|
|
 |
|
|
|
|
|
 |
|
|
 |
|
|
|
|

|
|
TÍNH CHÍNH ĐÁNG CỦA NHÀ NƯỚC
NHÌN TỪ CUỘC KHỦNG HOẢNG CHÍNH TRỊ
Ở MỘT SỐ NƯỚC TRUNG ĐÔNG VÀ BẮC PHI
NGUYỄN VĂN QUANG*
Từ cuối năm 2010 và nửa đầu năm 2011 của thế kỷ XXI này, thế giới đang
phải chứng kiến một loạt chính phủ ở các nước Bắc Phi và Trung Đông đã
bị sụp đổ hoặc đang phải đối mặt với nguy cơ sụp đổ. Bắt đầu từ Tunisia
vào giữa tháng 12-2010 bằng những cuộc biểu tình mạnh mẽ của dân chúng,
kết quả là Tổng thống Ben Ali phải rời khỏi đất nước sau hơn hai thập
niên cầm quyền. Ngay sau đó chỉ hai tuần, chính quyền của Tổng thống
Mubarak ở Ai Cập cũng buộc phải từ chức sau 30 năm nắm quyền. Và, gần
đây nhất là Tổng thống Gaddafi của Libya cũng phải cùng chung số phận
sau một thời gian cầm quyền rất dài (từ năm 1969). Làn sóng biểu tình
còn diễn ra ở hàng loạt nước khác nữa, như Algeria, Maroc, Yemen,
Bahrain, Oman, Saudi Arabia, Kuwait, Jordan, Syria và một số nước khác
nữa. Từ cuộc khủng hoảng chính trị trên một phạm vi rộng đang diễn ra
như vậy, người ta một lần nữa lại phải đi tìm câu trả lời cho tính chính
đáng của quyền lực nói chung, tính chính đáng của nhà nước nói riêng.
Dưới cách tiếp cận của chính trị học Mácxit, con người muốn tồn tại và
phát triển cần phải gắn kết với nhau tạo thành cộng đồng, và đặc biệt là
cần đến một quyền lực để duy trì mối quan hệ giữa các thành viên trong
cộng đồng. Một thiết chế, một kiểu tổ chức quyền lực đầu tiên trong lịch
sử đã ra đời - đó là thị tộc. Trong tổ chức quyền lực này thì quyền lực
thực sự thuộc về mọi người và quyền lực thực sự vì mọi người. Tuy nhiên,
do sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động dẫn tới sự
ra đời của nhà nước như một đòi hỏi khách quan. Sự xuất hiện nhà nước
vừa là bước tiến tất yếu của văn minh nhân loại; đồng thời, sự hiện hữu
của nhà nước, pháp luật là một dấu hiệu cho thấy xã hội từ đó đang tồn
tại một tình trạng bất công, người bóc lột người, bất bình đẳng. Sự xuất
hiện nhà nước với tư cách là một bộ máy quyền lực đặc biệt - dường như
đứng ra ngoài, “đứng bên trên xã hội” vừa là một bước tiến của văn minh
nhân loại, nhưng mặt khác, đó là dấu hiệu mở đầu của sự “tha hoá” về
quyền lực xã hội nói chung, quyền và nghĩa vụ của cộng đồng người cấu
thành xã hội - nhà nước nói riêng. Chính điều đó đã làm khát vọng của
con người là đòi phải trả lại cho con người sự bình đẳng, công bằng;
khát vọng mong muốn phục hồi lại ý nghĩa nguyên thuỷ của quyền lực công
đã nảy sinh trong điều kiện đó. Chính nhờ khát vọng đó, đã tạo ra một
mẫu số chung của tất cả những công dân thuộc tầng lớp bên dưới - những
người bị bóc lột, áp bức phải gắn kết lại với nhau, cùng hành động để
đòi lại quyền vốn có của mình. Từ đó trở đi, xã hội loài người không
ngừng vận động, phát triển trong sự biến thiên không ngừng của những tìm
kiếm, thể nghiệm; của những cuộc đấu tranh giai cấp không mệt mỏi nhằm
tạo ra một chế độ chính trị hợp lý, có hiệu quả - một chế độ chính trị
dân chủ, một xã hội công bằng, quyền lực thực sự được trả lại cho tất cả
mọi người trong xã hội. Tuy nhiên, trải qua hàng nghìn năm, nhưng cuộc
đấu tranh đó vẫn chưa mang lại kết quả thực sự. Quyền lực nhà nước vẫn
đang phát huy tác dụng với giai cấp cầm quyền, còn về phía nhân dân (những
người chủ của quyền lực ấy) vẫn đang không ngừng đấu tranh để đòi lại
quyền lực của mình.
Như vậy, “về căn bản, việc sử dụng quyền lực của chủ thể quyền lực nói
chung, nhà nước nói riêng, luôn gây ra khuynh hướng chống đối và do vậy,
vấn đề nghiên cứu chính ở đây là, tại sao người dân công nhận và thực
hành tự nguyện các quy định, các mệnh lệnh của các cơ quan nhà nước,
ngay cả khi người đó khó chịu (không muốn)?, giống như Ăngghen từng
khẳng định: quyền lực làm người ta khó chịu. Nói cách khác, mọi sự khủng
hoảng chính trị có thể coi là sự mất tin tưởng vào khả năng cầm quyền,
sự không chấp nhận tính đại diện của nhà nước, hoặc tổng quát hơn là
khủng hoảng về tính chính đáng chính trị. Vì vậy, chủ thể của quyền lực
luôn phải tìm cách để làm thế nào cho những người bị trị của mình phải
chấp nhận mình, nếu không chủ thể đó sẽ mất quyền cai trị của nó. Có
nghĩa, chủ thể cai trị phải tìm được quá trình và phương thức thuyết
phục của chính quyền với người dân, bằng lý lẽ và lương tri - tức là
thiết lập được tính chính đáng. Từ chỗ chấp nhận, người dân tự thấy
nghĩa vụ, bổn phận của mình phải ủng hộ và tuân thủ các mệnh lệnh mà nhà
nước đưa ra. Có thể nói là, cơ chế của tính chính đáng chính trị chính
là nhằm thiết lập sự chấp nhận quyền cai trị. Như vậy, chúng ta có thể
hiểu rằng: Tính chính đáng của nhà nước là những yếu tố mà chủ thể cai
trị thiết lập được để thuyết phục những người bị trị tuân thủ và ủng hộ
các mệnh lệnh mà nhà nước đưa ra một cách tự nguyện nhằm đạt được hiệu
lực và hiệu quả của quyền lực”1.
