để thực hiện nhiệm vụ
trước mắt của năm 2012, cũng như nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm 2011 -
2015 nói riêng, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội XI nói chung. Đó là:
- Những khó khăn, hạn chế, yếu kém đã tích tụ từ nhiều năm qua,
nhưng vẫn chưa được khắc phục. Từ đó, một vấn đề chủ yếu được đề ra
là cần làm rõ những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực trạng đó để có
giải pháp thích hợp.
- Nhiệm vụ tăng hiệu quả và tăng sức cạnh tranh đã được Hội nghị
Trung ương 4 khóa VIII xác định từ năm 1997, nhưng đến nay lại để
xảy ra tình trạng giảm sút thể hiện qua việc hệ số ICOR đã liên tục
tăng cao. Do đó, đây là một yếu kém đã tích tụ từ lâu, cần có giải
pháp có hiệu lực và hiệu quả để khắc phục.
- Việc giảm tốc độ tăng trưởng là một chủ trương chuyển từ quan điểm
tăng trưởng nhanh sang quan điểm tăng trưởng bền vững. Vì thế nên
việc giảm tốc độ tăng trưởng, tính theo chỉ tiêu GDP, còn xuất phát
từ sự chủ động trong công tác điều hành, quản lý vĩ mô chứ không
phải chỉ vì nguyên nhân đã ghi trong Nghị quyết của Quốc hội, như đã
trích dẫn ở trên. Việc điều chỉnh quan điểm tăng trưởng thể hiện
tính chủ động của chúng ta trong tổ chức triển khai Nghị quyết Đại
hội XI cho phù hợp với đặc điểm tình hình. Đại hội XI đã xác định
quan điểm “... phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến
lược”. Trên cơ sở quán triệt và vận dụng quan điểm đó, Bộ Chính trị
đã xác định chủ trương không quá câu thúc bởi mục tiêu tốc độ tăng
trưởng GDP năm sau phải cao hơn năm trước. Chính vì sự điều chỉnh
quan điểm về tăng trưởng nên dẫn đến nhiệm vụ phải cấu trúc lại nền
kinh tế nói chung cũng như cấu trúc lại một số lĩnh vực cụ thể.
2. Một số gợi ý cụ thể.
Một là, giải pháp tăng hiệu quả kinh tế. Đã có quan điểm sai lầm khi
xác định chế độ sở hữu toàn dân là nguyên nhân dẫn đến thành phần
kinh tế nhà nước kinh doanh kém hiệu quả. Thực tế khách quan cho
thấy các doanh nghiệp tư nhân, các tập đoàn kinh tế tư bản chủ nghĩa
cũng kinh doanh kém hiệu quả và đi vào con đường thua lỗ, phá sản,
đòi hỏi Nhà nước tư bản chủ nghĩa phải có giải pháp cứu trợ. Cuộc
khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu vừa qua đã chứng
minh thực trạng đó. Từ đó, có thể khẳng định là nguyên nhân dẫn đến
hiệu quả kinh tế phụ thuộc vào chất lượng công tác quản lý, điều
hành quá trình sản xuất kinh doanh. Nói cách khác, hiệu quả kinh tế
cao hay thấp phụ thuộc vào đội ngũ cán bộ tham gia vào quá trình
hoạch định và tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách phát triển
kinh tế. Do đó, định hướng tăng hiệu quả cần tập trung vào mấy nội
dung chủ yếu sau:
- Cấu trúc lại chính sách thích hợp trong việc đánh giá, tuyển dụng
và giám sát đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp, nhất là các CEO.
Đồng thời, cũng cần nghiêm túc và khẩn trương thực hiện Nghị quyết
của Hội nghị Trung ương 2, khóa VIII về nhiệm vụ đào tạo, đào tạo
lại và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý các cấp,
các ngành. Sự kiện Vinashin cho thấy là trong lĩnh vực này, chúng ta
có khuyết điểm.
- Có hệ thống giải pháp có hiệu lực để đưa chi phí sản xuất về phù
hợp với hao phí lao động xã hội cần thiết. Qua đó, vừa loại bỏ những
chi phí không cần thiết, vừa có giải pháp tiết kiệm, hạ thấp chi phí
lao động xã hội cần thiết. Cần thấy chi phí xử lý chất thải để không
gây ô nhiễm môi trường, chi phí nâng cao chất lượng và phẩm chất đội
ngũ cán bộ quản lý và công nhân viên,... đều là những chi phí lao
động xã hội cần thiết và cần phải được đưa vào giá thành sản phẩm,
dịch vụ.
Hai là, giải pháp tăng sức cạnh tranh. Trước hết cần nhận thức là
khi tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế, thì do phải xóa bỏ hàng
rào bảo hộ sản xuất của từng nước, đối tượng cạnh tranh đã chuyển từ
cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước thành cạnh tranh giữa
các nền kinh tế. Vì các nước tham gia hội nhập kinh tế có trình độ
phát triển không đồng đều nên khi xóa bỏ hàng rào bảo hộ sản xuất
thì các nước có nền kinh tế kém phát triển có nguy cơ lâm vào tình
trạng “cá bé bị cá lớn nuốt”. Do đó, hình thành cơ chế dành cho các
nước mà nền kinh tế có trình độ kém phát triển có một thời hạn ưu
tiên để điều chỉnh nền kinh tế của mình, theo hướng tăng hiệu quả và
tăng sức cạnh tranh để có thể “cạnh tranh bình đẳng” với các nước có
nền kinh tế phát triển hơn. Xét theo khía cạnh đó thì nhiệm vụ thu
hẹp khoảng cách phát triển kinh tế của nước ta so với các nước khác
là phải vươn lên để có thể cạnh tranh bình đẳng chứ không phải vươn
lên thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển theo chỉ tiêu GDP. Để
vươn lên cạnh tranh bình đẳng với các nước khác, cần thực hiện một
số định hướng chủ yếu sau:
- Vận dụng kinh nghiệm truyền thống của dân tộc là phát huy sức
mạnh đoàn kết toàn dân tộc từ mặt trận đấu tranh vũ trang sang mặt
trận kinh tế. Do đó, cần tổ chức liên kết các doanh nghiệp Việt Nam
thuộc các thành phần kinh tế để tạo sức mạnh tổng hợp chứ không phải
là tổ chức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Việt Nam với nhau để cho
doanh nghiệp nước ngoài “tọa sơn quan hổ đấu” mà hưởng lợi.
- Tổ chức tiến hành cuộc đấu tranh chống nền kinh tế ngầm đang phát
triển trên các lĩnh vực khác nhau (như tín dụng đen, thị trường
ngoại hối đen, buôn lậu, hàng giả,...) thể hiện mặt trái của nền
kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Kinh nghiệm thế giới cho thấy
nền kinh tế ngầm này đã thực hiện cạnh tranh với nền kinh tế công
khai, và trong thực tế, chiếm ưu thế vì có sự liên kết giữa thế giới
ngầm với một bộ phận của chính giới, tạo thành “các nhóm lợi ích”.
Do đó, xuất hiện tình trạng cạnh tranh không bình đẳng giữa nền kinh
tế ngầm với nền kinh tế công khai và lợi thế nghiêng về phía nền
kinh tế ngầm.
Ba là, cấu trúc lại nền kinh tế. Trong thực tế, đã có nhiều định
hướng cụ thể để xác định nội dung của công tác này. Về đại thể, trên
cơ sở quán triệt việc điều chỉnh quan điểm phát triển, từ phát triển
nhanh sang phát triển bền vững, cần xác định mục tiêu của cấu trúc
lại nền kinh tế là: Tăng hiệu quả và tăng sức cạnh tranh để thu hẹp
khoảng cách phát triển so với các nước khác; Xây dựng và bảo vệ nền
kinh tế độc lập tự chủ trong quá trình thực hiện hội nhập kinh tế
quốc tế; Xuất phát từ mục tiêu đó, đề nghị xem xét:
- Lượng hóa nhiệm vụ tăng hiệu quả và tăng sức cạnh tranh bằng những
chỉ tiêu cụ thể, như: xác định chỉ tiêu phải giảm hệ số ICOR xuống
còn X % so với năm trước, tăng sức cạnh tranh của một số mặt hàng
bằng chỉ tiêu giữ và mở rộng thị phần lên X %.
- Phát triển các ngành công nghiệp phù trợ để giảm sự phụ thuộc vào
việc phải nhập các mặt hàng về tư liệu sản xuất, dẫn đến nhập siêu.
- Tập trung phát triển một số ngành kinh tế trọng điểm như thực hiện
CNH, HĐH nông nghiệp, phát triển các ngành công nghiệp phù trợ,...
đồng thời giảm bớt sự tập trung đầu tư vào CNH, HĐH và đô thị hóa
nông thôn,...
Bốn là, cấu trúc lại cơ cấu đầu tư. Cần cấu trúc lại toàn bộ cơ cấu
đầu tư với trọng điểm là cơ cấu đầu tư công vì có quan hệ biện chứng
với nhau. Trong thực tế, đã có nhiều ý kiến về nội dung của công tác
này nhưng cần làm rõ mục đích của cấu trúc lại cơ cấu đầu tư là phải
khắc phục tình trạng đầu tư phân tán, dàn trải, kém hiệu quả không
chỉ của đầu tư công mà còn của cả đầu tư của các thành phần kinh tế
khác. Trên cơ sở đó, đề nghị xem xét mấy điểm chính sau đây:
- Cơ cấu đầu tư vừa qua được hình thành để phục vụ các quy hoạch đã
được phê duyệt theo quan điểm phát triển nhanh nên việc cấu trúc lại
cơ cấu đầu tư phải đi từ rà soát, điều chỉnh các quy hoạch đã được
phê duyệt nhằm thực hiện quy định tại Hội nghị Trung ương 3 là:
“Khẩn trương xác định các tiêu chí và thứ tự ưu tiên làm căn cứ để
phê duyệt hay từ chối hoặc cắt giảm các dự án đầu tư, nhất là đầu tư
công”. Chẳng hạn như quy hoạch VII, ngành điện năng phải giảm dần tỷ
trọng thủy điện trong tổng công suất điện năng. Thế nhưng hiện nay
ngành điện năng vẫn tiếp tục triển khai theo quy hoạch VI đã được
phê duyệt nên EVN (và cả các nhà đầu tư thuộc các thành phần kinh tế
khác) vẫn tiếp tục đầu tư vào thủy điện.
- Điều chỉnh luồng vốn đầu tư bằng cắt giảm luồng vốn đầu tư vào
những ngành không phục vụ nhiệm vụ cấu trúc lại nền kinh tế để điều
chỉnh, tập trung vào những ngành có lợi thế cao. Chẳng hạn điều
chỉnh, hạn chế luồng đầu tư vào thị trường bất động sản (vì hiện nay
còn nhiều khu biệt thự, khu đô thị mới còn bỏ hoang, nhiều dự án
treo,...) để chuyển sang đầu tư vào các ngành công nghiệp phù trợ,
vào CNH, HĐH nông nghiệp... Hoặc chuyển luồng vốn đầu tư trên TTCK
từ thị trường thứ cấp sang thị trường sơ cấp để các doanh nghiệp có
thêm nguồn vốn bổ sung cần thiết để thực hiện tái sản xuất mở rộng
một cách có hiệu quả hơn...
Đồng thời, cần tổ chức các hội nghị hướng dẫn, huy động và khuyến
khích các nguồn vốn đầu tư tiềm tàng trong nước theo tinh thần “nội
lực là chính, ngoại lực là bổ sung”.
- Trong lĩnh vực này, còn có vấn đề liên quan là vấn đề nợ nói
chung, trong đó có nợ công. Do cần phải thực hiện nhiệm vụ tái sản
xuất mở rộng nên các doanh nghiệp (và Chính phủ) cần có nguồn vốn bổ
sung và một giải pháp để tạo nguồn vốn bổ sung đó là phải vay nợ.
Việc cấu trúc lại cơ cấu đầu tư đòi hỏi phải sử dụng nguồn vốn vay
nợ này với hiệu quả kinh tế cao, cụ thể là tỷ suất lợi nhuận thu
được từ sử dụng nguồn vốn này phải cao hơn tỷ suất lãi vay Ngân
hàng. Do đó, có thể khẳng định là mức độ an toàn của nợ nói chung,
nợ công nói riêng phụ thuộc vào hệ số ICOR. Hiện nay, vì hệ số ICOR
của chúng ta còn cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực nên,
nếu không hạ thấp được hệ số ICOR thì các khoản nợ của chúng ta có
nguy cơ phát triển thành nợ xấu với những hệ quả kèm theo. Do đó,
không thể căn cứ vào chỉ tiêu tỷ lệ nợ công so với GDP để xác định
mức độ an toàn của nợ công.
Năm là, cấu trúc lại các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế.
Không thể tách Doanh nghiệp Nhà nước, Tập đoàn kinh tế, Tổng Công ty
Nhà nước để cấu trúc lại một cách biệt lập và có thể xếp các Ngân
hàng thương mại vào phạm vi các doanh nghiệp. Hiện đã có nhiều kiến
nghị góp phần triển khai thực hiện nhiệm vụ này. Tuy nhiên, cần nhận
thức rõ hơn mục đích của cấu trúc lại các doanh nghiệp thuộc các
thành phần kinh tế là nhằm: (1) Tăng hiệu quả và tăng sức cạnh tranh,
có thể vươn lên cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp của các nước
có nền kinh tế phát triển cao hơn. (2) Trong quá trình này, các
Doanh nghiệp Nhà nước, Tập đoàn kinh tế, Tổng Công ty Nhà nước phải
vươn lên đảm nhận vai trò đầu tầu. Trên cơ sở đó, xin có một số ý
kiến chủ yếu sau đây:
- Về thực hiện mục tiêu tăng hiệu quả và tăng sức cạnh tranh của
doanh nghiệp, phần trên đã trình bày, ở đây xin được bổ sung một số
ý kiến sau: Các doanh nghiệp cần thực hiện nhiệm vụ HĐH quá trình
sản xuất kinh doanh, trước mắt tập trung vào phát triển đồng bộ cơ
sở vật chất kỹ thuật và đội ngũ lao động (từ các CEO đến người lao
động). Trong thực tế, dường như nhiệm vụ này không được quan tâm
đúng mức nên trên cả hai mặt này, doanh nghiệp Việt Nam đều có sự
thua kém doanh nghiệp nước ngoài.
- Thực hiện sự liên kết theo hướng tập trung ngang (cùng chuyên
ngành) hoặc theo tập trung dọc (theo quá trình sản xuất xã hội), kết
hợp với quá trình thực hiện chuyên môn hóa và hiệp tác hóa sản xuất
của doanh nghiệp. Đây là một nội dung chủ yếu của nhiệm vụ “tổ chức
lại nền sản xuất xã hội” được Đại hội IV và Đại hội V ghi nhận. Do
nhiều nguyên nhân khác nhau nên đến nay, nhiệm vụ này vẫn chưa được
triển khai đúng mức.
- Cải tiến và nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý của Nhà nước
đối với nền kinh tế nói chung, nền kinh tế thị trường nói riêng để
đảm bảo tính ổn định của nền kinh tế vĩ mô. Đại hội IV đã xác định
nhiệm vụ “... xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống quản lý kinh
tế... theo nguyên tắc tập trung dân chủ và nguyên tắc kết hợp quản
lý theo ngành với quản lý theo địa phương và theo vùng lãnh thổ...
kết hợp kinh tế trung ương với kinh tế địa phương trong một cơ cấu
kinh tế quốc dân thống nhất...”. Triển khai theo hướng này cũng đã
được Hội nghị Trung ương 3, khóa XI xác định khi quy định nhiệm vụ:
“Quy trình và phương pháp xây dựng, tổ chức điều hành thực hiện quy
hoạch, kế hoạch phải thực sự khoa học, đi từ tổng thể chung của cả
nước, đến các vùng lãnh thổ, rồi mới đến từng địa phương, cơ sở”.
