|
|
 |
|
|
TIN MỚI :
thông tin được cập nhật liên tục
| |
|
|
 |
|
|
SỐ
81 ( 7 - 2010 ) |
|
|
|
|
|
KHOA HỌC MẶT TRẬN |
|
Cơ
sở pháp lý nào cho sự hoàn thiện chức năng giám sát và phản biện xã
hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Phản
biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - thực trạng và một số vấn
đề đặt ra
Dự
án nghiên cứu phát triển kinh tế biển
|
|
|
CƠ SỞ PHÁP LÝ NÀO CHO SỰ HOÀN THIỆN CHỨC NĂNG
GIÁM SÁT
VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
NGUYỄN ĐĂNG DUNG*
Ở nước ta, việc đổi mới và phát triển nền kinh tế thị trường, định
hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của dân, do dân và vì dân, do một đảng duy nhất cầm quyền lãnh
đạo, thì việc phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam càng có
ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Cho dù ở giai đoạn trước kia hay hiện
nay, thì vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc vẫn đúng theo tinh
thần của Điều 9 Hiến pháp 1992, có chức năng là tổ chức liên minh
chính trị, liên hiệp một cách tự nguyện, rộng rãi của tổ chức chính
trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân
tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các
tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Vị trí đó so với trước đây không có gì thay đổi, nhưng biểu hiện của
nó phải có sự thay đổi cho phù hợp với nhu cầu của công cuộc xây
dựng nhà nước pháp quyền và của một nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, mà không còn là một cuộc đấu tranh giành độc
lập dân tộc, hoặc của một nền kinh tế tập trung bao cấp trước kia.
Giành chính quyền là một chuyện khó, giữ chính quyền lại càng khó
hơn. Vì vậy, công việc của Mặt trận cũng phức tạp và khó khăn hơn.
Đó là việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát triển đa dạng các hình
thức hoạt động, các phong trào yêu nước để tập hợp, đoàn kết mọi
người Việt Nam ở trong nước và nước ngoài, không phân biệt thành
phần giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, đảng
phái trong quá khứ cũng như hiện tại và cả trong tương lai, nhằm
động viên mọi nguồn lực, mọi khả năng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam.
Một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng bậc nhất của Mặt trận
Tổ quốc hiện nay là phải có trách nhiệm hạn chế bớt, hay là khắc
phục những điểm yếu của chế độ chính trị một đảng cầm quyền.
Lịch sử nhà nước Việt Nam thời hiện đại gắn liền với vai trò của
Đảng Cộng sản. Vai trò lãnh đạo của Đảng được quy định rõ trong Hiến
pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 hiện hành. Ở một khía cạnh nhất
định, việc quy định vai trò lãnh đạo của Đảng cầm quyền trong một xã
hội là một thành công lớn. Hiện nay ở các nhà nước hiện đại, nhất là
các nhà nước phát triển, các đảng phái chính trị đều giữ vai trò
lãnh đạo xã hội, nhưng không có một bản Hiến pháp nào của họ quy
định rõ vai trò này. Cơ sở lãnh đạo đó của Đảng ta còn được dựa trên
vai trò lãnh đạo thực tế của Đảng gần một thế kỷ, qua hai cuộc chiến
tranh giành độc lập và phát triển kinh tế - xã hội cho nước nhà.
Sự lãnh đạo của các đảng phái chính trị thể hiện trước tiên bằng
việc bố trí các đảng viên đảm trách các công việc quan trọng của nhà
nước và thứ hai là việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách
cho sự phát triển của đất nước. Con người luôn gắn với chính sách.
Trong một chế độ chính trị dân chủ, sự bố trí con người trong bộ máy
nhà nước phụ thuộc vào cuộc bầu cử của nhân dân. Nếu là chế độ đại
nghị, qua cuộc bầu cử Hạ nghị viện, đảng nào chiếm đa số được quyền
đứng ra thành lập chính phủ. Trong trường hợp không có đảng chiếm đa
số trong Quốc hội thì phải có sự thỏa hiệp, sự liên hiệp, thậm chí
còn là hiệp thương giữa các đảng phái chính trị đối lập để lập ra
Chính phủ. Ở các nước theo chế độ cộng hòa tổng thống, vấn đề nhân
sự có phần giản đơn hơn, đảng có ứng cử viên trúng cử Tổng thốâng
trở thành đảng cầm quyền, có quyền bố trí đảng viên của mình vào các
chức danh quan trọng của nhà nước. Như vậy, bầu cử là quan trọng,
nhưng người được bầu ra mới là quan trọng hơn. Những người này lại
phụ thuộc vào quyền giới thiệu ra tranh cử. Quyền giới thiệu cũng
như quyền ứng cử vào các chức danh nói trên thường được Hiến pháp
các nước quy định một cách long trọng cho các công dân, như là một
phần đảm bảo cho nhân quyền của họ.
Điều phân tích trên càng có thể khẳng định và ghi nhận vai trò của
Mặt trận trong việc giới thiệu các ứng cử viên ra ứng cử đại biểu
Quốc hội và Hội đồng nhân dân của Việt Nam là một thắng lợi không
nhỏ trong việc lấp đi khiếm khuyết của chế độ chính trị một đảng duy
nhất cầm quyền hiện nay. Đảng Cộng sản Việt Nam trong công cuộc đổi
mới và cải tổ hơn 20 năm qua cũng đã nhanh chóng nhận ra vấn đề này.
