|
|
 |
|
|
TIN MỚI :
thông tin được cập nhật liên tục
| |
|
|
 |
|
|
SỐ
80 (6 - 2010 ) |
|
|
|
|
|
VẤN ĐỀ SỰ KIỆN |
|
Cử
tri và nhân dân cả nước hoan nghênh Quốc hội, nhưng chưa hết băn
khoăn lo lắng
Tiến tới Đại hội lần thứ XI của Đảng
Mục
tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Thực
chất của cái gọi là "Vấn đề dân chủ, nhân quyền" ở Việt Nam
Kinh
nghiệm vận động trưng cầu dân ý ở một số nước trên thế giới
Tư
tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng và Nhà nước gắn bó với nhân dân
Kỷ niệm 85 năm Ngày báo chí cách mạng Việt Nam
Hội
Nhà báo Việt Nam - 60 năm một chặng đường phát triển vẻ vang
Hội
Nhà báo Việt Nam - thành viên tích cực của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Bạn
có biết ?
|
|
|
CỬ TRI VÀ NHÂN DÂN CẢ NƯỚC HOAN NGHÊNH QUỐC
HỘI,
NHƯNG CHƯA HẾT BĂN KHOĂN LO LẮNG!
LTS: Tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XII, khai mạc ngày 18-5-2010
tại thủ đô Hà Nội, ông Huỳnh Đảm, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương
Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam đã trình bày bản báo cáo quan trọng tổng hợp 1.157 ý kiến,
kiến nghị của cử tri và nhân dân cả nước gửi tới Quốc hội.
Ban Biên tập Tạp chí Mặt trận lược ghi và xin trân trọng giới thiệu
đến bạn đọc bản báo cáo nói trên. Đầu đề là của Tạp chí.
Những tháng đầu năm 2010, nhân dân cả nước sôi nổi thi đua lập thành
tích chào mừng các ngày lễ lớn: 80 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản
Việt Nam, 35 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất
nước…, tiến tới kỷ niệm 65 năm ngày Quốc khánh nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam và Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.
Vừa qua, đồng bào các dân tộc trong cả nước vui mừng phấn khởi trước
sự kiện lần đầu tiên Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ
chức Đại hội đại biểu toàn quốc các dân tộc thiểu số Việt Nam, đây
là dịp để biểu dương và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết các
dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặc
biệt, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trong cả nước và đồng bào ta
ở nước ngoài vừa long trọng tổ chức kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ
tịch Hồ Chí Minh kính yêu, tỏ lòng thành kính và biết ơn vô hạn đối
với công lao trời bể của Người, xác định quyết tâm đoàn kết, chung
sức chung lòng, thực hiện lời dạy của Người để phấn đấu xây dựng một
nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh,
góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.
Những tháng qua, cả nước tiếp tục nỗ lực phấn đấu vượt qua những khó
khăn, thách thức; ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, kinh tế
tiếp tục tăng trưởng ở mức khá, an sinh xã hội được chăm lo thiết
thực, chính trị ổn định, trật tự xã hội được đảm bảo, quốc phòng, an
ninh được giữ vững, khối đại đoàn kết toàn dân tộc được tăng cường,
vị thế của nước ta trên trường quốc tế tiếp tục được nâng cao; cử
tri và nhân dân càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý,
điều hành của Nhà nước.
Tuy nhiên, cử tri và nhân dân vẫn còn băn khoăn, lo lắng trước những
khó khăn, thách thức của đất nước như: Nguy cơ lạm phát cao trở lại
vẫn còn tiềm ẩn, ảnh hưởng đến ổn định kinh tế vĩ mô và sự phát
triển bền vững của nền kinh tế; sức cạnh tranh của nền kinh tế còn
yếu; vấn đề lao động và việc làm; vấn đề giáo dục, đào tạo, y tế và
xã hội; công tác quản lý đất đai, quản lý quy hoạch và tài nguyên,
môi trường; vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm; công tác phòng, chống
tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; thiên tai, hạn hán,
nước mặn xâm thực, dịch bệnh gia súc xảy ra trên diện rộng gây khó
khăn cho sản xuất và đời sống nhân dân.
Sau đây là những nội dung chủ yếu mà đông đảo cử tri và nhân dân
quan tâm kiến nghị:
1. Về công tác xây dựng pháp luật và hoạt động giám sát của Quốc hội
Cử tri hoan nghênh Quốc hội đã có nhiều cố gắng trong công tác xây
dựng pháp luật; nhiều đạo luật đáp ứng với yêu cầu phát triển đất
nước và nguyện vọng của nhân dân đã được Quốc hội ban hành. Tuy
nhiên cử tri tiếp tục kiến nghị Quốc hội nâng cao hơn nữa chất lượng
xây dựng pháp luật, tránh tình trạng một số đạo luật vừa mới ban
hành đã phải sửa đổi; khắc phục tình trạng luật khung phải chờ hướng
dẫn của Chính phủ mới triển khai thực hiện được.
Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm của Quốc hội tuy được
Quốc hội thảo luận kỹ và có nghị quyết ban hành, tuy nhiên trên thực
tế một số dự án luật đã phải rút ra khỏi chương trình do nhiều
nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân do chất lượng các dự án luật
chuẩn bị chưa tốt. Cử tri kiến nghị Quốc hội, nhất là các cơ quan
chuyên trách của Quốc hội cần đầu tư nhiều hơn nữa thời gian và trí
tuệ để phối hợp với các cơ quan chủ trì soạn thảo trong quá trình
xây dựng các dự án luật; kiên quyết không đưa vào chương trình những
dự án luật chuẩn bị chưa tốt, chưa đáp ứng các quy định của Luật ban
hành văn bản quy phạm pháp luật.
Cử tri đánh giá cao hoạt động giám sát của Quốc hội đối với việc
thực thi pháp luật; đặc biệt là hoạt động chất vấn và trả lời chất
vấn ngày càng đi sâu vào nhiều vấn đề mà đông đảo cử tri và nhân dân
quan tâm. Việc Ủy ban thường vụ Quốc hội tổ chức chất vấn một số Bộ
trưởng, Chánh án Toà án nhân dân tối cao tại các phiên họp của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội vừa qua, được các tầng lớp nhân dân quan tâm
và hoan nghênh. Cử tri kiến nghị Quốc hội tiếp tục đẩy mạnh và nâng
cao chất lượng hoạt động giám sát của Quốc hội, nhất là giám sát
việc thực thi pháp luật của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, giám
sát việc thực hiện lời hứa của các vị bộ trưởng, thành viên Chính
phủ; giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri, khiếu nại, tố
cáo của công dân; tăng cường và nâng cao chất lượng hoạt động chất
vấn và trả lời chất vấn tại các kỳ họp của Quốc hội và các phiên họp
của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
2. Về việc thực hiện các giải pháp bình ổn giá cả, kiềm chế lạm phát
Mặc dù Chính phủ đã có những giải pháp tích cực nhằm kiềm chế lạm
phát, ổn định kinh tế vĩ mô nhưng nền kinh tế nước ta còn có những
diễn biến phức tạp. Việc kiểm soát giá cả thị trường, ngăn chặn tình
trạng tăng giá dây chuyền các mặt hàng thiết yếu của các cơ quan
chức năng còn nhiều hạn chế; giá điện, giá xăng dầu liên tục tăng,
ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp và
đời sống của nhân dân, nhất là nông dân, người nghèo, người có thu
nhập thấp. Tiến độ và lộ trình cải cách tiền lương không theo kịp
với tốc độ tăng giá trên thị trường, ảnh hưởng đến đời sống của
người về hưu, người hưởng lương từ ngân sách. Nhiều cử tri khối các
doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ phản ánh khó khăn
trong việc vay vốn của ngân hàng, làm ảnh hưởng đến sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Đông đảo cử tri và nhân dân kiến nghị Chính phủ tiếp tục có những
biện pháp hữu hiệu để kiềm chế lạm phát, bình ổn giá cả, nhất là các
mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân; đồng thời
chỉ đạo ngành ngân hàng tiếp tục cải cách hành chính, có cơ chế phù
hợp để nhiều doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ được
vay vốn phát triển sản xuất, đóng góp cho sự phát triển chung của cả
nước.
3. Vấn đề lao động và việc làm
Suy thoái của nền kinh tế thế giới đã ảnh hưởng trực tiếp đến đời
sống của người lao động nói chung, trong đó có người lao động làm
việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Tình trạng
đình công của công nhân diễn ra tại các khu công nghiệp ở một số địa
phương có chiều hướng gia tăng như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh,
Bình Dương, Đồng Nai… mà nguyên nhân chủ yếu là các doanh nghiệp ép
công nhân làm việc quá thời gian theo quy định của pháp luật và trả
lương chậm, trả lương không đầy đủ như cam kết, cắt giảm các khoản
phụ cấp để điều chỉnh lương tối thiểu…
Cử tri cho rằng trong thời gian qua các cơ quan chức năng chưa phát
huy hết trách nhiệm trong việc quản lý nhà nước về lao động. Đề nghị
cần tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về lao động, buộc các doanh
nghiệp thực hiện đầy đủ các điều khoản trong Bộ Luật lao động về
giao kết hợp đồng lao động, đảm bảo chế độ tiền lương, bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tai nạn… nhằm đảm bảo quyền và lợi ích
hợp pháp cho người lao động.
Tình trạng thừa và thiếu công nhân lao động cũng đang diễn ra khá
phổ biến và không đồng đều giữa các địa phương. Nhiều nơi rất thiếu
công nhân lao động có tay nghề cao nhưng lại thừa nhân công có tay
nghề thấp, lao động phổ thông, nhất là những nơi bị thu hồi đất làm
các khu công nghiệp. Một số địa phương như thành phố Hồ Chí Minh và
một số tỉnh miền Đông Nam bộ lại thiếu lao động phổ thông khá trầm
trọng. Ở một số tỉnh đã xuất hiện tình trạng lao động phổ thông rời
bỏ các công ty, xí nghiệp trở về địa phương do không chịu được sức
ép về giá cả, điều kiện sinh hoạt.
Cử tri và nhân dân kiến nghị Chính phủ chỉ đạo các cơ quan chức năng
có những giải pháp đồng bộ để giải quyết tình trạng trên.
Nhân dân và cử tri nhiều nơi rất bức xúc trước việc ngư dân đánh bắt
cá xa bờ trên vùng biển Hoàng Sa thuộc chủ quyền nước ta bị tàu nước
ngoài bắt giữ, xử phạt và thu giữ công cụ đánh bắt đang có chiều
hướng gia tăng làm ảnh hưởng lớn đến đời sống và sản xuất của nhiều
ngư dân. Nhiều cử tri và nhân dân kiến nghị Quốc hội, Chính phủ tiếp
tục có những giải pháp hữu hiệu nhằm bảo vệ, hỗ trợ ngư dân ra khơi
đánh bắt cá, vừa ổn định đời sống, phát triển kinh tế, vừa góp phần
bảo vệ chủ quyền quốc gia đối với các vùng biển đảo của Tổ quốc.
4. Vấn đề giáo dục, đào tạo, y tế và xã hội
Trong thời gian qua, Đảng, Nhà nước đã rất quan tâm chỉ đạo ngành
giáo dục tiếp tục cải tiến, nâng cao chất lượng giáo dục, trong đó
có giáo dục bậc đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp. Tuy
nhiên, chất lượng giáo dục còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt
ra, chưa theo kịp đòi hỏi phát triển kinh tế, xã hội của đất nước;
nhiều sinh viên ra trường không tìm được việc làm, số tìm được việc
làm thì phải mất thời gian đào tạo lại mới tiếp cận được công việc
thực tế. Tình trạng các cơ quan chức năng cho phép thành lập một số
trường đại học, cao đẳng ở các địa phương, trong khi cơ sở vật chất
phục vụ cho việc giảng dạy, học tập thiếu thốn, lạc hậu, thiếu đội
ngũ giảng viên đủ tiêu chuẩn… gây bức xúc trong nhân dân.
Đông đảo cử tri và nhân dân kiến nghị Chính phủ cần tập trung chỉ
đạo sớm khắc phục tình trạng trên.
Tình trạng xuống cấp về đạo đức, lối sống, coi thường tính mạng
người khác và chính bản thân mình của một bộ phận giới trẻ; tình
trạng học sinh vi phạm pháp luật, sử dụng thuốc lắc, ma túy, xem và
lưu giữ phim ảnh đồi trụy, hành xử theo kiểu giang hồ, xã hội đen…
có xu hướng gia tăng, nhất là ở các thành phố lớn; tình trạng bạo
lực gia đình, nạn bạo hành đối với trẻ em, bạo lực học đường cùng
với thái độ thờ ơ của nhiều người… đang là nỗi lo của xã hội. Việc
giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh của nhiều trường chưa được
đề cao. Nội dung chương trình giáo dục đạo đức công dân còn nặng về
lý thuyết, ít liên hệ với thực tiễn xã hội; một số nhà trường chưa
chủ động có những giải pháp ngăn chặn cái xấu trong học sinh dẫn đến
những vụ việc đáng tiếc xảy ra.
Đông đảo cử tri và nhân dân kiến nghị Chính phủ chỉ đạo Bộ Giáo dục
và Đào tạo cần tập trung nghiên cứu để có những giải pháp đổi mới
một cách toàn diện, đồng bộ về cả chất và lượng của ngành giáo dục;
đồng thời phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng và gia đình để
quản lý, giáo dục thanh thiếu niên, giúp các em có lối sống lành
mạnh, có kỹ năng ứng xử phù hợp với các chuẩn mực về đạo đức và các
quy tắc trong xã hội.
Thời gian qua, tuy Chính phủ đã có nhiều cải cách trong lĩnh vực y
tế nhưng hiệu quả vẫn còn hạn chế, người có thu nhập thấp chưa được
hưởng những dịch vụ y tế có chất lượng tốt. Tình trạng quá tải của
các bệnh viện tuyến trung ương; vấn đề y đức của người thầy thuốc
cũng đang được cử tri và nhân dân quan tâm lo lắng; tình trạng một
số bác sỹ cấu kết với các nhà thuốc kê đơn nhiều thuốc, thuốc đắt
tiền không cần thiết cho người bệnh để hưởng hoa hồng, gây bức xúc
trong nhân dân, làm giảm lòng tin của nhân dân vào y đức của đội ngũ
thày thuốc và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống nhân dân.