* GS, Ủy viên Hội đồng tư vấn Kinh tế, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam.
|
MỤC LỤC
| Trở Về đầu trang
| |
|
|
Noel - ngày đạo vào đời
THIỆN
CẨM*
Xưa nay có lẽ mọi người, kể cả người Kitô, vẫn nghĩ rằng Đạo và Đời
là hai thế giới hoàn toàn khác biệt, thậm chí hoàn toàn tách biệt:
Một bên là thế giới của thần linh, thế giới siêu việt, thánh thiêng;
còn bên kia là thế giới phàm tục, thậm chí tội lỗi, hay ít ra cũng
là cõi hồng trần. Thế giới tôn giáo là thế giới của đền chùa, thánh
thất, của giáo đường với những lời tụng kinh và lễ lạy huyền bí
trang nghiêm, trong khi đó ngoài đời là nơi chợ búa ồn ào, nơi người
ta giành giật mua bán, chỉ biết tôn thờ tiền bạc… Thế nên cả một
thời nào đó, nhiều vị thánh Công giáo thường dạy người tín hữu khinh
chê và xa lánh thế gian, coi mọi vinh hoa của cải đời này là hư vô,
giả trá…
Vì thế, trong thời đầu của Giáo hội, người ta chưa nghĩ đến việc
mừng lễ Chúa giáng sinh với tất cả niềm vui tươi và sự trang trọng,
được diễn tả rất tưng bừng, nhộn nhịp như bây giờ. Phải mấy thế kỷ
sau Chúa giáng sinh, Giáo hội mới bắt đầu mừng lễ Giáng Sinh, còn
trước đó, chỉ có lễ Phục Sinh, được mừng vào mỗi ngày Chủ nhật, rồi
sau đó hàng năm được tổ chức long trọng hơn vào dịp lễ Vượt Qua,
khởi đầu chỉ trong vòng mấy ngày, sau đó được mở rộng dần dần thêm
nhiều ngày trước lễ và rồi kéo dài thêm những ngày sau lễ, làm thánh
hai “mùa”: Mùa Chay và Mùa Phục Sinh như hiện nay.
Lễ Giáng Sinh sau này cũng được chuẩn bị bằng Mùa Vọng kéo dài 4
tuần lễ trước 25 tháng 12, nhưng vẫn chỉ âm thầm, không có gì rầm rộ,
náo nức, như làm hang đá, chuẩn bị đèn sao, lập đội ngũ ông già Noel
áo đỏ, râu trắng rậm, dài, mang theo mình đầy những gói quà xinh
xinh, đi khắp đường phố trao quà cho trẻ con.
Noel đã ra ngoài đường phố, biến thành một thứ Festival, lễ hội, với
những buổi hòa nhạc, khiêu vũ, nhất là những dạ tiệc linh đình trong
các khách sạn đắt tiền, tại đó người ta ăn chơi thâu đêm suốt sáng,
chẳng còn biết trời đất là đâu, nói chi đến Chúa giáng sinh, mà đối
với nhiều người, chỉ còn là một huyền thoại.
Cái siêu nhiên, cái thiêng liêng, cái huyền nhiệm với cả chiều sâu
đức tin tôn giáo, đã bị tục hóa, hay hòa tan vào những lễ hội mùa
đông, nhất là tại những xứ sở có tuyết trắng phủ dầy, làm tăng thêm
cảnh thơ mộng hấp dẫn. Tôn giáo, và cả Kitô giáo đã bị thế tục hóa.
Những tâm hồn tôn giáo, và đặc biệt là hàng giáo phẩm và hàng giáo
sĩ, tu sĩ, có lẽ đều lên tiếng than phiền như vậy, mặc dầu chính họ
cũng không thể nào không hội nhập vào niềm vui mới của nhân loại:
biến Noel, ngày Chúa giáng sinh, thành lễ hội chung cho cả loài
người, chứ không riêng gì của người Kitô giáo.
Noel từ lâu đã ra khỏi nhà thờ, tràn ra đường phố.
Thật vậy, hai mùa Giáng Sinh tôi có mặt bên Hoa Kỳ, được bạn bè dẫn
đi xem cảnh trang trí Noel tại những khu phố nhà giầu: họ trang
hoàng bày biện những cảnh Giáng sinh huy hoàng rực rỡ, ngay cả ngoài
lề đường quanh nhà, nhưng rồi bỏ không, ra nước ngoài ăn chơi xa xỉ
trong những khách sạn sang trọng đắt tiền, phải giữ chỗ cả từ một
năm trước.
Hình ảnh đó gợi cho tôi một ý nghĩ: Chúa hôm nay đã bị gạt ra khỏi
thế giới loài người, bị hắt hủi ra ngoài đường phố. Và ngay cả trong
nhiều giáo đường cũng chẳng còn có chỗ cho Người sinh ra, bởi vì cả
những cung thánh, đền thiêng cũng trở nên tối tăm hoang vu. Không có
ánh sao trên đỉnh tháp hay nóc nhà thờ, cũng chẳng có tiếng ca Giáng
sinh vọng ra từ nơi đó.
Nhưng xét cho cùng, thì chính hiện tượng mà chúng ta gọi là “suy
thoái tôn giáo”, hay déchristianisé, “bật rễ Kitô giáo” ấy, đưa
chúng ta trở về với ý nghĩa thật của cái mà người Công giáo gọi là
“Mầu nhiệm Nhập thể” của Chúa Giêsu: mầu nhiệm Thiên Chúa vào đời và
trở nên người phàm.
Thật vậy, không cần đợi tới ngày nay Kitô giáo mới bị coi là “thế
tục hóa”, mà ngay từ giờ phút mà Gioan nói là: “Et Verbum caro
factum est”, Lời đã trở nên xác phàm, thì chính Đấng Thánh, Đấng Cao
cả, Siêu việt đã đảm nhận lấy cái thế giới trần tục này làm quê
hương của Người.
Chúng ta cho rằng, thế giới tôn giáo hiện nay là thế giới bị thế tục
hóa, nghĩa là đánh mất bản chất linh thiêng, siêu việt, để lộ cái vẻ
thế tục tầm thường… Nhưng chúng ta quên mất rằng, hơn hai ngàn năm
về trước, chính Thiên Chúa, Đấng Chí Thánh, Chí Tôn đã “trở nên
người phàm và ở cùng chúng ta và nhờ đó mà thế giới phàm tục này đã
trở thành thế giới của Thiên Chúa, bởi vì ở đâu có Chúa thì đấy là
nơi thánh, không cần phải xây đền thờ, không cần phải làm phép!
Đối với những tâm hồn tôn giáo truyền thống và sùng đạo thì hiện
tượng “thế tục hóa” tạo ra một nỗi buồn và một nỗi thất vọng sâu
sắc. Vì thế, không lạ gì mà một số người hoài cổ, muốn sống lại cái
thời xa xưa thánh thiện, bằng việc cử hành thánh lễ bằng tiếng
La-tinh, với những phẩm phục cổ truyền, và những bài thánh ca
grêgôriêng, cũng gọi là Bình ca (grégorien) của hàng ngàn năm trước.
Nhưng có ai nghĩ tới chuyện chính Đức Giêsu khi vào đời, đã để lại
vinh quang của Người trên trời: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời”, mà
chỉ đem Bình an của Người đến cho nhân loại: “Bình an dưới thế cho
loài người Chúa thương” (Luca 2,14).
Noel là lễ Mừng Chúa giáng sinh.
Chúa giáng sinh không phải chỉ là ngày Chúa hiện hình, để tỏ vinh
quang. Trái lại, đó là ngày mà Thiên Chúa, Đấng Thánh, Đấng Cao Cả,
Đấng Hằng Hữu, đã trở nên “người phàm” (Gioan 1,14), làm “một trẻ sơ
sinh bọc tã nằm trong máng cỏ “ (Luca 2,13), được xác định trong
không gian và thời gian, đó là xứ Paléxtin, thời Augúttô làm hoàng
đế Rôma, Quiriniô làm Tổng trấn xứ Xyri (Luca 2,1-2).
Thiên Chúa không còn ở trên cõi siêu việt, hay trên trời cao, mà
Người đã xuống thế, đã nhập thể, làm người, lại còn trở thành người
phàm, như mọi người phàm, chứ không trở thành người quý tộc, như con
vua con quan, hay con nhà phú quí. Không, Người chỉ là một “trẻ sơ
sinh bọc tã nằm trong máng cỏ”, nghĩa là không nhà không cửa, chẳng
có giường nệm, chiếu chăn.
Với sự kiện này, Đạo đã vào Đời, đã trở thành đường đi cho nhân
loại. Đạo không vào đời, thì không thể trở thành đường đi cho con
người.
Xưa nay tôn giáo thường được coi như những chuyện thần thoại, do con
người tưởng tượng ra, để bù trừ cho những thiếu thốn, bất lực của
mình. Mỗi tôn giáo đều có những thần thánh của mình, nhưng nếu hỏi
thần thánh đó là ai, thì chẳng người nào chỉ ra được, hay định nghĩa
thế nào. “Đạo khả đạo phi thường Đạo” Lão tử đã nói như vậy.
Nhưng với biến cố Thiên Chúa “trở nên người phàm và ở cùng chúng ta”
(Gioan 1.14), thì Đạo đã có hình thù tên tuổi. Đấng mà các tôn giáo
gọi bằng nhiều thứ tên gọi cao siêu, vĩ đại, như là Chí Thánh, Chí
Tôn, là Cao Cả, Siêu Việt, Hằng Hữu, nay không chỉ đã hiện hình, mà
còn mang một thân xác như mọi người phàm, có tên là “Giêsu Nadarét”
(Gioan 19,19).
Khi Gioan đặt bút viết câu: “Et Verbum caro factum est” thì có ý
hiểu caro ở đây ngụ ý nói lên tính cách mong manh yếu đuối, tạm bợ
của kiếp sống con người, chẳng khác gì hoa đồng cỏ nội sớm nở tối
tàn, mà ngôn sử Isaia nói tới:
“Người phàm nào cũng đều là cỏ,
mọi vẻ đẹp của nó như hoa đồng nội” (Isaia 40,56).
Đấng mà người Kitô giáo tôn thờ, theo nghĩa là “yêu mến” - bởi vì
động từ thờ lạy trong Kitô giáo gốc bởi hai tử ad-os mà ra: ad là
gần, kề, os là môi, như vậy có nghĩa là “môi kề môi” = nụ hôn, tức
là yêu.
Do đó, Kitô được gọi là Đạo của tình yêu. Trong Tin Mừng của Gioan,
Đức Giêsu nói với ông Nicôđêmô, một nhà trí thức, thành viên của
Thượng hội đồng Do Thái: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban con
Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống
muôn đời”. (Gioan 3,16). Còn trong chương 10, Đức Giêsu nói với
những người Pharisêu: “Tôi đến để chiên tôi được sống, và sống dồi
dào” (Gioan 110,10). Mà “sự sống” ở đây chủ yếu là sự sống trong
tình yêu thương hiệp nhất với Đức Giêsu Kitô, và trong Người, hiệp
nhất với chính Thiên Chúa Cha (x.Gioan 17,20-21).
Yêu ai thì muốn trở nên giống người mình yêu và muốn được ở gần
người ấy. Gioan tông đồ viết thư cho các tín hữu
mà nói:
“Thiên Chúa đã sai con Một đến thế gian
để nhờ con Một của Người mà chúng ta được sống.
Tình yêu cốt ở điều này:
không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa,
nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta,
và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta.
Anh em thân mến,
nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế,
chúng ta cũng phải yêu thương nhau”. ( 1 Ga 4,9-11)
Không phải nhân loại đã yêu mến Thiên Chúa và trở nên giống như
Người, mà là ngược lại: chính Thiên Chúa làm người đã trở nên giống
loài người chúng ta trong mọi sự (x. Do Thái 2,17). Không phải con
người đã tự mình có thể trở nên giống Thiên Chúa, mà chính Người đã
“mặc lấy xác phàm” và trở nên giống chúng ta. Các thánh giáo phụ của
Giáo hội thường hay thích thú nói đến “cuộc trao đổi lạ lùng”: Chúa
mặc lấy bản tính loài người, để chia sẻ lại cho chúng ta chính bản
tính Thiên Chúa của Người.
Đức tin Công giáo tuyên xưng Đức Giêsu là một Ngôi vị Thiên Chúa,
nhưng có hai bản tính: thiên tính và nhân tính, Vì thế Người vừa là
Thiên Chúa thật vừa là người thật.
Thiền sư Suzuki của Nhật Bản nhận định về tín lý ấy của người Công
giáo như sau: “Người Công giáo nói: “Chúa hiện xuống làm người để
hiệp làm một với loài người. Vậy hiện giờ Chúa ở trong người, và
người ở trong Chúa. Chúa là người, và người là Chúa, mà Chúa vẫn là
Chúa. Người vẫn là Người. Quả đó là điều kỳ bí nhất của tôn giáo,
một nghịch lý thâm u nhất của triết học; và đó là biện chứng nhất
như vô phân biệt, vô phân biệt phân biệt của đạo Phật”1.
Nói cách khác, với mầu nhiệm “Chúa làm người”, thì không còn sự cách
biệt giữa Thiên Chúa và loài người, thánh thiêng với phàm tục, tôn
giáo với thế tục, Đạo với Đời. Lão tử gọi đó là “Huyền đồng” (ĐĐK I,
4), Phật giáo gọi là “nhất như vô phân biệt, vô phân biệt phân biệt”,
Kitô giáo gọi là Hiệp thông hay Hiệp nhất. Tản Đà của chúng ta cũng
có câu tương tự: “Mình với ta tuy hai mà một, ta với mình tuy một mà
hai”.
Nếu thế thì chẳng có lý do nào để Đạo và Đời chống đối, phản bác lẫn
nhau. Sở dĩ đã bao nhiêu thế kỷ trước đây, người tôn giáo, đặc biệt
là người Công giáo, đã tích cực chống đối, thậm chí tìm cách tiêu
diệt kẻ ngoại giáo, lạc giáo và vô thần, khiến gây ra những cuộc
thập tự chinh đẫm máu và tạo ra mối hận thù dai dẳng giữa những
người có tín ngưỡng và người vô tín ngưỡng. Còn về phía những người
không tin, thì cũng có biết bao người hăng say bài bạc, lên án tôn
giáo, gọi những kẻ tin là “vong thân”, nô lệ cho những thần thánh do
chính mình tạo ra.
Nhưng ngày nay, với việc đọc lại Tin Mừng và hiểu đúng nghĩa mầu
nhiệm Chúa làm người, Giáo hội Công giáo đã và đang cố gắng noi
gương Chúa Giêsu nhập thể vào đời, đồng hành với thế giới (Hiến
chương Vui mừng và Hy vọng của Vatican II), “đồng hành với dân tộc”,
Sống mầu nhiệm nhập thể hôm nay, là “Sống tốt Đạo đẹp Đời”, hay là
“Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc, để phục vụ hạnh phúc của đồng bào”
(Thư chung 1980), vì ý thức rằng yêu Chúa là yêu người, thờ phượng
Thiên Chúa đồng nghĩa với yêu thương con người, bởi lẽ tôn thờ hay
yêu mến cũng được diễn tả bằng một nụ hôn: adorare - ad-os, môi kề
môi!
Còn về phía những người không tin, thì dù không tín ngưỡng hay tôn
giáo, cũng chẳng ai xóa bỏ được cái tâm linh vẫn ẩn hiện đâu đây
chung quanh con người, nhất là mỗi khi đối diện với cái chết, bởi vì
khó có ai đứng trước người thân nằm đó mà lại có thể nghĩ đó chỉ là
một khúc chuối hay cây gỗ. Cũng như khó có ai có thể nghĩ rằng mai
ngày mình sẽ chỉ còn là hư vô. “Sống gửi thác về”, Ấn độ giáo và
Phật giáo thì nói đến luân hồi giải thoát, các tôn giáo đều nói tới
cái bên kia của cuộc đời. Đức Giêsu thì đưa cái bên kia, bên trên,
cái siêu việt hay thánh thiêng vào đời, khi Người nói cho chúng ta
hay: Thiên Chúa đang ở giữa chúng ta, “trong thần khí và sự thật” (Gioan
4,23), bởi vì “Thiên Chúa là Tình yêu” và hễ “Ai yêu thương thì biết
Thiên Chúa”. (Gioan 4,8).
Và trên đời này, ai mà chẳng biết yêu, người tôn giáo cũng như người
vô thần, không tôn giáo, chúng ta ai cũng biết yêu và khao khát được
yêu. Người Công giáo tin rằng Chúa chính là tình yêu liên kết chúng
ta: Người luôn luôn ở giữa chúng ta như dòng nước chảy không ngừng
giữa hai bờ của một con sông, hay dòng suối mát êm đềm...
___________________________
1. Daiset Teitaro SUZUKI Cốt rủy Đạo Phật. (The essence of Buddhism)
Trúc Thiên dịch, An Tiêm Sài gòn.xb.1968 Trg 26-27.