Đảng, Quốc hội, Chính phủ và Hội đồng nhân dân các cấp đều quan tâm
phát huy vị trí, vai trò Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, có chủ trương
thông qua hệ thống Mặt trận Tổ quốc để động viên những người ngoài
đảng tham gia chính quyền bằng cách tự ứng cử. Theo quy định của
pháp luật bầu cử, Mặt trận là nơi lập danh sách các ứng cử viên đại
biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Quyền này của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam còn cao hơn cả các quyền giới thiệu ứng cử
viên của các đảng phái chính trị tư sản. Với tư cách là tổ chức liên
hiệp mọi lực lượng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, không
chủ thể nào khác ngoài Mặt trận có thể thực hiện tốt nhiệm vụ này
thông qua các quy trình hiệp thương. Hiến pháp và luật pháp Việt Nam
đã có các quy định cụ thể cho Mặt trận trong việc hiệp thương giới
thiệu ứng cử viên đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân
các cấp.
Qua các cuộc bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, số lượng
đảng viên được nhân dân tin tưởng bầu làm đại biểu Quốc hội và Hội
đồng nhân dân bao giờ cũng chiếm một tỉ lệ đáng kể. Chính đây là cơ
sở cơ bản cho việc các cấp ủy đảng từ Trung ương đến địa phương có
quyền bố trí các cán bộ ưu tú của mình giữ các chức vụ quan trọng
của nhà nước. Cũng giống như việc tổ chức bộ máy nhà nước của các
nước khác, đảng cầm quyền là đảng chiếm đa số quá 50% ghế trong Quốc
hội (Hạ viện) được quyền đứng ra thành lập chính phủ ở chế độ đại
nghị cộng hòa. Ở chính thể cộng hòa tổng thống, đảng cầm quyền là
đảng của Tổng thống có quyền bổ nhiệm các đảng viên của mình nắm các
chức vụ quan trọng của nhà nước.
Ngoài quyền giới thiệu các ứng cử viên ra tranh cử các chức danh của
Nhà nước, các đảng phái chính trị tư sản còn thực hiện quyền giám
sát rất chặt chẽ hoạt động của các đảng viên - nghị sĩ, làm cho các
đảng viên nghị sĩ không thể bỏ phiếu chống lại đảng của mình. Tương
tự như vậy, các thành viên của Mặt trận và Mặt trận một khi đã có
quyền giới thiệu ứng cử viên đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng
nhân dân, thì cũng phải có quyền giám sát việc hoạt động của các đại
biểu dân cử của mình. Điều này được luật quy định, Mặt trận là 1
trong 2 chủ thể được quyền đặt vấn đề bỏ phiếu tín nhiệm các chức
danh quan trọng trong bộ máy nhà nước. (Điều 53 Luật Tổ chức Hội
đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân).
Tiếp theo vấn đề nhân sự là vấn đề chính sách của đảng cầm quyền,
với nguyên tắc ở đây là đã chấp nhận con người, thì phải chấp nhận
chính sách của họ. Ở các nhà nước phát triển, nói phân quyền giữa
lập pháp và hành pháp, nhưng mọi quyết định của hành pháp và lập
pháp của các nước này hầu như đều do đảng cầm quyền quyết định, vai
trò của các đảng phái khác, chỉ còn là đối lập, có trách nhiệm tìm
ra những khiếm khuyết của đảng cầm quyền. Hiến pháp của nhiều nước
theo chế độ đại nghị quy định rằng, chính phủ phải chịu sự kiểm sát
của Quốc hội và Quốc hội có quyền bỏ phiếu tín nhiệm Chính phủ và
lật đổ chính phủ... Nhưng với đa số ghế trong nghị viện, chuyện đó
không thể xảy ra, hơn thế nữa vấn đề được lật ngược trở lại là:
Chính phủ trên thực tế có quyền kiểm soát các hoạt động của Quốc hội,
thậm chí còn có cả quyền giải tán Quốc hội, nhằm mục đích tăng cường
quyền lực cho hành pháp - chính phủ, và nhất là người đứng đầu của
bộ máy cai trị.
Cũng tương tự như vậy, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam không
chỉ dừng lại ở việc giới thiệu các thành viên của mình ra đảm trách
các công việc quan trọng của nhà nước, mà còn đề ra các chủ trương,
chính sách cho sự phát triển của quốc gia. Nếu như ở trên, các đảng
phái đối lập thiểu số không thể làm cách nào thay đổi những chính
sách của đảng cầm quyền, thì ở Việt Nam hiện nay, theo quy định của
Hiến pháp và Luật quy định, Mặt trận Tổ quốc phải có trách nhiệm
“tập hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân phản ánh nhằm chỉnh lý lại
các dự thảo của Đảng và Nhà nước” (Điều 2 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam).
Vai trò chính trị của các đảng phái chính trị trong xã hội rất quan
trọng trong việc hoạch định ra các chính sách, đường lối cho sự phát
triển của quốc gia. Đây là một chức năng quan trọng nhất của đảng
cầm quyền. Đất nước phát triển hay là tàn lụi đều do các chính sách
của các đảng cầm quyền quyết định. Chính sách là những gì mà chính
quyền cảm nhận được cần phải giải quyết ngay, cũng như là định hướng
mục tiêu của chính quyền. Chính sách cũng có khi được thể hiện bằng
các quy phạm pháp luật, hoặc cũng có khi không, mà thể hiện bằng ẩn
ý đằng sau của pháp luật. Pháp luật như là hình thức chứa đựng các
nội dung chính sách. Muốn có pháp luật đúng thì trước tiên phải có
chính sách đúng. Chính sách quyết định việc phân bổ thu và chi ngân
sách. Muốn cho chính sách không áp đặt, không phiến diện, thể hiện
đúng quy luật khách quan, thì phải có ý kiến của nhiều tổ chức,
nhiều chủ thể khác nhau. Thậm chí muốn có một dự thảo chính sách
đúng cần phải có người phản biện có trách nhiệm. Phản biện có trách
nhiệm ở đây có nghĩa tìm ra sự đúng đắn, mà không phải là phủ nhận
vấn đề.
