|
KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH - TÍN DỤNG TOÀN CẦU NHÌN
QUA
LĂNG KÍNH KHỦNG HOẢNG NỢ CỦA HY LẠP
TRƯƠNG CÔNG PHÚ*
Khủng hoảng kinh tế nói chung và khủng hoảng tài chính - tín dụng
nói riêng là vấn đề rộng lớn. Trong bài này chỉ đề cập đến một số
khía cạnh của khủng hoảng nợ của Hy Lạp để minh chứng khủng hoảng
tài chính - tín dụng toàn cầu chưa dừng lại.
Khủng hoảng kinh tế thường bắt đầu từ khủng hoảng tài chính - tín
dụng đã diễn ra cách đây hàng mấy trăm năm. Chỉ riêng trong thời kỳ
năm 1970 - 2007 đã có 124 cuộc khủng hoảng ngân hàng, 208 cuộc khủng
hoảng tỷ giá hối đoái và 36 cuộc khủng hoảng nợ nhà nước. Cuộc khủng
hoảng tài chính - tín dụng toàn cầu từ năm 2007 đến nay, xét về quy
mô và tính chất phức tạp còn sâu rộng và trầm trọng hơn cuộc khủng
hoảng năm 1929 - 1933, vì cuộc khủng hoảng tài chính - tín dụng lần
này đã mở đầu cho cuộc tổng khủng hoảng toàn cầu, bao gồm không chỉ
khủng hoảng kinh tế mà còn khủng hoảng năng lượng, khủng hoảng lương
thực,... Dựa trên sự phục hồi bước đầu của một số nền kinh tế, có
những ý kiến của các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý, các nhà khoa học
của một số nước cho rằng thế giới đã vượt qua khủng hoảng tài chính
- tín dụng nói riêng và tổng khủng hoảng nói chung. Đáng tiếc là đầu
năm 2010, cuộc khủng hoảng nợ của Hy Lạp bùng phát làm đảo lộn những
dự báo lạc quan nói trên.
Hy Lạp có 11 triệu dân, diện tích 131.940km2, Tổng sản phẩm quốc nội
(GDP) 343 tỷ USD (danh nghĩa) và Tổng thu nhập bình quân đầu người
(PPP) 339,2 tỷ USD, xếp thứ 25 trên thế giới. Thu nhập bình quân đầu
người năm 2009 là 30.856 USD, tỷ lệ người nghèo dưới 2% và thất
nghiệp 9,8%. Hy Lạp thuộc nhóm các nước phát triển, về mức sống đứng
thứ 22 trên thế giới. Cơ cấu GDP của Hy Lạp: dịch vụ đóng tàu chiếm
75,8%, công nghiệp 20,8% và nông nghiệp 3,4%. Hy Lạp xếp thứ 24 về
toàn cầu hóa, là thành viên của IMF, WB, WTO, OECD,... Hy Lạp gia
nhập đồng tiền chung euro, gồm 16 nước: Áo, Bỉ, Síp, Phần Lan, Pháp,
Đức, Hy Lạp, Ailen, Italia, Lucxembua, Manta, Hà Lan, Bồ Đào Nha,
Slovakia, Slovenia và Tây Ban Nha. Khu vực này có 329 triệu dân, giá
trị GDP 8.400 tỷ euro, số thất nghiệp 10% gần bằng bình quân mức EU.
Hy Lạp nợ nước ngoài 413 tỷ USD, lớn hơn cả GDP (343 tỷ USD). Theo
Viện Tài chính quốc tế, thâm hụt ngân sách năm 2009 của Hy Lạp là
12,5% GDP. Đến ngày 19-5-2010, Hy Lạp phải trả nợ đến hạn 23 tỷ USD.
