Ðặt làm trang chủ

    Google   

                 | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ |   

             | Hộp Thư |
     
 
 

 

 

 

 

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết dự ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc tại xã Kim Đức, Thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

 

Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam Vũ Trọng Kim dự ngày Hội đại đoàn kết toàn dân tộc tại khu dân cư 1D, phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội 

 
 

    TIN MỚI :                                                                    thông tin được cập nhật liên tục  



                     SỐ 81  (  7 - 2010 )

   


SỰ KIỆN - LÝ LUẬN

           Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Luật sư - Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ

Tăng cường đoàn kết các tầng lớp nhân dân theo tấm gương Luật sư - Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ

Luật sư Nguyễn Hữu Thọ - người anh, người đồng chí mẫu mực

           Sự kiện

7 sự kiện nổi bật trong tháng 7 năm 2010

Đền ơn đáp nghĩa - truyền thống đạo lý của dân tộc

          Hưởng ứng CVĐ : Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Xây dựng đoàn kết thống nhất trong Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Học tập công tác tôn giáo vận của Chủ tịch Hồ chí Minh

          lý luận

Công tác dân vân của các cơ quan Nhà nước - thực trạng và giải pháp

Xây dựng và phát huy đoàn kết xã hội, đồng thuận xã hội trước yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Bản chất của tham nhũng và công tác phòng, chống tham nhũng - Nhìn từ hiệu lực, hiệu quả của thể chế chính trị

Công khai, minh bạch trong kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức là để góp phần chống tham nhũng



Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Luật sư - Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ

TĂNG CƯỜNG ĐOÀN KẾT CÁC TẦNG LỚP NHÂN DÂN
THEO TẤM GƯƠNG LUẬT SƯ - CHỦ TỊCH NGUYỄN HỮU THỌ

                                                                                   HUỲNH ĐẢM
                                             Uỷ viên Trung ương Đảng, Chủ tịch UBTƯ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Ngày 10-7 năm nay, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và thành phố Hồ Chí Minh tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Luật sư - Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ - một trí thức yêu nước tiêu biểu, nhà hoạt động chính trị xã hội nổi tiếng ở trong nước cũng như trên thế giới, một Luật sư tài năng, đầy uy tín, một nhân cách lớn, một ngọn cờ tập hợp các tầng lớp nhân dân.

Luật sư - Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ, bí danh là Ba Nghĩa, sinh ngày 10-7-1910 trong một gia đình công chức trung lưu tại làng Long Phú, tổng Long Hưng Hạ, quận Trung Quận, tỉnh Chợ Lớn (nay thuộc thị trấn Bến Lức, tỉnh Long An).

Năm 1921, mới 11 tuổi, Nguyễn Hữu Thọ từ giã quê hương, một mình vượt đại dương sang Pháp du học. Suốt 11 năm miệt mài đèn sách ở xứ người, năm 1933 ông tốt nghiệp cử nhân luật hạng ưu và trở về nước mở văn phòng luật tại Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ rồi Sài Gòn - Chợ Lớn.

Sống tại mảnh đất Nam Kỳ tự trị, được đào tạo tại “chính quốc”, thông thạo lịch sử, văn chương, văn hoá Pháp, có bằng cấp cao, điều kiện vật chất ổn định lại có môi trường gia đình, xã hội thuận lợi, Luật sư trẻ Nguyễn Hữu Thọ có đủ mọi điều kiện để thực dân Pháp ưu đãi nhằm tạo cho mình một cuộc sống giàu sang, một vị trí xã hội xứng đáng. Song trước những bất công trong xã hội và những hành động tàn bạo của thực dân Pháp đối với đồng bào mình, Luật sư đã khước từ tất cả và quyết dấn thân vào con đường đấu tranh của quần chúng nhân dân - con đường đấu tranh cách mạng đầy cam go, nguy hiểm và đã trở thành lãnh tụ của phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân.

Được trực tiếp chứng kiến cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940 và sự đàn áp dã man của thực dân Pháp cũng như những phiên toà do thực dân Pháp dựng lên để buộc tội các chiến sĩ khởi nghĩa Nam Kỳ đã giúp Luật sư tiếp cận với thực tại cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, cảm nhận được lòng yêu nước, tinh thần chiến đấu kiên cường và lý tưởng cao đẹp của những người cộng sản, thấy rõ bản chất thâm độc, tàn bạo, tội ác man rợ của chính quyền thực dân ở thuộc địa. Con đường dẫn Luật sư Nguyễn Hữu Thọ đến với nhân dân, với cách mạng bắt đầu từ đó.

Khí thế hào hùng của dân tộc trong Cách mạng Tháng Tám; cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân Nam Bộ - thành đồng của Tổ quốc; sự tham gia hàng ngũ kháng chiến ngày càng đông đảo của các nhân sĩ, trí thức có tên tuổi và có địa vị cao trong xã hội, trong đó có cả bạn bè, đồng nghiệp đã thôi thúc Luật sư dấn thân vào con đường đấu tranh giải phóng dân tộc.

Năm 1947, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ tham gia phong trào yêu nước của trí thức Sài Gòn - Chợ Lớn đòi Chính phủ Pháp thương lượng với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà để chấm dứt chiến tranh xâm lược.

Năm 1948, Luật sư tham gia Mặt trận Liên Việt và vào chiến khu hoạt động theo lời mời của Uỷ ban kháng chiến Nam Bộ. Mong muốn được trực tiếp chiến đấu ở bưng biền, song với ý thức chấp hành kỷ luật cao, Luật sư đã trở lại Sài Gòn hoạt động công khai theo sự phân công của tổ chức. Lấy toà án là đấu trường, với tài hùng biện xuất chúng và am hiểu sâu sắc luật pháp nước Pháp cũng như luật pháp xứ thuộc địa, Luật sư đã cãi thành công cho nhiều đồng bào, đồng chí của mình chẳng may sa vào tay giặc, đồng thời tố cáo trước dư luận trong nước và thế giới cuộc chiến tranh xâm lược dã man cũng như chế độ cai trị thuộc địa tàn bạo của thực dân Pháp.

Ngày 16-10-1949, Luật sư được bí mật kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Sự kiện này đánh dấu một mốc quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của nhà trí thức yêu nước Nguyễn Hữu Thọ.

Năm 1950, đồng chí Nguyễn Hữu Thọ tham gia thành lập phái đoàn đại biểu các giới tại Sài Gòn, làm Trưởng Đoàn đại biểu đấu tranh đòi các quyền tự do, dân chủ, các quyền dân sinh, chống khủng bố, đàn áp.

Đầu năm 1950, đế quốc Mỹ công khai đưa tàu chiến chở xe tăng, vũ khí và cả máy bay vào cảng Sài Gòn để giúp quân đội xâm lược Pháp. Ngày 19-3-1950, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ được tổ chức phân công tham gia lãnh đạo cuộc biểu tình chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. Đây là cuộc biểu tình chống Mỹ đầu tiên ở nước ta. Những người biểu tình giương cao cờ đỏ sao vàng, đốt xe Mỹ, xé cờ Mỹ. Khí thế đấu tranh sôi sục của cả nửa triệu dân thành phố đã buộc hai tàu chiến của Mỹ rút khỏi cảng Sài Gòn, ra khỏi miền Nam Việt Nam...

Lo sợ trước ảnh hưởng to lớn của Luật sư đối với nhân sĩ, trí thức và nhân dân Sài Gòn - Gia Định nói riêng, Nam Bộ nói chung, thực dân Pháp đã bắt và đày Luật sư ra Bắc, quản thúc tại Bản Giẳng, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, nơi mà “một tiếng gà gáy cả ba nước cùng nghe” và sau đó khi Quân đội nhân dân Việt Nam tiến lên giải phóng Tây Bắc thì chúng đưa Luật sư về giam ở Sơn Tây.

Trước phong trào đấu tranh mạnh mẽ của Đoàn Luật sư và nhân sĩ, trí thức tên tuổi Sài Gòn - Gia Định, tháng 11-1952 Luật sư được trả tự do và trở về Sài Gòn, mở lại văn phòng luật và tiếp tục chiến đấu với kẻ thù ngay tại sào huyệt của chúng.

Tháng 8-1954, Luật sư tham gia thành lập Phong trào bảo vệ hoà bình Sài Gòn - Chợ Lớn đấu tranh đòi Chính phủ Pháp và chính quyền bù nhìn thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơ-ne-vơ, đòi thả tù chính trị, thực hiện quyền tự do, dân chủ và được cử làm Phó Chủ tịch phong trào. Địch hoảng sợ, một mặt ra tay đàn áp, giải tán phong trào. Mặt khác, để ngăn chặn ảnh hưởng to lớn của Luật sư trong phong trào chống Mỹ ở thành phố lớn nhất và quan trọng nhất ở Nam Bộ lúc đó, ngày 15-11-1954 Luật sư bị đế quốc Mỹ và chính quyền bù nhìn bắt giam và lưu đầy gần 7 năm ở Tuy Hoà và miền núi Củng Sơn, tỉnh Phú Yên.

Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra đời, miền Nam đồng khởi, nhân dân miền Nam vùng lên làm chủ các thôn, làng, ấp, bản. Vùng giải phóng được mở rộng nhanh chóng. Cục diện cách mạng đòi hỏi phải thành lập một tổ chức có uy tín để tập hợp mọi lực lượng yêu nước, đưa cách mạng miền Nam bước vào giai đoạn phát triển mới. Ngày 20-12-1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời.

Ngày 30-10-1961, Luật sư được nhân dân và các lực lượng vũ trang tỉnh Phú Yên giải thoát và hộ tống về Trung ương Cục miền Nam lúc đó đóng ở chiến khu Dương Minh Châu.

Tháng 2-1962, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tiến hành Đại hội lần thứ nhất. Tại Đại hội, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ được bầu làm Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, trực tiếp lãnh đạo cuộc chiến đấu đầy gian khổ hy sinh của đồng bào và chiến sỹ miền Nam.

Tháng 3-1964, Đại hội lần thứ hai Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam bầu Luật sư làm Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, với cương vị của mình, Luật sư - Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ đã góp phần to lớn động viên quân và dân miền Nam tiến hành cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, buộc đế quốc Mỹ phải xuống thang ngồi vào bàn đàm phán tại Hội nghị Pari, với sự có mặt của đại diện Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

Ngày 6-6-1969, tại Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam Việt Nam, Luật sư được cử giữ chức Chủ tịch Hội đồng cố vấn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam.

Với cương vị người đứng đầu Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Chủ tịch Hội đồng cố vấn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, được sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, với sự chi viện sức người, sức của của đồng bào miền Bắc và sự giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa anh em và của bạn bè quốc tế, bằng đức độ, tài năng và uy tín của mình, Luật sư đã lãnh đạo Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và cùng với Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam tập hợp, đoàn kết, động viên quân và dân miền Nam tiến hành cuộc đấu tranh vũ trang, chính trị, ngoại giao, binh vận gay go và ác liệt vào bậc nhất trong thế kỷ 20 chống đế quốc Mỹ xâm lược và ngụy quyền Sài Gòn theo lời kêu gọi thiêng liêng và phương châm chiến lược mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra là: “không có gì quý hơn độc lập tự do”, “đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào” và đã giành được thắng lợi hoàn toàn, đất nước thống nhất, Bắc - Nam sum họp một nhà.

Sau khi thống nhất đất nước, đồng chí Nguyễn Hữu Thọ được nhân dân bầu làm đại biểu Quốc hội các khoá VI, VII, VIII và được Quốc hội tín nhiệm bầu làm Phó Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (tháng 6-1976), Quyền Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (tháng 4-1980), Chủ tịch Quốc hội và Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (tháng 7-1981).

Về công tác Mặt trận, tại Đại hội thống nhất các tổ chức Mặt trận họp từ 31-1 đến 4-2-1977, Luật sư được bầu làm Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tháng 11-1988, Luật sư được bầu làm Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Và tháng 8-1994, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã suy tôn Luật sư làm Chủ tịch danh dự Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Với các cương vị của mình, Luật sư - Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ đã dành nhiều thời gian, tâm huyết tìm hiểu thực trạng, tháo gỡ khó khăn trong công tác Mặt trận, đề xuất với Đảng và Nhà nước những cơ chế, chính sách và giải pháp nhằm vun đắp, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, mở rộng và phát huy vai trò Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam trong thời kỳ mới.

Cuộc đời, sự nghiệp của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ là quá trình vận động từ chủ nghĩa yêu nước chân chính đến chủ nghĩa cộng sản và gắn liền với sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc. Luật sư là con người tiêu biểu của tình đoàn kết dân tộc, là một nhà lãnh đạo tài năng, một tấm gương sáng về đạo đức, tác phong, lối sống giản dị, khiêm tốn, trong sạch, hy sinh vì nghĩa lớn, không khuất phục trước cường quyền, không sa ngã trước tiền tài danh lợi, vì lý tưởng cộng sản cao đẹp. Luật sư - Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ đã hiến dâng trọn đời cho Tổ quốc, cho dân tộc. Như Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh đã đánh giá: “Luật sư Nguyễn Hữu Thọ quả là một nhà trí thức yêu nước vĩ đại”1.

Với những công lao to lớn đối với sự nghiệp cách mạng, Luật sư được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng, huân chương cao quý nhất của Đảng, Nhà nước ta và nhiều huân, huy chương cao quý khác. Luật sư cũng được Nhà nước Liên Xô (trước đây) tặng Giải thưởng quốc tế V.I. Lênin và Huân chương Hữu nghị vì sự nghiệp củng cố hoà bình giữa các dân tộc; Nhà nước Cu Ba tặng Huân chương Đoàn kết - chiến đấu; Nhà nước Bungari tặng Giải thưởng Đimitrốp; Hội đồng hoà bình thế giới tặng Huân chương Joliot Curie.

Noi gương Luật sư - Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp tục thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, quán triệt sâu sắc hơn nữa quan điểm của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh và phát huy những bài học kinh nghiệm quý báu của Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ về sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân, về Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam; không ngừng đổi mới nội dung, phương thức, tăng cường tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động và phát huy vai trò của mình, xứng đáng là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện, nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng, đại diện quyền và lợi ích hợp pháp của các tầng lớp nhân dân, là bộ phận trong hệ thống chính trị nước ta, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; ra sức vận động, tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, không phân biệt thành phần xã hội, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, quá khứ, ý thức hệ và chính kiến, nhằm mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; tăng cường và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước trong các tầng lớp nhân dân; phát huy dân chủ, tham gia xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân; đẩy mạnh công tác đối ngoại nhân dân, góp phần tăng cường tình đoàn kết, hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước trong khu vực và trên thế giới... Chung sức chung lòng cùng Đảng và Nhà nước tranh thủ thời cơ thuận lợi, vượt qua khó khăn thách thức, hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ mục tiêu kinh tế - xã hội năm 2010, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng; lập thành tích chào mừng Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, 65 năm Ngày thành lập nước, 80 năm Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam và 50 năm Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, chào mừng Đại hội lần thứ XI của Đảng.

