|
|
 |
|
|
TIN MỚI :
thông tin được cập nhật liên tục
| |
|
|
 |
|
|
SỐ
81 ( 7 - 2010 ) |
|
|
|
|
|
KINH NGHIỆM THỰC TIỄN |
|
Công
tác tuyên truyền, vận động bảo vệ môi trường trong cuộc vận động "Toàn
dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư"
Mặt
trận tổ quốc Việt Nam với công tác xây dựng mô hình điểm Bảo vệ môi trường
Bàn
về chữ tín
|
|
|
CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN, VẬN ĐỘNG BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG TRONG CUỘC VẬN ĐỘNG “TOÀN DÂN ĐOÀN KẾT XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN
HÓA Ở KHU DÂN CƯ”
NGUYỄN LAM*
Công tác bảo vệ môi trường như Chỉ thị số 36-CT/TW của Bộ Chính trị
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) xác định “là sự nghiệp của
toàn Đảng, toàn dân và toàn quân”. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ
chức liên minh chính trị rộng rãi, nơi tập hợp sức mạnh của khối đại
đoàn kết toàn dân, hơn ai hết càng có trách nhiệm cùng với Đảng, Nhà
nước, các đoàn thể chính trị quán triệt, vận động các cấp, các ngành,
mọi tầng lớp nhân dân tích cực thực hiện chính sách, pháp luật, các
qui định về bảo vệ môi trường để đảm bảo cho sự phát triển bền vững
của đất nước.
Những năm qua, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã có nhiều hoạt động tích
cực tham gia công tác bảo vệ môi trường, như: đưa nội dung bảo vệ
môi trường vào cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống
văn hoá ở khu dân cư”; ký Nghị quyết liên tịch giữa Ban Thường trực
Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Bộ Tài nguyên và Môi
trường về việc phối hợp thực hiện Chiến lược bảo vệ môi trường quốc
gia; tham gia xây dựng các hương ước, qui ước; xây dựng chế độ tự
quản gắn với công tác bảo vệ môi trường ở khu dân cư...
Đặc biệt phải kể đến Chương trình thực hiện của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam từ năm 2004 đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020: “Toàn
dân tham gia bảo vệ môi trường” (nhằm thực hiện một trong 36 Chương
trình ưu tiên quốc gia, do Chính phủ xây dựng); bước đầu, chương
trình này đang được triển khai thực hiện.
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên đã tích
cực vận động các tầng lớp nhân dân và đoàn viên, hội viên thực hiện
tốt các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của
Nhà nước về bảo vệ môi trường. Để làm được việc này, Ban Thường trực
Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã có kế hoạch, chương
trình chỉ đạo Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp lồng ghép
nhiệm vụ bảo vệ môi trường vào cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”.
Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư”
do Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khởi xướng và chủ trì
thực hiện từ tháng 5-1995 (năm 2001 đổi tên thành cuộc vận động
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”), là một
cuộc vận động mang tính toàn dân, toàn diện và toàn quốc, được phát
động trong thời kỳ đổi mới của đất nước; trên cơ sở kế thừa, phát
huy những kinh nghiệm và kết quả các cuộc vận động, các phong trào
thi đua yêu nước của nhân dân trong cả nước. Lúc đầu, cuộc vận động
có 5 nội dung (sau đó bổ sung thêm thành 6 nội dung), trong đó có
nội dung vận động bảo vệ môi trường. Đến nay đã có 63/63 tỉnh, thành
ủy và hầu hết các quận, huyện ủy, các cấp ủy Đảng cơ sở có văn bản
chỉ đạo, tăng cường sự phối hợp với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
đẩy mạnh cuộc vận động này.
15 năm qua, hơn 10 vạn khu dân cư (gần 100% tổng số khu dân cư trong
cả nước), triển khai thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” trong đó có nội dung bảo vệ môi
trường, đã mang lại những kết quả khá toàn diện... Nhờ có cuộc vận
động tạo điều kiện thuận lợi mà phong trào toàn dân tham gia bảo vệ
môi trường được phát triển, mở rộng.
Từ năm 2004, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp triển khai thực hiện
Nghị quyết liên tịch số 01/2004/NQLT-MTTQ-BTNMT ngày 28-10-2004 giữa
Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Bộ
Tài nguyên và Môi trường về việc phối hợp thực hiện Chiến lược Bảo
vệ môi trường quốc gia. Hàng năm, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
các cấp đã phối hợp với các cơ quan chức năng khảo sát, đánh giá và
hướng dẫn xây dựng, thực hiện phong trào toàn dân tham gia bảo vệ
môi trường, vận động mọi người dân giữ gìn môi trường, “xanh, sạch,
đẹp”... Quá trình tổ chức thực hiện cuộc vận động ở khu dân cư đã
xuất hiện nhiều mô hình, điển hình phong phú và đang được rút kinh
nghiệm, nhân rộng ra toàn quốc.