Như vậy, hạt nhân trong khái niệm này là, điều gì làm cho người dân chấp
nhận sự cai trị của chủ thể quyền lực nhà nước. Tức là, những yếu tố nào
chủ thể cầm quyền tạo ra để người dân chấp nhận chính quyền của họ.
1. Những nguyên nhân cơ bản
Thứ nhất, các chủ thể cầm quyền trong một thời gian quá dài và tạo ra sự
độc đoán, chuyên quyền, tham nhũng, không có dân chủ và xa rời dân chúng.
Ở các nước này, “phải nhận rằng, trong ba thập niên vừa qua, nhất là 20
năm kể từ sự kiện Liên Xô tan rã, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa
Đông Âu sụp đổ những năm 1990 của thế kỷ trước, trong khi tại châu Âu và
các châu lục khác cục diện chính trị có sự điều chỉnh lớn thì tại Bắc
Phi, Trung Đông, hầu như không có sự biến động về ý thức hệ chính trị -
tư tưởng”2. Chẳng hạn, Tổng thống Tuynisia nắm quyền liên tục 23 năm qua
4 cuộc bầu cử mà lần nào cũng thắng cử tuyệt đối (!), Tổng thống Ai Cập
nắm quyền 30 năm, ông đã từng 4 lần tái đắc cử Tổng thống với tỷ lệ
phiếu tối thiểu trên 80%, ở Yemen là sự cầm quyền của Tổng thống Saleh
trong suốt 32 năm qua, Algeria là 3 nhiệm kỳ liền.
Bên cạnh đó, “hầu hết các nước trong khu vực duy trì nền chính trị lạc
hậu, độc đoán và mất lòng dân. Một số nước tuy danh nghĩa là chế độ cộng
hòa, nhưng chính quyền thực chất là các chế độ chuyên chế, gia đình trị,
không khác mấy so với chế độ quân chủ”3. Chẳng hạn, ở Tuynisia, đất nước
có hơn 10 triệu dân, chỉ trong thời gian ngắn đã vươn lên thành một nước
phát triển bậc nhất châu Phi với hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại, hoàn
hảo, tốc độ tăng trưởng cao, đời sống nhân dân được cải thiện, gần ngang
bằng với các nước phát triển trung bình ở Nam Âu. Nhưng do quá say sưa
và tự mãn với thành quả đã đạt được, nhà cầm quyền Tuynisia đã ngày càng
dấn sâu vào con đường xa rời nhân dân, tham nhũng, lộng hành, gia đình
trị, Tổng thống Ben Ali đã liên tục cai trị Tunisia bằng “bàn tay sắt”
từ năm 1987 dựa trên mô hình nhà nước cảnh sát. Ở Libya, khi còn dưới
thời Tổng thống Gaddafi, các con ông được giao cho nắm những ngành trọng
yếu, quản lý Quỹ Đầu Tư Lybia hàng trăm tỷ USD, lãnh đạo cả Ủy ban
Olympics Quốc gia, chỉ huy cả công an mật vụ, lữ đoàn phòng vệ thủ đô,
đều không qua một thủ tục tối thiểu. Song song với những vị trí quyền
lực đó là khối tài sản kếch xù của gia đình nhà Gaddafi. Kể từ khi Liên
hợp quốc ban hành lệnh cấm vận đối với Libya, các ngân hàng phương Tây
đã phong tỏa hàng chục tỉ USD của gia đình Gaddafi, trong đó Mỹ phong
tỏa 37 tỉ USD, Anh 19,6 tỉ USD, Đức 10,5 tỉ USD. Ngoài ra, những người
mang họ Gaddafi còn mua cổ phiếu ở các công ty đa quốc gia trên khắp thế
giới.
Hơn nữa, trong quá trình cầm quyền, các nhà lãnh đạo, do muốn duy trì
quyền lực của mình đã không ngừng sử dụng quân đội, cảnh sát và coi đó
là một công cụ hàng đầu để trấn áp những người phản đối mà quên đi là
mình phải thực hiện một chức năng rất quan trọng và cơ bản của nhà nước
trong xã hội dân chủ - đó là chức năng xã hội. Ở Ai Cập, trong suốt ba
thập niên cầm quyền của mình, ông Mubarak đã điều hành đất nước theo
đường lối cứng rắn, sẵn sàng áp đặt và duy trì tình trạng khẩn cấp triền
miên, sẵn sàng dùng cảnh sát để đàn áp những người dân nghèo khổ vùng
lên nổi loạn. Bất cứ ai cũng đều hiểu rằng độc tài chỉ có đứng vững khi
người ta còn tin nó, sợ nó - nỗi sợ mà chính nó đã gieo vào lòng các
thần dân của mình - và sự nể trọng mà nó tạo ra được trong phần còn lại
của thế giới. Khi niềm tin không còn thì nó sẽ sụp đổ, như một lâu đài
xây bằng cát hay là biến thành một con hổ giấy, nhà triết học
Bernard-Henri Lévy đã viết trên tờ Le Point như thế.
Thứ hai, nạn nghèo đói dai dẳng, bất công xã hội, tình trạng thất nghiệp
và vấn nạn tham nhũng kéo dài mà không được chính quyền giải quyết một
cách thỏa đáng.