Theo quy định của Hiến pháp và Luật về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
thì các tổ chức là thành viên của Mặt trận phải có trách nhiệm phản
ánh những ý nguyện đa dạng của tổ chức mình để Đảng Cộng sản có thể
đưa những ý nguyện đó thành những chính sách hoặc bổ khuyết cho
những dự thảo chính sách còn phiến diện, không phản ánh hết sự vận
động khách quan của sự vật cùng quyền lợi chính đáng của mọi tầng
lớp nhân dân khác nhau trong xã hội. Khác với đảng cầm quyền và
chính phủ của đảng cầm quyền, Mặt trận có các tổ chức thành viên, có
một tổ chức các hiệp hội khoa học kỹ thuật, tập hợp đông đảo các
giai cấp, tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn giáo, có rất nhiều người
có trình độ tri thức, chuyên môn tương ứng với từng ngành nghề, từng
lĩnh vực, trong nước và ngoài nước. Cho nên có thể nói rằng, mọi
chính sách của Đảng và Nhà nước, tổ chức Mặt trận đều có khả năng
đóng góp một cách thiết thực. Sự ghi nhận như vậy cả về mặt con
người lẫn cả về mặt chính sách càng có thể khẳng định, Mặt trận Tổ
quốc chính là sự bù đắp cho những thiếu hụt của chế độ chính trị một
đảng. Ngay cả những người chống đối chế độ chính trị của chúng ta
một cách quyết liệt trước đây cũng phải thừa nhận.
Từ lý luận và thực tiễn hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc, có
thể nhận định rằng các cơ sở pháp lý cho hoạt động giám sát và phản
biện của Mặt trận đối với các hoạt động của chính quyền nhà nước là
đã có. Những quy định này đã có tác dụng nhất định trong việc phát
huy được vai trò của Mặt trận trong công tác này. Nhưng để tăng
cường hơn nữa, đáp ứng những yêu cầu của hiện tại thì những quy định
này cần phải hoàn thiện thêm.
- Thứ nhất, pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội
đồng nhân dân các cấp phải nhấn mạnh hơn nữa vai trò mang tính quyết
định của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, mà giảm bớt vai trò của chính
quyền trong việc quyết định danh sách các ứng cử viên đại biểu Quốc
hội và ứng cử viên đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.
- Thứ hai, cũng gần giống như các đảng phái chính trị tư sản, một
khi đã có quyền giới thiệu ứng cử viên tranh cử các chức danh của
các cơ quan nhà nước, ứng cử viên khi trúng cử phải báo cáo và chịu
sự giám sát của các cơ sở giới thiệu, thì ở Việt Nam cũng phải vậy
thôi, một khi đã trúng cử với sự giới thiệu của các thành viên của
Mặt trận, các đại biểu cũng phải chịu sự giám sát và thậm chí là
miễn nhiệm theo sự đề nghị của Mặt trận Tổ quốc.
* PGS.TS, Ủy viên Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đại
học Quốc gia Hà Nội.
|
TCMT
| Trở Về đầu trang
|
|
|
|
PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
- THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA
NGUYỄN
TRỌNG BÌNH*
Trước thời kỳ đất nước ta bước vào đổi mới, do nhiều nguyên nhân
khác nhau nên chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận và
các đoàn thể nhân dân đối với Đảng và Nhà nước chưa được chú trọng
đúng mức trên cả bình diện nhận thức lý luận cũng như chủ trương,
chính sách.
Nước ta bước vào thời kỳ đổi mới, chuyển dần sang nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa; dân chủ hoá đời sống xã hội được
mở rộng và là một đòi hỏi tất yếu thì nhìn chung, vai trò của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ngày càng
được khẳng định; việc thực hiện chức năng phản biện xã hội của Mặt
trận Tổ quốc đã được nghiên cứu và đã có những kết quả bước đầu
trong tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt được, việc
thực hiện chức năng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập và nhiều vấn đề đặt ra phải tiếp tục
giải quyết.
Những việc đã làm được trong thực hiện chức năng phản biện xã hội
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thời gian qua, được thể hiện qua một
số phương diện chủ yếu: Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
và Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp, các tổ chức thành viên, các Hội
đồng tư vấn của Mặt trận ngày một thể hiện rõ vai trò chủ thể phản
biện xã hội đối với Đảng, Nhà nước thông qua việc phản ánh, kiến
nghị với Đảng, Nhà nước cũng như các cơ quan có thẩm quyền về dự
thảo các chủ trương, chính sách, đề án, dự án, pháp luật liên quan
đến quyền và lợi ích cơ bản của nhân dân, đến quyền và trách nhiệm
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Trên cơ sở nhận thức, ý thức rõ hơn sự cần thiết tham gia phản biện
xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nên Chính phủ và một số bộ,
ngành ở Trung ương và Uỷ ban nhân dân một số tỉnh, thành phố cũng đã
tạo điều kiện, quan tâm và hợp tác ở mức độ nhất định cho hoạt động
phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thông qua việc cung
cấp, tiếp nhận và xử lý thông tin, đầu tư nghiên cứu cơ chế, chính
sách, kể cả cung cấp một phần kinh phí theo các chương trình đề án,
dự án để Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp và các tổ chức thành viên
của Mặt trận tham gia phản biện.