Vào dịp kỷ niệm Ngày môi trường thế giới (5-6) hằng năm, các xã,
phường, thị trấn có xây dựng mô hình điểm đều tổ chức mít tinh, ra
quân dọn vệ sinh môi trường dọc các đường giao thông, nơi công cộng
của khu dân cư. Đồng thời còn tổ chức giao lưu văn nghệ tại các khu
dân cư, thi đua trong các hội, đoàn thể về công tác tuyên truyền
thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường; bảo vệ và phát triển tài
nguyên thiên nhiên, giảm thiểu ô nhiễm, nêu gương các điển hình cho
nhân dân noi theo trong việc bảo vệ môi trường.
Mỗi tháng, Ban Công tác Mặt trận, Ban Vận động và các Tổ tự quản bảo
vệ môi trường đều huy động các thành viên trong cộng đồng dân cư
tham gia hoạt động bảo vệ môi trường ở khu dân cư; phối hợp nâng cấp
đường giao thông nông thôn, trồng cây xanh ở những nơi công cộng,
xây dựng khu dân cư ngày càng xanh - sạch - đẹp.
Những vấn đề bức xúc từ thực tế về môi trường của thôn, làng đã được
người dân chủ động bàn bạc xử lý theo nội dung đã cam kết của các hộ
gia đình. Người dân ở khu dân cư nâng cao ý thức tự giác, chủ động
bảo vệ môi trường từ trong mỗi gia đình ra ngoài ngõ, xóm; tình làng
nghĩa xóm được gắn kết chặt chẽ hơn.
Tại nhiều khu dân cư, vai trò của Ban Công tác Mặt trận đã có tác
động tích cực trong việc tập trung giải quyết một số vấn đề bức xúc
trong cộng đồng, như: vệ sinh môi trường, nâng cấp và cải tạo đường
làng, ngõ xóm, các hẻm ngập úng, xóa cầu khỉ, làm cầu bê tông bền
vững, đưa điện, nước về từng hộ gia đình; giúp nhau xoá nhà tranh
vách đất; cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới trường học, trạm xá...
Cuộc vận động đã đem lại cho các khu dân cư một sức mạnh mới để tổ
chức nhân dân tự giải quyết những yêu cầu, những đòi hỏi cần thiết
trong cuộc sống hàng ngày. Với phương châm “nhân dân tự làm”, “nhân
dân và nhà nước cùng làm”, cuộc vận động đã góp phần làm thay đổi
cảnh quan nhiều khu dân cư ở cả khu vực nông thôn lẫn đô thị...
Các cấp Mặt trận đã phối hợp với các cấp chính quyền, với ngành văn
hoá gắn kết chặt chẽ trong quá trình tổ chức thực hiện cuộc vận động
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” làm cho
nội dung xây dựng làng xã văn hóa, gia đình văn hóa thiết thực hơn.
Các tệ nạn xã hội, như: rượu chè, cờ bạc, trộm cắp, mại dâm ở nhiều
khu dân cư đã giảm hẳn. Những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, trong
mỗi gia đình, những xích mích giữa các hộ trong khu dân cư phần lớn
được giải quyết thông qua hòa giải.
Việc công nhận các danh hiệu thi đua, như: Gia đình văn hoá, Khu dân
cư tiên tiến, Khu dân cư văn hoá ngày một được các địa phương quan
tâm, coi trọng về chất lượng.
Thông qua cuộc vận động, nhiều khu dân cư đã xóa bỏ được những tập
tục lạc hậu, đấu tranh chống mê tín, dị đoan, xây dựng và thực hiện
những tập quán mới, như: dùng nước sạch, từng bước xoá bỏ cầu tiêu
trên ao, trên sông, ốm đau đều đến khám chữa bệnh tại trạm xá, bệnh
viện; xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước, trong đó có nội dung
về bảo vệ môi trường đặc biệt là ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số.
Ở nhiều địa phương, Mặt trận phối hợp với chính quyền vận động nhân
dân dần dần xoá bỏ những tập tục lạc hậu về việc tang, việc thả rông
gia súc, định canh, định cư, bảo vệ rừng đầu nguồn,...
Qua hơn 10 năm thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng
đời sống văn hoá ở khu dân cư” gắn với nội dung bảo vệ môi trường do
Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đề xướng và tổ chức thực
hiện, bước đầu có thể rút ra một số nhận xét, đánh giá sau:
Một là, cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở
khu dân cư”, là cuộc vận động lớn, mang tính toàn dân, toàn diện,
toàn quốc và lâu dài, có nhiều nội dung thiết thực với đời sống của
nhân dân, trong đó có nội dung về bảo vệ môi trường. Những năm qua,
cuộc vận động đã tạo ra những chuyển biến tích cực ở cộng đồng dân
cư. Ở đây, xây dựng đời sống văn hóa được gắn với nhiều nội dung
khác của cuộc vận động, nên có tác động thúc đẩy lẫn nhau và tạo ra
được môi trường văn hóa lành mạnh, góp phần gìn giữ thuần phong mỹ
tục, bảo tồn truyền thống văn hóa tốt đẹp của nhân dân ta.