Cử tri nhiều nơi phản ánh, Luật Bảo hiểm y tế đã có hiệu lực thi
hành nhưng việc thực hiện của các cơ quan chức năng thiếu đồng bộ
như việc đổi sổ bảo hiểm tiến hành chậm, việc thực hiện một số quy
định về thanh toán bảo hiểm còn khó khăn, phiền phức cho người tham
gia bảo hiểm.
Đông đảo cử tri và nhân dân kiến nghị Chính phủ sớm chỉ đạo kiểm tra,
xử lý, chấn chỉnh, khắc phục tình trạng trên. Đồng thời, chỉ đạo rà
soát quy hoạch, quan tâm đầu tư xây dựng các bệnh viện tuyến huyện,
tuyến tỉnh và khu vực để nâng cao hiệu quả khám chữa bệnh cho nhân
dân, hạn chế tình trạng bệnh nhân tập trung quá đông về các bệnh
viện tuyến trung ương; mặt khác, có chế độ đãi ngộ thoả đáng đối với
đội ngũ y, bác sỹ.
5. Công tác quản lý đất đai, quản lý quy hoạch và tài nguyên, môi
trường
Cử tri và nhân dân phản ánh việc một số tỉnh như Lạng Sơn, Cao Bằng,
Quảng Ninh, Hà Tĩnh, Nghệ An, Bình Định, Quảng Nam, Kon Tum, Bình
Dương… cho doanh nghiệp nước ngoài thuê đất rừng dài hạn, trong đó
có cả rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn, rừng tại các vị trí xung yếu về
an ninh quốc phòng… để trồng cây công nghiệp, làm sân gôn, sòng bạc
trong khi người dân ở những nơi đó còn thiếu đất sản xuất và công ăn
việc làm. Cử tri hoan nghênh Chính phủ đã ra quyết định đình chỉ
việc này ở các địa phương nói trên, nhưng tiếp tục kiến nghị Chính
phủ chỉ đạo làm rõ trách nhiệm của các cá nhân, tập thể có vi phạm,
sớm có các giải pháp khắc phục hậu quả và kiến nghị Quốc hội tăng
cường giám sát về vấn đề này.
Vấn đề quy hoạch đô thị nói chung, quy hoạch Hà Nội nói riêng cũng
được nhiều cử tri và nhân dân quan tâm. Cử tri và nhân dân cho rằng
nhiều dự án, nhiều công trình trọng điểm quốc gia triển khai còn
chậm, việc đầu tư chưa đồng bộ. Cử tri cũng rất bức xúc về tình
trạng đào bới lòng đường, vỉa hè thường xuyên, gây ách tắc giao
thông, ô nhiễm môi trường, nhất là ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh,
ảnh hưởng đến việc sản xuất kinh doanh và đời sống của nhân dân,
lãng phí tiền của Nhà nước. Đông đảo cử tri và nhân dân kiến nghị
Chính phủ chỉ đạo sớm khắc phục tình trạng trên.
Đặc biệt, nhiều cử tri và nhân dân rất quan tâm việc cơ quan chức
năng tổ chức lấy ý kiến nhân dân về đồ án quy hoạch chung xây dựng
thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn năm 2050. Đây là vấn đề hệ
trọng, có ý nghĩa trước mắt và lâu dài của đất nước. Cử tri và nhân
dân kiến nghị Quốc hội, Chính phủ cần lắng nghe ý kiến đóng góp của
nhân dân, ý kiến phản biện của các nhà khoa học, các nhà văn hoá,
các chuyên gia trong và ngoài nước trước khi phê duyệt đồ án.
Dự án đường sắt cao tốc Hà Nội - thành phố Hồ Chí Minh cũng được rất
nhiều cử tri quan tâm, nhất là các vấn đề về sự cần thiết đầu tư dự
án, giải pháp công nghệ, nguồn vốn đầu tư, di dân tái định cư, tác
động của dự án đến môi trường tự nhiên… Và kiến nghị Quốc hội cần
thảo luận, xem xét kỹ lưỡng trước khi quyết định thông qua nghị
quyết về chủ trương đầu tư Dự án này.
Công tác quản lý nhà nước, công tác thanh tra, giám sát của các cơ
quan chức năng trong hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản còn
bị buông lỏng, không thường xuyên dẫn đến việc vi phạm pháp luật,
tiêu cực trong quản lý, khai thác khoáng sản còn diễn ra kéo dài ở
nhiều nơi. Tình trạng phá rừng, cháy rừng nghiêm trọng còn diễn ra ở
một số địa phương. Cử tri và nhân dân rất bất bình về việc không ít
doanh nghiệp vì lợi nhuận đã bất chấp pháp luật, xả chất thải trực
tiếp ra môi trường, làm môi trường ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng,
gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống nhân dân, gần đây nhất là
vụ công ty Cổ phần công nghiệp Tung Kuang tại Hải Dương; Công ty cổ
phần đường Quảng Ngãi… Tình trạng dịch bệnh gia súc, nhất là dịch
lợn tai xanh lan nhanh không kiểm soát kịp thời, gây ô nhiễm môi
trường, mất an toàn thực phẩm nhưng các cơ quan chức năng xử lý chậm,
xử lý chưa nghiêm, chưa đủ sức răn đe các hành vi vi phạm.
Đông đảo cử tri kiến nghị Chính phủ chỉ đạo các cơ quan chức năng
tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, làm rõ trách nhiệm của các
cơ quan nhà nước có liên quan; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về
bảo vệ môi trường, vệ sinh, an toàn thực phẩm, về khai thác tài
nguyên, khoáng sản và bảo vệ rừng.
6. Về phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
Cử tri và nhân dân hoan nghênh thời gian qua Đảng và Nhà nước tiếp
tục đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm
chống lãng phí. Tuy nhiên, đông đảo cử tri cho rằng tham nhũng vẫn
diễn ra nhiều nơi, nhiều lĩnh vực và ngày càng tinh vi, phức tạp
nhưng các cơ quan chức năng phát hiện còn ít; một số vụ tham nhũng
lớn việc xử lý còn chậm; một số vụ xử lý chưa thoả đáng, gây bất
bình, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với các cơ quan tư pháp và
hiệu quả của công tác phòng chống tham nhũng.
Cử tri và nhân dân phản ánh thời gian qua việc tổ chức các lễ hội,
việc trao tặng các danh hiệu, các loại cúp cho các doanh nghiệp diễn
ra ở nhiều nơi, không được quản lý chặt chẽ, gây lãng phí tiền của,
thời gian, sức lực của Nhà nước và nhân dân.
Cử tri và nhân dân kiến nghị Chính phủ chỉ đạo các ngành chức năng,
các địa phương chấn chỉnh, khắc phục tình trạng trên.
Cử tri và nhân dân hoan nghênh Nhà nước nhiều năm qua đã tập trung
nguồn lực to lớn để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho nhiều vùng,
nhiều địa phương trong cả nước. Tuy nhiên, cử tri và nhân dân băn
khoăn lo lắng, phản ảnh về những yếu kém trong đầu tư xây dựng cơ
bản từ nguồn vốn nhà nước, nhiều công trình dự án không đảm bảo tiến
độ, không ít công trình thực hiện dở dang, chất lượng kém, gây lãng
phí tiền của nhà nước và nhân dân; thậm chí có công trình trọng điểm
quốc gia, công trình chào mừng các ngày lễ lớn chất lượng chưa đảm
bảo, gần đây nhất là vụ sập dầm cầu cạn Pháp Vân ở Hà Nội…
Cử tri và nhân dân kiến nghị Chính phủ chỉ đạo các ngành chức năng
sớm có giải pháp để khắc phục tình trạng trên, đồng thời kiên quyết
không để tình trạng “chạy đua” thời gian, gây lãng phí, làm ảnh
hưởng đến chất lượng công trình và gây lãng phí.
Cùng với những kiến nghị nêu trên, cử tri và nhân dân kiến nghị Quốc
hội, Chính phủ tiếp tục chỉ đạo giải quyết đến nơi đến chốn những
nội dung mà cử tri và nhân dân đã kiến nghị tại các kỳ họp trước.
BAN BIÊN TẬP
| Trở Về đầu trang
|
|
|
|
TIẾN TỚI ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
MỤC TIÊU ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
LTS: Để chuẩn bị cho Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng,
các cấp bộ đảng trong toàn quốc đang triển khai thảo luận, góp ý
kiến cho dự thảo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội cùng các văn kiện khác của Đảng.
Tạp chí Mặt trận xin trân trọng giới thiệu đến bạn đọc bài viết của
GS-TS Vũ Văn Hiền, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng Giám
đốc Đài Tiếng nói Việt Nam về chủ đề nói trên.
BAN BIÊN TẬP
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội của Đảng ta, được thông qua tại Đại hội lần thứ VII của Đảng (năm
1991) đã nêu rõ: “Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội, đó là bài học xuyên suốt quá trình cách mạng nước ta. Độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập
dân tộc”. Và tại Đại hội X của Đảng, khi tổng kết những bài học chủ
yếu của 20 năm đổi mới, Báo cáo Chính trị đã chỉ rõ bài học thứ nhất
là: Trong quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh.
Như chúng ta biết, dân tộc ta có truyền thống yêu nước, anh dũng bất
khuất, đã từng chiến thắng nhiều đế quốc phong kiến hung hãn. Từ khi
thực dân Pháp xâm lược nước ta, phong trào yêu nước đã dấy lên hết
sức mạnh mẽ. Các cuộc nổi dậy liên tiếp nổ ra trên khắp mọi miền đất
nước, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân, các bậc sĩ phu, kể cả
một bộ phận quan lại phong kiến. Các phong trào Cần Vương, Duy Tân,
Đông Du, khởi nghĩa Yên Thế, khởi nghĩa Yên Bái và hàng chục cuộc
đấu tranh khác nữa đều bị thực dân Pháp thẳng tay đàn áp và thất bại.
Điều đó chứng tỏ rằng, vẫn là nhân dân giàu lòng yêu nước, có truyền
thống chống giặc ngoại xâm, sẵn sàng ủng hộ và tham gia các phong
trào yêu nước; còn các bậc sĩ phu, các nhà lãnh đạo các phong trào
chống thực dân Pháp đều có trí dũng, không thiếu quyết tâm, nhưng cả
họ, cả giai cấp phong kiến và đại diện cho thế lực tư sản khi đó đều
không giải quyết được vấn đề dân tộc ở nước ta.
Trong bối cảnh đó, chưa bao giờ như lúc bấy giờ, độc lập dân tộc
càng trở nên là yêu cầu cơ bản, khách quan của xã hội Việt Nam - một
xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Công cuộc giải phóng dân tộc khi ấy
“đen tối như không có đường ra”. Bằng con đường nào và giai cấp nào
có khả năng gánh vác sứ mệnh trọng đại đó?
Nhưng rồi chính lịch sử có lời giải đáp. Chủ nghĩa Mác ra đời đã
vạch ra cái tất yếu từng bị che lấp bởi màn sương mù trong lịch sử.
Chủ nghĩa Mác khẳng định chủ nghĩa tư bản nhất định bị thay thế bằng
một chế độ tốt đẹp hơn - chế độ cộng sản chủ nghĩa không có người
bóc lột người và người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản chính là giai
cấp công nhân - sản phẩm của nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa.
Đó là một tiếng sét trong lòng chủ nghĩa tư bản ở vào thời thịnh trị
sau khi nó chiến thắng các chế độ chuyên chế phong kiến và đã bành
trướng ra khắp thế giới. Các nước tư bản phát triển khi ấy đang trở
thành “trung tâm vũ trụ” chi phối và làm mưa làm gió mọi mặt đời
sống xã hội loài người.
Chính vào thời điểm chủ nghĩa tư bản tưởng như đang cực thịnh ấy,
thì Cách mạng Tháng Mười đã nổ ra. Sự đột phá Tháng Mười mở đầu cho
một xu thế phát triển mới của lịch sử thế giới. Nếu trước Cách mạng
Tháng Mười, chế độ tư bản chủ nghĩa phát triển đến mức người ta rêu
rao như một “định mệnh”, như một “trật tự vĩnh hằng”, thì sau Tháng
Mười năm 1917, không ai không thấy cái “xiềng xích” giam hãm thế
giới đã bị chặt đứt, điều định mệnh ấy trở thành ảo tưởng, các trật
tự ấy bị lật nhào, tạo ra phản ứng dây chuyền của hàng loạt cuộc đấu
tranh giải phóng có quy mô to lớn và chiều sâu cách mạng chưa từng
thấy trong lịch sử nhân loại.
Rõ ràng, Cách mạng Tháng Mười Nga “rung chuyển thế giới” đã làm cho
tính chất thời đại thay đổi, giai cấp trung tâm của thời đại thay
đổi, vai trò lãnh đạo cách mạng cũng thay đổi; vì vậy con đường để
giải quyết mâu thuẫn của xã hội, lực lượng cách mạng và phương pháp
cách mạng cũng thay đổi.
