Ðặt làm trang chủ

    Google   

                 | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ |   

             | Hộp Thư |
     

 
 

 



   


              
 


        Sự kiện

TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2011
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO NĂM 2012

                                                                           NGUYỄN LANG*

      Cần nhìn lại tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2011 với tinh thần “ôn cố, tri tân”, làm rõ những tồn tại vướng mắc đang cản trở quá trình phát triển của chúng ta để đề xuất những giải pháp có hiệu quả và khả thi nhằm vượt qua những trở lực đó. Tư duy theo chiều hướng đó thể hiện tinh thần cách mạng tiến công nhằm đưa nền kinh tế - xã hội nước ta phát triển một cách bền vững chứ không phải là để hạ thấp thành quả đã đạt được, được nhân dân trong nước cũng như dư luận thế giới xác nhận.

I. Tình hình kinh tế - xã hội năm 2011 và nhiệm vụ của năm 2012

 Báo cáo của Chính phủ tại kỳ họp thứ 2 của Quốc hội khóa XIII, cũng như tại phiên họp thường kỳ của Chính phủ tại tháng 11-2011 đã chỉ rõ những thành tựu, khó khăn tồn tại và phương hướng nhiệm vụ của năm 2012. Đồng thời, tại kỳ họp này, Quốc hội cũng đã thông qua kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2012 và năm 2011 - 2015. Nội dung của Nghị quyết Đại hội XI cũng được thể hiện cụ thể hơn qua Kết luận 02/KL-TƯ của Bộ Chính trị và nội dung Hội nghị Trung ương 3. Từ đó, có thể tóm tắt một số điểm chính sau đây:

1. Một số nét về tình hình chung

Trên phạm vi thế giới, tình hình không ổn định diễn ra trên nhiều mặt.

Ở phạm vi trong nước có một số nét nổi bật. Ngay từ đầu năm đã xuất hiện tình hình tái lạm phát nên ngay từ 24-2-2011, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 11/NQ-CP để kiềm chế lạm phát. Mãi đến quý IV, tình hình mới bước đầu được cải thiện, nhưng nhìn chung, lạm phát của năm 2011 vẫn có thể ở mức khoảng 18%. Đại hội XI của Đảng đã thành công tốt đẹp, qua bản kiểm điểm của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X trước Đại hội XI, nổi lên tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật” để thấy rõ những trở lực phát sinh ngay từ nội tại của nền kinh tế - xã hội nước ta, để có giải pháp khắc phục. Quá trình này được thể hiện ngay từ Kết luận 02/KL-TƯ (15-3-2011) của Bộ Chính trị về tình hình kinh tế - xã hội, trong đó có xác định chủ trương: “Trong năm 2011 và một vài năm đầu của kế hoạch 5 năm 2011 - 2015 không quá câu thúc bởi mục tiêu đạt tốc độ tăng trưởng GDP năm 2011 cao hơn năm 2010 để tránh tạo ra lạm phát cao, tạo tiền đề vững chắc cho tăng trưởng cao hơn ở những năm cuối của kế hoạch 5 năm”. Từ đó, Kết luận đề ra 9 nhóm giải pháp và nhóm giải pháp về tài chính và đầu tư có xác định nhiệm vụ “kiên quyết khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, kéo dài thời gian hoàn thành công trình như lâu nay...”. Tiếp đó là kết quả của Hội nghị Trung ương 3, dù mới được thể hiện qua bài bế mạc Hội nghị do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đọc và được công bố toàn văn trêân các phương tiện thông tin đại chúng, cũng được dư luận quan tâm và hoan nghênh. Quốc hội khóa XIII và các thành viên mới của Chính phủ cũng đã tiếp tục thể hiện tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đấu tranh trên nhiều lĩnh vực thể hiện chủ yếu qua một số chủ trương của các Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải, Bộ Tài chính,... yêu cầu bảo đảm minh bạch và công khai tình hình tài chính của EVN và Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam, tại buổi chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp lần thứ 2 của Quốc hội... Vấn đề Biển Đông cũng đã được Thủ tướng Chính phủ trả lời rõ ràng khi trả lời chất vấn tại Quốc hội, nhất là đối với vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đây là một khẳng định minh bạch, rõ ràng không chỉ đối với nội bộ nhân dân Việt Nam mà cả đối với sự quan tâm của thế giới.

2. Một số thành quả và những tồn tại, thách thức chủ yếu trong năm 2011

Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2012 của Quốc hội có đề cập đến tình hình kinh tế - xã hội năm 2011 như sau:

“... Trong nước, thiên tai, dịch bệnh cùng với những khó khăn, hạn chế, yếu kém tích tụ từ nhiều năm qua đã làm gia tăng biến động về kinh tế vĩ mô, tác động đến sản xuất và đời sống người dân. Với sự nỗ lực, phấn đấu vượt qua khó khăn, nền kinh tế nước ta vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng khoảng 6%, các cân đối vĩ mô đã chuyển biến theo hướng tích cực. Chính trị ổn định, quốc phòng, an ninh trật tự, an toàn xã hội được giữ vững; quan hệ đối ngoại tiếp tục được tăng cường. Các vấn đề biên giới, lãnh thổ trên đất liền và hải đảo được giải quyết một cách thỏa đáng, phù hợp luật pháp quốc tế. Tuy nhiên, nền kinh tế nước ta vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức, lạm phát ở mức cao; mặt trái của các giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô... đã ảnh hưởng làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế. Đời sống của người dân, nhất là người nghèo, người lao động có thu nhập thấp còn nhiều khó khăn. Lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y tế, văn hóa, thể thao còn nhiều mặt bất cập. Các vấn đề xã hội như tội phạm, tai nạn giao thông, ô nhiễm môi trường vẫn gây bức xúc trong nhân dân”.

3. Những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu của năm 2012

Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2012 đã thể hiện một cách tổng quát và vắn tắt nội dung này. Cụ thể là:

- Về mục tiêu tổng quát. Nghị quyết đã xác định “Ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; bảo đảm phúc lợi xã hội, an sinh xã hội và cải thiện đời sống nhân dân; giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế”. Trên cơ sở đó, xác định chỉ tiêu GDP trong năm 2012 tăng khoảng 6 - 6,5% (Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2015 đã xác định chỉ tiêu tăng GDP bình quân 5 năm là khoảng 6,5 - 7%). Như vậy, so với chỉ tiêu về tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm 2011 - 2015 là 7 - 7,5% của Đại hội XI thì việc xác định chỉ tiêu tăng GDP như Nghị quyết của Quốc hội đã quán triệt quan điểm “phát triển bền vững”, không lệ thuộc bởi quan điểm phát triển nhanh là quan điểm đã từng chi phối sự phát triển của những năm qua, và là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến lạm phát.

- Về nhiệm vụ, giải pháp chính. Nghị quyết đã xác định 9 nội dung: (1) Giao Chính phủ khẩn trương hoàn thành đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng... (2) Bảo đảm sự phối hợp đồng bộ của các cơ quan quản lý nhà nước, sự chấp hành và tổ chức, triển khai và thực hiện nghiêm túc của các cấp chính quyền trong thực hiện mục tiêu ưu tiên hàng đầu là kiềm chế lạm phát... (3) Tiếp tục đẩy mạnh phát triển công nghiệp phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu, nhất là các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng, các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh và có khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu... (4) Triển khai thực hiện hiệu quả 3 đột phá chiến lược, năm 2012 tập trung tổng kết thiết thực việc thi hành và xây dựng các nội dung sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 làm nền tảng cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, ổn định, minh bạch... (5) Tiếp tục thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, triển khai hiệu quả chương trình giảm nghèo nhanh, bền vững, nhất là ở các vùng bị thiên tai, dịch bệnh, vùng kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn... (6) Tăng cường cơ chế, chính sách, biện pháp trồng, bảo vệ rừng... (7) Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án... (8) Tăng cường củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh trong các khu vực phòng thủ địa phương, nhất là các khu vực trọng điểm, biên giới, hải đảo; kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh trong chiến lược quy hoạch, kế hoạch và từng dự án đầu tư phát triển;... (9) Tiếp tục mở rộng và xử lý hài hòa quan hệ đối ngoại, đưa quan hệ với các đối tác, nhất là các nước láng giềng, khu vực, các nước lớn và đối tác tiềm năng, bạn bè truyền thống, đi vào chiều sâu, ổn định và bền vững hơn, tạo môi trường hòa bình để phát triển và bảo vệ đất nước...

 II. Một số gợi ý để bảo đảm tổ chức triển khai nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của năm 2012 một cách có hiệu quả cao

 1. Một số nhận xét ban đầu.

Từ thực trạng nền kinh tế - xã hội năm 2011 và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2012, có mấy điểm chủ yếu cần được xem xét kỹ hơn vì liên quan đến việc tổ chức thực hiện một cách có hiệu lực và hiệu quả những giải pháp cần được triển khai để thực hiện nhiệm vụ trước mắt của năm 2012, cũng như nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm 2011 - 2015 nói riêng, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội XI nói chung. Đó là:

- Những khó khăn, hạn chế, yếu kém đã tích tụ từ nhiều năm qua, nhưng vẫn chưa được khắc phục. Từ đó, một vấn đề chủ yếu được đề ra là cần làm rõ những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực trạng đó để có giải pháp thích hợp.

- Nhiệm vụ tăng hiệu quả và tăng sức cạnh tranh đã được Hội nghị Trung ương 4 khóa VIII xác định từ năm 1997, nhưng đến nay lại để xảy ra tình trạng giảm sút thể hiện qua việc hệ số ICOR đã liên tục tăng cao. Do đó, đây là một yếu kém đã tích tụ từ lâu, cần có giải pháp có hiệu lực và hiệu quả để khắc phục.

- Việc giảm tốc độ tăng trưởng là một chủ trương chuyển từ quan điểm tăng trưởng nhanh sang quan điểm tăng trưởng bền vững. Vì thế nên việc giảm tốc độ tăng trưởng, tính theo chỉ tiêu GDP, còn xuất phát từ sự chủ động trong công tác điều hành, quản lý vĩ mô chứ không phải chỉ vì nguyên nhân đã ghi trong Nghị quyết của Quốc hội, như đã trích dẫn ở trên. Việc điều chỉnh quan điểm tăng trưởng thể hiện tính chủ động của chúng ta trong tổ chức triển khai Nghị quyết Đại hội XI cho phù hợp với đặc điểm tình hình. Đại hội XI đã xác định quan điểm “... phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược”. Trên cơ sở quán triệt và vận dụng quan điểm đó, Bộ Chính trị đã xác định chủ trương không quá câu thúc bởi mục tiêu tốc độ tăng trưởng GDP năm sau phải cao hơn năm trước. Chính vì sự điều chỉnh quan điểm về tăng trưởng nên dẫn đến nhiệm vụ phải cấu trúc lại nền kinh tế nói chung cũng như cấu trúc lại một số lĩnh vực cụ thể.

2. Một số gợi ý cụ thể.

Một là, giải pháp tăng hiệu quả kinh tế. Đã có quan điểm sai lầm khi xác định chế độ sở hữu toàn dân là nguyên nhân dẫn đến thành phần kinh tế nhà nước kinh doanh kém hiệu quả. Thực tế khách quan cho thấy các doanh nghiệp tư nhân, các tập đoàn kinh tế tư bản chủ nghĩa cũng kinh doanh kém hiệu quả và đi vào con đường thua lỗ, phá sản, đòi hỏi Nhà nước tư bản chủ nghĩa phải có giải pháp cứu trợ. Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu vừa qua đã chứng minh thực trạng đó. Từ đó, có thể khẳng định là nguyên nhân dẫn đến hiệu quả kinh tế phụ thuộc vào chất lượng công tác quản lý, điều hành quá trình sản xuất kinh doanh. Nói cách khác, hiệu quả kinh tế cao hay thấp phụ thuộc vào đội ngũ cán bộ tham gia vào quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách phát triển kinh tế. Do đó, định hướng tăng hiệu quả cần tập trung vào mấy nội dung chủ yếu sau:

 - Cấu trúc lại chính sách thích hợp trong việc đánh giá, tuyển dụng và giám sát đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp, nhất là các CEO. Đồng thời, cũng cần nghiêm túc và khẩn trương thực hiện Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 2, khóa VIII về nhiệm vụ đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý các cấp, các ngành. Sự kiện Vinashin cho thấy là trong lĩnh vực này, chúng ta có khuyết điểm.

 - Có hệ thống giải pháp có hiệu lực để đưa chi phí sản xuất về phù hợp với hao phí lao động xã hội cần thiết. Qua đó, vừa loại bỏ những chi phí không cần thiết, vừa có giải pháp tiết kiệm, hạ thấp chi phí lao động xã hội cần thiết. Cần thấy chi phí xử lý chất thải để không gây ô nhiễm môi trường, chi phí nâng cao chất lượng và phẩm chất đội ngũ cán bộ quản lý và công nhân viên,... đều là những chi phí lao động xã hội cần thiết và cần phải được đưa vào giá thành sản phẩm, dịch vụ.

Hai là, giải pháp tăng sức cạnh tranh. Trước hết cần nhận thức là khi tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế, thì do phải xóa bỏ hàng rào bảo hộ sản xuất của từng nước, đối tượng cạnh tranh đã chuyển từ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước thành cạnh tranh giữa các nền kinh tế. Vì các nước tham gia hội nhập kinh tế có trình độ phát triển không đồng đều nên khi xóa bỏ hàng rào bảo hộ sản xuất thì các nước có nền kinh tế kém phát triển có nguy cơ lâm vào tình trạng “cá bé bị cá lớn nuốt”. Do đó, hình thành cơ chế dành cho các nước mà nền kinh tế có trình độ kém phát triển có một thời hạn ưu tiên để điều chỉnh nền kinh tế của mình, theo hướng tăng hiệu quả và tăng sức cạnh tranh để có thể “cạnh tranh bình đẳng” với các nước có nền kinh tế phát triển hơn. Xét theo khía cạnh đó thì nhiệm vụ thu hẹp khoảng cách phát triển kinh tế của nước ta so với các nước khác là phải vươn lên để có thể cạnh tranh bình đẳng chứ không phải vươn lên thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển theo chỉ tiêu GDP. Để vươn lên cạnh tranh bình đẳng với các nước khác, cần thực hiện một số định hướng chủ yếu sau:

 - Vận dụng kinh nghiệm truyền thống của dân tộc là phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc từ mặt trận đấu tranh vũ trang sang mặt trận kinh tế. Do đó, cần tổ chức liên kết các doanh nghiệp Việt Nam thuộc các thành phần kinh tế để tạo sức mạnh tổng hợp chứ không phải là tổ chức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Việt Nam với nhau để cho doanh nghiệp nước ngoài “tọa sơn quan hổ đấu” mà hưởng lợi.

- Tổ chức tiến hành cuộc đấu tranh chống nền kinh tế ngầm đang phát triển trên các lĩnh vực khác nhau (như tín dụng đen, thị trường ngoại hối đen, buôn lậu, hàng giả,...) thể hiện mặt trái của nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Kinh nghiệm thế giới cho thấy nền kinh tế ngầm này đã thực hiện cạnh tranh với nền kinh tế công khai, và trong thực tế, chiếm ưu thế vì có sự liên kết giữa thế giới ngầm với một bộ phận của chính giới, tạo thành “các nhóm lợi ích”. Do đó, xuất hiện tình trạng cạnh tranh không bình đẳng giữa nền kinh tế ngầm với nền kinh tế công khai và lợi thế nghiêng về phía nền kinh tế ngầm.

Ba là, cấu trúc lại nền kinh tế. Trong thực tế, đã có nhiều định hướng cụ thể để xác định nội dung của công tác này. Về đại thể, trên cơ sở quán triệt việc điều chỉnh quan điểm phát triển, từ phát triển nhanh sang phát triển bền vững, cần xác định mục tiêu của cấu trúc lại nền kinh tế là: Tăng hiệu quả và tăng sức cạnh tranh để thu hẹp khoảng cách phát triển so với các nước khác; Xây dựng và bảo vệ nền kinh tế độc lập tự chủ trong quá trình thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế; Xuất phát từ mục tiêu đó, đề nghị xem xét:

- Lượng hóa nhiệm vụ tăng hiệu quả và tăng sức cạnh tranh bằng những chỉ tiêu cụ thể, như: xác định chỉ tiêu phải giảm hệ số ICOR xuống còn X % so với năm trước, tăng sức cạnh tranh của một số mặt hàng bằng chỉ tiêu giữ và mở rộng thị phần lên X %.