Hai là, cùng với sự chăm lo phát triển kinh tế, các lĩnh vực xã hội
cũng được quan tâm và có những tiến bộ đáng kể. Cuộc vận động “Toàn
dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” đã thể hiện nét
nổi bật, có ý nghĩa quan trọng là tạo ra phong trào và kết quả thực
hiện xã hội hoá trên các lĩnh vực y tế, giáo dục, thể dục thể thao,
dân số, bảo vệ môi trường... bằng sự huy động công sức của toàn dân,
từ cộng đồng dân cư đến từng hộ gia đình.
Ba là, từ tình hình và điều kiện cụ thể của từng khu dân cư, nhân
dân đã cùng nhau xây dựng và tạo nên nhiều mô hình bảo vệ môi trường
để đưa vào chương trình của cuộc vận động hoặc đưa vào quy ước,
hương ước để hướng dẫn, giúp đỡ và giám sát nhau thực hiện. Những
chỉ tiêu quan trọng đã được thực hiện năm sau tốt hơn năm trước, số
hộ gia đình có công trình hợp vệ sinh ngày càng nhiều, đổ rác đúng
nơi quy định, sử dụng nước sạch... Tổng hợp lại trên toàn quốc sẽ là
những con số, thể hiện những bước tiến quan trọng về chất lượng cuộc
sống của nhân dân ta trong công cuộc đổi mới.
Bốn là, cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở
khu dân cư” do Mặt trận khởi xướng và chủ trì phối hợp đã trở thành
tình cảm và trách nhiệm của các cấp, các ngành, được toàn dân hưởng
ứng và đã đạt được những kết quả quan trọng, không những tạo thêm
nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội mà còn góp phần bảo vệ
môi trường.
Việc xây dựng các mô hình điểm Lồng ghép nhiệm vụ bảo vệ môi trường
trong cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở
khu dân cư”; mô hình Khu dân cư tự quản bảo vệ môi trường và mô hình
Khu dân cư thực hiện hài hòa xoá đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường
đã được sự đồng tình và ủng hộ của đông đảo cán bộ, đảng viên và
nhân dân.
Tuy nhiên, nghiêm túc nhìn nhận thì công tác bảo vệ môi trường với
việc phát huy vai trò Mặt trận vẫn còn nhiều việc phải làm. Để tiếp
tục đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn
hoá ở khu dân cư” gắn được với nhiệm vụ bảo vệ môi trường, nhất là
nhân rộng được các mô hình điểm bảo vệ môi trường, Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên trong thời gian
tới cần làm tốt một số việc sau:
a. Thông qua cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn
hoá ở khu dân cư” làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao
kiến thức cho quần chúng nhân dân về môi trường và bảo vệ môi trường.
Việc nâng cao kiến thức và nhận thức cho nhân dân là việc làm quan
trọng hàng đầu. Chỉ một khi có đủ kiến thức và sự hiểu biết về môi
trường người dân mới có đủ các điều kiện tham gia bảo vệ môi trường.
b. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành
viên làm nhiệm vụ vận động xã hội để các cơ quan quản lý Nhà nước,
các cấp chính quyền, các doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế giúp đỡ
nguồn lực để bảo vệ môi trường.
c. Đối tượng vận động của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp
và các tổ chức thành viên rất đa dạng, có mặt ở mọi nơi, mọi ngành
và trên nhiều lĩnh vực. Do vậy, cần vận dụng nhiều nội dung, nhiều
biện pháp để huy động nhân dân tham gia bảo vệ môi trường, như: Tổ
chức chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho đoàn viên, hội viên và người
dân về các công nghệ mới nhằm bảo vệ môi trường tốt hơn; sử dụng
phân bón vi sinh; dùng các loại năng lượng sạch trong đun nấu (hầm
biogas, bếp đun củi cải tiến, bếp đun trấu), thực hiện việc cải tạo
vườn tạp...
d. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành
viên cần tổ chức nhiều loại hình phong trào để huy động đông đảo
quần chúng tham gia bảo vệ môi trường. Kinh nghiệm thực tế đã chứng
minh, chỉ có xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường thì công tác đó
mới thành công, chỉ có quần chúng tự làm thì phong trào đó mới được
duy trì thường xuyên, có hiệu quả. Mặt trận và các đoàn thể nhân dân
là người tổ chức tập thể, phát động phong trào thi đua, kiểm tra
đánh giá và có các hình thức khuyến khích để mọi người dân phấn khởi
thực hiện.