* Linh mục, Ủy viên Hội đồng tư vấn về Tôn giáo, Ủy ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
|
MỤC LỤC
| Trở Về đầu trang
| |
|
|
QUÂN ĐỘI VỚI CÔNG TÁC
XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO, ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA
HOÀNG VĂN THANH*
Thực hiện có hiệu quả công tác xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa
là tình cảm, trách nhiệm của “Bộ đội Cụ Hồ” đối với Đảng, Nhà nước
và nhân dân; đồng thời là một biện pháp quan trọng để Quân đội góp
phần xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh toàn diện, là điều kiện để
cán bộ chiến sĩ quân đội hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân
giao phó. Từ khi ra đời đến nay, dù ở đâu, trong bất cứ điều kiện
nào, quân đội ta cũng luôn làm tốt công tác đưa các chủ trương,
chính sách của Đảng, Nhà nước đến với nhân dân; vận động, giúp đỡ
nhân dân tích cực lao động, sản xuất, biến mọi đường lối, chủ trương
của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước thành hiện thực sinh
động trong đời sống của nhân dân. Những việc làm thiết thực với kết
quả cụ thể của công tác xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa của
quân đội đã góp phần xây dựng lòng tin của nhân dân đối với Đảng,
với thắng lợi của cách mạng; trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng
chính trị - tinh thần, nâng cao hiệu quả lãnh đạo, năng lực quản lý
điều hành của tổ chức đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã
hội ở địa phương.
Những năm qua, quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, các nghị
quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà nước về công tác dân vận, nhất là
Nghị quyết số 152- NQĐUQSTW của Đảng ủy Quân sự Trung ương “Về tiếp
tục đổi mới và tăng cường công tác dân vận trong thời kỳ mới”; được
sự phối hợp, giúp đỡ của cấp ủy, chính quyền, cơ quan chức năng và
nhân dân các địa phương, công tác xóa đói giảm nghèo, đền ơn, đáp
nghĩa đã có sự đổi mới toàn diện, ngày càng đi vào nề nếp, phát
triển cả bề rộng và chiều sâu. Với phương châm hướng mạnh về cơ sở,
các đơn vị trong toàn quân đã có nhiều hình thức, biện pháp phù hợp,
nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xóa đói, giảm nghèo, đền ơn
đáp nghĩa, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, ổn định
chính trị, trật tự, an toàn xã hội, trực tiếp góp phần xây dựng các
địa phương vững mạnh toàn diện.
Thực hiện Nghị quyết 30a của Chính phủ, Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo các
đơn vị trong toàn quân phối hợp chặt chẽ với các địa phương, tích
cực đóng góp công sức, vật chất giúp nhân dân các huyện nghèo, vùng
sâu, vùng xa giảm nghèo nhanh và bền vững. Thực hiện cuộc vận động
“Ngày vì người nghèo”, hàng năm cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên
chức quốc phòng quyên góp ủng hộ được 36 tỷ đồng. Phong trào “Đền ơn
đáp nghĩa” luôn được triển khai rộng khắp và đã được mọi quân nhân
tích cực hưởng ứng, đã vận động đóng góp 13,55 tỷ đồng vào “Quỹ đền
ơn đáp nghĩa”.
Trong năm 2011, các đơn vị tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho các đối
tượng chính sách trị giá trên 190 tỷ đồng, tìm kiếm quy tập 1.913
hài cốt liệt sĩ. Toàn quân đã xây dựng và bàn giao 476 “Nhà Đồng
đội”, trị giá 29 tỷ 180 triệu đồng cho các quân nhân, công nhân viên
quốc phòng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn về nhà ở; xây dựng và sửa
chữa 36 nhà “Mái ấm công đoàn - Nghĩa tình đồng đội”, trị giá 1,25
tỷ đồng bằng tiền của cán bộ đoàn viên công đoàn đóng góp; xây tặng
900 “Nhà Tình nghĩa”, trị giá 54 tỷ đồng. Quân khu 9 xây 103 căn nhà
trị giá hơn 44 tỷ đồng tặng các cựu chiến binh, gia đình liệt sĩ và
cán bộ chiến sĩ gặp khó khăn trên địa bàn; Công đoàn Quốc phòng đã
trích 5 tỷ đồng quỹ trợ vốn cho 874 hộ nghèo vay để phát triển kinh
tế gia đình. Bộ đội Biên phòng xây tặng 1.427 căn nhà, trị giá 51,92
tỷ đồng và 93 công trình dân sinh, trị giá 14,03 tỷ đồng cho đồng
bào nghèo trong chương trình “Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới
hải đảo”. Toàn quân đã huy động hàng triệu ngày công lao động giúp
dân khắc phục hậu quả thiên tai, tham gia xóa đói, giảm nghèo, nhất
là vùng sâu vùng xa và giúp đỡ các địa phương nghèo, người nghèo,
gia đình chính sách, nạn nhân chất độc Da cam - Đioxin, với các hình
thức khác nhau trị giá trên 417,5 tỷ đồng. Những việc làm trên đã
góp phần xây dựng khối đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững và phát huy
phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới được Đảng, Nhà nước và
nhân dân tin tưởng, ghi nhận, đánh giá cao. Để tiếp tục phát huy vai
trò của quân đội trong nhiệm vụ xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp
nghĩa trong thời gian tới, quân đội cần quán triệt và thực hiện tốt
một số nội dung cơ bản sau:
Một là, cần nhận thức rõ công tác xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp
nghĩa là một nội dung trong chiến lược xây dựng đại đoàn kết dân
tộc, mang tính chất của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc ở
nước ta trong thời kỳ mới. Thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
với những thời cơ thuận lợi lớn nhưng cũng không ít khó khăn, thách
thức gay gắt trước tác động của mặt trái kinh tế thị trường, sự
chống phá của các thế lực thù địch bằng chiến lược “diễn biến hòa
bình” và âm mưu “phi chính trị hóa quân đội”, ra sức chống phá làm
suy giảm sức mạnh của đại đoàn kết toàn dân. Thực tế hiện nay, đời
sống của nhân dân các dân tộc ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa tuy đã
được nâng lên một bước nhưng vẫn còn trong tình trạng kém phát
triển, tỷ lệ hộ đói nghèo còn cao làm hạn chế đến phát huy sức mạnh
đại đoàn kết toàn dân tộc trong thực hiện nhiệm vụ chiến lược xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những khó khăn, yếu kém đó là nguyên cớ để
các thế lực thù địch lợi dụng, kích động chia rẽ nhằm phá hoại khối
đại đoàn kết dân tộc, gây mất ổn định chính trị, xã hội. Tình hình
đó, đòi hỏi các đơn vị trong toàn quân, mỗi cán bộ, chiến sĩ quân
đội phải tích cực hơn nữa trong xây dựng mối quan hệ đoàn kết quân
dân, thực hiện có hiệu quả công tác xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp
nghĩa.
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 của Đảng, chỉ rõ:
“Thực hiện có hiệu quả hơn chính sách giảm nghèo phù hợp với từng
thời kỳ; đa dạng hóa các nguồn lực và phương thức để đảm bảo giảm
nghèo bền vững, nhất là tại các huyện nghèo nhất và các vùng đặc
biệt khó khăn”1. Phấn đấu từ nay đến năm 2020 “tỉ lệ hộ
nghèo giảm bình quân 1,5 - 2% năm; phúc lợi xã hội, an sinh xã hội
và chăm sóc sức khỏe cộng đồng được bảo đảm. Thu nhập thực tế của
dân cư gấp khoảng 3,5 lần so với năm 2010; thu hẹp khoảng cách thu
nhập giữa các vùng và nhóm dân cư. Xóa nhà ở đơn sơ, tỉ lệ nhà ở
kiên cố đạt 70%...”2. Đó là những mục tiêu chủ yếâu,
nhiệm vụ cấp bách về an sinh xã hội mà toàn Đảng, toàn dân và toàn
quân ta phải quyết tâm phấn đấu thực hiện.
Hai là, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động
bộ đội và nhân dân quán triệt và thực hiện thắng lợi đường lối, chủ
trương phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, thực hiện tốt công tác
xóa đói, giảm nghèo, góp phần xây dựng địa phương ngày càng vững
mạnh. Trong quá trình thực hiện, bên cạnh việc tổ chức tuyên truyền,
giáo dục, vận động mọi cán bộ, chiến sĩ tích cực thực hiện công tác
xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, cấp ủy, người chỉ huy, chính
ủy, chính trị viên và cơ quan chính trị các cấp trong quân đội cần
tiếp tục tham mưu, phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa
phương, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể chính trị - xã hội vận động
nhân dân thực hiện tốt các mục tiêu, nhiệm vụ, chương trình phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước và của từng địa phương. “Tập
trung triển khai có hiệu quả các chương trình xóa đói, giảm nghèo ở
vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn”, và “Huy động mọi nguồn
lực xã hội cùng với Nhà nước chăm lo tốt hơn nữa đời sống vật chất
và tinh thần của những người và gia đình có công”3. Thực
hiện có hiệu quả Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24-2-2011 của Chính phủ
về những chủ trương, giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát,
ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội. Giúp nhân dân nâng
cao cảnh giác cách mạng, nhận rõ âm mưu thủ đoạn “diễn biến hòa bình”
của các thế lực thù địch; tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã
hội, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, củng cố quốc
phòng trên địa bàn.
Ba là, tham gia xây dựng, củng cố cơ sở địa phương vững mạnh toàn
diện, trước hết là vững mạnh về chính trị, quốc phòng, an ninh tạo
cơ sở vững chắc trong tổ chức thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo,
đền ơn đáp nghĩa. Cấp ủy, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên và
cơ quan chính trị các cấp, nhất là lực lượng cán bộ, sĩ quan được
tăng cường cho cơ sở, các tổ (đội) công tác, đề cao trách nhiệm,
nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn trong phối hợp, tham mưu, đề
xuất với cấp ủy, chính quyền địa phương những chủ trương, biện pháp
tiến hành xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa ở địa phương. Theo
đó, các lực lượng chuyên trách của quân đội góp phần nâng cao năng
lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, năng lực quản lý, điều
hành phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; tham gia vào quá
trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên là người dân tộc thiểu số,
người có đạo. Tham mưu cho chính quyền địa phương thực hiện có hiệu
quả nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, triển khai các phương án phòng,
chống các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch ở địa
phương, tạo cơ sở chính trị - xã hội vững chắc trong thực hiện xóa
đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa. Các đơn vị trong toàn quân cần
chú trọng phối hợp, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ
chức chính trị - xã hội, các nhân sĩ trí thức, già làng, trưởng bản,
những người có uy tín ở địa phương để vận động nhân dân thực hiện
tốt nghĩa vụ, trách nhiệm công dân trong công tác xóa đói, giảm
nghèo, đền ơn, đáp nghĩa đi vào chiều sâu và đạt được hiệu quả cao.
___________________________________________
1, 2, 3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XI, Nxb CTQG. H. 2011, tr.124, 125, 105, 229.
* Đại tá, TS, Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự - Bộ Quốc phòng.
Xem thêm bài của tác giả trong Tạp chí Mặt trận số 95, tr.26.
|
MỤC LỤC
| Trở Về đầu trang
| |
|
|
ĐƯỜNG
LỐI CHÍNH TRỊ - NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH
VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG MIỀN NAM VIỆT NAM
NGUYỄN PHƯƠNG AN*
Lịch sử của các tổ chức cách mạng Việt Nam đều gắn liền với Chủ tịch
Hồ Chí Minh. Trong đó có vai trò của đường lối chính trị - ngoại
giao Hồ Chí Minh đối với sự ra đời Mặt trận.
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp là bước ngoặt quan trọng
trong lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân ta. Hiệp
định Giơnevơ được ký kết buộc Pháp phải công nhận độc lập, chủ quyền,
thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam. Thắng lợi này mở
đường cho cách mạng Việt Nam bước vào thời kỳ phát triển mới với
những điều kiện thuận lợi và cả những thách thức, khó khăn chờ đợi.
Hiệp định Giơnevơ vừa được ký còn chưa ráo mực, Tổng thống Mỹ
Eisenhower đã tuyên bố: “Bản thân Hoa Kỳ đã không phải là một bên
đương sự trong các quyết định tại Hội nghị và không bị các quyết
định đó ràng buộc”1. Với quan điểm đó, Mỹ xúc tiến các
hành động can thiệp vào miền Nam Việt Nam, âm mưu chia cắt lâu dài
nước ta, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, làm căn cứ quân sự
của Mỹ ở Đông Nam Á. Nhanh chóng hất cẳng Pháp, Mỹ đưa Ngô Đình Diệm,
một phần tử chống cộng cuồng tín về miền Nam làm Thủ tướng, lập ra
chính quyền tay sai của Mỹ.
Để thoái thác vấn đề hiệp thương, tổng tuyển cử sau hai năm đình
chiến (được quy định trong Hiệp định Giơnevơ), chính quyền Diệm tiến
hành trưng cầu dân ý (10-1955) để bước đầu phế truất Bảo Đại, sau đó
tiến hành vận động bầu cử (3-1956), lập ra Quốc hội bù nhìn, suy tôn
Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa
(10-1956). Dựa vào sự ủng hộ của Oasinhtơn, chính quyền Ngô Đình
Diệm trong thời gian ngắn đã thanh toán các phe phái chống đối và
tiến hành liên tục các chiến dịch “tố cộng, diệt cộng”. Trong thời
gian 5 năm, chúng tàn sát dã man hàng chục ngàn cán bộ, nhân dân
miền Nam. Cùng với đó, Mỹ - Diệm ra sức củng cố bộ máy chính quyền
tề ngụy từ trung ương đến cơ sở theo mô hình do Mỹ chỉ đạo. Đến đây,
miền Nam trở thành một thuộc địa “được thực hiện không phải bằng hệ
thống cai trị trực tiếp của bọn đế quốc mà thông qua một chính quyền
tay sai đại biểu cho quyền lợi của giai cấp địa chủ phong kiến và tư
bản mại bản khoác áo “dân tộc dân chủ” giả hiệu”2.
Trước tình hình đó, Hồ Chí Minh trong cương vị người lãnh đạo Đảng
và Nhà nước, đảm nhận trọng trách hết sức nặng nề trước vận mệnh
miền Nam, trước nền độc lập và thống nhất của cả nước. Những quyết
sách đúng đắn trong bối cảnh phức tạp và cấp thiết đương thời là hết
sức cần thiết. Bằng bản lĩnh của một thiên tài, Hồ Chí Minh đã có
những bước đi hợp lý cả về đối nội và đối ngoại trong lãnh đạo cách
mạng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh một mặt kịch liệt lên án, tố cáo mạnh mẽ tội ác
man rợ của bè lũ Mỹ - Diệm tàn sát đẫm máu đồng bào ta ở miền Nam,
phá hoại Hiệp định Giơnevơ, phá hoại hòa bình thống nhất Tổ quốc;
mặt khác Người đã kịp thời chỉ đạo cách mạng miền Nam từng bước
chuyển dần sang đấu tranh tự vệ vũ trang dưới nhiều hình thức nhằm
phá thế kìm kẹp của chúng, chống lại cuộc chiến tranh đơn phương mà
chúng đang tiến hành hòng giết hại nhân dân miền Nam.
Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến xây dựng đường lối cách mạng trong
tình hình mới. Để xây dựng đường lối, Người quan tâm sâu sắc đến
việc tham khảo ý kiến của nhiều nước, nhất là Liên Xô và Trung Quốc,
thông qua tăng cường hoạt động ngoại giao. Đồng thời, Hồ Chí Minh
chú trọng phân tích phương thức, thủ đoạn của đế quốc Mỹ trong âm
mưu chia cắt lâu dài Việt Nam. Sự kết hợp những ý kiến tham khảo từ
các nước anh em với nhận định sâu sắc và đúng đắn của Người về chính
sách xâm lược của Mỹ tác động trực tiếp đến ra đời Mặt trận Dân tộc
Giải phóng miền Nam Việt Nam (20-12-1960).
Trước tình hình Việt Nam, quan điểm của các nước, nổi bật là Liên Xô
và Trung Quốc, có phần đồng nhất. Ban lãnh đạo Liên Xô lúc này theo
đuổi tư tưởng cùng tồn tại hòa bình, thực hiện đường lối “hòa hoãn”
Xô - Mỹ nên chủ trương giữ nguyên trạng hai miền của miền Nam, không
ủng hộ đường lối đấu tranh vũ trang của Đảng ở miền Nam để tránh
“đụng chạm” với Mỹ. Liên Xô cho rằng “đốm lửa cháy rừng”, chiến
tranh thế giới thứ III e rằng sẽ có ngòi nổ từ Việt Nam. Về phía
Trung Quốc, các nhà lãnh đạo thường xuyên thuyết phục Việt Nam phải
“trường kỳ mai phục”, không nên tiến hành đấu tranh vũ trang ở miền
Nam. Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông nói: “Vấn đề là phải giữ
biên giới hiện có. Phải giữ vĩ tuyến 17... Thời gian có lẽ dài đấy.