Toàn bộ tình hình đó của thế giới, bằng nhiều con đường, dội vào và
thấm sâu trong mảnh đất Việt Nam - nơi mà chính “sự tàn bạo của chủ
nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi; chủ nghĩa cộng sản chỉ còn phải
làm cái việc là gieo hạt của công cuộc giải phóng nữa thôi”. Hơn ai
hết, chính Nguyễn Ái Quốc là người gieo hạt, gây mầm cách mạng Việt
Nam. Người đã đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa xã hội. Ở
Người, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, bản lĩnh và tố chất đặc biệt
Việt Nam đã “bắt gặp” chủ nghĩa Mác - Lênin, nói như cố Thủ tướng
Phạm Văn Đồng: một cuộc gặp gỡ đẹp như cùng hẹn trước - đã chung đúc
nên tư tưởng Hồ Chí Minh. Với kỳ công của Nguyễn Ái Quốc, chủ nghĩa
Mác - Lênin kết hợp với phong trào yêu nước và phong trào công nhân
Việt Nam chuyển hoá thành một tất yếu đưa đến một sự kiện trọng đại:
năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Sự kiện này là mốc son đánh
dấu sự kết hợp các nhân tố dân tộc và giai cấp, quốc gia và quốc tế,
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong bản chất của Đảng. Vừa ra
đời, Đảng tuyên bố: “Chủ trương tư sản dân quyền cách mạng và thổ
địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Lời tuyên bố ấy cũng đồng
nghĩa với lời bác bỏ thẳng thừng chế độ phong kiến và chế độ tư bản
chủ nghĩa; và nhìn rộng hơn, cũng bác bỏ bất cứ một con đường nào
khác. Một cách tự nhiên là, ngay sau lời tuyên bố ấy của Đảng, chủ
nghĩa xã hội không chỉ là mục tiêu lựa chọn mà đã thực sự thúc đẩy
lịch sử dân tộc Việt Nam chuyển mình, là con đường dân tộc Việt Nam
đã và đang đi, từ đó dọc theo thế kỷ XX, sang thế kỷ XXI và tiếp tục
cho tới đích cuối cùng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, chỉ có chủ
nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị
áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ; chỉ có
chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người, không
phân biệt chủng tộc và nguồn gốc, có một xã hội tốt lành gắn liền
với tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no; bảo đảm việc làm cho
mọi người, tất cả vì niềm vui, hoà bình, hạnh phúc của con người.
Rõ ràng, sự lựa chọn mục tiêu độc lập dân tộc gắn chặt với chủ nghĩa
xã hội của Đảng và nhân dân ta, xét về lôgíc là một tất yếâu khách
quan; xét về lịch sử, là hoàn toàn phù hợp với sự vận động của cách
mạng Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; xét về nhu cầu, là
hoàn toàn xuất phát từ điều kiện cụ thể của một nước thuộc địa, nửa
phong kiến và nguyện vọng cháy bỏng của nhân dân Việt Nam; và xét về
mặt xã hội, đó là một hệ giá trị cơ bản nhất quyết định sự phát
triển của đất nước Việt Nam hôm nay và mai sau.
Có thể khẳng định như vậy, bởi vì việc giải quyết vấn đề độc lập dân
tộc theo ý thức hệ phong kiến và tư sản, trong khuôn khổ của chế độ
phong kiến và chế độ tư bản chủ nghĩa không tránh khỏi những mâu
thuẫn và những hạn chế bắt nguồn từ bản chất kinh tế và chính trị
của các chế độ ấy - những hình thái kinh tế - xã hội dựa trên các
quan hệ tư hữu về tư liệu sản xuất và các quan hệ đối kháng giai cấp.
Vượt qua những mâu thuẫn và những hạn chế trong công việc giải quyết
vấn đề độc lập theo lập trường phong kiến và tư sản chỉ có thể là
con đường gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, tức là giải
quyết độc lập dân tộc theo lập trường của giai cấp công nhân, của
chủ nghĩa xã hội khoa học; đó là: Độc lập dân tộc thực sự phải là
độc lập về chính trị, kinh tế, văn hoá, đối ngoại. Độc lập dân tộc
thực sự đòi hỏi phải xoá bỏ tình trạng áp bức bóc lột và nô dịch của
dân tộc này đối với dân tộc khác về kinh tế, chính trị và tinh thần.
Do đó, độc lập gắn liền với tự do và bình đẳng, công việc nội bộ của
một quốc gia - dân tộc phải do quốc gia - dân tộc đó giải quyết,
không có sự can thiệp từ bên ngoài.
Bản chất của chủ nghĩa xã hội là thực hiện triệt để giải phóng giai
cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người.
Chủ nghĩa xã hội sẽ xoá bỏ căn nguyên kinh tế sâu xa của tình trạng
người bóc lột người do chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất
sinh ra. Nhờ đó, nó xoá bỏ cơ sở kinh tế sinh ra ách áp bức con
người về chính trị và sự nô dịch con người về tinh thần, ý thức và
tư tưởng.
Chủ nghĩa xã hội thực hiện độc lập dân tộc để mở đường đưa dân tộc
tới sự phát triển phồn vinh về kinh tế và sự phát triển phong phú,
đa dạng về văn hoá, tinh thần, sự thực hiện đầy đủ nhất quyền lực
của nhân dân. Chỉ với chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc mới đạt tới
mục tiêu phục vụ lợi ích và quyền lực của mọi người lao động, làm
cho mọi thành viên của cộng đồng dân tộc trở thành người chủ thực sự,
có cuộc sống vật chất ngày càng đầy đủ và đời sống tinh thần ngày
càng phong phú. Chính điều đó làm cho nền tảng của sự độc lập tự chủ
càng thêm vững chắc, khả năng bảo vệ nền độc lập dân tộc càng đầy đủ,
mạnh mẽ.
Sự phát triển thực chất và bền vững của độc lập dân tộc được đo bằng
những khả năng và điều kiện bảo đảm cho dân tộc thoát khỏi tình cảnh
nô lệ, phụ thuộc, bị áp bức, bóc lột và nô dịch. Nó cũng bảo đảm cho
dân tộc vượt qua tình trạng đói nghèo, lạc hậu và tụt hậu trong
tương quan với các dân tộc khác trong thế giới và ngày càng phát
triển mạnh mẽ hơn để đạt tới sự bình đẳng trong các mối quan hệ giữa
con người với con người, giữa cộng đồng dân tộc này với cộng đồng
dân tộc khác.
Toàn bộ khả năng và điều kiện bảo đảm đó chỉ có thể được tìm thấy và
giải quyết bằng con đường phát triển chủ nghĩa xã hội.
Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trở thành hệ giá trị phát triển
của Việt Nam, dưới ngọn cờ của Đảng, trong thời đại ngày nay. Đó
cũng chính là cái lôgíc phát triển lịch sử của dân tộc Việt Nam, 80
năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, làm nên cốt cách Việt Nam,
bản lĩnh Việt Nam và vị thế Việt Nam trước thế giới.
Nhận thức và hành động theo sự lựa chọn và theo hệ giá trị đó, Đảng
ta đã lãnh đạo thành công cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945, một điển
hình trong các dân tộc thuộc địa, tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng
chiến hoàn toàn không cân sức với “hai đế quốc to”, mở ra thời kỳ
phi thực dân sau Việt Nam cho cả hệ thống thuộc địa và các nước phụ
thuộc trên thế giới.
Qua hơn nửa thế kỷ giành và giữ độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa
xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt hơn 20 năm đổi mới, với hệ giá
trị đó, Đảng Cộng sản Việt Nam xứng đáng tiêu biểu cho bản lĩnh Việt
Nam trong việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, đã tỏ rõ tính
độc lập, tự chủ trong mọi đường lối, chính sách đối nội và đối ngoại,
đưa đời sống nhân dân lên ngày một cao hơn, đưa đất nước và dân tộc
lên vị thế mới trong khu vực và trên thế giới.
Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, với Việt Nam không chỉ là mục
tiêu, là nhu cầu, là cương lĩnh hành động, là ngọn cờ hiệu triệu, mà
còn là động lực, là niềm tin sắt son của dân tộc Việt Nam ta. Độc
lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội là sự gắn kết hai sức mạnh
thành một sức bật mới; là cội nguồn thắng lợi của cách mạng Việt Nam
hôm qua, hôm nay và mai sau.
Thế kỷ XXI mở đầu thiên niên kỷ thứ ba của một thế giới đầy biến
động cũng đồng thời mở ra một kỷ nguyên hội nhập, đua tranh gay gắt
của cộng đồng quốc tế. Dù thời cuộc biến đổi xoay vần ra sao, dù
phải đối mặt với xu thế toàn cầu hoá, với tất cả mặt tích cực và
tiêu cực, bất trắc; dù cho ai đó bị loá mắt bởi những bộ áo cánh sặc
sỡ của chủ nghĩa tư bản thì hệ giá trị độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội, trong ý thức và trong hành động vẫn là mục tiêu, lý tưởng,
là quốc bảo phù hợp xu thế thời đại. Mãi mãi giương cao ngọn cờ độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân
ta tiếp tục giành thắng lợi to lớn hơn nữa trong sự nghiệp đổi mới,
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng chủ nghĩa xã hội và
bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh, đưa đất nước ta sánh vai cùng các nước
trong khu vực và trên thế giới.
| Trở Về đầu trang
|
|
|
|
THỰC CHẤT CỦA CÁI GỌI LÀ “VẤN ĐỀ DÂN CHỦ,
NHÂN QUYỀN” Ở VIỆT NAM
Đại tá, PGS-TS. BÙI ĐÌNH BÔN*
Từ sau ngày 30-4-1975 đến nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù
địch luôn dựng lên cái gọi là “vấn đề nhân quyền” ở Việt Nam. Các
chính khách Mỹ tuyên bố: “ở Việt Nam còn có vấn đề nhân quyền mà Mỹ
phải quan tâm”. Dự luật số 954 của Thượng nghị viện Mỹ, được thông
qua ngày 23-9-1993, trong đó đòi Việt Nam cần có “tự do hoá chính
trị”, “tôn trọng quyền con người” và có một chính phủ dân chủ. Mỹ
“ủng hộ quá trình cải cách dân chủ phi bạo lực ở Việt Nam”. Như vậy,
cái gọi là “vấn đề nhân quyền” là một nội dung mà chủ nghĩa đế quốc
và các thế lực thù địch dựa vào đó để tuyên truyền phá hoại Việt Nam
trong nhiều năm qua. Nó là một cái cớ để các thế lực thù địch tuyên
truyền, kích động dư luận thế giới cô lập Việt Nam, gieo rắc sự nghi
ngờ trong các công dân Việt Nam đối với Nhà nước. Nó còn kích động
và khơi dậy sự phản kháng của những kẻ bất mãn, những phần tử cơ hội,
thoái hoá biến chất, những người trước đây cộng tác với chế độ cũ
hiện đang còn lại ở Việt Nam.
Trong cái gọi là “vấn đề nhân quyền” ở Việt Nam, ngoài những luận
điệu xuyên tạc về tình hình, vu cáo chúng ta đàn áp những người cộng
tác với chính quyền cũ, những người mà chúng gọi là “bất đồng chính
kiến”, “những người đấu tranh cho tự do, dân chủ”; chủ nghĩa đế quốc
và các thế lực thù địch còn vu cáo, xuyên tạc chính sách của Nhà
nước ta về tôn giáo, dân tộc, chính sách đối với văn nghệ sĩ. Đây là
những vấn đề đã và đang diễn ra rất phức tạp ở Việt Nam. Thông qua
“vấn đề nhân quyền”, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch muốn
tìm cớ để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Chúng đã tạo
ra và kích động sự bất bình chống lại nhà nước trong các tầng lớp
công chúng, chĩa mũi nhọn của dư luận vào bộ máy nhà nước ta; đẩy
nhiều cơ quan chức năng của Nhà nước Việt Nam vào thế bị động đối
phó, làm cho chúng ta phải mất nhiều thời gian, lực lượng và vật
chất để giải quyết hậu quả của vấn đề này trong nhiều năm qua. Chủ
nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch dựng lên cái gọi là “vấn đề
nhân quyền” ở Việt Nam để can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của
chúng ta, đặt điều kiện ép ta thoả hiệp, nhượng bộ về chính trị,
thay đổi đường lối của ta, đi theo quỹ đạo của chúng. Nó là đòn tấn
công của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch để tạo ra những
lực lượng chống đối ngầm trong nhân dân ta. Nếu không được vạch trần,
ngăn chặn, nó có khả năng làm rối loạn xã hội, tạo cơ hội cho “diễn
biến hoà bình” phát triển thành công ở Việt Nam.
Thủ đoạn của “diễn biến hoà bình” là tổng hợp các phương thức, biện
pháp được tiến hành trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư
tưởng, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, ngoại giao... Trong đó,
chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch xác định tấn công trên mặt
trận tư tưởng - chính trị là “mũi đột phá”, “thọc sâu” làm tan rã
niềm tin, gây hỗn loạn về lý luận và tư tưởng, tạo ra “khoảng trống”
để dần dần đưa hệ tư tưởng tư sản vào, cuối cùng là xoá bỏ hệ tư
tưởng xã hội chủ nghĩa. Nội dung chủ yếu của cuộc chiến tranh ý thức
hệ do chủ nghĩa đế quốc phát động là, tấn công vào lòng người, đánh
vào trận địa chính trị - tư tưởng của các nước xã hội chủ nghĩa. Các
nhà tư tưởng của chủ nghĩa đế quốc đã tổng kết: “Một đài phát thanh
cũng có thể bình định xong một đất nước”, “một đô la chi cho tuyên
truyền có tác dụng ngang với năm đô la chi cho quốc phòng”; “kích
động vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo là bốn đòn đột
phá khẩu, bốn mũi xung kích để chọc thủng mặt trận tư tưởng chính
trị”. Trong cuốn sách “Năm 1999 - chiến thắng không cần chiến tranh”,
nguyên Tổng thống Mỹ - R. Ních-xơn đã khẳng định: “Mặt trận tư tưởng
là mặt trận quyết định nhất”, “toàn bộ vũ khí của chúng ta, các hoạt
động mậu dịch, viện trợ, quan hệ kinh tế sẽ không đi đến đâu nếu
chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng”. Ông ta nhấn mạnh: “Cái sẽ
có tác dụng quyết định đối với lịch sử là tư tưởng, chứ không phải
là vũ khí”.
Nhận thức được điều đó, giới cầm quyền phản động và các thế lực thù
địch cho rằng, để lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, cần
phải điều chỉnh các biện pháp và phương thức, thay đổi các thủ đoạn
tiến hành “diễn biến hoà bình” cho thích hợp, vì tình hình Việt Nam
không giống như các nước Đông Âu hay Liên Xô trước đây. Chúng chủ
trương phá hoại trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, tư
tưởng, văn hoá, xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh, khoa học,
giáo dục... Và, khi cần thì dùng cả biện pháp kích động bạo loạn lật
đổ. Song, trọng tâm then chốt vẫn là phá hoại về tư tưởng - chính
trị. Chúng xác định rằng: “tước bỏ vũ khí tư tưởng của nhân dân là
khâu đột phá quan trọng trong diễn biến hoà bình”.
