Ðặt làm trang chủ

    Google   

                 | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ |   

             | Hộp Thư |
     
 
 

 

 

 

 

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết dự ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc tại xã Kim Đức, Thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

 

Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam Vũ Trọng Kim dự ngày Hội đại đoàn kết toàn dân tộc tại khu dân cư 1D, phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội 

 
 

    TIN MỚI :                                                                    thông tin được cập nhật liên tục  



                     SỐ 80   (6 - 2010 )

   


VẤN ĐỀ SỰ KIỆN

Cử tri và nhân dân cả nước hoan nghênh Quốc hội, nhưng chưa hết băn khoăn lo lắng

           Tiến tới Đại hội lần thứ XI của Đảng

Mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội

Thực chất của cái gọi là "Vấn đề dân chủ, nhân quyền" ở Việt Nam

Kinh nghiệm vận động trưng cầu dân ý ở một số nước trên thế giới

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng và Nhà nước gắn bó với nhân dân

           Kỷ niệm 85 năm Ngày báo chí cách mạng Việt Nam

Hội Nhà báo Việt Nam - 60 năm một chặng đường phát triển vẻ vang

Hội Nhà báo Việt Nam - thành viên tích cực của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Bạn có biết ?



CỬ TRI VÀ NHÂN DÂN CẢ NƯỚC HOAN NGHÊNH QUỐC HỘI,
NHƯNG CHƯA HẾT BĂN KHOĂN LO LẮNG!

LTS: Tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XII, khai mạc ngày 18-5-2010 tại thủ đô Hà Nội, ông Huỳnh Đảm, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã trình bày bản báo cáo quan trọng tổng hợp 1.157 ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân cả nước gửi tới Quốc hội.

Ban Biên tập Tạp chí Mặt trận lược ghi và xin trân trọng giới thiệu đến bạn đọc bản báo cáo nói trên. Đầu đề là của Tạp chí.

Những tháng đầu năm 2010, nhân dân cả nước sôi nổi thi đua lập thành tích chào mừng các ngày lễ lớn: 80 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 35 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước…, tiến tới kỷ niệm 65 năm ngày Quốc khánh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Vừa qua, đồng bào các dân tộc trong cả nước vui mừng phấn khởi trước sự kiện lần đầu tiên Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc các dân tộc thiểu số Việt Nam, đây là dịp để biểu dương và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trong cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài vừa long trọng tổ chức kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, tỏ lòng thành kính và biết ơn vô hạn đối với công lao trời bể của Người, xác định quyết tâm đoàn kết, chung sức chung lòng, thực hiện lời dạy của Người để phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

Những tháng qua, cả nước tiếp tục nỗ lực phấn đấu vượt qua những khó khăn, thách thức; ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, kinh tế tiếp tục tăng trưởng ở mức khá, an sinh xã hội được chăm lo thiết thực, chính trị ổn định, trật tự xã hội được đảm bảo, quốc phòng, an ninh được giữ vững, khối đại đoàn kết toàn dân tộc được tăng cường, vị thế của nước ta trên trường quốc tế tiếp tục được nâng cao; cử tri và nhân dân càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước.

Tuy nhiên, cử tri và nhân dân vẫn còn băn khoăn, lo lắng trước những khó khăn, thách thức của đất nước như: Nguy cơ lạm phát cao trở lại vẫn còn tiềm ẩn, ảnh hưởng đến ổn định kinh tế vĩ mô và sự phát triển bền vững của nền kinh tế; sức cạnh tranh của nền kinh tế còn yếu; vấn đề lao động và việc làm; vấn đề giáo dục, đào tạo, y tế và xã hội; công tác quản lý đất đai, quản lý quy hoạch và tài nguyên, môi trường; vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm; công tác phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; thiên tai, hạn hán, nước mặn xâm thực, dịch bệnh gia súc xảy ra trên diện rộng gây khó khăn cho sản xuất và đời sống nhân dân.

Sau đây là những nội dung chủ yếu mà đông đảo cử tri và nhân dân quan tâm kiến nghị:

1. Về công tác xây dựng pháp luật và hoạt động giám sát của Quốc hội

Cử tri hoan nghênh Quốc hội đã có nhiều cố gắng trong công tác xây dựng pháp luật; nhiều đạo luật đáp ứng với yêu cầu phát triển đất nước và nguyện vọng của nhân dân đã được Quốc hội ban hành. Tuy nhiên cử tri tiếp tục kiến nghị Quốc hội nâng cao hơn nữa chất lượng xây dựng pháp luật, tránh tình trạng một số đạo luật vừa mới ban hành đã phải sửa đổi; khắc phục tình trạng luật khung phải chờ hướng dẫn của Chính phủ mới triển khai thực hiện được.

Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm của Quốc hội tuy được Quốc hội thảo luận kỹ và có nghị quyết ban hành, tuy nhiên trên thực tế một số dự án luật đã phải rút ra khỏi chương trình do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân do chất lượng các dự án luật chuẩn bị chưa tốt. Cử tri kiến nghị Quốc hội, nhất là các cơ quan chuyên trách của Quốc hội cần đầu tư nhiều hơn nữa thời gian và trí tuệ để phối hợp với các cơ quan chủ trì soạn thảo trong quá trình xây dựng các dự án luật; kiên quyết không đưa vào chương trình những dự án luật chuẩn bị chưa tốt, chưa đáp ứng các quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Cử tri đánh giá cao hoạt động giám sát của Quốc hội đối với việc thực thi pháp luật; đặc biệt là hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn ngày càng đi sâu vào nhiều vấn đề mà đông đảo cử tri và nhân dân quan tâm. Việc Ủy ban thường vụ Quốc hội tổ chức chất vấn một số Bộ trưởng, Chánh án Toà án nhân dân tối cao tại các phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội vừa qua, được các tầng lớp nhân dân quan tâm và hoan nghênh. Cử tri kiến nghị Quốc hội tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động giám sát của Quốc hội, nhất là giám sát việc thực thi pháp luật của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, giám sát việc thực hiện lời hứa của các vị bộ trưởng, thành viên Chính phủ; giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri, khiếu nại, tố cáo của công dân; tăng cường và nâng cao chất lượng hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn tại các kỳ họp của Quốc hội và các phiên họp của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

2. Về việc thực hiện các giải pháp bình ổn giá cả, kiềm chế lạm phát

Mặc dù Chính phủ đã có những giải pháp tích cực nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô nhưng nền kinh tế nước ta còn có những diễn biến phức tạp. Việc kiểm soát giá cả thị trường, ngăn chặn tình trạng tăng giá dây chuyền các mặt hàng thiết yếu của các cơ quan chức năng còn nhiều hạn chế; giá điện, giá xăng dầu liên tục tăng, ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp và đời sống của nhân dân, nhất là nông dân, người nghèo, người có thu nhập thấp. Tiến độ và lộ trình cải cách tiền lương không theo kịp với tốc độ tăng giá trên thị trường, ảnh hưởng đến đời sống của người về hưu, người hưởng lương từ ngân sách. Nhiều cử tri khối các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ phản ánh khó khăn trong việc vay vốn của ngân hàng, làm ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Đông đảo cử tri và nhân dân kiến nghị Chính phủ tiếp tục có những biện pháp hữu hiệu để kiềm chế lạm phát, bình ổn giá cả, nhất là các mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân; đồng thời chỉ đạo ngành ngân hàng tiếp tục cải cách hành chính, có cơ chế phù hợp để nhiều doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ được vay vốn phát triển sản xuất, đóng góp cho sự phát triển chung của cả nước.

3. Vấn đề lao động và việc làm

Suy thoái của nền kinh tế thế giới đã ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người lao động nói chung, trong đó có người lao động làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Tình trạng đình công của công nhân diễn ra tại các khu công nghiệp ở một số địa phương có chiều hướng gia tăng như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai… mà nguyên nhân chủ yếu là các doanh nghiệp ép công nhân làm việc quá thời gian theo quy định của pháp luật và trả lương chậm, trả lương không đầy đủ như cam kết, cắt giảm các khoản phụ cấp để điều chỉnh lương tối thiểu…

Cử tri cho rằng trong thời gian qua các cơ quan chức năng chưa phát huy hết trách nhiệm trong việc quản lý nhà nước về lao động. Đề nghị cần tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về lao động, buộc các doanh nghiệp thực hiện đầy đủ các điều khoản trong Bộ Luật lao động về giao kết hợp đồng lao động, đảm bảo chế độ tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tai nạn… nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động.

Tình trạng thừa và thiếu công nhân lao động cũng đang diễn ra khá phổ biến và không đồng đều giữa các địa phương. Nhiều nơi rất thiếu công nhân lao động có tay nghề cao nhưng lại thừa nhân công có tay nghề thấp, lao động phổ thông, nhất là những nơi bị thu hồi đất làm các khu công nghiệp. Một số địa phương như thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh miền Đông Nam bộ lại thiếu lao động phổ thông khá trầm trọng. Ở một số tỉnh đã xuất hiện tình trạng lao động phổ thông rời bỏ các công ty, xí nghiệp trở về địa phương do không chịu được sức ép về giá cả, điều kiện sinh hoạt.

Cử tri và nhân dân kiến nghị Chính phủ chỉ đạo các cơ quan chức năng có những giải pháp đồng bộ để giải quyết tình trạng trên.

Nhân dân và cử tri nhiều nơi rất bức xúc trước việc ngư dân đánh bắt cá xa bờ trên vùng biển Hoàng Sa thuộc chủ quyền nước ta bị tàu nước ngoài bắt giữ, xử phạt và thu giữ công cụ đánh bắt đang có chiều hướng gia tăng làm ảnh hưởng lớn đến đời sống và sản xuất của nhiều ngư dân. Nhiều cử tri và nhân dân kiến nghị Quốc hội, Chính phủ tiếp tục có những giải pháp hữu hiệu nhằm bảo vệ, hỗ trợ ngư dân ra khơi đánh bắt cá, vừa ổn định đời sống, phát triển kinh tế, vừa góp phần bảo vệ chủ quyền quốc gia đối với các vùng biển đảo của Tổ quốc.

4. Vấn đề giáo dục, đào tạo, y tế và xã hội

Trong thời gian qua, Đảng, Nhà nước đã rất quan tâm chỉ đạo ngành giáo dục tiếp tục cải tiến, nâng cao chất lượng giáo dục, trong đó có giáo dục bậc đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp. Tuy nhiên, chất lượng giáo dục còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra, chưa theo kịp đòi hỏi phát triển kinh tế, xã hội của đất nước; nhiều sinh viên ra trường không tìm được việc làm, số tìm được việc làm thì phải mất thời gian đào tạo lại mới tiếp cận được công việc thực tế. Tình trạng các cơ quan chức năng cho phép thành lập một số trường đại học, cao đẳng ở các địa phương, trong khi cơ sở vật chất phục vụ cho việc giảng dạy, học tập thiếu thốn, lạc hậu, thiếu đội ngũ giảng viên đủ tiêu chuẩn… gây bức xúc trong nhân dân.