Tôi mong thời gian dài thì sẽ tốt”3. Tổng Bí thư Đảng
Cộng sản Trung Quốc Đặng Tiểu Bình cho rằng: “Dùng lực lượng vũ
trang để thống nhất nước nhà có hai khả năng: một là thắng và một
khả năng nữa là mất cả miền Bắc”4. Quan điểm này của
Trung Quốc xuất phát từ chiến lược toàn cầu, muốn tranh thủ duy trì
điều kiện quốc tế hòa bình để xây dựng đất nước, e ngại “đốm lửa”
chiến tranh sẽ lan sang cả Trung Quốc. Bắc Kinh chủ trương “cần hết
sức tránh việc trực tiếp tham gia chiến tranh... cần tính đến một
phiêu lưu của Mỹ”.
Các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác phần nhiều cũng có quan điểm
tương tự với Liên Xô và Trung Quốc. Tất cả đều gợi ý “hai miền Nam -
Bắc cùng thi đua hòa bình về kinh tế, khi nào miền Bắc mạnh hơn hẳn
thì sẽ dễ dàng đi tới thống nhất đất nước”, không nên đấu tranh vũ
trang mà cần “trường kỳ mai phục, nắm chắc quần chúng, chuẩn bị lực
lượng, chờ thời cơ”.
Một đặc điểm lớn trong quan hệ giữa các nước xã hội chủ nghĩa lúc
này là những bất đồng xuất hiện theo chiều hướng nghiêm trọng, nhất
là mâu thuẫn gay gắt công khai giữa Liên Xô và Trung Quốc. Hai
“người khổng lồ” của hệ thống xã hội chủ nghĩa ra sức xây dựng, củng
cố, phát triển ảnh hưởng quốc tế của mình, trong đó có mục tiêu
trọng tâm là Việt Nam. Đôi khi đã có biểu hiện đặt ra những mặc cả
đối với Việt Nam theo hướng hoặc theo Liên Xô, hoặc theo Trung Quốc.
Ngoài hệ thống xã hội chủ nghĩa, nhiều nước dân chủ khác cũng rất
quan tâm đến tình hình Việt Nam. Tuy nhiên, sự quan tâm của họ phần
lớn bị phân tán bởi quan điểm về cuộc đối đầu hệ tư tưởng cộng sản
và tư sản trên đất nước ta. Xét cho cùng, chế độ chính trị của nhiều
nước dân chủ vẫn là chế độ tư bản chủ nghĩa. Trong thế giới tư bản,
Mỹ vẫn đứng đầu với vai trò, ảnh hưởng rất to lớn. Nếu cuộc đấu
tranh của nhân dân miền Nam Việt Nam đơn thuần là cuộc đấu tranh
giải phóng, không mang tính chất của cuộc đối đầu hệ tư tưởng, thì
sự ủng hộ của các nước dân chủ sẽ lớn hơn.
Về phía Mỹ, sự thất bại của thực dân Pháp ở Việt Nam trong cuộc
chiến tranh xâm lược lần thứ hai là bài học kinh nghiệm lớn khi
hoạch định đường lối can thiệp vào miền Nam Việt Nam. Hệ thống thuộc
địa kiểu cũ đã cáo chung cùng với thất bại thảm hại của quân đội
viễn chinh Pháp ở Điện Biên Phủ, đặt ra cho Mỹ yêu cầu về phương
thức mới. Hơn nữa, bối cảnh quốc tế lúc này đã khác những năm cuối
thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX khi hệ thống thuộc địa kiểu cũ được xác
lập. Tồn tại trên thế giới lúc này song song hai hệ thống xã hội chủ
nghĩa và tư bản chủ nghĩa, ba dòng thác cách mạng (hệ thống xã hội
chủ nghĩa, phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cộng sản và
công nhân quốc tế) ngày càng mạnh mẽ tấn công vào chính sách xâm
lược của các nước tư bản đế quốc. Việc tiến hành một cuộc chiến
tranh xâm lược lúc này không thuận lợi như trước. Ở trong lòng nước
Mỹ, dư luận nhân dân phản đối chiến tranh lên cao. Điều kiện đó nảy
sinh phương thức thực hiện dã tâm xâm lược dưới chiêu bài độc lập
giả hiệu, dưới hình thức chủ nghĩa thực dân mới, sản phẩm của thế
yếu, thế bị động của đế quốc Mỹ sau chiến tranh thế giới thứ hai.
Bối cảnh quốc tế nêu trên đặt ra cho Hồ Chí Minh câu hỏi lớn cần
phải giải quyết: Làm thế nào để khai thác tối đa sự ủng hộ của hệ
thống xã hội chủ nghĩa và nhân dân tiến bộ các nước, hạn chế đến mức
thấp nhất sự chống phá của các thế lực thù địch đối với cách mạng
miền Nam, trên nguyên tắc bất biến là đấu tranh giải phóng miền Nam,
thống nhất đất nước? Đường lối ngoại giao của Hồ Chí Minh phải xử lý
khéo léo những xung đột, phát huy sự tương đồng giữa các nước xã hội
chủ nghĩa, nhất là giữa Liên Xô và Trung Quốc, sao có lợi nhất cho
cách mạng miền Nam. Đường lối đó cũng phải huy động cao nhất sự ủng
hộ, giúp đỡ của các nước dân chủ. Đường lối đó cũng tránh gây ra cái
cớ cho Mỹ và đồng minh mở rộng chiến tranh ra miền Bắc.
Trong thực tế, khi lãnh đạo chuyển hướng từ đấu tranh chính trị -
pháp lý sang kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang ở
miền Nam, dù cách mạng có những bước tiến lớn nhưng lại không được
sự tán đồng của hai nước đồng minh chiến lược Xô - Trung. Để tiến
hành chiến tranh chống lại tên đế quốc đầu sỏ Mỹ, Việt Nam không thể
tách rời sự ủng hộ của Liên Xô, Trung Quốc và bạn bè trên thế giới.
Vấn đề đặt ra là phải có một giải pháp chính trị - ngoại giao sao
cho có thể thuyết phục được hai nước lớn này ủng hộ cuộc đấu tranh
vũ trang ở miền Nam.
Ngày 20-12-1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được
thành lập đáp ứng yêu cầu đặt ra nêu trên. Đây là một giải pháp
chính trị mang tính chiến lược về ngoại giao của Đảng và Nhà nước
ta, do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Thông qua việc thành lập Mặt
trận, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho thấy tầm nhìn chiến lược và khả năng
giải quyết tình huống cách mạng xuất sắc của mình:
Thứ nhất, Hồ Chí Minh khai thác chính dã tâm xâm lược núp dưới chiêu
bài độc lập giả hiệu theo kiểu thực dân mới của Mỹ. Ngay từ đầu
những năm 50 của thế kỷ trước, Người đã xác định kẻ thù chính, trực
tiếp của cách mạng Việt Nam là đế quốc Mỹ. Trong bối cảnh khó khăn
nhất của cách mạng miền Nam, cùng với việc nhận rõ bộ mặt hung hăng
tàn bạo, Hồ Chí Minh cũng chỉ ra thế “bấp bênh như lâu đài dựng trên
bãi cát” của Mỹ. Theo Người, thế yếu đó của Mỹ xuất phát từ chính
chỗ chúng phải tiến hành xâm lược dưới chiêu bài độc lập giả hiệu.
Mỹ dựng lên một chính thể làm tay sai âm mưu thống trị miền Nam thì
sách lược ngoại giao của Hồ Chí Minh là thành lập một Mặt trận đóng
vai trò vừa là ngọn cờ đoàn kết, tập hợp lực lượng, vừa tồn tại như
một chính thể nhà nước trung lập, đại diện cho nhân dân miền Nam. Đó
là Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Với sách lược này,
Đảng vẫn lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam nhưng vẫn hạn
chế tạo cớ cho Mỹ vu khống miền Bắc xâm lược miền Nam để leo thang
chiến tranh.
Thứ hai, việc thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt
Nam cho thấy Hồ Chí Minh đã đáp ứng được thực chất mong muốn của
Liên Xô và Trung Quốc. Cả hai nước lớn này trong bối cảnh thế giới
lúc ấy cơ bản muốn tránh đụng độ với Mỹ, giữ vững ổn định để phát
triển, nhưng cũng không muốn mất Việt Nam về tay thế giới tư bản.
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời và tồn tại như
một chính thể độc lập đại diện cho nhân dân miền Nam đã đáp ứng được
yêu cầu đó. Mặt trận chủ trương “miền Nam độc lập, dân chủ hòa bình,
trung lập...” là cơ sở lý lẽ và thực tiễn chắc chắn để Liên Xô,
Trung Quốc ủng hộ và kêu gọi các nước khác ủng hộ cuộc đấu tranh của
nhân dân miền Nam. Các nước dân chủ tiến bộ cũng thoát khỏi băn
khoăn về một cuộc đối đầu hệ tư tưởng ở miền Nam Việt Nam mà ủng hộ,
giúp đỡ.
Thứ ba, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời từ chủ
trương chuyển hướng sang kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh
vũ trang ở miền Nam của Đảng. Nghị quyết Trung ương lần thứ 15 và
Nghị quyết Đại hội III của Đảng đều vạch rõ sự cần thiết phải thành
lập một Mặt trận Dân tộc Thống nhất rộng rãi ở miền Nam. Thành quả
to lớn đầu tiên của chủ trương chuyển hướng đấu tranh là thắng lợi
vẻ vang của phong trào Đồng Khởi. Nó nói lên nguyện vọng, ý chí
quyết tâm giải phóng miền Nam của nhân dân ta, trước hết là đồng bào
Nam Bộ. Với phong trào Đồng Khởi, nhân dân ta đã đánh bại chiến lược
chiến tranh đơn phương của Mỹ, tạo tiền đề cho sự ra đời Mặt trận.
Đến lượt mình, sự ra đời của Mặt trận đưa cách mạng miền Nam lên một
tầm cao mới bằng việc huy động được không chỉ sức mạng to lớn của
đồng bào mà còn cả sự ủng hộ giúp đỡ của bạn bè thế giới, nhất là
Liên Xô và Trung Quốc. Bài toán lớn về chủ trương đấu tranh chính
trị kết hợp với đấu tranh vũ trang quyết tâm giải phóng miền Nam,
thống nhất đất nước với sự bất đồng quan điểm của Liên Xô, Trung
Quốc đã được Hồ Chí Minh giải quyết đúng đắn qua thành lập Mặt trận
Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.
Thứ tư, Hồ Chí Minh quan tâm sâu sắc đến việc chọn thời điểm, tên
gọi, chọn người lãnh đạo Mặt trận sao cho đáp ứng tốt nhất mục tiêu
chiến lược.
Mặt trận ra đời khi mà Mỹ đã dựng lên một chính quyền tay sai ổn
định ở miền Nam. Trước đó đã hình thành một Mặt trận (dù chưa chính
thức) thống nhất chống Mỹ - Diệm ở miền Nam. Từ cuối năm 1959, cách
mạng miền Nam đã chuyển sang thế tiến công, phong trào đấu tranh
chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang bùng lên mạnh mẽ tạo điều
kiện thuận lợi cho sự ra đời một tổ chức Mặt trận toàn miền Nam. Yêu
cầu của cách mạng miền Nam lúc đó rất cần sự ủng hộ nhiều hơn nữa về
cả tinh thần và vật chất của các nước trên thế giới, trọng điểm là
Liên Xô và Trung Quốc. Trong bối cảnh đó, tại Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ III của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn các đại
biểu miền Nam vào trong đó, nhớ gấp rút chuẩn bị cho việc thành lập
Mặt trận vì điều kiện đã chín muồi.
Việc đặt tên và chọn người đứng đầu Mặt trận được Hồ Chí Minh quan
tâm. Tên gọi sao cho thể hiện tốt nhất danh nghĩa một tổ chức độc
lập, trung lập, ngọn cờ đoàn kết nhân dân miền Nam đấu tranh và
tranh thủ sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ. Chọn người đứng đầu sao
cho có uy tín cao đối với đồng bào, một nhà yêu nước chưa “lộ rõ” là
một người cộng sản, một người am hiểu nhiều lĩnh vực, trong đó có
ngoại giao. Về vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng căn dặn các đại
biểu miền Nam tham dự Đại hội III: Có thể lấy tên là Mặt trận dân
tộc giải phóng. Nên mời một vị có uy tín trong giới trí thức miền
Nam làm Chủ tịch để tập hợp mọi ngành, mọi giới và cổ vũ đồng bào.
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời với vị Chủ tịch
đầu tiên là Luật sư Nguyễn Hữu Thọ theo đúng tinh thần chỉ đạo của
Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời và hoạt động
cho thấy các sáng tạo sau đây trong đường lối chính trị - ngoại giao
của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
Một là, sáng tạo trong xử lý mâu thuẫn giữa khát vọng đấu tranh giải
phóng miền Nam, thống nhất đất nước với quan điểm chung sống hòa
bình, đấu tranh lâu dài của nhiều nước, trong đó có Liên Xô, Trung
Quốc. Với sự ra đời của Mặt trận, khát vọng đó được thực hiện trong
sự đồng tình ủng hộ của nhiều nước trên thế giới.
Hai là, sáng tạo trong xác định mục tiêu, tính chất, phạm vi của
cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam. Nguyên tắc bất biến của Hồ Chí
Minh là cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là
sự nghiệp của toàn dân Việt Nam, không phải của riêng đồng bào miền
Nam. Nhưng nguyên tắc đó ẩn trong sách lược hạn chế cuộc đấu tranh
trong mục tiêu độc lập dân tộc và chỉ ở miền Nam. Điều đó vừa đảm
bảo vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng ở miền Nam, vừa thể
hiện ra ngoài tính độc lập, tự quyết của miền Nam trong đấu tranh.
Hơn nữa, mục tiêu đấu tranh của nhân dân miền Nam Việt Nam đặt trong
mục tiêu chung là bảo vệ hòa bình thế giới. Do vậy, thông qua Mặt
trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, cuộc đấu tranh của nhân
dân ta vừa tránh khỏi những nguy cơ, khó khăn vừa khai thác, phát
huy nhiều nguồn lực.
Ba là, sáng tạo trong xác định chức năng của Mặt trận Dân tộc Giải
phóng miền Nam Việt Nam. Đó vừa là chức năng của một tổ chức chính
trị - xã hội thực hiện mục tiêu đại đoàn kết rộng rãi các tầng lớp
nhân dân ở miền Nam đấu tranh, lại vừa có chức năng của một chính
thể nhà nước có đài phát thanh, cơ quan đại diện ở nước ngoài, có
lực lượng vũ trang, cờ và bài hát riêng. Hai chức năng trong cùng
một tổ chức, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam vừa đoàn
kết, tập hợp rộng rãi đồng bào miền Nam, vừa được sự công nhận và
ủng hộ của nhiều nước trên thế giới. Sự ra đời của Mặt trận vừa củng
cố được mặt trận đấu tranh trong nước vừa tạo dựng mặt trận đấu
tranh ngoài nước, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để
cách mạng miền Nam thắng lợi.
Hoạt động của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam sau này
luôn gắn với đường lối chính trị - ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí
Minh. Với sự ra đời của Mặt trận, một lần nữa ta thấy tầm vóc của
một thiên tài. Những thắng lợi to lớn của nhân dân miền Nam trong
cuộc đấu tranh “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” dưới sự lãnh
đạo trực tiếp của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là
minh chứng sinh động nhất cho tính đúng đắn khoa học xuất phát từ
tầm nhìn và năng lực tổng kết thực tiễn kỳ tài ở Hồ Chí Minh. Sau
ngày thống nhất đất nước, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt
Nam cùng Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình với
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hòa thành Mặt trận của nước Việt Nam thống
nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội. Kỷ niệm lần thứ 51 Ngày thành lập Mặt
trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, nhớ đến Chủ tịch Hồ Chí
Minh kính yêu, học tập và vận dụng tư tưởng của Người, với lòng biết
ơn lớp lớp những người đã ngã xuống, chúng ta càng thêm quyết tâm
củng cố vững chắc khối đại đoàn kết dân tộc, khai thác tối đa ngoại
lực nhằm xây dựng và phát triển mạnh mẽ đất nước theo định hướng xã
hội chủ nghĩa.