“Diễn biến hoà bình” là một thủ đoạn phi quân sự, chú trọng chiến
tranh tâm lý, đặc biệt nhấn mạnh sức mạnh của tư tưởng - ý thức hệ.
Trong đó, chủ yếu là “mặt trận tư tưởng - chính trị”. Chúng xác định,
xâm nhập được tư tưởng - chính trị của đối phương sẽ thu được hiệu
quả phi thường. Xâm nhập tư tưởng - chính trị, trên thực tế là mở
cuộc tấn công ý thức hệ vào nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Chúng
gọi đó là “tiến công vào lòng người” để làm sụp đổ tinh thần chiến
đấu của đối phương; làm tan rã về nội tâm, tinh thần và tư tưởng;
gây hỗn loạn về tư tưởng, gây tâm lý sợ hãi; kích động tâm trạng bất
mãn, thù địch với chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản; truyền bá
mô thức chính trị, mô thức kinh tế, quan niệm về giá trị và lối sống
của chủ nghĩa tư bản, khuyến khích đa nguyên hoá và thị trường hoá
nền kinh tế.
Từ khi chúng ta tiến hành công cuộc đổi mới, chủ nghĩa đế quốc và
các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh thực hiện âm mưu và hoạt động
“diễn biến hoà bình”, nhưng có sự thay đổi về thủ đoạn và sách lược.
Chúng tiến công ta mạnh mẽ hơn về tư tưởng - chính trị, coi đây là
mặt trận hàng đầu, là mũi nhọn đột phá, thọc sâu, vừa dùng các lực
lượng, phương tiện từ bên ngoài; đồng thời, tận dụng phát triển các
lực lượng, phương tiện ở trong nước ta, tạo ra sự chống đối mạnh mẽ
từ nội bộ Đảng, nội bộ xã hội ta, từng bước làm cho nhân tố bên
trong phát triển để phá ta từ trong nước, trong lòng chế độ. Chiến
lược “Vượt trên ngăn chặn” và “Bao vây cấm vận” được thay bằng chiến
lược “Triệt tiêu kẻ thù” (được nghiên cứu từ năm 1992, bắt đầu áp
dụng từ năm 1996, sau khi ta và Mỹ bình thường hoá quan hệ). Tư
tưởng chỉ đạo của chiến lược này là, áp dụng các biện pháp “can dự”,
“tiếp cận kẻ thù”, lôi kéo kẻ thù từ đối đầu sang đối thoại, tăng
cường hợp tác hoặc hoà nhập với Mỹ, theo sự chỉ huy hoặc khống chế
của Mỹ. Tức là, chúng không đứng ngoài hò hét chống phá mà xâm nhập
vào ta để đánh ta từ trong đánh ra, làm cho ta “tự diễn biến”, “tự
sụp đổ”, “cộng sản tự diệt cộng sản”, “cộng sản con diệt cộng sản bố”.
Giới cầm quyền Mỹ và các thế lực thù địch thực hiện chính sách lôi
kéo, thông qua các nước đồng minh, các tổ chức phi chính phủ, qua
các hình thức giao lưu, hợp tác về văn hoá, khoa học, giáo dục... để
thâm nhập, thu thập tin tức tình báo, làm chuyển hoá tư tưởng,
chuyển hoá chính trị, mua chuộc cán bộ, cài cắm nội gián; móc nối
với những người bất mãn, cơ hội chính trị, những người nắm được bí
mật quốc gia, những người đi công tác, học tập ở nước ngoài, gửi
phiếu đăng ký cung cấp thông tin cho nhiều tổ chức và cá nhân trong
nước để nắm nội bộ ta và tuyên truyền gây nhiễu thông tin; lợi dụng
các diễn đàn công khai (hội nghị, hội thảo) để tuyên truyền “tự do”,
“dân chủ, “nhân quyền” theo kiểu tư sản; tuyên truyền quan điểm cá
nhân ích kỷ cực đoan, phê phán ta vi phạm dân chủ, nhân quyền; tung
ra các luận điểm “nhân quyền cao hơn chủ quyền” để tạo cớ can thiệp
vào các nước có xu hướng độc lập, không chịu lệ thuộc Mỹ.
Chúng sử dụng trên 60 đài phát thanh và truyền hình, gần 400 tờ báo
và tạp chí tiếng Việt (trong đó có 10 báo và tạp chí rất phản động),
100 nhà xuất bản, 400 trang web để tuyên truyền chống Việt Nam. Đưa
một số lượng lớn tài liệu, sách báo, truyền đơn, băng hình, băng
nhạc,... có nội dung phản động, đồi trụy vào Việt Nam; chỉ đạo bọn
“bồi bút”, cơ hội viết nhiều bài xuyên tạc, dựng lên cái gọi là “vi
phạm dân chủ, nhân quyền”, “tù nhân lương tâm” để bôi nhọ tình hình
Việt Nam.
Từ năm 1986 đến nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch trong
và ngoài nước dấy lên một cao trào tuyên truyền cho “tự do”, “dân
chủ tư sản”, “chủ nghĩa đa nguyên”. Đẩy mạnh hoạt động này, chúng
nhằm hai mục đích. Thứ nhất, gây sức ép đòi Nhà nước ta chấp nhận và
hợp pháp hoá sự có mặt trên chính trường những tư tưởng tư sản và
những lực lượng chính trị đối lập, chống chủ nghĩa xã hội. Đây là
cái bẫy rất hiểm độc mà chúng đã từng sử dụng ở một số nước Đông Âu
và Liên Xô cũ. Nếu chúng ta không sáng suốt, tỉnh táo thì khó lường
hết những hậu quả sẽ xảy ra đối với chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước
ta, đối với Đảng và nhân dân ta. Thứ hai, về mặt công khai, nếu mục
tiêu này không đạt được, thì “việc tuyên truyền dân chủ, tự do tư
sản, tuyên truyền cho đa nguyên, đa đảng sẽ kích động, khuyến khích
được những người bất mãn, cá nhân chủ nghĩa, non kém về chính trị
nổi lên chống chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”.
Như vậy, khi sử dụng nội dung trên đây vào các hoạt động phá hoại
Nhà nước ta, chúng âm mưu “cấy” vào xã hội ta nền tảng tư tưởng
chống chủ nghĩa xã hội và tạo thế cho các lực lượng phi xã hội chủ
nghĩa phát triển và có chỗ đứng ở Việt Nam. Đến một lúc nào đó, khi
có thêm “chất xúc tác, các lực lượng này sẽ là những nhân tố tạo ra
“ngòi nổ” làm sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Lợi dụng những mâu thuẫn xã hội tạm thời trong nội bộ nhân dân ở một
số địa phương, tổ chức Đảng và chính quyền cơ sở ở một số nơi yếu
kém, quan liêu, xa dân, có sai phạm; giải quyết không kịp thời những
mâu thuẫn xã hội nảy sinh, kéo dài; bọn cơ hội và các thế lực thù
địch đã kích động, khoét sâu thêm mâu thuẫn, nhất là vấn đề vi phạm
dân chủ, vi phạm nhân quyền, tham nhũng, nhằm gây ra những “điểm
nóng”, từng bước xóa nhòa tư tưởng xã hội chủ nghĩa.
Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch còn triệt để lợi dụng
những “điểm nóng” đó để kích động quần chúng hoạt động chống đối.
Chúng đã hỗ trợ tài chính, tổ chức lực lượng về nông thôn để “nắm
tình hình”, chỉ đạo các hoạt động chống phá, thông qua các hoạt động
hợp pháp và bất hợp pháp, dưới các hình thức tham quan, du lịch,
phóng viên báo chí, Việt kiều về thăm thân. Mặt khác, chúng tăng
cường vận động quốc tế gây sức ép đối với Việt Nam. Quốc hội Mỹ đã
thông qua một số nghị quyết chống phá chúng ta trên các phương diện
chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội... Nghị quyết 231 của Quốc hội
Mỹ, trong đó nội dung cơ bản nói về tình hình “nổi dậy” vì “dân chủ,
tự do và tôn giáo,...” của nông dân ở tỉnh Thái Bình và một số địa
phương khác ở Việt Nam. Tố cáo Việt Nam “vi phạm tự do, dân chủ,
nhân quyền”; “đàn áp tự do tôn giáo”; “đàn áp đấu tranh chống tham
nhũng”; “không có tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội,...”.
Được sự hỗ trợ, chỉ đạo của chủ nghĩa đế quốc, các thế lực thù địch
trong nước đã và đang ráo riết đẩy mạnh hoạt động móc nối với bọn
phản động trong các tôn giáo, tuyên truyền phổ biến “kinh nghiệm
Thái Bình”, “phong trào Thái Bình” ra nhiều địa phương khác nhằm tạo
ra nhiều “điểm nóng” , hình thành “một mặt trận” ở nông thôn, làm vô
hiệu hoá tổ chức đảng và chính quyền ở cơ sở, từ nông thôn lan sang
thành thị, mở rộng sang các lĩnh vực khác, thúc đẩy gây biến động
chính trị, kinh tế, xã hội, tăng cường áp lực chuyển hoá đường lối,
chế độ xã hội; tạo cớ cho các thế lực phản động bên ngoài can thiệp.
* Thư ký khoa học chuyên trách Hội đồng Lý luận Trung ương.
| Trở Về đầu trang
|
|
|
|
KINH NGHIỆM VẬN ĐỘNG TRƯNG CẦU DÂN Ý Ở MỘT
SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
TS. TRỊNH THỊ XUYẾN*
Trưng
cầu dân ý là một trong những hình thức dân chủ trực tiếp, mà thông
qua đó người dân (các cử tri) có thể trực tiếp tự quyết định về một
vấn đề cụ thể và không giao quyền ra quyết định này cho các đại diện
(nhà nước). Trưng cầu dân ý thường được sử dụng để sửa đổi Hiến pháp,
luật pháp hay thông qua một đạo luật hay chính sách mới. Ở khía cạnh
khác, trưng cầu dân ý còn được coi là một hình thức công dân kiểm
soát chặt chẽ các quan chức được bầu. Mặc dù trưng cầu dân ý đã được
thực hiện ở khá nhiều nước như Mỹ, Canada, Thụy Sĩ... song xung
quanh vấn đề này vẫn còn nhiều bàn cãi, tranh luận.
Có quan điểm phê phán hình thức dân chủ trực tiếp, cho rằng trưng
cầu dân ý sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến nền dân chủ đại diện. Cụ thể,
nó có thể làm suy yếu nền dân chủ đại diện do làm suy yếu vai trò và
tầm quan trọng của các đại diện được bầu. Một lý do khác là, các cử
tri không phải lúc nào cũng có khả năng hoặc đủ thông tin để đưa ra
những quyết định hợp lý về vấn đề đang trưng cầu và thay vào đó là
những quyết định thiếu hiểu biết dựa trên những nhận thức phiến diện
hay trên các cơ sở và yếu tố không cơ bản. Xu hướng này sẽ trở nên
trầm trọng hơn trong trường hợp trưng cầu dân ý về những vấn đề phức
tạp như thay đổi Hiến pháp hoặc các hiệp ước quốc tế, vì cho rằng cử
tri thường không am hiểu nhiều về các vấn đề này.
Những người phản đối trưng cầu dân ý còn chỉ ra khả năng khi cơ quan
hành pháp có quyền quyết định thời gian tổ chức trưng cầu dân ý, họ
có thể sử dụng trưng cầu dân ý như một công cụ chính trị để đáp ứng
nhu cầu của đảng cầm quyền hơn là lợi ích của nền dân chủ.
Tuy nhiên, những người ủng hộ trưng cầu dân ý lại cho rằng, trong
bối cảnh cử tri ngày càng thờ ơ và vỡ mộng đối với các hình thức dân
chủ truyền thống, thì hình thức dân chủ trực tiếp này có thể giúp
gắn kết các cử tri với chính trị và dân chủ. Hơn nữa, dân chủ trực
tiếp đóng vai trò là một quy tắc hữu ích đối với thái độ của các
quan chức được bầu, đảm bảo các đại diện này sẽ xem xét đầy đủ
nguyện vọng của cử tri khi ra các quyết định thay mặt cử tri. Ngoài
ra, trưng cầu dân ý còn được sử dụng để giải quyết các vấn đề chính
trị cụ thể cho chính phủ đương nhiệm, khi đảng cầm quyền bị chia rẽ
về một vấn đề nào đó. Lúc này việc tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý
có thể tìm ra giải pháp cho một vấn đề mà không dẫn đến sự chia rẽ
trong đảng.
Trưng cầu dân ý có hai loại: bắt buộc và không bắt buộc. Trưng cầu
dân ý bắt buộc, được tổ chức trong những trường hợp nhất định hoặc
liên quan đến những vấn đề nhất định đã được quy định trong luật.
Kết quả của trưng cầu dân ý bắt buộc có tính ràng buộc, phải thực
hiện. Trong khi đó, trưng cầu dân ý không bắt buộc có thể là cuộc
trưng cầu dân ý không do luật quy định, có thể do chính phủ và trong
một số trường hợp là do đảng chính trị khởi xướng. Kết quả của cuộc
trưng cầu dân ý này chỉ có tính chất tham khảo hoặc tư vấn.
Trưng cầu dân ý nên là bắt buộc hay chỉ là tư vấn cũng là vấn đề
được đặt ra. Chính phủ có thể quyết định một cuộc trưng cầu dân ý về
vấn đề chính trị cụ thể do áp lực công chúng hoặc do sự chia rẽ
trong chính phủ. Trưng cầu dân ý không bắt buộc được tổ chức khá
thường xuyên ở các nước châu Âu về vấn đề gia nhập liên minh châu Âu
(mặc dù trong một số trường hợp, những cuộc trưng cầu dân ý như vậy
là bắt buộc vì chúng liên quan đến sửa đổi Hiến pháp của một quốc
gia). Những cuộc trưng cầu dân ý này có thể không bị ràng buộc về
mặt pháp lý. Tuy nhiên, đối với chính phủ việc phớt lờ kết quả trưng
cầu dân ý có thể gây nên những khó khăn về mặt chính trị.