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên đã tích
cực tham gia thẩm định để góp ý, đề xuất, kiến nghị đối với dự thảo
một số chính sách, chương trình, dự án của Chính phủ và cơ quan hành
chính nhà nước các cấp, các dự án luật, pháp lệnh do các cơ quan có
thẩm quyền soạn thảo, dự thảo các chủ trương, đường lối của Đảng
cũng như đề án nhân sự trước các kỳ đại hội của tổ chức đảng các cấp.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng đã kiến nghị với các cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền điều chỉnh một số chính sách, biện pháp liên quan trực
tiếp tới quyền và lợi ích của người dân nhưng chưa thật sát với thực
tiễn.
Về cơ chế phản biện, bước đầu, Mặt trận Tổ quốc đã phát huy được vai
trò của các tổ chức thành viên, các Hội đồng tư vấn của Mặt trận và
nhân dân trong hoạt động phản biện xã hội; đã xác lập được mối quan
hệ giữa Mặt trận Tổ quốc các cấp với các tổ chức, cơ quan có thẩm
quyền (giữa chủ thể phản biện và chủ thể nhận sự phản biện). Một số
cơ quan, tổ chức có thẩm quyền hoạch định chủ trương, chính sách đã
chủ động gửi dự thảo đề án tới Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để tranh
thủ ý kiến, cung cấp thông tin liên quan tới đề án. Trên cơ sở đó,
Mặt trận Tổ quốc tiến hành thẩm định, phản hồi ý kiến tới các cơ
quan, tổ chức có dự thảo đề án được phản biện. Trong phản biện xã
hội, các bên có liên quan đã đảm bảo thực hiện tốt hơn nguyên tắc
tập trung dân chủ, đảm bảo tính đảng, tính nhân dân, trên tinh thần
xây dựng và đề cao lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân.
Thông qua hoạt động thẩm định của mình, những ý kiến đóng góp, đánh
giá, kiến nghị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã có tác dụng bổ sung,
điều chỉnh dự thảo chủ trương, đường lối, đề án của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước trên một số mặt; nêu được quan điểm của Mặt
trận và phản ánh được ý chí, nguyện vọng của nhân dân đối với quá
trình ban hành chủ trương, chính sách, pháp luật của các cơ quan, tổ
chức có thẩm quyền.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được nói trên, có thể nói sự
phối hợp giữa các thành viên trong tổ chức Mặt trận thực hiện phản
biện xã hội còn chưa chặt chẽ, chưa được hướng dẫn cụ thể; chưa thu
hút và phát huy đầy đủ vai trò hoạt động của các Hội đồng tư vấn
thuộc Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; chất lượng phản
biện của Mặt trận còn thấp; trình độ chuyên môn, năng lực nhìn nhận
vấn đề, phân tích, đánh giá và kết luận trong quá trình phản biện
của Mặt trận còn có mặt bất cập; không ít nơi, Mặt trận Tổ quốc chưa
mạnh dạn phản biện nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của các
tầng lớp nhân dân; vẫn còn có biểu hiện phản biện theo kiểu “lựa
chiều”, phản biện theo ý của người lãnh đạo hay người có thẩm quyền,
thậm chí không dám nói rõ chính kiến của mình do nhiều nguyên nhân
khác nhau.
Về chủ thể nhận sự phản biện, không ít tổ chức đảng và cơ quan nhà
nước các cấp vẫn chưa ý thức được một cách đầy đủ và đúng đắn về vai
trò và tác dụng phản biện xã hội của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các tổ chức thành viên. Việc tranh thủ ý kiến góp ý, kiến
nghị của Mặt trận Tổ quốc đối với dự thảo chủ trương, chính sách,
pháp luật, chương trình, dự án của một số cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền còn hình thức; Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã
đánh giá: “Công tác phối hợp trong xây dựng pháp luật, chính sách
chưa đáp ứng được yêu cầu, việc các cơ quan liên quan gửi dự thảo
lấy ý kiến của Mặt trận thường quá gấp, không đủ thời gian và cơ sở
để góp ý”. Ngay cả khi có ý kiến phản biện của Mặt trận Tổ quốc thì
không ít nơi, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền ban hành dự thảo vẫn
chưa có thực sự lắng nghe những ý kiến khác nhau. Thái độ thực sự
cầu thị, tin tưởng, tiếp thu ý kiến phản biện đúng, dũng cảm nhận
khuyết điểm và sửa chữa sai lầm của chủ thể nhận sự phản biện còn
yếu đã làm giảm hiệu lực, hiệu quả phản biện xã hội của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam.
Về đối tượng phản biện xã hội, nhiều chủ trương, chính sách, đề án
quan trọng liên quan tới quyền và nghĩa vụ cơ bản của người dân (nhất
là cấp địa phương và cơ sở) đã được cơ quan có thẩm quyền ban hành
mà chưa có sự tham gia phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam. Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chưa bao quát
hết các dự thảo chủ trương, chính sách, pháp luật, đề án quan trọng
trên các lĩnh vực thuộc phạm vi phản biện xã hội của Mặt trận.
Về cơ chế phản biện xã hội, cơ chế phối hợp giữa Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc các cấp với các tổ chức thành viên trong thực hiện chức năng
phản biện xã hội còn chưa rõ; cơ chế phối hợp giữa chủ thể phản biện
với các cơ quan, tổ chức với tư cách bên nhận sự phản biện còn chưa
được xác định đầy đủ; vì vậy, chưa xác định thật rõ ràng về quyền và
nghĩa vụ của chủ thể phản biện cũng như quyền và nghĩa vụ của chủ
thể nhận sự phản biện. Vẫn chưa có chế tài đối với trường hợp các cơ
quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành chủ trương, chính sách không
qua sự phản biện, hay chậm trễ trong việc chuyển đề án để Mặt trận
Tổ quốc phản biện; cũng chưa có chế tài về sự giải trình của chủ thể
nhận sự phản biện về việc tiếp thu hay không tiếp thu ý kiến phản
biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Điều này nói lên hai vấn đề: cơ
chế thực hiện phản biện xã hội trong tổ chức Mặt trận và cơ chế pháp
lý cho hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận còn nhiều hạn chế và
bất cập.