1. Robert S. Mc Namara, Nhìn lại quá khứ - Tấn thảm kịch và những
bài học về Việt Nam, Nxb CTQG, H, 1995, tr.55.
2, Lê Duẩn, Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ
nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới, Nxb ST, H, 1981,
tr.18.
3, 4. Bộ Ngoại giao, Sự thật về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong
30 năm qua, H, 1979, tr.24.
* ThS, Trường Chính trị Tôn Đức Thắng (An Giang).
Xem thêm bài của tác giả trong Tạp chí Mặt trận, số 96, tr.13.
|
MỤC LỤC
| Trở Về đầu trang
| |
|
|
TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
SOI SÁNG ĐỜI THƯỜNG
LÊ CAO VINH*
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà giáo dục lớn của Việt Nam trong thế
kỷ XX. Những tư tưởng giáo dục của Người đã làm rạng rỡ, góp phần
khai thông nền văn hoá giáo dục Việt Nam từ quá khứ đến hiện tại và
đi vào tương lai. Bên cạnh những tư tưởng về văn hóa giáo dục thì
Người còn là một tấm gương mẫu mực trong học tập và rèn luyện. Bằng
con đường tự học mà Người đã nói thông, viết thạo 8 ngoại ngữ và
biết đến gần 30 thứ tiếng khác nhau trên thế giới. Đây là một điều
mà không phải bất kỳ ai cũng có thể chiếm lĩnh được, đặc biệt là
trong điều kiện vô cùng khó khăn, vừa hoạt động cách mạng vừa phải
lao động để nuôi sống bản thân.
1. Mẫu mực của một tấm gương còn sống là còn phải học
Đối với Hồ Chí Minh, sự học là cả một quá trình bền bỉ, kiên trì rèn
luyện trong mọi lúc, mọi nơi. Chúng ta thấy ngay cả vào những ngày
cuối đời, khi đang nằm trên giường bệnh, Người vẫn không ngừng học
tập, nghiên cứu. Với động cơ trong sáng “Học để làm cách mạng, để
phục vụ nhân dân”, chứ không phải học để vinh thân, phì gia. Chính
vì vậy, theo Người còn sống thì còn phải học và Người xem việc học
như một quyển vở không có trang cuối cùng. Là một nhà văn hóa kiệt
xuất của nhân loại, Hồ Chí Minh thấu hiểu rằng: “Một dân tộc dốt là
một dân tộc yếu, một dân tộc mà luôn luôn trông chờ ỷ lại vào sự
giúp đỡ của nước ngoài là một dân tộc không xứng đáng được độc
lập”1. Vì vậy, ngay sau khi vừa mới giành được chính quyền, Người đã
ra lời kêu gọi toàn dân hãy diệt giặc dốt, và xem sự dốt nát là một
loại giặc, nó là bạn đồng hành với thực dân và phong kiến. Từ đó,
Người kêu gọi mỗi công dân Việt Nam phải ý thức được điều này, phải
tự giác học một cách “đích thực”, tự nâng cao trình độ bản thân bằng
con đường tự học, chứ không phải học đối phó. Người viết: “Học hỏi
là một việc phải tiếp tục suốt đời... thế giới ngày ngày đổi mới,
nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và
hành để tiến bộ kịp nhân dân”2. Chính cuộc đời hoạt động của Người
là một tấm gương lớn về tự học.
Ra đi tìm đường cứu nước, trên tàu Latouche Treville anh thanh niên
Nguyễn Tất Thành dưới cái tên mới - anh Ba, đã để lại cho thuỷ thủ
lòng khâm phục về ý chí tự học: Mỗi ngày đến 9 giờ tối công việc mới
xong, anh Ba mệt lử. Nhưng trong khi mọi người nghỉ hay đánh bài,
anh Ba đọc hay viết đến 11 giờ hoặc nửa đêm. Năm 1961 khi nói chuyện
với cán bộ đảng viên hoạt động lâu năm, Người tâm sự: “Tôi năm nay
71 tuổi, ngày nào cũng phải học... công việc có tiến triển, không
học thì không theo kịp, công việc nó sẽ gạt mình lại phía sau”3. Và
trong việc tự học cũng cần phải làm gương: Bố mẹ làm gương cho con
cái, anh chị làm gương cho em út, thầy cô làm gương cho học sinh,
cấp trên làm gương cho cấp dưới... Chúng ta cũng đã biết rằng Nguyễn
Ái Quốc đến với chủ nghĩa cộng sản bằng con đường tự học. Tại Đại
hội VII Quốc tế cộng sản (1935) với bí danh là Lin, khi khai lý lịch
trả lời câu hỏi: Trình độ học vấn: (tiểu học, trung học, đại học)
Người ghi: Tự học. Và, đồng chí biết những ngoại ngữ nào? Người ghi:
Anh, Pháp, Trung Quốc, Ý, Đức, Nga. Những dẫn chứng trên, đủ để cho
chúng ta noi theo, ít ra cũng là cái học đích thực và chân chính.
Đặc biệt là trong thực hiện chiến lược giáo dục là quốc sách hàng
đầu hiện nay.
2. Chính trị Hồ Chí Minh là một nền chính trị đạo đức
Chúng ta biết đến Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà đạo đức, một nhà
mác xít cách mạng, một nhà dân chủ lớn, một danh nhân văn hoá kiệt
xuất, anh hùng giải phóng dân tộc, một nhà văn, nhà thơ, hay một nhà
quân sự tài ba... Không chỉ vậy, chúng ta còn biết đến Người là một
nhà chính trị tài ba trong thế kỷ XX và chính trị của Người là một
nền chính trị đạo đức. Chính cuộc đời hoạt động của Người đã minh
chứng cho điều này, nhưng Người khước từ tất cả mọi danh hiệu mà bạn
bè thế giới yêu quý dành tặng cho Người. Chúng ta biết đến tác phẩm
nổi tiếng Nhật ký trong tù của Người, nếu khi đọc tác phẩm đó mà
không thấy ký tên Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh thì người đọc sẽ nhầm
tưởng đó là thơ của Đỗ Phủ hay Bạch Cư Dị, thế nhưng khi mọi người
phong cho Bác là nhà thơ, Người nói: tôi không phải là nhà thơ, tôi
làm thơ chỉ là ghi lại cảm nhận của những khoảnh khắc trong cuộc
sống, giống như người đi đường gặp làn gió đi qua nên đứng lại hóng
mát trong chốc lát vậy thôi! Và, Người chỉ nhận cho mình duy nhất
một danh hiệu, đó là: “Nhà chính trị chuyên nghiệp” và tôn chỉ của
Người không gì khác, ngoài làm chính trị là để cứu dân, cứu nước.
Chính trị đó thực chất là một nền chính trị đạo đức và đạo đức lớn
nhất của Người là phục vụ nhân dân, chống áp bức bóc lột mà chủ
nghĩa tư bản thực dân gây ra đối với con người. Điều này sẽ góp phần
lý giải một cách đầy đủ nội hàm cơ bản khi Người định nghĩa về chính
trị, đó là: “Chính trị là phải đoàn kết nhân dân để làm cách mạng...
chính trị là phải đoàn kết và thanh khiết từ to tới nhỏ”4... Một
cách định nghĩa rất Hồ Chí Minh. Chính vì vậy mà tư tưởng đoàn kết
của Người đã trở thành ngọn núi lớn nhất trong các ngọn núi, trở
thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong đường lối cách mạng của Việt Nam.
Người nói: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành
công, đại thành công” và Người khuyên chúng ta: “Năm ngón tay cũng
có ngón vắn ngón dài, vắn hay dài đều hợp nhất lại nơi bàn tay”,
trong mấy mươi triệu đồng bào ta cũng có người thế này hay thế khác,
dù thế này hay thế khác đều là con Lạc cháu Hồng, đều có cùng chung
dòng máu cho nên phải yêu thương nhau, đùm bọc nhau để cùng nhau
tiến bộ, cùng nhau phát triển. Tư tưởng này đã toát lên một ý nghĩa
nhân văn cao cả, đó là lòng bao dung, độ lượng đối với con người,
Người nói: “Đừng sợ người ta không theo mình, mà chỉ sợ mình không
có lòng độ lượng tha thứ đối với con người mà thôi”, từ đó Người
khái quát lên một triết lý: “Sông sâu biển rộng chứa bao nhiêu nước
cũng vừa vì lòng độ lượng nó lớn, nó sâu; còn một cái bát, cái chén
chứa thêm một giọt nước cũng tràn đầy vì lòng độ lượng nó hẹp”5. Đối
với con người cũng vậy, người nào có lòng độ lượng rộng lớn thì có
thể tha thứ cho những người đã từng lầm đường lạc lối, còn ai mà
lòng dạ hẹp hòi thì không thể có lòng độ lượng đó, ngược lại sinh ra
đố kị, tự kiêu, tự mãn.
Với cách nhìn như vậy, chúng ta thấy tầm nhìn của Bác là tầm nhìn
của một nhà chính trị với một “nhãn quan chính trị” sắc bén, tạo nên
sự “mẫn cảm” chính trị, thấy được sự “thấu hiểu” và “thấu cảm” đối
với con người.
3. Việc nhỏ không bỏ sót, việc lớn không xem thường
Trong tư tưởng đạo đức, nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh chúng ta
biết đến nội dung đạo đức lớn nhất của Người là Cần, kiệm, liêm,
chính; nhân văn cao cả của Người là khoan dung, độ lượng, nâng niu -
quan tâm đến giá trị con người.
Từ chuẩn mực đó, mà xuyên suốt tư tưởng đạo đức nhân văn của Người
đã toát ra mối quan tâm đến số phận của con người, phản ánh tâm tư
nguyện vọng của quần chúng nhân dân, của những người lao động chân
chính. Chính vì vậy, mà từ suy nghĩ, lời nói đến việc làm của Hồ Chí
Minh cũng nhằm vào mục đích vì con người, vì nhân dân lao động. Điều
đó, cũng dễ hiểu rằng suốt cuộc đời hoạt động của Bác trong suy
nghĩ, trong hành động không có một riêng tư nào dành cho cá nhân.
Cái riêng tư của Bác đã trở thành cái chung cho toàn dân tộc, Người
nói: “Một ngày mà dân tộc chưa giành được độc lập, đất nước chưa
được thống nhất là thêm một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên” -
cái riêng của Người là như vậy.
Nếu chúng ta đọc hết Hồ Chí Minh toàn tập gồm 12 tập, từ tập 1 đến
tập 12 chúng ta cũng chỉ duy nhất tìm thấy một lần Bác đề cập đến
bản thân, đó là trong Di chúc, Người viết: “Về việc riêng, suốt đời
tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ
nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì
phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa,
nhiều hơn nữa. Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng
linh đình để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân...”6.
Những lời Di chúc đó thấm đượm một chủ nghĩa nhân văn cao cả. Cả
cuộc đời hoạt động cách mạng của Người là một tấm gương, một biểu
hiện tiêu biểu nhất cho chủ nghĩa nhân đạo cộng sản. Một con người
suốt đời thanh bạch và trong sáng, “sữa để em thơ lụa tặng già”, một
tâm hồn lớn “làm bạn với thiên nhiên, cảnh vật, trăng và gió” một
cốt cách mang chí anh hùng “trợn mắt coi khinh nghìn lực sĩ, cúi đầu
làm ngựa kẻ nhi đồng”. Tất cả những yếu tố đó tạo nên một phong thái
mang vẻ đẹp Hồ Chí Minh với một phong cách thật “giản dị”. Sự “giản
dị” của Bác không phải là giản đơn mà “giản dị” ở đây được hiểu là
cái “tận cùng của sâu sắc”, và cái sâu sắc đó chính là “Việc nhỏ
không bỏ sót, việc lớn không xem thường”. Bác quan tâm đến nhân dân
đến con người từ việc nhỏ đến việc lớn, từ miếng cơm, manh áo của
nhân dân đến việc giải phóng con người và giải phóng cho dân tộc,
cho nhân loại bị áp bức, Người nói: “Làm Chủ tịch nước bây giờ mệt
lắm. Trăm việc đều phải lo. Trời mưa, trời nắng, gió bão... Chưa ai
lo, mình đã phải lo. Các cháu choẹt mắt chưa ai lo, mình phải lo”7.
Chính vì thế mà câu nói của Người như một mệnh đề tư tưởng cho những
người làm cách mạng, đã thức tỉnh lương tâm của chúng ta ngày hôm
nay, đó là: “Làm cách mạng giành được chính quyền rồi mà dân vẫn đói,
vẫn rét là Đảng và Chính phủ có lỗi với dân”.
Việc lớn nhất là giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Trong công việc lớn lao này, Người đã nhắc chúng ta không được xem
thường, nếu ai xem thường là hỏng việc và tất yếu sẽ dẫn đến thất
bại. Để thực hiện việc lớn đó, Người đặc biệt chú trọng đến công tác
đào tạo, giáo dục đạo đức cho cán bộ đảng viên và Người cũng đã chỉ
ra những nguy cơ mà mỗi chúng ta không được xem thường đó là: “Chủ
nghĩa cá nhân, nạn tham ô, quan liêu, bè phái, độc đoán chuyên quyền,
bệnh kiêu ngạo...”. Đó là những căn bệnh do xã hội cũ để lại, nó là
bạn đồng hành của thực dân và phong kiến. Đó là giặc nội xâm, nó sẽ
giết chết chúng ta mà không phải dùng gươm, dùng súng. Cho nên Người
khuyên chúng ta cần phải đề phòng, chống những căn bệnh đó bằng cách
mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức
cách mạng, phải thực hành dân chủ cho dân, phải gần dân, gắn bó và
học hỏi ở dân. Có như vậy, đạo đức cách mạng của người cán bộ mới
sáng ngời trong lòng dân chúng.
4. Cả đời Bác chỉ có một mục đích
Cuộc đời của mỗi con người chúng ta đều phải trải qua những sự lựa
chọn khác nhau. Chính những sự lựa chọn này đủ để quyết định đến sự
nghiệp cả đời của một con người, thành hay bại, vinh quang hay tầm
thường và cũng chính sự lựa chọn đó để thấy rõ mục đích của một con
người. Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh sự lựa chọn của Người đã đi vào
huyền thoại của nhân loại với một nhân cách vô cùng trong sáng và
cao thượng, đó là giải phóng “dân tộc, con người và xã hội”, Người
nói: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ
quốc, và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải nấp nơi núi non,
hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo - là vì mục đích đó.
Đến lúc nhờ quốc dân đoàn kết, tranh được chính quyền, uỷ thác cho
tôi gánh việc Chính phủ, tôi lo lắng đêm ngày, nhẫn nhục cố gắng -
cũng vì mục đích đó... Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ
theo đuổi môt mục đích, làm cho ích quốc lợi dân”8. Và qua quá trình
hoạt động bất kỳ trong hoàn cảnh nào, dù khó khăn, hiểm trở đến đâu
Người luôn luôn trung thành với sự lựa chọn đó, không bao giờ thay
đổi, không bao giờ lung lay, từ lúc ra đi tìm đường cứu nước cho đến
khi trở về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người vẫn một
mực trung thành với một sự lựa chọn. Đó là bản lĩnh của một con
người cách mạng chân chính. Hãy lắng nghe từ sự bộc bạch của Người
để thấy được ở Hồ Chí Minh sự lựa chọn đã khẳng định rõ mục đích,
Người nói: “Mỗi người có quyền chọn cho mình một học thuyết, riêng
tôi tôi chọn chủ nghĩa Mác” đó là chủ nghĩa chắc chắn nhất, chân
chính nhất và cách mạng nhất, “việc giải phóng dân tộc cũng chỉ có
thể là chủ nghĩa cộng sản và cách mạng thế giới”. Mục đích đó được
Người chuyển tải bằng một tình cảm khi trả lời các nhà báo tại Đại
hội lần thứ II Hội Nhà báo Việt Nam, như một chia sẻ nghề nghiệp:
“Về nội dung viết, mà các cô các chú gọi là đề tài, thì tất cả các
bài Bác viết chỉ có một đề tài là: Chống thực dân đế quốc, chống
phong kiến địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội”9. Cũng từ mục đích đó mà Người nói: “Một ngày mà nước nhà chưa
được độc lập, Nam Bắc chưa được thống nhất là một ngày tôi ăn không
ngon ngủ không yên”, kể cả khi nằm trên giường bệnh Người vẫn thao
thức “miền Nam luôn ở trong trái tim tôi”. Từ đó, không phải ngẫu
nhiên khi nói về triết lý làm người, Người nói: “Suy cho cùng là ở
đời và làm người, ở đời thì phải yêu nước, làm người thì phải thương
dân, thương nhân loại bị áp bức bóc lột” và Người đưa ra một tiêu
chí của việc tu dưỡng đạo đức là “phục vụ nhân dân là một việc làm
cao thượng”. Và cuộc đời hoạt động của Người không có gì hơn ngoài
một ham muốn, “ham muốn tột bậc là làm sao cho nước nhà được hoàn
toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm
ăn áo mặc ai cũng được học hành”10, rồi đến lời cuối cùng để lại
toàn Đảng toàn dân là “tình yêu thương” đối với con người, đối với
đồng bào và đối với các cháu thiếu niên nhi đồng thế giới... Đó là
một tấm gương đạo đức mà chúng ta phải học tập, rèn luyện và noi
theo để xứng đáng khi đứng trước chân dung của Người.