Vì vậy, từ đầu năm đến nay Hy Lạp và các nước trong khu vực đồng
euro tìm mọi cách huy động vốn để Hy Lạp có tiền trả nợ, tránh tình
trạng vỡ nợ. Nếu Hy Lạp phá sản sẽ gây ra phản ứng dây chuyền mà cận
kề là Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ailen và Italia. Giúp Hy Lạp trả nợ
là tự giúp mình, vì nợ Hy Lạp liên quan đến nhiều quốc gia khác, đến
số phận của đồng euro, của khu vực 16 nước sử dụng đồng euro nước và
27 quốc gia EU, hơn thế mức có thể liên quan đến bờ bên kia Đại Tây
Dương. Hãy xem xét tình hình sau đây: Ở Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đã
phát sinh những hiện tượng gần giống như những gì đã xảy ra trước
đây ở Hy Lạp. Không chỉ Hy Lạp bị các cơ quan đánh giá tín nhiệm tín
dụng hạ xuống cấp (BB+) mà Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha cũng lâm vào tình
trạng tương tự. Theo nhà kinh tế học Piero Ghessi, ước tính Tây Ban
Nha phải cân đối đến 450 tỷ USD cứu trợ, còn Italia chắc chắn phải
cần nhiều hơn. Các nước trong Câu lạc bộ Địa Trung Hải cũng nợ nhiều
chẳng kém gì Hy Lạp. Trong lúc Hy Lạp nợ Đức 33 tỷ euro thì Italia
nợ 123,5 tỷ euro, Tây Ban Nha nợ 156,4 tỷ euro và Bồ Đào Nha nợ Đức
tương tự như Hy Lạp.
Theo giải thích của Thủ tướng Hy Lạp George Papandreou với tờ The
Guardian, nguyên nhân khủng hoảng nợ của Hy Lạp “... là một cuộc tấn
công vào khu vực đồng euro bởi một số lợi ích chính trị hoặc tài
chính khác và thường các quốc gia bị sử dụng như khâu yếu của khu
vực đồng euro. Chúng tôi bị chọn làm mục tiêu, đặc biệt với động cơ
hoặc nghị trình được xếp đặt trước, và tất nhiên có đầu cơ trên thị
trường thế giới”.
Theo các phương tiện truyền thông phương Tây, cuộc khủng hoảng nợ
của Hy Lạp là do Hy Lạp có quá nhiều công chức viên chức, tuần làm
việc quá ngắn, người về hưu quá lớn với những khoản lương hưu hậu
hĩnh. Nhưng theo báo cáo của tổ chức Lao động quốc tế, công chức
viên chức Hy Lạp chiếm 22,3% tổng lực lượng lao động, so với Hà Lan
27%, Pháp 30% và Thụy Điển 34%. Theo cơ quan Thống kê của EU, công
nhân Hy Lạp làm 42 giờ một tuần, trong khi đó bình quân công nhân 27
nước EU làm 40 giờ một tuần. Cũng theo thống kê của cơ quan này,
tiền lương bình quân của Hy Lạp (bao gồm cả bảo hiểm xã hội và thuế)
chỉ có 803 euro, trong khi đó Pháp là 1.250 euro, Ailen 1.300 euro,
Hà Lan 1.400 euro. Theo Viện Lao động GSEE, trước khi áp dụng các
biện pháp tiết kiệm chi tiêu của Chính phủ, lương hưu bình quân của
Hy Lạp là 750 euro/tháng so với 950 euro của Tây Ban Nha, 1.700 euro
của Ailen, 2.800 euro của Bỉ và 3.200 euro của Hà Lan. Tuổi nghỉ hưu
bình quân của Hy Lạp là 61,4 tuổi, so với EU là 61,1 tuổi. Hiện nay
theo chương trình tiết kiệm để trả nợ của Hy Lạp, dự kiến tuổi nghỉ
hưu bình quân tăng lên đến 67 tuổi, lương hưu cắt giảm từ 30% - 50%.
Các số liệu trên chứng tỏ các phương tiện truyền thông phương Tây cố
tình bôi đen hình ảnh của xứ sở Olympia.