Tự hào về Luật sư - Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam luôn góp phần tăng cường đoàn kết tập hợp, phát huy sức mạnh toàn dân tộc trong thời kỳ mới, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

______________________________________

1. Bài viết của đồng chí Nguyễn Văn Linh - Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam “Luật sư Nguyễn Hữu Thọ - người con tận trung với nước, tận hiếu với dân” Nxb CTQG, H, 1998, tr.19.

| TCMT | Trở Về đầu trang  |



LUẬT SƯ NGUYỄN HỮU THỌ
 
- Người anh, người đồng chí mẫu mực

LTS: Ngày 10-7, lễ kỷ niệm cấp nhà nước 100 năm ngày sinh Luật sư Nguyễn Hữu Thọ đã được tổ chức long trọng tại Hội trường Thống Nhất (thành phố Hồ Chí Minh).

Luật sư Nguyễn Hữu Thọ từng được Đảng, Nhà nước và nhân dân tín nhiệm bầu vào nhiều chức vụ quan trọng: Chủ tịch Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (1962), Chủ tịch Hội đồng cố vấn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (1969), Phó Chủ tịch nước (1976), Quyền Chủ tịch nước (1980), Chính phủ Quốc hội và Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (1981), Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1988). Tại lễ kỷ niệm, nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đã có bài phát biểu xúc động về Luật sư - Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ. Tạp chí Mặt trận trân trọng giới thiệu bài phát biểu nói trên, với đầu đề của Tạp chí.

Tôi và đồng chí Đỗ Duy Liên, nguyên Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, có may mắn được biết Luật sư Nguyễn Hữu Thọ tương đối sớm và đã cùng hoạt động với ông trong những giai đoạn khá đặc biệt của thời kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và khi hòa bình lập lại bước vào sự nghiệp xây dựng đất nước. Ở mỗi giai đoạn cách mạng, ông đều có những đóng góp với tinh thần chủ động bằng tất cả tâm trí của mình.

Trong những năm 1949 - 1950, phong trào kháng chiến ở Nam Bộ, đặc biệt, ở thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn (thành phố Hồ Chí Minh của chúng ta hôm nay) sôi động, mạnh mẽ chưa từng có, thu hút rộng rãi các tầng lớp nhân dân từ công nhân, lao động nghèo, nhất là học sinh, sinh viên, viên chức, nhân sĩ trí thức. Có nhiều cuộc biểu tình biểu dương lực lượng với hàng trăm ngàn người tham gia, như đám tang Trần Văn Ơn hy sinh ngày 9-1-1950, đã trở thành ngày truyền thống Học sinh - Sinh viên toàn quốc. Dẫn đầu các cuộc đấu tranh chính trị công khai vì dân sinh, dân chủ chuyển sang đấu tranh chính trị, chống sự can thiệp của Mỹ, đuổi tàu Mỹ trong cuộc biểu tình khổng lồ 19-3-1950, chính là Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Trưởng Đoàn đại diện các giới trong tư thế ngẩng cao đầu, bất chấp hiểm nguy. Ông dấn thân vào cuộc chiến với lòng tin vững chắc vào chính nghĩa của cuộc kháng chiến, theo sự dẫn dắt của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Năm 1949, được kết nạp vào Đảng giữa thành phố Sài Gòn, sào huyệt và nơi tập trung cơ quan đầu não của địch, ông cảm nhận sâu sắc bước ngoặt trong cuộc đời mình, được vinh dự và trách nhiệm làm người đảng viên cộng sản, với những tấm gương kiên trung bất khuất trên chiến trường, trước tòa án và giữa pháp đình của thực dân Pháp mà ông đã từng hết lòng khâm phục hồi Nam Kỳ khởi nghĩa.

Với tư cách và lương tâm của một luật sư, ông thể hiện đầy đủ bản lĩnh, vận dụng luật pháp để bảo vệ các đồng chí kháng chiến bị địch bắt, trong đó có bản thân tôi và những đồng chí thân thiết như Đỗ Duy Liên... Bằng những lập luận sâu sắc, tự tin, ông đã nêu cao chính nghĩa, biện hộ cho từng trường hợp của từng “bị can”. Ông đứng ra bảo lãnh tại ngoại cho nhiều đồng chí thoát khỏi vòng lao lý, trở ra chiến khu tiếp tục chiến đấu. Đáp lại những câu hỏi lo lắng, làm như vậy có “rắc rối” gì cho ông không, ông chỉ cười và nói: “Đừng lo cho tôi, miễn là giúp được anh em, đồng chí mình!”. Ông đã khẳng định như vậy và sau này không bao giờ ông nhắc công lao của mình trong hai cuộc kháng chiến mà chỉ nhắc những gì ông nhận được từ cách mạng, từ đồng bào, đồng chí. Ông nói: “Với tôi, điều may mắn và cũng là niềm hạnh phúc lớn nhất là được đi theo con đường của Chủ tịch Hồ Chí Minh, được Người dẫn dắt từ khi lớp thanh niên trí thức chúng tôi còn bàng hoàng trước ngã ba đường trong đêm dài nô lệ”1.

Luật sư Nguyễn Hữu Thọ còn là lãnh tụ tiêu biểu của phong trào đấu tranh cho hòa bình, đòi thi hành Hiệp định Geneve thống nhất đất nước năm 1954 - 1955. Nhân dân trìu mến gọi ông là “ông Hòa Bình”.

Ông bị bắt và giam cầm hai lần, năm 1950 bị thực dân Pháp đày ra quản thúc ở Lai Châu và Sơn Tây, năm 1955 bị Mỹ - Diệm đưa đi an trí ở Phú Yên sáu năm. Sự đàn áp, giam cầm, âm mưu giết hại ông của giặc Pháp không hề làm ông nao núng, ông vẫn giữ tinh thần đấu tranh kiên cường, bất khuất, bình tĩnh, khôn khéo đối phó với kẻ thù.

Ông dứt khoát đứng về phía nhân dân, bảo vệ quyền lợi hợp pháp và chính đáng của nhân dân, cũng luôn được nhân dân hết lòng đùm bọc. Tại Phú Yên, kẻ địch tổ chức theo dõi từng cử chỉ, bước đi của ông và bao nhiêu lần mưu toan vu khống, hãm hại ông, nhưng chính nhân dân bằng nhiều cách bảo vệ ông và sau cùng góp sức giúp ông trốn thoát.

Ông luôn nêu cao tinh thần đoàn kết dân tộc và hết sức coi trọng chính sách hòa hợp, hòa giải dân tộc, lắng nghe tâm tư nguyện vọng và cả những chính kiến khác nhau, chân thành trao đổi ý kiến với người đối thoại, không định kiến, không áp đặt. Đến với ông, bất cứ là người trí thức hay người lao động, đều cảm nhận được sự gần gũi, tin cậy thân tình.

Vì vậy, khi Luật sư Nguyễn Hữu Thọ được đề cử làm Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, cán bộ nhân dân ở miền Nam, bạn bè quen biết rất vui mừng, một lòng đồng tình bởi không có sự lựa chọn nào xứng đáng hơn.

Khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam được cử làm Chủ tịch Hội đồng cố vấn của Chính phủ. Tôi được cử làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Với cương vị này, tôi đã tháp tùng Chủ tịch dự những hội nghị quốc tế, đi thăm nhiều nước châu Âu, châu Á, châu Phi...

Trên diễn đàn Hội nghị quốc tế và đến các nước bạn bè, Chủ tịch đều nhận được sự kính trọng đầy tình nghĩa. Ông diễn đạt có tình có nghĩa tấm lòng biết ơn của Việt Nam, thể hiện ý chí và bản lĩnh của dân tộc Việt Nam, với tất cả tấm lòng chân thành và vốn hiểu biết sâu rộng của ông. Qua ông, hình ảnh của dân tộc, của  Mặt trận Dân tộc Giải phóng và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam càng sáng rõ thêm, sâu đậm thêm trong lòng bạn bè quốc tế.

Sau này ở cương vị cao, Quyền Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, có dịp làm việc với ông, tôi nhận thấy lúc nào ông cũng suy nghĩ đến trọng trách của mình. Nghị quyết Đại hội Đảng VI mở ra bước ngoặt Đổi Mới được ông đón nhận như một nguồn sức mạnh mới, giúp ông thêm sáng tỏ đường hướng phải đi tới. Ông mong muốn góp phần xây dựng được một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vững mạnh, để đưa đất nước tiến lên nhanh chóng. Ông đặc biệt quan tâm đến vấn đề dân chủ và pháp luật, đã có sự đóng góp quan trọng trong việc xây dựng Hiến pháp và nhiều đạo luật quan trọng của Việt Nam.

Tôi rất vui mừng tìm được trong sách “Luật sư Nguyễn Hữu Thọ - Người con tận trung với nước, tận hiếu với dân”, nhiều trang hồi ký giúp tôi hiểu thêm về Luật sư - Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ. Đặc biệt, có bài của luật sư Nguyễn Văn Huyền, một người bạn cố tri, nguyên Chủ tịch Thượng viện Sài Gòn, nguyên Phó Tổng thống nội các Dương Văn Minh. Ông Huyền cho biết vào đầu tháng 8-1994, trước thềm Đại hội IV Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ông được Luật sư Nguyễn Hữu Thọ mời tham gia Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Luật sư Nguyễn Văn Huyền đã chân thành thổ lộ: “Tôi sẵn sàng nhận lời vì tôi tin rằng người cách mạng chân chính luôn luôn là những người bao dung và chung thủy như anh Thọ, người bạn của tôi”2.

Đối với tôi và nhiều đồng chí quen biết với ông, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ là người anh lớn, là một đồng chí rất đỗi thân thương, mà hôm nay nhắc đến đồng chí, tôi cảm thấy vô cùng xúc động. Đây là tấm gương về lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm cao, một tấm gương về phẩm chất cao đẹp của một con người luôn quan  tâm đến người khác, đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng.

Luật sư Nguyễn Hữu Thọ xứng đáng được đánh giá là một nhà trí thức tiêu biểu của Việt Nam trong thế kỷ hai mươi - đã đem hết trí tuệ, tâm huyết và cả cuộc đời mình phục vụ cho Tổ quốc, phục vụ cho nhân dân.
___________________________

1, 2. Sách “Luật sư Nguyễn Hữu Thọ - Người con tận trung với nước, tận hiếu với dân” Nxb CTQG, H. 1998, tr.390.

| TCMT | Trở Về đầu trang  |


                 
                 Sự kiện

7 SỰ KIỆN NỔI BẬT TRONG THÁNG 7 NĂM 2010

                                                                                  PHẠM VŨ HOÀNG*

Lời toà soạn: Để giúp bạn đọc có thêm thông tin cần thiết về những sự kiện nổi bật của đất nước, trong đó có Mặt trận đang diễn ra hàng tháng, bắt đầu từ số 81 (tháng 7/2010), Tạp chí Mặt trận sẽ giới thiệu khái quát những nét chính của những sự kiện đó để bạn đọc tham khảo.1

Tháng 7-2010, có nhiều sự kiện như: kỷ niệm 98 năm ngày sinh cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ (9-7-1912 – 9-7-2010), 95  năm ngày sinh cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh (1-7-1915 – 9-7-2010)2, 60 năm ngày truyền thống ngành hậu cần quân đội (11-7-1950 – 11-7-2010)3, hoạt động hưởng ứng ngày dân số Thế giới... Dưới đây, chỉ khái quát 7 sự kiện.

1. Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Luật sư - Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ (10-7-1910 – 10-7-2010)4

Luật sư - Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ là một nhà trí thức yêu nước đã đi theo Đảng suốt cuộc đời. Trước sau như một, dù trong hoàn cảnh hiểm nguy, dù vào tù ra khám, bị lưu đày cực khổ,... ông vẫn kiên trung cùng với dân, với Đảng quyết tâm giành độc lập, tự do cho dân tộc, vì thống nhất đất nước, đóng góp công lao to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần tăng cường đoàn kết hữu nghị, hợp tác, bảo vệ hòa bình và tiến bộ trên thế giới.

Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ nhằm khẳng định những cống hiến to lớn của ông đối với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và đất nước; tuyên truyền, giáo dục trong cán bộ, đảng viên và nhân dân  tấm gương đạo đức trong sáng, suốt đời hy sinh vì nước vì dân của ông.

2. Kỷ niệm ngày thành lập Thanh niên xung phong Việt Nam (15-7-1950 – 15-7-2010)5.

Ngày 15-7-1950, tại chiến khu Việt Bắc,đội Thanh niên xung phong đầu tiên được thành lập. Từ đó đến nay, các thế hệ thanh niên xung phong Việt Nam kế tiếp nhau, đồng hành cùng đất nước từ kháng chiến chống Pháp, đến kháng chiến chống Mỹ, làm kinh tế thời bình và nay là công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hơn 50 năm trưởng thành và phát triển, Thanh niên xung phong Việt Nam đã góp phần đáng kể vào thắng lợi chung của dân tộc qua các thời kỳ chiến tranh giữ nước, bảo vệ nền độc lập và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta, xứng đáng là niềm tự hào của tuổi trẻ Việt Nam.

Tháng 6-1995, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định lấy ngày 15-7 hàng năm làm “Ngày truyền thống Thanh niên xung phong Việt Nam”.

Nhân kỷ niệm 60 năm Ngày thành lập thanh niên xung  phong, ngày 14-7-2010, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã trao Huân chương Sao Vàng cho lực lượng Thanh niên xung phong.

3. Kỷ niệm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2010)6

Tháng 6-1947, Hội nghị đại biểu của Tổng bộ Việt Minh, Trung ương Hội Phụ nữ cứu quốc, Trung ương Đoàn Thanh niên cứu quốc, Cục Chính trị Quân đội Quốc gia Việt Nam, Nha Thông tin tuyên truyền và một số địa phương đã họp và nhất trí đề nghị Trung ương lấy ngày 27-7-1947 làm ngày Thương binh toàn quốc. Từ năm 1955, ngày Thương binh toàn quốc được đổi thành ngày Thương binh - Liệt sĩ. Hàng năm, Ngày thương binh - liệt sĩ (27-7) đã trở thành một ngày toàn dân tưởng nhớ, tri ân những người có công với nước. Đảng và Nhà nước đã có những chính sách ưu đãi về cả vật chất lẫn tinh thần đối với thương binh, gia đình liệt sĩ và các con của họ. Tưởng nhớ, tri ân với người có công với nước không chỉ một ngày, một đợt, một lễ kỷ niệm mà cần hơn cả là những việc làm thiết thực, thường xuyên để giúp gia đình, con em những người đã hy sinh, mang thương tật vơi bớt khó khăn trong cuộc sống.

4. Kỷ niệm ngày thành lập Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (28-7-1929 – 28-7-2010)

Ngày 28-7-1929 tại số nhà 15 phố Hàng Nón (Hà Nội) đã diễn ra một sự kiện trọng đại của phong trào công nhân và Công đoàn Việt Nam: Đại hội thành lập Tổng Công hội Đỏ Bắc Kỳ, đứng đầu là đồng chí Nguyễn Đức Cảnh, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương lâm thời Đông Dương Cộng sản Đảng. 

Năm 1983, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã quyết định lấy ngày 28-7-1929 là ngày thành lập Công đoàn Việt Nam. Đại hội Công đoàn toàn quốc lần thứ 5 (tháng 11-1983) đã thông qua Nghị quyết lấy ngày 28-7-1929 là ngày thành lập Công đoàn Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức Công đoàn nước ta đã vượt qua mọi khó khăn, thử thách, không ngừng lớn mạnh và phát triển. Ngày nay, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn vận động công nhân, lao động đoàn kết thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng trong sự nghiệp đổi mới, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

Kỷ niệm ngày thành lập Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, trên khắp cả nước diễn ra nhiều hoạt động thiết thực. Trong đó, Công đoàn Xây dựng gặp mặt, biểu dương 122 cá nhân và 38 điển hình tiên tiến giai đoạn 2005 - 2010...