Mặc dù GDP bình quân đầu người ở các nước này khá cao (ở Ai Cập là 2.700
USD; ở Tuynisia là 3.100 USD) nhưng của cải chủ yếu tập trung trong tay
một số ít cầm quyền và giới tư bản thân hữu với những người có quyền lực.
Tỉ lệ người dân sống dưới mức nghèo khổ ở những nước này rất cao. Ai Cập
là 40% và Tuy-ni-di là 30%, còn ở Yemen có tới 40% dân số sống dưới mức
nghèo khổ với không quá 2 USD/ngày, tình trạng nghèo đói ở nông thôn,
công ăn việc làm cho thế hệ trẻ không đảm bảo (tỉ lệ thất nghiệp trong
giới trẻ là 52%).
Đặc biệt, dưới sự cai trị của những nhà cầm quyền này, nhà nước đã để
cho tình trạng đối lập trong xã hội xảy ra rất phổ biến giữa những khu
vực có cuộc sống hết sức xa hoa với những khu vực dân cư nghèo đói quanh
năm. Bên cạnh đó, cuộc khủng kinh tế thế giới kể từ năm 2008 kéo dài cho
đến nay đã đẩy cuộc sống của những người dân nghèo khổ dường như đang bị
chính quyền bỏ quên vốn đã cơ cực nay lại càng trở nên cơ cực hơn. Chính
điều này đã làm gia tăng sự phẫn nộ của dân chúng đối với chính quyền và
họ đã đứng dậy biểu tình lật đổ chính quyền như một tất yếu phải đến.
Bên cạnh hai nguyên nhân chính, mang tính nội tại trên còn có nhiều
nguyên nhân khác nữa - cả khách quan và chủ quan. Chẳng hạn như, sự tác
động của các nước phương Tây, với cái gọi là thúc đẩy “dân chủ”, “nhân
quyền” và các nước phương Tây không ngừng sử dụng những chiêu bài nhằm
áp đặt “những giá trị tiến bộ của mình” cho các nước khác để thực hiện
mục tiêu chiến lược lâu dài của mình ở Bắc Phi và Trung Đông, đã phần
nào kích động được những phe đối lập và số đông dân chúng trong xã hội
đứng lên đòi lật đổ chính quyền đang tồn tại. Một nguyên nhân nữa là,
cùng với sự phát triển kinh tế ở các nước này, ở trong nước đã tạo ra
một tầng lớp có tư tưởng tiến bộ, đề cao các giá trị dân chủ, nhân quyền.
Tuy nhiên, bộ phận mang tư tưởng tiến bộ này phải đối mặt với một nền
chính trị chuyên quyền, độc đoán, áp đặt ý chí, đàn áp những người có tư
tưởng tiến bộ... Vì thế, họ đã đứng lên kêu gọi, dẫn dắt dân chúng biểu
tình, đòi thay đổi chính phủ, nhằm tạo ra một chế độ chính trị dân chủ,
tiến bộ hơn.
Qua phân tích những nguyên nhân chủ yếu của cuộc khủng hoảng chính trị ở
các nước Bắc Phi và Trung Đông, chúng tôi cho rằng, để xây dựng được
tính chính đáng của nhà nước, chủ thể nắm quyền phải tạo ra được ba yếu
tố mang tính cơ bản sau đây:
Thứ nhất, giá trị lý tưởng chính trị. Lý tưởng chính trị hết sức đa dạng,
được thể hiện qua rất nhiều cách khác nhau: Hệ tư tưởng, các cương lĩnh,
chính sách và hành động... Về căn bản, hệ giá trị sẽ phải là vì dân (công
ích), bình đẳng, công bằng, dân chủ, tự do,... Trong tính chính đáng,
giá trị lý tưởng chính trị phải mang tính công ích, đây có thể được coi
là nền tảng quan trọng nhất của tính chính đáng. Nếu như lý tưởng chính
trị của chủ thể cai trị theo đuổi mà vì mục đích chung, là lợi ích cho
tất cả mọi người trong xã hội, khi đó sự ép buộc cũng chính là vì lợi
ích của người bị ép buộc. Như Mác đã khẳng định, tự do của mỗi cá nhân
cũng chính là tự do của người khác, lợi ích của cá nhân gắn liền với lợi
ích của tập thể,...
Thứ hai, tính hợp pháp của quyền lực. Trong xã hội dân chủ hiện đại,
thước đo của tính hợp pháp trong quá trình giành và thực thi quyền lực
của các chủ thể là những quy tắc đã được quy định trong hiến pháp. Tiêu
chí của nó chủ yếu thể hiện trên hai phương diện: một là, sự liên quan
mật thiết giữa hình thức hình thành chủ thể quyền lực chính trị với chế
độ bầu cử và chế độ bãi miễn; hai là, sự vận hành quyền lực chịu sự ràng
buộc và giám sát nghiêm ngặt của hiến pháp và pháp luật. Tức là, quyền
lực của chủ thể phải có được từ các cuộc bầu cử dân chủ, hợp pháp, bình
đẳng, phổ thông và công khai chứ không phải là cha truyền con nối hoặc
là gian lận trong bầu cử như ở một số nước Bắc Phi và Trung Đông.