Theo chúng tôi, nguyên nhân trực tiếp của cuộc khủng hoảng nợ của Hy
Lạp là do trong những thập niên qua, Hy Lạp phát triển chủ yếu nhờ
vào các chính sách, biện pháp hỗ trợ từ Chính phủ, chưa quan tâm đầu
tư vào khoa học và công nghệ để cải tiến và nâng cao chất lượng hàng
hóa, dịch vụ, tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, tăng
sức cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ. Hy Lạp là nước có mức lương
lao động thấp nhất, nhưng lại có chi phí sản xuất, kinh doanh cao
vào loại nhất Tây Âu. Hy Lạp áp dụng các chính sách “Thu của người
nghèo để cho người giàu”. Nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước
là thuế đánh vào người làm công ăn lương và tầng lớp trung lưu. Thuế
đánh vào thu nhập của người lao động ở Hy Lạp thuộc diện cao nhất,
còn thuế doanh nghiệp thuộc diện thấp nhất trong các nước EU. Hy Lạp
còn cho phép người sử dụng lao động miễn thực hiện nghĩa vụ đóng góp
vào quỹ hưu trí với tổng số tiền hàng năm lên tới 10 tỷ euro. Thực
hiện các chính sách trên với việc buông lỏng tín dụng và vay để chi
tiêu đã làm giàu cho giai cấp tư sản trong và ngoài nước, làm cho
cuộc sống của nhân dân lao động ngày càng khó khăn, làm tăng sự phân
hóa giàu nghèo ở Hy Lạp trong mấy thập niên qua.
Nguyên nhân sâu xa và cơ bản của cuộc khủng hoảng nợ của Hy Lạp nói
riêng và khủng hoảng kinh tế nói chung là mâu thuẫn giữa tính chất
xã hội với tính chất tư nhân tư bản của kinh tế thị trường. Dĩ nhiên,
kinh tế thị trường khác với kinh tế tự cung, tự cấp, khác hẳn với
kinh tế của các nước xã hội chủ nghĩa trong thế kỷ XX. Đặc điểm vận
động của kinh tế thị trường là “phát triển - khủng hoảng”. Sự thống
nhất giữa hai mặt của mâu thuẫn tạo ra sự phát triển, sự đối lập
giữa hai mặt của mâu thuẫn tạo ra khủng hoảng. Chính vì vậy, chừng
nào mâu thuẫn này chưa mất đi thì chứng tỏ kinh tế thị trường vẫn
còn “phát triển - khủng hoảng”. Do mâu thuẫn nói trên tồn tại khách
quan, nên vai trò và tác động của tính chất tư nhân tư bản trong sự
phát triển kinh tế thị trường là tất yếu lịch sử. Khi phân tích hai
mặt của kinh tế thị trường, C.Mác không chỉ phê phán sâu sắc chế độ
phân phối bất công của chủ nghĩa tư bản mà còn cho rằng “Giai cấp tư
sản đóng vai trò quan trọng trong lịch sử”. Tính tất yếu và vai trò
lịch sử của chủ nghĩa tư bản là tạo ra và phát triển lực lượng sản
xuất hiện đại bằng các cuộc cách mạng khoa học, công nghệ và đào tạo
nhân lực. Chính điều này, dẫn đến sự xung đột giữa lực lượng sản
xuất mới với quan hệ sản xuất mà biểu hiện của nó là thể chế kinh tế.
Khi chủ nghĩa tư bản thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất hiện
đại, tức là phát triển tính chất xã hội, lại tạo ra nhân tố phủ định
từng bước tính chất tư bản trong kinh tế thị trường. Sự phát triển
tính chất xã hội trong kinh tế thị trường diễn ra từ thấp lên cao. Ở
giai đoạn thấp, tính chất xã hội chỉ là kết quả của nhà tư bản thu
hút lao động cá thể vào quá trình hợp tác - phân công của hệ thống
phân công lao động xã hội, tạo ra năng suất lao động xã hội. Giai
đoạn cao kinh tế thị trường (kinh tế tri thức) thì tính chất xã hội
chủ yếu thể hiện ở sự phát triển của cá nhân người lao động từ “con
người kinh tế” phát triển thành “con người văn hóa” trong giai đoạn
kinh tế tri thức. Đó sẽ mở đầu cho giai đoạn phát triển mới.