5. Một số sự kiện về đối ngoại nhà nước

* Ngày 12-7-1995, Nhà nước ta chính thức bình thường hoá quan hệ với Hoa Kỳ.  Sau 15 năm, quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đã tiến triển từ chỗ hai bên không có lòng tin cậy vững chắc, nay đã trở thành quan hệ đối tác mạnh mẽ dựa trên sự tôn trọng và hợp tác. Từ chỗ trước đây hai quốc gia có rất ít, hoặc thậm chí là không có điểm chung làm nền tảng cho quan hệ ngoại giao, đến nay, hai nước đã hợp tác trên nhiều lĩnh vực, từ thương mại và đầu tư đến giáo dục và y tế, an ninh và quốc phòng.7

* Tổng bí thư Nông Đức Mạnh thăm Liên Bang Nga8

* Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao ASEAN 439 diễn ra tháng 7. Trong bài phát biểu khai mạc Hội nghị, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng bày tỏ mong muốn Hội nghị lần này sẽ họp bàn góp phần đạt được 5 mục tiêu chính. Thứ nhất là hiện thực hóa mục tiêu hình thành Cộng đồng ASEAN vào năm 2015, đề ra biện pháp kết nối ASEAN, đưa hiến chương ASEAN vào cuộc sống, nâng cao hiệu quả bộ máy tổ chức ASEAN... Thứ hai là duy trì hòa bình và an ninh trong khu vực Đông Nam Á,châu Á - Thái Bình Dương. Việc này có thể hiện thực hòa bằng việc thúc đẩy Hiệp ước hợp tác và thân thiện (TAC), Hiệp ước Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân (SEANWFZ), Tuyên bố chung về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) hay thúc đẩy các đối tác tham gia tích cực hơn nữa vào hòa bình an ninh khu vực, nâng cao hiểu biết nội khối, cùng đối phó với khủng bố, thiên tai... Thứ ba, đề nghị Hội nghị thúc đẩy quan hệ đối ngoại ASEAN, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác với các đối tác, thông qua ASEAN+1, ASEAN+3. Thứ tư, ASEAN thể hiện là thành viên có trách nhiệm trong công cuộc ứng phó với các thách thức của cộng đồng, nhất là khủng hoảng tài chính, biến đổi khí hậu, tài nguyên cạn kiệt được coi là một yêu cầu hết sứcquan trọng. Thứ năm, đề nghị Hội nghị thảo luận để tăng cường đoàn kết, thống nhất nội khối, nhưng phát huy được giá trị truyền thống, thống nhất trong sự đa dạng. Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 43 này được tổ chức đúng vào dịp Việt Nam kỷ niệm 15 năm gia nhập ASEAN, nên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng một lần nữa khẳng định phương châm của Việt Nam là tham gia chủ động, tích cực và có trách nhiệm để xây dựng nền tảng quan trọng cho mục tiêu hình thành cộng đồng ASEAN vào năm 2015 tới.

6. Đối ngoại nhân dân

Trong tháng 7, có nhiều hoạt động đối ngoại nhân dân. Trong đó có những hoạt động tích cực của Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, Phòng Thương mại - Công nghiệp Việt Nam, cùng một số tổ chức thành viên Mặt trận. Riêng cơ quan Trung ương Mặt trận đã tổ chức một số đoàn đại biểu cấp cao đi thăm và làm việc tại Lào, Hoa Kỳ10... nhằm triển khai các hoạt động đối ngoại nhân dân theo phương châm “chủ động, linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả”. Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và tổ chức nhân dân đã có nhiều nỗ lực, vượt qua khó khăn để cùng với đối ngoại Đảng và ngoại giao Nhà nước góp phần quan trọng vào việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thúc đẩy và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước, nâng cao uy tín và vị thế quốc tế của đất nước.

7. Công tác Mặt trận có nhiều hoạt động nổi bật11

Hội nghị Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ 3 (khoá VII) diễn ra trong hai ngày 15 và 16-7 tại Đà Nẵng. Hội  nghị đã thông qua Nghị quyết với 3 nội dung quan trọng, bao gồm: Báo cáo kết quả công tác Mặt trận 6 tháng đầu năm 2010 và trọng tâm công tác Mặt trận 6 tháng cuối năm 2010; Báo cáo công tác chuẩn bị kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất và 50 năm Ngày thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam; Tờ trình về thay đổi nhân sự ủy viên Uỷ ban và ủy viên Đoàn Chủ tịch Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam... Đồng thời, Hội nghị đã xác định 3 nhóm công tác trọng tâm, trong đó có việc phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc tham gia chuẩn bị Đại hội Đảng các cấp và Đại hội Đảng toàn quốc khoá XI; chuẩn bị tham gia cuộc bầu cử Quốc hội khoá XIII và bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 - 2016...

Cũng trong tháng 7, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tổ chức tập huấn đợt 1 tại Nha Trang và đợt 2 tại Hải Phòng. 2 đợt tập huấn này nhằm nâng cao nhận thức và quán triệt hơn nữa tinh thần Nghị quyết Đại hội VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho đội ngũ lãnh đạo Mặt trận các tỉnh, thành phố để từ đó làm tốt công tác Mặt trận tại địa phương, động viên các tầng lớp nhân dân tham gia các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ mới, lập thành tích chào mừng Đại hội Đảng lần thứ XI. Tập huấn lần này có nhiều nội dung phong phú, với các chuyên đề về tư tưởng Hồ Chí Minh và những chủ trương lớn của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc, về Mặt trận dân tộc thống nhất, về những vấn đề cơ bản về tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Tuy chưa đầy đủ nhưng những sự kiện và hoạt động nói trên cho thấy sự đa dạng và có nhiều ý nghĩa tích cực của những sự kiện tháng 7-2010.

_________________________

1. Đề nghị tham khảo thêm bài “Sự kiện trong nước nổi bật tháng qua”- những sự kiện tháng 6 đăng trên Tạp chí Nhịp cầu tri thức số 7-2010, tr 40.
2. Xem bài giới thiệu trong Tạp chí Lý luận chính trị số 7-2000, tr 24; Tạp chí Nhịp cầu tri thức số 7-2010, tr 10 và 14; Thông tin công tác Mặt trận số 7-2010, tr.2.
3. Xem bài giới thiệu trong báo Nhân dân 9-7-2010, tr.3
4. Báo Lao động ngày 9-7-2010, tr 2 có bài “Luật sư - Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ - một trí thức lớn, một nhân cách khả kính”; Báo Đại đoàn kết ngày 6-7-2010, tr.1 có bài “Một nhà trí thức yêu nước vĩ đại” và nhiều tin - bài phản ánh hoạt động kỷ niệm ở trên 40 báo Trung ương và trên 30 báo địa phương.
5. Thanh niên online ngày 15-7-2010
6. Xem thêm: Thanh niên online 22-7-2010
7. Xem bài giới thiệu trong báo Đại Đại kết ngày 14-7-2010, tr.16
8. Báo Đại đoàn kết 13-7-2010, tr.16
9. Dân trí điện tử ngày 20-7-2010
10. Tin về chuyến đi giới thiệu trên Báo Đại đoàn kết ngày 8-7-2010, tr.20.

* Nhà báo

| TCMT | Trở Về đầu trang  |



“ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA” - TRUYỀN THỐNG ĐẠO LÝ CỦA DÂN TỘC

                                                                NGUYỄN THANH HOÀNG*

 LTS: Kỷ niệm 63 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2010) là một sự kiện có ý nghĩa quan trọng trong tháng 7-2010 nên trên mọi miền đất nước diễn ra nhiều hoạt động. Trong đó, Tạp chí Mặt trận phối hợp với Hội Nghĩa tình đồng đội Hà Nội, Công ty Truyền thông đa phương tiện (VTC) và Báo Cựu chiến binh Việt Nam đã tổ chức chương trình giao lưu đặc biệt “Nghĩa tình đồng đội - 2010”. Đến dự buổi giao lưu có Phó chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Nguyễn Lam; Phó chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam Đỗ Công Mùi, đại diện thân nhân các gia đình liệt sĩ từ 18 tỉnh thành trong cả nước cùng gần 400 đại biểu cựu chiến binh tham dự. Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan và Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi lẵng hoa chúc mừng.
Chương trình giao lưu là sự kết hợp sinh động giữa những câu chuyện cảm động của thân nhân liệt sỹ và những người tình nguyện đi tìm hài cốt đồng đội, sự gặp mặt của những người bạn chiến đấu sau bao ngày xa cách xen với các tiết mục văn nghệ hào hùng mà sâu lắng, gợi lại một thời để nhớ.
Bên cạnh hoạt động trên, số này Tạp chí Mặt trận có 1 bài viết và 1 tin  dưới đây là những việc làm thiết thực kỷ niệm Ngày Thương binh - Liệt sĩ.

Giữa những ngày tháng bảy nghĩa tình này, những người dân đất Việt ở khắp mọi miền đất nước lại bồi hồi nhớ đến hàng triệu người con ưu tú đã hy sinh xương máu vì nền độc lập, tự do cho Tổ quốc.

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh khốc liệt chống kẻ thù xâm lược, thời nào cũng đông và mạnh hơn gấp nhiều lần, song cuối cùng kẻ thù nào cũng phải cuốn cờ tháo chạy. Đó là bởi chúng chạm phải ý chí sắt đá triệu người như một, đoàn kết nhất trí, sẵn sàng hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta. Ý chí đó được đúc kết trong lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch ngày toàn quốc kháng chiến 19-12-1946: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Hưởng ứng lời kêu gọi như lời hịch, hàng triệu người, già trẻ, gái trai, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, giai cấp, đã nhất tề xông ra tiền tuyến, làm nên cuộc kháng chiến thần thánh vĩ đại, hoàn thành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Cuộc chiến đấu của nhân dân ta chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược để giành độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc đã phải chịu những tổn thất vô cùng to lớn: Hàng triệu người con ưu tú của Tổ quốc đã ngã xuống hoặc mang thương tật suốt đời, nhiều người còn mang trong mình “vết thương da cam”. Xuân về, Tết đến nhiều nhà không được hưởng trọn niềm vui sum họp, vì con em họ đi mãi không về. Sự hy sinh của các liệt sĩ, của thương binh, người có công với cách mạng vì dân tộc, vì đất nước là vô giá. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta ghi nhớ mãi mãi sự cống hiến to lớn đó.

Trở lại thời gian giữa tháng 6-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị các cơ quan chức năng phải sớm nghiên cứu chọn một ngày làm ngày Thương binh toàn quốc để nhân dân có dịp tỏ lòng biết ơn, yêu quý và giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sĩ. Thực hiện chỉ thị đó, Trung ương Đảng và Chính phủ ta đã lập ra Ban Tổ chức Ngày Thương binh toàn quốc. Ngay sau đó, một Hội nghị trù bị đã tiến hành tại xã Phú Ninh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên gồm đại biểu các cơ quan, ban ngành, đoàn thể ở Trung ương, khu căn cứ địa Việt Bắc và tỉnh Thái Nguyên. Hội nghị đã thống nhất chọn ngày 27-7-1947 làm Ngày Thương binh toàn quốc.

Ngày 27-7-1947 đã trở thành một mốc thời gian thiêng liêng và mang đầy ý nghĩa về sự biết ơn, trân trọng, yêu quý, giúp đỡ của toàn dân tộc đối với thương binh, gia đình liệt sĩ. Một năm sau, Đảng ta đổi tên là Ngày Thương binh - Tử sĩ và từ năm 1955 thì đổi thành Ngày Thương binh - Liệt sĩ. Từ Trung ương đến từng xã, phường, thị trấn năm nào cũng tổ chức trang trọng lễ kỷ niệm Ngày Thương binh - Liệt sĩ và tiến hành nhiều hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn. Ngày 27-7 hằng năm đã trở thành một ngày cao điểm để toàn dân thể hiện sự tri ân đối với những người đã chiến đấu hy sinh hoặc hy sinh một phần thân thể vì độc lập, tự do của tổ quốc. Từ phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp phát động, đã huy động được sức mạnh của toàn xã hội tham gia với một trách nhiệm và tình cảm sâu sắc. Bằng những việc làm thiết thực, phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” đã trở thành nét đẹp trong đời sống văn hóa dân tộc. Phong trào đã và đang phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu với nhiều hình thức phong phú như: áo lụa tặng bà; áo ấm tặng mẹ; phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng; xây dựng nhà tình nghĩa; xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa; chăm sóc, giúp đỡ thương binh, bệnh binh nặng, cha mẹ liệt sĩ già yếu, cô đơn, con liệt sĩ; xây dựng nghĩa trang và đài liệt sĩ… đã làm rực sáng đạo lý, nghĩa cử cao đẹp của toàn dân tộc. Các phong trào “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” trở thành những hoạt động xã hội sôi nổi thường xuyên, mang đậm giá trị nhân văn. Những việc làm đó thể hiện rõ nhất ý Đảng lòng dân, là đạo lý, truyền thống tốt đẹp của dân tộc được phát huy, phát triển, phần nào xoa dịu nỗi đau mất mát, giúp các gia đình liệt sĩ, thương binh vượt qua đau thương, nỗ lực phi thường, không ngừng vươn lên trong cuộc sống, công tác để tiếp tục cống hiến cho quê hương, đất nước. Có thể nhận thấy ở khắp nơi, nhiều thương binh, bệnh binh, người có công với cách mạng đã vượt lên thương tật, hoàn cảnh khó khăn để xây dựng và phát triển kinh tế gia đình, hỗ trợ người xung quanh, trở thành những tấm gương vượt khó, những bông hoa giữa đời thường, xứng đáng là “Người công dân kiểu mẫu”, “Gia đình cách mạng gương mẫu”, là nhân tố, điển hình mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã làm được rất nhiều việc trong chăm sóc các đối tượng chính sách. Tất cả những việc làm này đã làm ấm lòng gia đình chính sách và có ý nghĩa văn hóa nhân văn của dân tộc. Qua phong trào “đền ơn đáp nghĩa”, đến nay đã có hơn 10.000 xã, phường trong cả nước được công nhận làm tốt công tác thương binh liệt sĩ, hơn 85% gia đình chính sách có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của nhân dân địa phương nơi cư trú. Nhiều thương binh, bệnh binh, thân nhân liệt sĩ đã trở thành những nhà quản lý, nhà khoa học tài giỏi, những doanh nhân thành đạt.

Tuy nhiên, do một số nguyên nhân, thậm chí có thiếu sót và khuyết điểm, còn một số xã, phường chưa làm tốt công tác thương binh, liệt sĩ; một bộ phận gia đình chính sách ở vùng sâu, vùng chiến tranh ác liệt trước đây, vùng thường xuyên xảy ra thiên tai vẫn phải sống nghèo khó, vất vả; chưa quy tập hết hài cốt và xác định rõ phần mộ liệt sĩ, có những gia đình hàng chục năm mòn mỏi mẹ ngóng con, vợ đợi tin chồng, con chờ tin cha. Còn hàng ngàn những mộ bia trắng chỉ với dòng chữ “chiến sĩ vô danh”, hoặc đây đó vẫn còn những tổ chức, cá nhân vi phạm, làm sai chính sách thương binh, liệt sĩ... là nỗi buồn của không ít gia đình có công.