Thứ ba, tính hiệu quả của quá trình cầm quyền. Một chủ thể cầm quyền
muốn có được tính chính đáng của mình không chỉ cần có giá trị tư tưởng
và tính hợp pháp trong cầm quyền. Thực tế cho thấy, một chủ thể cầm
quyền có sự công nhận về quyền lực không nhất định phải có tính hợp pháp
mạnh. Một chủ thể cầm quyền muốn duy trì được quyền lực, được người dân
ủng hộ một cách lâu dài chỉ khi nó tạo ra được hiệu quả cao - tức là
thành tích trong quá trình cầm quyền của mình. Hiệu quả cầm quyền của
chủ thể chính trị nào đó, không chỉ chú ý đến những con số tăng trưởng
thông thường mà còn phải chú ý đến cả yếu tố phân phối một cách hợp lý
những thành quả đạt được đó - tức là mọi người dân trong xã hội đều phải
được hưởng những thành quả kinh tế chung của đất nước. Trong thể chế
chính trị hiện đại, tuy các chủ thể chính trị có đặc trưng mang tính
giai cấp rõ ràng, song cơ sở của tính chính đáng là theo đuổi lợi ích
chung của quần chúng nhân dân. Chính vì thế, đa số người trong xã hội
cho rằng, chính sách của chủ thể cầm quyền là đại diện cho lợi ích của
họ, như vậy sẽ xây dựng được cơ sở cho tính chính đáng một cách bền vững.
Chỉ khi nào chủ thể cầm quyền của một nhà nước tạo ra được ba yếu tố
được cho là cơ bản trên, khi đó quyền lực của chủ thể mới được đảm bảo,
được duy trì bằng sự tin tưởng và ủng hộ của người dân - tức là cầm
quyền một cách chính đáng.
1. Nguyễn Văn Quang: Khái niệm tính chính đáng chính trị và tư tưởng của
C.Mác - Ph.Ăngghen về tính chính đáng của nhà nước, Tạp chí Triết học,
số 1 (236), năm 2011, tr.59 - 60.
2.http://www.cuuchienbinh.com.vn/index.aspx?Menu=1324&Chitiet=7680&Style=1
3. Phạm Quốc Trụ: Biến động chính trị ở Bắc Phi, Trung Đông và tác động
đối với thế giới, Tạp chí Cộng sản, số 822, tháng 4-2011, tr.93.
* ThS. Khoa Chính trị học, Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III.
|
MỤC LỤC
| Trở Về đầu trang
| |
|
|
Mại dâm
ở một số nước trên thế giới
THU HƯƠNG*

Mại dâm là một vấn đề xã hội có lịch sử lâu đời và có những cách nhìn
khác nhau. Có quốc gia coi mại dâm là một nghề nhưng nhiều quốc gia coi
đó là một tệ nạn xã hội và có biện pháp phòng chống. Dưới đây sẽ giới
thiệu khái quát tình hình mại dâm ở một số nước trên thế giới.
1. Mại dâm ở Hà Lan
Hà Lan là quốc gia đầu tiên và từ rất lâu rồi đã cho phép việc thiết lập
các khu phố đèn đỏ để hợp thức hóa nghề mại dâm. Theo tư liệu của Trung
tâm hợp tác nghiên cứu châu Âu (ESCC) thì ngành công nghiệp kinh doanh
thân xác này có ở Hà Lan từ những năm đầu thế kỷ XVI. Khi đó, Hà Lan đã
là một thương cảng lớn của thế giới; trở thành nơi “xả hơi” và “chốn vui
vẻ” của các thủy thủ sau những tháng ngày lênh đênh trên biển cả. Chính
phủ Hà Lan bảo đảm cho tất cả gái mại dâm được tiếp cận với các dịch vụ
y tế và làm việc trong khuôn khổ và hành lang pháp lý; biến các khu phố
đèn đỏ trở thành nơi hành nghề được coi là an toàn và hợp pháp. Đây cũng
là lý do mà phần lớn khách du lịch khi đến Hà Lan thường không bỏ qua
khu “phố đèn đỏ”. Nhiều người còn đưa ra nhận xét, đó là một địa danh mà
sự sầm uất không thua kém bất kỳ khu phố đi bộ nào khác ở trung tâm
thành phố Amsterdam.
Nghề kinh doanh mại dâm thời gian đầu, Chính phủ Vương quốc này cũng tỏ
ra lúng túng và bị động. Việc cấm đoán, truy bắt và xử lý các hành vi
môi giới, chứa chấp gái mại dâm chỉ là việc hình thức. Theo thời gian,
công nghiệp tình dục lan nhanh ra nhiều khu vực của đất nước Hà Lan. Đã
có nhiều cuộc tranh luận diễn ra xung quanh phạm trù đạo đức kinh doanh
trên thân xác phụ nữ nhưng cuối cùng người ta đã buộc phải tìm đến một
lời giải là hợp thức hóa nghề mại dâm. Theo đó chính phủ cho phép những
ông chủ đầu tư tiền bạc xây dựng các khu phố đèn đỏ, nơi dành riêng cho
các gái mại dâm hành nghề hợp pháp. Tại các phố đèn đỏ này, du khách sẽ
được công khai xem hàng. Theo tư liệu của ESCC vào năm 2010, Amsterdam
có khoảng 8.000 gái mại dâm, 3.000 người trong số đó hoạt động tại khu
đèn đỏ. Các cô gái đến từ nhiều quốc gia khác nhau đều phải có nghĩa vụ
đăng ký hành nghề, được cấp chứng chỉ, đeo số, kiểm tra về y tế. Mặc dù
hoạt động trong môi trường được coi là hợp pháp và công khai, nhưng các
khu phố đèn đỏ ở Hà Lan vẫn nằm trong sự giám sát của lực lượng cảnh sát
với mục đích để các hoạt động mại dâm đúng luật cũng như các quy định
của khu đèn đỏ. Cũng như ở một số quốc gia, tại các khu phố đèn đỏ ở Hà
Lan, ngoài số mại dâm là người địa phương còn có nhiều gái mại dâm đến
từ nhiều quốc gia khác, song nhiều nhất vẫn là các cô gái đến từ các
quốc gia Đông Âu. Mỗi cô gái mại dâm đều có một thân phận, một cảnh đời
khác nhau, song mục đích duy nhất của họ là kiếm tiền từ chính thân xác
họ.