e. Lồng ghép các phong trào, các chương trình, các dự án có liên
quan đến bảo vệ môi trường vào cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”. Sự nghiệp bảo vệ môi trường có
liên quan đến công việc của nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều tổ chức,
nhiều người; trong đó sự phối hợp giữa Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam các cấp và các tổ chức thành viên là một đảm bảo cho sự thành
công của sự nghiệp bảo vệ môi trường.
g. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành
viên tổ chức các hoạt động tự quản vì một môi trường xanh hơn, sạch
hơn, đẹp hơn. Sự tự quản thể hiện trên tất cả các mặt: tuyên truyền,
giáo dục, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và tổ chức phong trào.
h. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên đối với công tác bảo
vệ môi trường.
Bảo vệ môi trường là công việc kết hợp giữa công tác tuyên truyền,
vận động với việc chấp hành các quy định pháp luật về bảo vệ môi
trường, do đó Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ
chức thành viên cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát.
Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân. Sự nghiệp đó cần phát
huy được dân chủ ở cơ sở để dân biết, dân hiểu, dân bàn, dân làm,
dân kiểm tra. Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ
chức thành viên cần có các giải pháp để huy động đông đảo nhân dân
tham gia bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
* ThS, Phó Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
|
TCMT
| Trở Về đầu trang
|
|
|
|
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM VỚI CÔNG TÁC
XÂY DỰNG MÔ HÌNH ĐIỂM BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
VŨ THỊ MINH PHƯƠNG*
Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, môi trường của Việt Nam
đã và đang chịu tác động tiêu cực của hoạt động sản xuất, kinh doanh,
sinh hoạt của con người. Khí hậu thay đổi dẫn đến hiện tượng thời
tiết bất thường, như: bão lụt, lũ quét, hạn hán... gây thiệt hại
nghiêm trọng về người và của. Nhận thức rõ những tác hại tiêu cực
của ô nhiễm môi trường đặc biệt là biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến
đời sống của con người, Nhà nước ta đã thấy rõ yêu cầu phải phát
triển bền vững, không thể hi sinh môi trường để phát triển kinh tế.
Đây là một quan điểm đúng đắn không chỉ phù hợp với Việt Nam mà còn
là xu hướng chung của thế giới ngày nay.
Vấn đề môi trường hiện nay không còn nằm trong giới hạn giải quyết
của từng quốc gia mà đã trở thành một vấn đề toàn cầu, đòi hỏi các
nước phải hợp tác cùng giải quyết. Thiên tai không ngoại trừ một
nước nào dù nước đó nghèo hay giàu, phát triển hay không phát triển...
Môi trường không chỉ thuộc trách nhiệm quản lý của chính phủ mà còn
là trách nhiệm của từng người dân. Vì vậy, đưa công tác bảo vệ môi
trường về cộng đồng dân cư gắn với trách nhiệm của người dân theo
quan điểm: mọi người đều bình đẳng trong không gian tự nhiên phải
cùng có trách nhiệm giữ gìn môi trường, là rất sáng suốt.
Căn cứ vào vị trí, chức năng, nhiệm vụ trong hệ thống chính trị;
nhiều năm qua, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tích cực tuyên truyền,
vận động người dân giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường sống. Bên
cạnh việc đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân thông qua các cơ
quan truyền thông của Mặt trận, như: Báo Đại đoàn kết, Tạp chí Mặt
trận, Báo Người Công giáo, Thông tin Công tác Mặt trận, Website Mặt
trận và Chương trình Truyền hình Đại đoàn kết phát trên VTV1 Đài
Truyền hình Việt Nam... từ năm 2006, Ban Thường trực Uỷ ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã chỉ đạo xây dựng mô hình điểm bảo
vệ môi trường ở các khu dân cư.
1. Hoạt động triển khai xây dựng mô hình điểm bảo vệ môi trường
Mục đích của việc xây dựng các mô hình điểm nhằm hướng các hoạt động
bảo vệ môi trường chuyển về cơ sở, đến từng người dân. Trên cơ sở
tổng kết những kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo và phối hợp thực
hiện các nội dung bảo vệ môi trường ở khu dân cư đã khẳng định vai
trò, trách nhiệm của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp trong việc phối
hợp với Đảng, chính quyền, đoàn thể ở địa phương tuyên truyền, vận
động, hướng dẫn các tầng lớp nhân dân nâng cao nhận thức và phát huy
dân chủ trong công tác bảo vệ môi trường thời kỳ đổi mới đất nước,
vì lợi ích của dân, thực hiện bằng sức dân và do dân tự quản.