Kỷ niệm Ngày Thương binh - Liệt sĩ năm nay, đi đôi với phong trào “đền ơn, đáp nghĩa”, chúng ta cần phải làm thật tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, “truyền lửa” cho thế hệ trẻ, làm cho các thế hệ hôm nay và mai sau thấy được niềm vinh dự, tự hào được sống trong hòa bình, mà nâng caotrách nhiệm với những người đã đổ xương máu, hy sinh cho các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc, góp phần làm rạng rỡ non sông gấm vóc Việt Nam. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta mãi mãi ghi tạc và đời đời biết ơn sự hy sinh, cống hiến to lớn đó. Các thế hệ người Việt Nam sẽ luôn luôn tự hào và nguyện sống xứng đáng với những hy sinh cao cả của các thế hệ cha anh.

* Trưởng phòng Tuyên truyền - Ban Tuyên giáo Thành ủy Cần Thơ.

| TCMT | Trở Về đầu trang  |



Hưởng ứng cuộc vận động: "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"

XÂY DỰNG ĐOÀN KẾT THỐNG NHẤT TRONG ĐẢNG THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

                                                                                                    VŨ PHÚ DŨNG*

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Theo Người, sự đoàn kết thống nhất trong Đảng là cơ sở vững chắc để xây dựng sự đoàn kết trong nhân dân, trong xã hội. Đảng đoàn kết, dân tộc đoàn kết và sự gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân sẽ tạo nên sức mạnh vĩ đại để dân tộc ta vượt qua khó khăn, chiến thắng kẻ thù và đi tới thắng lợi cuối cùng của cách mạng. Trong bản Di chúc thiêng liêng để lại, điều đầu tiên nói về Đảng, Bác căn dặn: “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”. Người nhấn mạnh: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”1.

Với Hồ Chí Minh, đoàn kết thống nhất trong Đảng phải là một chiến lược lâu dài, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối cách mạng Việt Nam: “Nội bộ Đảng phải đoàn kết nhất trí, đoàn kết không phải ngoài miệng mà phải đoàn kết trong công tác, trong tự phê bình và phê bình giúp nhau tiến bộ”2. Bác luôn tâm niệm “Cách mạng nhất định thành công. Ta thành công chính vì ta đoàn kết, quyết tâm, tin tưởng”3. Bác khuyên các đồng chí trong Đảng phải thương yêu, đoàn kết, nuôi dưỡng và phát triển tình đồng chí, nghĩa đồng bào, giữ gìn đạo đức cách mạng, chống các căn bệnh công thần, địa vị, hẹp hòi, cục bộ, kèn cựa... “Từ nay, mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, phải kiên quyết chữa cái bệnh hẹp hòi đó để thực hành chính sách đại đoàn kết”4.

Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm rằng đoàn kết trong Đảng phải biểu hiện ở cả tư tưởng và hành động. Tư tưởng phải thống nhất, hành động cũng phải thống nhất. Đảng tuy nhiều người, song khi tiến hành thì chỉ như một người. Trong Đảng không thể có tình trạng trống đánh xuôi, kèn thổi ngược, bằng mặt không bằng lòng. Sự đoàn kết thống nhất ý chí và hành động trong Đảng trước hết phải dựa trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối, quan điểm của Đảng trong từng thời kỳ cách mạng. Vận dụng trung thành chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ là lãnh đạo nhân dân giành độc lập dân tộc, xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Nhờ vậy, đã quy tụ được sức mạnh của toàn Đảng, tập hợp được toàn dân đoàn kết xung quanh Đảng, phấn đấu cho độc lập, tự do, dân chủ, hạnh phúc. Chính đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn đã trở thành nhân tố hàng đầu tạo nên sự thống nhất về tư tưởng và hành động trong Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ kêu gọi, vận động toàn Đảng phải đoàn kết thống nhất, toàn dân phải đoàn kết, mà chính Người là hiện thân của tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, là linh hồn của sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Người đã thu hút, tập hợp, cảm hóa mọi người bằng chính tấm gương trung với nước, hiếu với dân; bằng chính cuộc đời cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; bằng tình thương yêu vô hạn đối với con người, trước hết là những người lao động. Sự thống nhất hài hòa giữa tư tưởng và hành động, nói luôn đi đôi với làm và đạo đức, nhân cách của Người đã làm cho sự đoàn kết thống nhất trong Đảng thật sự trở thành động lực, quy tụ sức mạnh của toàn Đảng, lãnh đạo nhân dân ta lập nên những kỳ tích trong sự nghiệp cách mạng.

Từ thực tiễn 80 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam và hơn 20 năm đổi mới, Đảng ta càng ý thức sâu sắc ý nghĩa to lớn của tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh. Kinh nghiệm cho thấy, lúc nào, nơi nào tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc và sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng được quán triệt và thực hiện nghiêm túc, thì khi đó, nơi đó cách mạng đạt được thành tựu và phát triển. Ngược lại thì cách mạng gặp khó khăn, thậm chí còn gây tổn thất nghiêm trọng. Với bài học kinh nghiệm đó, Văn kiện Đại hội X của Đảng đã chỉ rõ, phải không ngừng chăm lo củng cố sự đoàn kết thống nhất và tình đồng chí trong Đảng; thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên tự phê bình và phê bình; xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong tình hình quốc tế có nhiều biến động phức tạp hiện nay, các thế lực thù địch thực hiện “diễn biến hòa bình”, luôn lợi dụng khó khăn, khuyết điểm để bôi nhọ, nói xấu Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Chúng dùng nhiều âm mưu, thủ đoạn mua chuộc, kích động, nói xấu, chia rẽ đội ngũ cán bộ, đảng viên, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc và sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, làm giảm uy tín của Đảng. Hơn lúc nào hết, tư tưởng Hồ Chí Minh: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công” là động lực, là nguồn sức mạnh to lớn trong sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Để giữ gìn, phát huy đoàn kết, thống nhất trong Đảng, đẩy mạnh cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, cần tập trung thực hiện tốt một số vấn đề cơ bản sau:

Một là, xây dựng đoàn kết thống nhất trong Đảng phải dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác -Lênin và tình yêu thương đồng chí.

Sự đoàn kết thống nhất trong Đảng phải được xây đắp trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối, mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Người căn dặn: “Đảng ta vĩ đại, vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác”5. Đối với Hồ Chí Minh, hai tiếng “đồng chí” là chỉ mối quan hệ giữa những người cộng sản, trước hết bắt nguồn từ sự thống nhất về lý tưởng, về mục tiêu đấu tranh. Người cộng sản hiểu, tin chủ nghĩa Mác - Lênin không phải như tín đồ tôn giáo, mà là thấm sâu và tin tưởng ở tính cách mạng và tính khoa học của học thuyết đó, cao hơn nữa phải đạt đến nhân lõi tình nghĩa của học thuyết đấu tranh vì sự giải phóng, vì hạnh phúc của con người. Người nói: “Hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin được”6. Đoàn kết, thống nhất trong Đảng còn được xây dựng dựa trên cơ sở tình thương yêu đồng chí, từ tình cảm thiêng liêng sâu sắc và bền vững nhất giữa những người cộng sản. Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy: “Đồng chí ta, tuy có khi khác nhau về chủng tộc hay khác nhau về nguồn gốc giai cấp, nhưng là những người cùng chủ nghĩa, cùng mục đích, cùng sống, cùng chết, chung sướng, chung khổ, cho nên phải thật thà đoàn kết. Muốn đi tới mục đích, không phải chỉ tổ chức là đủ, phải chân thành trong tư tưởng nữa”7. Người luôn nhắc nhở các đảng viên già, trẻ, cũ, mới, gái, trai... phải thương yêu giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; phải nuôi dưỡng, phát triển tình đồng chí, nghĩa đồng bào, tình quốc tế năm châu bốn biển; phải gìn giữ đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, đề phòng và loại trừ các tật bệnh công thần địa vị, kèn cựa, hẹp hòi làm tổn thương đến tình đồng chí và làm suy yếu sức mạnh đoàn kết thống nhất của Đảng.

Hai là, thực hiện tốt chế độ tự phê bình và phê bình, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa cá nhân.

Tự phê bình và phê bình không chỉ là vũ khí sắc bén mà còn là động lực bên trong giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm. Tự phê bình và phê bình phải khách quan, trung thực, thẳng thắn, công khai, chân thành. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Một đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một đảng hỏng. Một đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm. Như thế là một đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”8. Do đó, tự phê bình và phê bình cần tiến hành từ trên xuống, từ dưới lên, phê bình việc chứ không phê bình người và phê bình phải thường xuyên như “rửa mặt hằng ngày”. “Mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ”9. Muốn đoàn kết thống nhất trong Đảng phải thường xuyên thực hiện tự phê bình và phê bình. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi tự phê bình và phê bình là “cách tốt nhất”, là “thang thuốc” hay nhất, hữu hiệu nhất để phát huy ưu điểm, sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm. Người khẳng định: “Muốn đoàn kết càng chặt chẽ, tiến bộ càng mau chóng, thì mọi người phải sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm. Mà muốn được như thế thì không có cách gì hơn là thật thà tự phê bình và phê bình”10. Người còn yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên phải có thái độ tự phê bình và phê bình đúng đắn, cởi mở, thẳng thắn, chân thành, không nể nang, thêm bớt, biết tôn trọng nhau và phải “có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau” để bản thân mình và đồng chí mình cùng tiến bộ mãi, làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân, phần xấu mất dần đi. Người kịch liệt phê phán lợi dụng phê bình để đả kích cá nhân, gây rối nội bộ.

Ba là, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; đề cao tính tổ chức, tính kỷ luật trong sinh hoạt và hoạt động của Đảng.

Sự đoàn kết thống nhất trong Đảng phải dựa trên nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng là dân chủ tập trung; thực hiện mở rộng dân chủ đi đôi với đề cao kỷ luật, kỷ cương trong Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, đoàn kết phải trên cơ sở nguyên tắc, trên cơ sở nhiệm vụ của người đảng viên, phải biết gắn bó dân chủ với tập trung, dân chủ với kỷ luật. Tập trung không đối lập với dân chủ mà chỉ đối lập với tình trạng tản mát, tự do tùy tiện, vô tổ chức. Còn dân chủ là để đi đến tập trung. Người căn dặn: “Để làm cho Đảng mạnh, thì phải mở rộng dân chủ (thật thà tự phê bình và phê bình), thực hành lãnh đạo tập trung, nâng cao tính tổ chức và kỷ luật”11. Chỉ có như vậy, mới tạo cho Đảng sự thống nhất cao về tư tưởng, ý chí và hành động, vững vàng trong mọi khó khăn, thử thách. Dân chủ trong Đảng là phải làm cho tất cả đảng viên đóng góp ý kiến của mình cho Đảng với ý thức trách nhiệm xây dựng trong nguyên tắc sinh hoạt đảng. Các cấp uỷ đảng phải bảo đảm dân chủ từ cơ sở. Mặt khác, từng cán bộ, đảng viên phải có trách nhiệm đóng góp ý kiến vào những vấn đề chung, nhất là những vấn đề thuộc về đường lối, chính sách và giải pháp thực hiện. Thực hiện tập trung dân chủ thực sự trong sinh hoạt đảng nhằm tạo cơ sở bảo đảm sự đoàn kết thống nhất trong Đảng.

Bốn là, tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời hiện tượng mất đoàn kết và nguyên nhân dẫn đến mất đoàn kết trong Đảng.

Công tác kiểm tra có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tăng cường khối đoàn kết thống nhất trong Đảng. Công tác kiểm tra giúp cho các cấp uỷ kịp thời phát hiện và ngăn chặn nguyên nhân, hiện tượng mất đoàn kết. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Muốn biết ai ra sức làm, ai làm qua chuyện, chỉ có một cách là khéo kiểm soát. Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa, kiểm soát khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi”12. Qua kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời hiện tượng mất đoàn kết và nguyên nhân dẫn đến mất đoàn kết, phát hiện những ưu, khuyết điểm, những lệch lạc, sai lầm trong tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng để biểu dương, uốn nắn kịp thời và có biện pháp cụ thể, thiết thực giúp đỡ cấp dưới, vừa nâng cao được trách nhiệm của các tổ chức Đảng, của cán bộ, đảng viên, vừa tăng cường được kỷ luật của Đảng và tăng thêm được lòng tin tưởng, tình đoàn kết gắn bó giữa cấp trên và cấp dưới, khắc phục một cách có hiệu quả bệnh quan liêu xa rời thực tế, xa rời cấp dưới. Đồng thời, có kiểm tra thì mới phát hiện được sự đúng đắn, hợp lý hoặc những thiếu sót, những điểm chưa phù hợp trong đường lối, chủ trương, chính sách để kịp thời bổ sung, sửa đổi, làm cho đường lối, chủ trương, chính sách ngày càng hoàn thiện, chính xác và nhắc nhở, giáo dục cán bộ, đảng viên không ngừng xây dựng, vun đắp cho khối đoàn kết thống nhất.
_____________________________________

1, 6, 7, 8, 9, 12. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H. 1996, t.12, tr.497, 554, 552, 261, 232, 287.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H. 1996, t.9, tr.400
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H. 1996, t.11, tr.467
4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H. 1996, t.5, tr.238,
5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H. 1995, t.10, tr.4.
10. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H. 1996, t.6, tr.241.
11. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H. 1996, tr.241.
* Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng.

| TCMT | Trở Về đầu trang  |



HỌC TẬP PHƯƠNG PHÁP CÔNG TÁC TÔN GIÁO VẬN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

                                                                                      NGUYỄN THỊ HẢI YẾN*

Theo Hồ Chí Minh: “Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân, không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể đã giao cho”1. Làm tốt công tác dân vận không chỉ là trách nhiệm của Đảng mà còn là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, dân vận khéo như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói, thì việc gì cũng thành công. Ngược lại, dân vận kém thì việc gì cũng kém. Đối tượng của công tác dân vận là toàn dân thuộc mọi giai tầng xã hội, mọi dân tộc, mọi tôn giáo, người trong nước và cả người ở nước ngoài... Mỗi một cộng đồng người ấy, lại có điều kiện lao động sản xuất, sinh hoạt, nhận thức, đặc điểm tâm lý khác nhau. Chính vì vậy, công tác dân vận muốn có hiệu quả, phải sâu sát với từng đối tượng. Nếu làm công tác tôn giáo, mà không hiểu tâm lý của tín đồ, chức sắc của từng tôn giáo thì làm sao đạt kết quả tốt đựơc.

Là một quốc gia đa tôn giáo như Việt Nam, công tác tôn giáo vận có vai trò và ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc để hoàn thành sự nghiệp cách mạng. Đảng ta từ lâu đã xác định, cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng: “Công tác quản lý của nhà nước ta đối với các tôn giáo cũng như việc đấu tranh chống việc lợi dụng tôn giáo để chống đối chế độ suy cho cùng cũng là công tác dân vận, công tác vận động quần chúng nhân dân”.