Bài học rút ra ở đây là, trong khi tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý,
cần phải rõ ràng ngay từ khi bắt đầu về tầm quan trọng, vị thế của
cuộc trưng cầu dân ý. Chính phủ có bị ràng buộc bởi kết quả trưng
cầu dân ý hay không, hay kết quả trưng cầu dân ý chỉ đơn thuần có
tính chất tham khảo? Để tránh sự không rõ ràng có thể làm giảm tính
chính đáng và giá trị của một cuộc trưng cầu dân ý, câu trả lời phải
được tuyên bố trong phạm vi luật trưng cầu dân ý.
Thông thường, chính phủ không có lợi khi luật trưng cầu dân ý quy
định rằng, kết quả trưng cầu dân ý là bắt buộc, vì điều này có nghĩa
sẽ không còn chỗ cho sự thoái lui của chính phủ, khi kết quả trưng
cầu dân ý không phải là kết quả mà chính phủ ủng hộ. Tuy nhiên, trên
thực tế, việc chính phủ tảng lờ kết quả trưng cầu dân ý là rất khó,
ngay cả khi trưng cầu dân ý chỉ có tính chất tư vấn về mặt kỹ thuật.
Một chính phủ bị cho là chống lại ý nguyện của đa số cử tri sẽ là
rất không khôn ngoan về mặt chính trị, ngay cả khi nó rất muốn chống.
Những vấn đề này thường được xem xét kỹ lưỡng khi thiết kế cơ chế
trưng cầu dân ý.
Thông qua thực tiễn vận động trưng cầu dân ý ở các nước trên thế
giới, có thể rút ra các kinh nghiệm vận động trưng cầu dân ý sau:
+ Thứ nhất, cần có một ủy ban trưng cầu dân ý độc lập để vận động
trưng cầu dân ý không bị lạm dụng và có tác động tích cực trong xã
hội. Ủy ban trưng cầu dân ý là một cơ quan hoạt động độc lập, được
thiết lập bởi đạo luật trưng cầu dân ý. Chức năng cơ bản của ủy ban
là giải thích những vấn đề thuộc về trưng cầu dân ý, thúc đẩy nhận
thức công chúng về vấn đề trưng cầu và khuyến khích toàn bộ cử tri
bỏ phiếu. Như vậy, ủy ban thông báo chi tiết về thông tin vận động,
hoạt động để nâng cao hiểu biết của cử tri và khuyến khích nhân dân
bỏ phiếu.
Các cuộc vận động rất sinh động cả về mặt ủng hộ và chống đối đối
với vấn đề đưa ra trưng cầu và nhiệm vụ của ủy ban là loại bỏ những
nhầm lẫn, làm cho các vấn đề trở nên rõ ràng và khuyến khích người
dân bỏ phiếu. Ủy ban khẳng định lại chắc chắn với cử tri rằng, ở
giữa những cuộc tranh cãi và thay đổi nóng bỏng này, ủy ban sẽ trình
bày vấn đề được trưng cầu với một sự độc lập, trung tính và giải
thích rõ ràng những gì mà người dân yêu cầu. Ủy ban không đưa ra lập
luận ủng hộ hay phản đối mà nó chỉ giải thích chi tiết để dựa vào đó
cử tri sẽ ra quyết định vào ngày bỏ phiếu.
+ Thứ hai, cách thức diễn đạt vấn đề trưng cầu dân ý của cơ quan có
trách nhiệm phải đảm bảo tính trung lập. Nghiên cứu của các chuyên
gia cho thấy rằng, cách thức vấn đề được nêu ra có thể có gợi ý đáng
kể cho nhân dân bỏ phiếu như thế nào. Vì vậy, việc soạn thảo và đưa
ra vấn đề trưng cầu dân ý phải đảm bảo được tính trung lập với các
lợi ích trong xã hội.
Để đảm bảo tiêu chí này, ủy ban trưng cầu dân ý là một lựa chọn hợp
lý nếu nó được coi là trung tính trong cuộc tranh luận trưng cầu dân
ý. Trách nhiệm của ủy ban là đảm bảo vấn đề trưng cầu dân ý dễ hiểu
đối với cử tri hơn là cố gắng khuyến khích cử tri bỏ phiếu theo một
cách cụ thể. Chính phủ có thể đảm nhận trách nhiệm soạn thảo vấn đề
trưng cầu dân ý. Tuy nhiên, nếu chính phủ ủng hộ một kết quả cụ thể
của trưng cầu dân ý, chính phủ sẽ có thể cố gắng diễn đạt vấn đề một
cách có tính toán để khuyến khích nhân dân bỏ phiếu theo những cách
có lợi cho mình. Hơn nữa, ngay cả khi chính phủ không cố gắng làm
như vậy, các đối thủ của chính phủ cũng có thể cho rằng chính phủ
đang tìm cách thao túng vấn đề, điều này sẽ hủy hoại tính chính đáng
của cuộc trưng cầu dân ý.
Một giải pháp cho nguy cơ tiềm năng này là cho phép chính phủ soạn
thảo vấn đề nhưng trao cho một cơ quan độc lập, chẳng hạn cho ủy ban
trưng cầu dân ý vai trò trung lập giám sát quá trình soạn thảo. Ở
Anh, chính phủ có trách nhiệm soạn thảo vấn đề trưng cầu dân ý,
nhưng ủy ban Bầu cử độc lập được yêu cầu bình luận công khai về tính
dễ hiểu của vấn đề. Ủy ban đã tạo cho công chúng một loạt các tiêu
chí mà theo đó cuộc trưng cầu dân ý sẽ được thực hiện. Tuy nhiên,
nếu bình luận của ủy ban có tính chỉ trích mạnh, thì việc chính phủ
tảng lờ những bình luận này cũng gặp phải khó khăn về mặt chính
trị.1
+ Thứ ba, xác định mục đích và động cơ vận động. Động cơ của cuộc
vận động có thể khác nhau phụ thuộc vào vấn đề trưng cầu dân ý.
Có thể phân loại thành 3 dạng vận động:
Thứ nhất, vận động hình thành dư luận. Trong cuộc vận động này,
người ta không mong đợi công luận được hình thành một cách đầy đủ về
vấn đề trưng cầu mà chỉ cần tạo được dư luận trong xã hội.
Thứ hai, vận động thay đổi dư luận nhằm vào những vấn đề có tính
khai phá, hợp lý để tạo sự ủng hộ cho những xu hướng mới qua cuộc
vận động.
Thứ ba, vận động tăng cường dư luận, làm cho dư luận đã được hình
thành vững chắc hơn và có ít khả năng có thể thay đổi nhanh chóng
hay bộc lộ những điều bất ngờ.
+ Thứ tư, vận động trưng cầu dân ý cung cấp thông tin, làm rõ vấn đề
đang được đưa ra để trưng cầu
Cách tốt nhất để làm rõ vấn đề trưng cầu dân ý là nên đề cập cả
những lợi thế, lợi ích, tác động tích cực của vấn đề cũng như những
mặt hạn chế và tác động tiêu cực của nó nếu vấn đề đưa ra được chấp
thuận. Chương trình, nội dung vận động phải đưa ra được những luận
cứ và chứng minh có tính thuyết phục để người tiếp nhận có thể dễ
dàng đánh giá, so sánh, cân nhắc và đưa ra được quyết định của mình.
Đối với chiến dịch vận động ủng hộ vấn đề, nên tránh đưa ra những
câu khẩu hiệu có tính khẳng định như “đồng ý”, “tán thành” mà thay
bằng sự khích lệ, “nếu các bạn còn nghi ngờ, hãy hỏi” hoặc “hãy tìm
hiểu”.
Thông tin đóng vai trò quan trọng trong quá trình vận động và hình
thành dư luận. Một trong những vấn đề quan trọng của vận động trưng
cầu dân ý là làm thế nào để thông tin, thường được cung cấp bởi
truyền thông, có thể giúp cho việc hình thành (vững chắc) ý kiến và
thay đổi nhận thức của các ứng cử viên về vấn đề chính trị trong các
điều kiện cụ thể của cuộc vận động trưng cầu dân ý.
Sự hiểu biết về vấn đề trưng cầu dân ý phải được thể hiện thông qua
việc nhận thức các ý kiến có sự phê phán của cử tri. Đối với những
vấn đề phổ biến, quá trình nhận thức này có thể ít quan trọng so với
những gì mà các cử tri đã có từ kinh nghiệm và tri thức trước đây.
Vì vậy, phiếu của họ có thể phần lớn bị dẫn dắt bởi ưu thế của việc
sắp xếp trước, hoặc bởi thái độ được xây dựng từ trước. Đối với
những vấn đề ít nổi bật, các cử tri có thể phụ thuộc nhiều hơn vào
thông tin mà họ đã nhận được trong suốt cuộc vận động.
+ Thứ năm, tạo được các nguồn quỹ cần thiết để thực hiện chiến dịch
tuyên truyền, quảng cáo. Việc xem xét làm thế nào để quy định trưng
cầu dân ý là quan trọng, vì việc đưa ra một khuôn khổ cho tranh luận
công khai là vấn đề cơ bản để tiến hành một cuộc vận động và trưng
cầu tự do, công bằng. Tuy nhiên, việc giải thích như thế nào là công
bằng vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Chẳng hạn, một cuộc vận động
“công bằng” có phải là một cuộc vận động bình đẳng khi cả hai phía
ủng hộ và phản đối có các nguồn lực sử dụng bằng nhau để thúc đẩy
mong muốn của họ? Hay một cuộc vận động công bằng là khi mỗi phía
vận động có một mức độ bình đẳng tối thiểu về tài chính nhưng cũng
có thể tăng tài chính và sử dụng sự đóng góp của cá nhân? Hoặc một
cuộc vận động công bằng có nghĩa là để cho các nhà vận động không bị
kiểm soát việc chi tiêu bất kỳ khoản tiền nào được trao cho họ?
Trên thực tế, quy định vận động trưng cầu dân ý cũng khác nhau ở các
nước. Một số nước không áp đặt bất kỳ sự kiểm soát nào đối với cuộc
vận động và các nhà vận động, trong khi đó ở một số nước khác, tài
chính và các kiểm soát khác được ấn định cho bất kỳ cá nhân hoặc tổ
chức nào có mong muốn tham gia vận động.
Điều đáng chú ý là các nước thực hiện trưng cầu dân ý đã khai thác
khá tốt ưu thế của phương tiện truyền thông hiện đại trong vận động
trưng cầu dân ý. Phương tiện vận động, quảng cáo chính gồm có truyền
hình, truyền thanh, báo chí và các phương tiện truyền thông trực
tuyến cũng được thực hiện để tuyên truyền lợi ích của cuộc trưng cầu
dân ý. Chẳng hạn, một Website sẵn có và giải thích những vấn đề
chính của vấn đề trưng cầu dân ý; Website còn cho phép các cử tri
tiếp cận và đăng ký, bỏ phiếu. Trong đó có giải thích việc đăng ký,
bỏ phiếu như thế nào. Việc quảng cáo, tuyên truyền, vận động còn
được thực hiện trên các báo quốc gia và các đài phát thanh để thu
hút sự chú ý và nhận thức của nhân dân. Ngoài ra các sách cầm tay
giải thích cũng được in và phân phát cho mỗi hộ gia đình bỏ phiếu.
Ở Việt Nam, hình thức dân chủ trực tiếp - trưng cầu dân ý, dù đã
được ghi nhận thành nguyên tắc hiến định nhưng cho đến nay việc thực
hiện trưng cầu dân ý chưa thực hiện được là bao. Hiện nay, chúng ta
đang triển khai xây dựng luật trưng cầu dân ý. Tuy nhiên, để có được
một đạo luật tốt và có khả năng thực thi trên thực tế, còn rất nhiều
điều cần được bàn luận, cân nhắc. Một hình thức dân chủ trực tiếp
thường gắn liền với những chi phí rất tốn kém, nếu được tổ chức thực
hiện tốt thì trưng cầu dân ý mới có ý nghĩa, không lãng phí tiền của,
công sức của nhân dân, xã hội.
_____________
1. Issues Relating to the Referendum Mechanism, an Electoran
Processes Team Working Paper, International Idea, September 2004.
* Viện Chính trị học, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ
Chí Minh.
| Trở Về đầu trang
|
|
|
|
HƯỞNG ỨNG CUỘC VẬN ĐỘNG:
"HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH"
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC GẮN BÓ VỚI NHÂN
DÂN
TS. ĐẶNG ĐÌNH TÂN*
Một
trong những tư tưởng chính trị quan trọng của Hồ Chí Minh là tư
tưởng về mối quan hệ giữa Đảng - Nhà nước và quần chúng nhân dân
trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Tiếp thu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, cách mạng là sự nghiệp
của quần chúng, quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo chân chính
ra lịch sử, ngay từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức sâu
sắc về vai trò của nhân dân, lấy dân làm gốc, tin tưởng vững chắc
vào sức mạnh to lớn, năng lực sáng tạo của nhân dân.
Để phát huy sức mạnh của nhân dân, Hồ Chí Minh đã khẳng định sự cần
thiết phải có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, là đội tiền phong chính
trị của giai cấp công nhân và xây dựng khối liên minh giữa giai cấp
công nhân với giai cấp nông dân và trí thức làm nòng cốt của Mặt
trận dân tộc thống nhất. Đảng có vai trò khơi dậy động lực, phát huy
sức mạnh của cả dân tộc, thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc và đi
lên chủ nghĩa xã hội.
Về bản chất, Đảng Cộng sản Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân,
nhưng về lợi ích thì chỉ có mục đích cao nhất đấu tranh cho độc lập
dân tộc, tự do hạnh phúc của nhân dân, cho mỗi con người, xây dựng
đất nước giàu mạnh, hoà bình, hữu nghị với tất cả các dân tộc, ngoài
ra Đảng Cộng sản Việt Nam không có lợi ích nào khác.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, chính quyền là vấn đề cơ
bản của mọi cuộc cách mạng xã hội. Nói về nhiệm vụ của giai cấp vô
sản trong việc giành lấy quyền lực nhà nước từ tay giai cấp thống
trị, C.Mác - F.A ngghen viết “Giai cấp vô sản sẽ dùng sự thống trị
chính trị của mình để từng bước đoạt lấy toàn bộ tư bản trong giai
cấp tư sản, để tập trung tất cả những công cụ sản xuất vào trong tay
nhà nước, tức là trong tay giai cấp vô sản đã được tổ chức thành
giai cấp thống trị và tăng thật nhanh số lượng những lực lượng sản
xuất lên”. Tiếp thu, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về việc
xây dựng nhà nước kiểu mới, kế thừa những giá trị truyền thống của
dân tộc và những tinh hoa nhân loại, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây
dựng một Nhà nước của dân, do dân, vì dân là một di sản quý báu.