Đến nay việc xây dựng các mô hình điểm bảo vệ môi trường ở khu dân
cư đã được triển khai rộng khắp trên phạm vi toàn quốc.
Từ năm 2006 - 2009 đã thực hiện xây dựng mô hình điểm trên 31 tỉnh
thành phố cụ thể:
+ Mô hình Lồng ghép nhiệm vụ bảo vệ môi trường trong cuộc vận động
Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư:
Các tỉnh, thành phố đã chọn các khu dân cư sau để xây dựng mô hình
điểm: tỉnh Kon Tum: khu dân cư Đăk Tiêng Kơtu (xã Đăk La, huyện Đăk
Hà) và khu dân cư Kroong Ktu (xã Kroong, thành phố Kon Tum); tỉnh
Thừa Thiên - Huế: khu dân cư Đông Phước 2 (xã Thuỷ Biển, thành phố
Huế) và khu dân cư Cự Lại Trung (xã Phú Hải, huyện Phú Vang); thành
phố Hồ Chí Minh: phường 2 (quận 5) và phường 14 (quận 4); tỉnh Lai
Châu: khu dân cư khu 6 và khu dân cư 9 thuộc thị xã Than Uyên; tỉnh
Trà Vinh: khóm 5 (phường 9, thị xã Trà Vinh) và ấp Ôkada (xã Phước
Hảo, huyện Châu Thành); tỉnh Bình Thuận: khu phố 1 (thị trấn Võ Xu,
huyện Đức Linh), khu phố Lạc Hoá 2 (thị trấn Lạc Tánh, huyện Tánh
Linh) và khu phố 8, 9 (thị trấn Đức Tài, huyện Đức Linh); tỉnh Nghệ
An: khu dân cư Hiếu Hạp (xã Nghi Thu, thị xã Cửa Lò) và khu dân cư
Liên Minh (xã Kim Liên, huyện Nam Đàn); tỉnh Bình Định: khu dân cư
Huỳnh Mai (xã Phước Nghĩa, huyện Tuy Phước) và khu dân cư xóm 1 (thôn
Vũ An, xã Tây Xuân, huyện Tây Sơn); tỉnh Quảng Ninh: thôn 2 (xã Hiệp
Hoà, huyện Yên Hưng) và khu 6 (phường Quang Trung, thị xã Uông Bí);
tỉnh Lâm Đồng: khu dân cư 16 (xã Lộc Thành, huyện Bảo Lâm) và khu
phố 1 (phường 2, thị xã Bảo Lộc).
+ Mô hình Khu dân cư tự quản bảo vệ môi trường:
Thực hiện Hướng dẫn số 59/HDMT-MTTƯ, ngày 3-1-2008, mô hình điểm Khu
dân cư tự quản bảo vệ môi trường được triển khai xây dựng tại các
tỉnh, thành phố: tỉnh Yên Bái: khu dân cư Khe Hóp, xã Yên Hợp, huyện
Văn Yên và khu dân cư tổ 15, phường Cầu Thia, thị xã Nghĩa Lộ; tỉnh
Nam Định: khu dân cư số 26, phường Vị Xuyên, thành phố Nam Định và
thôn Phù Lưu, xã Yên Thắng, huyện ý Yên; tỉnh Thanh Hoá: khu dân cư
thôn Tiến Lợi, xã Quảng Cư, thị xã Sầm Sơn và khu dân cư số 8, xã
Hoằng Trạch, huyện Hoằng Hoá; tỉnh Phú Yên: khu dân cư Long Thuỷ, xã
An Phú, thành phố Tuy Hoà và khu dân cư Phú Lạc, xã Hoà Hiệp Nam,
huyện Đông Hoà; tỉnh Đắc Lắc: tổ dân phố 13, phường Tân Tiến, thành
phố Buôn Ma Thuột và Buôn Tring 2, xã EaBlang huyện Krông Buk; tỉnh
Bình Dương: khu phố Bình Minh 2, thị trấn Dĩ An, huyện Dĩ An và ấp
Bình Đáng, xã Bình Hoà, huyện Thuận An; tỉnh Cà Mau: ấp 10, xã Trí
Phải, huyện Thới Bình và ấp Phú Gùi, xã Tam Giang Đông, huyện Năm
Căn; thành phố Hà Nội: khu dân cư số 10, phường Việt Hưng, quận Long
Biên và thôn Yên Phú, xã Liên Ninh, huyện Thanh Trì; thành phố Hải
Phòng: khu dân cư Đốc Hữu, xã Toàn Thắng, huyện Tiên Lãng và khu dân
cư số 2, phường Lãm Hà, quận Kiến An; thành phố Cần Thơ: khu dân cư
Quy Thạnh 1, xã Trung Kiên, huyện Thốt Nốt và khu dân cư 5, P. Châu
Văn Liêm, quận Ô Môn; tỉnh Hoà Bình: xóm Poom Coọng, thị trấn Mai
Châu, huyện Mai Châu và bản Văn, thị trấn Mai Châu, huyện Mai Châu.