Những hạn chế và bất cập nói trên dẫn đến hiệu quả, hiệu lực phản
biện của Mặt trận Tổ quốc còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu. Trên
bình diện chung, bên cạnh một số thành quả đã đạt được, tác dụng
thực tế qua hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
để đưa đến sự điều chỉnh, bổ sung, hoàn chỉnh dự án, đề án do cơ
quan, tổ chức có thẩm quyền soạn thảo còn nhiều hạn chế; phản biện
xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiện nay chủ yếu mới chỉ dừng
lại ở hình thức góp ý.
Nguyên nhân của tình trạng nói trên có nhiều, có cả chủ quan và
khách quan, chủ yếu là:
- Do nước ta bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa để tiến lên chủ nghĩa xã
hội cũng có nghĩa là bỏ qua dân chủ tư sản, nhân dân chưa có ý thức,
năng lực và thói quen thực hành dân chủ, chưa có nền văn hoá dân chủ
ở mức cần thiết; không ít cán bộ lãnh đạo chưa có thói quen thực
hành phong cách lãnh đạo và quản lý một cách dân chủ.
- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân đang từng bước xây dựng; hệ chuẩn pháp luật còn thiếu và
chưa đồng bộ, chưa nhất quán, trong đó có hệ thống pháp luật về tổ
chức và hoạt động của các tổ chức thuộc hệ thống chính trị nói chung,
trong hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các
đoàn thể nhân dân và nhân dân nói riêng.
- Nhận thức của chúng ta về mối quan hệ của các thành tố trong hệ
thống chính trị, về chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức ở tầm khái
quát là tương đối rõ, nhưng đi vào xử lý những vấn đề cụ thể thì
chậm được thể chế hoá nên đã tạo ra những lúng túng nhất định trong
thực hiện chức năng, nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (trong đó
có chức năng và nhiệm vụ về giám sát và phản biện xã hội).
- Trong điều kiện chỉ có một Đảng Cộng sản cầm quyền, nếu chậm hoàn
thiện cơ chế để xác lập vị trí, trách nhiệm, nội dung và phương thức
phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã
hội thì hiệu quả của phản biện chỉ còn là hình thức.
- Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện phản
biện xã hội đối với Đảng, Nhà nước, nhưng lại lệ thuộc về tổ chức,
cán bộ và tài chính theo cơ chế xin - cho là một khó khăn lớn.
- Hệ thống văn bản pháp luật quy định về hoạt động phản biện xã hội
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân chưa được xây
dựng hoàn chỉnh. Nội dung, phạm vi phản biện, cơ chế thực hiện phản
biện đối với dự thảo các chủ trương, chính sách, pháp luật do các tổ
chức có thẩm quyền ban hành như thế nào, còn chưa được xác định rõ.
Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến hiệu lực, hiệu quả
phản biện xã hội của Mặt trận còn hạn chế và bất cập.
- Công tác tổ chức và cán bộ của Mặt trận còn bộc lộ một số hạn chế.
Điều kiện và trang thiết bị làm việc của Mặt trận, nhất là trang
thiết bị về thông tin phục vụ việc nắm bắt và xử lý thông tin nhiều
chiều phục vụ cho nhiệm vụ phản biện xã hội còn chưa được đầu tư đủ
mức. Mặt trận cũng chưa có cơ chế thích hợp nhằm phát huy vai trò
của các tổ chức thành viên, nhân sĩ, trí thức, các Hội đồng tư vấn
thuộc Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vào hoạt động phản
biện xã hội.
- Một số cấp uỷ đảng và chính quyền chưa thực sự tạo điều kiện và
đòi hỏi Mặt trận phải tư vấn, phản biện, kiểm tra, giám sát đối với
tổ chức và hoạt động của mình. Từ đó, cũng chưa tạo điều kiện đủ mức
để Mặt trận Tổ quốc tham gia phản biện. Tính công khai, minh bạch,
dân chủ trong hoạt động của không ít tổ chức đảng, chính quyền còn
thấp nên chưa tạo ra môi trường cần thiết cho sự kiểm soát có hiệu
quả từ phía xã hội đối với tổ chức và hoạt động của các tổ chức này
nói chung, hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
nói riêng.
- Trình độ, năng lực, văn hoá dân chủ của đội ngũ cán bộ, lãnh đạo (từ
phía chủ thể phản biện và chủ thể nhận sự phản biện) nhìn chung còn
những bất cập nhất định. Do nhiều nguyên nhân, nên không ít cán bộ
lãnh đạo, quản lý chưa có thói quen đối thoại dân chủ, chưa biết
cách nghe, biết xử lý những ý kiến phản biện; vẫn có xu hướng “độc
quyền chân lý”, phong cách độc đoán, mệnh lệnh, thích nghe một chiều,
không muốn va chạm.
Từ thực tế công tác phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
có thể rút ra một số vấn đề sau:
Thứ nhất, để phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đi vào
thực chất và hiệu quả, cần có nhận thức thống nhất trong cả hệ thống
chính trị về vai trò và tác dụng phản biện của Mặt trận. Nhưng hiện
nay một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý vẫn chưa nhận thức đầy đủ
về vai trò, tác dụng phản biện xã hội của Mặt trận, họ cho rằng phản
biện xã hội của Mặt trận là “rách việc”, “mất thời gian”; từ đó đưa
đến tính hình thức, chiếu lệ trong việc tranh thủ ý kiến phản biện
của Mặt trận. Vậy, cần giải quyết vấn đề này như thế nào?