Hồ Chí Minh luôn đặt nhiệm vụ cho Đảng ta phải xây dựng một nhà nước
kiểu mới mà quyền lực chính trị là tập trung và phải thuộc về nhân
dân lao động. Nhà nước chỉ là cơ quan được uỷ thác quyền lực từ nhân
dân và nhà nước sử dụng quyền lực ấy phục vụ cho nhân dân, vì sự
nghiệp giải phóng người lao động và giải phóng con người. “Chúng ta
đã hy sinh làm cách mệnh, thì làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách
mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một
bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được
hạnh phúc”1. Số nhiều, theo Hồ Chí Minh ở Việt Nam, đó là nhân dân
lao động, trong đó công - nông - trí thức là đội quân chủ lực của
cách mạng, là lực lượng nòng cốt trong việc xây dựng Mặt trận Dân
tộc Thống nhất Việt Nam.
Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt tay
vào thiết kế, tổ chức, chỉ đạo và trực tiếp điều hành hoạt động của
Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu
tiên trong lịch sử nước ta. Về phương diện này, tư tưởng của Người
thể hiện trên một số luận điểm cơ bản sau:
Quyền lực Nhà nước là thống nhất ở nhân dân và chỉ ở nhân dân. Nhà
nước được nhân dân giao quyền nhưng không được tiếm quyền, lộng
quyền, lạm quyền. Việc Nhà nước sử dụng đúng quyền lực, đúng mục
đích của mình chính là để phục vụ nhân dân. Chính vì vậy, từ khi Nhà
nước ra đời đến nay, Đảng ta luôn quán triệt và thường xuyên nhắc
nhở cán bộ, đảng viên trong bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể phải
chống mọi biểu hiện của sự tha hoá quyền lực và nhân dân là người có
vai trò kiểm soát quyền lực “Quyền lực của cơ quan lãnh đạo là do
quần chúng, đảng viên giao phó cho, chứ không phải ai tự tranh giành
được”.
Tư tưởng về xây dựng nhà nước của dân, nhà nước là đại biểu cho sự
tập trung thống nhất của khối đại đoàn kết dân tộc được Hồ Chí Minh
thiết kế và chỉ ra những nội dung rất cụ thể:
“Nước ta là nước dân chủ
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân
Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân
Sự nghiệp kháng chiến kiến quốc là công việc của dân
Chính quyền từ xã đến chính phủ trung ương do dân cử ra
Đoàn thể từ trung ương đến xã do dân tổ chức nên
Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.
Ngay ngày 3.9.1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời,
Người đã nêu ra 6 nhiệm vụ cấp bách về xây dựng một Nhà nước kiểu
mới: “Tôi đề nghị chính phủ tổ chức càng sớm càng tốt cuộc tổng
tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân, trai gái
18 tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo,
tôn giáo, dòng giống”. “Trong nước Việt Nam dân chủ cộng hoà của
chúng ta, tất cả mọi quyền lực đều là của nhân dân... Lấy liên minh
công nông làm nền tảng, đoàn kết các giai cấp dân chủ và các dân tộc
trong nước để thực hiện dân chủ chuyên chính”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, lợi ích của nhân dân mà Nhà nước có
trách nhiệm chăm lo là cụ thể, như việc ăn, ở, mặc, học hành, chữa
bệnh... hàng ngày của nhân dân. “Chúng ta tranh được tự do, độc lập
rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự do, độc lập cũng không làm
gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được
ăn no, mặc đủ”.
Nhà nước dân chủ là một Nhà nước tiến bộ nhất trong lịch sử. Dân là
chủ, địa vị cao nhất trong xã hội là nhân dân. Trong thời đại ngày
nay, Nhà nước dân chủ được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản,
theo Hồ Chí Minh, một nhà nước phải thật sự trong sạch và sáng suốt.
Nhà nước đó phải dựa hẳn vào nhân dân. “Phải nhớ rằng dân là chủ,
dân như nước, mình như cá, lực lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết...
chớ vác mặt quan cách mạng cho dân ghét, dân khinh, dân không ủng hộ”.
Hồ Chí Minh đã đề cập nhiều đến mối quan hệ giữa chính phủ và nhân
dân: “Nếu không có nhân dân thì chính phủ không đủ lực lượng. Nếu
không có chính phủ thì nhân dân không có ai dẫn đường. Vì vậy chính
phủ và nhân dân phải đoàn kết thành một khối”. Nhân dân và chính phủ
là hai mặt thống nhất trong mối quan hệ biện chứng. Khi đã xác định
dân là chủ, là chủ thể thì chính phủ là công bộc, là đầy tớ của nhân
dân. Nếu không làm tròn bổn phận của người đầy tớ, nếu chính phủ làm
hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ. “Chính phủ cộng hoà dân chủ
là gì? Là đầy tớ trung thành của dân, từ Chủ tịch toàn quốc đến làng...
Làm việc không phải để thăng quan phát tài. Nếu chính phủ làm hại
dân thì dân có quyền đuổi chính phủ, nhưng khi dân dùng đầy tớ làm
việc cho mình thì phải giúp đỡ chính phủ”. Người khẳng định “Đã
phụng sự nhân dân thì phụng sự cho ra trò. Nghĩa là việc gì lợi cho
dân thì phải làm cho kỳ được, việc gì hại cho dân thì phải hết sức
tránh”.
Nhân dân với tư cách là chủ, thì mọi công dân phải hết lòng vì sự
nghiệp giải phóng dân tộc, phụng sự cho sự nghiệp kháng chiến kiến
quốc, đoàn kết xung quanh Đảng Cộng sản, ủng hộ và giúp đỡ chính phủ,
kiểm tra phê bình, kiểm tra chính phủ: “Chế độ của ta là chế độ dân
chủ. Nhân dân là chủ, chính phủ là đầy tớ của nhân dân. Nhân dân có
quyền đôn đốc, phê bình chính phủ... Nhân dân lại có nhiệm vụ giúp
đỡ chính phủ theo đúng kỷ luật của chính phủ và làm đúng chính sách
của chính phủ để chính phủ làm tròn bổn phận mà nhân dân đã giao”.
Từ những tư tưởng cơ bản về một đảng kiểu mới, một nhà nước kiểu mới,
quyền lực tối thượng thuộc về nhân dân, nòng cốt là liên minh giữa
giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức dưới sự
lãnh đạo của Đảng, được Hồ Chí Minh vận dụng trong chỉ đạo xây dựng
Hiến pháp 1946 và suốt trong những năm sau khi hòa bình lập lại
(1954) ở miền Bắc và trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam. Nó là kết tinh những giá trị truyền thống với hiện đại và chủ
nghĩa Mác - Lênin. Tư tưởng của Hồ Chí Minh về một đảng kiểu mới, về
Nhà nước của dân, do dân và vì dân và về vai trò của quần chúng nhân
dân, các đoàn thể nhân dân đến nay vẫn giữ nguyên giá trị, tiếp tục
định hướng chính trị cho việc xây dựng, củng cố sự lãnh đạo của Đảng
đối với hệ thống chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã
hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của các tầng lớp nhân dân
thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã
hội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập
quốc tế hiện nay.
____________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 1995, t.2, tr.270.
| Trở Về đầu trang
|
|
|
|
KỶ NIỆM 85 NĂM NGÀY BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM (21-6-1925 _
21-6-2010)
HỘI NHÀ BÁO VIỆT NAM - 60 NĂM MỘT CHẶNG ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN VẺ VANG
LTS: Ngày 20-4-2010, tại thủ đô Hà Nội, Hội Nhà báo Việt Nam đã long
trọng tổ chức lễ kỷ niệm 60 năm Ngày thành lập (21-4-1950 –
21-4-2010), đồng chí Trương Tấn Sang, Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp
hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã đến dự và có bài phát biểu
quan trọng.
Ban Biên tập Tạp chí Mặt trận lược ghi bài phát triển nói trên và
xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc. Đầu đề là của Tạp chí.
b
BAN BIÊN TẬP
...Trong mọi giai đoạn cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh
luôn coi trọng, đánh giá cao vai trò của báo chí, luôn quan tâm chăm
lo xây dựng, chỉ đạo hoạt động báo chí và đào tạo, bồi dưỡng, xây
dựng đội ngũ những người làm báo.
Ngay từ năm 1925, trong quá trình vận động thành lập Đảng, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã cho ra đời Báo Thanh niên. Người trực tiếp viết bài,
biên tập và tổ chức xuất bản tờ báo để tuyên truyền chủ nghĩa Mác -
Lênin và khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí đấu tranh giành độc lập
dân tộc trong các tầng lớp thanh niên và nhân dân ta. Báo Thanh niên
đã góp phần tích cực vào việc chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ
chức để Đảng ta ra đời vào ngày 3-2-1930. Nhiều cán bộ được Chủ tịch
Hồ Chí Minh đào tạo, rèn luyện từ khi đó, sau này trở thành những
cán bộ ưu tú của Đảng, những nhà báo xuất sắc. Ngày 21-6-1925, ngày
Báo Thanh niên ra số đầu đã trở thành Ngày truyền thống của Báo chí
cách mạng Việt Nam.
Từ khi ra đời, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đứng
đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi báo chí là vũ khí tư tưởng sắc
bén để tuyên truyền, vận động nhân dân; đoàn kết tập hợp mọi lực
lượng yêu nước; chỉ đạo các phong trào hành động cách mạng của quần
chúng; đấu tranh chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, giành độc lập, tự
do và thống nhất đất nước; thúc đẩy sự nghiệp đổi mới, xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Trong thời kỳ hoạt động bí mật, đấu tranh giành chính quyền vô cùng
gian khổ, Đảng đã chắt chiu dành dụm nguồn kinh phí ít ỏi, cử những
cán bộ dày dạn kinh nghiệm, những quần chúng trung kiên sang phụ
trách, trực tiếp làm báo và phát hành báo. Trong những năm tháng ác
liệt của các cuộc kháng chiến chống xâm lược, Đảng, Nhà nước ta vẫn
luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tạo điều kiện để báo chí cách mạng
hoạt động và phát triển; chăm lo đào tạo, bồi dưỡng phát triển đội
ngũ những người làm báo ngày càng đông đảo, đồng thời bằng nhiều
hình thức vận động, đoàn kết, tập hợp các nhà yêu nước và tiến bộ
trong vùng địch chiếm đóng tham gia đóng góp vào cuộc kháng chiến
của dân tộc. Việc các hội nhà báo yêu nước do Đảng ta chỉ đạo ra đời
từ rất sớm, nhất là việc thành lập Hội Những người viết báo Việt
Nam, nay là Hội Nhà báo Việt Nam, tại chiến khu Việt Bắc năm 1950,
khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang diễn ra rất ác liệt,
đã thể hiện sự quan tâm, đánh giá cao của Đảng, Nhà nước ta và Chủ
tịch Hồ Chí Minh đối với vai trò rất quan trọng của báo chí nói
chung và của Hội Nhà báo nói riêng.
Trong suốt mấy thập kỷ qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, báo chí cách
mạng Việt Nam và đội ngũ những người làm báo nước nhà đã vượt qua
mọi khó khăn gian khổ, nhiều nhà báo anh dũng hy sinh trên các chiến
trường, hoàn thành xuất sắc sứ mệnh vẻ vang mà đất nước và nhân dân
giao phó. Báo chí đã tuyên truyền, đưa chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước đến với các tầng lớp nhân dân; phản ánh sinh động
thực tế hào hùng của các cuộc kháng chiến cứu nước cũng như thực
tiễn sôi động của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;
phát hiện, cổ vũ, động viên, nhân rộng các nhân tố mới, những điển
hình tiên tiến; góp phần khơi dậy và làm sôi động các phong trào thi
đua yêu nước của đồng bào, chiến sĩ ta ở mọi miền của Tổ quốc, trên
mọi lĩnh vực, làm nên những chiến công vang dội, những thành tựu to
lớn. Đồng thời, báo chí còn là diễn đàn thể hiện ý chí, tình cảm,
nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân, những đóng góp,
kiến nghị của nhân dân với Đảng, Nhà nước; những sáng kiến của nhân
dân tham gia vào việc giải quyết những vấn đề đặt ra trong công cuộc
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Báo chí đã tích cực đấu tranh chống tiêu
cực, tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội, góp phần làm cho
cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn, môi trường xã hội trong lành hơn;
đấu tranh phản bác các luận điểu vu cáo, xuyên tạc, làm thất bại mọi
âm mưu, hoạt động tuyên truyền của các thế lực thù địch chống phá sự
nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Báo chí đã tham gia tích cực, đóng
vai trò quan trọng trong lĩnh vực thông tin đối ngoại để nhân dân
thế giới, bạn bè quốc tế hiểu biết về đất nước, con người, sự nghiệp
chính nghĩa và thành tựu to lớn của cách mạng Việt Nam, tạo nên sự
đoàn kết, ủng hộ rộng rãi của bạn bè quốc tế đối với sự nghiệp cách
mạng của nhân dân ta,... Trong những thành tựu chung đó, có sự đóng
góp của Hội Nhà báo Việt Nam. 60 năm qua, Hội Nhà báo Việt Nam khi
là một tổ chức thống nhất trong cả nước, hay khi do yêu cầu của tình
hình nhiệm vụ phải tổ chức thành hai hội hoạt động ở hai miền, đều
làm tốt vai trò doàn kết, tập hợp, động viên, cổ vũ những người làm
báo sáng tạo ra những tác phẩm báo chí phục vụ sự nghiệp cách mạng
của Đảng ta, nhân dân ta.
