|
|
 |
|
|
TIN MỚI :
thông tin được cập nhật liên tục
| |
|
|
 |
|
|
SỐ
81 ( 7 - 2010 ) |
|
|
|
|
|
NGHIÊN CỨU ĐỊA PHƯƠNG |
|
Cơ
chế nào để Mặt trận giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng
nhân dân và Uỷ ban nhân dân
Phát
triển du lịch tâm linh ở Thừa Thiên Huế
|
|
|
|
|
Cơ chế nào
ĐỂ MẶT TRẬN GIÁM SÁT VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ UỶ BAN NHÂN DÂN
NGUYỄN PHI HÙNG*
Nghị quyết số 48-NQ/TW, ngày 24-5-2005 của Bộ Chính trị Ban Chấp
hành Trung ương Đảng về “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020” xác định:
Để xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa
thật sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân đòi hỏi phải thực
hiện nhiều nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, trong đó có nhiệm vụ xây
dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất,
hiệu lực và hiệu quả, là cơ sở pháp lý điều chỉnh đầy đủ, toàn diện
mọi quan hệ của xã hội. Để thực hiện tốt nhiệm vụ trên, một trong
những yêu cầu được đặt ra là phải tăng cường công tác kiểm tra, giám
sát và xử lý văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật nhằm xây dựng
hệ thống pháp luật Việt Nam đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, thống
nhất, minh bạch và hiệu quả.
Giám sát việc ban hành và chấp hành văn bản quy phạm pháp luật là
nhiệm vụ quan trọng của các cơ quan Nhà nước, Mặt trận và các đoàn
thể nhân dân được pháp luật quy định. Qua đó “phát hiện những nội
dung sai trái hoặc không còn phù hợp để kịp thời đình chỉ việc thi
hành, sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hoặc bãi bỏ...”1, góp phần làm cho hệ
thống pháp luật đảm bảo tính thống nhất từ Trung ương đến cơ sở,
giúp các văn bản quy phạm pháp luật phát huy hiệu lực và hiệu quả,
ngăn ngừa và loại bỏ các văn bản trái với quy định của Hiến pháp và
pháp luật.
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy
ban nhân dân năm 2004, quy định rõ: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
các tổ chức thành viên của Mặt trận, cơ quan, tổ chức khác và nhân
dân địa phương tham gia giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Hội
đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và kiến nghị với cơ quan, cá nhân có
thẩm quyền xử lý văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật”2. Như
vậy, giám sát việc ban hành và chấp hành văn bản quy phạm pháp luật
của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp là chức năng, nhiệm
vụ quan trọng được pháp luật quy định cho Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận cùng cấp.
Việc Mặt trận giám sát, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội
đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân chính là xem xét về hình thức và nội
dung văn bản để xác định tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất
của văn bản trong cả hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nhằm phát
hiện những nội dung trái pháp luật của văn bản, kịp thời kiến nghị
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đình chỉ thi hành, sửa đổi, hủy bỏ
hoặc bãi bỏ. Thực hiện tốt chức năng này không chỉ có ý nghĩa ở góc
độ quản lý nhà nước mà còn có ý nghĩa dưới góc độ dân chủ, bảo đảm
quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của cá nhân, tổ chức.
Tuy nhiên, trong 5 năm qua (kể từ thời điểm Luật Ban hành văn bản
quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2004
có hiệu lực) quy định trên của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ giám
sát của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các đoàn thể
nhân dân đối với văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và
Ủy ban nhân dân cùng cấp dường như chưa thể thực hiện được, không
khả thi và mang tính hình thức. Bởi lẽ, trong chừng ấy thời gian
chưa có bất kỳ một văn bản quy phạm pháp luật nào của Hội đồng nhân
dân và Ủy ban nhân dân cùng cấp được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam các cấp tỉnh Quảng Nam phát hiện có dấu hiệu trái luật để kiến
nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ.
Trong khi đó, các cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản quy phạm
pháp luật (Sở Tư pháp; các Phòng Tư pháp cấp huyện) thực hiện việc
kiểm tra đã phát hiện hàng chục văn bản quy phạm pháp luật của Hội
đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp vi phạm mỗi năm3. Điều này
cho thấy chức năng kiểm tra, giám sát văn bản quy phạm pháp luật của
Mặt trận trong lĩnh vực này còn rất nhiều hạn chế và yếu kém.