Một trong những khu phố đèn đỏ hoạt động sôi động nhất, đồng thời cũng
là điểm đến của nhiều du khách mỗi lần có dịp đặt chân đến đất nước Hà
Lan; đó là khu phố đèn đỏ Redlight thuộc thành phố Amsterdam. Từ rất lâu
rồi, Hà Lan đã nổi tiếng với khu phố này bởi nó nằm cạnh con kênh soi
bóng những ngôi nhà cổ kính được xây dựng từ thế kỷ XIV. Nơi đây, ngoài
những hoạt động mua vui trong các nhà kính thuộc khu đèn đỏ, du khách
còn có thể đi thăm thành phố này bằng những con thuyền trôi theo dòng
kênh quyến rũ. Đó chính là nguyên nhân khiến thành phố Amsterdam hiền
hòa và cổ kính trở thành một thương hiệu du lịch nổi tiếng thế giới.
Ngoài thành phố Amsterdam với khu đèn đỏ Redlight nổi tiếng thế giới,
hầu hết các đô thị khác ở đất nước này đều có các khu đèn đỏ dành cho
gái mại dâm hoạt động công khai. Nơi nhiều thì có vài khu, đô thị nhỏ
thì chí ít cũng có 1 khu. Tất cả gái mại dâm hoạt động tại các khu đèn
đỏ đều phải theo đúng quy định của pháp luật, song điều quan trọng là
Chính phủ Hà Lan đảm bảo cho tất cả các gái mại dâm đều được tiếp cận
với các dịch vụ y tế và hoạt động trong hành lang pháp lý an toàn. Tuy
nhiên, để ngành công nghiệp tình dục lâu đời này hoạt động theo trật tự,
chính quyền nước này còn áp dụng phương pháp quản lý chặt chẽ gái mại
dâm. Việc công khai và hợp thức hóa nghề mại dâm ở đất nước này không
chỉ đáp ứng nhu cầu giải trí cho các quý ông và du khách đến tham quan,
mà quan trọng hơn là đẩy xa các tệ nạn mại dâm, đứng đường cũng như các
vụ hiếp dâm, cưỡng bức phụ nữ và trẻ em. Ở đây, ngoài khu phố đèn đỏ,
dọc các tuyến phố đều rất thanh bình, không hề thấy bóng dáng một cô gái
mại dâm đứng núp bên các gốc cây
Cũng như những ngành nghề kinh doanh hợp pháp khác, ở Hà Lan nghề kinh
doanh tình dục tại các khu phố đèn đỏ bị điều tiết bởi luật thuế. ước
tính trong một năm ngành kinh doanh tình dục đã đem về cho đất nước Hà
Lan một khoản tiền đạt gần 900 triệu USD. Theo luật mới, các cô gái mại
dâm hoạt động ở khu phố đèn đỏ ở Hà Lan sẽ phải nộp thuế 19% từ số tiền
kiếm được sau mỗi lần mua vui cho khách. Thông thường các vị khách làng
chơi phải bỏ ra 60 euro để mua vui trong khoảng thời gian từ 20 - 30
phút. Vẫn theo luật thuế mới được áp dụng tại các khu đèn đỏ thì những
cô gái mại dâm có thu nhập dưới 25.000 USD/năm sẽ phải chịu mức thuế
33%. Còn nếu cô nào thu nhập trên 70.000 USD sẽ phải nộp 52%.
2. Mại dâm ở Đức
Một dịp, Pussy Club cùng ít nhất 4 nhà thổ khác trên khắp nước Đức đưa
ra gói khuyến mại “sex trọn gói” nhằm chào mời thêm nhiều khách hàng
trong thời khủng hoảng. Với 70 euro, các quý ông có thể được vui vẻ với
các cô gái trong nhà thổ, ăn uống miễn phí từ 10h sáng tới 4h chiều. Giá
trọn gói buổi tối là 100 euro. Bộ trưởng Nội vụ của bang Baden-Wuerttemberg
nhận xét rằng, mức giá ưu đãi dành cho khách làng chơi “cho thấy phụ nữ
đang bị bóc lột”. Đáp lại nhận xét của Bộ trưởng Nội vụ, 77 gái mại dâm
đã mua quảng cáo trên hai tờ nhật báo của Đức để phản đối. Họ cho rằng,
chiến dịch của giới chức bang Baden-Wuerttemberg thực chất là để cấm các
nhà thổ hoạt động. Chủ một nhà thổ ở thành phố Frankfurt, nhấn mạnh việc
các chính trị gia phản đối chứng tỏ “sự thiếu hiểu biết và định kiến đối
với ngành này”.
Thành phố Bonn (thủ đô của Tây Đức cũ) vừa giới thiệu một chiếc máy bán
vé dành cho gái mại dâm, với kì vọng sẽ mang lại 350.000 USD mỗi năm cho
ngân sách thành phố. Gái mại dâm đường phố ở Bonnsẽ phải mua vé từ một
chiếc máy trước kia vốn là máy bán vé đỗ xe. Một chiếc vé có giá trị
trong 1 đêm là 7 USD không phân biệt số lượng khách hàng họ có. Cũng như
vé đỗ xe, chiếc máy này cũng cho người sử dụng biết thời gian vé có hiệu
lực là từ 20h15 hôm trước đến 6h sáng hôm sau. Đây là lần đầu tiên loại
vé này xuất hiện trên các đường phố Bonn. Thành phố Dortmund có một hệ
thống tương tự nhưng được đặt ở các trạm xăng. Các nhà chức trách hi
vọng rằng, nó sẽ tạo ra sự công bằng về thuế.