Đông đảo cử tri và nhân dân kiến nghị Chính phủ cần tập trung chỉ đạo sớm khắc phục tình trạng trên.

 Tình trạng xuống cấp về đạo đức, lối sống, coi thường tính mạng người khác và chính bản thân mình của một bộ phận giới trẻ; tình trạng học sinh vi phạm pháp luật, sử dụng thuốc lắc, ma túy, xem và lưu giữ phim ảnh đồi trụy, hành xử theo kiểu giang hồ, xã hội đen… có xu hướng gia tăng, nhất là ở các thành phố lớn; tình trạng bạo lực gia đình, nạn bạo hành đối với trẻ em, bạo lực học đường cùng với thái độ thờ ơ của nhiều người… đang là nỗi lo của xã hội. Việc giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh của nhiều trường chưa được đề cao. Nội dung chương trình giáo dục đạo đức công dân còn nặng về lý thuyết, ít liên hệ với thực tiễn xã hội; một số nhà trường chưa chủ động có những giải pháp ngăn chặn cái xấu trong học sinh dẫn đến những vụ việc đáng tiếc xảy ra.

Đông đảo cử tri và nhân dân kiến nghị Chính phủ chỉ đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo cần tập trung nghiên cứu để có những giải pháp đổi mới một cách toàn diện, đồng bộ về cả chất và lượng của ngành giáo dục; đồng thời phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng và gia đình để quản lý, giáo dục thanh thiếu niên, giúp các em có lối sống lành mạnh, có kỹ năng ứng xử phù hợp với các chuẩn mực về đạo đức và các quy tắc trong xã hội.

Thời gian qua, tuy Chính phủ đã có nhiều cải cách trong lĩnh vực y tế nhưng hiệu quả vẫn còn hạn chế, người có thu nhập thấp chưa được hưởng những dịch vụ y tế có chất lượng tốt. Tình trạng quá tải của các bệnh viện tuyến trung ương; vấn đề y đức của người thầy thuốc cũng đang được cử tri và nhân dân quan tâm lo lắng; tình trạng một số bác sỹ cấu kết với các nhà thuốc kê đơn nhiều thuốc, thuốc đắt tiền không cần thiết cho người bệnh để hưởng hoa hồng, gây bức xúc trong nhân dân, làm giảm lòng tin của nhân dân vào y đức của đội ngũ thày thuốc và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống nhân dân.

Cử tri nhiều nơi phản ánh, Luật Bảo hiểm y tế đã có hiệu lực thi hành nhưng việc thực hiện của các cơ quan chức năng thiếu đồng bộ như việc đổi sổ bảo hiểm tiến hành chậm, việc thực hiện một số quy định về thanh toán bảo hiểm còn khó khăn, phiền phức cho người tham gia bảo hiểm.

Đông đảo cử tri và nhân dân kiến nghị Chính phủ sớm chỉ đạo kiểm tra, xử lý, chấn chỉnh, khắc phục tình trạng trên. Đồng thời, chỉ đạo rà soát quy hoạch, quan tâm đầu tư xây dựng các bệnh viện tuyến huyện, tuyến tỉnh và khu vực để nâng cao hiệu quả khám chữa bệnh cho nhân dân, hạn chế tình trạng bệnh nhân tập trung quá đông về các bệnh viện tuyến trung ương; mặt khác, có chế độ đãi ngộ thoả đáng đối với đội ngũ y, bác sỹ.

5. Công tác quản lý đất đai, quản lý quy hoạch và tài nguyên, môi trường

Cử tri và nhân dân phản ánh việc một số tỉnh như Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Ninh, Hà Tĩnh, Nghệ An, Bình Định, Quảng Nam, Kon Tum, Bình Dương… cho doanh nghiệp nước ngoài thuê đất rừng dài hạn, trong đó có cả rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn, rừng tại các vị trí xung yếu về an ninh quốc phòng… để trồng cây công nghiệp, làm sân gôn, sòng bạc trong khi người dân ở những nơi đó còn thiếu đất sản xuất và công ăn việc làm. Cử tri hoan nghênh Chính phủ đã ra quyết định đình chỉ việc này ở các địa phương nói trên, nhưng tiếp tục kiến nghị Chính phủ chỉ đạo làm rõ trách nhiệm của các cá nhân, tập thể có vi phạm, sớm có các giải pháp khắc phục hậu quả và kiến nghị Quốc hội tăng cường giám sát về vấn đề này.

Vấn đề quy hoạch đô thị nói chung, quy hoạch Hà Nội nói riêng cũng được nhiều cử tri và nhân dân quan tâm. Cử tri và nhân dân cho rằng nhiều dự án, nhiều công trình trọng điểm quốc gia triển khai còn chậm, việc đầu tư chưa đồng bộ. Cử tri cũng rất bức xúc về tình trạng đào bới lòng đường, vỉa hè thường xuyên, gây ách tắc giao thông, ô nhiễm môi trường, nhất là ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, ảnh hưởng đến việc sản xuất kinh doanh và đời sống của nhân dân, lãng phí tiền của Nhà nước. Đông đảo cử tri và nhân dân kiến nghị Chính phủ chỉ đạo sớm khắc phục tình trạng trên.