Nguyên nhân của những hạn chế nêu trên trước hết xuất phát từ quy
định của pháp luật hiện hành về bản chất giám sát của Mặt trận là
giám sát mang tính nhân dân, chỉ có ý nghĩa phát hiện và kiến nghị
chứ không mang tính chất quyền lực như giám sát của cơ quan Nhà nước.
Hơn nữa, pháp luật hiện hành chỉ quy định thẩm quyền kiểm tra, xử lý
văn bản quy phạm pháp luật cho hệ thống cơ quan hành pháp có thẩm
quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Trong khi đó, giữa giám
sát và kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật là hai hoạt động có cùng
mục đích, quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ cho nhau. Tiếp nữa, bản
thân Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp (nhất là cơ sở) thật
sự “quá sức” (chưa đủ năng lực về chuyên môn trong lĩnh vực luật
pháp) để thực hiện nhiệm vụ quan trọng này. Đồng thời, Hội đồng nhân
dân và Ủy ban nhân dân các cấp chưa kịp thời gửi văn bản quy phạm
pháp luật do mình ban hành cho Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
các tổ chức thành viên cùng cấp nên gây nhiều khó khăn về mặt thông
tin cho Mặt trận thực hiện quyền giám sát, kiểm tra văn bản.
Vậy, cơ chế nào để Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các
tổ chức thành viên có “thực quyền” trong việc giám sát văn bản quy
phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cùng cấp?
Trước hết, cần luật hóa chức năng giám sát của Mặt trận đối với văn
bản quy pháp pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.
Theo đó, sửa đổi, bổ sung Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2004 theo hướng quy
định rõ Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có chức năng, nhiệm vụ kiểm
tra, giám sát văn bản theo quy định của pháp luật về kiểm tra, xử lý
văn bản quy phạm pháp luật. Đồng thời khẳng định và bổ sung vào Luật
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ
quốc và các đoàn thể nhân dân trong việc giám sát và tham gia kiểm
tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy
ban nhân dân tại địa phương.
Thứ hai, cần bổ sung những quy định của pháp luật về kiểm tra, xử lý
văn bản quy phạm pháp luật về sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam trong quá trình kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật.
Nghĩa là, đồng thời với hệ thống cơ quan Nhà nước có thẩm quyền kiểm
tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật thì Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam các cấp cũng được thực hiện thẩm quyền trên, tất nhiên với
tư cách phối hợp. Theo đó, đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
các cấp tham gia các Đoàn kiểm tra liên ngành về kiểm tra, xử lý văn
bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các
cấp.
Thứ ba, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm
tạo điều kiện để Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức
thành viên và nhân dân tham gia giám sát, kiểm tra văn bản quy phạm
pháp luật do mình ban hành theo quy định của pháp luật. Đồng thời Ủy
ban nhân dân các cấp phân bổ một cách hợp lý kinh phí cho Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp để thực hiện nhiệm vụ này.
Thứ tư, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp cần chủ động thực
hiện chức năng trên một cách hiệu quả. Tăng cường cán bộ, công chức
có đủ trình độ chuyên môn về pháp luật, kinh nghiệm xây dựng văn bản,
nắm bắt chặt chẽ quy định của pháp luật về quy trình, thẩm quyền ban
hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân
dân. Đồng thời, Mặt trận các cấp phải chủ động tiếp cận văn bản quy
phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngay từ đầu
như tích cực tham gia xây dựng (góp ý dự thảo Nghị quyết của Hội
đồng nhân dân và Quyết định, Chỉ thị của Ủy ban nhân dân) và phối
hợp tổ chức tốt công tác tuyên truyền, phổ biến văn bản quy phạm
pháp luật để thông qua đó phát hiện những văn bản pháp luật được ban
hành trái thẩm quyền (thẩm quyền về nội dung và hình thức), vi phạm
quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng
nhân dân và Ủy ban nhân dân để kiến nghị xử lý.