- Phát triển các ngành công nghiệp phù trợ để giảm sự phụ thuộc vào việc phải nhập các mặt hàng về tư liệu sản xuất, dẫn đến nhập siêu.

- Tập trung phát triển một số ngành kinh tế trọng điểm như thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, phát triển các ngành công nghiệp phù trợ,... đồng thời giảm bớt sự tập trung đầu tư vào CNH, HĐH và đô thị hóa nông thôn,...

Bốn là, cấu trúc lại cơ cấu đầu tư. Cần cấu trúc lại toàn bộ cơ cấu đầu tư với trọng điểm là cơ cấu đầu tư công vì có quan hệ biện chứng với nhau. Trong thực tế, đã có nhiều ý kiến về nội dung của công tác này nhưng cần làm rõ mục đích của cấu trúc lại cơ cấu đầu tư là phải khắc phục tình trạng đầu tư phân tán, dàn trải, kém hiệu quả không chỉ của đầu tư công mà còn của cả đầu tư của các thành phần kinh tế khác. Trên cơ sở đó, đề nghị xem xét mấy điểm chính sau đây:

 - Cơ cấu đầu tư vừa qua được hình thành để phục vụ các quy hoạch đã được phê duyệt theo quan điểm phát triển nhanh nên việc cấu trúc lại cơ cấu đầu tư phải đi từ rà soát, điều chỉnh các quy hoạch đã được phê duyệt nhằm thực hiện quy định tại Hội nghị Trung ương 3 là: “Khẩn trương xác định các tiêu chí và thứ tự ưu tiên làm căn cứ để phê duyệt hay từ chối hoặc cắt giảm các dự án đầu tư, nhất là đầu tư công”. Chẳng hạn như quy hoạch VII, ngành điện năng phải giảm dần tỷ trọng thủy điện trong tổng công suất điện năng. Thế nhưng hiện nay ngành điện năng vẫn tiếp tục triển khai theo quy hoạch VI đã được phê duyệt nên EVN (và cả các nhà đầu tư thuộc các thành phần kinh tế khác) vẫn tiếp tục đầu tư vào thủy điện.

 - Điều chỉnh luồng vốn đầu tư bằng cắt giảm luồng vốn đầu tư vào những ngành không phục vụ nhiệm vụ cấu trúc lại nền kinh tế để điều chỉnh, tập trung vào những ngành có lợi thế cao. Chẳng hạn điều chỉnh, hạn chế luồng đầu tư vào thị trường bất động sản (vì hiện nay còn nhiều khu biệt thự, khu đô thị mới còn bỏ hoang, nhiều dự án treo,...) để chuyển sang đầu tư vào các ngành công nghiệp phù trợ, vào CNH, HĐH nông nghiệp... Hoặc chuyển luồng vốn đầu tư trên TTCK từ thị trường thứ cấp sang thị trường sơ cấp để các doanh nghiệp có thêm nguồn vốn bổ sung cần thiết để thực hiện tái sản xuất mở rộng một cách có hiệu quả hơn...

Đồng thời, cần tổ chức các hội nghị hướng dẫn, huy động và khuyến khích các nguồn vốn đầu tư tiềm tàng trong nước theo tinh thần “nội lực là chính, ngoại lực là bổ sung”.

 - Trong lĩnh vực này, còn có vấn đề liên quan là vấn đề nợ nói chung, trong đó có nợ công. Do cần phải thực hiện nhiệm vụ tái sản xuất mở rộng nên các doanh nghiệp (và Chính phủ) cần có nguồn vốn bổ sung và một giải pháp để tạo nguồn vốn bổ sung đó là phải vay nợ. Việc cấu trúc lại cơ cấu đầu tư đòi hỏi phải sử dụng nguồn vốn vay nợ này với hiệu quả kinh tế cao, cụ thể là tỷ suất lợi nhuận thu được từ sử dụng nguồn vốn này phải cao hơn tỷ suất lãi vay Ngân hàng. Do đó, có thể khẳng định là mức độ an toàn của nợ nói chung, nợ công nói riêng phụ thuộc vào hệ số ICOR. Hiện nay, vì hệ số ICOR của chúng ta còn cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực nên, nếu không hạ thấp được hệ số ICOR thì các khoản nợ của chúng ta có nguy cơ phát triển thành nợ xấu với những hệ quả kèm theo. Do đó, không thể căn cứ vào chỉ tiêu tỷ lệ nợ công so với GDP để xác định mức độ an toàn của nợ công.

Năm là, cấu trúc lại các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Không thể tách Doanh nghiệp Nhà nước, Tập đoàn kinh tế, Tổng Công ty Nhà nước để cấu trúc lại một cách biệt lập và có thể xếp các Ngân hàng thương mại vào phạm vi các doanh nghiệp. Hiện đã có nhiều kiến nghị góp phần triển khai thực hiện nhiệm vụ này. Tuy nhiên, cần nhận thức rõ hơn mục đích của cấu trúc lại các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế là nhằm: (1) Tăng hiệu quả và tăng sức cạnh tranh, có thể vươn lên cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp của các nước có nền kinh tế phát triển cao hơn. (2) Trong quá trình này, các Doanh nghiệp Nhà nước, Tập đoàn kinh tế, Tổng Công ty Nhà nước phải vươn lên đảm nhận vai trò đầu tầu. Trên cơ sở đó, xin có một số ý kiến chủ yếu sau đây:

- Về thực hiện mục tiêu tăng hiệu quả và tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp, phần trên đã trình bày, ở đây xin được bổ sung một số ý kiến sau: Các doanh nghiệp cần thực hiện nhiệm vụ HĐH quá trình sản xuất kinh doanh, trước mắt tập trung vào phát triển đồng bộ cơ sở vật chất kỹ thuật và đội ngũ lao động (từ các CEO đến người lao động). Trong thực tế, dường như nhiệm vụ này không được quan tâm đúng mức nên trên cả hai mặt này, doanh nghiệp Việt Nam đều có sự thua kém doanh nghiệp nước ngoài.

- Thực hiện sự liên kết theo hướng tập trung ngang (cùng chuyên ngành) hoặc theo tập trung dọc (theo quá trình sản xuất xã hội), kết hợp với quá trình thực hiện chuyên môn hóa và hiệp tác hóa sản xuất của doanh nghiệp. Đây là một nội dung chủ yếu của nhiệm vụ “tổ chức lại nền sản xuất xã hội” được Đại hội IV và Đại hội V ghi nhận. Do nhiều nguyên nhân khác nhau nên đến nay, nhiệm vụ này vẫn chưa được triển khai đúng mức.

 - Cải tiến và nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế nói chung, nền kinh tế thị trường nói riêng để đảm bảo tính ổn định của nền kinh tế vĩ mô. Đại hội IV đã xác định nhiệm vụ “... xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống quản lý kinh tế... theo nguyên tắc tập trung dân chủ và nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương và theo vùng lãnh thổ... kết hợp kinh tế trung ương với kinh tế địa phương trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất...”. Triển khai theo hướng này cũng đã được Hội nghị Trung ương 3, khóa XI xác định khi quy định nhiệm vụ: “Quy trình và phương pháp xây dựng, tổ chức điều hành thực hiện quy hoạch, kế hoạch phải thực sự khoa học, đi từ tổng thể chung của cả nước, đến các vùng lãnh thổ, rồi mới đến từng địa phương, cơ sở”.

* GS, Ủy viên Hội đồng tư vấn Kinh tế, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

 | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |             



Noel - ngày đạo vào đời

                                                                                         THIỆN CẨM*

        Xưa nay có lẽ mọi người, kể cả người Kitô, vẫn nghĩ rằng Đạo và Đời là hai thế giới hoàn toàn khác biệt, thậm chí hoàn toàn tách biệt: Một bên là thế giới của thần linh, thế giới siêu việt, thánh thiêng; còn bên kia là thế giới phàm tục, thậm chí tội lỗi, hay ít ra cũng là cõi hồng trần. Thế giới tôn giáo là thế giới của đền chùa, thánh thất, của giáo đường với những lời tụng kinh và lễ lạy huyền bí trang nghiêm, trong khi đó ngoài đời là nơi chợ búa ồn ào, nơi người ta giành giật mua bán, chỉ biết tôn thờ tiền bạc… Thế nên cả một thời nào đó, nhiều vị thánh Công giáo thường dạy người tín hữu khinh chê và xa lánh thế gian, coi mọi vinh hoa của cải đời này là hư vô, giả trá…

Vì thế, trong thời đầu của Giáo hội, người ta chưa nghĩ đến việc mừng lễ Chúa giáng sinh với tất cả niềm vui tươi và sự trang trọng, được diễn tả rất tưng bừng, nhộn nhịp như bây giờ. Phải mấy thế kỷ sau Chúa giáng sinh, Giáo hội mới bắt đầu mừng lễ Giáng Sinh, còn trước đó, chỉ có lễ Phục Sinh, được mừng vào mỗi ngày Chủ nhật, rồi sau đó hàng năm được tổ chức long trọng hơn vào dịp lễ Vượt Qua, khởi đầu chỉ trong vòng mấy ngày, sau đó được mở rộng dần dần thêm nhiều ngày trước lễ và rồi kéo dài thêm những ngày sau lễ, làm thánh hai “mùa”: Mùa Chay và Mùa Phục Sinh như hiện nay.

Lễ Giáng Sinh sau này cũng được chuẩn bị bằng Mùa Vọng kéo dài 4 tuần lễ trước 25 tháng 12, nhưng vẫn chỉ âm thầm, không có gì rầm rộ, náo nức, như làm hang đá, chuẩn bị đèn sao, lập đội ngũ ông già Noel áo đỏ, râu trắng rậm, dài, mang theo mình đầy những gói quà xinh xinh, đi khắp đường phố trao quà cho trẻ con.

Noel đã ra ngoài đường phố, biến thành một thứ Festival, lễ hội, với những buổi hòa nhạc, khiêu vũ, nhất là những dạ tiệc linh đình trong các khách sạn đắt tiền, tại đó người ta ăn chơi thâu đêm suốt sáng, chẳng còn biết trời đất là đâu, nói chi đến Chúa giáng sinh, mà đối với nhiều người, chỉ còn là một huyền thoại.

Cái siêu nhiên, cái thiêng liêng, cái huyền nhiệm với cả chiều sâu đức tin tôn giáo, đã bị tục hóa, hay hòa tan vào những lễ hội mùa đông, nhất là tại những xứ sở có tuyết trắng phủ dầy, làm tăng thêm cảnh thơ mộng hấp dẫn. Tôn giáo, và cả Kitô giáo đã bị thế tục hóa. Những tâm hồn tôn giáo, và đặc biệt là hàng giáo phẩm và hàng giáo sĩ, tu sĩ, có lẽ đều lên tiếng than phiền như vậy, mặc dầu chính họ cũng không thể nào không hội nhập vào niềm vui mới của nhân loại: biến Noel, ngày Chúa giáng sinh, thành lễ hội chung cho cả loài người, chứ không riêng gì của người Kitô giáo.

Noel từ lâu đã ra khỏi nhà thờ, tràn ra đường phố.

Thật vậy, hai mùa Giáng Sinh tôi có mặt bên Hoa Kỳ, được bạn bè dẫn đi xem cảnh trang trí Noel tại những khu phố nhà giầu: họ trang hoàng bày biện những cảnh Giáng sinh huy hoàng rực rỡ, ngay cả ngoài lề đường quanh nhà, nhưng rồi bỏ không, ra nước ngoài ăn chơi xa xỉ trong những khách sạn sang trọng đắt tiền, phải giữ chỗ cả từ một năm trước.

Hình ảnh đó gợi cho tôi một ý nghĩ: Chúa hôm nay đã bị gạt ra khỏi thế giới loài người, bị hắt hủi ra ngoài đường phố. Và ngay cả trong nhiều giáo đường cũng chẳng còn có chỗ cho Người sinh ra, bởi vì cả những cung thánh, đền thiêng cũng trở nên tối tăm hoang vu. Không có ánh sao trên đỉnh tháp hay nóc nhà thờ, cũng chẳng có tiếng ca Giáng sinh vọng ra từ nơi đó.

Nhưng xét cho cùng, thì chính hiện tượng mà chúng ta gọi là “suy thoái tôn giáo”, hay déchristianisé, “bật rễ Kitô giáo” ấy, đưa chúng ta trở về với ý nghĩa thật của cái mà người Công giáo gọi là “Mầu nhiệm Nhập thể” của Chúa Giêsu: mầu nhiệm Thiên Chúa vào đời và trở nên người phàm.

Thật vậy, không cần đợi tới ngày nay Kitô giáo mới bị coi là “thế tục hóa”, mà ngay từ giờ phút mà Gioan nói là: “Et Verbum caro factum est”, Lời đã trở nên xác phàm, thì chính Đấng Thánh, Đấng Cao cả, Siêu việt đã đảm nhận lấy cái thế giới trần tục này làm quê hương của Người.

Chúng ta cho rằng, thế giới tôn giáo hiện nay là thế giới bị thế tục hóa, nghĩa là đánh mất bản chất linh thiêng, siêu việt, để lộ cái vẻ thế tục tầm thường… Nhưng chúng ta quên mất rằng, hơn hai ngàn năm về trước, chính Thiên Chúa, Đấng Chí Thánh, Chí Tôn đã “trở nên người phàm và ở cùng chúng ta và nhờ đó mà thế giới phàm tục này đã trở thành thế giới của Thiên Chúa, bởi vì ở đâu có Chúa thì đấy là nơi thánh, không cần phải xây đền thờ, không cần phải làm phép!

Đối với những tâm hồn tôn giáo truyền thống và sùng đạo thì hiện tượng “thế tục hóa” tạo ra một nỗi buồn và một nỗi thất vọng sâu sắc. Vì thế, không lạ gì mà một số người hoài cổ, muốn sống lại cái thời xa xưa thánh thiện, bằng việc cử hành thánh lễ bằng tiếng La-tinh, với những phẩm phục cổ truyền, và những bài thánh ca grêgôriêng, cũng gọi là Bình ca (grégorien) của hàng ngàn năm trước.

Nhưng có ai nghĩ tới chuyện chính Đức Giêsu khi vào đời, đã để lại vinh quang của Người trên trời: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời”, mà chỉ đem Bình an của Người đến cho nhân loại: “Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương” (Luca 2,14).

Noel là lễ Mừng Chúa giáng sinh.

Chúa giáng sinh không phải chỉ là ngày Chúa hiện hình, để tỏ vinh quang. Trái lại, đó là ngày mà Thiên Chúa, Đấng Thánh, Đấng Cao Cả, Đấng Hằng Hữu, đã trở nên “người phàm” (Gioan 1,14), làm “một trẻ sơ sinh bọc tã nằm trong máng cỏ “ (Luca 2,13), được xác định trong không gian và thời gian, đó là xứ Paléxtin, thời Augúttô làm hoàng đế Rôma, Quiriniô làm Tổng trấn xứ Xyri (Luca 2,1-2).

Thiên Chúa không còn ở trên cõi siêu việt, hay trên trời cao, mà Người đã xuống thế, đã nhập thể, làm người, lại còn trở thành người phàm, như mọi người phàm, chứ không trở thành người quý tộc, như con vua con quan, hay con nhà phú quí. Không, Người chỉ là một “trẻ sơ sinh bọc tã nằm trong máng cỏ”, nghĩa là không nhà không cửa, chẳng có giường nệm, chiếu chăn.

Với sự kiện này, Đạo đã vào Đời, đã trở thành đường đi cho nhân loại. Đạo không vào đời, thì không thể trở thành đường đi cho con người.

Xưa nay tôn giáo thường được coi như những chuyện thần thoại, do con người tưởng tượng ra, để bù trừ cho những thiếu thốn, bất lực của mình. Mỗi tôn giáo đều có những thần thánh của mình, nhưng nếu hỏi thần thánh đó là ai, thì chẳng người nào chỉ ra được, hay định nghĩa thế nào. “Đạo khả đạo phi thường Đạo” Lão tử đã nói như vậy.

Nhưng với biến cố Thiên Chúa “trở nên người phàm và ở cùng chúng ta” (Gioan 1.14), thì Đạo đã có hình thù tên tuổi. Đấng mà các tôn giáo gọi bằng nhiều thứ tên gọi cao siêu, vĩ đại, như là Chí Thánh, Chí Tôn, là Cao Cả, Siêu Việt, Hằng Hữu, nay không chỉ đã hiện hình, mà còn mang một thân xác như mọi người phàm, có tên là “Giêsu Nadarét” (Gioan 19,19).