3. Mại dâm ở Nam Phi
Chuyện gái bán dâm tháp tùng các sự kiện bóng đá không còn xa lạ gì. Năm
2006, khi World Cup diễn ra ở Đức - nơi ngành kinh doanh tình dục được
hợp pháp hóa - có tới 40.000 gái bán hoa tìm đến… Nhân sự kiện World Cup
Nam Phi hàng chục nghìn cô gái mại dâm từ những nước nghèo ở châu Phi,
châu Á (Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Hồng Kông), Đông Âu, Venezuela đã
lặn lội tìm đường đổ về đây. Cơ quan Kiểm soát Ma túy của Nam Phi ước
tính, cũng chừng 40.000 cô làm việc trong ngành tình dục có mặt ở Nam
Phi.
Là quốc gia giàu có nhất ở miền nam châu Phi, lại có đường biên giới dài
và lỏng lẻo với nhiều nước nghèo hạng nhất châu lục, Nam Phi từ lâu là
nam châm thu hút hàng triệu người nhập cư vì lý do kinh tế từ Zimbabwe,
Mozambique và Congo. Ở Nam Phi, mại dâm là bất hợp pháp, dù rằng đã có
một số lời kêu gọi cho phép hoạt động này. Cảnh sát Johanesburg đã bắt
nhiều trường hợp, nhưng họ không được quyền phạt, quyền ấn định mức tiền
phạt thuộc về Bộ Tư pháp.
4. Mại dâm ở Ấn Độ và
gái mại dâm Mông Cổ
Tại một số ngôi làng của Ấn Độ, những cô gái trẻ thường bị chính gia
đình của mình, bằng luận điệu này hay lý lẽ khác, ép trở thành gái mại
dâm. Ban đầu thì đó là truyền thống bắt đầu bằng nghĩa vụ tôn giáo và
bây giờ là do những lo toan cơm áo gạo tiền trong cuộc sống. Ở những
ngôi làng này, người dân địa phương thường đánh dấu bước chuyển “vào đời”
của những thiếu nữ bằng nghi thức có tên gọi Nathni Utarna - nghĩa là
tháo vòng khỏi mũi, tín hiệu cho thấy một cô gái đã sẵn sàng tham gia
vào hoạt động kinh doanh tình dục, rằng cô gái đã sẵn sàng để ngủ với
khách hàng đầu tiên. Thông thường, những cô gái bị chính cha hay anh em
trai của mình đẩy vào hoạt động kinh doanh tình dục - những người thấy
rằng đó là việc làm không hề sai trái. Họ biện minh cho việc làm của
mình bằng cái gọi là truyền thống, bắt nguồn từ văn hóa “devdasi” (nghĩa
là tôi tớ của Chúa). Theo thứ văn hóa này, những cô gái phải hiến dâng
cả cuộc đời cho những hoạt động tình dục dưới tên gọi tôn giáo. Ban đầu,
họ sẽ phục vụ những người đàn ông ở tầng lớp trên trong cộng đồng của
mình bằng những điệu nhảy và những bài hát và dần dần chuyển sang hoạt
động mại dâm. Một phụ nữ từng hành nghề mại dâm có thể kiếm được đến 20
USD mỗi ngày khi làm việc trong khu đèn đỏ ở New Delhi. Đó là con số khá
lớn với người dân nơi đây khi mà nhiều người trong số họ kiếm được chưa
đến 1 USD mỗi ngày. Rất nhiều phụ nữ trở về từ những khu đèn đỏ đang cố
gắng để con em họ không sa vào con đường này. Đây là một bước tiến nhỏ
nhưng là hướng đi đúng. Thay đổi tư duy của người dân trong làng là chìa
khóa để giải quyết vấn đề”.
Ở vùng đông bắc của Ấn Độ, có một ngôi làng có tên là Ingonia thuộc
Rajasthan - nơi sinh sống của những người mang họ Nats rất nổi tiếng,
bởi đây là một ngôi làng chuyên làm nghề... mại dâm. Theo tư liệu của
Trung tâm hợp tác nghiên cứu châu Á (CASC) thì trước đây đa phần phụ nữ
tại Ingonia đều làm nông nghiệp. Ở thời kỳ phong kiến cách đây hơn 100
năm, những người phụ nữ có nhan sắc thường kiếm thêm bằng cách học múa
hát để phục vụ cho những địa chủ giàu có trong làng. Thấy công việc múa
hát kiếm chác được nhiều hơn cả ngày phải nai lưng ở ngoài cánh đồng,
nhiều cô gái trẻ ở Ingonia đã học múa hát ngay từ khi còn bé để mở rộng
địa bàn hoạt động sang cả những nhà địa chủ của làng bên cạnh. Tuy nhiên,
khi chế độ phong kiến tại Ấn Độ chấm dứt, những người phụ nữ chuyên đi
múa hát mua vui này đã mất đi một nghề kiếm ăn. Vì thế, ngoài những công
việc nhà nông ra, những người quen không phải lao động chân tay bỗng
dưng lại quá nhàn nhã và không có việc để làm. Và để có tiền để tiếp tục
cuộc sống khi chán cảnh phải làm nông nghiệp, nhiều cô gái quen ăn trắng
mặt trơn khi phục vụ tại nhà địa chủ trước đây quyết định chuyển nghề
sang bán thân. Ngày nay, để nối nghiệp thế hệ đi trước, rất nhiều cô gái
mới lớn tại Ingonia cũng chọn cho mình con đường trở thành gái mại dâm.
Không chỉ dừng lại ở đó, với quan điểm mua được trinh của các cô gái trẻ
sẽ làm cho người đàn ông thành đạt nên việc buôn trinh nữ cũng diễn ra
khá rầm rộ tại ngôi làng này... Với một đêm mua trinh thì khách hàng sẽ
phải trả khoảng với một mức giá cao ngất ngưởng, thường từ 500 - 1.000
USD. Bằng cách này, người đàn ông sẽ được qua đêm với cô gái tới bất cứ
khi nào anh ta muốn. Khi người đàn ông chán ngán cô gái, cả làng sẽ tổ
chức lễ ăn mừng. Vì tiền bán trinh được cho là không may mắn nếu cô gái
giữ nó nên số tiền này sẽ được chi cho một bữa tiệc linh đình. Một điều
đặc biệt là khi mất trinh, cô gái này sẽ không thể kết hôn và cái vòng
luẩn quẩn của việc hành nghề mại dâm vẫn luôn đeo bám người phụ nữ tại
làng quê nghèo Ingonia.