5. Cần quan tâm đến chính sách xã hội đối với con người
Trong cuộc hành trình năm châu, bốn bể khảo sát tất cả các cuộc cách
mạng tư sản điển hình như: cách mạng tư sản Anh, Pháp, Mỹ... nhưng
tất cả, theo Người đó là những cuộc cách mạng chưa đến nơi, vì cách
mạng thành công rồi mà nhân dân vẫn cực khổ, vẫn còn tồn tại những
bất công trong xã hội, vẫn còn áp bức dân tộc, vẫn còn phân biệt màu
da... Quyền lợi giành được chỉ nằm trong tay một số ít người giàu
có, một số bộ phận giai cấp tư sản mà thôi - cách mạng thành công
rồi mà dân chúng vẫn cứ lo toan làm cách mạng lần thứ hai. Từ đó,
Người khuyên cách mạng Việt Nam không đi theo các cuộc cách mạng ấy
và muốn giải phóng dân tộc, muốn đưa lại cơm no áo ấm cho dân chúng
thì chỉ có đi theo con đường cách mạng vô sản mà thôi, con đường
cách mạng Tháng mười Nga năm 1917 do V.I Lênin lãnh đạo. Đây là một
sự lựa chọn bằng tài năng và trí tuệ với một tầm nhìn vượt thời đại
của Hồ Chí Minh, đã đưa lại một sự nghiệp giải phóng triệt để cho
con người, làm vinh quang cho dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX và
triển vọng trong thế kỷ XXI.
Một trong những tính ưu việt của con đường cách mạng vô sản hơn hẳn
so với cách mạng tư sản khi thành công là đặc biệt “chăm lo chính
sách xã hội đối với con người” để tiến tới thực hiện “xã hội công
bằng, dân chủ và văn minh”. Chính sách đó được Đảng ta áp dụng xuyên
suốt trong đường lối kinh tế của Việt Nam, đó là thực hiện triệt để
lời căn dặn của Người trước lúc đi xa. Đảng và Nhà nước phải quan
tâm đến những lớp người cụ thể như các cháu thiếu niên nhi đồng,
thanh niên phụ lão, gia đình chính sách, thương bệnh binh, người có
công với cách mạng, kể cả đối với những người trước đây lầm đường
lạc lối cũng có kế hoạch để cải tạo họ đưa họ về hoà nhập với cộng
đồng... có như thế mới thể hiện được Nhà nước ta là một nước thực sự
của dân, do dân và vì dân; xã hội mà chúng ta xây dựng là một xã hội
văn minh tiến bộ, chế độ mà chúng ta hướng tới là một chế độ không
còn người áp bức bóc lột người, nó thể hiện tính nhân văn cao đẹp mà
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách xã hội đối với con người được thể
hiện bằng bản chất chính trị ưu việt của Nhà nước Việt Nam mới.
Chính sách xã hội đó nhằm giúp cho con người phát triển toàn diện về
thể chất lẫn tinh thần, nó thể hiện một xã hội giàu về vật chất,
mạnh về tinh thần: “Trẻ em thì được đến trường, thanh niên, sinh
viên, học sinh khi ra trường thì có việc làm, người già thì được an
dưỡng, thương binh bệnh binh thì được an sinh, phụ nữ thì được giải
phóng...”. Việc thực hiện chính sách xã hội đối với con người phản
ánh sự đảm bảo cho hoạt động của con người được phát triển có mục
đích, có định hướng, có kế hoạch và bảo đảm được cho phát triển sản
xuất, nâng cao năng suất lao động, điều đó được Hồ Chí Minh kiến
giải minh bạch khi đề ra những nguyên tắc phân phối trong chủ nghĩa
xã hội. Người nói: “Chủ nghĩa xã hội là công bằng hợp lý, làm nhiều
hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, những người già yếu tàn tật được Nhà
nước giúp đở, chăm nom”11. Có làm được như vậy thì mới xây dựng được
một xã hội công bằng, gắn trách nhiệm, quyền lợi với nghĩa vụ và đặc
biệt nó chuyển tải được tính nhân văn cao cả của chủ nghĩa xã hội.
Lúc đó mọi người mới thấy được trách nhiệm của mình đối với xã hội.
Việc thực hiện lời dạy của Bác, thực thi chính sách xã hội đối với
con người là thực hiện ham muốn tột bậc của Người:“Làm cho nước nhà
được hoàn toàn độc lập, dân tộc được hoàn toàn tự do, đồng bào ai
cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cúng được học hành”, đồng thời còn góp
phần vào việc xây dựng con người Việt Nam có cốt cách, nhân cách,
tài năng và phẩm chất tốt. Đó là những gì mà hôm nay và ngày mai
Đảng và Nhà nước ta đã, đang và sẽ làm một cách triệt để, thiết thực
như Người đã căn dặn.
Nếu mở đầu chúng ta thấy ba yếu tố “một con người, một dân tộc, làm
nên một sự nghiệp” lớn lao quện chặt vào nhau để hun đúc nên một bản
lĩnh, một phẩm chất của Hồ Chí Minh, thì ở đây năm yếu tố này hoà
quện vào nhau để tạo nên một nét đặc sắc nhất, làm nổi bật giá trị
đạo đức của Hồ Chí Minh - đó là, nền tảng vững chắc và trở thành nhu
cầu tất yếu để sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam toả ra khắp
thế giới. Ngày nay, triết thuyết đạo đức này trực tiếp thâm nhập vào
quần chúng nhân dân và được quần chúng nhân dân đón nhận. Đây là một
sức mạnh vật chất cho sự thắng lợi trong sự nghiệp xây dựng con
người Việt Nam mới.
Nguồn tham khảo từ Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 1995 và 2002.
* ThS, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên.
|
MỤC LỤC
| Trở Về đầu trang
| |
|
|
Lý luận
PHƯƠNG
THỨC KẾ THỪA, GIỮ GÌN, PHÁT HUY BẢN SẮC
VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
TRẦN VĂN XIN
CAO ANH*
Với thắng lợi của chính sách đổi mới, mở cửa, thực hiện công nghiệp
hóa, hiện đại hóa do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng, mở ra triển
vọng cho đất nước ta thoát khỏi sự nghèo đói lạc hậu, vươn tới cuộc
sống no ấm, văn minh, thịnh vượng. Gắn bó chặt chẽ với triển vọng ấy
là hy vọng về một thời kỳ phát triển mới, thăng hoa của nền văn hóa
nước nhà. Bởi vì tất cả chúng ta đều ý thức rõ ràng sự giàu mạnh
không phải là mục đích tự thân, mục đích cuối cùng mà chúng ta theo
đuổi. Như Mác đã dạy, nó là điều kiện cho sự “phát triển tự do những
sức lực con người”, những khả năng sáng tạo của con người, chỉ sự
phát triển ấy mới là mục đích tự thân “giàu mạnh” phải được bổ sung
bằng “giàu đẹp”, cái đẹp ấy được tạo ra từ nhiều nguồn. Ở đây, xin
đề cập đến một nguồn, đó là lĩnh vực sáng tạo tinh thần, tức là văn
hóa hiểu theo nghĩa hẹp.
Hướng tới một thời kỳ mới của phát triển văn hóa được hậu thuẫn bằng
sự giàu mạnh, thịnh vượng của nước nhà, bằng thắng lợi của công cuộc
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chúng ta không quên tính cực kỳ phức
tạp, khúc khuỷu, không đồng đều, không đơn tuyến giữa phát triển
kinh tế - xã hội với phát triển văn hóa - nghệ thuật. Không phải ai
khác, mà chính là các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác nhắc nhở chúng
ta điều này. “Nói chung, không nên hiểu khái niệm tiến bộ theo cách
trừu tượng hóa thông thường... về nghệ thuật thì ta biết rằng, một
số thời kỳ nở rộ của nó không tương ứng với sự phát triển chung của
xã hội và như vậy là cả với sự phát triển cái cơ sở vật chất tạo
thành dường như bộ xương cho tổ chức xã hội”. Sau nhận định khái
quát ấy, Mác dẫn hai ví dụ làm bằng chứng: nghệ thuật cổ Hy Lạp và
Kịch Sêchxpia thời kỳ phục hưng - những đỉnh cao của văn hóa tinh
thần loài người đạt được ở những thời đại văn hóa vật chất còn phát
triển thấp nhưng là mãi mãi đối với các thế kỷ sau, sẽ là “khuôn
vàng thước ngọc không thể với tới”. Có thể đưa ra nhiều dẫn chứng
khác xác nhận sự anh minh của Mác. Năm 1857 - 1858, khi ông đưa ra
nhận định vừa dẫn, chính là những năm cuối cùng của thế kỷ hoàng kim
của văn hóa Đức, thế kỷ mà nước Đức nửa phong kiến và cát cứ, nghèo
nàn, lạc hậu về kinh tế và bị chia cắt về chính trị, đã cống hiến
cho loài người một nền triết học vĩ đại, một nền âm nhạc vĩ đại, một
nền thơ văn vĩ đại mà so với chúng, những thành tựu văn hóa Đức thời
đế chế và sau đế chế, thời công nghiệp và hậu công nghiệp không thể
sánh bằng. Sau Đức một chút và hấp thụ ảnh hưởng của Đức, ở Nga, một
nước cũng còn nghèo nàn, lạc hậu và còn mang nặng những tàn dư của
chế độ quân chủ chuyên chế theo kiểu phương Đông, văn hóa Nga trong
một thế kỷ XIX đã đạt những thành tựu chói lọi. Ngay ở nước ta, văn
hóa - nghệ thuật Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX
- thời kỳ ấy là thế nào về mặt kinh tế - xã hội, chúng ta đều biết -
chẳng phải là đỉnh cao rực rỡ hay sao? Những kỳ công sáng tạo và cả
nhân cách khổng lồ của những danh nhân văn hóa thời ấy - Lê Hữu Trác,
Lê Quý Đôn, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát...
mãi mãi là niềm tự hào của dân tộc.
Như vậy, rõ ràng sự phát triển thăng hoa của văn hóa tinh thần phụ
thuộc nhiều vào những nhân tố nội tại của thế giới tinh thần, sự
cường thịnh kinh tế cùng với những yếu tố xã hội khác tạo nên những
tiền đề, chứ không đảm bảo những điều kiện thuận lợi cho sự phát
triển ấy. Hơn mọi lĩnh vực đời sống xã hội, lĩnh vực sáng tạo tinh
thần rất khó dự báo và lại càng khó kế hoạch hóa. Mọi sự đầu tư sáng
tạo, do đó, đều là những cuộc phiêu lưu, tất nhiên với những xác
suất thành công rất khác nhau, những tương quan rất khác nhau, giữa
mức đầu tư và thành quả cuối cùng.
Cái gốc của bản sắc văn hóa Việt Nam
Lâu nay có khá nhiều tranh luận về “Bản sắc văn hóa dân tộc Việt
Nam”. Người đi vào triết học, người đi vào folklor, người đi vào tâm
linh (việc thờ cúng ông bà, thần linh lễ hội...) có người đi vào
những di sản vật chất, như kiến trúc, điêu khắc đình chùa... để
chứng minh bản sắc văn hóa Việt Nam... Lại cũng có người đi vào duy
danh định nghĩa và cũng có người đi vào nghiên cứu chứng minh bản
sắc văn hóa Việt Nam là sự tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa
nhân loại để biến hóa thành của Việt Nam, hay nói cách khác đã “Việt
Nam hóa” đạo Phật, đạo Nho và cả triết học phương Tây. Điều đó hoàn
toàn đúng, nhưng chưa phải đi tìm đến cái gốc... Thậm chí có người
tỉ mẩn đi vào cả tục xỉa răng, tục để tóc dài, nhuộm răng đen...
Thiết nghĩ, đó chỉ thuộc về tác phong hay phong cách, phong tục, chứ
chưa phải là bản chất của bản sắc văn hóa, hay nói cách khác đó chỉ
là bề ngoài của cái ta đang cần tìm là cái gốc, cái bản chất của bản
sắc văn hóa.
Phải nhận thức rằng, bản sắc văn hóa Việt Nam chính là “lòng yêu
nước Việt Nam”. Lịch sử thế giới chưa có một dân tộc nào giống như
Việt Nam, với nghìn năm Bắc thuộc, 10 năm Minh thuộc và trăm năm
Pháp thuộc và có lẽ phải kể 20 năm Mỹ thuộc trên nửa nước. Lịch sử
thế giới chứng minh số phận nhiều dân tộc bị đô hộ rồi bị đồng hóa
luôn chỉ trong thời gian rất ngắn (nghĩa là mất dân tộc). Tính từ
khi có dương lịch đến nay (2011 năm), thì chưa có một dân tộc nào bị
đô hộ đến hơn một nửa thời gian của lịch sử nhân loại ấy đã không
những không bị đồng hóa mà lại vùng dậy tự giải phóng được mình?
Những tên tuổi tiêu biểu cho dân tộc vùng dậy chấm dứt thuộc địa là:
- Ngô Quyền chấm dứt 1000 năm Bắc thuộc.
- Lê Lợi chấm dứt 10 năm Minh thuộc.
- Hồ Chí Minh chấm dứt 100 năm Pháp thuộc và Mỹ thuộc.
Thử hỏi có một dân tộc nào trên thế giới lại có chung một mộ Tổ (Vua
Hùng), con cháu cả nước hành hương về để tưởng niệm ông cha và đã
diễn ra mọi sinh hoạt cộng đồng, thể hiện rõ nét nhất bản sắc văn
hóa của mình như ở đền Hùng? Có lẽ bởi dân tộc ấy bị đè nén, áp bức
đến cực độ nên mới có lòng yêu thương nhau đến thế và trong ứng xử
xã hội “Nhiễu điều phủ lấy giá gương” hoặc “Thương người như thể
thương thân”. Khác với Khổng giáo đặt “cái tôi” lên trên hết, còn tư
tưởng triết lý Việt Nam thì ngược lại, coi cộng đồng là hơn cả.
Có dân tộc nào hình thành nên truyền thuyết như kiểu truyền thuyết
về bọc trăm trứng với mẹ Âu Cơ? Mọi vật ở đời tưởng vô lý mà lại có
lý của nó cả. “Đồng bào”, bọc trăm trứng ai cũng thừa biết chỉ là
huyền thoại, là con người sáng tạo ra trong những bối cảnh lịch sử
dân tộc, vậy mà ai cũng tôn thờ và thấy nó linh thiêng. Người duy
vật dù không tin thì cũng vẫn tôn thờ.
Phương thức kế thừa, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Các vấn đề truyền thống và cách tân, dân tộc và hiện đại, kế thừa và
sáng tạo... trong mọi lĩnh vực xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực
văn hóa cho tới nay không phải là điều mới mẻ. Chúng được chấp nhận
như những vấn đề tất yếu, thậm chí trở thành những công thức linh
hoạt hơn, thúc đẩy quá trình phát triển xã hội. Hành trình của văn
hóa nước ta trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, tiếp nối nhau. Sự
khác nhau về chất giữa các giai đoạn này đặt ra một cách cấp thiết
vấn đề kế thừa và phát triển truyền thống văn hóa đậm đà bản sắc văn
hóa dân tộc. Tuy nhiên, kế thừa, phát triển, sáng tạo thế nào để
hiện đại, tiên tiến: cách tân mà không làm tổn hại đến cái gốc - bản
sắc dân tộc - của văn hóa lại là điều cần tìm hiểu.