Khi Gioan đặt bút viết câu: “Et Verbum caro factum est” thì có ý hiểu caro ở đây ngụ ý nói lên tính cách mong manh yếu đuối, tạm bợ của kiếp sống con người, chẳng khác gì hoa đồng cỏ nội sớm nở tối tàn, mà ngôn sử Isaia nói tới:

“Người phàm nào cũng đều là cỏ,

mọi vẻ đẹp của nó như hoa đồng nội” (Isaia 40,56).

Đấng mà người Kitô giáo tôn thờ, theo nghĩa là “yêu mến” - bởi vì động từ thờ lạy trong Kitô giáo gốc bởi hai tử ad-os mà ra: ad là gần, kề, os là môi, như vậy có nghĩa là “môi kề môi” = nụ hôn, tức là yêu.

Do đó, Kitô được gọi là Đạo của tình yêu. Trong Tin Mừng của Gioan, Đức Giêsu nói với ông Nicôđêmô, một nhà trí thức, thành viên của Thượng hội đồng Do Thái: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời”. (Gioan 3,16). Còn trong chương 10, Đức Giêsu nói với những người Pharisêu: “Tôi đến để chiên tôi được sống, và sống dồi dào” (Gioan 110,10). Mà “sự sống” ở đây chủ yếu là sự sống trong tình yêu thương hiệp nhất với Đức Giêsu Kitô, và trong Người, hiệp nhất với chính Thiên Chúa Cha (x.Gioan 17,20-21).

Yêu ai thì muốn trở nên giống người mình yêu và muốn được ở gần người ấy. Gioan tông đồ viết thư cho các tín hữu

mà nói:

“Thiên Chúa đã sai con Một đến thế gian
để nhờ con Một của Người mà chúng ta được sống.
Tình yêu cốt ở điều này:
không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa,
nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta,
và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta.
Anh em thân mến,
nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế,
chúng ta cũng phải yêu thương nhau”. ( 1 Ga 4,9-11)

Không phải nhân loại đã yêu mến Thiên Chúa và trở nên giống như Người, mà là ngược lại: chính Thiên Chúa làm người đã trở nên giống loài người chúng ta trong mọi sự (x. Do Thái 2,17). Không phải con người đã tự mình có thể trở nên giống Thiên Chúa, mà chính Người đã “mặc lấy xác phàm” và trở nên giống chúng ta. Các thánh giáo phụ của Giáo hội thường hay thích thú nói đến “cuộc trao đổi lạ lùng”: Chúa mặc lấy bản tính loài người, để chia sẻ lại cho chúng ta chính bản tính Thiên Chúa của Người.

Đức tin Công giáo tuyên xưng Đức Giêsu là một Ngôi vị Thiên Chúa, nhưng có hai bản tính: thiên tính và nhân tính, Vì thế Người vừa là Thiên Chúa thật vừa là người thật.

Thiền sư Suzuki của Nhật Bản nhận định về tín lý ấy của người Công giáo như sau: “Người Công giáo nói: “Chúa hiện xuống làm người để hiệp làm một với loài người. Vậy hiện giờ Chúa ở trong người, và người ở trong Chúa. Chúa là người, và người là Chúa, mà Chúa vẫn là Chúa. Người vẫn là Người. Quả đó là điều kỳ bí nhất của tôn giáo, một nghịch lý thâm u nhất của triết học; và đó là biện chứng nhất như vô phân biệt, vô phân biệt phân biệt của đạo Phật”1.

Nói cách khác, với mầu nhiệm “Chúa làm người”, thì không còn sự cách biệt giữa Thiên Chúa và loài người, thánh thiêng với phàm tục, tôn giáo với thế tục, Đạo với Đời. Lão tử gọi đó là “Huyền đồng” (ĐĐK I, 4), Phật giáo gọi là “nhất như vô phân biệt, vô phân biệt phân biệt”, Kitô giáo gọi là Hiệp thông hay Hiệp nhất. Tản Đà của chúng ta cũng có câu tương tự: “Mình với ta tuy hai mà một, ta với mình tuy một mà hai”.

Nếu thế thì chẳng có lý do nào để Đạo và Đời chống đối, phản bác lẫn nhau. Sở dĩ đã bao nhiêu thế kỷ trước đây, người tôn giáo, đặc biệt là người Công giáo, đã tích cực chống đối, thậm chí tìm cách tiêu diệt kẻ ngoại giáo, lạc giáo và vô thần, khiến gây ra những cuộc thập tự chinh đẫm máu và tạo ra mối hận thù dai dẳng giữa những người có tín ngưỡng và người vô tín ngưỡng. Còn về phía những người không tin, thì cũng có biết bao người hăng say bài bạc, lên án tôn giáo, gọi những kẻ tin là “vong thân”, nô lệ cho những thần thánh do chính mình tạo ra.

Nhưng ngày nay, với việc đọc lại Tin Mừng và hiểu đúng nghĩa mầu nhiệm Chúa làm người, Giáo hội Công giáo đã và đang cố gắng noi gương Chúa Giêsu nhập thể vào đời, đồng hành với thế giới (Hiến chương Vui mừng và Hy vọng của Vatican II), “đồng hành với dân tộc”, Sống mầu nhiệm nhập thể hôm nay, là “Sống tốt Đạo đẹp Đời”, hay là “Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc, để phục vụ hạnh phúc của đồng bào” (Thư chung 1980), vì ý thức rằng yêu Chúa là yêu người, thờ phượng Thiên Chúa đồng nghĩa với yêu thương con người, bởi lẽ tôn thờ hay yêu mến cũng được diễn tả bằng một nụ hôn: adorare - ad-os, môi kề môi!

Còn về phía những người không tin, thì dù không tín ngưỡng hay tôn giáo, cũng chẳng ai xóa bỏ được cái tâm linh vẫn ẩn hiện đâu đây chung quanh con người, nhất là mỗi khi đối diện với cái chết, bởi vì khó có ai đứng trước người thân nằm đó mà lại có thể nghĩ đó chỉ là một khúc chuối hay cây gỗ. Cũng như khó có ai có thể nghĩ rằng mai ngày mình sẽ chỉ còn là hư vô. “Sống gửi thác về”, Ấn độ giáo và Phật giáo thì nói đến luân hồi giải thoát, các tôn giáo đều nói tới cái bên kia của cuộc đời. Đức Giêsu thì đưa cái bên kia, bên trên, cái siêu việt hay thánh thiêng vào đời, khi Người nói cho chúng ta hay: Thiên Chúa đang ở giữa chúng ta, “trong thần khí và sự thật” (Gioan 4,23), bởi vì “Thiên Chúa là Tình yêu” và hễ “Ai yêu thương thì biết Thiên Chúa”. (Gioan 4,8).

Và trên đời này, ai mà chẳng biết yêu, người tôn giáo cũng như người vô thần, không tôn giáo, chúng ta ai cũng biết yêu và khao khát được yêu. Người Công giáo tin rằng Chúa chính là tình yêu liên kết chúng ta: Người luôn luôn ở giữa chúng ta như dòng nước chảy không ngừng giữa hai bờ của một con sông, hay dòng suối mát êm đềm...

___________________________

1. Daiset Teitaro SUZUKI Cốt rủy Đạo Phật. (The essence of Buddhism) Trúc Thiên dịch, An Tiêm Sài gòn.xb.1968 Trg 26-27.
* Linh mục, Ủy viên Hội đồng tư vấn về Tôn giáo, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

 | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |             



QUÂN ĐỘI VỚI CÔNG TÁC
XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO, ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA

                                                                   HOÀNG VĂN THANH*

          Thực hiện có hiệu quả công tác xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa là tình cảm, trách nhiệm của “Bộ đội Cụ Hồ” đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân; đồng thời là một biện pháp quan trọng để Quân đội góp phần xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh toàn diện, là điều kiện để cán bộ chiến sĩ quân đội hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó. Từ khi ra đời đến nay, dù ở đâu, trong bất cứ điều kiện nào, quân đội ta cũng luôn làm tốt công tác đưa các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đến với nhân dân; vận động, giúp đỡ nhân dân tích cực lao động, sản xuất, biến mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước thành hiện thực sinh động trong đời sống của nhân dân. Những việc làm thiết thực với kết quả cụ thể của công tác xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa của quân đội đã góp phần xây dựng lòng tin của nhân dân đối với Đảng, với thắng lợi của cách mạng; trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng chính trị - tinh thần, nâng cao hiệu quả lãnh đạo, năng lực quản lý điều hành của tổ chức đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương.

Những năm qua, quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà nước về công tác dân vận, nhất là Nghị quyết số 152- NQĐUQSTW của Đảng ủy Quân sự Trung ương “Về tiếp tục đổi mới và tăng cường công tác dân vận trong thời kỳ mới”; được sự phối hợp, giúp đỡ của cấp ủy, chính quyền, cơ quan chức năng và nhân dân các địa phương, công tác xóa đói giảm nghèo, đền ơn, đáp nghĩa đã có sự đổi mới toàn diện, ngày càng đi vào nề nếp, phát triển cả bề rộng và chiều sâu. Với phương châm hướng mạnh về cơ sở, các đơn vị trong toàn quân đã có nhiều hình thức, biện pháp phù hợp, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, trực tiếp góp phần xây dựng các địa phương vững mạnh toàn diện.

Thực hiện Nghị quyết 30a của Chính phủ, Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo các đơn vị trong toàn quân phối hợp chặt chẽ với các địa phương, tích cực đóng góp công sức, vật chất giúp nhân dân các huyện nghèo, vùng sâu, vùng xa giảm nghèo nhanh và bền vững. Thực hiện cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, hàng năm cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên chức quốc phòng quyên góp ủng hộ được 36 tỷ đồng. Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” luôn được triển khai rộng khắp và đã được mọi quân nhân tích cực hưởng ứng, đã vận động đóng góp 13,55 tỷ đồng vào “Quỹ đền ơn đáp nghĩa”.

Trong năm 2011, các đơn vị tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho các đối tượng chính sách trị giá trên 190 tỷ đồng, tìm kiếm quy tập 1.913 hài cốt liệt sĩ. Toàn quân đã xây dựng và bàn giao 476 “Nhà Đồng đội”, trị giá 29 tỷ 180 triệu đồng cho các quân nhân, công nhân viên quốc phòng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn về nhà ở; xây dựng và sửa chữa 36 nhà “Mái ấm công đoàn - Nghĩa tình đồng đội”, trị giá 1,25 tỷ đồng bằng tiền của cán bộ đoàn viên công đoàn đóng góp; xây tặng 900 “Nhà Tình nghĩa”, trị giá 54 tỷ đồng. Quân khu 9 xây 103 căn nhà trị giá hơn 44 tỷ đồng tặng các cựu chiến binh, gia đình liệt sĩ và cán bộ chiến sĩ gặp khó khăn trên địa bàn; Công đoàn Quốc phòng đã trích 5 tỷ đồng quỹ trợ vốn cho 874 hộ nghèo vay để phát triển kinh tế gia đình. Bộ đội Biên phòng xây tặng 1.427 căn nhà, trị giá 51,92 tỷ đồng và 93 công trình dân sinh, trị giá 14,03 tỷ đồng cho đồng bào nghèo trong chương trình “Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới hải đảo”. Toàn quân đã huy động hàng triệu ngày công lao động giúp dân khắc phục hậu quả thiên tai, tham gia xóa đói, giảm nghèo, nhất là vùng sâu vùng xa và giúp đỡ các địa phương nghèo, người nghèo, gia đình chính sách, nạn nhân chất độc Da cam - Đioxin, với các hình thức khác nhau trị giá trên 417,5 tỷ đồng. Những việc làm trên đã góp phần xây dựng khối đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới được Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng, ghi nhận, đánh giá cao. Để tiếp tục phát huy vai trò của quân đội trong nhiệm vụ xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa trong thời gian tới, quân đội cần quán triệt và thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau:

Một là, cần nhận thức rõ công tác xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa là một nội dung trong chiến lược xây dựng đại đoàn kết dân tộc, mang tính chất của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc ở nước ta trong thời kỳ mới. Thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với những thời cơ thuận lợi lớn nhưng cũng không ít khó khăn, thách thức gay gắt trước tác động của mặt trái kinh tế thị trường, sự chống phá của các thế lực thù địch bằng chiến lược “diễn biến hòa bình” và âm mưu “phi chính trị hóa quân đội”, ra sức chống phá làm suy giảm sức mạnh của đại đoàn kết toàn dân. Thực tế hiện nay, đời sống của nhân dân các dân tộc ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa tuy đã được nâng lên một bước nhưng vẫn còn trong tình trạng kém phát triển, tỷ lệ hộ đói nghèo còn cao làm hạn chế đến phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong thực hiện nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những khó khăn, yếu kém đó là nguyên cớ để các thế lực thù địch lợi dụng, kích động chia rẽ nhằm phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất ổn định chính trị, xã hội. Tình hình đó, đòi hỏi các đơn vị trong toàn quân, mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội phải tích cực hơn nữa trong xây dựng mối quan hệ đoàn kết quân dân, thực hiện có hiệu quả công tác xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa.

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 của Đảng, chỉ rõ: “Thực hiện có hiệu quả hơn chính sách giảm nghèo phù hợp với từng thời kỳ; đa dạng hóa các nguồn lực và phương thức để đảm bảo giảm nghèo bền vững, nhất là tại các huyện nghèo nhất và các vùng đặc biệt khó khăn”1. Phấn đấu từ nay đến năm 2020 “tỉ lệ hộ nghèo giảm bình quân 1,5 - 2% năm; phúc lợi xã hội, an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe cộng đồng được bảo đảm. Thu nhập thực tế của dân cư gấp khoảng 3,5 lần so với năm 2010; thu hẹp khoảng cách thu nhập giữa các vùng và nhóm dân cư. Xóa nhà ở đơn sơ, tỉ lệ nhà ở kiên cố đạt 70%...”2. Đó là những mục tiêu chủ yếâu, nhiệm vụ cấp bách về an sinh xã hội mà toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phải quyết tâm phấn đấu thực hiện.

Hai là, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động bộ đội và nhân dân quán triệt và thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, thực hiện tốt công tác xóa đói, giảm nghèo, góp phần xây dựng địa phương ngày càng vững mạnh. Trong quá trình thực hiện, bên cạnh việc tổ chức tuyên truyền, giáo dục, vận động mọi cán bộ, chiến sĩ tích cực thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, cấp ủy, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên và cơ quan chính trị các cấp trong quân đội cần tiếp tục tham mưu, phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể chính trị - xã hội vận động nhân dân thực hiện tốt các mục tiêu, nhiệm vụ, chương trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và của từng địa phương. “Tập trung triển khai có hiệu quả các chương trình xóa đói, giảm nghèo ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn”, và “Huy động mọi nguồn lực xã hội cùng với Nhà nước chăm lo tốt hơn nữa đời sống vật chất và tinh thần của những người và gia đình có công”3. Thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24-2-2011 của Chính phủ về những chủ trương, giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội. Giúp nhân dân nâng cao cảnh giác cách mạng, nhận rõ âm mưu thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, củng cố quốc phòng trên địa bàn.

Ba là, tham gia xây dựng, củng cố cơ sở địa phương vững mạnh toàn diện, trước hết là vững mạnh về chính trị, quốc phòng, an ninh tạo cơ sở vững chắc trong tổ chức thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa. Cấp ủy, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên và cơ quan chính trị các cấp, nhất là lực lượng cán bộ, sĩ quan được tăng cường cho cơ sở, các tổ (đội) công tác, đề cao trách nhiệm, nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn trong phối hợp, tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chính quyền địa phương những chủ trương, biện pháp tiến hành xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa ở địa phương. Theo đó, các lực lượng chuyên trách của quân đội góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, năng lực quản lý, điều hành phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; tham gia vào quá trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên là người dân tộc thiểu số, người có đạo. Tham mưu cho chính quyền địa phương thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, triển khai các phương án phòng, chống các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch ở địa phương, tạo cơ sở chính trị - xã hội vững chắc trong thực hiện xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa. Các đơn vị trong toàn quân cần chú trọng phối hợp, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, các nhân sĩ trí thức, già làng, trưởng bản, những người có uy tín ở địa phương để vận động nhân dân thực hiện tốt nghĩa vụ, trách nhiệm công dân trong công tác xóa đói, giảm nghèo, đền ơn, đáp nghĩa đi vào chiều sâu và đạt được hiệu quả cao.