Đặc biệt, nhiều cử tri và nhân dân rất quan tâm việc cơ quan chức năng tổ chức lấy ý kiến nhân dân về đồ án quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn năm 2050. Đây là vấn đề hệ trọng, có ý nghĩa trước mắt và lâu dài của đất nước. Cử tri và nhân dân kiến nghị Quốc hội, Chính phủ cần lắng nghe ý kiến đóng góp của nhân dân, ý kiến phản biện của các nhà khoa học, các nhà văn hoá, các chuyên gia trong và ngoài nước trước khi phê duyệt đồ án.

Dự án đường sắt cao tốc Hà Nội - thành phố Hồ Chí Minh cũng được rất nhiều cử tri quan tâm, nhất là các vấn đề về sự cần thiết đầu tư dự án, giải pháp công nghệ, nguồn vốn đầu tư, di dân tái định cư, tác động của dự án đến môi trường tự nhiên… Và kiến nghị Quốc hội cần thảo luận, xem xét kỹ lưỡng trước khi quyết định thông qua nghị quyết về chủ trương đầu tư Dự án này.

Công tác quản lý nhà nước, công tác thanh tra, giám sát của các cơ quan chức năng trong hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản còn bị buông lỏng, không thường xuyên dẫn đến việc vi phạm pháp luật, tiêu cực trong quản lý, khai thác khoáng sản còn diễn ra kéo dài ở nhiều nơi. Tình trạng phá rừng, cháy rừng nghiêm trọng còn diễn ra ở một số địa phương. Cử tri và nhân dân rất bất bình về việc không ít doanh nghiệp vì lợi nhuận đã bất chấp pháp luật, xả chất thải trực tiếp ra môi trường, làm môi trường ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng, gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống nhân dân, gần đây nhất là vụ công ty Cổ phần công nghiệp Tung Kuang tại Hải Dương; Công ty cổ phần đường Quảng Ngãi… Tình trạng dịch bệnh gia súc, nhất là dịch lợn tai xanh lan nhanh không kiểm soát kịp thời, gây ô nhiễm môi trường, mất an toàn thực phẩm nhưng các cơ quan chức năng xử lý chậm, xử lý chưa nghiêm, chưa đủ sức răn đe các hành vi vi phạm.

Đông đảo cử tri kiến nghị Chính phủ chỉ đạo các cơ quan chức năng tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, làm rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có liên quan; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về bảo vệ môi trường, vệ sinh, an toàn thực phẩm, về khai thác tài nguyên, khoáng sản và bảo vệ rừng.

6. Về phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

Cử tri và nhân dân hoan nghênh thời gian qua Đảng và Nhà nước tiếp tục đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm chống lãng phí. Tuy nhiên, đông đảo cử tri cho rằng tham nhũng vẫn diễn ra nhiều nơi, nhiều lĩnh vực và ngày càng tinh vi, phức tạp nhưng các cơ quan chức năng phát hiện còn ít; một số vụ tham nhũng lớn việc xử lý còn chậm; một số vụ xử lý chưa thoả đáng, gây bất bình, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với các cơ quan tư pháp và hiệu quả của công tác phòng chống tham nhũng.

Cử tri và nhân dân phản ánh thời gian qua việc tổ chức các lễ hội, việc trao tặng các danh hiệu, các loại cúp cho các doanh nghiệp diễn ra ở nhiều nơi, không được quản lý chặt chẽ, gây lãng phí tiền của, thời gian, sức lực của Nhà nước và nhân dân.

Cử tri và nhân dân kiến nghị Chính phủ chỉ đạo các ngành chức năng, các địa phương chấn chỉnh, khắc phục tình trạng trên.

Cử tri và nhân dân hoan nghênh Nhà nước nhiều năm qua đã tập trung nguồn lực to lớn để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho nhiều vùng, nhiều địa phương trong cả nước. Tuy nhiên, cử tri và nhân dân băn khoăn lo lắng, phản ảnh về những yếu kém trong đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn nhà nước, nhiều công trình dự án không đảm bảo tiến độ, không ít công trình thực hiện dở dang, chất lượng kém, gây lãng phí tiền của nhà nước và nhân dân; thậm chí có công trình trọng điểm quốc gia, công trình chào mừng các ngày lễ lớn chất lượng chưa đảm bảo, gần đây nhất là vụ sập dầm cầu cạn Pháp Vân ở Hà Nội…

Cử tri và nhân dân kiến nghị Chính phủ chỉ đạo các ngành chức năng sớm có giải pháp để khắc phục tình trạng trên, đồng thời kiên quyết không để tình trạng “chạy đua” thời gian, gây lãng phí, làm ảnh hưởng đến chất lượng công trình và gây lãng phí.

Cùng với những kiến nghị nêu trên, cử tri và nhân dân kiến nghị Quốc hội, Chính phủ tiếp tục chỉ đạo giải quyết đến nơi đến chốn những nội dung mà cử tri và nhân dân đã kiến nghị tại các kỳ họp trước.