Cuộc khủng hoảng nợ của Hy Lạp buộc nhân dân lao động Hy Lạp gánh
chịu những hậu quả nặng nề. Khi cuộc khủng hoảng tài chính - tín
dụng toàn cầu bùng nổ, các ngân hàng Hy Lạp đứng trước nguy cơ phá
sản. Để cứu trợ các ông chủ ngân hàng, chính phủ Hy Lạp đã sử dụng
số vốn khổng lồ là 28 tỷ euro, làm cho ngân sách nhà nước của Hy Lạp
tăng từ 6,2% lên 12,5% GDP chỉ trong vòng 6 tháng cuối năm 2009.
Trên thực tế, chính phủ Hy Lạp đã biến các khoản nợ của các ngân
hàng tư nhân thành nợ công và bắt toàn xã hội gánh chịu. Trong khi
đó, Ngân hàng trung ương châu Âu cho các ngân hàng tư nhân Hy Lạp
vay với lãi suất 1%/năm thì các ngân hàng tư nhân Hy Lạp cho vay lại
với lãi suất 7%/năm. Thực hiện cam kết với chủ nợ, giảm thâm hụt
ngân sách nhà nước từ 12,5% xuống còn 3% GDP, chính phủ Hy Lạp phải
thu thêm từ người dân 25 tỷ euro trong vòng 3 năm tới. Để đảm bảo
nguồn vốn chi trong năm 2010, chính phủ Hy Lạp đã phát hành 55 tỷ
euro trái phiếu với lãi suất 6,2%/năm cộng với chi phí ngân hàng lên
tới 8% năm. Dĩ nhiên, người dân Hy Lạp phải trả khoản nợ này. Theo
yêu cầu của EU và IMF, để trả nợ và thực hiện lộ trình giảm thâm hụt
ngân sách Nhà nước, chính phủ Hy Lạp sẽ áp dụng các biện pháp tăng
thuế và giảm chi tiêu công, cắt giảm các chương trình phúc lợi xã
hội, các mạng an sinh, thành quả đấu tranh hàng trăm năm của giai
cấp công nhân và nhân dân lao động Hy Lạp. Mặc dù thất nghiệp lên
đến 16%, nhưng trong thời gian tới chính phủ Hy Lạp dự kiến “chỉ
tuyển dụng một người khi có năm người về hưu, thực hiện cắt giảm
thêm việc làm, tiền lương và các chế độ đối với người hưu trí”. Hệ
thống giáo dục, y tế vốn đã thiếu kinh phí nghiêm trọng sẽ tiếp tục
bị cắt giảm chi tiêu và thực hiện “xã hội hóa” giáo dục và y tế.
Chính phủ cũng chủ trương tư nhân hóa hệ thống bảo hiểm lương hưu và
bảo hiểm xã hội, tiến hành tư nhân hóa các dịch vụ giao thông vận
tải, bưu chính viễn thông, năng lượng, mức sinh hoạt,... Kết quả sẽ
là người dân Hy Lạp vừa phải chịu thuế cao, vừa bị cắt giảm việc làm,
thu nhập, phúc lợi. Theo Thủ tướng Hy Lạp George Papandreou, thực
hiện các chính sách, cơ chế trên để “khôi phục tín nhiệm của thị
trường quốc tế” thì người dân Hy Lạp phải trả giá quá đắt.
Những chính sách và cơ chế nói trên của chính phủ Hy Lạp không có gì
mới. Ngay từ đầu những năm 80 của thế kỷ trước, nhằm tăng tích lũy
cho giai cấp tư sản, những nhà nước theo chủ nghĩa tự do mới từ
Thatcher đến Reagan đều có xu hướng tấn công vào những thành quả của
người lao động, thu hẹp khu vực công hoặc xã hội hóa; tư nhân hóa
những dịch vụ quan trọng như y tế, giáo dục, giao thông vận tải, bưu
chính viễn thông, điện, nước... Trong cuộc khủng hoảng tài chính -
tín dụng toàn cầu lần này, các chính sách và cơ chế nói trên đã được
áp dụng một cách tối đa ở các nước tư bản chủ nghĩa.
* VS-TSKH, Ủy viên Đoàn Chủ tịch, Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn về kinh
tế, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
|
TCMT
| Trở Về đầu trang
|
|