___________________________________________

1, 2, 3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG. H. 2011, tr.124, 125, 105, 229.
* Đại tá, TS, Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự - Bộ Quốc phòng.  
Xem thêm bài của tác giả trong Tạp chí Mặt trận số 95, tr.26.

 | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |             



ĐƯỜNG LỐI CHÍNH TRỊ - NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH
VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG MIỀN NAM VIỆT NAM

                                                                                             NGUYỄN PHƯƠNG AN*

          Lịch sử của các tổ chức cách mạng Việt Nam đều gắn liền với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong đó có vai trò của đường lối chính trị - ngoại giao Hồ Chí Minh đối với sự ra đời Mặt trận.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân ta. Hiệp định Giơnevơ được ký kết buộc Pháp phải công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam. Thắng lợi này mở đường cho cách mạng Việt Nam bước vào thời kỳ phát triển mới với những điều kiện thuận lợi và cả những thách thức, khó khăn chờ đợi. Hiệp định Giơnevơ vừa được ký còn chưa ráo mực, Tổng thống Mỹ Eisenhower đã tuyên bố: “Bản thân Hoa Kỳ đã không phải là một bên đương sự trong các quyết định tại Hội nghị và không bị các quyết định đó ràng buộc”1. Với quan điểm đó, Mỹ xúc tiến các hành động can thiệp vào miền Nam Việt Nam, âm mưu chia cắt lâu dài nước ta, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, làm căn cứ quân sự của Mỹ ở Đông Nam Á. Nhanh chóng hất cẳng Pháp, Mỹ đưa Ngô Đình Diệm, một phần tử chống cộng cuồng tín về miền Nam làm Thủ tướng, lập ra chính quyền tay sai của Mỹ.

Để thoái thác vấn đề hiệp thương, tổng tuyển cử sau hai năm đình chiến (được quy định trong Hiệp định Giơnevơ), chính quyền Diệm tiến hành trưng cầu dân ý (10-1955) để bước đầu phế truất Bảo Đại, sau đó tiến hành vận động bầu cử (3-1956), lập ra Quốc hội bù nhìn, suy tôn Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa (10-1956). Dựa vào sự ủng hộ của Oasinhtơn, chính quyền Ngô Đình Diệm trong thời gian ngắn đã thanh toán các phe phái chống đối và tiến hành liên tục các chiến dịch “tố cộng, diệt cộng”. Trong thời gian 5 năm, chúng tàn sát dã man hàng chục ngàn cán bộ, nhân dân miền Nam. Cùng với đó, Mỹ - Diệm ra sức củng cố bộ máy chính quyền tề ngụy từ trung ương đến cơ sở theo mô hình do Mỹ chỉ đạo. Đến đây, miền Nam trở thành một thuộc địa “được thực hiện không phải bằng hệ thống cai trị trực tiếp của bọn đế quốc mà thông qua một chính quyền tay sai đại biểu cho quyền lợi của giai cấp địa chủ phong kiến và tư bản mại bản khoác áo “dân tộc dân chủ” giả hiệu”2.

Trước tình hình đó, Hồ Chí Minh trong cương vị người lãnh đạo Đảng và Nhà nước, đảm nhận trọng trách hết sức nặng nề trước vận mệnh miền Nam, trước nền độc lập và thống nhất của cả nước. Những quyết sách đúng đắn trong bối cảnh phức tạp và cấp thiết đương thời là hết sức cần thiết. Bằng bản lĩnh của một thiên tài, Hồ Chí Minh đã có những bước đi hợp lý cả về đối nội và đối ngoại trong lãnh đạo cách mạng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh một mặt kịch liệt lên án, tố cáo mạnh mẽ tội ác man rợ của bè lũ Mỹ - Diệm tàn sát đẫm máu đồng bào ta ở miền Nam, phá hoại Hiệp định Giơnevơ, phá hoại hòa bình thống nhất Tổ quốc; mặt khác Người đã kịp thời chỉ đạo cách mạng miền Nam từng bước chuyển dần sang đấu tranh tự vệ vũ trang dưới nhiều hình thức nhằm phá thế kìm kẹp của chúng, chống lại cuộc chiến tranh đơn phương mà chúng đang tiến hành hòng giết hại nhân dân miền Nam.

Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến xây dựng đường lối cách mạng trong tình hình mới. Để xây dựng đường lối, Người quan tâm sâu sắc đến việc tham khảo ý kiến của nhiều nước, nhất là Liên Xô và Trung Quốc, thông qua tăng cường hoạt động ngoại giao. Đồng thời, Hồ Chí Minh chú trọng phân tích phương thức, thủ đoạn của đế quốc Mỹ trong âm mưu chia cắt lâu dài Việt Nam. Sự kết hợp những ý kiến tham khảo từ các nước anh em với nhận định sâu sắc và đúng đắn của Người về chính sách xâm lược của Mỹ tác động trực tiếp đến ra đời Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (20-12-1960).

Trước tình hình Việt Nam, quan điểm của các nước, nổi bật là Liên Xô và Trung Quốc, có phần đồng nhất. Ban lãnh đạo Liên Xô lúc này theo đuổi tư tưởng cùng tồn tại hòa bình, thực hiện đường lối “hòa hoãn” Xô - Mỹ nên chủ trương giữ nguyên trạng hai miền của miền Nam, không ủng hộ đường lối đấu tranh vũ trang của Đảng ở miền Nam để tránh “đụng chạm” với Mỹ. Liên Xô cho rằng “đốm lửa cháy rừng”, chiến tranh thế giới thứ III e rằng sẽ có ngòi nổ từ Việt Nam. Về phía Trung Quốc, các nhà lãnh đạo thường xuyên thuyết phục Việt Nam phải “trường kỳ mai phục”, không nên tiến hành đấu tranh vũ trang ở miền Nam. Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông nói: “Vấn đề là phải giữ biên giới hiện có. Phải giữ vĩ tuyến 17... Thời gian có lẽ dài đấy. Tôi mong thời gian dài thì sẽ tốt”3. Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Đặng Tiểu Bình cho rằng: “Dùng lực lượng vũ trang để thống nhất nước nhà có hai khả năng: một là thắng và một khả năng nữa là mất cả miền Bắc”4. Quan điểm này của Trung Quốc xuất phát từ chiến lược toàn cầu, muốn tranh thủ duy trì điều kiện quốc tế hòa bình để xây dựng đất nước, e ngại “đốm lửa” chiến tranh sẽ lan sang cả Trung Quốc. Bắc Kinh chủ trương “cần hết sức tránh việc trực tiếp tham gia chiến tranh... cần tính đến một phiêu lưu của Mỹ”.

Các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác phần nhiều cũng có quan điểm tương tự với Liên Xô và Trung Quốc. Tất cả đều gợi ý “hai miền Nam - Bắc cùng thi đua hòa bình về kinh tế, khi nào miền Bắc mạnh hơn hẳn thì sẽ dễ dàng đi tới thống nhất đất nước”, không nên đấu tranh vũ trang mà cần “trường kỳ mai phục, nắm chắc quần chúng, chuẩn bị lực lượng, chờ thời cơ”.

Một đặc điểm lớn trong quan hệ giữa các nước xã hội chủ nghĩa lúc này là những bất đồng xuất hiện theo chiều hướng nghiêm trọng, nhất là mâu thuẫn gay gắt công khai giữa Liên Xô và Trung Quốc. Hai “người khổng lồ” của hệ thống xã hội chủ nghĩa ra sức xây dựng, củng cố, phát triển ảnh hưởng quốc tế của mình, trong đó có mục tiêu trọng tâm là Việt Nam. Đôi khi đã có biểu hiện đặt ra những mặc cả đối với Việt Nam theo hướng hoặc theo Liên Xô, hoặc theo Trung Quốc.

Ngoài hệ thống xã hội chủ nghĩa, nhiều nước dân chủ khác cũng rất quan tâm đến tình hình Việt Nam. Tuy nhiên, sự quan tâm của họ phần lớn bị phân tán bởi quan điểm về cuộc đối đầu hệ tư tưởng cộng sản và tư sản trên đất nước ta. Xét cho cùng, chế độ chính trị của nhiều nước dân chủ vẫn là chế độ tư bản chủ nghĩa. Trong thế giới tư bản, Mỹ vẫn đứng đầu với vai trò, ảnh hưởng rất to lớn. Nếu cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam Việt Nam đơn thuần là cuộc đấu tranh giải phóng, không mang tính chất của cuộc đối đầu hệ tư tưởng, thì sự ủng hộ của các nước dân chủ sẽ lớn hơn.

Về phía Mỹ, sự thất bại của thực dân Pháp ở Việt Nam trong cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai là bài học kinh nghiệm lớn khi hoạch định đường lối can thiệp vào miền Nam Việt Nam. Hệ thống thuộc địa kiểu cũ đã cáo chung cùng với thất bại thảm hại của quân đội viễn chinh Pháp ở Điện Biên Phủ, đặt ra cho Mỹ yêu cầu về phương thức mới. Hơn nữa, bối cảnh quốc tế lúc này đã khác những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX khi hệ thống thuộc địa kiểu cũ được xác lập. Tồn tại trên thế giới lúc này song song hai hệ thống xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa, ba dòng thác cách mạng (hệ thống xã hội chủ nghĩa, phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế) ngày càng mạnh mẽ tấn công vào chính sách xâm lược của các nước tư bản đế quốc. Việc tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược lúc này không thuận lợi như trước. Ở trong lòng nước Mỹ, dư luận nhân dân phản đối chiến tranh lên cao. Điều kiện đó nảy sinh phương thức thực hiện dã tâm xâm lược dưới chiêu bài độc lập giả hiệu, dưới hình thức chủ nghĩa thực dân mới, sản phẩm của thế yếu, thế bị động của đế quốc Mỹ sau chiến tranh thế giới thứ hai.

Bối cảnh quốc tế nêu trên đặt ra cho Hồ Chí Minh câu hỏi lớn cần phải giải quyết: Làm thế nào để khai thác tối đa sự ủng hộ của hệ thống xã hội chủ nghĩa và nhân dân tiến bộ các nước, hạn chế đến mức thấp nhất sự chống phá của các thế lực thù địch đối với cách mạng miền Nam, trên nguyên tắc bất biến là đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước? Đường lối ngoại giao của Hồ Chí Minh phải xử lý khéo léo những xung đột, phát huy sự tương đồng giữa các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là giữa Liên Xô và Trung Quốc, sao có lợi nhất cho cách mạng miền Nam. Đường lối đó cũng phải huy động cao nhất sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước dân chủ. Đường lối đó cũng tránh gây ra cái cớ cho Mỹ và đồng minh mở rộng chiến tranh ra miền Bắc.

Trong thực tế, khi lãnh đạo chuyển hướng từ đấu tranh chính trị - pháp lý sang kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang ở miền Nam, dù cách mạng có những bước tiến lớn nhưng lại không được sự tán đồng của hai nước đồng minh chiến lược Xô - Trung. Để tiến hành chiến tranh chống lại tên đế quốc đầu sỏ Mỹ, Việt Nam không thể tách rời sự ủng hộ của Liên Xô, Trung Quốc và bạn bè trên thế giới. Vấn đề đặt ra là phải có một giải pháp chính trị - ngoại giao sao cho có thể thuyết phục được hai nước lớn này ủng hộ cuộc đấu tranh vũ trang ở miền Nam.

Ngày 20-12-1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập đáp ứng yêu cầu đặt ra nêu trên. Đây là một giải pháp chính trị mang tính chiến lược về ngoại giao của Đảng và Nhà nước ta, do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Thông qua việc thành lập Mặt trận, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho thấy tầm nhìn chiến lược và khả năng giải quyết tình huống cách mạng xuất sắc của mình:

Thứ nhất, Hồ Chí Minh khai thác chính dã tâm xâm lược núp dưới chiêu bài độc lập giả hiệu theo kiểu thực dân mới của Mỹ. Ngay từ đầu những năm 50 của thế kỷ trước, Người đã xác định kẻ thù chính, trực tiếp của cách mạng Việt Nam là đế quốc Mỹ. Trong bối cảnh khó khăn nhất của cách mạng miền Nam, cùng với việc nhận rõ bộ mặt hung hăng tàn bạo, Hồ Chí Minh cũng chỉ ra thế “bấp bênh như lâu đài dựng trên bãi cát” của Mỹ. Theo Người, thế yếu đó của Mỹ xuất phát từ chính chỗ chúng phải tiến hành xâm lược dưới chiêu bài độc lập giả hiệu. Mỹ dựng lên một chính thể làm tay sai âm mưu thống trị miền Nam thì sách lược ngoại giao của Hồ Chí Minh là thành lập một Mặt trận đóng vai trò vừa là ngọn cờ đoàn kết, tập hợp lực lượng, vừa tồn tại như một chính thể nhà nước trung lập, đại diện cho nhân dân miền Nam. Đó là Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Với sách lược này, Đảng vẫn lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam nhưng vẫn hạn chế tạo cớ cho Mỹ vu khống miền Bắc xâm lược miền Nam để leo thang chiến tranh.

Thứ hai, việc thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam cho thấy Hồ Chí Minh đã đáp ứng được thực chất mong muốn của Liên Xô và Trung Quốc. Cả hai nước lớn này trong bối cảnh thế giới lúc ấy cơ bản muốn tránh đụng độ với Mỹ, giữ vững ổn định để phát triển, nhưng cũng không muốn mất Việt Nam về tay thế giới tư bản. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời và tồn tại như một chính thể độc lập đại diện cho nhân dân miền Nam đã đáp ứng được yêu cầu đó. Mặt trận chủ trương “miền Nam độc lập, dân chủ hòa bình, trung lập...” là cơ sở lý lẽ và thực tiễn chắc chắn để Liên Xô, Trung Quốc ủng hộ và kêu gọi các nước khác ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam. Các nước dân chủ tiến bộ cũng thoát khỏi băn khoăn về một cuộc đối đầu hệ tư tưởng ở miền Nam Việt Nam mà ủng hộ, giúp đỡ.

Thứ ba, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời từ chủ trương chuyển hướng sang kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang ở miền Nam của Đảng. Nghị quyết Trung ương lần thứ 15 và Nghị quyết Đại hội III của Đảng đều vạch rõ sự cần thiết phải thành lập một Mặt trận Dân tộc Thống nhất rộng rãi ở miền Nam. Thành quả to lớn đầu tiên của chủ trương chuyển hướng đấu tranh là thắng lợi vẻ vang của phong trào Đồng Khởi. Nó nói lên nguyện vọng, ý chí quyết tâm giải phóng miền Nam của nhân dân ta, trước hết là đồng bào Nam Bộ. Với phong trào Đồng Khởi, nhân dân ta đã đánh bại chiến lược chiến tranh đơn phương của Mỹ, tạo tiền đề cho sự ra đời Mặt trận. Đến lượt mình, sự ra đời của Mặt trận đưa cách mạng miền Nam lên một tầm cao mới bằng việc huy động được không chỉ sức mạng to lớn của đồng bào mà còn cả sự ủng hộ giúp đỡ của bạn bè thế giới, nhất là Liên Xô và Trung Quốc. Bài toán lớn về chủ trương đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước với sự bất đồng quan điểm của Liên Xô, Trung Quốc đã được Hồ Chí Minh giải quyết đúng đắn qua thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Thứ tư, Hồ Chí Minh quan tâm sâu sắc đến việc chọn thời điểm, tên gọi, chọn người lãnh đạo Mặt trận sao cho đáp ứng tốt nhất mục tiêu chiến lược.

Mặt trận ra đời khi mà Mỹ đã dựng lên một chính quyền tay sai ổn định ở miền Nam. Trước đó đã hình thành một Mặt trận (dù chưa chính thức) thống nhất chống Mỹ - Diệm ở miền Nam. Từ cuối năm 1959, cách mạng miền Nam đã chuyển sang thế tiến công, phong trào đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang bùng lên mạnh mẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời một tổ chức Mặt trận toàn miền Nam. Yêu cầu của cách mạng miền Nam lúc đó rất cần sự ủng hộ nhiều hơn nữa về cả tinh thần và vật chất của các nước trên thế giới, trọng điểm là Liên Xô và Trung Quốc. Trong bối cảnh đó, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn các đại biểu miền Nam vào trong đó, nhớ gấp rút chuẩn bị cho việc thành lập Mặt trận vì điều kiện đã chín muồi.