                                                                                                 BAN BIÊN TẬP

 | Trở Về đầu trang    |



TIẾN TỚI ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
MỤC TIÊU ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

LTS: Để chuẩn bị cho Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, các cấp bộ đảng trong toàn quốc đang triển khai thảo luận, góp ý kiến cho dự thảo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cùng các văn kiện khác của Đảng.

Tạp chí Mặt trận xin trân trọng giới thiệu đến bạn đọc bài viết của GS-TS Vũ Văn Hiền, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam về chủ đề nói trên.

                                                                                          BAN BIÊN TẬP

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng ta, được thông qua tại Đại hội lần thứ VII của Đảng (năm 1991) đã nêu rõ: “Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đó là bài học xuyên suốt quá trình cách mạng nước ta. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc”. Và tại Đại hội X của Đảng, khi tổng kết những bài học chủ yếu của 20 năm đổi mới, Báo cáo Chính trị đã chỉ rõ bài học thứ nhất là: Trong quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Như chúng ta biết, dân tộc ta có truyền thống yêu nước, anh dũng bất khuất, đã từng chiến thắng nhiều đế quốc phong kiến hung hãn. Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, phong trào yêu nước đã dấy lên hết sức mạnh mẽ. Các cuộc nổi dậy liên tiếp nổ ra trên khắp mọi miền đất nước, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân, các bậc sĩ phu, kể cả một bộ phận quan lại phong kiến. Các phong trào Cần Vương, Duy Tân, Đông Du, khởi nghĩa Yên Thế, khởi nghĩa Yên Bái và hàng chục cuộc đấu tranh khác nữa đều bị thực dân Pháp thẳng tay đàn áp và thất bại. Điều đó chứng tỏ rằng, vẫn là nhân dân giàu lòng yêu nước, có truyền thống chống giặc ngoại xâm, sẵn sàng ủng hộ và tham gia các phong trào yêu nước; còn các bậc sĩ phu, các nhà lãnh đạo các phong trào chống thực dân Pháp đều có trí dũng, không thiếu quyết tâm, nhưng cả họ, cả giai cấp phong kiến và đại diện cho thế lực tư sản khi đó đều không giải quyết được vấn đề dân tộc ở nước ta.

Trong bối cảnh đó, chưa bao giờ như lúc bấy giờ, độc lập dân tộc càng trở nên là yêu cầu cơ bản, khách quan của xã hội Việt Nam - một xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Công cuộc giải phóng dân tộc khi ấy “đen tối như không có đường ra”. Bằng con đường nào và giai cấp nào có khả năng gánh vác sứ mệnh trọng đại đó?

Nhưng rồi chính lịch sử có lời giải đáp. Chủ nghĩa Mác ra đời đã vạch ra cái tất yếu từng bị che lấp bởi màn sương mù trong lịch sử. Chủ nghĩa Mác khẳng định chủ nghĩa tư bản nhất định bị thay thế bằng một chế độ tốt đẹp hơn - chế độ cộng sản chủ nghĩa không có người bóc lột người và người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản chính là giai cấp công nhân - sản phẩm của nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa. Đó là một tiếng sét trong lòng chủ nghĩa tư bản ở vào thời thịnh trị sau khi nó chiến thắng các chế độ chuyên chế phong kiến và đã bành trướng ra khắp thế giới. Các nước tư bản phát triển khi ấy đang trở thành “trung tâm vũ trụ” chi phối và làm mưa làm gió mọi mặt đời sống xã hội loài người.

Chính vào thời điểm chủ nghĩa tư bản tưởng như đang cực thịnh ấy, thì Cách mạng Tháng Mười đã nổ ra. Sự đột phá Tháng Mười mở đầu cho một xu thế phát triển mới của lịch sử thế giới. Nếu trước Cách mạng Tháng Mười, chế độ tư bản chủ nghĩa phát triển đến mức người ta rêu rao như một “định mệnh”, như một “trật tự vĩnh hằng”, thì sau Tháng Mười năm 1917, không ai không thấy cái “xiềng xích” giam hãm thế giới đã bị chặt đứt, điều định mệnh ấy trở thành ảo tưởng, các trật tự ấy bị lật nhào, tạo ra phản ứng dây chuyền của hàng loạt cuộc đấu tranh giải phóng có quy mô to lớn và chiều sâu cách mạng chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại.

Rõ ràng, Cách mạng Tháng Mười Nga “rung chuyển thế giới” đã làm cho tính chất thời đại thay đổi, giai cấp trung tâm của thời đại thay đổi, vai trò lãnh đạo cách mạng cũng thay đổi; vì vậy con đường để giải quyết mâu thuẫn của xã hội, lực lượng cách mạng và phương pháp cách mạng cũng thay đổi.