Các cô gái Mông Cổ bị lừa bán cho các nhà thổ làm gái mại dâm Ở Hàn Quốc,
Ma Cao… gái mại dâm khá nhiều đến từ nhiều nơi, trong đó có Mông Cổ. Chủ
yếu họ bị những mẩu quảng cáo bịp bợm lôi kéo nhưng cũng nhiều người
biết mình sẽ trở thành lao động tình dục song do quá nghèo và ít học nên
ngày càng lấn sâu vào con đường nhơ nhớp. Theo số liệu của CASC, mỗi năm,
Mông Cổ có khoảng từ 3.000 đến 5.000 phụ nữ bị bán ra các nước lân cận.
Trong đó, riêng tại Erlian, Trung Quốc có khoảng 300 gái mại dâm hành
nghề. Nếu cô nào không chiều khách sẽ bị ma cô trừ tiền và đánh đập. Nếu
muốn ra khỏi đây các cô gái phải trả tiền chuộc...
5. Mại dâm ở Đài Loan
Hiện không có số liệu chính thức về quy mô của ngành công nghiệp tình
dục tại Đài Loan, song giới quan sát ước tính có hàng trăm nghìn người
đang hoạt động trong ngành này và thu về hàng tỷ đôla Đài Loan mỗi năm.
Sau hai năm thảo luận gay gắt, Viện Lập pháp Đài Loan cuối cùng đã đồng
ý để chính quyền từng địa phương xem xét thiết lập những khu vực riêng
cho việc mua bán dâm, với những quy định kèm theo, như: phải cách xa
trường học, chính quyền phải mở các lớp huấn luyện nghề, hỗ trợ để họ
tìm nghề mới…Việc mua bán dâm ngoài các khu vực này sẽ bị phạt tới
30.000 Đài tệ (khoảng 938 USD) cho cả kẻ bán lẫn người mua. Với những kẻ
môi giới, mức phạt cao nhất là 50.000 Đài tệ (khoảng 1.600 USD) kèm năm
ngày tạm giam. Quy định mới này có hiệu lực từ ngày 5-11-2011. Trong số
hơn 20 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trên hòn đảo này, có 12 nơi
đã nói rõ sẽ không chấp nhận; 10 địa phương khác cho biết cần thời gian
để tìm hiểu kỹ lưỡng trước khi quyết định. Luật đã có hiệu lực, nhưng
các “khu đèn đỏ” thì còn cần khá nhiều thời gian mới có thể ra đời. Vì
vậy, giới bán hoa Đài Loan đang rơi vào thế kẹt, họ sẽ bị cảnh sát truy
quét vì chưa có chỗ hành nghề chính thức như quy định. Đã xảy ra những
cuộc biểu tình của gái mại dâm và những người ủng hộ vì cho rằng quy
định mới chỉ khiến tình thế của những phụ nữ bị buộc phải hành nghề bán
dâm trở nên tồi tệ hơn.
Giới chức Đài Loan vừa thông qua một dự luật cho phép các “phố đèn đỏ”
hoạt động để dễ dàng quản lý ngành công nghiệp ngầm khổng lồ này. Theo
dự luật vừa được thông qua, các chính quyền địa phương có thể thiết lập
và quản lý các khu kinh doanh mại dâm đặc biệt, nơi các gái mại dâm có
giấy phép được quyền hành nghề. Tuy nhiên, AFP cho hay bất kỳ gái bán
hoa nào hành nghề ở bên ngoài các khu vực trên có thể bị phạt tiền lên
đến 1.000 USD. Cơ quan Nội vụ Đài Loan, phụ trách dự thảo luật, cho biết
phần lớn công chúng đều nghiêng về đề xuất mở cửa ngành công nghiệp tình
dục để giới chức có thể quản lý tốt hơn.
6. Mại dâm ở Philippines
Tình dục trên mạng (cybersex) đang là vấn nạn tăng nhanh ở mức báo động
ở Philippines, nơi những “lầu xanh” ảo hoạt động. Tuy nhiên, đằng sau đó
có thể là một êkíp ngầm giật giây các hoạt động này từ những nước giàu
có hơn. Công nghiệp “chat sex” đang nở rộ ở khắp mọi nơi trên thế giới
nhưng nó đang đặc biệt bùng nổ ở Philippines và một số quốc gia trong
khu vực Đông Nam Á. Với thực tế là những đường dây mại dâm vẫn còn hoạt
động phức tạp, tình trạng nghèo đói cao và phần đông dân số có thể nói
được tiếng Anh cơ bản khiến nguồn cung cấp gái mại dâm online luôn rất
sẵn sàng ở Philippines. Ở đây, dịch vụ cybersex luôn lấy giá chung từ
15USD/giờ hoặc 10USD/phút đối với khách hàng đến từ bất kỳ nơi nào. Hầu
hết các hang ổ cybersex thường diễn ra gần khu vực có máy rút tiền, mặc
dù một số nơi với hoạt động đa dạng và phức tạp hơn đã nhận trả tiền qua
thẻ tín dụng. Các cô gái đến đây thường có xuất thân từ những vùng nông
thôn nghèo khó ở phía bắc Philippines, bỏ lại những nông trại, ruộng
vườn đi theo người “bà con” đến thành phố làm việc với khát vọng đổi đời.