Trong những năm vừa qua, các cấp hội nhà báo đã phối hợp với các cấp,
các ngành, các cơ quan chức năng của Đảng và Nhà nước triển khai tổ
chức thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa X) “Về công
tác tư tưởng, lý luận, báo chí trong thời kỳ mới”, Chỉ thị 37 của
Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) về “Nâng cao vai trò, vị trí,
chất lượng và hiệu quả hoạt động của các cấp Hội Nhà báo Việt Nam”
và gần đây nhất là Thông báo Kết luận số 221 của Ban Bí thư (khóa X)
về tiếp tục thực hiện Chỉ thị 37 của Ban Bí thư, bước đầu đạt được
những kết quả đáng ghi nhận. Vai trò, vị trí và hiệu quả hoạt động
của các cấp hội nhà báo được nâng lên. Công tác đào tạo, bồi dưỡng
nâng cao nhận thức chính trị, trình độ nghiệp vụ, đạo đức nghề
nghiệp cho hội viên được tăng cường. Hội đã cố gắng, nỗ lực tham gia
vào việc chuẩn bị và hoàn thiện các cơ chế, chính sách về thông tin,
báo chí, quản lý báo chí của Nhà nước; bảo vệ quyền hành nghề hợp
pháp và chính đáng của nhà báo. Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư
Trung ương Đảng, tôi nhiệt liệt biểu dương những cống hiến to lớn
của nền báo chí cách mạng và giới báo chí nước nhà đối với sự nghiệp
cách mạng vẻ vang của Đảng ta, nhân dân ta; nhiệt liệt biểu dương
những thành tựu và đóng góp xứng đáng của Hội Nhà báo Việt Nam trong
60 năm qua vào sự nghiệp phát triển của báo chí đất nước nói riêng
cũng như sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung.
... Sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng
xã hội chủ nghĩa của đất nước ta trong những năm qua đã thu được
những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Thế và lực của đất nước
được tăng cường. Vị thế và uy tín của Việt Nam ngày càng được nâng
cao trên trường quốc tế. Chúng ta đang đứng trước những triển vọng
và thời cơ lớn để phấn đấu đưa đất nước đến năm 2020 cơ bản trở
thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Đồng thời, tình hình
thế giới và trong nước cũng đặt ra trước đất nước ta những khó khăn
và thách thức lớn. Điều đó cũng đặt ra cho báo chí, cho đội ngũ
những người làm báo, cho hội nhà báo các cấp những nhiệm vụ rất nặng
nề và rất vẻ vang.
Báo chí cần phát huy những thế mạnh, ưu điểm, khắc phục những thiếu
sót khuyết điểm để làm tốt vai trò là vũ khí tư tưởng sắc bén, tuyên
truyền, vận động, tập hợp, đoàn kết cổ vũ động viên các tầng lớp
nhân dân, nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới,
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng
và Nhà nước ta. Báo chí phải tăng cường, nâng cao chất lượng tuyên
truyền về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh,
quan điểm, đường lối của Đảng, luật pháp, chính sách của Nhà nước;
đấu tranh vạch trần những âm mưu, phản bác những luận điểm xuyên tạc,
vu cáo của các thế lực thù địch. Phát hiện, biểu dương, cổ vũ những
nhân tố mới, những điển hình tiên tiến, những cái đẹp, cái hay, cái
tích cực, tiến bộ; đồng thời tích cực đấu tranh chống tham nhũng,
lãng phí và tệ nạn xã hội, phê phán, đẩy lùi những cái xấu, cái ác,
cái tiêu cực. Kiên quyết khắc phục những lệch lạc, xa rời tôn chỉ,
mục đích, thương mại hóa của một số cơ quan báo chí. Báo chí phải
góp phần tạo ra được trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta khí thế
dời non lấp biển, chớp thời cơ, vượt qua mọi khó khăn, thách thức để
đạt bằng được mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Để thực hiện tốt các nhiệm vụ nặng nề nhưng hết sức vẻ vang đó của
báo chí, hội nhà báo các cấp có trách nhiệm và vai trò rất quan
trọng. Là tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp của những người
làm báo, Hội phải tập hợp, đoàn kết, sát cánh cùng hội viên; giúp
các nhà báo nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo
đức, ý thức trách nhiệm, trình độ kiến thức, nghiệp vụ để sáng tạo
ra nhiều tác phẩm hay và hữu ích cho xã hội. Hội cần khắc phục những
nhược điểm, đổi mới mạnh mẽ hơn nội dung và phương thức hoạt động;
tích cực tham gia bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, chính sách về
thông tin, báo chí, tạo điều kiện thuận lợi để các nhà báo tác
nghiệp, để các cơ quan báo chí phát triển; vừa quản lý, kiểm tra
việc thực hiện quy định về đạo đức nghề nghiệp, vừa tích cực đấu
tranh bảo vệ quyền lợi chính đáng và quyền hành nghề hợp pháp của
nhà báo. Tôi tin tưởng rằng, trong bối cảnh mở cửa và hội nhập quốc
tế, cùng với đà đi lên của đất nước, được sự quan tâm của Đảng và
Nhà nước, sự ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân, nền báo chí nước nhà nhất
định sẽ phát triển ngày càng mạnh mẽ, hoàn thành tốt sứ mệnh là
“người thư ký” của thời đại Hồ Chí Minh, thời đại độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội, làm cho đất nước ta ngày càng phồn vinh, nhân dân
ta có cuộc sống ngày càng tự do, ấm no, hạnh phúc; Hội nhà báo nhất
định sẽ hoàn thành tốt trọng trách của mình trước Đảng, Nhà nước và
nhân dân, trước đội ngũ những người làm báo của đất nước.
| Trở Về đầu trang
|
|
|
|
HỘI
NHÀ BÁO VIỆT NAM - THÀNH VIÊN TÍCH CỰC CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
LÊ VĂN THIỀNG*
Trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam giữ vai trò cực kỳ quan trọng. Với tư cách là đại diện cho khối
đại đoàn kết toàn dân tộc, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tạo thành
nguồn động lực vô cùng lớn lao, gắn kết, phát huy mọi sức mạnh, mọi
tinh hoa của thời đại, cùng với Đảng, Nhà nước và nhân dân thiết lập
hệ thống chính trị vững mạnh, tổ chức thực hiện thành công các nhiệm
vụ cách mạng nhằm đạt mục tiêu: độc lập dân tộc, thống nhất lãnh thổ,
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Cùng với
các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp khác, Hội Nhà
báo Việt Nam rất vinh dự là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam. Hội Nhà báo Việt Nam đã và đang tiếp tục làm tốt vai trò tổ
chức thành viên của mình trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Hội Nhà báo Việt Nam được thành lập ngày 21-4-1950 tại xóm Roòng
Khoa, xã Điềm Mặc, huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên. Kể từ đó đến
nay, Hội Nhà báo Việt Nam đã qua 8 kỳ đại hội. Tại Đại hội lần thứ
II Hội Nhà báo Việt Nam năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát biểu:
“Nói về Hội Nhà báo. Đó là một tổ chức chính trị và nghiệp vụ. Nhiệm
vụ của Hội là phải làm cho hội viên đoàn kết chặt chẽ, giúp đỡ nhau
để nâng cao trình độ chính trị và nghiệp vụ. Có như thế thì Hội Nhà
báo mới làm tròn nhiệm vụ của mình và những người làm báo mới phục
vụ tốt nhân dân, phục vụ tốt cách mạng”. Tiếp sau đó, tại Đại hội
lần thứ III Hội Nhà báo Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã dạy:
“Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng, cây bút trang giấy là vũ
khí sắc bén của họ. Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ
báo chí cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng, cố gắng trau dồi tư
tưởng, nghiệp vụ và văn hoá, chú trọng học tập chính trị để nắm vững
chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ, đi sâu vào thực tế, đi
sâu vào quần chúng lao động”.
Chỉ thị 37 của Ban Bí thư Trung ương Đảng nêu rõ: “Hội Nhà báo Việt
Nam là tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp của những người làm
báo Việt Nam, hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng và trong khuôn khổ
pháp luật của Nhà nước. Hội cần được tiếp tục đổi mới, kiện toàn về
tổ chức, đổi mới phương thức hoạt động nhằm tập hợp và đoàn kết rộng
rãi các nhà báo trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng và của
dân tộc, chủ động tham gia công tác chỉ đạo, quản lý báo chí; xây
dựng hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về báo chí để góp phần
xây dựng và phát triển nền báo chí cách mạng và đội ngũ những người
làm báo Việt Nam trong thời kỳ mới... Các cấp uỷ đảng, chính quyền,
các cơ quan chỉ đạo quản lý báo chí cần tăng cường công tác lãnh đạo,
chỉ đạo, phối hợp hoạt động và có quy định cụ thể tạo điều kiện cần
thiết về cán bộ chuyên trách, kinh phí, điều kiện, phương tiện làm
việc để Hội Nhà báo các cấp hoạt động đạt hiệu quả thiết thực”.
Văn bản số 162, ngày 1-12-2004, thông báo Kết luận của Bộ Chính trị
về một số biện pháp tăng cường quản lý báo chí trong tình hình hiện
nay, nêu rõ: “Các cơ quan chỉ đạo, quản lý, chủ quản và Hội Nhà báo
các cấp phối hợp chặt chẽ, thường xuyên để tổ chức thực hiện tốt
những chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về báo
chí, đề xuất những chủ trương, biện pháp cụ thể để nâng cao chất
lượng hoạt động báo chí, giao ban báo chí. Khẩn trương hoàn thiện cơ
quan quản lý về nội dung, nhân sự, tài chính. Quan tâm hơn nữa việc
đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ các nhà báo về nhận
thức chính trị và chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp, trách
nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân”.
Hội Nhà báo Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp duy
nhất của các nhà báo cách mạng Việt Nam với số lượng hội viên trên
17.000 người (tính đến hết năm 2009) đang công tác tại các cơ quan
báo chí trong cả nước. Hội Nhà báo Việt Nam có tổ chức theo ngành
dọc rất chặt chẽ, từ Trung ương xuống địa phương, cơ sở, theo 3 cấp:
cấp Trung ương có Ban Chấp hành Hội Nhà báo Việt Nam được Đại hội
bầu ra và Ban Chấp hành bầu ra Ban Thường vụ, Chủ tịch, Phó Chủ tịch,
Ban Kiểm tra; cơ quan Trung ương có các bộ phận tham mưu, giúp việc
cho Ban Chấp hành. Cấp thứ hai là Hội Nhà báo các tỉnh, thành phố có
các Liên chi hội nhà báo. Cấp thứ ba là các Chi hội trực thuộc Trung
ương Hội, các Chi hội thuộc Hội Nhà báo các tỉnh, thành phố và các
Chi hội thuộc các Liên chi hội. Nhiệm vụ của Hội Nhà báo Việt Nam là
tập hợp và đoàn kết rộng rãi những người làm báo Việt Nam phấn đấu
vì mục tiêu và lý tưởng cách mạng của Đảng, đóng góp tích cực vào
việc xây dựng và phát triển nền báo chí Việt Nam trong thời kỳ mới;
vào việc xây dựng và phát triển đội ngũ những người làm báo Việt
Nam; xây dựng và từng bước hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, chế độ
chính sách về báo chí, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động báo chí.
Từ ngày thành lập đến nay, hơn nửa thế kỷ qua, dưới sự lãnh đạo của
Đảng và Nhà nước, Hội Nhà báo Việt Nam đã có những đóng góp quan
trọng vào việc tổ chức, động viên, cổ vũ các nhà báo - hội viên thực
hiện tốt những nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam, thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của báo chí Việt Nam,
xây dựng và phát triển đội ngũ những người làm báo; góp phần tích
cực vào công tác tuyên truyền, phổ biến mọi chủ trương, đường lối,
chính sách của Đảng và Nhà nước, trong đó có các chủ trương, đường
lối, chính sách về đại đoàn kết toàn dân tộc. Đội ngũ những người
làm báo mà nòng cốt là những hội viên Hội Nhà báo Việt Nam trong các
cơ quan báo chí đã sáng tạo nhiều tác phẩm báo chí phản ánh đậm nét
và có hiệu quả các chính sách về công tác mặt trận; giới thiệu, cổ
vũ, động viên những nhân tố mới, điển hình mới về công tác mặt trận,
góp phần quan trọng vào thắng lợi của cách mạng trong hai cuộc kháng
chiến chống Pháp, chống Mỹ, vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc, tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng,
tiêu cực, chống những quan điểm sai trái và luận điệu xuyên tạc của
các thế lực chống phá cách mạng Việt Nam. Đồng thời, Hội Nhà báo
Việt Nam đã có những đóng góp to lớn vào sự phát triển của nền báo
chí Việt Nam, tham gia chỉ đạo, quản lý báo chí, từng bước hoàn
chỉnh hệ thống pháp luật, chính sách về báo chí, có nhiều hoạt động
đối ngoại phong phú, không ngừng phát huy và nâng cao vị thế của Hội
Nhà báo Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.
Trong những năm gần đây, Hội Nhà báo Việt Nam đã phối hợp với Uỷ ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức thành công Giải báo chí
“Vì sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc” hàng năm. Ngay từ khi phát
động, Giải đã thu hút được sự chú ý của giới báo chí và của các tầng
lớp nhân dân đến các hoạt động thuộc lĩnh vực đại đoàn kết toàn dân
tộc, từ đó khơi gợi, sáng tạo được nhiều tác phẩm báo chí tham gia
cuộc thi, lần lượt xuất hiện các tác phẩm báo chí phản ánh sâu đậm
về đề tài này, trong đó có nhiều tác phẩm có hiệu quả và hiệu ứng xã
hội cao. Trong công tác vận động quần chúng chăm lo xây dựng khối
đại đoàn kết toàn dân bên cạnh việc phối hợp tổ chức giải báo chí
“Vì sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc” ở cấp Trung ương, Hội Nhà
báo Việt Nam cũng chỉ đạo các Hội Nhà báo tỉnh, thành phố thường
xuyên phối hợp với Mặt trận cùng cấp tổ chức các Giải báo chí “Vì sự
nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc” ở địa phương. Báo chí địa phương
qua vai trò của các hội viên - nhà báo sinh hoạt trong các Chi hội,
luôn luôn đổi mới cách viết, cách phản ánh, làm sao cho các bài viết
về công tác mặt trận có nội dung hấp dẫn, thiết thực, có tác dụng
tuyên truyền tập thể, cổ động tập thể và tổ chức tập thể các chương
trình, nội dung công tác mặt trận đến các đối tượng bạn đọc. Đã có
nhiều địa phương tổ chức thành công các cuộc thi hàng năm, có sự
phối hợp của Mặt trận với Hội Nhà báo, tiêu biểu như: Đắc Lắc, Kon
Tum, Gia Lai, Lâm Đồng, Sóc Trăng, Trà Vinh, Yên Bái, Tuyên Quang,
Sơn La, Hoà Bình, Phú Thọ... Đây là kết quả nổi bật không chỉ của
mối quan hệ trong phối hợp công tác chung mà còn thể hiện mối quan
hệ phối hợp hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với các tổ chức
thành viên.