Việc đặt tên và chọn người đứng đầu Mặt trận được Hồ Chí Minh quan tâm. Tên gọi sao cho thể hiện tốt nhất danh nghĩa một tổ chức độc lập, trung lập, ngọn cờ đoàn kết nhân dân miền Nam đấu tranh và tranh thủ sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ. Chọn người đứng đầu sao cho có uy tín cao đối với đồng bào, một nhà yêu nước chưa “lộ rõ” là một người cộng sản, một người am hiểu nhiều lĩnh vực, trong đó có ngoại giao. Về vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng căn dặn các đại biểu miền Nam tham dự Đại hội III: Có thể lấy tên là Mặt trận dân tộc giải phóng. Nên mời một vị có uy tín trong giới trí thức miền Nam làm Chủ tịch để tập hợp mọi ngành, mọi giới và cổ vũ đồng bào. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời với vị Chủ tịch đầu tiên là Luật sư Nguyễn Hữu Thọ theo đúng tinh thần chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời và hoạt động cho thấy các sáng tạo sau đây trong đường lối chính trị - ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

Một là, sáng tạo trong xử lý mâu thuẫn giữa khát vọng đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước với quan điểm chung sống hòa bình, đấu tranh lâu dài của nhiều nước, trong đó có Liên Xô, Trung Quốc. Với sự ra đời của Mặt trận, khát vọng đó được thực hiện trong sự đồng tình ủng hộ của nhiều nước trên thế giới.

Hai là, sáng tạo trong xác định mục tiêu, tính chất, phạm vi của cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam. Nguyên tắc bất biến của Hồ Chí Minh là cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là sự nghiệp của toàn dân Việt Nam, không phải của riêng đồng bào miền Nam. Nhưng nguyên tắc đó ẩn trong sách lược hạn chế cuộc đấu tranh trong mục tiêu độc lập dân tộc và chỉ ở miền Nam. Điều đó vừa đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng ở miền Nam, vừa thể hiện ra ngoài tính độc lập, tự quyết của miền Nam trong đấu tranh. Hơn nữa, mục tiêu đấu tranh của nhân dân miền Nam Việt Nam đặt trong mục tiêu chung là bảo vệ hòa bình thế giới. Do vậy, thông qua Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, cuộc đấu tranh của nhân dân ta vừa tránh khỏi những nguy cơ, khó khăn vừa khai thác, phát huy nhiều nguồn lực.

Ba là, sáng tạo trong xác định chức năng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Đó vừa là chức năng của một tổ chức chính trị - xã hội thực hiện mục tiêu đại đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân ở miền Nam đấu tranh, lại vừa có chức năng của một chính thể nhà nước có đài phát thanh, cơ quan đại diện ở nước ngoài, có lực lượng vũ trang, cờ và bài hát riêng. Hai chức năng trong cùng một tổ chức, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam vừa đoàn kết, tập hợp rộng rãi đồng bào miền Nam, vừa được sự công nhận và ủng hộ của nhiều nước trên thế giới. Sự ra đời của Mặt trận vừa củng cố được mặt trận đấu tranh trong nước vừa tạo dựng mặt trận đấu tranh ngoài nước, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để cách mạng miền Nam thắng lợi.

Hoạt động của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam sau này luôn gắn với đường lối chính trị - ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Với sự ra đời của Mặt trận, một lần nữa ta thấy tầm vóc của một thiên tài. Những thắng lợi to lớn của nhân dân miền Nam trong cuộc đấu tranh “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là minh chứng sinh động nhất cho tính đúng đắn khoa học xuất phát từ tầm nhìn và năng lực tổng kết thực tiễn kỳ tài ở Hồ Chí Minh. Sau ngày thống nhất đất nước, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam cùng Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hòa thành Mặt trận của nước Việt Nam thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội. Kỷ niệm lần thứ 51 Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, nhớ đến Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, học tập và vận dụng tư tưởng của Người, với lòng biết ơn lớp lớp những người đã ngã xuống, chúng ta càng thêm quyết tâm củng cố vững chắc khối đại đoàn kết dân tộc, khai thác tối đa ngoại lực nhằm xây dựng và phát triển mạnh mẽ đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

1. Robert S. Mc Namara, Nhìn lại quá khứ - Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam, Nxb CTQG, H, 1995, tr.55.
2, Lê Duẩn, Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới, Nxb ST, H, 1981, tr.18.
3, 4. Bộ Ngoại giao, Sự thật về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong 30 năm qua, H, 1979, tr.24.
* ThS, Trường Chính trị Tôn Đức Thắng (An Giang).
Xem thêm bài của tác giả trong Tạp chí Mặt trận, số 96, tr.13.

 | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |             



TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
SOI SÁNG ĐỜI THƯỜNG

                                                                                                             LÊ CAO VINH*

          Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà giáo dục lớn của Việt Nam trong thế kỷ XX. Những tư tưởng giáo dục của Người đã làm rạng rỡ, góp phần khai thông nền văn hoá giáo dục Việt Nam từ quá khứ đến hiện tại và đi vào tương lai. Bên cạnh những tư tưởng về văn hóa giáo dục thì Người còn là một tấm gương mẫu mực trong học tập và rèn luyện. Bằng con đường tự học mà Người đã nói thông, viết thạo 8 ngoại ngữ và biết đến gần 30 thứ tiếng khác nhau trên thế giới. Đây là một điều mà không phải bất kỳ ai cũng có thể chiếm lĩnh được, đặc biệt là trong điều kiện vô cùng khó khăn, vừa hoạt động cách mạng vừa phải lao động để nuôi sống bản thân.

1. Mẫu mực của một tấm gương còn sống là còn phải học

Đối với Hồ Chí Minh, sự học là cả một quá trình bền bỉ, kiên trì rèn luyện trong mọi lúc, mọi nơi. Chúng ta thấy ngay cả vào những ngày cuối đời, khi đang nằm trên giường bệnh, Người vẫn không ngừng học tập, nghiên cứu. Với động cơ trong sáng “Học để làm cách mạng, để phục vụ nhân dân”, chứ không phải học để vinh thân, phì gia. Chính vì vậy, theo Người còn sống thì còn phải học và Người xem việc học như một quyển vở không có trang cuối cùng. Là một nhà văn hóa kiệt xuất của nhân loại, Hồ Chí Minh thấu hiểu rằng: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu, một dân tộc mà luôn luôn trông chờ ỷ lại vào sự giúp đỡ của nước ngoài là một dân tộc không xứng đáng được độc lập”1. Vì vậy, ngay sau khi vừa mới giành được chính quyền, Người đã ra lời kêu gọi toàn dân hãy diệt giặc dốt, và xem sự dốt nát là một loại giặc, nó là bạn đồng hành với thực dân và phong kiến. Từ đó, Người kêu gọi mỗi công dân Việt Nam phải ý thức được điều này, phải tự giác học một cách “đích thực”, tự nâng cao trình độ bản thân bằng con đường tự học, chứ không phải học đối phó. Người viết: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời... thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”2. Chính cuộc đời hoạt động của Người là một tấm gương lớn về tự học.

Ra đi tìm đường cứu nước, trên tàu Latouche Treville anh thanh niên Nguyễn Tất Thành dưới cái tên mới - anh Ba, đã để lại cho thuỷ thủ lòng khâm phục về ý chí tự học: Mỗi ngày đến 9 giờ tối công việc mới xong, anh Ba mệt lử. Nhưng trong khi mọi người nghỉ hay đánh bài, anh Ba đọc hay viết đến 11 giờ hoặc nửa đêm. Năm 1961 khi nói chuyện với cán bộ đảng viên hoạt động lâu năm, Người tâm sự: “Tôi năm nay 71 tuổi, ngày nào cũng phải học... công việc có tiến triển, không học thì không theo kịp, công việc nó sẽ gạt mình lại phía sau”3. Và trong việc tự học cũng cần phải làm gương: Bố mẹ làm gương cho con cái, anh chị làm gương cho em út, thầy cô làm gương cho học sinh, cấp trên làm gương cho cấp dưới... Chúng ta cũng đã biết rằng Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa cộng sản bằng con đường tự học. Tại Đại hội VII Quốc tế cộng sản (1935) với bí danh là Lin, khi khai lý lịch trả lời câu hỏi: Trình độ học vấn: (tiểu học, trung học, đại học) Người ghi: Tự học. Và, đồng chí biết những ngoại ngữ nào? Người ghi: Anh, Pháp, Trung Quốc, Ý, Đức, Nga. Những dẫn chứng trên, đủ để cho chúng ta noi theo, ít ra cũng là cái học đích thực và chân chính. Đặc biệt là trong thực hiện chiến lược giáo dục là quốc sách hàng đầu hiện nay.

2. Chính trị Hồ Chí Minh là một nền chính trị đạo đức

Chúng ta biết đến Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà đạo đức, một nhà mác xít cách mạng, một nhà dân chủ lớn, một danh nhân văn hoá kiệt xuất, anh hùng giải phóng dân tộc, một nhà văn, nhà thơ, hay một nhà quân sự tài ba... Không chỉ vậy, chúng ta còn biết đến Người là một nhà chính trị tài ba trong thế kỷ XX và chính trị của Người là một nền chính trị đạo đức. Chính cuộc đời hoạt động của Người đã minh chứng cho điều này, nhưng Người khước từ tất cả mọi danh hiệu mà bạn bè thế giới yêu quý dành tặng cho Người. Chúng ta biết đến tác phẩm nổi tiếng Nhật ký trong tù của Người, nếu khi đọc tác phẩm đó mà không thấy ký tên Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh thì người đọc sẽ nhầm tưởng đó là thơ của Đỗ Phủ hay Bạch Cư Dị, thế nhưng khi mọi người phong cho Bác là nhà thơ, Người nói: tôi không phải là nhà thơ, tôi làm thơ chỉ là ghi lại cảm nhận của những khoảnh khắc trong cuộc sống, giống như người đi đường gặp làn gió đi qua nên đứng lại hóng mát trong chốc lát vậy thôi! Và, Người chỉ nhận cho mình duy nhất một danh hiệu, đó là: “Nhà chính trị chuyên nghiệp” và tôn chỉ của Người không gì khác, ngoài làm chính trị là để cứu dân, cứu nước. Chính trị đó thực chất là một nền chính trị đạo đức và đạo đức lớn nhất của Người là phục vụ nhân dân, chống áp bức bóc lột mà chủ nghĩa tư bản thực dân gây ra đối với con người. Điều này sẽ góp phần lý giải một cách đầy đủ nội hàm cơ bản khi Người định nghĩa về chính trị, đó là: “Chính trị là phải đoàn kết nhân dân để làm cách mạng... chính trị là phải đoàn kết và thanh khiết từ to tới nhỏ”4... Một cách định nghĩa rất Hồ Chí Minh. Chính vì vậy mà tư tưởng đoàn kết của Người đã trở thành ngọn núi lớn nhất trong các ngọn núi, trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong đường lối cách mạng của Việt Nam. Người nói: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công” và Người khuyên chúng ta: “Năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài, vắn hay dài đều hợp nhất lại nơi bàn tay”, trong mấy mươi triệu đồng bào ta cũng có người thế này hay thế khác, dù thế này hay thế khác đều là con Lạc cháu Hồng, đều có cùng chung dòng máu cho nên phải yêu thương nhau, đùm bọc nhau để cùng nhau tiến bộ, cùng nhau phát triển. Tư tưởng này đã toát lên một ý nghĩa nhân văn cao cả, đó là lòng bao dung, độ lượng đối với con người, Người nói: “Đừng sợ người ta không theo mình, mà chỉ sợ mình không có lòng độ lượng tha thứ đối với con người mà thôi”, từ đó Người khái quát lên một triết lý: “Sông sâu biển rộng chứa bao nhiêu nước cũng vừa vì lòng độ lượng nó lớn, nó sâu; còn một cái bát, cái chén chứa thêm một giọt nước cũng tràn đầy vì lòng độ lượng nó hẹp”5. Đối với con người cũng vậy, người nào có lòng độ lượng rộng lớn thì có thể tha thứ cho những người đã từng lầm đường lạc lối, còn ai mà lòng dạ hẹp hòi thì không thể có lòng độ lượng đó, ngược lại sinh ra đố kị, tự kiêu, tự mãn.

Với cách nhìn như vậy, chúng ta thấy tầm nhìn của Bác là tầm nhìn của một nhà chính trị với một “nhãn quan chính trị” sắc bén, tạo nên sự “mẫn cảm” chính trị, thấy được sự “thấu hiểu” và “thấu cảm” đối với con người.

3. Việc nhỏ không bỏ sót, việc lớn không xem thường

Trong tư tưởng đạo đức, nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh chúng ta biết đến nội dung đạo đức lớn nhất của Người là Cần, kiệm, liêm, chính; nhân văn cao cả của Người là khoan dung, độ lượng, nâng niu - quan tâm đến giá trị con người.

Từ chuẩn mực đó, mà xuyên suốt tư tưởng đạo đức nhân văn của Người đã toát ra mối quan tâm đến số phận của con người, phản ánh tâm tư nguyện vọng của quần chúng nhân dân, của những người lao động chân chính. Chính vì vậy, mà từ suy nghĩ, lời nói đến việc làm của Hồ Chí Minh cũng nhằm vào mục đích vì con người, vì nhân dân lao động. Điều đó, cũng dễ hiểu rằng suốt cuộc đời hoạt động của Bác trong suy nghĩ, trong hành động không có một riêng tư nào dành cho cá nhân. Cái riêng tư của Bác đã trở thành cái chung cho toàn dân tộc, Người nói: “Một ngày mà dân tộc chưa giành được độc lập, đất nước chưa được thống nhất là thêm một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên” - cái riêng của Người là như vậy.

Nếu chúng ta đọc hết Hồ Chí Minh toàn tập gồm 12 tập, từ tập 1 đến tập 12 chúng ta cũng chỉ duy nhất tìm thấy một lần Bác đề cập đến bản thân, đó là trong Di chúc, Người viết: “Về việc riêng, suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa. Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân...”6. Những lời Di chúc đó thấm đượm một chủ nghĩa nhân văn cao cả. Cả cuộc đời hoạt động cách mạng của Người là một tấm gương, một biểu hiện tiêu biểu nhất cho chủ nghĩa nhân đạo cộng sản. Một con người suốt đời thanh bạch và trong sáng, “sữa để em thơ lụa tặng già”, một tâm hồn lớn “làm bạn với thiên nhiên, cảnh vật, trăng và gió” một cốt cách mang chí anh hùng “trợn mắt coi khinh nghìn lực sĩ, cúi đầu làm ngựa kẻ nhi đồng”. Tất cả những yếu tố đó tạo nên một phong thái mang vẻ đẹp Hồ Chí Minh với một phong cách thật “giản dị”. Sự “giản dị” của Bác không phải là giản đơn mà “giản dị” ở đây được hiểu là cái “tận cùng của sâu sắc”, và cái sâu sắc đó chính là “Việc nhỏ không bỏ sót, việc lớn không xem thường”. Bác quan tâm đến nhân dân đến con người từ việc nhỏ đến việc lớn, từ miếng cơm, manh áo của nhân dân đến việc giải phóng con người và giải phóng cho dân tộc, cho nhân loại bị áp bức, Người nói: “Làm Chủ tịch nước bây giờ mệt lắm. Trăm việc đều phải lo. Trời mưa, trời nắng, gió bão... Chưa ai lo, mình đã phải lo. Các cháu choẹt mắt chưa ai lo, mình phải lo”7. Chính vì thế mà câu nói của Người như một mệnh đề tư tưởng cho những người làm cách mạng, đã thức tỉnh lương tâm của chúng ta ngày hôm nay, đó là: “Làm cách mạng giành được chính quyền rồi mà dân vẫn đói, vẫn rét là Đảng và Chính phủ có lỗi với dân”.