Những năm qua, công tác dân vận nói chung, công tác tôn giáo vận nói riêng được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm, nên đã góp phần quan trọng trong việc huy động sức mạnh toàn dân để tiến hành sự nghiệp đổi mới đất nước. Tuy nhiên, nghiêm túc nhìn nhận, công tác này vẫn còn những hạn chế nhất định, Nghị quyết Trung ương lần thứ bảy (khóa IX) đã thẳng thắn nêu: “Khối đại đoàn kết toàn dân tộc, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân chưa thật bền chặt và đang đứng trước những thách thức mới”2.

Để lấy lại lòng tin, qua đó tập hợp, đoàn kết, phát huy được sức mạnh của đồng bào, trong đó có đồng bào các tôn giáo, càng phải làm tốt công tác dân vận. Công tác vận động chức sắc và tín đồ các tôn giáo trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân ta phải chăm lo đầy đủ đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào có đạo, tăng cường xóa đói, giảm nghèo làm cho mọi người no ấm; gia đình hòa thuận, hạnh phúc; xóm làng đoàn kết, yên vui; xã hội ổn định; đất nước phát triển.

Tuy nhiên, công tác vận động chức sắc và tín đồ các tôn giáo là một công việc đặc thù nên cần có nhiều hình thức và biện pháp khác nhau, phù hợp với mỗi đối tượng, điều kiện, đặc điểm từng vùng. Cần đa dạng hóa các hình thức tôn giáo vận, như: có vận động trực tiếp qua gặp gỡ, tiếp xúc, thăm thân, đối thoại, trao đổi, tổ chức học tập...; có hình thức gián tiếp tuyên truyền, vận động qua báo, đài, phim, ảnh...; có hình thức vận động theo tổ, nhóm, hộ gia đình; có trường hợp vận động cá thể, đơn tuyến. Song dù đối tượng vận động là ai và bằng cách nào đi nữa thì cũng phải nắm bắt, thấu hiểu được nhu cầu, tâm tư, nguyện vọng... của họ.

Nếu vận động đồng bào các tôn giáo mà không hiểu đồng bào, không hiểu tâm lý tôn giáo thì chắc chắn hiệu quả sẽ không cao. Từ thực tiễn trải nghiệm hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đã để lại cho các thế hệ sau bài học quý giá về việc vận dụng tâm lý học tôn giáo, nói cách khác là phương pháp vận động đồng bào các tôn giáo để phát huy vai trò tích cực của họ tham gia vào sự nghiệp cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Một trong những đặc điểm của người có đạo, có niềm tin tôn giáo, là họ có niềm tin rất sâu sắc và bền vững. Đối tượng của niềm tin tôn giáo thường là các lực lượng siêu nhiên, là thế giới “bên kia”. Với người công giáo, Chúa là đấng toàn năng, trên hết; còn “thế giới bên kia” là vĩnh hằng với “thưởng, phạt công minh”. Chẳng thế mà trong 10 điều răn của Thiên chúa đã khắc vào bia đá, thì trong đó có tới 3 điều răn đầu tiên dành cho Chúa. Điều răn thứ nhất là: Phải thờ kính Thiên chúa trên hết mọi sự. Điều răn thứ 2 là: Không được lấy danh Thiên chúa để làm những việc phàm tục tầm thường. Điều răn thứ 3 là: Dành ngày chủ nhật để thờ phụng Thiên chúa (Điều răn thứ 4 mới dành cho bố mẹ là “Thảo kính cha mẹ”).

Chính vì hiểu đựơc tâm lý của đồng bào theo đạo đối với các bậc siêu nhiên có quyền năng, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện sự tôn trọng, ngưỡng mộ và thậm chí nguyện là học trò nhỏ của các vị ấy.

Hồ Chí Minh nhìn thấy tín đồ Công giáo vừa là người luôn tôn vinh Chúa, vừa là người dân nước Việt có lòng yêu quê hương, đất nước nồng nàn như mọi người dân khác. Mối quan hệ biện chứng giữa tôn giáo với dân tộc, được Người nhìn nhận thực sự là độc đáo và sâu sắc: kính Chúa gắn liền với yêu nước, phụng sự Tổ quốc cũng là làm theo ý Chúa; nước có vinh thì đạo mới sáng; nước có độc lập thì tín ngưỡng mới được tự do. Theo quan niệm của Hồ Chí Minh, đối với người có tôn giáo thì đức tin tôn giáo và lòng yêu nước không mâu thuẫn nhau, trái lại, gắn bó với nhau. Một người dân Việt Nam có thể vừa là một người dân yêu nước đồng thời cũng vẫn là một tín đồ chân chính. Ngược lại, những kẻ chống lại dân tộc, thường cũng chính là những kẻ phản Chúa. Chúng không chỉ là “Việt gian mà còn là giáo gian”. Theo Hồ Chí Minh, người công giáo tốt phải là người công dân tốt, kính Chúa và yêu nước vừa là trách nhiệm công dân, vừa là bổn phận dân Chúa, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc đồng thời làm sáng được danh Chúa.

Hiểu tâm lý tôn giáo, cùng với nhãn quan chính trị sâu sắc, Hồ Chí Minh đã gắn được nhiệm vụ của cách mạng với lý tưởng của những người sáng lập ra tôn giáo. Đây cũng là một phương pháp độc đáo của Người về công tác tôn giáo vận, gắn đạo với đời nhằm động viên mọi tín đồ và chức sắc các tôn giáo tham gia vào cuộc đấu tranh cách mạng chung giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do, ấm no và hạnh phúc.

Vận động đồng bào theo cách mạng, cũng là để noi gương Chúa, Người khuyên: “Ở khắp nước, thì đồng bào công giáo và ngoại công giáo đương đem cả lực lượng giúp vào cuộc kháng chiến và kiến quốc! Tinh thần hy sinh phấn đấu tức là noi theo tinh thần cao thượng của đức Chúa Giêsu”3.

Người cho rằng, công cuộc kháng chiến, kiến quốc để giữ vững độc lập dân tộc cũng là phù hợp với ý Chúa: “Chúng ta kháng chiến cứu nước, thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm, cải cách ruộng đất làm cho người cày có ruộng, tín ngưỡng tự do. Như thế là những việc Chính phủ và nhân dân ta làm, đều hợp với tinh thần Phúc âm. Cho nên tôi chúc đồng bào công giáo làm trọn chính sách của Chính phủ cũng là làm trọn tinh thần của Chúa Cơ đốc.

Chúng ta phải kháng chiến trường kỳ và gian khổ, nhưng chúng ta nhất định thắng lợi và hưởng hạnh phúc thật sự như Chúa Cơ đốc đã hứa với chúng ta”4.

Năm 1945, ngay sau khi nước nhà giành độc lập và cả nhiều năm sau này, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh đến lương cũng như giáo phải cùng đoàn kết kháng chiến, ủng hộ cách mạng. Khi cuộc kháng chiến của dân tộc ta bước vào thời kỳ ác liệt, Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục động viên, kêu gọi đồng bào lương cũng như giáo phải đoàn kết kháng chiến. Theo Người, làm được như vậy cũng tức là làm đúng lời dạy của Chúa Giêsu, là thật thà tôn kính Chúa Giêsu.

Hồ Chí Minh cho rằng những mơ ước về một xã hội bình đẳng, tự do, bác ái của những người sáng lập ra tôn giáo là phù hợp với lí tưởng của những người cộng sản. Sự tương đồng về mục tiêu, lý tưởng ấy là điều cần khai thác nhằm động viên, khích lệ đồng bào các tôn giáo đoàn kết tham gia vào sự nghiệp chung của dân tộc.

Trong nhiều bức thư gửi cho tín đồ, chức sắc các tôn giáo nhân dịp các kỳ lễ hội tôn giáo, bao giờ Người cũng coi trọng các bậc sáng tạo ra các tôn giáo và luôn đặt họ trong mối quan hệ với Tổ quốc và nhân dân “Trên nhờ Đức Chúa, dưới nhờ nhân dân”, “phụng sự Thiên Chúa, phụng sự Tổ quốc”, “Thượng đế và Tổ quốc muôn năm”... tất cả những điều đó càng chứng tỏ Người rất hiểu tôn giáo và tâm lý tôn giáo.

Còn đối với tăng ni, phật tử, trong bức thư gửi đồng bào Phật giáo, nhân ngày lễ Phật (rằm tháng Bảy, năm 1947), Người viết: “Tôi kính cẩn cầu nguyện Đức Phật bảo hộ Tổ quốc và đồng bào ta... Nước có độc lập, thì đạo Phật mới dễ mở mang... Nay đồng bào ta đại đoàn kết, hy sinh của cải, xương máu, kháng chiến đến cùng, để đánh tan thực dân phản động, để cứu quốc dân ra khỏi khổ nạn, để giữ quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc. Thế là chúng ta làm theo lòng đại từ đại bi của Đức Phật Thích Ca, kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi cái khổ ải nô lệ”5.

Người luôn khẳng định rằng con đường mà dân tộc ta đi, trong đó có sự tham gia của đồng bào các tôn giáo tiến hành kháng chiến đánh đuổi ngoại xâm là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với tinh thần của Chúa và Phật là phải thương yêu, đùm bọc nhau để chống kẻ thù là bọn đế quốc thực dân hung ác.

Lịch sử đã chứng kiến, có nhiều nhân vật ngoảnh lưng vào quá khứ, phủ nhận giá trị lịch sử, văn hóa, trong đó có tôn giáo. Trái lại, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tôn trọng những giá trị đạo đức, văn hoá của nhân loại, gạn đục khơi trong; để giữ gìn biết và phát huy những giá trị tốt đẹp của văn hóa, Hồ Chí Minh cho rằng mỗi học thuyết tôn giáo cũng như cách mạng đều có giá trị của nó. Nếu như học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân, thì tôn giáo của Chúa Giêsu lại có ưu điểm ở lòng bác ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc một cách biện chứng, thì chủ nghĩa Tôn Dật Tiên lại có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với xã hội Việt Nam đương thời. Và ở họ đều có ưu điểm chung là muốn mưu cầu ấm no, tự do và hạnh phúc cho xã hội. Người cho rằng, nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, nếu hợp lại một chỗ, tin rằng nhất định họ chung sống với nhau như những người bạn thân thiết. Hơn thế, Hồ Chí Minh còn nguyện là học trò nhỏ của các vị ấy. Rõ ràng, tín đồ của các tôn giáo khi nghe vị lãnh tụ cộng sản nói về giáo chủ của họ như vậy, chắc chắn sẽ yên tâm hơn để cùng với những người cộng sản đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới.

Hồ Chí Minh là một chiến sĩ cách mạng kiệt xuất, vị anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất của Việt Nam, là hiện thân của sự tích hợp văn hoá Đông - Tây, là biểu trưng cho con người của tương lai. Ở Người hội tụ đủ cả đức từ bi của Phật, lòng bác ái của Chúa, tình nhân nghĩa của Khổng, phương pháp làm việc biện chứng của Mác và tinh thần cách mạng của Lênin. Hồ Chí Minh đã để lại cho hậu thế nhiều di sản quý báu, trong đó có phương pháp tôn giáo vận. Muốn làm công tác tôn giáo vận đạt hiệu quả cao thì việc tìm hiểu, đồng cảm với suy tư, tâm trạng, nguyện vọng của tín đồ các tôn giáo, thấu hiểu các tôn giáo như Hồ Chí Minh, là việc làm rất có ý nghĩa và hết sức cần thiết.

____________________________________________

1, 5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H.2009, t.5, tr.698, 197.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam - các Nghị quyết của Trung ương Đảng 2001 - 2004, Nxb CTQG, H. 2004, tr.117
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H. 1995, t.4, tr.121
4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr. 197.
* ThS, Giảng viên Học viện Hành chính Quốc gia.

| TCMT | Trở Về đầu trang  |



            Lý luận  

CÔNG TÁC DÂN VẬN CỦA CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

                                                                      NGUYỄN TIẾN THỊNH*

LTS: Công tác Dân vận có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội nói chung và hoạt động thực tiễn của Ban Dân vận, cùng các tổ chức có liên quan nói riêng. Do đó, Trung tâm nghiên cứu khoa học dân vận đã triển khai một đề tài Ban Đảng về công tác Dân vận của các cơ quan Nhà nước. Tháng 6-2010, Hội đồng nghiệm thu do Ts.Nguyễn Bắc Son (Uỷ viên Trung ương Đảng, Phó ban Tuyên giáo Trung ương) làm Chủ tịch; Ts.Hoàng Hải làm phản biện 2 đã đánh giá đề tài đạt loại xuất sắc. Dưới đây, Tạp chí Mặt trận dưới thiệu bài viết của Chủ nhiệm đề tài.

Các cơ quan Bộ, ngành ở Trung ương là những tổ chức nằm trong hệ thống bộ máy nhà nước. Vì vậy, nói Nhà nước làm công tác dân vận cũng có thể hiểu là Bộ, ngành làm công tác dân vận.

Những năm qua, nhận thức về công tác dân vận của các cơ quan nhà nước đã có chuyển biến tích cực. Biểu hiện cụ thể là, công tác dân vận của các Bộ, ngành đã góp phần xây dựng chính sách, pháp luật; đã chú trọng bảo vệ quyền lợi của nhân dân; lấy ý kiến rộng rãi của nhân dân trước khi ban hành. Các cơ quan Bộ, ngành đều xây dựng và ban hành được quy chế làm việc, rà soát chức năng nhiệm vụ; tiến hành cải cách hành chính; chú trọng công tác quản lý và sử dụng cán bộ, công tác bồi dưỡng, đào tạo lại nhằm nâng cao kiến thức quản lý nhà nước và kỹ năng làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức; triển khai có kết quả việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở: công khai cho dân biết những hoạt động của chính quyền, nhất là công khai về tài chính, về quy hoạch, sử dụng đất đai; cán bộ, công chức được bàn để tham gia vào công tác quản lý nhà nước. Công tác tuyên truyền, vận động nhân dân học tập các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; sửa đổi lề lối, tác phong làm việc, nâng cao trách nhiệm phục vụ của cán bộ, công chức trước nhân dân; các ban thanh tra nhân dân, cùng với các đoàn thể thực hiện vai trò giám sát các cơ quan nhà nước cũng được chú trọng, quan tâm và kiện toàn. Trên thực tế, công tác quản lý nhà nước gắn với công tác dân vận, kết hợp giữa các biện pháp: kinh tế - hành chính - dân vận đã góp phần thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, an ninh quốc phòng được giữ vững, đời sống nhân dân được nâng cao, tạo cơ sở củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, với Nhà nước.

Nhờ quán triệt và làm tốt công tác tuyên truyền, thời gian qua, quá trình xây dựng văn bản quản lý, các Bộ, ngành đều tổ chức lấy ý kiến nhân dân ở các mức độ khác nhau. Thủ trưởng và các lãnh đạo, cán bộ, công chức của cơ quan nhà nước đã tích cực đi cơ sở hơn, nhiều cán bộ chủ chốt, cán bộ có năng lực được tăng cường cho cơ sở.