+ Mô hình Khu dân cư thực hiện hài hòa xóa đói giảm nghèo và bảo vệ
môi trường:
Thực hiện Hướng dẫn số 58/HDMT-MTTƯ, ngày 3-1/2008 của Ban Chủ nhiệm
Chương trình “Toàn dân tham gia bảo vệ môi trường”, Ban Thường trực
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam của 10 tỉnh đã chọn được 20 khu dân
cư để xây dựng mô hình điểm. Cụ thể như sau: tỉnh Điện Biên: chọn
bản Púng Giắt, xã Mường Mươn và bản Tà Là Cáo, huyện Mường Chà và xã
Sình Phình, huyện Tủa Chùa; tỉnh Cao Bằng: xóm Bản Phảng và xóm Tà
Phù của huyện Quảng Uyên thuộc; tỉnh Lạng Sơn: khu dân cư thôn Dốc
Mới I và khu dân cư thôn Pác Cú; tỉnh Hà Tĩnh: khu dân cư Liên Hà và
Khu dân cư Trung Đông; tỉnh Đắc Nông: khu dân cư Thuận Nam và khu
dân cư Đức Lợi; tỉnh Ninh Bình: khu dân cư thôn Bùi, xã Khánh An,
huyện Yên Khánh và khu phố 9, phường Đông Thành; tỉnh Quảng Trị: khu
dân cư Đạo Đầu, xã Triệu Trung, huyện Triệu Phong và khu dân cư khu
phố 2, phường 5 thị xã Đông Hà; tỉnh Quảng Nam: khu dân cư khối phố
9, phường An Mỹ, thành phố Tam Kỳ và khu dân cư Thu Bồn Đông, xã Duy
Tân, huyện Duy Xuyên; tỉnh Vĩnh Long: chọn ấp 7, xã Tân An Luông,
huyện Vũng Liêm và ấp Thành An, xã Thành Đông, huyện Bình Tân; tỉnh
Sóc Trăng: khu dân cư Phônôcambôth, xã Tham Đôn, huyện Mỹ Xuyên và
khu dân cư An Đức, xã Đại Ngãi, huyện Long Phú.
Năm 2010 đã tiến hành xây dựng tiếp mô hình điểm tại 20 tỉnh, thành
phố trên toàn quốc, cụ thể:
+ Mô hình Khu dân cư tự quản bảo vệ môi trường: tại tỉnh Bắc Giang,
Bắc Ninh, thành phố Đà Nẵng, Hải Dương, Khánh Hoà, Long An, Ninh
Thuận, Phú Thọ, Sơn La, Vĩnh Phúc.
+ Mô hình Khu dân cư thực hiện hài hoà, xoá đói giàm nghèo và bảo vệ
môi trường: tại các tỉnh Bạc Liêu, Bắc Kạn, Bến Tre, Hà Giang, Hậu
Giang, Kiên Giang, Lào Cai, Quảng Bình, Quảng Ngãi, Tuyên Quang.
2. Một số kết quả đạt được từ việc xây dựng mô hình điểm bảo vệ môi
trường
Việc xây dựng các mô hình điểm đã góp phần rất quan trọng trong việc
nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi theo hướng tích cực về bảo vệ
môi trường của người dân. Nét nổi bật trong các hoạt động tại các mô
hình là công tác tuyên truyền vận động nhân dân tham gia các hoạt
động vệ sinh môi trường đã đi vào những vấn đề cụ thể, thiết thực
với đời sống của cộng đồng dân cư. Nhiều hoạt động thiết thực ở cộng
đồng dân cư về bảo vệ môi trường được triển khai thực hiện, như:
Cùng nhau thực hiện tổng vệ sinh vào sáng thứ 7 hoặc ngày chủ nhật,
giữ gìn cảnh quan khu dân cư... được duy trì đều đặn. Từ việc nâng
cao nhận thức, người dân ở các mô hình điểm đã từng bước thay đổi
hành vi theo hướng tích cực: Có ý thức giữ gìn vệ sinh trong sinh
hoạt, sử dụng nguồn nước sạch, xây các bể chứa nước, nhà tắm, công
trình vệ sinh của hộ gia đình hợp lý; nước thải, rác thải được thu
gom và xử lý đảm bảo đúng quy định; đóng đầy đủ các loại phí bảo vệ
môi trường; tình trạng chăn nuôi gia súc thả rông hạn chế đáng kể;
chuồng trại được xây dựng xa khu gia đình...