Việc lớn nhất là giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong công việc lớn lao này, Người đã nhắc chúng ta không được xem thường, nếu ai xem thường là hỏng việc và tất yếu sẽ dẫn đến thất bại. Để thực hiện việc lớn đó, Người đặc biệt chú trọng đến công tác đào tạo, giáo dục đạo đức cho cán bộ đảng viên và Người cũng đã chỉ ra những nguy cơ mà mỗi chúng ta không được xem thường đó là: “Chủ nghĩa cá nhân, nạn tham ô, quan liêu, bè phái, độc đoán chuyên quyền, bệnh kiêu ngạo...”. Đó là những căn bệnh do xã hội cũ để lại, nó là bạn đồng hành của thực dân và phong kiến. Đó là giặc nội xâm, nó sẽ giết chết chúng ta mà không phải dùng gươm, dùng súng. Cho nên Người khuyên chúng ta cần phải đề phòng, chống những căn bệnh đó bằng cách mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, phải thực hành dân chủ cho dân, phải gần dân, gắn bó và học hỏi ở dân. Có như vậy, đạo đức cách mạng của người cán bộ mới sáng ngời trong lòng dân chúng.

4. Cả đời Bác chỉ có một mục đích

Cuộc đời của mỗi con người chúng ta đều phải trải qua những sự lựa chọn khác nhau. Chính những sự lựa chọn này đủ để quyết định đến sự nghiệp cả đời của một con người, thành hay bại, vinh quang hay tầm thường và cũng chính sự lựa chọn đó để thấy rõ mục đích của một con người. Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh sự lựa chọn của Người đã đi vào huyền thoại của nhân loại với một nhân cách vô cùng trong sáng và cao thượng, đó là giải phóng “dân tộc, con người và xã hội”, Người nói: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo - là vì mục đích đó. Đến lúc nhờ quốc dân đoàn kết, tranh được chính quyền, uỷ thác cho tôi gánh việc Chính phủ, tôi lo lắng đêm ngày, nhẫn nhục cố gắng - cũng vì mục đích đó... Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi môt mục đích, làm cho ích quốc lợi dân”8. Và qua quá trình hoạt động bất kỳ trong hoàn cảnh nào, dù khó khăn, hiểm trở đến đâu Người luôn luôn trung thành với sự lựa chọn đó, không bao giờ thay đổi, không bao giờ lung lay, từ lúc ra đi tìm đường cứu nước cho đến khi trở về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người vẫn một mực trung thành với một sự lựa chọn. Đó là bản lĩnh của một con người cách mạng chân chính. Hãy lắng nghe từ sự bộc bạch của Người để thấy được ở Hồ Chí Minh sự lựa chọn đã khẳng định rõ mục đích, Người nói: “Mỗi người có quyền chọn cho mình một học thuyết, riêng tôi tôi chọn chủ nghĩa Mác” đó là chủ nghĩa chắc chắn nhất, chân chính nhất và cách mạng nhất, “việc giải phóng dân tộc cũng chỉ có thể là chủ nghĩa cộng sản và cách mạng thế giới”. Mục đích đó được Người chuyển tải bằng một tình cảm khi trả lời các nhà báo tại Đại hội lần thứ II Hội Nhà báo Việt Nam, như một chia sẻ nghề nghiệp: “Về nội dung viết, mà các cô các chú gọi là đề tài, thì tất cả các bài Bác viết chỉ có một đề tài là: Chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”9. Cũng từ mục đích đó mà Người nói: “Một ngày mà nước nhà chưa được độc lập, Nam Bắc chưa được thống nhất là một ngày tôi ăn không ngon ngủ không yên”, kể cả khi nằm trên giường bệnh Người vẫn thao thức “miền Nam luôn ở trong trái tim tôi”. Từ đó, không phải ngẫu nhiên khi nói về triết lý làm người, Người nói: “Suy cho cùng là ở đời và làm người, ở đời thì phải yêu nước, làm người thì phải thương dân, thương nhân loại bị áp bức bóc lột” và Người đưa ra một tiêu chí của việc tu dưỡng đạo đức là “phục vụ nhân dân là một việc làm cao thượng”. Và cuộc đời hoạt động của Người không có gì hơn ngoài một ham muốn, “ham muốn tột bậc là làm sao cho nước nhà được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc ai cũng được học hành”10, rồi đến lời cuối cùng để lại toàn Đảng toàn dân là “tình yêu thương” đối với con người, đối với đồng bào và đối với các cháu thiếu niên nhi đồng thế giới... Đó là một tấm gương đạo đức mà chúng ta phải học tập, rèn luyện và noi theo để xứng đáng khi đứng trước chân dung của Người.

5. Cần quan tâm đến chính sách xã hội đối với con người

Trong cuộc hành trình năm châu, bốn bể khảo sát tất cả các cuộc cách mạng tư sản điển hình như: cách mạng tư sản Anh, Pháp, Mỹ... nhưng tất cả, theo Người đó là những cuộc cách mạng chưa đến nơi, vì cách mạng thành công rồi mà nhân dân vẫn cực khổ, vẫn còn tồn tại những bất công trong xã hội, vẫn còn áp bức dân tộc, vẫn còn phân biệt màu da... Quyền lợi giành được chỉ nằm trong tay một số ít người giàu có, một số bộ phận giai cấp tư sản mà thôi - cách mạng thành công rồi mà dân chúng vẫn cứ lo toan làm cách mạng lần thứ hai. Từ đó, Người khuyên cách mạng Việt Nam không đi theo các cuộc cách mạng ấy và muốn giải phóng dân tộc, muốn đưa lại cơm no áo ấm cho dân chúng thì chỉ có đi theo con đường cách mạng vô sản mà thôi, con đường cách mạng Tháng mười Nga năm 1917 do V.I Lênin lãnh đạo. Đây là một sự lựa chọn bằng tài năng và trí tuệ với một tầm nhìn vượt thời đại của Hồ Chí Minh, đã đưa lại một sự nghiệp giải phóng triệt để cho con người, làm vinh quang cho dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX và triển vọng trong thế kỷ XXI.

Một trong những tính ưu việt của con đường cách mạng vô sản hơn hẳn so với cách mạng tư sản khi thành công là đặc biệt “chăm lo chính sách xã hội đối với con người” để tiến tới thực hiện “xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”. Chính sách đó được Đảng ta áp dụng xuyên suốt trong đường lối kinh tế của Việt Nam, đó là thực hiện triệt để lời căn dặn của Người trước lúc đi xa. Đảng và Nhà nước phải quan tâm đến những lớp người cụ thể như các cháu thiếu niên nhi đồng, thanh niên phụ lão, gia đình chính sách, thương bệnh binh, người có công với cách mạng, kể cả đối với những người trước đây lầm đường lạc lối cũng có kế hoạch để cải tạo họ đưa họ về hoà nhập với cộng đồng... có như thế mới thể hiện được Nhà nước ta là một nước thực sự của dân, do dân và vì dân; xã hội mà chúng ta xây dựng là một xã hội văn minh tiến bộ, chế độ mà chúng ta hướng tới là một chế độ không còn người áp bức bóc lột người, nó thể hiện tính nhân văn cao đẹp mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách xã hội đối với con người được thể hiện bằng bản chất chính trị ưu việt của Nhà nước Việt Nam mới. Chính sách xã hội đó nhằm giúp cho con người phát triển toàn diện về thể chất lẫn tinh thần, nó thể hiện một xã hội giàu về vật chất, mạnh về tinh thần: “Trẻ em thì được đến trường, thanh niên, sinh viên, học sinh khi ra trường thì có việc làm, người già thì được an dưỡng, thương binh bệnh binh thì được an sinh, phụ nữ thì được giải phóng...”. Việc thực hiện chính sách xã hội đối với con người phản ánh sự đảm bảo cho hoạt động của con người được phát triển có mục đích, có định hướng, có kế hoạch và bảo đảm được cho phát triển sản xuất, nâng cao năng suất lao động, điều đó được Hồ Chí Minh kiến giải minh bạch khi đề ra những nguyên tắc phân phối trong chủ nghĩa xã hội. Người nói: “Chủ nghĩa xã hội là công bằng hợp lý, làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, những người già yếu tàn tật được Nhà nước giúp đở, chăm nom”11. Có làm được như vậy thì mới xây dựng được một xã hội công bằng, gắn trách nhiệm, quyền lợi với nghĩa vụ và đặc biệt nó chuyển tải được tính nhân văn cao cả của chủ nghĩa xã hội. Lúc đó mọi người mới thấy được trách nhiệm của mình đối với xã hội.

Việc thực hiện lời dạy của Bác, thực thi chính sách xã hội đối với con người là thực hiện ham muốn tột bậc của Người:“Làm cho nước nhà được hoàn toàn độc lập, dân tộc được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cúng được học hành”, đồng thời còn góp phần vào việc xây dựng con người Việt Nam có cốt cách, nhân cách, tài năng và phẩm chất tốt. Đó là những gì mà hôm nay và ngày mai Đảng và Nhà nước ta đã, đang và sẽ làm một cách triệt để, thiết thực như Người đã căn dặn.

Nếu mở đầu chúng ta thấy ba yếu tố “một con người, một dân tộc, làm nên một sự nghiệp” lớn lao quện chặt vào nhau để hun đúc nên một bản lĩnh, một phẩm chất của Hồ Chí Minh, thì ở đây năm yếu tố này hoà quện vào nhau để tạo nên một nét đặc sắc nhất, làm nổi bật giá trị đạo đức của Hồ Chí Minh - đó là, nền tảng vững chắc và trở thành nhu cầu tất yếu để sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam toả ra khắp thế giới. Ngày nay, triết thuyết đạo đức này trực tiếp thâm nhập vào quần chúng nhân dân và được quần chúng nhân dân đón nhận. Đây là một sức mạnh vật chất cho sự thắng lợi trong sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam mới.

Nguồn tham khảo từ Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 1995 và 2002.
* ThS, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên.

 | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |             



          Lý luận

PHƯƠNG THỨC KẾ THỪA, GIỮ GÌN, PHÁT HUY BẢN SẮC
VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

                                                                                                        TRẦN VĂN XIN
                                                                                                        CAO ANH*

Với thắng lợi của chính sách đổi mới, mở cửa, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng, mở ra triển vọng cho đất nước ta thoát khỏi sự nghèo đói lạc hậu, vươn tới cuộc sống no ấm, văn minh, thịnh vượng. Gắn bó chặt chẽ với triển vọng ấy là hy vọng về một thời kỳ phát triển mới, thăng hoa của nền văn hóa nước nhà. Bởi vì tất cả chúng ta đều ý thức rõ ràng sự giàu mạnh không phải là mục đích tự thân, mục đích cuối cùng mà chúng ta theo đuổi. Như Mác đã dạy, nó là điều kiện cho sự “phát triển tự do những sức lực con người”, những khả năng sáng tạo của con người, chỉ sự phát triển ấy mới là mục đích tự thân “giàu mạnh” phải được bổ sung bằng “giàu đẹp”, cái đẹp ấy được tạo ra từ nhiều nguồn. Ở đây, xin đề cập đến một nguồn, đó là lĩnh vực sáng tạo tinh thần, tức là văn hóa hiểu theo nghĩa hẹp.

Hướng tới một thời kỳ mới của phát triển văn hóa được hậu thuẫn bằng sự giàu mạnh, thịnh vượng của nước nhà, bằng thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chúng ta không quên tính cực kỳ phức tạp, khúc khuỷu, không đồng đều, không đơn tuyến giữa phát triển kinh tế - xã hội với phát triển văn hóa - nghệ thuật. Không phải ai khác, mà chính là các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác nhắc nhở chúng ta điều này. “Nói chung, không nên hiểu khái niệm tiến bộ theo cách trừu tượng hóa thông thường... về nghệ thuật thì ta biết rằng, một số thời kỳ nở rộ của nó không tương ứng với sự phát triển chung của xã hội và như vậy là cả với sự phát triển cái cơ sở vật chất tạo thành dường như bộ xương cho tổ chức xã hội”. Sau nhận định khái quát ấy, Mác dẫn hai ví dụ làm bằng chứng: nghệ thuật cổ Hy Lạp và Kịch Sêchxpia thời kỳ phục hưng - những đỉnh cao của văn hóa tinh thần loài người đạt được ở những thời đại văn hóa vật chất còn phát triển thấp nhưng là mãi mãi đối với các thế kỷ sau, sẽ là “khuôn vàng thước ngọc không thể với tới”. Có thể đưa ra nhiều dẫn chứng khác xác nhận sự anh minh của Mác. Năm 1857 - 1858, khi ông đưa ra nhận định vừa dẫn, chính là những năm cuối cùng của thế kỷ hoàng kim của văn hóa Đức, thế kỷ mà nước Đức nửa phong kiến và cát cứ, nghèo nàn, lạc hậu về kinh tế và bị chia cắt về chính trị, đã cống hiến cho loài người một nền triết học vĩ đại, một nền âm nhạc vĩ đại, một nền thơ văn vĩ đại mà so với chúng, những thành tựu văn hóa Đức thời đế chế và sau đế chế, thời công nghiệp và hậu công nghiệp không thể sánh bằng. Sau Đức một chút và hấp thụ ảnh hưởng của Đức, ở Nga, một nước cũng còn nghèo nàn, lạc hậu và còn mang nặng những tàn dư của chế độ quân chủ chuyên chế theo kiểu phương Đông, văn hóa Nga trong một thế kỷ XIX đã đạt những thành tựu chói lọi. Ngay ở nước ta, văn hóa - nghệ thuật Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX - thời kỳ ấy là thế nào về mặt kinh tế - xã hội, chúng ta đều biết - chẳng phải là đỉnh cao rực rỡ hay sao? Những kỳ công sáng tạo và cả nhân cách khổng lồ của những danh nhân văn hóa thời ấy - Lê Hữu Trác, Lê Quý Đôn, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát... mãi mãi là niềm tự hào của dân tộc.

Như vậy, rõ ràng sự phát triển thăng hoa của văn hóa tinh thần phụ thuộc nhiều vào những nhân tố nội tại của thế giới tinh thần, sự cường thịnh kinh tế cùng với những yếu tố xã hội khác tạo nên những tiền đề, chứ không đảm bảo những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển ấy. Hơn mọi lĩnh vực đời sống xã hội, lĩnh vực sáng tạo tinh thần rất khó dự báo và lại càng khó kế hoạch hóa. Mọi sự đầu tư sáng tạo, do đó, đều là những cuộc phiêu lưu, tất nhiên với những xác suất thành công rất khác nhau, những tương quan rất khác nhau, giữa mức đầu tư và thành quả cuối cùng.

Cái gốc của bản sắc văn hóa Việt Nam

Lâu nay có khá nhiều tranh luận về “Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam”. Người đi vào triết học, người đi vào folklor, người đi vào tâm linh (việc thờ cúng ông bà, thần linh lễ hội...) có người đi vào những di sản vật chất, như kiến trúc, điêu khắc đình chùa... để chứng minh bản sắc văn hóa Việt Nam... Lại cũng có người đi vào duy danh định nghĩa và cũng có người đi vào nghiên cứu chứng minh bản sắc văn hóa Việt Nam là sự tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại để biến hóa thành của Việt Nam, hay nói cách khác đã “Việt Nam hóa” đạo Phật, đạo Nho và cả triết học phương Tây. Điều đó hoàn toàn đúng, nhưng chưa phải đi tìm đến cái gốc... Thậm chí có người tỉ mẩn đi vào cả tục xỉa răng, tục để tóc dài, nhuộm răng đen... Thiết nghĩ, đó chỉ thuộc về tác phong hay phong cách, phong tục, chứ chưa phải là bản chất của bản sắc văn hóa, hay nói cách khác đó chỉ là bề ngoài của cái ta đang cần tìm là cái gốc, cái bản chất của bản sắc văn hóa.

Phải nhận thức rằng, bản sắc văn hóa Việt Nam chính là “lòng yêu nước Việt Nam”. Lịch sử thế giới chưa có một dân tộc nào giống như Việt Nam, với nghìn năm Bắc thuộc, 10 năm Minh thuộc và trăm năm Pháp thuộc và có lẽ phải kể 20 năm Mỹ thuộc trên nửa nước. Lịch sử thế giới chứng minh số phận nhiều dân tộc bị đô hộ rồi bị đồng hóa luôn chỉ trong thời gian rất ngắn (nghĩa là mất dân tộc). Tính từ khi có dương lịch đến nay (2011 năm), thì chưa có một dân tộc nào bị đô hộ đến hơn một nửa thời gian của lịch sử nhân loại ấy đã không những không bị đồng hóa mà lại vùng dậy tự giải phóng được mình? Những tên tuổi tiêu biểu cho dân tộc vùng dậy chấm dứt thuộc địa là:

- Ngô Quyền chấm dứt 1000 năm Bắc thuộc.
- Lê Lợi chấm dứt 10 năm Minh thuộc.
- Hồ Chí Minh chấm dứt 100 năm Pháp thuộc và Mỹ thuộc.