Làm tốt các yêu cầu trên nhất định sẽ tạo ra những cơ chế thiết thực
phát huy vai trò, chức năng của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
các tổ chức thành viên của Mặt trận các cấp trong việc tham gia giám
sát quá trình ban hành và chấp hành văn bản quy phạm pháp luật của
Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cùng cấp. Đó cũng chính là nhu
cầu tất yếu, một phương thức cơ bản để phát huy quyền làm chủ của
nhân dân tham gia vào sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt
Nam xã hội chủ nghĩa thật sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
_______________________________________
1. Điều 87 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008;
2. Khoản 4 Điều 9 Luật Ban hành văn bản quy phạp pháp luật của Hội
đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2004.
3. Ở Quảng Nam, trong thời gian qua, đối với cấp tỉnh, đã phát hiện
và kiến nghị bãi bỏ 51 văn bản hết hiệu lực; bãi bỏ một số điều của
3 Quyết định. Đối với cấp huyện, phát hiện và đề nghị xử lý 36 văn
bản.
* Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Quảng Nam.
|
TCMT
| Trở Về đầu trang
|
|
|
|
PHÁT TRIỂN DU LỊCH TÂM LINH Ở THỪA THIÊN - HUẾ
TRẦN CÔNG DŨNG*
Thừa Thiên - Huế là một trong số ít những địa phương đã xây dựng
thành công loại hình du lịch tâm linh, một loại hình du lịch hấp dẫn,
đem lại giá trị kinh tế và có tác động tích cực đến môi trường, làm
phong phú thêm đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân, góp phần
củng cố an sinh xã hội. Loại hình du lịch nói trên, một mặt giúp
khai thác có hiệu quả tiềm năng của một vùng đất địa linh, nhân kiệt,
có đời sống văn hóa - tín ngưỡng phong phú, mặt khác thể hiện một
đường lối lãnh đạo, quản lý đúng đắn, đầy tâm huyết của cấp ủy đảng
và chính quyền địa phương. Nó càng chứng tỏ sự cởi mở trong chính
sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, giúp khơi dậy trong nhân dân
niềm cảm hứng dựng xây, phát huy những giá trị văn hóa đặc sắc của
dân tộc trên quê hương Thừa Thiên - Huế.
Có thể nói, các “Điểm đến tâm linh” ở Thừa Thiên - Huế đều được hình
thành một cách tự nhiên, do sự tích hợp lâu dài của quá trình phát
triển lịch sử, của đời sống kinh tế - xã hội, tín ngưỡng và tôn giáo.
Đây là yếu tố cơ bản để định hình nên giá trị cốt lõi (giá trị tâm
linh) của điểm đến. Tuy nhiên, để chuyển hóa từ một “Điểm đến” thành
một “Khu du lịch tâm linh” thu hút, hấp dẫn khách du lịch thực sự là
cả một quá trình dài, huân tập nhiều “nhân duyên” và sự đầu tư công
sức, tiền của lớn. Bởi lẽ, những cơ sở du lịch tâm linh hiện có (và
nhiều cơ sở đang và sẽ được tạo dựng về sau) được khởi tạo từ những
di tích rất nhỏ, luôn bị tàn phá bởi thiên nhiên khắc nghiệt và các
cuộc chiến tranh liên miên.
Trên thực tế, có nhiều công trình Nhà nước đã phải đầu tư rất lớn
việc tôn tạo và có khi là phục dựng toàn bộ. Trong một số trường hợp
không phải Nhà nước làm chủ đầu tư thì cũng đóng vai trò rất lớn
trong việc cấp đất và tạo mọi điều kiện thuận lợi để các tổ chức tôn
giáo xây dựng và phát triển các cơ sở của mình thành những điểm đến
du lịch. Tiêu biểu cho các điểm đến du lịch tâm linh ở Thừa Thiên -
Huế, là: Khu du lịch tâm linh Quán Thế Âm, Huyền Không Sơn Thượng,
Thiền viện Trúc lâm Bạch Mã, Đền thờ Huyền Trân công chúa, Tượng đài
Hoàng đế Quang Trung ở núi Bân...