Hầu hết các Bộ, ngành chỉ đạo cơ quan chuyên môn xây dựng kế hoạch và triển khai rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, loại bỏ hàng trăm văn bản chồng chéo, hết hiệu lực; đồng thời sửa đổi, bổ sung ban hành mới các văn bản liên quan đến pháp luật, chính sách, giảm bớt phiền hà cho nhân dân. Phân cấp về các lĩnh vực quản lý nhà nước cho địa phương; giảm các loại giấy phép, đơn giản hóa các loại hồ sơ, thủ tục hành chính, công khai minh bạch các chế độ chính sách, hạn chế gây phiền hà cho doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, người dân phù hợp với cam kết khi gia nhập WTO và tiến trình hội nhập quốc tế. Giao quyền tự chủ tài chính, khoán chi, phân cấp mua sắm tài sản, vật tư; triển khai cơ chế “một cửa” trong xử lý đơn thư, thực hiện quy định tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị công lập. Rà soát, xây dựng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Bộ, ngành. Đổi mới cách tổ chức hội nghị giao ban, hội nghị sơ, tổng kết bằng hình thức trực tuyến, bảo đảm chống hình thức, chống lãng phí, chú trọng chất lượng và hiệu quả. Tác phong, lề lối làm việc của cán bộ được sửa theo hướng trọng dân hơn.

Quan hệ giữa lãnh đạo Bộ với Ban cán sự Đảng được quy định rõ chức năng, nhiệm vụ; giữa thủ trưởng cơ quan với tập thể cán bộ, công chức bình đẳng hơn, quyền làm chủ của cán bộ; công chức được phát huy, trực tiếp Bộ trưởng tiếp và trả lời chất vấn của cán bộ, công chức. Cán bộ, công chức được tham gia bàn và góp ý vào công việc của cơ quan; được thủ trưởng thông báo công khai, nhất là công tác cán bộ, công tác tài chính... Mối quan hệ giữa thủ trưởng cơ quan với Đảng uỷ, tổ chức quần chúng được cụ thể hóa bằng quy chế phối hợp. Mối quan hệ với nhân dân được tăng cường thông qua quy chế tiếp dân và việc lấy ý kiến nhân dân góp ý vào dự thảo luật, chính sách trước khi ban hành...

Như vậy, công tác dân vận của các cơ quan nhà nước được đổi mới đã góp phần tích cực hoàn thành nhiệm vụ chính trị của ngành; từng bước góp phần hoàn thiện lý luận về công tác quần chúng của Đảng, trên các mặt cụ thể:

+ Vai trò của công tác dân vận trong quản lý nhà nước được khẳng định, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của nhà nước; ý thức tham gia xây dựng chính quyền của các tổ chức quần chúng, của cán bộ, công chức và nhân dân được nâng lên.

+ Hệ thống quy chế được hoàn thiện trên cơ sở phát huy quyền làm chủ của cán bộ, công chức, của nhân dân; thủ trưởng cơ quan có ý thức trong việc công khai hoá, minh bạch hoá chương trình công tác của cá nhân, công tác cán bộ, công tác tài chính; quy chế tiếp dân của cơ quan...

+ Xây dựng và thiết lập cơ chế để nhân dân tham gia ý kiến vào các đề án, chương trình, dự án luật trước khi ban hành; tạo điều kiện để nhân dân thực hiện quyền giám sát, kiểm tra các cơ quan nhà nước.

+ Tổ chức giao ban trực tuyến để tiết kiệm, chống lãng phí; giao ban báo chí hàng tuần để tăng cường thông tin đến nhân dân những chủ truơng, chính sách của Đảng và Nhà nước; kịp thời phản ánh tâm tư nguyện vọng của nhân dân; Đài Truyền hình Việt Nam mở chuyên mục Thư bạn đọc, Trả lời kiến nghị của nhân dân; Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng kho điện tử để tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân; lập Quỹ hỗ trợ nhân dân vùng khó khăn...

+ Không khí dân chủ trong cơ quan, trong xã hội được cải thiện nhằm tăng cường đoàn kết nội bộ, hạn chế tiêu cực, hạn chế tham nhũng, chống lãng phí, thực hành tiết kiệm.

Tuy nhiên, không ít cơ quan nhà nước, Bộ, ngành còn xem nhẹ công tác dân vận, chưa phát huy tốt quyền làm chủ của nhân dân, thiếu tôn trọng nhân dân. Dưới đây là một số biểu hiện cụ thể:

- Một số thủ trưởng cơ quan, cán bộ có trách nhiệm chưa nhận thức đầy đủ về công tác dân vận; chưa có chương trình công tác dân vận, chưa chú trọng việc kiểm thảo, sơ kết, tổng kết công tác dân vận; chưa phân công cán bộ lãnh đạo phụ trách công tác dân vận; thông tin báo cáo không được cập nhật kịp thời, còn khoán công tác dân vận cho các tổ chức quần chúng.

- Cơ chế chính sách chậm đổi mới, cải cách hành chính chậm, điều kiện, môi trường làm việc chưa khuyến khích được người tài (hiện tượng cán bộ, công chức có năng lực bỏ cơ quan Nhà nước ra các doanh nghiệp làm việc đang ngày càng tăng). Sự phối hợp giữa các Bộ chức năng trong xây dựng một số chính sách, trong quản lý nhà nước chưa hiệu quả, làm ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội.

- Không ít hoạt động của cơ quan, tổ chức, đoàn thể còn mang tính hành chính, phong trào; chưa bắt kịp với nhiệm vụ cải cách hành chính, chưa đáp ứng được nhu cầu thiết thực của nhân dân.

Trong khi đó, những hiện tượng tiêu cực vẫn đang có chiều hướng phát triển, như: nạn tham nhũng trong bộ máy công quyền; nạn mua bằng, mua điểm, bán chức, chạy án, chạy tội; làm sai chế độ chính sách; lợi dụng sơ hở để trục lợi cá nhân; và những tiêu cực trong nhà trường, bệnh viện, cơ quan nhà nước, kể cả trong các cơ quan bảo vệ pháp luật, trong xây dựng cơ bản, trong quản lý đất đai, quản lý khu công nghiệp... Thực trạng và hiện tượng tiêu cực nói trên, đang là rào cản sự phát triển đất nước, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với đội ngũ cán bộ công quyền, làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng.

Để đẩy mạnh công tác dân vận của các cơ quan nhà nước, trước hết phải nêu cao nhận thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức trước Đảng, trước nhân dân; hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân; tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân. Cụ thể:

- Chăm lo đến lợi ích và đời sống nhân dân; hướng dẫn và giúp đỡ nhân dân thực hành tiết kiệm, đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế, biết làm giàu, xây dựng đời sống văn hóa, nâng cao thể chất và sức khỏe cho nhân dân.

- Sâu sát cơ sở; nắm vững nguyện vọng của nhân dân, hiểu được nỗi cực khổ của người dân, tâm lý dân tộc, phong tục tập quán địa phương làm cơ sở cho công tác tuyên truyền, vận động, giải thích. Cán bộ phải nêu cao tinh thần chịu khó học hỏi nhân dân, tôn trọng sự cống hiến, hy sinh to lớn của nhân dân. Gương mẫu trước dân, làm cho dân tin, dân theo.

- Không được lợi dụng quyền lực, lên mặt làm quan cách mạng; chỉ coi trọng biện pháp chỉ thị, mệnh lệnh, cưỡng bức, ép buộc dân mà xem nhẹ việc dân vận; sống xa rời quần chúng, coi thường dân.

Thực sự đổi mới tác phong, lề lối làm việc của cán bộ, công chức theo tinh thần phục vụ nhân dân; phải biết khổ trước dân và sướng sau dân.

Đổi mới phương thức làm công tác dân vận của chính quyền theo hướng phải thiết thực, cụ thể và gắn với cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, cụ thể cần phải thực hiện:

- Thực hành dân chủ, dựa vào quần chúng, đi đúng đường lối quần chúng. Trên cơ sở đó mà động viên được tất cả các lực lượng của quần chúng nhân dân tham gia vào sự nghiệp cách mạng.

- Cán bộ không được nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh mà cần phải “đi thực tế” ở địa phương, ở cơ sở; phải “thật thà nhúng tay vào việc”, kết hợp đồng bộ suy nghĩ, nhận thức, tình cảm và hành động, nghĩa là phải “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”.

- Cán bộ phải thực hiện đầy đủ quy trình gồm những thao tác rất cụ thể và khoa học mà Hồ Chí Minh đã chỉ rõ trong bài Dân vận: “Phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi người dân hiểu rõ ràng về lợi ích và nhiệm vụ của họ; bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương, rồi động viên tổ chức toàn dân ra thi hành; trong khi thi hành phải theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích dân; khi thi hành xong phải cùng với dân kiểm thảo lại công việc, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng”.

Tổng quát lại, mỗi cán bộ chính quyền muốn làm công tác dân vận thành công cần phải ghi nhớ và thực hiện đầy đủ 4 điều quan trọng mà Hồ Chí Minh đã chỉ ra: Luôn luôn gần gũi nhân dân/ Ra sức nghe ngóng và hiểu biết nhân dân/ Học hỏi nhân dân/ Lãnh đạo nhân dân bằng cách tuyên truyền, cổ động, giáo dục, tổ chức nhân dân, dựa vào nhân dân để thực hiện nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

* Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu khoa học Dân vận, Ban Dân vận Trung ương Đảng.

| TCMT | Trở Về đầu trang  |



XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY ĐOÀN KẾT XÃ HỘI, ĐỒNG THUẬN XÃ HỘI
TRƯỚC YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC

                                                                                       NGUYỄN TRUNG KIÊN*

Khái niệm đồng thuận xã hội, mới được dùng phổ biến gần đây (từ Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng - khoá IX) về cơ bản có cùng bản chất, là tương đồng với đoàn kết, giữa chúng đều nói lên sự thống nhất về nhận thức và hành động. Đoàn kết trên cơ sở đồng thuận và đồng thuận để đoàn kết chặt chẽ hơn. Ở Việt Nam, đoàn kết xã hội là một giá trị truyền thống tốt đẹp. Truyền thống đó được hun đúc và tôi luyện qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, được thử thách qua cuộc đấu tranh với thiên nhiên và các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta. Chính vì vậy, trước yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay, việc xây dựng và phát huy đoàn kết xã hội trên cơ sở đồng thuận xã hội càng là cần thiết và có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn.

Nhận thức việc xây dựng và phát huy đoàn kết trên cơ sở đồng thuận xã hội là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là nguồn sức mạnh tổng hợp, là động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ở nước ta, khi tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định một trong những phương hướng cơ bản để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là: “Thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, tập hợp mọi lực lượng phấn đấu vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh. Thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình, hợp tác và hữu nghị với tất cả các nước; trung thành với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa, với tất cả các lực lượng đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ trên thế giới”1. Tại Đại hội lần thứ X của Đảng, một lần nữa, Đảng ta nhấn mạnh: “Lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các dân tộc, các tôn giáo, các tầng lớp nhân dân ở trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài; xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần giai cấp. Tôn trọng những ý kiến khác nhau không trái với lợi ích dân tộc. Đề cao truyền thống nhân nghĩa, khoan dung, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau vì sự ổn định chính trị và đồng thuận xã hội”2. Điều đó không chỉ cho thấy sự nhất quán trong quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng đoàn kết xã hội trên cơ sở đồng thuận mà còn cho thấy rõ nguyên tắc nền tảng để xây dựng đoàn kết xã hội, đó là: Đoàn kết phải được xây dựng trên cơ sở bảo đảm những lợi ích tối cao của dân tộc, của xã hội và những quyền lợi cơ bản của nhân dân lao động.

Trên thực tế, để mọi người trong xã hội đoàn kết được với nhau, thì điều quan trọng là phải quan tâm đến vấn đề lợi ích, tức là mọi người phải thấy được lợi ích của bản thân mình được bảo đảm trong lợi ích chung của cộng đồng, xã hội. Bởi lẽ, lợi ích chung dù có giá trị cao thượng, lý tưởng và thiêng liêng đến mấy mà các cá nhân không thấy được lợi ích chính đáng của mình ở trong đó thì lợi ích chung đó cũng chẳng có ý nghĩa gì và cũng không thể thực hiện được đoàn kết xã hội. Con người ta chỉ đoàn kết với nhau khi thấy sự đoàn kết đó là có lợi cho bản thân mình. Vấn đề lợi ích của chủ thể phải được xác lập và có cơ sở đảm bảo thực hiện được. Cho nên, cái lợi ở đây rất đa dạng và phong phú, tùy vào điều kiện, hoàn cảnh của từng người mà ở họ có nhu cầu và lợi ích khác nhau. Lợi ích ở đây không chỉ là lợi ích vật chất kinh tế, mà còn là lợi ích tinh thần (được tôn trọng, bình đẳng; danh dự, quyền tự do được bảo đảm...). Một khi lợi ích cá nhân được thống nhất trong lợi ích chung thì mỗi cá nhân, mỗi tập thể, mỗi cộng đồng sẽ thật thà hết lòng đoàn kết vì bản thân, vì cộng đồng và xã hội. Chỉ có như vậy, đoàn kết xã hội mới được bền chặt, phát huy hiệu quả, trở thành động lực quan trọng nhất trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Lợi ích chung của toàn xã hội được xác định hiện nay là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Đây cũng chính là lợi ích của mỗi thành viên trong xã hội; là chân lý, là sức mạnh của dân tộc Việt Nam. Đây cũng là ngọn cờ đoàn kết dân tộc, là nguyên tắc bất di bất dịch của cách mạng Việt Nam. Đây còn là cơ sở để Đảng ta và Hồ Chí Minh tìm ra mẫu số chung của đoàn kết mọi người, mọi thành phần trong xã hội: Dân tộc độc lập, nhân dân tự do. Những lợi ích chung căn bản của nhân dân lao động được kết tinh trong phạm trù độc lập, tự do, dân chủ và hạnh phúc. Những lợi ích đó được biểu hiện cụ thể trong từng thời kỳ của lịch sử dân tộc, nhưng với Đảng Cộng sản Việt Nam, với Hồ Chí Minh thì độc lập dân tộc bao giờ cũng phải gắn liền với tự do, hạnh phúc của nhân dân, bởi “nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”3. Còn đối với những cá nhân với tư cách là những chủ thể lợi ích thì bên cạnh lợi ích riêng của bản thân, họ cũng mang trong mình lợi ích chung của cộng đồng, xã hội. Và trong mỗi chủ thể đó thì lợi ích riêng của bản thân và lợi ích chung của cộng đồng xã hội luôn có mối quan hệ biện chứng, đan xen, chuyển hóa hết sức mềm dẻo, linh hoạt.

Xây dựng và phát huy đoàn kết xã hội trên cơ sở đồng thuận, trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhiều lần khẳng định tư tưởng chủ đạo là: Phải khơi dậy và phát huy tới mức cao nhất sức mạnh dân tộc, đặt lợi ích chung của dân tộc, của đất nước và của con người lên hàng đầu, lấy đó làm cơ sở đồng thuận xã hội để xây dựng các chủ trương, chính sách kinh tế - xã hội.