Thử hỏi có một dân tộc nào trên thế giới lại có chung một mộ Tổ (Vua Hùng), con cháu cả nước hành hương về để tưởng niệm ông cha và đã diễn ra mọi sinh hoạt cộng đồng, thể hiện rõ nét nhất bản sắc văn hóa của mình như ở đền Hùng? Có lẽ bởi dân tộc ấy bị đè nén, áp bức đến cực độ nên mới có lòng yêu thương nhau đến thế và trong ứng xử xã hội “Nhiễu điều phủ lấy giá gương” hoặc “Thương người như thể thương thân”. Khác với Khổng giáo đặt “cái tôi” lên trên hết, còn tư tưởng triết lý Việt Nam thì ngược lại, coi cộng đồng là hơn cả.

Có dân tộc nào hình thành nên truyền thuyết như kiểu truyền thuyết về bọc trăm trứng với mẹ Âu Cơ? Mọi vật ở đời tưởng vô lý mà lại có lý của nó cả. “Đồng bào”, bọc trăm trứng ai cũng thừa biết chỉ là huyền thoại, là con người sáng tạo ra trong những bối cảnh lịch sử dân tộc, vậy mà ai cũng tôn thờ và thấy nó linh thiêng. Người duy vật dù không tin thì cũng vẫn tôn thờ.

Phương thức kế thừa, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

Các vấn đề truyền thống và cách tân, dân tộc và hiện đại, kế thừa và sáng tạo... trong mọi lĩnh vực xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực văn hóa cho tới nay không phải là điều mới mẻ. Chúng được chấp nhận như những vấn đề tất yếu, thậm chí trở thành những công thức linh hoạt hơn, thúc đẩy quá trình phát triển xã hội. Hành trình của văn hóa nước ta trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, tiếp nối nhau. Sự khác nhau về chất giữa các giai đoạn này đặt ra một cách cấp thiết vấn đề kế thừa và phát triển truyền thống văn hóa đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, kế thừa, phát triển, sáng tạo thế nào để hiện đại, tiên tiến: cách tân mà không làm tổn hại đến cái gốc - bản sắc dân tộc - của văn hóa lại là điều cần tìm hiểu.

Về gốc gác truyền thống văn hóa dân tộc, đặc biệt về bản sắc văn hóa dân tộc, nhiều công trình và nhiều bài báo đề cập khá tỉ mỉ, cụ thể với những quan điểm và lý luận khác nhau. Những ý kiến này tuy chưa đến độ thống nhất cao song cũng đạt đến độ đồng nhất nhất định. Sự đồng nhất này là ở chỗ khẳng định dân tộc ta có hệ giá trị tinh thần xã hội, có truyền thống lâu đời về chống ngoại xâm, bình dị, cần cù chịu khó, đặc biệt có nền văn hiến, văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc cần được trân trọng và lưu giữ, kế thừa và phát huy. Về hình thức, đây là vấn đề không còn gì phải bàn cãi, song về mặt nội dung, bản sắc văn hóa Việt Nam gồm những gì, cần kế thừa và chọn lọc thế nào, phương thức tối ưu cho việc kế thừa và phát triển bản sắc văn hóa là gì... đòi hỏi phải có một cách nhìn nhận và lý giải rõ ràng hơn.

Sáng tạo và phát triển trên cơ sở kế thừa truyền thống là nhu cầu xã hội và lịch sử về mọi phương diện. Vấn đề bản sắc dân tộc của văn hóa trong bối cảnh mới cũng đòi hỏi kế thừa và phát huy, thu nhận và gạn lọc. Trong văn hóa, sợi dây nối quá khứ - hiện đại - tương lai thường bền chắc, liên tục và hầu như không đứt đoạn. Văn hóa và bản sắc dân tộc của văn hóa theo dòng lịch sử thường không thoát ly truyền thống, trái lại còn là một tiếp nối có phê phán giá trị truyền thống nhằm đạt đến độ tính chất khi khai thác giá trị truyền thống để xây dựng những giá trị mới trong điều kiện mới.

Trong vấn đề có tính tất yếu này, thực tế cho thấy có những xu hướng phát triển khác nhau trên cơ sở những quan điểm khác nhau về vấn đề bản sắc văn hóa. Sự khác nhau ấy gây ra nhiều xáo trộn trong những cố gắng kế thừa và phát triển bản sắc văn hóa và cũng như phát triển toàn bộ “nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” ở nước ta hiện nay. Vấn đề đặt ra ở đây, cả trên bình diện lý luận lẫn thực tiễn, là cần có sự thống nhất tương đối quan điểm, xu hướng phát triển, phương thức kế thừa, sáng tạo và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc đi từ truyền thống đến hiện đại.

Cho tới nay, vẫn song song tồn tại những xu hướng và phương thức cực đoan trong kế thừa và đổi mới bản sắc văn hóa dân tộc, tạm gọi là các xu hướng tự tôn dân tộc và tự ti dân tộc quá mức. Xu hướng đầu coi mọi cái thuộc về truyền thống, thuộc về lịch sử đều tốt đẹp, cần được kế thừa và phát triển, không có những truyền thống dở, hay nói cách khác là cái sai, cái dở không thuộc về truyền thống. Xu hướng này dẫn đến thái độ tôn sùng dân tộc, đóng cửa tự ngắm mình, bóp chết giao lưu và phát triển, phủ nhận những tinh hoa văn hóa toàn cầu. Xu hướng thứ hai nghiêng về sự cách tân vọng ngoại, thoát ly cơ sở truyền thống văn hóa dân tộc, xu hướng này dẫn đến thái độ tự ti dân tộc, tự coi mình là nhược tiểu, choáng ngợp trước thế giới, thất thế trong giao lưu quốc tế cả về kinh tế lẫn văn hóa. Những xu hướng cực đoan này không những gây ra những phức tạp trong khi đặt vấn đề bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc mà còn dẫn đến những cách hiểu phiến diện, lệch lạc về các khái niệm bản sắc văn hóa, truyền thống và đổi mới, kế thừa và cách tân, dân tộc và quốc tế... cũng như các mối quan hệ nhiều chiều giữa chúng với nhau.

Thực tiễn phát triển văn hóa cũng như thực tiễn vận động của vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc ở nước ta cho thấy có không ít những hiện tượng lệch lạc, đã phá vỡ truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc; du nhập mốt, sáng tạo, thưởng thức, tiêu dùng những giá trị văn hóa lai căng, ngoại lai, không phù hợp với đạo đức, phong hóa truyền thống dân tộc. Thậm chí nhiều loại hình văn hóa đen, độc hại như phim sex, sách báo đồi trụy, phản động... đã lợi dụng tình thế mở cửa mà ùa vào từng ngóc ngách xã hội làm băng hoại đạo đức, ô nhiễm môi trường văn hóa, ảnh hưởng không tốt đến lối sống, cách sống, sự sáng tạo giá trị văn hóa nghệ thuật, phong thái ứng xử, giao tiếp và hàng loạt các vấn đề có liên quan đến truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc. Ở đây không đi sâu vào các hiện tượng, các biểu hiện cụ thể của văn hóa - phản văn hóa, bản sắc - thiếu bản sắc... mà chỉ qua các hiện tượng để cắt nghĩa bản chất và phương thức vận động của văn hóa trong việc giữ gìn bản sắc dân tộc của mình. Trong vấn đề này chúng ta đã có những hoạt động và những thành tựu đáng kể.

Thứ nhất, chúng ta có đủ thời gian và điều kiện thực tiễn để thẩm định và đánh giá toàn bộ hệ giá trị văn hóa tinh thần Việt Nam, đường đi của bản sắc dân tộc cũng như toàn bộ vốn văn hóa truyền thống của dân tộc, cái tạo nên sắc thái văn hóa. Sự phát triển văn hóa dân tộc nhiều thời đoạn đã cho thấy sự sáng tạo và kế thừa giá trị văn hóa, bản sắc văn hóa và chắt lọc tinh hoa, gạt bỏ những hạt sạn, vừa sáng tạo vừa thâu nhận, làm đầy thêm kho tàng văn hóa dân tộc.

Quan điểm kế thừa và nâng cao giá trị truyền thống trong bản sắc văn hóa đã được thực tiễn chứng minh là đúng. Đặc biệt, thực tiễn văn hóa nghệ thuật đã cho thấy các giá trị dân tộc, các truyền thống dân tộc mà truyền thống yêu nước, truyền thống văn hiến lâu đời là đặc thù... không thể không gia nhập như là một yếu tố nội sinh quan trọng của bản sắc văn hóa dân tộc. Sự hòa hợp dân tộc - hiện đại đã tạo nên những tác phẩm văn hóa nghệ thuật vừa chân thật vừa sinh động, vừa mang ý nghĩa toàn cầu vừa thấm đượm những vấn đề dân tộc.

Thứ hai, từ lâu chúng ta đã có được một cách xử lý hài hòa các vấn đề riêng - chung, dân tộc - hiện đại, dân tộc - quốc tế theo quan điểm vừa giữ gìn bản sắc dân tộc, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới. Phương thức tốt nhất mà Đảng ta đã đề ra là phải kết hợp hài hòa cái tiên tiến và cái bản sắc, phải kế thừa trên cơ sở nâng cao giá trị truyền thống văn hóa dân tộc, đồng thời tiếp thu tất cả tinh hoa văn hóa trong và ngoài biên giới, song phải tránh nguy cơ đồng hóa, đồng phục văn hóa. Đường lối ấy đã, đang và sẽ được thực hiện trong đời sống xã hội và đời sống văn hóa. Một điều dễ dàng nhận thấy là xu hướng “về nguồn”, tức là tìm về giá trị văn hóa dân tộc nhân bản đang nở rộ trên các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực văn hóa.

Trong lúc mở cửa hòa nhập với thế giới, chúng ta hết sức coi trọng vốn văn hóa dân tộc - chất liệu quan trọng để tạo nên bản sắc văn hóa. Bên cạnh các loại hình nghệ thuật mang tính quốc tế, hiện đại như điện ảnh, sân khấu, ôpêra, nhạc giao hưởng... luôn song hành tồn tại các loại hình truyền thống như sân khấu chèo, tuồng, cải lương, dân ca... và ngay trong các loại hình được gọi là hiện đại đó thì đề tài dân tộc, cách mạng... tức là những gì đậm sắc thái dân tộc Việt Nam vẫn được đề cao, vẫn chiếm một tỷ trọng lớn. Ngay trong cấu trúc các loại hình văn hóa thì bên cạnh các mảng hiện đại, vẫn luôn tồn tại các bộ phận di sản văn hóa, mỹ thuật cổ, sân khấu truyền thống... Mặc cho ý nghĩa hay phát huy ở mức độ nào, nó vẫn phản ánh cách nhìn đúng của các hoạt động văn hóa nghệ thuật trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa.

Cuối cùng trong quá trình phát triển của mình, văn hóa đã đầy thêm bằng hàng loạt mối quan hệ về vật chất. Chúng ta không chỉ có quan hệ giữa cái truyền thống - cái cách tân, mà còn cái dân tộc - cái quốc tế, cái riêng - cái chung, cái tiên tiến - cái bản sắc... sự mở rộng nội hàm cho phép ta nhìn vấn đề truyền thống, vấn đề bản sắc rõ nét hơn, có thể xác định được cái gì là truyền thống riêng của dân tộc, cái gì là giá trị (vốn được coi là truyền thống) mà các dân tộc khác cũng có, tránh được những cực đoan mà người ta thường gọi là dân tộc hẹp hòi hay hiện đại chông chênh (do thiếu nền tảng dân tộc).

Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động văn hóa đã và đang cho thấy sự lúng túng trong cơ chế hoạt động, trong phương thức quản lý văn hóa, trong bản thân việc nhận thức và đánh giá vấn đề bản sắc văn hóa Việt Nam. Những khác biệt và băn khoăn này là có thật. Kế thừa thế nào? Sáng tạo và phát huy ra sao để bản sắc văn hóa Việt Nam vừa biểu đạt được không khí hiện đại, tiên tiến vừa không phá vỡ truyền thống dân tộc, để sự tiếp nối này vừa có cái gốc dân tộc vừa là sự tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại. Làm thế nào đểå sự phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển xã hội... thực sự là những câu hỏi khó, và từ xa xưa tới nay, trong khi trả lời những câu hỏi đó, chúng ta đã có một số thiếu sót:

- Lầm lẫn trong khi xử lý khái niệm, đồng nhất lịch sử với tính truyền thống, đúng hơn là coi giá trị lịch sử đồng nghĩa với giá trị truyền thống. Chúng ta cho rằng giá trị truyền thống là sự tinh tuyển giá trị lịch sử, mang tính bản sắc, chứ không phải toàn bộ văn hóa. Nói đến sự kế thừa và phát huy truyền thống văn hóa cũng đồng nghĩa với việc sáng tạo, kế thừa những giá trị tinh túy, những sắc thái căn bản của văn hóa, chứ không phải là tất cả.

- Chưa thống nhất được nội hàm bản sắc dân tộc của văn hóa trong từng thời đoạn cụ thể, còn hiểu chung chung nên tỏ ra thiếu bản lĩnh trong bảo vệ và giữ gìn bản sắc văn hóa trong bối cảnh mới. Vì thế, rất cần thiết bàn luận và thống nhất quan niệm giữa truyền thống - hiện đại, bản sắc và tính tiên tiến (nhân loại, xã hội chủ nghĩa) nhằm tạo điều kiện cho sự kế thừa, gạn lọc và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

- Nhận thức của chúng ta, đặc biệt là những người đang hoạt động văn hóa về các vấn đề lý luận văn hóa chưa được kỹ càng. Cơ chế hoạt động rườm rà, giẫm chân lên nhau trong nghiên cứu, sáng tạo, phổ biến và tiêu dùng văn hóa đã tạo tiền đề cho những lộn xộn trong đời sống văn hóa xã hội, khiến cho giao lưu quốc tế về văn hóa ngày càng gặp khó khăn, nguy cơ và thách thức trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa ngày càng lớn.

Trên cơ sở đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng với mục tiêu “xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, chúng ta cần khẳng định lại vấn đề kế thừa truyền thống có chọn lọc trên cơ sở nâng cao những giá trị dân tộc và nhân loại, kế thừa với mục đích phát triển và sáng tạo cái mới, bổ sung cho cái đã có. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII và XI đều nhấn mạnh tính hài hòa, hai mặt hữu cơ của văn hóa: từ nội dung xã hội chủ nghĩa và hình thức dân tộc; nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc đến một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đó là những cách diễn đạt khác nhau nhưng cũng còn là những thay đổi về chất của bản thân văn hóa trong từng giai đoạn. Cho nên phát triển, sáng tạo cái mới trên cơ sở kế thừa tinh hoa truyền thống dân tộc là phương thức không chỉ dành riêng cho văn hóa. Trong bối cảnh của cơ chế thị trường và chính sách mở cửa với nhiều biến động không nhỏ trong nước và quốc tế, phải chú ý đến vấn đề bản sắc văn hóa với một chất lượng mới. Tính lịch sử của vấn đề bắt buộc văn hóa phải theo kịp thời đại, thậm chí “đi trước” thời đại. Song nếu không chú trọng đúng mức, văn hóa dễ thoát ly gốc gác truyền thống của mình, trở thành cái hiện đại trôi nổi, chông chênh không bền vững, hoặc bám chặt lấy truyền thống, kể cả những giá trị quá cũ, dễ trở thành hẹp hòi, vị dân tộc.

Hệ giá trị tinh thần ngày càng có nhiều biến đổi. Các tiêu chuẩn định hướng văn hóa và bản sắc văn hóa cũng có những chuyển dịch. Sự truyền lan không biên giới của các nền văn hóa trên toàn cầu, ngoài những cái hay còn có những cái không phù hợp, đang khiến tính dân tộc và truyền thống bị coi nhẹ. Xét cho cùng những “mốt, làn sóng, chủ nghĩa...” hiện đại, dù được tán thưởng hay ngự trị một thời cũng không còn đất sống nếu không tìm được cách hội nhập vào tâm lý truyền thống, lấy chỗ dựa ở truyền thống. Cho nên, để sáng tạo cái mới một cách hoàn chỉnh, không thể không khai thác nghiêm túc vốn truyền thống, nâng lên chất lượng mới cho phù hợp tiêu chí tiên tiến, hiện đại. Truyền thống phải là giá đỡ, là cái gốc để thẩm định lại sáng tạo văn hóa hiện đại. Hai mặt của vấn đề này luôn hữu cơ, bổ sung cho nhau, làm thành phương thức hữu hiệu: đến hiện đại từ truyền thống, gắn hiện đại với truyền thống... Đó là cách giữ gìn và phát huy có hiệu quả bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh mới.