Về gốc gác truyền thống văn hóa dân tộc, đặc biệt về bản sắc văn hóa
dân tộc, nhiều công trình và nhiều bài báo đề cập khá tỉ mỉ, cụ thể
với những quan điểm và lý luận khác nhau. Những ý kiến này tuy chưa
đến độ thống nhất cao song cũng đạt đến độ đồng nhất nhất định. Sự
đồng nhất này là ở chỗ khẳng định dân tộc ta có hệ giá trị tinh thần
xã hội, có truyền thống lâu đời về chống ngoại xâm, bình dị, cần cù
chịu khó, đặc biệt có nền văn hiến, văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc
cần được trân trọng và lưu giữ, kế thừa và phát huy. Về hình thức,
đây là vấn đề không còn gì phải bàn cãi, song về mặt nội dung, bản
sắc văn hóa Việt Nam gồm những gì, cần kế thừa và chọn lọc thế nào,
phương thức tối ưu cho việc kế thừa và phát triển bản sắc văn hóa là
gì... đòi hỏi phải có một cách nhìn nhận và lý giải rõ ràng hơn.
Sáng tạo và phát triển trên cơ sở kế thừa truyền thống là nhu cầu xã
hội và lịch sử về mọi phương diện. Vấn đề bản sắc dân tộc của văn
hóa trong bối cảnh mới cũng đòi hỏi kế thừa và phát huy, thu nhận và
gạn lọc. Trong văn hóa, sợi dây nối quá khứ - hiện đại - tương lai
thường bền chắc, liên tục và hầu như không đứt đoạn. Văn hóa và bản
sắc dân tộc của văn hóa theo dòng lịch sử thường không thoát ly
truyền thống, trái lại còn là một tiếp nối có phê phán giá trị
truyền thống nhằm đạt đến độ tính chất khi khai thác giá trị truyền
thống để xây dựng những giá trị mới trong điều kiện mới.
Trong vấn đề có tính tất yếu này, thực tế cho thấy có những xu hướng
phát triển khác nhau trên cơ sở những quan điểm khác nhau về vấn đề
bản sắc văn hóa. Sự khác nhau ấy gây ra nhiều xáo trộn trong những
cố gắng kế thừa và phát triển bản sắc văn hóa và cũng như phát triển
toàn bộ “nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” ở nước ta
hiện nay. Vấn đề đặt ra ở đây, cả trên bình diện lý luận lẫn thực
tiễn, là cần có sự thống nhất tương đối quan điểm, xu hướng phát
triển, phương thức kế thừa, sáng tạo và phát huy bản sắc văn hóa dân
tộc đi từ truyền thống đến hiện đại.
Cho tới nay, vẫn song song tồn tại những xu hướng và phương thức cực
đoan trong kế thừa và đổi mới bản sắc văn hóa dân tộc, tạm gọi là
các xu hướng tự tôn dân tộc và tự ti dân tộc quá mức. Xu hướng đầu
coi mọi cái thuộc về truyền thống, thuộc về lịch sử đều tốt đẹp, cần
được kế thừa và phát triển, không có những truyền thống dở, hay nói
cách khác là cái sai, cái dở không thuộc về truyền thống. Xu hướng
này dẫn đến thái độ tôn sùng dân tộc, đóng cửa tự ngắm mình, bóp
chết giao lưu và phát triển, phủ nhận những tinh hoa văn hóa toàn
cầu. Xu hướng thứ hai nghiêng về sự cách tân vọng ngoại, thoát ly cơ
sở truyền thống văn hóa dân tộc, xu hướng này dẫn đến thái độ tự ti
dân tộc, tự coi mình là nhược tiểu, choáng ngợp trước thế giới, thất
thế trong giao lưu quốc tế cả về kinh tế lẫn văn hóa. Những xu hướng
cực đoan này không những gây ra những phức tạp trong khi đặt vấn đề
bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc mà còn dẫn đến những cách hiểu phiến
diện, lệch lạc về các khái niệm bản sắc văn hóa, truyền thống và đổi
mới, kế thừa và cách tân, dân tộc và quốc tế... cũng như các mối
quan hệ nhiều chiều giữa chúng với nhau.
Thực tiễn phát triển văn hóa cũng như thực tiễn vận động của vấn đề
bản sắc văn hóa dân tộc ở nước ta cho thấy có không ít những hiện
tượng lệch lạc, đã phá vỡ truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc;
du nhập mốt, sáng tạo, thưởng thức, tiêu dùng những giá trị văn hóa
lai căng, ngoại lai, không phù hợp với đạo đức, phong hóa truyền
thống dân tộc. Thậm chí nhiều loại hình văn hóa đen, độc hại như
phim sex, sách báo đồi trụy, phản động... đã lợi dụng tình thế mở
cửa mà ùa vào từng ngóc ngách xã hội làm băng hoại đạo đức, ô nhiễm
môi trường văn hóa, ảnh hưởng không tốt đến lối sống, cách sống, sự
sáng tạo giá trị văn hóa nghệ thuật, phong thái ứng xử, giao tiếp và
hàng loạt các vấn đề có liên quan đến truyền thống và bản sắc văn
hóa dân tộc. Ở đây không đi sâu vào các hiện tượng, các biểu hiện cụ
thể của văn hóa - phản văn hóa, bản sắc - thiếu bản sắc... mà chỉ
qua các hiện tượng để cắt nghĩa bản chất và phương thức vận động của
văn hóa trong việc giữ gìn bản sắc dân tộc của mình. Trong vấn đề
này chúng ta đã có những hoạt động và những thành tựu đáng kể.
Thứ nhất, chúng ta có đủ thời gian và điều kiện thực tiễn để thẩm
định và đánh giá toàn bộ hệ giá trị văn hóa tinh thần Việt Nam,
đường đi của bản sắc dân tộc cũng như toàn bộ vốn văn hóa truyền
thống của dân tộc, cái tạo nên sắc thái văn hóa. Sự phát triển văn
hóa dân tộc nhiều thời đoạn đã cho thấy sự sáng tạo và kế thừa giá
trị văn hóa, bản sắc văn hóa và chắt lọc tinh hoa, gạt bỏ những hạt
sạn, vừa sáng tạo vừa thâu nhận, làm đầy thêm kho tàng văn hóa dân
tộc.
Quan điểm kế thừa và nâng cao giá trị truyền thống trong bản sắc văn
hóa đã được thực tiễn chứng minh là đúng. Đặc biệt, thực tiễn văn
hóa nghệ thuật đã cho thấy các giá trị dân tộc, các truyền thống dân
tộc mà truyền thống yêu nước, truyền thống văn hiến lâu đời là đặc
thù... không thể không gia nhập như là một yếu tố nội sinh quan
trọng của bản sắc văn hóa dân tộc. Sự hòa hợp dân tộc - hiện đại đã
tạo nên những tác phẩm văn hóa nghệ thuật vừa chân thật vừa sinh
động, vừa mang ý nghĩa toàn cầu vừa thấm đượm những vấn đề dân tộc.
Thứ hai, từ lâu chúng ta đã có được một cách xử lý hài hòa các vấn
đề riêng - chung, dân tộc - hiện đại, dân tộc - quốc tế theo quan
điểm vừa giữ gìn bản sắc dân tộc, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa thế
giới. Phương thức tốt nhất mà Đảng ta đã đề ra là phải kết hợp hài
hòa cái tiên tiến và cái bản sắc, phải kế thừa trên cơ sở nâng cao
giá trị truyền thống văn hóa dân tộc, đồng thời tiếp thu tất cả tinh
hoa văn hóa trong và ngoài biên giới, song phải tránh nguy cơ đồng
hóa, đồng phục văn hóa. Đường lối ấy đã, đang và sẽ được thực hiện
trong đời sống xã hội và đời sống văn hóa. Một điều dễ dàng nhận
thấy là xu hướng “về nguồn”, tức là tìm về giá trị văn hóa dân tộc
nhân bản đang nở rộ trên các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực văn hóa.
Trong lúc mở cửa hòa nhập với thế giới, chúng ta hết sức coi trọng
vốn văn hóa dân tộc - chất liệu quan trọng để tạo nên bản sắc văn
hóa. Bên cạnh các loại hình nghệ thuật mang tính quốc tế, hiện đại
như điện ảnh, sân khấu, ôpêra, nhạc giao hưởng... luôn song hành tồn
tại các loại hình truyền thống như sân khấu chèo, tuồng, cải lương,
dân ca... và ngay trong các loại hình được gọi là hiện đại đó thì đề
tài dân tộc, cách mạng... tức là những gì đậm sắc thái dân tộc Việt
Nam vẫn được đề cao, vẫn chiếm một tỷ trọng lớn. Ngay trong cấu trúc
các loại hình văn hóa thì bên cạnh các mảng hiện đại, vẫn luôn tồn
tại các bộ phận di sản văn hóa, mỹ thuật cổ, sân khấu truyền
thống... Mặc cho ý nghĩa hay phát huy ở mức độ nào, nó vẫn phản ánh
cách nhìn đúng của các hoạt động văn hóa nghệ thuật trong việc giữ
gìn bản sắc văn hóa.
Cuối cùng trong quá trình phát triển của mình, văn hóa đã đầy thêm
bằng hàng loạt mối quan hệ về vật chất. Chúng ta không chỉ có quan
hệ giữa cái truyền thống - cái cách tân, mà còn cái dân tộc - cái
quốc tế, cái riêng - cái chung, cái tiên tiến - cái bản sắc... sự mở
rộng nội hàm cho phép ta nhìn vấn đề truyền thống, vấn đề bản sắc rõ
nét hơn, có thể xác định được cái gì là truyền thống riêng của dân
tộc, cái gì là giá trị (vốn được coi là truyền thống) mà các dân tộc
khác cũng có, tránh được những cực đoan mà người ta thường gọi là
dân tộc hẹp hòi hay hiện đại chông chênh (do thiếu nền tảng dân
tộc).
Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động văn hóa đã và đang cho thấy sự lúng
túng trong cơ chế hoạt động, trong phương thức quản lý văn hóa,
trong bản thân việc nhận thức và đánh giá vấn đề bản sắc văn hóa
Việt Nam. Những khác biệt và băn khoăn này là có thật. Kế thừa thế
nào? Sáng tạo và phát huy ra sao để bản sắc văn hóa Việt Nam vừa
biểu đạt được không khí hiện đại, tiên tiến vừa không phá vỡ truyền
thống dân tộc, để sự tiếp nối này vừa có cái gốc dân tộc vừa là sự
tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại. Làm thế nào đểå sự
phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam vừa là mục tiêu, vừa là động lực
phát triển xã hội... thực sự là những câu hỏi khó, và từ xa xưa tới
nay, trong khi trả lời những câu hỏi đó, chúng ta đã có một số thiếu
sót:
- Lầm lẫn trong khi xử lý khái niệm, đồng nhất lịch sử với tính
truyền thống, đúng hơn là coi giá trị lịch sử đồng nghĩa với giá trị
truyền thống. Chúng ta cho rằng giá trị truyền thống là sự tinh
tuyển giá trị lịch sử, mang tính bản sắc, chứ không phải toàn bộ văn
hóa. Nói đến sự kế thừa và phát huy truyền thống văn hóa cũng đồng
nghĩa với việc sáng tạo, kế thừa những giá trị tinh túy, những sắc
thái căn bản của văn hóa, chứ không phải là tất cả.
- Chưa thống nhất được nội hàm bản sắc dân tộc của văn hóa trong
từng thời đoạn cụ thể, còn hiểu chung chung nên tỏ ra thiếu bản lĩnh
trong bảo vệ và giữ gìn bản sắc văn hóa trong bối cảnh mới. Vì thế,
rất cần thiết bàn luận và thống nhất quan niệm giữa truyền thống -
hiện đại, bản sắc và tính tiên tiến (nhân loại, xã hội chủ nghĩa)
nhằm tạo điều kiện cho sự kế thừa, gạn lọc và phát huy bản sắc văn
hóa dân tộc.
- Nhận thức của chúng ta, đặc biệt là những người đang hoạt động văn
hóa về các vấn đề lý luận văn hóa chưa được kỹ càng. Cơ chế hoạt
động rườm rà, giẫm chân lên nhau trong nghiên cứu, sáng tạo, phổ
biến và tiêu dùng văn hóa đã tạo tiền đề cho những lộn xộn trong đời
sống văn hóa xã hội, khiến cho giao lưu quốc tế về văn hóa ngày càng
gặp khó khăn, nguy cơ và thách thức trong việc giữ gìn bản sắc văn
hóa ngày càng lớn.
Trên cơ sở đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng với mục tiêu “xây
dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, chúng ta cần
khẳng định lại vấn đề kế thừa truyền thống có chọn lọc trên cơ sở
nâng cao những giá trị dân tộc và nhân loại, kế thừa với mục đích
phát triển và sáng tạo cái mới, bổ sung cho cái đã có. Nghị quyết
Đại hội Đảng lần thứ VIII và XI đều nhấn mạnh tính hài hòa, hai mặt
hữu cơ của văn hóa: từ nội dung xã hội chủ nghĩa và hình thức dân
tộc; nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc đến một nền văn
hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đó là những cách diễn đạt
khác nhau nhưng cũng còn là những thay đổi về chất của bản thân văn
hóa trong từng giai đoạn. Cho nên phát triển, sáng tạo cái mới trên
cơ sở kế thừa tinh hoa truyền thống dân tộc là phương thức không chỉ
dành riêng cho văn hóa. Trong bối cảnh của cơ chế thị trường và
chính sách mở cửa với nhiều biến động không nhỏ trong nước và quốc
tế, phải chú ý đến vấn đề bản sắc văn hóa với một chất lượng mới.
Tính lịch sử của vấn đề bắt buộc văn hóa phải theo kịp thời đại,
thậm chí “đi trước” thời đại. Song nếu không chú trọng đúng mức, văn
hóa dễ thoát ly gốc gác truyền thống của mình, trở thành cái hiện
đại trôi nổi, chông chênh không bền vững, hoặc bám chặt lấy truyền
thống, kể cả những giá trị quá cũ, dễ trở thành hẹp hòi, vị dân tộc.
Hệ giá trị tinh thần ngày càng có nhiều biến đổi. Các tiêu chuẩn
định hướng văn hóa và bản sắc văn hóa cũng có những chuyển dịch. Sự
truyền lan không biên giới của các nền văn hóa trên toàn cầu, ngoài
những cái hay còn có những cái không phù hợp, đang khiến tính dân
tộc và truyền thống bị coi nhẹ. Xét cho cùng những “mốt, làn sóng,
chủ nghĩa...” hiện đại, dù được tán thưởng hay ngự trị một thời cũng
không còn đất sống nếu không tìm được cách hội nhập vào tâm lý
truyền thống, lấy chỗ dựa ở truyền thống. Cho nên, để sáng tạo cái
mới một cách hoàn chỉnh, không thể không khai thác nghiêm túc vốn
truyền thống, nâng lên chất lượng mới cho phù hợp tiêu chí tiên tiến,
hiện đại. Truyền thống phải là giá đỡ, là cái gốc để thẩm định lại
sáng tạo văn hóa hiện đại. Hai mặt của vấn đề này luôn hữu cơ, bổ
sung cho nhau, làm thành phương thức hữu hiệu: đến hiện đại từ
truyền thống, gắn hiện đại với truyền thống... Đó là cách giữ gìn và
phát huy có hiệu quả bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh mới.
Bên cạnh truyền thống, bản sắc dân tộc nói chung cần ưu tiên nghiên
cứu, khám phá, chắt lọc những bản sắc văn hóa tộc người, những ánh
rọi lấp lánh mà nhiều khi ta chưa chú trọng đúng mức. Có như vậy,
chúng ta mới có thể vừa củng cố lại ý thức dân tộc mà đây đó, tùy
từng đối tượng đã có phần lu mờ; vừa tổ chức bảo vệ, giữ gìn, phát
huy tinh hoa văn hóa dân tộc trong sự hòa nhập quốc tế và giao lưu
văn hóa ngày càng thêm mạnh mẽ.
* ThS. Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III.
|
MỤC LỤC
| Trở Về đầu trang
| |
|
|
XÂY
DỰNG HIẾN PHÁP THỨ 5 CỦA NỀN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
VỚI NHỮNG QUY ĐỊNH MỚI VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THANH BÌNH*
1. Sự cần thiết phải xây dựng bản Hiến pháp mới
Hiến pháp là đạo luật cơ bản của Nhà nước, là văn kiện chính trị -
pháp lý quan trọng, thể hiện bản chất dân chủ, tiến bộ của Nhà nước
và chế độ. Hiến pháp quy định về những quan hệ xã hội liên quan đến
việc tổ chức bộ máy nhà nước; là một văn bản tổ chức đời sống chính
trị của một đất nước; điều chỉnh những quan hệ xã hội rường cột của
đất nước, đặt nền tảng pháp lý cho một quốc gia. Do đó, Hiến pháp là
cơ sở của hệ thống pháp luật của nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao
nhất, mọi văn bản pháp luật phải phù hợp với Hiến pháp, không được
mâu thuẫn với Hiến pháp.