Đầu năm 2006, Uỷ ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên - Huế đã đồng ý cho
Công ty Du lịch Hương Giang (nay là Công ty cổ phần Du lịch Hương
Giang) chủ trì xây dựng Trung tâm văn hoá Huyền Trân tại thôn Ngũ
Tây, xã Thuỷ An, thành phố Huế với tổng diện tích khoảng 28ha. Tính
đến nay, tổng vốn đầu tư đã lên đến 30 tỷ đồng. Đây thực sự là một
công trình văn hóa có quy mô lớn, mang giá trị văn hóa - nghệ thuật
cao. Công trình tọa lạc trên một khu vực có đồi núi dốc thoai thoải,
có rừng thông bao xung quanh rất thích hợp cho những dự án văn hoá
mang tính tâm linh, về nguồn. Tượng
đài Hoàng đế Quang Trung và khu di tích núi Bân cũng được Nhà nước
đầu tư xây dựng với quy mô lớn để đáp ứng lòng tưởng nhớ và tôn vinh
người anh hùng dân tộc của Phong trào Tây Sơn. Tượng đài Hoàng đế
Quang Trung cao 21m (phần tượng 12m, phần đài 9m), được làm bằng
chất liệu đá xanh xám Thanh Hóa. Cả khu tưởng niệm có diện tích
25.467m2, gồm các hạng mục: sân hành lễ, quảng trường lễ hội, nhà
trưng bày tư liệu, hiện vật của phong trào khởi nghĩa Tây Sơn, vườn
cây xanh và các công trình phụ trợ khác. Tổng kinh phí đầu tư tôn
tạo hơn 39 tỷ đồng. Còn phải kể đến nhiều công trình thuộc quần thể
di tích lịch sử mà hoạt động của nó gắn liền với đời sống tâm linh
của đa số quần chúng nhân dân, như: Đàn Nam Giao, Đàn Xã Tắc... Việc
tôn tạo di tích, phục dựng các lễ tế cáo Trời, Đất... đúng với
nguyên bản thời gian qua, tuy cần nhiều công sức, tiền bạc, nhưng nó
chứng tỏ một hướng đi đúng và tâm huyết của bao thế hệ.
Đối với những công trình do các tổ chức tôn giáo làm chủ đầu tư,
trước hết phải kể đến Khu du lịch tâm linh Quán Thế Âm - công trình
được Tỉnh ủy và Uỷ ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên - Huế đặc biệt quan
tâm hỗ trợ. Năm 2006, Ban Trị sự Phật giáo tỉnh đã có thư trình Uỷ
ban nhân dân tỉnh xin phép mở rộng diện tích sinh hoạt thuộc khu vực
tôn tượng và xây dựng một Trung tâm Du lịch Tâm linh với nhiều hạng
mục chi tiết,ø đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt theo Quyết
định số 2.886/QĐ-Uỷ ban, ngày 19-12-2008 với diện tích đất cấp cho
công trình là 16,36ha (số vốn đầu tư dự kiến là 110 tỷ đồng). Khu du
lịch tâm linh Huyền Không Sơn Thượng cũng có chủ đầu tư là Ban Trị
sự Giáo hội Phật giáo tỉnh Thừa Thiên - Huế (tổng vốn đầu tư là 47
tỷ đồng) được Uỷ ban nhân dân tỉnh cấp đất xây dựng là 5ha. Khu du
lịch tâm linh Thiền viện Trúc lâm Bạch Mã tại khu sinh thái rừng
Bạch Mã, thuộc xã Lộc Hoà (huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế)
được khởi công xây dựng ngày 30-3-2006 (tổng kinh phí xây dựng trên
14,5 tỷ đồng)...
Theo thời gian, những điểm đến tâm linh vẫn không ngừng được xây
dựng và phát triển. Với sự chỉ đạo và hỗ trợ kinh phí hiệu quả của
chính quyền các cấp, khi các “điểm đến tâm linh” hội đủ điều kiện
cần thiết, chúng lại trở thành những địa điểm du lịch hấp dẫn, mời
gọi, không chỉ giúp cho Thừa Thiên - Huế phát triển bền vững ngành
du lịch mà cả phát triển kinh tế - xã hội nói chung.