Tuy nhiên, thay vì được làm những công việc lương thiện theo lời hứa hẹn,
họ đã sớm trở thành những “gái gọi online”. Mọi hoạt động liên quan đến
tình dục trên mạng Internet đều bị liệt vào danh sách văn hóa phẩm đồi
trụy và dĩ nhiên là không được pháp luật Philippines cho phép. Tuy nhiên,
điều khiến các nhà chức trách quan tâm nhất là số lượng các cô gái bị
đưa đến các hang ổ này, rất nhiều người trong số họ chưa đủ 18 tuổi, độ
tuổi hợp pháp để kết hôn. Thành phố Angeles, nơi cũng giống như Olongapo,
đang bùng nổ ngành du lịch sex. Một số lượng lớn các du khách đến thành
phố này là vì các dịch vụ liên quan đến mại dâm. Vấn đề này có liên quan
đến kinh tế. Người dân còn nghèo và họ cần tiền, rất khó để xác định sào
huyệt của các đường dây này vì địa điểm có thể là một căn nhà, căn hộ
trong khu chung cư nào đó, và cũng có thể là bất kỳ nơi nào chỉ cần có
máy tính nối mạng và camera. Chính quyền tỏ ra rất bị động trong việc
giải quyết nền công nghiệp “đen” đang mọc lên như nấm này.
7. Mại dâm ở Malaysia
Malaysia là đất nước có nhiều người theo đạo Hồi nên không có phụ nữ nào
ở nước này dám làm nghề mại dâm. Trong hàng ngàn cô gái làm gái mại dâm
ở Malaysia, có rất nhiều cô là nạn nhân của những kẻ buôn người. Các cô
gái mại dâm ở đây đều là gái ngoại quốc, chủ yếu đến từ Thái Lan, Trung
Quốc… Gái mại dâm chủ yếu phục vụ khách du lịch và những người lao động
nhập cư.
Ở Malaysia, “phố đèn đỏ” có nhiều tại Kualalumpur, hoạt động mại dâm
thông qua vỏ bọc là tiệm massage, quán karaoke, nhà hàng ăn uống máy
lạnh. Dù “giá cả” cho mỗi lần “mây mưa” ở đây chỉ bằng một nửa ở
Singapore nhưng bù lại khách du lịch sẽ rất dễ bị bị bọn ma cô trấn lột
hoặc bị các em tiếp viên khui bia mỏi tay rồi tính tiền.
Dọc theo đường Sepadu đến Trung tâm Thương mại Danau Desa - xung quanh
khu vực này nhiều năm nay, luôn là địa chỉ đỏ của cánh đàn ông đi “thư
giãn”. Trong các nhà hàng, quán bar sang trọng, giá tiền cho mỗi lần “đi
khách” của các cô gái thường khá cao, từ 150 - 300 ringgit (mỗi ringgit
tỷ giá khoảng 7.000 đồng tiền Việt). Trong khi đó, dọc theo các tuyến
đường này luôn có hàng trăm cô gái tập trung xung quanh cửa các nhà hàng
ăn uống với những bộ đồ tưởng như chỉ mặc ở bãi biển. Hầu hết các tiệm
massage đều trưng bảng 20 ringgit cho một suất 60 phút. Khi vào tới
phòng massage, khách sẽ thỏa thuận giá với tiếp viên - khoảng 100 - 150
ringgit/ 1 giờ và màn “mây mưa” sẽ diễn ra ngay tại chỗ. Các cô được
tuyển vào đây thường phải cao 1,6m trở lên, tuổi từ 18 đến 25. Tại khách
sạn 4 sao Pearl trên đường Klang Lama, bề ngoài nhìn rất yên bình nhưng
chỉ cần khách có nhu cầu là các em chân dài sẵn sàng phục vụ tại phòng,
giá trung bình khoảng 200 ringgit. Thị trường tự do” là vô số quán nhậu
ở khu Guching. Mỗi quán nhậu sẽ tập trung hàng chục cô gái đứng dọc từ
bãi đỗ xe đến cửa quán. Những cô gái này không phải là nhân viên của
quán, nhưng cũng là thành phần quan trọng để thu hút khách tới đây...
8. Mại dâm ở Úc
Mại dâm là ngành kinh doanh hợp pháp tại nhiều tiểu bang ở Úc. Bang
Victoria có 95 nhà chứa hợp pháp với gần một ngàn “công nhân tình dục”.
Nhiều người trong số này đến từ các nước Châu Á, không ít người là sinh
viên. Họ đi làm thêm để có tiền đóng học phí. Theo điều tra năm 2009 của
Cơ quan Bảo vệ Người tiêu dùng tiểu bang Victoria, có tới 25% nhân viên
làm việc tại nhà chứa ở bang Victoria là sinh viên quốc tế.
Theo tư liệu của Trung tâm nghiên cứu Nam?Thái Bình Dương (CSPS), tại
Melbourne có tới 6 trung tâm dịch vụ di trú đang tiếp tay cho các nhà
chứa bất hợp pháp. Những nơi này giúp các nhà chứa tìm kiếm phụ nữ Châu
Á, trong đó có cả sinh viên quốc tế, làm việc tại 4 cơ sở khác nhau ở
trung tâm Melbourne.
Bên cạnh hàng ngàn gái mại dâm đón khách trong hệ thống nhà chứa ở
Victoria, ước tính có khoảng 1700 “công nhân tình dục” có đăng ký với
chính quyền tiểu bang và hoạt động một cách riêng rẽ. Những người này
đón khách tại các địa điểm khác nhau, phần lớn là đưa về nhà. Phụ nữ làm
việc dạng này chủ yếu đến từ Hàn Quốc, Thái Lan và Trung Quốc.
Một số người làm nghề mại dâm ở Victoria có thu nhập lên đến hơn 3.000
đô Úc một tuần và đa số nhận tiền mặt.
(Nguồn: tham khảo tư liệu của Trung tâm nghiên cứu những vấn đề Quốc tế)
* CTV Tạp chí Mặt trận. Bài có sự cộng tác của Đặng Ngọc Thúy.
|
MỤC LỤC
| Trở Về đầu trang
| |
|
|
|
|
|
|
|
|
|