Kể từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến nay, nước ta
đã có 4 bản Hiến pháp: Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến
pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung một số điều
vào năm 2001). Nay đã đến lúc nước ta cần phải có một Hiến pháp mới,
Hiến pháp thứ 5 của nền Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa, Hiến pháp của thế
kỷ XXI, mà không phải là Hiến pháp 1992 được sửa đổi, bổ sung lần
thứ 2.
Như mọi người đều biết, Hiến pháp năm 1992 là Hiến pháp của thời kỳ
đầu đổi mới cách đây đúng 10 năm đã được sửa đổi, bổ sung một lần
một số điều vào năm 2001. Đến nay, đất nước ta đã có nhiều thay đổi
trong bối cảnh quốc tế có những biến đổi to lớn và sâu sắc. Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ
sung, phát triển năm 2011), Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
2011 - 2020, Báo cáo chính trị của Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XI của Đảng, trên cơ sở tổng kết sâu sắc thực tiễn và lý luận 25
năm đổi mới, đã xác định rõ mục tiêu, định hướng phát triển toàn
diện, bền vững đất nước trong giai đoạn cách mạng mới nhằm xây dựng
nước Việt Nam Xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh. Vì vậy, đây là lúc chín muồi để nước ta có một bản
Hiến pháp mới.
Đối với Hiến pháp mới, cần nghiên cứu, thể hiện lời văn, kỹ thuật
trình bày bảo đảm các quy định của Hiến pháp đúng tầm là đạo luật cơ
bản, có tính ổn định lâu dài, hình thành Hiến pháp thứ 5 của nước ta
có thể áp dụng ít nhất cho đến năm 2050.
Theo “Kế hoạch sơ bộ sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 (Kèm theo
Tờ trình số 11/TTr-UBTVQH13 ngày 2-8-2011)” của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội thì lộ trình thông qua Dự thảo Hiến pháp sẽ vào tháng 10
năm 2013, do vậy chúng tôi xin tạm gọi Hiến pháp thứ 5 của nền Cộng
hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Hiến pháp 2013.
2. Bản Hiến pháp mới 2013 quy định những vấn đề gì?
Bản Hiến pháp mới của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy
định chế độ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an
ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên tắc tổ
chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, thể chế hoá mối quan hệ
giữa Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý.
Những mối quan hệ xã hội được Hiến pháp Việt Nam điều chỉnh có thể
chia thành những nhóm sau đây:
2.1. Những mối quan hệ xã hội liên quan đến nguồn gốc của quyền lực
nhà nước và bản chất của quyền lực nhà nước. Những mối quan hệ này
được quy định ở Chương I của Hiến pháp với tiêu đề “Nước Cộng hoà Xã
hội chủ nghĩa Việt Nam - Chế độ chính trị”. Qua những mối quan hệ
này cho phép xác định nguồn gốc và bản chất của Nhà nước ta. Đó là
Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì
nhân dân.
2.2. Những mối quan hệ xã hội liên quan đến việc xác định cơ sở kinh
tế, văn hoá, xã hội của việc tổ chức nhà nước Việt Nam. Những mối
quan hệ này đặt nền tảng cho việc tổ chức nhà nước. Những mối quan
hệ này được điều chỉnh ở các chương: Chương II - Chế độ kinh tế;
Chương III - Văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ; Chương IV - Bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
2.3. Những mối quan hệ xã hội giữa Nhà nước và công dân. Đó là những
mối quan hệ xã hội xác định hình thức tham gia của nhân dân vào việc
quyết định những công việc của Nhà nước, xác định các quyền và nghĩa
vụ cơ bản của công dân. Những mối quan hệ này được điều chỉnh ở
Chương V - Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
2.4. Những mối quan hệ xã hội liên quan đến mô hình Nhà nước Việt
Nam. Qua đó, cho phép xác định cơ cấu, tổ chức các cơ quan nhà nước
và mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với nhau. Những mối quan hệ
này được điều chỉnh ở các chương: Chương VI - Quốc hội; Chương VII -
Chủ tịch nước; Chương VII - Chính phủ; Chương IX - Hội đồng nhân dân
và Ủy ban nhân dân; Chương X - Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân
dân.
Ngoài những quy định nói trên, Hiến pháp Việt Nam còn có hai chương:
Chương XI - Quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, thủ đô, ngày quốc khánh;
Chương XII - Hiệu lực của Hiến pháp và việc sửa đổi Hiến pháp.
3. Quy định mới về hệ thống chính trị trong Hiến pháp năm 2013
Hệ thống chính trị là tổng thể những tổ chức thực hiện quyền lực
chính trị được xã hội chính thức thừa nhận. Hệ thống chính trị tư
sản hiện đại thể hiện nền dân chủ tư sản, bao gồm: nhà nước tiêu
biểu cho quyền lực công, với các cơ quan lập pháp (nghị viện), cơ
quan hành pháp, cơ quan tư pháp; các chính đảng; các tổ chức nghề
nghiệp, tổ chức chính trị - xã hội, cùng tham gia hoạt động chính
trị (tranh cử, tham gia chính quyền, biểu tình, vận động quần
chúng...). Đặc trưng của hệ thống chính trị tư sản theo chế độ đại
nghị hay chế độ tổng thống, là chế độ nhiều đảng do giai cấp tư sản
và chính đảng của nó lãnh đạo; là chế độ tam quyền phân lập.
Hệ thống chính trị Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thể hiện bản chất của
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhân dân
làm chủ, Nhà nước quản lý”. Đảng Cộng sản, với tư cách là đội tiên
phong của giai cấp công nhân, đại biểu cho lợi ích của nhân dân lao
động và của toàn dân tộc, có sứ mạng lãnh đạo toàn bộ xã hội thông
qua nhà nước và các đoàn thể nhân dân; bộ máy nhà nước có chức năng
quản lý mọi mặt đời sống xã hội; các đoàn thể nhân dân có chức năng
tập hợp các giai cấp, tầng lớp xã hội tham gia việc quản lý nhà
nước, quản lý xã hội.
Như vậy, xây dựng quy định về hệ thống chính trị trong Hiến pháp năm
2013 bao gồm việc xây dựng các quy định về Nhà nước, về Đảng Cộng
sản Việt Nam về các đoàn thể nhân dân, và có vai trò đặc biệt quan
trọng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
3.1. Về Nhà nước
Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền; Nhà
nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là tổ chức trung tâm và là
trụ cột của hệ thống chính trị, thực hiện ý chí, quyền lực của nhân
dân, thay mặt nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân quản lý toàn
bộ hoạt động của đời sống xã hội và thực hiện chức năng đối nội, đối
ngoại.
Điều 2 của Hiến pháp năm 1992 quy định: “Tất cả quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân
với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. Chúng tôi cho rằng,
trong điều luật này nên bỏ cụm từ “mà nền tảng là liên minh giữa
giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. Bởi
vì:
Chúng ta đang phấn đấu để thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh”, và để có được một xã hội như vậy, cần
phải huy động sức mạnh và có sự đóng góp công sức của toàn thể nhân
dân, cần phải phát huy sức mạnh toàn dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết
toàn dân là động lực phát triển của đất nước, như từ Nghị quyết đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã đề ra. Một điểm nổi
bật trong đường lối, chính sách của Đảng về mặt chính trị trong thời
gian vừa qua là Đảng đã xác định: Động lực chủ yếu để phát triển đất
nước là đại đoàn kết toàn dân, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực
của toàn xã hội. Đoàn kết, đại đoàn kết bao giờ cũng là nguồn sức
mạnh của dân tộc Việt Nam. Đoàn kết toàn dân thì tạo ra được sức
mạnh vật chất và tinh thần, huy động được các nguồn lực, khai thác
được các thuận lợi mới, vượt qua các thách thức mới, đi đến những
thành công mới.
Mặt khác, bên cạnh việc quan tâm đến lợi ích của lực lượng cầm
quyền, các Nhà nước đều cố gắng quan tâm đến lợi ích chung của toàn
thể nhân dân, của toàn xã hội. Do đó, chúng ta không nên quá nhấn
mạnh đến tính giai cấp của Nhà nước, vì như vậy có thể gây ra những
trở lực không đáng có cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
Với lập luận trên, chúng tôi đề nghị Điều 2 của Hiến pháp nên được
viết là: “Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước
pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về toàn thể nhân dân Việt Nam, không
phân biệt nam nữ, giai cấp, dân tộc, tôn giáo”.
3.2. Về Đảng
Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân,
đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc
Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của
nhân dân lao động và của dân tộc. Do vậy, việc Hiến pháp dành riêng
Điều 4 để ghi nhận quyền lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, ghi
nhận “Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và
pháp luật” là cần thiết và phù hợp với hoàn cảnh của nước ta.
Tuy nhiên, Điều 4 Hiến pháp 1992 chỉ quy định: “Đảng Cộng sản Việt
Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam” là chưa đầy đủ.
Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là đội tiên phong của giai cấp công
nhân Việt Nam mà còn là đội tiên phong của nhân dân lao động và của
cả dân tộc như Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) và Điều lệ của Đảng
Cộng sản Việt Nam ghi nhận. Vì vậy, khổ 1 của Điều 4 cần được sửa
lại là: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công
nhân Việt Nam, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và
của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp
công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác -
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã
hội”.
Hai nữa, không chỉ mọi tổ chức của Đảng cần hoạt động trong khuôn
khổ Hiến pháp và pháp luật mà điều quan trọng là mọi đảng viên cũng
phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Do vậy, khổ 2
Điều 4 cần được sửa lại là: “Mọi tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt
động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.
3.3. Về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội và đoàn
thể nhân dân là những tổ chức đại diện cho lợi ích của các cộng đồng
xã hội khác nhau tham gia vào hệ thống chính trị theo tôn chỉ, mục
đích, tính chất của từng tổ chức. Ở Việt Nam hiện có 5 tổ chức chính
trị - xã hội gồm: Hội Nông dân, Liên đoàn Lao động, Hội Liên hiệp
Phụ nữ, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh.
Ngoài ra còn có nhiều tổ chức xã hội và các đoàn thể nhân dân khác.
Các tổ chức này đã đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh
giành độc lập dân tộc trước đây. Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc hiện nay, các tổ chức này đang góp phần quan trọng đưa các
chính sách của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống.
Trong thời kỳ mới, Hiến pháp mới cần bổ sung:
Một là, vai trò, chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp, chính đáng của nhân dân, chăm lo lợi ích của các đoàn viên,
hội viên của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân;
Hai là, vai trò là bộ phận của hệ thống chính trị của nước Cộng hòa
Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân
dân;
Ba là, vai trò, chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận
Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.
Bởi lẽ:
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân có vai trò rất
quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc, tập hợp, vận
động, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc, đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân
dân, của đoàn viên, hội viên; tham gia xây dựng Đảng và Nhà nước,
tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, thực hiện giám sát xã hội,
phản biện xã hội như Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Nghị quyết
Đại hội X, XI của Đảng đã nêu.
Mặt trận Tổ quốc được xác định là tổ chức liên minh chính trị, liên
hiệp tự nguyện bao gồm tổ chức chính trị (ở đây hiểu là Đảng Cộng
sản Việt Nam), các đoàn thể nhân dân và cá nhân tiêu biểu trong các
giai cấp, tầng lớp xã hội các dân tộc, các tôn giáo và người Việt
Nam ở nước ngoài. Do vậy, Mặt trận Tổ quốc bao gồm các tổ chức và cá
nhân thành viên nói trên là bộ phận của hệ thống chính trị do Đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo (như Khoản 2 Điều 1 Luật MTTQ Việt Nam đã
quy định). Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là người lãnh đạo Mặt trận,
vừa là thành viên của Mặt trận.
Đối với vai trò, chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận
Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân thì xuất phát từ sự thừa nhận Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan
trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc. Tính đến hoạt động đặc thù của Mặt trận và đoàn thể,
Đảng ta khẳng định: “Đảng tôn trọng tính tự chủ, ủng hộ mọi hoạt
động tự nguyện, tích cực, sáng tạo và chân thành lắng nghe ý kiến
đóng góp của Mặt trận và các đoàn thể. Đảng, Nhà nước có cơ chế,
chính sách, tạo điều kiện để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân hoạt
động có hiệu quả, thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội”1.
Thực tế thời gian qua, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính
trị - xã hội và nhân dân đã thực hiện hoạt động giám sát; tích cực
tham gia góp ý kiến vào dự thảo nghị quyết của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước; chủ động phối hợp với cơ quan nhà nước xây
dựng và ban hành một số quy định, cụ thể hoá một bước cơ chế giám
sát và đã đạt được kết quả bước đầu. Tuy nhiên, đến nay hoạt động
giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính
trị - xã hội và nhân dân còn nhiều hạn chế, hiệu quả chưa cao. Phản
biện xã hội là nhiệm vụ mới, rất quan trọng, khó khăn và nhạy cảm,
nhưng chưa có cơ chế phản biện xã hội cụ thể, chưa có quy định thật
rõ về mục đích, yêu cầu, nguyên tắc, chủ thể, đối tượng, nội dung.
Trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội 2011 - 2020, Đảng ta đã
nêu: “Hoàn thiện cơ chế để nhân dân đóng góp ý kiến, phản biện xã
hội và giám sát công việc của Đảng và Nhà nước, nhất là về các chính
sách kinh tế, xã hội, về quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án
phát triển quan trọng”2. Vì thế, việc bổ sung vai trò, chức năng
giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
nhân dân vào Hiến pháp là hết sức cần thiết.
Do vậy, Khổ 2 Điều 9 Hiến pháp năm 1992 nên được sửa lại là: “Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, đại diện cho quyền
và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, là bộ phận của hệ
thống chính trị, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Mặt
trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí
về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng
cố chính quyền nhân dân, cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích hợp
pháp, chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền
làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, thực hiện vai
trò giám sát và phản biện xã hội đối với Đảng và Nhà nước”.
Hiện nay, điều kiện tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các
tổ chức thành viên còn phụ thuộc nặng nề vào nhà nước theo kiểu cơ
chế xin cho, điều đó đôi khi biến các tổ chức này thành nơi “ăn theo,
nói leo”. Điều này, cũng được phản ánh vào Hiến pháp, thể hiện ở khổ
3 Điều 9 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Nhà nước tạo điều kiện để Mặt
trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên hoạt động có hiệu quả”. Theo
chúng tôi, thay vì sử dụng ngôn ngữ ở dạng thức chủ động theo công
thức “Nhà nước tạo điều kiện...”, theo tư duy bao cấp; nên chăng sử
dụng ngôn ngữ ở dạng thức bị động theo công thức “... Nhà nước bảo
đảm các điều kiện...”. Công thức này sẽ nói lên nghĩa vụ của Nhà
nước đối với các đối tượng được hưởng. Nếu các điều kiện cần thiết
không được tạo ra trên thực tế cho đối tượng được hưởng thì Nhà nước
đã vi phạm nghĩa vụ Hiến pháp. Hơn nữa, việc sử dụng cụm từ “Nhà
nước tạo điều kiện...” còn làm cho trách nhiệm của Nhà nước thiếu rõ
ràng, vì nếu các điều kiện cần thiết không được tạo ra cho đối tượng
được hưởng, thì đối tượng được hưởng biết kiện ai. Vì Nhà nước chỉ
“tạo điều kiện” khi Nhà nước thấy thuận cho mình, còn Nhà nước không
có nghĩa vụ đảm bảo cho các điều kiện này tồn tại.
Do vậy, ứng dụng vào khổ 3 Điều 9 Hiến pháp năm 1992 là: “Nhà nước
tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên hoạt
động có hiệu quả” nên được sửa lại là: “Nhà nước bảo đảm các điều
kiện để Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên hoạt động có hiệu
quả”.
1, 2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XI, Nxb CTQG, H, 2011, tr.87, 145.
* Ths. Trưởng phòng Dân nguyện Ban Dân chủ - Pháp luật, Ủy ban Trung
ương Mặt trận TQVN.
Xem thêm bài của tác giả trong Tạp chí Mặt trận số 95, tr. 37. |
|
|
|
|
MỤC LỤC
| Trở Về đầu trang
| |
|
|
|
|
|
|
|