Các hoạt động tự quản bảo vệ môi trường tại khu dân cư từng bước đi
vào nền nếp. 100% các mô hình điểm đã thành lập và duy trì được tổ
tự quản bảo vệ môi trường. Các hoạt động thông tin, tuyên truyền về
nội dung bảo vệ môi trường được duy trì thường xuyên, có tác dụng
tích cực, tạo thành phong trào trên địa bàn, giúp người dân xây dựng
thói quen bảo vệ môi trường. Tại nhiều địa phương xây dựng mô hình
điểm đã xây dựng thêm nhiều bảng tin, khẩu hiệu tuyên truyền, cổ
động cho nhiệm vụ bảo vệ môi trường; đặc biệt, trong Ngày Môi trường
thế giới (5-6) đã có 100% khu dân cư tổ chức mít tinh kỷ niệm.
Việc xây dựng các mô hình điểm Khu dân cư bảo vệ môi trường lồng
ghép trong cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa
ở khu dân cư để nhân rộng là cách làm phù hợp với vai trò, vị trí,
nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các
cấp theo chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước;
phù hợp với yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, với điều
kiện kinh tế, xã hội ở các địa bàn dân cư nên được các cấp ủy, chính
quyền của các địa phương ủng hộ, phối hợp; được người dân đồng tình,
hưởng ứng.
Nhiều cấp ủy đảng từ tỉnh, huyện, xã đến khu dân cư đã ban hành nghị
quyết chuyên đề về bảo vệ môi trường để phối hợp với Mặt trận chỉ
đạo xây dựng các mô hình điểm. Trên cơ sở thành công của các mô hình
điểm, nhiều địa phương đã triển khai nhân rộng trên địa bàn. Ở một
số tỉnh, thành phố, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu với Hội
đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp một khoản kinh phí từ ngân sách
sự nghiệp môi trường của địa phương để Ban Thường trực Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh, thành phố triển khai các nhiệm vụ
tuyên truyền, vận động toàn dân tham gia bảo vệ môi trường và xây
dựng thêm mô hình (như các tỉnh Hoà Bình, Thanh Hoá, thành phố Hồ
Chí Minh...).
3. Tồn tại, hạn chế
Cần tuyên truyền, vận động, giải thích cho người dân hiểu: việc xây
dựng mô hình điểm là sự hỗ trợ ban đầu của Trung ương, sự hướng dẫn,
chỉ đạo của Mặt trận cấp tỉnh, huyện. Sau khi mô hình thành công,
người dân phải tự duy trì nhằm đem lại lợi ích chính đáng cho mỗi
người dân và cho cộng đồng dân cư... loại bỏ tâm lý ỷ lại, trông chờ
cấp trên đầu tư nhiều hơn nữa.
Năng lực, trình độ của các thành viên trong Ban vận động ở một số
nơi còn yếu, không nắm chắc các nhiệm vụ của mình; do đó, khi triển
khai thực hiện còn lúng túng, cũng như chưa động viên, thu hút được
nhiều người dân ở cộng đồng dân cư cùng tham gia thực hiện việc giữ
gìn vệ sinh, bảo vệ môi trường.
Một số nơi còn gặp khó khăn trong việc tìm các điều kiện bảo đảm cho
việc xử lý môi trường, như: chưa có khu đất tập trung làm bãi chứa
rác thải, chưa có sự liên hoàn trong xử lý từ khâu tập trung ban đầu
đến khâu vận chuyển và xử lý ở cấp cao hơn, phương tiện thu gom còn
thiếu, kinh phí duy trì, sửa chữa không đủ...
Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở cơ sở trong hoạt động bảo vệ
môi trường vẫn còn nhiều hạn chế; nhiều nơi chưa xây dựng được
chương trình, nội dung, cách thức hoạt động cụ thể. Việc lồng ghép
nội dung bảo vệ môi trường với kết hợp xoá đói, giảm nghèo chưa được
cụ thể hoá thành nội dung, tiêu chí trong cuộc vận động “Toàn dân
đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”... Hoạt động phối
hợp giữa Ban Công tác Mặt trận và các đơn vị quản lý của Nhà nước
trong lĩnh vực tài nguyên - môi trường còn hạn chế, do đó chưa giải
quyết được triệt để các hành vi vi phạm.
* Chuyên viên Trung tâm Công tác lý luận, Ban Thư ký Chương trình
“Toàn dân tham gia bảo vệ môi trường”.
|
TCMT
| Trở Về đầu trang
|
|
|
|
BÀN VỀ CHỮ TÍN
KIM
DUNG*
Tín là chữ gốc Hán đã được Việt hóa từ lâu. Theo chiết tự, “cấu tạo”
của chữ Tín gồm:
- Bên trái là chữ Nhân đứng, nghĩa là người.