Những tư tưởng chủ đạo này được thể hiện nhất quán và ngày càng được cụ thể hóa bằng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Trước hết, về phương diện chính trị, tư tưởng, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương nêu cao ngọn cờ đoàn kết trên cơ sở mở rộng đồng thuận xã hội, mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, xóa bỏ mọi thiên kiến, mặc cảm, hận thù trong quá khứ, đoàn kết mọi lực lượng, mọi người Việt Nam trong nước và định cư ở nước ngoài vào sự nghiệp xây dựng, phát triển đoàn kết xã hội. Thứ hai, về kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương khuyến khích các thành phần kinh tế cùng phát triển lâu dài, xác lập chủ quyền của người lao động trong lĩnh vực kinh tế, khuyến khích mọi người làm giàu chính đáng theo pháp luật, cho phép cả đảng viên làm kinh tế tư nhân; đồng thời thực hiện các chính sách xã hội, như “đền ơn đáp nghĩa”, “xóa đói giảm nghèo”. Thứ ba, về đường lối đối ngoại, Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, mở rộng, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại theo phương châm “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước vì hòa bình, độc lập, hợp tác và phát triển”.

Nhận thức một cách sâu sắc tầm quan trọng đặc biệt của vấn đề xây dựng đoàn kết xã hôi trên cơ sở đồng thuận, tháng 1-1993, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết 07/QĐ-TW “Về đại đoàn kết dân tộc và tăng cường Mặt trận dân tộc thống nhất”. Tại Đại hội VIII và nhất là tại Đại hội IX và Đại hội X của Đảng, vấn đề xây dựng đoàn kết xã hội trên cơ sở đồng thuận, lấy phát huy sức mạnh của cả xã hội, truyền thống yêu nước, ý chí tự lực tự cường và lòng tự hào dân tộc, thực hiện mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng đã được đặt ở một tầm cao mới.

Đoàn kết xã hội trên cơ sở đồng thuận xã hội không chỉ là vấn đề kinh tế - chính trị mà còn là vấn đề đạo đức và văn hóa ứng xử trên cơ sở những tiền đề hiện thực của kinh tế. Sự tôn trọng nhân cách và tin cậy con người, sự thành thực và nhất quán về lợi ích trong nhận thức và hành động là một lực đẩy rất quan trọng để con người tập hợp, liên kết, thống nhất để tiến đến đồng thuận chứ không phải là phân ly, chia rẽ - đó chính là đoàn kết xã hội. Không có sự tôn trọng và tin cậy lẫn nhau thì không thể có đoàn kết thực sự. Phận sự của mỗi cá nhân là phải hợp tác và hiểu biết lẫn nhau, cùng với toàn xã hội phấn đấu xây dựng tình đoàn kết làm cho mỗi thành viên trong xã hội hiểu rõ được giá trị đích thực của cuộc sống, phục vụ hết mình vì lợi ích của bản thân và mọi người với thiện chí và mong muốn thật sự.

Đoàn kết không chỉ dựa trên một bộ phận xã hội, mà phải là toàn xã hội theo những nguyên tắc và tổ chức nhất định, cũng như cần xuất phát từ những điều kiện cụ thể để thực hiện sự đoàn kết, thống nhất đó. Cho nên, không một giai cấp nào có thể đáp ứng được vai trò là trung tâm của sự đoàn kết trong khi xã hội không có sự đồng thuận, tức là không tìm được tiếng nói chung về chính những vấn đề cơ bản mà trước hết là nhu cầu về lợi ích. Muốn điều đó không xảy ra thì giai cấp ấy phải thật sự là trái tim và khối óc của toàn xã hội, lợi ích của giai cấp ấy phải phù hợp với lợi ích chung của toàn xã hội. Bởi chỉ có vì quyền lợi chung của một dân tộc - xã hội thì một giai cấp, như giai cấp công nhân, đứng đầu là Đảng Cộng sản Việt Nam, mới có thể trở thành trung tâm của toàn dân tộc - xã hội, quy tụ được sức mạnh trí tuệ và tình cảm của toàn xã hội hướng theo mình.

Đoàn kết xã hội cũng chính là đoàn kết mọi người Việt Nam yêu nước với nhau nhằm mục tiêu chung: giữ vững độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đầu não của sự đoàn kết đó là Đảng Cộng sản Việt Nam, trái tim của sự đoàn kết ấy chính là toàn dân, nền tảng của sự đoàn kết ấy là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
__________________________________________

1. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991): Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb ST, H, tr.10.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H, tr.116-117.
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, t.4, tr.56.
Ghi chú: Xem thêm “Mấy suy nghĩ về đồng thuận xã hội”, Tạp chí Mặt trận số 76 (2-2010), tr.29.
* ThS. Khoa Mác - Lênin & Khoa học xã hội nhân văn, Học viện An ninh nhân dân

| TCMT | Trở Về đầu trang  |



BẢN CHẤT CỦA THAM NHŨNG VÀ CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG
- NHÌN TỪ HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ THỰC TẾ CỦA THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ

                                                                                                 NGUYỄN QUANG DU*

Tham nhũng và vấn đề chống tham nhũng đã và đang được Đảng, Nhà nước, mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội quan tâm. Tham nhũng và vấn đề chống tham nhũng chưa hiệu quả ở nước ta không chỉ gây thiệt hại về kinh tế, ảnh hưởng đến phát triển văn hoá - xã hội, làm băng hoại đạo đức, thể hiện sự thiếu tôn trọng các giá trị cá nhân mà còn chứng tỏ một xã hội có nền dân chủ còn nhiều khiếm khuyết, một thể chế chính trị thiếu khả năng tự kiểm soát, để đánh mất quyền lực.

Tham nhũng là một hiện tượng xã hội, gắn liền với thể chế chính trị. Tham nhũng chịu sự tác động với các mức độ khác nhau của nhiều yếu tố chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Nhưng gì thì gì, nói đến tham nhũng, trước tiên phải gắn với quyền lực, liên quan đến quyền lực, không thể tách rời quyền lực. Và nói đến quyền lực cũng có nghĩa là nói đến thể chế chính trị. Một thể chế chính trị hoàn bị, chuyên nghiệp, tổ chức khoa học, chặt chẽ sẽ không có hoặc rất ít có tham nhũng. Ngược lại, một thể chế chính trị ít chuyên nghiệp hơn, một thể chế chính trị bị tha hoá, quyền lực không được kiểm soát sẽ là điều kiện tốt cho tham nhũng nảy nở, phát triển.

Ở nước ta, nói thể chế chính trị cũng có nghĩa là nói đến hệ thống chính trị. Hệ thống chính trị nước ta bao gồm: Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Nói đến vấn đề tham nhũng và công tác phòng, chống tham nhũng không thể không đặt nó trong tổng thể vận hành của hệ thống chính trị, của toàn xã hội để xem xét. Tuy nhiên, điều cơ bản nhất khi nói tới tham nhũng và công tác phòng, chống tham nhũng ở đây vẫn là nói tới vai trò của thể chế, hay bộ máy nhà nước. Và nói tới nhà nước là nói tới quyền lực, tới việc quản lý xã hội bằng pháp luật. Ở đâu pháp luật không nghiêm, pháp luật là một thứ quyền lực nhưng lại bị quyền lực của người sử dụng pháp luật khống chế, lợi dụng, pháp luật bị “đánh cắp”, thì ở đó khó tránh khỏi có tham nhũng.1

Bản chất của nhà nước ta là nhà nước dân chủ nhân dân, nhà nước của dân, do dân và vì dân, hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Về nguyên tắc, mọi cơ quan của nhà nước đều đại diện cho nhân dân, được sự giám sát và kiểm soát của nhân dân. Điều đó có nghĩa là, nhân dân đã tự nguyện uỷ quyền, trao quyền cho người đại diện của mình để quản lý xã hội. Vấn đề đặt ra ở đây là, việc sử dụng quyền lực của nhân dân trao cho như thế nào? Nếu sử dụng đúng quyền lực của nhân dân trao cho sẽ không có tham nhũng, không có ăn cắp. Ngược lại, việc không sử dụng đúng quyền lực của nhân dân trao cho sẽ không tránh khỏi nhiều hệ lụy, tiêu cực, trong đó có tham nhũng. Chính vì vậy, một nhà nước mạnh phải là một nhà nước kiểm soát được thứ quyền lực nói trên, biết dùng quyền lực để kiểm soát quyền lực. Đây chính là mấu chốt của vấn đề, có quan hệ đến bản chất của hiện tượng tham nhũng, bởi lẽ “Tham nhũng là lợi dụng quyền hành (tác giả nhấn mạnh) để tham ô và hạch sách, nhũng nhiễu dân”2 hay “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”3. Một người bình thường không có chút quyền lực nào thì khó hoặc không thể tham nhũng.

Về vấn đề này, nhìn rộng ra thế giới cho thấy, Mỹ là một quốc gia có lịch sử ra đời muộn so với nhiều nước, nhưng có mô hình kiểm soát thể chế chính trị rất đáng được nghiên cứu, tham khảo. Nổi bật của thể chế chính trị nói trên là sự kiểm soát quyền lực bằng quyền lực, là tự do dân chủ, chế độ liên bang và quyền của người dân; tổ chức bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tam quyền phân lập triệt để, là kiểm soát và cân bằng quyền lực giữa các cơ quan của chính phủ. Cơ chế này không cho phép tập trung quyền lực quá nhiều vào tay một tập thể hay cá nhân nào. Chính vì vậy mà quyền lực được kiểm soát. Quyền lực được kiểm soát đồng nghĩa với việc hạn chế được tình trạng tham nhũng, nên đến nay Mỹ vẫn là một trong những nước có tỷ lệ tham nhũng thấp nhất thế giới.

Ở nước ta, theo một báo cáo đánh giá thì tình trạng tham nhũng những năm gần đây không những không giảm mà còn có xu hướng tăng lên cả về số vụ việc lẫn mức độ tiền, tài sản tham nhũng trong mỗi vụ việc. Đây là điều rất đáng lo ngại, vì hiện trạng tham nhũng không chỉ làm thiệt hại về kinh tế cho đất nước mà đang gây bức xúc trong dư luận xã hội và quần chúng nhân dân.

Có một điều ai cũng thấy, trong thể chế chính trị của nước ta hiện nay, người có chức, có quyền càng to, càng cao, càng nắm trong tay việc quyết định thông tin, việc phân bổ sắp xếp nhân sự, việc giao trách nhiệm, quyết định lượng tiền, tài sản theo nhiệm vụ công tác, hay các chương trình, dự án... càng to, càng nhiều thì khi đã tham nhũng mức độ vụ việc cũng sẽ càng nghiêm trọng, càng lớn. Trên thực tế cho thấy, với cơ chế quản lý như hiện nay không ít vụ việc tham nhũng đã không được phát hiện sớm. Điều đó càng chứng tỏ quyền lực của nhà nước đã không được kiểm soát hoặc kiểm soát thiếu hiệu quả. Tuy nhiên, nói thì dễ làm được khó hơn nhiều, do người có quyền lực lại nắm được quyền lực và chi phối được quyền lực. Đó là chưa kể khó khăn còn ở chỗ có sự liên kết, chia sẻ quyền lực với nhau nhằm trục lợi giữa những người nắm quyền lực (tham nhũng tập thể). Trên thực tế, không ít nơi, không ít vụ việc tiêu cực, tham nhũng, quần chúng nhân dân không phải không biết, không phải không muốn tố cáo, nhưng rốt cục lại không tố cáo được là do người dân không có quyền lực (chỉ có quyền lực trên danh nghĩa). Trong khi đó để kiểm soát được quyền lực phải thông qua rất nhiều mắt khâu, như: cơ chế thực hiện dân chủ công khai đến đâu, công khai như thế nào; tuyển chọn cán bộ để sắp xếp và trao quyền bằng cách nào, theo tiêu chí gì; phương thức giám sát, kiểm tra được thực hiện ra sao; điều kiện và chế độ, chính sách cho người được trao quyền lực... Trong tổng thể những “khâu”, những “mắt lưới” nói trên, nếu không có sự kiểm soát chặt chẽ thì người có chức, có quyền muốn tham nhũng sẽ dùng quyền lực và lợi dụng được những kẽ hở để thực hiện hành vi tham nhũng.

Hành vi tham nhũng ở nước ta hiện nay cũng đa dạng: có tham nhũng trực tiếp và gián tiếp, tham nhũng được thực hiện qua kẽ hở của chủ trương, chính sách, pháp luật; tham nhũng qua người môi giới, dẫn dắt; tham nhũng bằng cách tự mình thực hiện trên cơ sở lợi dụng quyền lực được giao; tham nhũng do nhận tiền, tài sản của người khác mang đến dâng hiến... Tuy nhiên, chung quy lại. tham nhũng vẫn là do được trao quyền, có quyền, nhưng lại không có sự kiểm soát nên sinh ra độc quyền. Đương nhiên, chịu thiệt hại không ai khác là nhà nước, mà suy cho cùng là người dân lao động phải gánh chịu. Nhà nước dù có quyết tâm đấu tranh chống tham nhũng đến đâu, nhưng cơ chế không đủ mạnh, không ngăn được việc lạm quyền thì vẫn không chống được tham nhũng. Còn về phía cá nhân người dân, hay người đưa hối lộ, tiếp tay, tạo điều kiện cho tham nhũng một mặt do nhận thức, nhưng mặt khác cũng là do chính cơ chế của quản lý nhà nước tạo ra mà bản thân họ muốn được việc, không có cách nào khác nên phải làm cái việc bất đắc dĩ là đưa hối lộ, tạo điều kiện, tiếp tay cho tham nhũng.4 Cho nên, dù là nhìn ở phương diện nhà nước hay cá nhân, muốn chống tham nhũng phải xuất phát từ việc nhà nước đề ra và thực thi được một cơ chế kiểm soát quyền lực hợp lý. Có rất nhiều việc phải làm, nhưng hướng tập trung chủ yếu là:

 - Thứ nhất, trong xây dựng thể chế chính trị, cụ thể là xây dựng cơ chế, phương thức lãnh đạo, quản lý, vận hành của bộ máy đảng, nhà nước, đoàn thể, mỗi cấp, mỗi ngành phải tính đến cách phòng ngừa tham nhũng, coi đây là điều mấu chốt, cơ bản. Nói cách khác, phải có tư duy thường trực về phòng ngừa tham nhũng, lấy phòng ngừa là chính trong xây dựng thể chế chính trị, cơ chế vận hành của bộ máy.

 - Thứ hai, do tham nhũng xuất phát từ việc không kiểm soát được quyền lực, nên muốn phòng ngừa và chống tham nhũng có hiệu quả phải quan tâm đầu tư hoàn thiện cơ chế tự kiểm soát quyền lực trong bộ máy đảng, nhà nước, mặt trận, các đoàn thể. Nói cách khác, phải nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả thực tế của cơ chế, pháp luật, các quy chế, quy định (ở nước ta, vấn đề này không mới vì không thiếu các văn bản pháp luật quy định về kiểm soát quyền lực để chống tham nhũng, vấn đề là thực hiện chưa nghiêm, thực hiện không đến nơi đến chốn).

 - Thứ ba, đẩy mạnh dân chủ hoá xã hội, đặc biệt nâng cao trình độ văn hoá dân chủ, trình độ dân trí cho cán bộ và cả nhân dân là một trong những điều kiện tiên quyết để phòng và chống tham nhũng. Bởi lẽ, xã hội, thể chế chính trị mất dân chủ đồng nghĩa với sự thiếu minh bạch, công khai. Một khi trình độ “quan trí” và cả “dân trí” còn thấp thì không thể nói đến xây dựng một xã hội lành mạnh, sự kiểm soát quyền lực được rõ ràng. Vì thế, cần lắm một xã hội dân chủ, lành mạnh thực sự để dân chúng và cả cán bộ cùng đồng tâm đoàn kết xây dựng một nền tảng đạo đức thật (không phải đạo đức giả), lúc đó ắt xã hội sẽ không có tham nhũng.