Đối với các khu du lịch tâm linh, song song với quá trình tôn tạo,
hoạt động quảng bá cũng quan trọng không kém. Những thông tin, hình
ảnh về thiên nhiên tươi đẹp, những nơi chốn thiêng liêng đang trầm
tích các giá trị văn hóa, tâm linh bao đời của tiền nhân trên mảnh
đất Thừa Thiên - Huế cũng sẽ được chuyển tải kịp thời, đầy đủ đến
với du khách. Nhìn vào số lượng sách báo, truyền hình, các trang
web... đã được sử dụng một cách thuận lợi, càng thấy tầm nhìn cũng
như ý nghĩa của sự hỗ trợ to lớn của Đảng và Nhà nước trong hoạt
động quảng bá cho các khu du lịch tâm linh. Trong tương lai, hoạt
động này sẽ được tăng cường hơn nữa, để lượng thông tin phản ánh
đúng tầm vóc, giá trị của các điểm đến mà chúng ta đang có.
Phải khẳng định rằng, chính sách cởi mở của Đảng và Nhà nước ta về
vấn đề tôn giáo và tín ngưỡng đã tạo điều kiện cho loại hình du lịch
tâm linh phát triển. Mở đầu phải kể đến quan điểm đổi mới của Đảng
về tôn giáo và công tác tôn giáo từ Nghị quyết 24-NQ/Trung ương,
ngày 16-10-1990 của Bộ Chính trị: “Tôn giáo là một vấn đề còn tồn
tại lâu dài. Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ
phận nhân dân. Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc
xây dựng xã hội mới. Chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là
tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện đoàn kết
lương giáo, đoàn kết toàn dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Ngày
2-7-1998, Bộ Chính trị đã có Chỉ thị số 37/CT-TW về công tác tôn
giáo trong tình hình mới: “Những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp
của tôn giáo được tôn trọng và khuyến khích phát huy”. Tiếp đến, Bộ
Chính trị, Ban Bí thư đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị về công tác
tôn giáo, trong đó có một nghị quyết riêng về vấn đề tôn giáo - Nghị
quyết 25/NQ-TW, ngày 12-3-2003 của Ban Chấp hành Trung ương lần thứ
7 (khóa IX). Đây là văn kiện thể hiện tập trung nhận thức lý luận
của Đảng trên lĩnh vực tôn giáo và văn hóa tôn giáo, khẳng định và
phân biệt rõ tín ngưỡng và tôn giáo, “tín ngưỡng và tôn giáo sẽ tồn
tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Nghị
quyết đã bổ sung thêm nội dung: Giữ gìn và phát huy giá trị tích cực
của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có công với
Tổ quốc và nhân dân, đề cao những điểm tương đồng, mẫu số chung giữa
những người có hoặc không có tín ngưỡng, tôn giáo hoặc những người
có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau để phấn đấu vì mục tiêu chung của
dân tộc.
Cách nhìn tôn giáo đổi mới, mở rộng từ giác độ chính trị sang giác
độ văn hóa, đạo đức của Đảng và Nhà nước ta đã có tác động tích cực,
mạnh mẽ đến hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng. Đây chính là chỗ dựa
vững chắc để Tỉnh ủy Thừa Thiên - Huế lãnh đạo các cấp chính quyền,
nhân dân và các đoàn thể xã hội, tổ chức tôn giáo tiến hành xây dựng,
phát triển loại hình du lịch tâm linh một cách có hiệu quả với tinh
thần: thêm một điểm đến an lành, xã hội sẽ thêm phần bình yên, hạnh
phúc. Đây cũng là điều kiện và cơ hội để xây dựng sự đồng thuận xã
hội, cả đất nước cùng tiến tới mục tiêu chung: dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
* ThS, Trường Chính trị Nguyễn Chí Thanh, Thừa Thiên - Huế.
|
TCMT
| Trở Về đầu trang
|
|
|
|
|
|
 |
|
|
|
|

Ngày hội đại
đoàn kết toàn dân tộc năm 2009

Các điển
hình tiêu biểu trong CVĐ TDĐKXDĐSVH ở KDC
(2004-2009)

Đối ngoại
nhân dân MTTQ
(2004-2009)
|
|

Ngày hội đại
đoàn kết toàn dân tộc năm 2008 |
|
|
hoan nghênh bạn đọc góp ý cho tạp chí |
|
|
|
| |
 |
|
|