- Bên phải là chữ Ngôn: Chữ Ngôn gồm chữ Nhị ở trên, chữ Khẩu ở dưới,
ngụ ý tuy “hai miệng” nhưng có “một lời”, trước sau như một, không
thiên lệch, không thay đổi ( ). Suy rộng ra, chữ Tín là để chỉ
niềm tin, đức tin... mà ai cũng phải nghiêm túc giữ gìn và làm theo.
Trong truyện Kiều, khi Kim Trọng và Thúy Kiều thề thốt, có câu “Đinh
ninh hai miệng một lời song song” là để dặn nhau thủy chung như nhất,
giữ lấy niềm tin suốt đời.
Chữ Tín có vai trò “sống còn” đối với mỗi người, mỗi cơ quan, mỗi
địa phương và cả quốc gia. Đạo Nho quan niệm: Người quân tử nhất
định phải có Ngũ thường, gồm: Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí - Tín. Trong
đó, nhân là lòng yêu thương đối với muôn loài; nghĩa là cư xử với
mọi người công bình theo lẽ phải; lễ là sự tôn trọng, hòa nhã trong
khi cư xử với mọi người; trí là sự thông biết lý lẽ, phân biệt thiện
ác, đúng sai; tín là giữ đúng lời, đáng tin cậy. “Nhân bất tín bất
lập”, người không có tín thì không thể tồn tại. Chữ Tín coi như bảo
bối của quốc gia (Tín vi quốc chi bảo). Ai trị vì đất nước thì phải
giữ bằng được bảo bối để mong mở mặt với thiên hạ. Người bội tín nói
lời rồi lại nuốt lời, tiền hậu bất nhất... thì bản thân sẽ bị cô lập,
cơ quan sẽ mất tín nhiệm, làm gì nói gì cũng không có người tin nữa
(Nhất sự bất tín, vạn sự bất tin). Trong văn hoá giao tiếp, người ta
quan niệm: mất gì thì mất đừng để mất lòng tin, bởi vì mất của cải,
mất thời gian là mất rất nhiều nhưng mất lòng tin là mất tất cả.
Chữ Tín còn được ghép với nhiều từ khác để làm rộng khái niệm: Tin
và giao nhiệm vụ gọi là “Tín nhiệm”, tin và dùng gọi là “Tín dụng”,
tin vào việc phải gọi là “Tín nghĩa”.
Tuy vậy, nói về chữ Tín thì dễ, giữ được tín còn khó hơn nhiều, lắm
khi còn phải hy sinh của cải, thậm chí cả tính mạng mình để giữ bằng
được niềm tin ở đời. Chuyện xưa kể: Nước Lỗ có cái đỉnh nạm ngọc quý
làm bảo quốc để thờ. Vua Tề đe dọa gây chiến để chiếm đỉnh làm của
riêng. Vua Lỗ sai Chính Tử làm đỉnh giả để cống nộp, song Chính Tử
bảo: “Nhà vua quý cái đỉnh ấy bao nhiêu thì tôi quý chữ tín bấy
nhiêu!”. Ông đành chịu tội “khi quân” để giữ chữ tín.
Ở ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặc biệt coi trọng chữ tín. Từ
cuộc sống hàng ngày đến việc quốc gia đại sự, Người không bao giờ để
thất tín. Bác quan niệm: Đã là gương thì phải sáng, đã nói là phải
làm và không bao giờ Bác viện lý do nào để sai lời hứa. Năm 1947, có
một cuộc họp tại chiến khu Việt Bắc. Mưa rừng, lũ cuốn phăng phăng,
ai cũng lo Bác không tới được. Vậy mà đến gần giờ họp, mọi người
thấy Bác đến, tay chống gậy, nước mưa ướt đầm đìa râu tóc.
Ngày nay, trong thời “kinh tế thị trường”, đồng tiền có thể làm cho
chúng ta giàu lên nhưng chính niềm tin mới giữ được danh dự và sự
“phát triển bền vững”. Đối với mọi người, “lời hứa là món nợ”, nợ
thì phải trả, nhất là lời hứa của những người mới đắc cử trước sự
tin tưởng của nhân dân, đồng chí. Quả thật, “chữ Tín quý hơn vàng”.
* Hội Văn học - Nghệ thuật Thái Bình
|
TCMT
| Trở Về đầu trang
|
|
|
|
|
|

Ngày hội đại
đoàn kết toàn dân tộc năm 2009

Các điển
hình tiêu biểu trong CVĐ TDĐKXDĐSVH ở KDC
(2004-2009)

Đối ngoại
nhân dân MTTQ
(2004-2009)
|
|

Ngày hội đại
đoàn kết toàn dân tộc năm 2008 |
|
|
hoan nghênh bạn đọc góp ý cho tạp chí |
|
|
|
| |
 |
|
|