Thứ hai, Mặt trận không thể “đơn độc” trong hoạt động phản biện xã
hội, mà cần có sự cộng đồng trách nhiệm của Đảng, Nhà nước. Vậy,
trách nhiệm của Đảng, Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả phản biện xã
hội của Mặt trận là như thế nào và đến đâu? Để có điều kiện phản
biện, Mặt trận phải chủ động về mặt thông tin và đòi hỏi hoạt động
của Đảng và Nhà nước cần có sự dân chủ hóa, minh bạch và công khai ở
mức cần thiết. Trong khi đó, mức độ dân chủ, công khai và minh bạch
trong hoạt động của chủ thể nhận phản biện, nhìn chung, còn chưa đủ
mức. Vậy Đảng và Nhà nước giải quyết vấn đề như thế nào?
Thứ ba, phản biện là một hoạt động vừa mang tính xã hội, vừa mang
tính khoa học, ràng buộc quyền và trách nhiệm của các chủ thể trong
quá trình phản biện. Thế nhưng hiện nay, chức năng phản biện xã hội
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mới dừng lại ở chủ trương của Đảng, mà
chưa được Nhà nước thể chế hóa thành pháp luật, vì vậy cơ chế pháp
lý cho hoạt động phản biện của Mặt trận chưa được xác định một cách
rõ ràng và đầy đủ. Vậy, cần xây dựng khung pháp lý cho hoạt động
phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam như thế nào?
Thứ tư, để phản biện có chất lượng và hiệu quả, chủ thể phản biện
phải mạnh, có một cơ chế thực sự thích hợp; những người tham gia
hoạt động phản biện phải có trình độ chuyên môn, có năng lực nhìn
nhận vấn đề, năng lực phân tích, đánh giá và kết luận; đòi hỏi cao
về bản lĩnh, tinh thần dũng cảm, táo bạo, đề cao trách nhiệm đối với
xã hội, với Đảng và tương lai của đất nước. Còn chủ thể nhận phản
biện phải đề cao trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân, xã hội và
vận mệnh đất nước, phải thực sự cầu thị, “muốn nghe”, “dám nghe”,
dũng cảm nhận khuyết điểm, tiếp thu ý kiến phản biện đúng để sửa
chữa sai lầm và vươn lên. Vậy, cần làm gì để cả bên phản biện lẫn cả
bên nhận phản biện có đủ phẩm chất, năng lực nói trên?
Thứ năm, muốn phản biện được, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải giữ
được một vị thế như một chủ thể giám sát và phản biện xã hội độc lập,
trong khi hiện nay, Mặt trận còn chưa thực sự có được vị trí tương
đối độc lập, còn lệ thuộc nhiều vào Nhà nước về tổ chức, cán bộ và
tài chính.
* Khoa Chính trị học, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ
Chí Minh (khu vực IV).
|
TCMT
| Trở Về đầu trang
|
|
|
|
DỰ ÁN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN
BÙI THƯỢNG TOẢN*
Nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng kinh tế biển, Hội nghị Trung ương
4 (khoá X) của Đảng đã ban hành Nghị quyết về “Chiến lược biển Việt
Nam đến năm 2020”. Căn cứ vào Thông báo số 188 - TB/TW, ngày
7-10-2008, thông báo ý kiến của Ban Bí thư về đẩy mạnh việc thực
hiện Nghị quyết này, năm 2009, Ban Tuyên giáo Trung ương có văn bản
hướng dẫn số 65 - HD/BTGTW. Bản hướng dẫn nêu rõ nội dung tuyên
truyền, nhiệm vụ và hình thức tuyên truyền cơ bản như sau:
1. Nội dung tuyên truyền:
- Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng vị trí, vai trò, tiềm năng
thế mạnh của biển, đảo Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc hiện nay cũng như các giai đoạn tiếp theo. Đặc biệt, trong
quá trình đổi mới, hội nhập của đất nước, nhấn mạnh những thời cơ,
thách thức; thuận lợi và khó khăn để phát huy hiệu quả to lớn của
việc thực hiện chiến lược biển đối với sự phát triển, ổn định của
đất nước...
- Tuyên truyền, phổ biến những kiến thức cơ bản, phổ thông về Luật
Biển quốc tế và hệ thống pháp luật về biển, đảo của Nhà nước ta;
những cơ sở pháp lý, khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với các
quần đảo trên biển Đông (đặc biệt 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa),
khẳng định quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong việc giải quyết
tranh chấp; tuyên truyền ý nghĩa, nội dung, kết quả thực hiện các
văn bản pháp lý về biển, đảo Việt Nam đã ký kết với các nước láng
giềng, các nước có liên quan; tuyên truyền giáo dục cho toàn dân
nâng cao ý thức đấu tranh bảo vệ, giữ gìn chủ quyền biển, đảo của Tổ
quốc, góp phần gìn giữ hòa bình, hợp tác hữu nghị và phát triển giữa
các quốc gia vùng Biển Đông.
- Tuyên truyền, giới thiệu những thành tựu phát triển kinh tế biển,
đảo của từng địa phương, các ngành và cả nước; vai trò của các thành
phần kinh tế tham gia tích cực vào phát triển kinh tế, biển, đảo;
chú trọng tuyên truyền, nhân rộng các điển hình tiên tiến, các nhân
tố mới, nhất là trong phát triển kinh tế, an sinh - xã hội, bảo đảm
giữ gìn an ninh và chủ quyền các vùng biển, đảo của Tổ quốc.