Toàn bộ tình hình đó của thế giới, bằng nhiều con đường, dội vào và thấm sâu trong mảnh đất Việt Nam - nơi mà chính “sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi; chủ nghĩa cộng sản chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt của công cuộc giải phóng nữa thôi”. Hơn ai hết, chính Nguyễn Ái Quốc là người gieo hạt, gây mầm cách mạng Việt Nam. Người đã đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa xã hội. Ở Người, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, bản lĩnh và tố chất đặc biệt Việt Nam đã “bắt gặp” chủ nghĩa Mác - Lênin, nói như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng: một cuộc gặp gỡ đẹp như cùng hẹn trước - đã chung đúc nên tư tưởng Hồ Chí Minh. Với kỳ công của Nguyễn Ái Quốc, chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với phong trào yêu nước và phong trào công nhân Việt Nam chuyển hoá thành một tất yếu đưa đến một sự kiện trọng đại: năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Sự kiện này là mốc son đánh dấu sự kết hợp các nhân tố dân tộc và giai cấp, quốc gia và quốc tế, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong bản chất của Đảng. Vừa ra đời, Đảng tuyên bố: “Chủ trương tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Lời tuyên bố ấy cũng đồng nghĩa với lời bác bỏ thẳng thừng chế độ phong kiến và chế độ tư bản chủ nghĩa; và nhìn rộng hơn, cũng bác bỏ bất cứ một con đường nào khác. Một cách tự nhiên là, ngay sau lời tuyên bố ấy của Đảng, chủ nghĩa xã hội không chỉ là mục tiêu lựa chọn mà đã thực sự thúc đẩy lịch sử dân tộc Việt Nam chuyển mình, là con đường dân tộc Việt Nam đã và đang đi, từ đó dọc theo thế kỷ XX, sang thế kỷ XXI và tiếp tục cho tới đích cuối cùng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ; chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người, không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc, có một xã hội tốt lành gắn liền với tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no; bảo đảm việc làm cho mọi người, tất cả vì niềm vui, hoà bình, hạnh phúc của con người.

Rõ ràng, sự lựa chọn mục tiêu độc lập dân tộc gắn chặt với chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta, xét về lôgíc là một tất yếâu khách quan; xét về lịch sử, là hoàn toàn phù hợp với sự vận động của cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; xét về nhu cầu, là hoàn toàn xuất phát từ điều kiện cụ thể của một nước thuộc địa, nửa phong kiến và nguyện vọng cháy bỏng của nhân dân Việt Nam; và xét về mặt xã hội, đó là một hệ giá trị cơ bản nhất quyết định sự phát triển của đất nước Việt Nam hôm nay và mai sau.

Có thể khẳng định như vậy, bởi vì việc giải quyết vấn đề độc lập dân tộc theo ý thức hệ phong kiến và tư sản, trong khuôn khổ của chế độ phong kiến và chế độ tư bản chủ nghĩa không tránh khỏi những mâu thuẫn và những hạn chế bắt nguồn từ bản chất kinh tế và chính trị của các chế độ ấy - những hình thái kinh tế - xã hội dựa trên các quan hệ tư hữu về tư liệu sản xuất và các quan hệ đối kháng giai cấp.

Vượt qua những mâu thuẫn và những hạn chế trong công việc giải quyết vấn đề độc lập theo lập trường phong kiến và tư sản chỉ có thể là con đường gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, tức là giải quyết độc lập dân tộc theo lập trường của giai cấp công nhân, của chủ nghĩa xã hội khoa học; đó là: Độc lập dân tộc thực sự phải là độc lập về chính trị, kinh tế, văn hoá, đối ngoại. Độc lập dân tộc thực sự đòi hỏi phải xoá bỏ tình trạng áp bức bóc lột và nô dịch của dân tộc này đối với dân tộc khác về kinh tế, chính trị và tinh thần. Do đó, độc lập gắn liền với tự do và bình đẳng, công việc nội bộ của một quốc gia - dân tộc phải do quốc gia - dân tộc đó giải quyết, không có sự can thiệp từ bên ngoài.

Bản chất của chủ nghĩa xã hội là thực hiện triệt để giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Chủ nghĩa xã hội sẽ xoá bỏ căn nguyên kinh tế sâu xa của tình trạng người bóc lột người do chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất sinh ra. Nhờ đó, nó xoá bỏ cơ sở kinh tế sinh ra ách áp bức con người về chính trị và sự nô dịch con người về tinh thần, ý thức và tư tưởng.

Chủ nghĩa xã hội thực hiện độc lập dân tộc để mở đường đưa dân tộc tới sự phát triển phồn vinh về kinh tế và sự phát triển phong phú, đa dạng về văn hoá, tinh thần, sự thực hiện đầy đủ nhất quyền lực của nhân dân. Chỉ với chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc mới đạt tới mục tiêu phục vụ lợi ích và quyền lực của mọi người lao động, làm cho mọi thành viên của cộng đồng dân tộc trở thành người chủ thực sự, có cuộc sống vật chất ngày càng đầy đủ và đời sống tinh thần ngày càng phong phú. Chính điều đó làm cho nền tảng của sự độc lập tự chủ càng thêm vững chắc, khả năng bảo vệ nền độc lập dân tộc càng đầy đủ, mạnh mẽ.

Sự phát triển thực chất và bền vững của độc lập dân tộc được đo bằng những khả năng và điều kiện bảo đảm cho dân tộc thoát khỏi tình cảnh nô lệ, phụ thuộc, bị áp bức, bóc lột và nô dịch. Nó cũng bảo đảm cho dân tộc vượt qua tình trạng đói nghèo, lạc hậu và tụt hậu trong tương quan với các dân tộc khác trong thế giới và ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn để đạt tới sự bình đẳng trong các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cộng đồng dân tộc này với cộng đồng dân tộc khác.

Toàn bộ khả năng và điều kiện bảo đảm đó chỉ có thể được tìm thấy và giải quyết bằng con đường phát triển chủ nghĩa xã hội.

Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trở thành hệ giá trị phát triển của Việt Nam, dưới ngọn cờ của Đảng, trong thời đại ngày nay. Đó cũng chính là cái lôgíc phát triển lịch sử của dân tộc Việt Nam, 80 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, làm nên cốt cách Việt Nam, bản lĩnh Việt Nam và vị thế Việt Nam trước thế giới.

Nhận thức và hành động theo sự lựa chọn và theo hệ giá trị đó, Đảng ta đã lãnh đạo thành công cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945, một điển hình trong các dân tộc thuộc địa, tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến hoàn toàn không cân sức với “hai đế quốc to”, mở ra thời kỳ phi thực dân sau Việt Nam cho cả hệ thống thuộc địa và các nước phụ thuộc trên thế giới.

Qua hơn nửa thế kỷ giành và giữ độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt hơn 20 năm đổi mới, với hệ giá trị đó, Đảng Cộng sản Việt Nam xứng đáng tiêu biểu cho bản lĩnh Việt Nam trong việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, đã tỏ rõ tính độc lập, tự chủ trong mọi đường lối, chính sách đối nội và đối ngoại, đưa đời sống nhân dân lên ngày một cao hơn, đưa đất nước và dân tộc lên vị thế mới trong khu vực và trên thế giới.

Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, với Việt Nam không chỉ là mục tiêu, là nhu cầu, là cương lĩnh hành động, là ngọn cờ hiệu triệu, mà còn là động lực, là niềm tin sắt son của dân tộc Việt Nam ta. Độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội là sự gắn kết hai sức mạnh thành một sức bật mới; là cội nguồn thắng lợi của cách mạng Việt Nam hôm qua, hôm nay và mai sau.

Thế kỷ XXI mở đầu thiên niên kỷ thứ ba của một thế giới đầy biến động cũng đồng thời mở ra một kỷ nguyên hội nhập, đua tranh gay gắt của cộng đồng quốc tế. Dù thời cuộc biến đổi xoay vần ra sao, dù phải đối mặt với xu thế toàn cầu hoá, với tất cả mặt tích cực và tiêu cực, bất trắc; dù cho ai đó bị loá mắt bởi những bộ áo cánh sặc sỡ của chủ nghĩa tư bản thì hệ giá trị độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, trong ý thức và trong hành động vẫn là mục tiêu, lý tưởng, là quốc bảo phù hợp xu thế thời đại. Mãi mãi giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta tiếp tục giành thắng lợi to lớn hơn nữa trong sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, đưa đất nước ta sánh vai cùng các nước trong khu vực và trên thế giới.

 | Trở Về đầu trang    |



THỰC CHẤT CỦA CÁI GỌI LÀ “VẤN ĐỀ DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN” Ở VIỆT NAM
                
                           Đại tá, PGS-TS. BÙI ĐÌNH BÔN*

Từ sau ngày 30-4-1975 đến nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch luôn dựng lên cái gọi là “vấn đề nhân quyền” ở Việt Nam. Các chính khách Mỹ tuyên bố: “ở Việt Nam còn có vấn đề nhân quyền mà Mỹ phải quan tâm”. Dự luật số 954 của Thượng nghị viện Mỹ, được thông qua ngày 23-9-1993, trong đó đòi Việt Nam cần có “tự do hoá chính trị”, “tôn trọng quyền con người” và có một chính phủ dân chủ. Mỹ “ủng hộ quá trình cải cách dân chủ phi bạo lực ở Việt Nam”. Như vậy, cái gọi là “vấn đề nhân quyền” là một nội dung mà chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch dựa vào đó để tuyên truyền phá hoại Việt Nam trong nhiều năm qua. Nó là một cái cớ để các thế lực thù địch tuyên truyền, kích động dư luận thế giới cô lập Việt Nam, gieo rắc sự nghi ngờ trong các công dân Việt Nam đối với Nhà nước. Nó còn kích động và khơi dậy sự phản kháng của những kẻ bất mãn, những phần tử cơ hội, thoái hoá biến chất, những người trước đây cộng tác với chế độ cũ hiện đang còn lại ở Việt Nam.

Trong cái gọi là “vấn đề nhân quyền” ở Việt Nam, ngoài những luận điệu xuyên tạc về tình hình, vu cáo chúng ta đàn áp những người cộng tác với chính quyền cũ, những người mà chúng gọi là “bất đồng chính kiến”, “những người đấu tranh cho tự do, dân chủ”; chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch còn vu cáo, xuyên tạc chính sách của Nhà nước ta về tôn giáo, dân tộc, chính sách đối với văn nghệ sĩ. Đây là những vấn đề đã và đang diễn ra rất phức tạp ở Việt Nam. Thông qua “vấn đề nhân quyền”, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch muốn tìm cớ để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Chúng đã tạo ra và kích động sự bất bình chống lại nhà nước trong các tầng lớp công chúng, chĩa mũi nhọn của dư luận vào bộ máy nhà nước ta; đẩy nhiều cơ quan chức năng của Nhà nước Việt Nam vào thế bị động đối phó, làm cho chúng ta phải mất nhiều thời gian, lực lượng và vật chất để giải quyết hậu quả của vấn đề này trong nhiều năm qua. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch dựng lên cái gọi là “vấn đề nhân quyền” ở Việt Nam để can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của chúng ta, đặt điều kiện ép ta thoả hiệp, nhượng bộ về chính trị, thay đổi đường lối của ta, đi theo quỹ đạo của chúng. Nó là đòn tấn công của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch để tạo ra những lực lượng chống đối ngầm trong nhân dân ta. Nếu không được vạch trần, ngăn chặn, nó có khả năng làm rối loạn xã hội, tạo cơ hội cho “diễn biến hoà bình” phát triển thành công ở Việt Nam.