Cùng với việc phối hợp tổ chức các giải báo chí, Hội Nhà báo Việt
Nam cũng phối hợp chặt chẽ với Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam tổ chức tuyên truyền các chương trình, dự án của Mặt trận,
đặc biệt là các chương trình từ thiện nhằm mục đích xoá đói giảm
nghèo cho các đối tượng xã hội; giúp dân khắc phục thiên tai...
Hưởng ứng lời kêu gọi của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, năm nào Hội Nhà báo Việt Nam cũng thông qua các cấp hội trực
thuộc vận động nhà báo, hội viên đóng góp tiền và hiện vật đưa xuống
tận vùng sâu, vùng xa để giúp đồng bào khắc phục hậu quả thiên tai.
Cụ thể trong năm 2009, Hội Nhà báo Việt Nam đã tổ chức 2 chuyến cứu
trợ đồng bào bị bão lụt ở Nghệ An và Điện Biên. Cùng với Trung ương
Hội, Hội Nhà báo các tỉnh, thành phố cũng phối hợp với Ban Biên tập
các báo tham gia tích cực các đợt quyên góp ủng hộ đồng bào khắc
phục hậu quả thiên tai, tiêu biểu như các Hội Nhà báo tỉnh, thành
phố: Điện Biên, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bình Định, Phú Yên, Quảng
Nam, Đà Nẵêng, Thừa Thiên - Huế, Kon Tum, thành phố Hồ Chí Minh và
Hà Nội.
Hội Nhà báo Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp của
những người làm báo Việt Nam. Tính chất xã hội trực tiếp nằm trong
tính chất nghề nghiệp của những người làm báo. Đối tượng phản ánh,
đối tượng phục vụ của báo chí bao gồm toàn bộ các giai tầng xã hội
và hoạt động xã hội trên tất cả các lĩnh vực: xã hội - chính trị, xã
hội - kinh tế, xã hội - văn hoá, xã hội - quốc phòng, xã hội - an
ninh, xã hội - giáo dục, xã hội - y tế, xã hội -giới tính, xã hội -
lứa tuổi, xã hội - nghề nghiệp, xã hội - sở thích, xã hội - tâm linh,
xã hội - tín ngưỡng... Tính chất hoạt động của báo chí bao hàm luôn
tính chất mặt trận.
Mục tiêu của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thế nào thì mục tiêu của hoạt
động báo chí như vậy. Trong hoạt động báo chí cũng có chủ trương tập
hợp và phân công trách nhiệm, nên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có tổ
chức thành viên nào thì Hội Nhà báo Việt Nam cũng có chi hội và quan
hệ công tác trong cơ quan báo chí của tổ chức thành viên đó. Một
trong những nhiệm vụ quan trọng thường xuyên của báo chí Việt Nam
cũng là tuyên truyền, giáo dục, tập hợp và xây dựng khối đoàn kết
toàn dân tộc cùng hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh.
Hội Nhà báo Việt Nam có tiếng nói chung với Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam trên tất cả các diễn đàn, đặc biệt là diễn đàn chống âm mưu
“diễn biến hoà bình” và âm mưu “phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân
tộc” của các thế lực thù địch. Hội Nhà báo Việt Nam lên án mọi âm
mưu, thủ đoạn, luận điệu, hành động của các thế lực thù địch ở trong
và ngoài nước xâm hại đến những lợi ích của người Việt Nam và của
khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam. Mỗi hội viên nhà báo, dù là
đảng viên cộng sản hay không phải đảng viên cộng sản cũng đều là một
công dân yêu nước, có trách nhiệm xã hội, trách nhiệm nghề nghiệp;
ngòi bút, trang giấy, máy ảnh, máy quay phim, máy ghi âm, trang báo,
số báo, sóng phát thanh, truyền hình, trang tin điện tử... đều là
công cụ tuyên truyền nhạy bén, sâu sắc và tin cậy, hoạt động trong
các cơ quan báo chí. Bởi ý nghĩa rộng rãi và cụ thể đó, với tư cách
thành viên, Hội Nhà báo Việt Nam có thể tham gia vào nhiều hoạt động
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Trước hết, tập trung vào các hoạt
động sau đây:
- Phối hợp tổ chức tốt Giải báo chí “Vì sự nghiệp đại đoàn kết toàn
dân tộc” hằng năm;
- Chỉ đạo các cấp hội trực thuộc tổ chức tuyên truyền thường xuyên
và có hiệu quả các nhiệm vụ công tác của Uỷ ban Trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và Mặt trận các cấp;
- Tham gia các diễn đàn trao đổi kinh nghiệm hoạt động phục vụ sự
nghiệp “Đại đoàn kết toàn dân tộc”.
- Tổ chức thường xuyên các hoạt động cứu trợ, từ thiện hàng năm;
- Tham vấn, đóng góp ý kiến với các cơ quan chức năng của nhà nước
về việc soạn thảo, ban hành văn bản pháp luật;
- Hiệp thương, giới thiệu người ra ứng cử đại biểu Quốc hội và Hội
đồng nhân dân các cấp...
* Trưởng ban Công tác Hội, Hội Nhà báo Việt Nam.
| Trở Về đầu trang
|
|
|
|
BẠN CÓ BIẾT?
I. BÁO CHÍ VIỆT NAM
* Số lượng báo chí
Tính đến tháng 12-2009, cả nước có:
1/ 706 cơ quan báo in, bao gồm:
- Báo: 178 cơ quan (76 báo các cơ quan Trung ương, bộ, ban, ngành,
đoàn thể; 102 báo các tỉnh, thành phố).
- Tạp chí: 528 cơ quan (414 tạp chí các cơ quan Trung ương, bộ, ban,
ngành, đoàn thể; 114 tạp chí địa phương).
2/ 1 Hãng Thông tấn quốc gia.
3/ 2 Đài Phát thanh và Truyền hình quốc gia.
4/ 1 Đài Truyền hình của ngành.
5/ 64 Đài Phát thanh, Truyền hình tỉnh, thành phố.
6/ 500 Đài Truyền thanh, Truyền hình cấp huyện (cùng hàng ngàn trạm
truyền thông cấp xã).
7/ 5 tờ báo điện tử lớn (cùng nhiều trang báo điện tử, thông tin
điện tử, website của báo chí...).
8/ Hội Nhà báo Việt Nam các cấp có 16.800 hội viên, 15 liên chi hội,
175 chi hội trực thuộc Trung ương Hội, 63 Hội Nhà báo tỉnh, thành
phố, 9 câu lạc bộ báo chí đang hoạt động.
* Mức độ phát hành, phủ sóng của báo chí
1/ Báo in: phát hành phạm vi toàn quốc, một số phát hành ra nước
ngoài.
2/ Phát thanh: phủ sóng 97,5% diện tích lãnh thổ và phủ sóng qua vệ
tinh đến nhiều nước trên thế giới.
3/ Truyền hình: phủ sóng đến gần 90% số hộ gia đình ở trong nước và
phủ sóng qua vệ tinh đến nhiều khu vực ở nước ngoài.
* Số lượng người làm báo
Cả nước có hơn 17.000 người làm báo chuyên nghiệp (được cấp thẻ Nhà
báo) cùng hàng ngàn cán bộ, kỹ sư, nhân viên làm việc trong các cơ
quan báo chí (chưa kể đội ngũ cộng tác viên đông đảo).
(LÀNH LANH tổng hợp)
II. BÁO CHÍ QUỐC TẾ
Theo tổ chức UNESCO của Liên Hợp Quốc, thế giới hiện có 60.000 loại
báo, trong đó báo hàng ngày có 8.000 loại. Báo hàng ngày xuất bản
bằng tiếng Anh chiếm 1/4 tổng số báo phát hành. Mỗi ngày, trên thế
giới phát hành khoảng 500 triệu số báo, trong đó châu Âu chiếm 50%,
châu Mỹ chiếm 25%, còn lại là các châu lục khác. Các nước Mỹ, Anh,
Trung Quốc, Đức, Tây Ban Nha có số lượng phát hành lớn nhất. Xin
giới thiệu một số những tờ báo được gọi là “Người khổng lồ” trên thế
giới.
* Mười tờ báo lớn nhất thế giới: Tổ chức UNESCO căn cứ vào mức độ
ảnh hưởng báo chí, mới đây đã chọn ra 10 tờ báo lớn nhất thế giới:
New York Times (Mỹ); Zurich (Thụy Sĩ); Thế giới (Pháp); Thời báo (Anh);
Người Bảo vệ (Anh); Nhân dân Nhật báo (Trung Quốc); Thế giới (Đức);
A-be-sai (Tây Ban Nha); Bưu điện Washington (Mỹ); Sự thật (Nga).
* Báo có số phát hành lớn nhất: Nếu như con số phát hành 1 triệu bản
mỗi năm được coi là thành công của một tờ báo lớn thì tờ Le Petit
Journal xuất bản ở Paris (Pháp) là tờ báo đầu tiên đạt được định mức
này vào năm 1886. Chưa đầy 9 thập niên sau, kỷ lục đó được nâng lên
gấp 1.000 lần bởi tờ tuần báo Mỹ có số phát hành vô địch thế giới:
TV. Guide: 1 tỷ bản vào năm 1974; thứ đến là Nhật báo Trud của Hội
đồng Trung ương các công đoàn Liên Xô trước đây, được in ở 53 thành
phố với lượng phát hành 15,4 triệu bản mỗi kỳ. Tháng 9-1990, tại Nga,
nhật báo Komsmolskaya Pravda đạt tới mức 21.765.000 bản. Tuy nhiên,
kỷ lục tuyệt đối lại thuộc về tuần báo Argumenti Fakty, cũng của Nga
vào tháng 9-1990, đạt 33.431.000 bản một kỳ.
* Báo có quy mô lớn nhất: Tờ Yomiuri Shimbun của Nhật Bản (ra đời
năm 1874) là một trong những tờ báo có quy mô lớn nhất hiện nay, với
468 văn phòng thường trú ở khắp nơi trên thế giới, gần 3.500 người
làm việc, phát hành hằng ngày 14,567 triệu tờ (gồm hơn 10 triệu tờ
buổi sáng và hơn 4 triệu tờ buổi chiều).
* Nguyệt san có số phát hành lớn nhất: Nguyệt san Reader’s Digest (Mỹ),
ra đời năm 1922, có số phát hành cao nhất hiện nay, mỗi kỳ 29 triệu
bản (riêng ở Mỹ là 17 triệu bản). Tờ nguyệt san này cũng nổi tiếng
không kém với 48 loại ấn phẩm bằng 19 thứ tiếng phát hành ở nhiều
nước trên thế giới.
* Báo nổi tiếng thế giới: Tờ Financial Times (Thời báo Tài chính của
Anh) theo kết quả thăm dò dư luận tại 5 quốc gia do Hiệp hội Truyền
thông Quốc tế (IMM), có trụ sở tại Đức thực hiện được bình bầu là tờ
báo nổi tiếng nhất thế giới.
* Báo in nhiều lần nhất trong ngày: Tờ Tin tức mới nhất (Mỹ), dày 24
trang, nhận tin của Hãng AP, UPI, cứ mỗi giờ đồng hồ thì ấn hành một
tờ báo với nhiều tin tức sốt dẻo nhất về tình hình kinh doanh và dự
báo thời tiết. Báo này chủ yếu phát hành trên các chuyến bay từ thủ
đô Washington đến thành phố New York.
* Báo nặng nhất, nhiều trang nhất: Danh hiệu “Báo nặng vô địch” chắc
chắn thuộc về tờ Sunday New York Times (Mỹ) có số phát hành tháng
8-1987, nặng đến 6,35kg. Nhưng tờ báo nhiều trang nhất lại là Tạp
chí Hongkong Toys (do Ủy ban phát triển mậu dịch Hồng Kông ấn hành)
với 1.356 trang, xuất bản vào tháng 1-1992.
* Báo đăng quảng cáo nhiều nhất: Kỷ lục này thuộc về tờ Yomiuri
Shimbun của Nhật Bản, trong tháng 4-1989, khách hàng nếu muốn được
quảng cáo 1 trang thì phải trả 41,56 triệu yên Nhật cho số báo ra
buổi sáng và 32,27 triệu yên với số ra buổi chiều.
* Nước có nhiều người đọc báo nhất: Nước có nhiều người đọc báo nhất
là Thụy Điển. Trong thời gian gần đây, trung bình cứ 1.000 người
Thụy Điển thì mua và đọc 680 tờ báo mỗi năm. Lượng người mua báo ở
Phần Lan, Na Uy, Tây Ban Nha, Nhật Bản và một số quốc gia khác cũng
đạt xấp xỉ tỷ lệ trên, nhưng tỷ lệ đọc báo của những nước này thấp
hơn nhiều vì họ mua báo để dùng vào nhiều việc, chứ không chỉ để đọc!
(TRI KỶ tổng hợp)
| Trở Về đầu trang
|
|
|
|
|
|
|
|
 |
|
|
|
|
|
|

Ngày hội đại
đoàn kết toàn dân tộc năm 2009

Các điển
hình tiêu biểu trong CVĐ TDĐKXDĐSVH ở KDC
(2004-2009)

Đối ngoại
nhân dân MTTQ
(2004-2009)
|
|

Ngày hội đại
đoàn kết toàn dân tộc năm 2008 |
|
|
hoan nghênh bạn đọc góp ý cho tạp chí |
|
|
|
| |
 |
|
|