- Tuyên truyền các định hướng về điều tra cơ bản tài nguyên, môi
trường biển; phát triển khoa học - công nghệ biển; bảo vệ môi trường
biển, công tác dự báo, phòng chống và cảnh báo thiên tai, cứu hộ,
cứu nạn.
- Tuyên truyền thực hiện nhiệm vụ đấu tranh chống các hiện tượng sai
trái, tiêu cực, chống buôn lậu trên biển, đảo; phê phán các hành vi
đánh bắt có tính chất hủy diệt nguồn lợi thủy, hải sản, phá hoại môi
trường sinh thái biển; tàu, thuyền nước ngoài vi phạm chủ quyền,
quyền tài phán vùng biển của nước ta; đấu tranh phản bác các luận
điệu sai trái của các thế lực cơ hội, thù địch xuyên tạc về chủ
quyền biển, đảo của Việt Nam.
- Tuyên truyền nâng cao tinh thần trách nhiệm, tình cảm của mọi tầng
lớp nhân dân đối với các chiến sỹ, các lực lượng đang ngày đêm làm
nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo; bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ thiêng
liêng của Tổ quốc.
2. Nhiệm vụ:
- Các tỉnh, thành ủy, đảng ủy trực thuộc trung ương; ban cán sự đảng,
đảng đoàn các cơ quan, đoàn thể, bộ, ban, ngành Trung ương có trách
nhiệm tiếp tục chỉ đạo tuyên truyền cho các cán bộ, đảng viên và
nhân dân thuộc cơ quan, đơn vị và địa phương mình.
- Ban Chỉ đạo Nhà nước về Biển Đông và Hải đảo chủ trì, phối hợp với
Ban Tuyên giáo Trung ương xây dựng kế hoạch tổng thể, các nội dung,
nhiệm vụ chủ yếu về tuyên truyền phát triển kinh tế và bảo vệ chủ
quyền biển, đảo năm 2009, chỉ đạo tuyên truyền cho các đơn vị chủ
lực trực tiếp làm công tác này ở trung ương và địa phương.
- Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức truyền đạt nội dung này tại các
hội nghị báo cáo viên 3 miền. Đồng thời, tổ chức chỉ đạo hệ thống
báo cáo viên, tuyên truyền viên thực hiện tốt nhiệm vụ tuyên truyền
miệng trong nhân dân.
- Bộ Ngoại giao, Uỷ ban Biên giới quốc gia chủ trì, phối hợp với Bộ
Tư lệnh Hải quân, Bộ Tư lệnh Biên phòng, Cục cảnh sát biển và một số
cơ quan chức năng của Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Công an có trách
nhiệm thường xuyên tổng hợp, cung cấp thông tin có định hướng, đặc
biệt là các vấn đề nhạy cảm, bảo đảm phù hợp về nội dung, đối tượng
và thời điểm tuyên truyền.
- Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp cùng với Bộ Thông tin
và Truyền thông, chỉ đạo, hướng dẫn công tác tuyên truyền cho các cơ
quan thông tấn, báo chí ở Trung ương và địa phương; phối hợp với Uỷ
ban Biên giới quốc gia và các bộ, ngành lỉên quan biên soạn một số
loại tài liệu cần thiết phục vụ công tác tuyên truyền.
- Bộ Giáo dục và đào tạo chủ trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung
ương nghiên cứu, biên soạn tài liệu về tuyên truyền biển, đảo để
từng bước đưa vào các chương trình giảng dạy trong các nhà trường
của hệ thống giáo dục quốc dân.
3.Hình thức tuyên truyền
Căn cứ vào tình hình, nhiệm vụ cụ thể, điều kiện cụ thể, cũng như
khả năng của từng đơn vị, địa phương, các bộ, ban, ngành để lựa chọn
hình thức tuyên truyền sao cho thiết thực, hiệu quả. Các hình thức
tuyên truyền bao gồm: sách, báo (báo viết, báo nói, báo hình, báo
điện tử…), tài liệu tuyên truyền, pano, áp phích, tờ rơi, triển lãm,
thi tìm hiểu, thi sáng tác những tác phẩm văn học nghệ thuật về biển,
đảo; các cuộc trao đổi tọa đàm, đối thoại, hội nghị, hội thảo, coi
trọng hình thức tuyên truyền miệng...
Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết này, năm 2010, Ban Tuyên giáo
Trung ương có Hướng dẫn số 93-HD/BTGTW. Theo đó, công tác tuyên
truyền biển, đảo năm 2010 sẽ được Ban Chỉ đạo Nhà nước về Biển Đông
- Hải đảo; các Tỉnh ủy, Thành ủy; các Ban đảng, Ban cán sự đảng,
Đảng đoàn, Đảng ủy trực thuộc Trung ương; Đảng ủy các Bộ, ngành có
liên quan triển khai tập trung vào 6 nội dung:
1. Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền sâu, rộng về vị trí, vai trò, tiềm
năng, thế mạnh của biển, đảo Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc. Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới, khu vực và đất
nước còn chứa đựng nhiều yếu tố chưa ổn định như hiện nay; trong
thời điểm vấn đề biển, đảo nhận được sự quan tâm lớn của dư luận
trong và ngoài nước, cần quan tâm nhấn mạnh những đặc điểm cơ bản
của biển, đảo Việt Nam; những thuận lợi và khó khăn, thời cơ và
thách thức đối với Việt Nam trong quá trình thực hiện Chiến lược
biển.