Bên cạnh truyền thống, bản sắc dân tộc nói chung cần ưu tiên nghiên cứu, khám phá, chắt lọc những bản sắc văn hóa tộc người, những ánh rọi lấp lánh mà nhiều khi ta chưa chú trọng đúng mức. Có như vậy, chúng ta mới có thể vừa củng cố lại ý thức dân tộc mà đây đó, tùy từng đối tượng đã có phần lu mờ; vừa tổ chức bảo vệ, giữ gìn, phát huy tinh hoa văn hóa dân tộc trong sự hòa nhập quốc tế và giao lưu văn hóa ngày càng thêm mạnh mẽ.

* ThS. Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III.

 | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |             



XÂY DỰNG HIẾN PHÁP THỨ 5 CỦA NỀN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
VỚI NHỮNG QUY ĐỊNH MỚI VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

                                                                                             NGUYỄN THANH BÌNH*

1. Sự cần thiết phải xây dựng bản Hiến pháp mới

Hiến pháp là đạo luật cơ bản của Nhà nước, là văn kiện chính trị - pháp lý quan trọng, thể hiện bản chất dân chủ, tiến bộ của Nhà nước và chế độ. Hiến pháp quy định về những quan hệ xã hội liên quan đến việc tổ chức bộ máy nhà nước; là một văn bản tổ chức đời sống chính trị của một đất nước; điều chỉnh những quan hệ xã hội rường cột của đất nước, đặt nền tảng pháp lý cho một quốc gia. Do đó, Hiến pháp là cơ sở của hệ thống pháp luật của nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất, mọi văn bản pháp luật phải phù hợp với Hiến pháp, không được mâu thuẫn với Hiến pháp.

 Kể từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến nay, nước ta đã có 4 bản Hiến pháp: Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung một số điều vào năm 2001). Nay đã đến lúc nước ta cần phải có một Hiến pháp mới, Hiến pháp thứ 5 của nền Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa, Hiến pháp của thế kỷ XXI, mà không phải là Hiến pháp 1992 được sửa đổi, bổ sung lần thứ 2.

Như mọi người đều biết, Hiến pháp năm 1992 là Hiến pháp của thời kỳ đầu đổi mới cách đây đúng 10 năm đã được sửa đổi, bổ sung một lần một số điều vào năm 2001. Đến nay, đất nước ta đã có nhiều thay đổi trong bối cảnh quốc tế có những biến đổi to lớn và sâu sắc. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, Báo cáo chính trị của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, trên cơ sở tổng kết sâu sắc thực tiễn và lý luận 25 năm đổi mới, đã xác định rõ mục tiêu, định hướng phát triển toàn diện, bền vững đất nước trong giai đoạn cách mạng mới nhằm xây dựng nước Việt Nam Xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Vì vậy, đây là lúc chín muồi để nước ta có một bản Hiến pháp mới.

Đối với Hiến pháp mới, cần nghiên cứu, thể hiện lời văn, kỹ thuật trình bày bảo đảm các quy định của Hiến pháp đúng tầm là đạo luật cơ bản, có tính ổn định lâu dài, hình thành Hiến pháp thứ 5 của nước ta có thể áp dụng ít nhất cho đến năm 2050.

Theo “Kế hoạch sơ bộ sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 (Kèm theo Tờ trình số 11/TTr-UBTVQH13 ngày 2-8-2011)” của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì lộ trình thông qua Dự thảo Hiến pháp sẽ vào tháng 10 năm 2013, do vậy chúng tôi xin tạm gọi Hiến pháp thứ 5 của nền Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Hiến pháp 2013.

2. Bản Hiến pháp mới 2013 quy định những vấn đề gì?

Bản Hiến pháp mới của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định chế độ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, thể chế hoá mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý.

Những mối quan hệ xã hội được Hiến pháp Việt Nam điều chỉnh có thể chia thành những nhóm sau đây:

2.1. Những mối quan hệ xã hội liên quan đến nguồn gốc của quyền lực nhà nước và bản chất của quyền lực nhà nước. Những mối quan hệ này được quy định ở Chương I của Hiến pháp với tiêu đề “Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Chế độ chính trị”. Qua những mối quan hệ này cho phép xác định nguồn gốc và bản chất của Nhà nước ta. Đó là Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

2.2. Những mối quan hệ xã hội liên quan đến việc xác định cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội của việc tổ chức nhà nước Việt Nam. Những mối quan hệ này đặt nền tảng cho việc tổ chức nhà nước. Những mối quan hệ này được điều chỉnh ở các chương: Chương II - Chế độ kinh tế; Chương III - Văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ; Chương IV - Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

2.3. Những mối quan hệ xã hội giữa Nhà nước và công dân. Đó là những mối quan hệ xã hội xác định hình thức tham gia của nhân dân vào việc quyết định những công việc của Nhà nước, xác định các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Những mối quan hệ này được điều chỉnh ở Chương V - Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

2.4. Những mối quan hệ xã hội liên quan đến mô hình Nhà nước Việt Nam. Qua đó, cho phép xác định cơ cấu, tổ chức các cơ quan nhà nước và mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với nhau. Những mối quan hệ này được điều chỉnh ở các chương: Chương VI - Quốc hội; Chương VII - Chủ tịch nước; Chương VII - Chính phủ; Chương IX - Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân; Chương X - Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân.

Ngoài những quy định nói trên, Hiến pháp Việt Nam còn có hai chương: Chương XI - Quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, thủ đô, ngày quốc khánh; Chương XII - Hiệu lực của Hiến pháp và việc sửa đổi Hiến pháp.

3. Quy định mới về hệ thống chính trị trong Hiến pháp năm 2013

Hệ thống chính trị là tổng thể những tổ chức thực hiện quyền lực chính trị được xã hội chính thức thừa nhận. Hệ thống chính trị tư sản hiện đại thể hiện nền dân chủ tư sản, bao gồm: nhà nước tiêu biểu cho quyền lực công, với các cơ quan lập pháp (nghị viện), cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp; các chính đảng; các tổ chức nghề nghiệp, tổ chức chính trị - xã hội, cùng tham gia hoạt động chính trị (tranh cử, tham gia chính quyền, biểu tình, vận động quần chúng...). Đặc trưng của hệ thống chính trị tư sản theo chế độ đại nghị hay chế độ tổng thống, là chế độ nhiều đảng do giai cấp tư sản và chính đảng của nó lãnh đạo; là chế độ tam quyền phân lập.

Hệ thống chính trị Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thể hiện bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý”. Đảng Cộng sản, với tư cách là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu cho lợi ích của nhân dân lao động và của toàn dân tộc, có sứ mạng lãnh đạo toàn bộ xã hội thông qua nhà nước và các đoàn thể nhân dân; bộ máy nhà nước có chức năng quản lý mọi mặt đời sống xã hội; các đoàn thể nhân dân có chức năng tập hợp các giai cấp, tầng lớp xã hội tham gia việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

Như vậy, xây dựng quy định về hệ thống chính trị trong Hiến pháp năm 2013 bao gồm việc xây dựng các quy định về Nhà nước, về Đảng Cộng sản Việt Nam về các đoàn thể nhân dân, và có vai trò đặc biệt quan trọng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

3.1. Về Nhà nước

Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền; Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là tổ chức trung tâm và là trụ cột của hệ thống chính trị, thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân quản lý toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội và thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại.

 Điều 2 của Hiến pháp năm 1992 quy định: “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. Chúng tôi cho rằng, trong điều luật này nên bỏ cụm từ “mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. Bởi vì:

Chúng ta đang phấn đấu để thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, và để có được một xã hội như vậy, cần phải huy động sức mạnh và có sự đóng góp công sức của toàn thể nhân dân, cần phải phát huy sức mạnh toàn dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân là động lực phát triển của đất nước, như từ Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã đề ra. Một điểm nổi bật trong đường lối, chính sách của Đảng về mặt chính trị trong thời gian vừa qua là Đảng đã xác định: Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của toàn xã hội. Đoàn kết, đại đoàn kết bao giờ cũng là nguồn sức mạnh của dân tộc Việt Nam. Đoàn kết toàn dân thì tạo ra được sức mạnh vật chất và tinh thần, huy động được các nguồn lực, khai thác được các thuận lợi mới, vượt qua các thách thức mới, đi đến những thành công mới.

Mặt khác, bên cạnh việc quan tâm đến lợi ích của lực lượng cầm quyền, các Nhà nước đều cố gắng quan tâm đến lợi ích chung của toàn thể nhân dân, của toàn xã hội. Do đó, chúng ta không nên quá nhấn mạnh đến tính giai cấp của Nhà nước, vì như vậy có thể gây ra những trở lực không đáng có cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Với lập luận trên, chúng tôi đề nghị Điều 2 của Hiến pháp nên được viết là: “Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nam nữ, giai cấp, dân tộc, tôn giáo”.

3.2. Về Đảng

Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc. Do vậy, việc Hiến pháp dành riêng Điều 4 để ghi nhận quyền lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, ghi nhận “Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” là cần thiết và phù hợp với hoàn cảnh của nước ta.

Tuy nhiên, Điều 4 Hiến pháp 1992 chỉ quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam” là chưa đầy đủ. Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam mà còn là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc như Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) và Điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam ghi nhận. Vì vậy, khổ 1 của Điều 4 cần được sửa lại là: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.

Hai nữa, không chỉ mọi tổ chức của Đảng cần hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật mà điều quan trọng là mọi đảng viên cũng phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Do vậy, khổ 2 Điều 4 cần được sửa lại là: “Mọi tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

3.3. Về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội và đoàn thể nhân dân là những tổ chức đại diện cho lợi ích của các cộng đồng xã hội khác nhau tham gia vào hệ thống chính trị theo tôn chỉ, mục đích, tính chất của từng tổ chức. Ở Việt Nam hiện có 5 tổ chức chính trị - xã hội gồm: Hội Nông dân, Liên đoàn Lao động, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh. Ngoài ra còn có nhiều tổ chức xã hội và các đoàn thể nhân dân khác. Các tổ chức này đã đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc trước đây. Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, các tổ chức này đang góp phần quan trọng đưa các chính sách của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống.

Trong thời kỳ mới, Hiến pháp mới cần bổ sung:

 Một là, vai trò, chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, chăm lo lợi ích của các đoàn viên, hội viên của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân;

Hai là, vai trò là bộ phận của hệ thống chính trị của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân;

Ba là, vai trò, chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.

Bởi lẽ:

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc, tập hợp, vận động, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, của đoàn viên, hội viên; tham gia xây dựng Đảng và Nhà nước, tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, thực hiện giám sát xã hội, phản biện xã hội như Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Nghị quyết Đại hội X, XI của Đảng đã nêu.

Mặt trận Tổ quốc được xác định là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện bao gồm tổ chức chính trị (ở đây hiểu là Đảng Cộng sản Việt Nam), các đoàn thể nhân dân và cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam ở nước ngoài. Do vậy, Mặt trận Tổ quốc bao gồm các tổ chức và cá nhân thành viên nói trên là bộ phận của hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo (như Khoản 2 Điều 1 Luật MTTQ Việt Nam đã quy định). Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là người lãnh đạo Mặt trận, vừa là thành viên của Mặt trận.

Đối với vai trò, chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân thì xuất phát từ sự thừa nhận Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tính đến hoạt động đặc thù của Mặt trận và đoàn thể, Đảng ta khẳng định: “Đảng tôn trọng tính tự chủ, ủng hộ mọi hoạt động tự nguyện, tích cực, sáng tạo và chân thành lắng nghe ý kiến đóng góp của Mặt trận và các đoàn thể. Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách, tạo điều kiện để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân hoạt động có hiệu quả, thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội”1. Thực tế thời gian qua, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đã thực hiện hoạt động giám sát; tích cực tham gia góp ý kiến vào dự thảo nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chủ động phối hợp với cơ quan nhà nước xây dựng và ban hành một số quy định, cụ thể hoá một bước cơ chế giám sát và đã đạt được kết quả bước đầu. Tuy nhiên, đến nay hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân còn nhiều hạn chế, hiệu quả chưa cao. Phản biện xã hội là nhiệm vụ mới, rất quan trọng, khó khăn và nhạy cảm, nhưng chưa có cơ chế phản biện xã hội cụ thể, chưa có quy định thật rõ về mục đích, yêu cầu, nguyên tắc, chủ thể, đối tượng, nội dung. Trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội 2011 - 2020, Đảng ta đã nêu: “Hoàn thiện cơ chế để nhân dân đóng góp ý kiến, phản biện xã hội và giám sát công việc của Đảng và Nhà nước, nhất là về các chính sách kinh tế, xã hội, về quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án phát triển quan trọng”2. Vì thế, việc bổ sung vai trò, chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân vào Hiến pháp là hết sức cần thiết.

Do vậy, Khổ 2 Điều 9 Hiến pháp năm 1992 nên được sửa lại là: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, là bộ phận của hệ thống chính trị, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội đối với Đảng và Nhà nước”.

Hiện nay, điều kiện tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên còn phụ thuộc nặng nề vào nhà nước theo kiểu cơ chế xin cho, điều đó đôi khi biến các tổ chức này thành nơi “ăn theo, nói leo”. Điều này, cũng được phản ánh vào Hiến pháp, thể hiện ở khổ 3 Điều 9 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên hoạt động có hiệu quả”. Theo chúng tôi, thay vì sử dụng ngôn ngữ ở dạng thức chủ động theo công thức “Nhà nước tạo điều kiện...”, theo tư duy bao cấp; nên chăng sử dụng ngôn ngữ ở dạng thức bị động theo công thức “... Nhà nước bảo đảm các điều kiện...”. Công thức này sẽ nói lên nghĩa vụ của Nhà nước đối với các đối tượng được hưởng. Nếu các điều kiện cần thiết không được tạo ra trên thực tế cho đối tượng được hưởng thì Nhà nước đã vi phạm nghĩa vụ Hiến pháp. Hơn nữa, việc sử dụng cụm từ “Nhà nước tạo điều kiện...” còn làm cho trách nhiệm của Nhà nước thiếu rõ ràng, vì nếu các điều kiện cần thiết không được tạo ra cho đối tượng được hưởng, thì đối tượng được hưởng biết kiện ai. Vì Nhà nước chỉ “tạo điều kiện” khi Nhà nước thấy thuận cho mình, còn Nhà nước không có nghĩa vụ đảm bảo cho các điều kiện này tồn tại.

Do vậy, ứng dụng vào khổ 3 Điều 9 Hiến pháp năm 1992 là: “Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên hoạt động có hiệu quả” nên được sửa lại là: “Nhà nước bảo đảm các điều kiện để Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên hoạt động có hiệu quả”.

1, 2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H, 2011, tr.87, 145.
* Ths. Trưởng phòng Dân nguyện Ban Dân chủ - Pháp luật, Ủy ban Trung ương Mặt trận TQVN.
Xem thêm bài của tác giả trong Tạp chí Mặt trận số 95, tr. 37.

 

 | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |             


 

 
 
 

 

 

 

 

 

  ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM          
 

   Chợ bến Thành ( TP Hồ Chí Minh )


Khuê các Vănmiếu
TP Hà Nội

 

    Kon Tum

              Quảng Nam


Biển Hà Tiên       

 
 

|   Giới thiệu  |   Mặt trận Tỉnh Thành  | Tổ chức thành viên |  Hội đồng tư vấn   |   English

| TCMT | Trở Về đầu trang  |

Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2008 Trang TTĐT - Cơ quan UBTW MTTQ Việt Nam.
Giấy phép số:111/GP-BC của Bộ Thông tin và Truyền thông • Trưởng ban Biên tập: LÊ BÁ TRÌNH • Phó ban Biên tập: NGUYỄN TUẤN ANH
Địa chỉ: 46 Tràng Thi - Hà Nội • ĐT:04-9287401;  Email:
ubmttqvn@mattran.org.vn