 - Thứ tư, để ngăn chặn và chống tham nhũng có hiệu quả cần phát huy được vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với hoạt động quản lý nhà nước, thực thi pháp luật, cụ thể hơn là việc sử dụng và kiểm soát quyền lực của nhà nước và cá nhân. Điều cơ bản là phải khai thác được tối đa tính nhân dân, sự tham gia của các tầng lớp nhân dân (giám sát mang tính nhân dân) trong thực hiện nhiệm vụ giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Bởi lẽ, chính nhân dân mới là chủ thể thực sự của sự giám sát mà Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chỉ là người đại diện.

 - Thứ năm, tham nhũng gắn liền với con người. Chính vì vậy, chống tham nhũng cũng phải bắt đầu từ việc quan tâm đến con người. Bên cạnh việc tạo ra các điều kiện làm việc, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, cần giáo dục cho cán bộ, nhất là những người lãnh đạo có chức, có quyền ý thức chính trị, xây dựng họ thành các nhà lãnh đạo chính trị có tư cách, phẩm chất đạo đức cách mạng, biết trọng quyền và sử dụng quyền được nhân dân trao để hoạt động lãnh đạo phục vụ lợi ích nhân dân chứ không phải để mưu lợi ích riêng. Chỉ khi nào đội ngũ cán bộ lãnh đạo có chức, có quyền ý thức được đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm chính trị của mình thì khi đó mới nói đến có một bộ máy nhà nước thực sự trong sạch, kiểu mẫu, đủ sức kiểm soát được tình trạng tham nhũng.
____________________________________________

1. Năm 1929, nhà báo Phan Khôi trong bài viết “Tiểu ăn cắp và đại ăn cắp” đăng trên tờ Thần chung Sài Gòn số 123 đã nói rằng, tiểu ăn cắp (ăn cắp vặt) đã là xấu, nhưng cái nguy hại hơn lại là “đại ăn cắp”, nghĩa là ăn cắp luôn cả pháp luật, vốn là cái làm ra để ngăn cản kẻ gian, bênh vực cho lợi ích người nghèo.
2. Đại Từ điển Tiếng Việt. Nxb VHTT, H. 1998, tr.1523.
3. Điều 1, khoản 2, Luật Phòng, chống tham nhũng.
4. Nói như nhà báo Phan Khôi (bài báo đã dẫn): Tại quan có quyền thế lớn quá, cho nên đem tiền cho quan ăn là sự chẳng đã, không cho không đặng, chớ không phải vui lòng mà cho.
* TS, Trường ban Tổ chức - Cán bộ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

| TCMT | Trở Về đầu trang  |



CÔNG KHAI, MINH BẠCH TRONG KÊ KHAI TÀI SẢN, THU NHẬP CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
 LÀ ĐỂ GÓP PHẦN CHỐNG THAM NHŨNG

                                                                                                NGUYỄN THANH BÌNH*

Việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức là để cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền biết được tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai nhằm minh bạch tài sản thu nhập của người đó, phục vụ công tác quản lý cán bộ, công chức, góp phần ngăn ngừa và ngăn chặn hành vi tham nhũng. Việc kê khai tài sản, thu nhập và xác minh tài sản, thu nhập được quy định tại Luật Phòng, chống tham nhũng và nhiều văn bản luật khác của chính phủ. Qua ba năm thực hiện, việc xem xét để rút ra những mặt được và chưa được, đồng thời đề ra các giải pháp, kiến nghị trong thời gian tới để công tác này ngày một hiệu quả, thiết thực hơn, góp phần nâng cao niềm tin của nhân dân vào cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta nhằm làm trong sạch đội ngũ cán bộ, công chức lãnh đạo hiện nay, là rất cần thiết.

 Theo Thông tư số 2442/2007/TT-TTCP, ngày 3-7-2007 của Thanh tra Chính phủ và Thông tư số 01/2010/TT-TTCP, ngày 22-1-2010 sửa đổi, bổ sung thì đối tượng phải kê khai tài sản đã mở rộng từ cán bộ địa chính cấp xã đến bộ trưởng, trưởng các ban ngành trung ương, từ doanh nghiệp đến các cơ quan nghiên cứu khoa học có sử dụng ngân sách nhà nước. Theo Thông tư sửa đổi, bổ sung có hiệu lực từ ngày 16-3-2010 này, các đối tượng có nghĩa vụ kê khai tài sản là những người có chức vụ từ Phó trưởng phòng Uỷ ban nhân dân cấp huyện và tương đương trở lên, bao gồm cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan và đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện, trong các cơ quan quân đội, công an nhân dân (không phải là hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng). Ngoài ra, Hội đồng Quản trị và Ban lãnh đạo các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty, Công ty nhà nước cũng phải kê khai tài sản, thu nhập.

Theo các thông tư của Thanh tra Chính phủ nói trên, diện tài sản của những người phải kê khai cũng rộng hơn, như thu nhập từ cổ phiếu, trái phiếu, các công cụ có thể chuyển nhượng như xe máy, ô tô. Việc kê khai sẽ phải tiến hành từng năm, kết thúc vào ngày 30-11 hàng năm. Cán bộ chậm kê khai tài sản sẽ bị kỷ luật: khiển trách nếu kê khai chậm trên 15 ngày; cảnh cáo nếu kê khai chậm hoặc người có trách nhiệm tổng hợp, báo cáo thực hiện chậm trên 30 đến 45 ngày; ngoài ra có thể áp dụng hình thức kỷ luật nặng hơn mức này đối với người chậm kê khai, chậm tổ chức việc kê khai, chậm báo cáo kết quả kê khai trên 45 ngày. Hồ sơ kê khai tài sản được theo dõi, quản lý theo một quá trình, ngay cả khi cán bộ đó nghỉ hưu, hoặc chuyển công tác sang ngành khác, địa phương khác. Trong trường hợp đã về hưu mà phát hiện có tài sản bất minh, không giải trình được, lúc đó cơ quan pháp luật cũng sẽ căn cứ theo luật hiện hành để xử lý. Khi có yêu cầu về bổ nhiệm cán bộ, xác minh làm rõ theo đơn thư tố cáo, hoặc những việc mà cơ quan quản lý yêu cầu, sẽ tiến hành thẩm tra, xác minh. Kết quả thẩm tra, xác minh nếu không đúng, người kê khai sẽ bị về xử lý tội không trung thực.

 Như vậy, với các quy định chặt chẽ được ban hành về minh bạch tài sản, điển hình như Nghị định 37/2007/NĐ-CP, Thông tư số 2442/2007/TT-TTCP, Thông tư số 1/2010/TT-TTCP, thì bản kê khai minh bạch tài sản của cán bộ, công chức là một trong những cơ sở để xác minh, phòng chống tham nhũng có hiệu quả.

 Tuy nhiên, tài liệu về kê khai tài sản, thu nhập, theo qui định, sẽ vẫn chỉ được sử dụng mang tính nội bộ. Do vậy, người dân vẫn sẽ gặp rất nhiều khó khăn để thực thi quyền giám sát, nếu không muốn nói là không thể. Theo Điều 12 Nghị định 37/CP, ai muốn khai thác, sử dụng bản kê tài sản, thu nhập của công chức sẽ “phải có giấy giới thiệu của cơ quan, tổ chức, đơn vị có nhu cầu, trong đó ghi rõ họ tên, chức vụ, mục đích sử dụng”. Điều 14 của Nghị định này qui định thêm rất rõ: “Người nào làm sai lệch, mất mát, hư hỏng hoặc làm lộ bí mật nội dung bản kê khai tài sản, thu nhập, cung cấp cho người không có thẩm quyền khai thác… thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự”. Như vậy, người dân sẽ khó lòng có thể biết được người mình định tố cáo tham nhũng, kê khai gian dối đã kê khai tài sản ra sao. Trong khi đó, thông tư của Thanh tra Chính phủ lại qui định: nếu muốn cơ quan có thẩm quyền tiến hành xác minh lại tài sản của công chức, người tố cáo phải có “bằng chứng cụ thể, có căn cứ xác minh về sự không trung thực trong kê khai của người có nghĩa vụ kê khai”. Thông tư cũng nêu rõ: “Đối với tố cáo, phản ảnh giấu tên, mạo tên thì không xem xét để ra yêu cầu xác minh”. Về yêu cầu xác minh công chức có gian dối trong kê khai, theo qui định, người tố cáo phải có bằng chứng về việc kê khai không trung thực. Tuy nhiên, người dân lại không được quyền tiếp cận tài liệu nên việc có bằng chứng nhằm chứng minh hành vi gian dối rất khó khăn.

Để việc công khai, minh bạch trong kê khai tài sản, thu nhập trong thời gian tới mang lại hiệu quả cao, thiết nghĩ cần lưu ý những vấn đề sau:

Một là, do bản kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ công chức chưa được công khai nên người dân chưa thực hiện được quyền kiểm tra, giám sát. Do vậy, Chính phủ cần ban hành một Nghị định về nghĩa vụ giải trình đối với tài sản của cán bộ công chức. Theo đó, cán bộ công chức có nghĩa vụ giải trình đối với tài sản của mình và từng bước công khai tài sản. Hiện nay, trong Chiến lược quốc gia phòng chống tham nhũng đã có quy định từng bước công khai thu nhập, tài sản của cán bộ công chức. Đồng thời, Thanh tra Chính phủ và các cơ quan liên quan cần tiến hành tổng kết, đánh giá việc kê khai tài sản, thu nhập để xây dựng đề án kiểm soát thu nhập. Trong thời gian tới, khi thực hiện Chiến lược quốc gia về phòng chống tham nhũng cần từng bước công khai bản thu nhập này, các cơ quan liên quan cần xem xét đối tượng nào sẽ công khai trước và vào thời điểm nào. Do công việc này chưa từng làm bao giờ nên cũng cần phải có lộ trình khoa học và chặt chẽ.

Hai là, cần xử lý tài sản kê khai không trung thực. Tới đây, cùng với việc cán bộ công chức kê khai thì phải có nghĩa vụ giải trình đối với tài sản của mình và từng bước công khai tài sản. Đồng thời, cần có quy định xử lý đối với tài sản không giải trình được. Việt Nam đã ký công ước của Liên Hợp Quốc về phòng chống tham nhũng, trong công ước quy định: “Tài sản không giải trình được, bất minh là phải tịch thu”. Trong khi đó, hiện nay luật pháp nước ta mới chỉ quy định nếu kê khai không trung thực thì xử lý từ khiển trách, cảnh cáo đến hạ bậc lương, chưa có quy định xử lý thế nào đối với số tài sản kê khai không trung thực, cũng chưa có quy định nào về kiểm tra nguồn gốc tài sản. Vì vậy, cần sớm có quy định xử lý tài sản kê khai không trung thực theo hướng công ước quốc tế đã quy định nói trên.

Ba là, cần có biện pháp để xác minh việc tự kê khai tài sản của cán bộ, công chức trung thực đến đâu. Hiện nay, theo quy định tại Nghị định 37 về minh bạch tài sản thu nhập, phải có hai điều kiện để xác minh. Thứ nhất, có đơn tố cáo rõ ràng, có chứng cứ và không được nặc danh liên quan đến việc kê khai tài sản không trung thực. Thứ hai, có kết luận của cơ quan chức năng như thanh tra, điều tra, kiểm toán kết luận về người có nghĩa vụ kê khai liên quan đến hành vi tham nhũng. Trong khi đó, nhiều cán bộ, công chức chỉ kê khai nhà ở, còn tài sản khác có hay không thì không thể biết được. Do vậy, vẫn có thể đặt dấu hỏi, liệu những cán bộ này không có tài sản từ 50 triệu đồng trở lên có đúng không? Thực tế cũng tùy thuộc thái độ trung thực của từng người, có người kê khai 1-2 căn nhà, ôtô, nhưng có người có mà không kê khai. Từ trước đến nay, chỉ những trường hợp cán bộ có vấn đề phải tiến hành xác minh mới biết và xử lý được chuyện kê khai không trung thực. Như vậy, cần nghiên cứu để có thêm biện pháp xác minh việc tự kê khai tài sản, thu nhập để tăng cường hơn nữa tính trung thực trong việc kê khai tài sản của cán bộ, công chức.

Bốn là, thời gian qua có một số ý kiến lo ngại về việc khó kiểm soát tài khoản của cán bộ, công chức tại ngân hàng nước ngoài, bởi việc quản lý tài sản ở nước ngoài còn liên quan đến luật pháp nước sở tại, nhất là pháp luật về ngân hàng. Trong khi đó, kê khai và báo cáo tài sản tại nước ngoài, nếu có, là 1 trong 9 nội dung bắt buộc, bất kể số dư tài khoản là bao nhiêu. Đây là yếu tố cần được kiểm soát. Nước ta chưa có nhiều kinh nghiệm về lĩnh vực này. Do vậy, Việt Nam phải hợp tác với các nước và thực tế là các nước cũng muốn có sự hợp tác. Việc kiểm soát dựa trên quan hệ hợp tác với các nước, theo nguyên tắc có đi có lại, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Thực hiện những nguyên tắc như thế, chắc chắn chúng ta sẽ kiểm soát được tài khoản của cán bộ, công chức tại nước ngoài.

* Ban Dân chủ - Pháp luật Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

| TCMT | Trở Về đầu trang  |

 

 


       Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc năm 2009     
     Các điển hình tiêu biểu trong CVĐ TDĐKXDĐSVH ở KDC (2004-2009)
     Đối ngoại nhân dân MTTQ (2004-2009)


    Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc năm 2008

                                   hoan nghênh bạn đọc góp ý cho tạp chí
 
 
 

 
 
Giới thiệu Uỷ ban MTTQ Việt Nam 63 tỉnh, thành phố trong cả nước !
 

 

 

 

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh dự Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc tại Tổ dân phố 13 (Khu tập thể Ba Tầng), phường Nguyễn Trãi, quận Hà Đông, T.P Hà Nội

 

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dự Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc tại thôn Dương Đình, xã Dương Xá, Gia Lâm, Hà Nội.

 

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng dự Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc tại khu dân cư Bồ Dương, xã Hồng Phong, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương

 

Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam Huỳnh Đảm dự Ngày hội Đại đòan kết toàn dân tộc tại xóm Bãi Bệ I.

 
  ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM          
 

   bến nhà Rồng ( TP Hồ Chí Minh )


Khuê các Văn miếu
TP Hà Nội

 

    Dinh Thống nhất

              Mai Châu Hoà Bình


    Biển Hà Tiên       

 
 

|   Giới thiệu  |   Mặt trận Tỉnh Thành  | Tổ chức thành viên |  Hội đồng tư vấn   |   English

| TCMT | Trở Về đầu trang  |

Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2008 Trang TTĐT - Cơ quan UBTW MTTQ Việt Nam.
Giấy phép số:111/GP-BC của Bộ Thông tin và Truyền thông • Trưởng ban Biên tập: LÊ BÁ TRÌNH • Phó ban Biên tập: NGUYỄN TUẤN ANH
Địa chỉ: 46 Tràng Thi - Hà Nội • ĐT:04-9287401;  Email:
ubmttqvn@mattran.org.vn