2. Tuyên truyền, phố biến những kiến thức pháp luật quốc tế và trong
nước về biển, đảo; những cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt
Nam đối với các đảo, quần đảo trên Biển Đông (đặc biệt hai quần đảo
Trường Sa và Hoàng Sa); những nghiên cứu có chiều sâu, tính thuyết
phục cao bác bỏ các quan điểm khác biệt, không được Việt Nam và quốc
tế thừa nhận về vấn đề biển, đảo; khẳng định quan điểm nhất quán của
Đảng, Nhà nước ta trong việc giải quyết tranh chấp trên biển thông
qua thương lượng hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế và trong
nước, giữ gìn mối quan hệ tốt đẹp đối với các nước láng giềng; nâng
cao ý thức đấu tranh bảo vệ, giữ gìn chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc,
góp phần củng cố hòa bình, hợp tác hữu nghị và cùng phát triển giữa
các quốc gia vùng Biển Đông.
3. Tuyên truyền, giới thiệu những thành tựu phát triển kinh tế biển,
đảo của từng ngành, địa phương và cả nước; vai trò của các thành
phần kinh tế tham gia tích cực vào phát triển kinh tế biển, đảo; chú
trọng tuyên truyền nhân rộng các điển hình về nghiên cứu ứng dụng
tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nuôi trồng khai thác thủy, hải sản;
quy hoạch phát triển giao thông vận tải biển, các cơ sở gia công,
khai thác hệ thống cảng biển, hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế biển,
các nhân tố mới trong phát triển kinh tế, an sinh - xã hội, đảm bảo
giữ gìn an ninh, chủ quyền các vùng biển, đảo của Tổ quốc.
4. Tuyên truyền các vấn đề về biến đổi khí hậu; công tác dự báo,
phòng chống thiên tai; cứu hộ, cứu nạn trên biển; bảo vệ môi trường
biển.
5. Tuyên truyền thực hiện đấu tranh chống các hiện tượng vi phạm
pháp luật trên biển, đảo; tích cực, nhanh chóng, kịp thời, chính xác
trong phòng chống hiện tượng xâm nhập trái phép vùng biển nước ta
của tàu thuyền nước ngoài và tàu thuyền nước ta vi phạm các quy định
về vùng biển của các nước láng giềng; đấu tranh, phản bác các luận
điệu sai trái của các thế lực cơ hội, thù địch xuyên tạc về chủ
quyền biển, đảo của Việt Nam.
6. Tuyên truyền về cuộc sống lao động và sẵn sàng chiến đấu của nhân
dân và lực lượng vũ trang ở vùng hải đảo; nâng cao tinh thần trách
nhiệm, tình cảm của mọi tầng lớp nhân dân đối với các chiến sĩ đang
làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo.
Công tác tuyên truyền về biển đảo được hệ thống truyền thông thực
hiện nhiều năm qua đã phát triển lên một bước sau khi có Nghị quyết
và các văn bản chỉ đạo nói trên. Nhận thức rõ ý nghĩa và trách nhiệm
thực hiện, Tạp chí Mặt trận đã có hình thức tuyên truyền biển đảo (xem
ảnh 1). Từ tháng 7-2010, lãnh đạo Tạp chí chủ trương phối hợp với
một số đối tác thực hiện “Dự án nghiên cứu phát triển kinh tế biển
“với bước chuẩn bị từ tháng 6-2010 khi Tổng biên tập là cộng tác
viên Tạp chí tham gia đoàn công tác cơ quan Trung ương Mặt trận đi
thăm và làm việc tại huyện đảo Trường Sa (ảnh 2).
Theo thoả thuận, Dự án có 4 hoạt động:
1/ Phối hợp nghiên cứu1
Hoạt động này thể hiện qua các Hội thảo, toạ đàm, sinh hoạt chuyên
đề và tổ chức những đợt
khảo sát thực tế các tỉnh ven biển2
2/ Có nhiều bài viết công bố trên Tạp chí Mặt trận và các phương
tiện truyền thông khác.
3/ Phổ biến kiến thức kinh tế biển; bao
gồm phối hợp tổ chức các buổi bồi dưỡng kiến thức và xuất bản ấn
phẩm.
4/ Tư vấn phát triển kinh tế biển.
4 hoạt động trên được thực hiện một cách đa dạng; trong đó gắn với
Diễn đàn khoa học các tổ chức thành viên Mặt trận và Diễn đàn báo
chí Mặt trận.
____________________________
1. Hoạt động này của Dự án có từ năm 1997. Trong đó,
đã tư vấn tổ chức Hội thảo về
phát triển Thuỷ sản tại Đồ
Sơn (Tạp
chí Cộng sản, Bộ Thuỷ sản và thành uỷ Hải Phòng phối hợp tổ chức năm
2001); hội thảo phát triển cảng biển vùng đông
bắc tại Hạ Long (Tạp chí Cộng sản, Bộ giao thông vận tải và tỉnh uỷ
Quảng Ninh phối hợp tổ chức năm 2002)...
2. Mở đầu
là chuyến đi
nghiên cứu tại Phú Quốc năm 1997.
* Nhà báo
|
TCMT
| Trở Về đầu trang
|
|
|
|
 |
|
|

Ngày hội đại
đoàn kết toàn dân tộc năm 2009

Các điển
hình tiêu biểu trong CVĐ TDĐKXDĐSVH ở KDC
(2004-2009)

Đối ngoại
nhân dân MTTQ
(2004-2009)
|
|

Ngày hội đại
đoàn kết toàn dân tộc năm 2008 |
|
|
hoan nghênh bạn đọc góp ý cho tạp chí |
|
|
|
| |
 |
|
|