Thủ đoạn của “diễn biến hoà bình” là tổng hợp các phương thức, biện pháp được tiến hành trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, ngoại giao... Trong đó, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch xác định tấn công trên mặt trận tư tưởng - chính trị là “mũi đột phá”, “thọc sâu” làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về lý luận và tư tưởng, tạo ra “khoảng trống” để dần dần đưa hệ tư tưởng tư sản vào, cuối cùng là xoá bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Nội dung chủ yếu của cuộc chiến tranh ý thức hệ do chủ nghĩa đế quốc phát động là, tấn công vào lòng người, đánh vào trận địa chính trị - tư tưởng của các nước xã hội chủ nghĩa. Các nhà tư tưởng của chủ nghĩa đế quốc đã tổng kết: “Một đài phát thanh cũng có thể bình định xong một đất nước”, “một đô la chi cho tuyên truyền có tác dụng ngang với năm đô la chi cho quốc phòng”; “kích động vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo là bốn đòn đột phá khẩu, bốn mũi xung kích để chọc thủng mặt trận tư tưởng chính trị”. Trong cuốn sách “Năm 1999 - chiến thắng không cần chiến tranh”, nguyên Tổng thống Mỹ - R. Ních-xơn đã khẳng định: “Mặt trận tư tưởng là mặt trận quyết định nhất”, “toàn bộ vũ khí của chúng ta, các hoạt động mậu dịch, viện trợ, quan hệ kinh tế sẽ không đi đến đâu nếu chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng”. Ông ta nhấn mạnh: “Cái sẽ có tác dụng quyết định đối với lịch sử là tư tưởng, chứ không phải là vũ khí”.

Nhận thức được điều đó, giới cầm quyền phản động và các thế lực thù địch cho rằng, để lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, cần phải điều chỉnh các biện pháp và phương thức, thay đổi các thủ đoạn tiến hành “diễn biến hoà bình” cho thích hợp, vì tình hình Việt Nam không giống như các nước Đông Âu hay Liên Xô trước đây. Chúng chủ trương phá hoại trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hoá, xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh, khoa học, giáo dục... Và, khi cần thì dùng cả biện pháp kích động bạo loạn lật đổ. Song, trọng tâm then chốt vẫn là phá hoại về tư tưởng - chính trị. Chúng xác định rằng: “tước bỏ vũ khí tư tưởng của nhân dân là khâu đột phá quan trọng trong diễn biến hoà bình”.

“Diễn biến hoà bình” là một thủ đoạn phi quân sự, chú trọng chiến tranh tâm lý, đặc biệt nhấn mạnh sức mạnh của tư tưởng - ý thức hệ. Trong đó, chủ yếu là “mặt trận tư tưởng - chính trị”. Chúng xác định, xâm nhập được tư tưởng - chính trị của đối phương sẽ thu được hiệu quả phi thường. Xâm nhập tư tưởng - chính trị, trên thực tế là mở cuộc tấn công ý thức hệ vào nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Chúng gọi đó là “tiến công vào lòng người” để làm sụp đổ tinh thần chiến đấu của đối phương; làm tan rã về nội tâm, tinh thần và tư tưởng; gây hỗn loạn về tư tưởng, gây tâm lý sợ hãi; kích động tâm trạng bất mãn, thù địch với chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản; truyền bá mô thức chính trị, mô thức kinh tế, quan niệm về giá trị và lối sống của chủ nghĩa tư bản, khuyến khích đa nguyên hoá và thị trường hoá nền kinh tế.

Từ khi chúng ta tiến hành công cuộc đổi mới, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh thực hiện âm mưu và hoạt động “diễn biến hoà bình”, nhưng có sự thay đổi về thủ đoạn và sách lược. Chúng tiến công ta mạnh mẽ hơn về tư tưởng - chính trị, coi đây là mặt trận hàng đầu, là mũi nhọn đột phá, thọc sâu, vừa dùng các lực lượng, phương tiện từ bên ngoài; đồng thời, tận dụng phát triển các lực lượng, phương tiện ở trong nước ta, tạo ra sự chống đối mạnh mẽ từ nội bộ Đảng, nội bộ xã hội ta, từng bước làm cho nhân tố bên trong phát triển để phá ta từ trong nước, trong lòng chế độ. Chiến lược “Vượt trên ngăn chặn” và “Bao vây cấm vận” được thay bằng chiến lược “Triệt tiêu kẻ thù” (được nghiên cứu từ năm 1992, bắt đầu áp dụng từ năm 1996, sau khi ta và Mỹ bình thường hoá quan hệ). Tư tưởng chỉ đạo của chiến lược này là, áp dụng các biện pháp “can dự”, “tiếp cận kẻ thù”, lôi kéo kẻ thù từ đối đầu sang đối thoại, tăng cường hợp tác hoặc hoà nhập với Mỹ, theo sự chỉ huy hoặc khống chế của Mỹ. Tức là, chúng không đứng ngoài hò hét chống phá mà xâm nhập vào ta để đánh ta từ trong đánh ra, làm cho ta “tự diễn biến”, “tự sụp đổ”, “cộng sản tự diệt cộng sản”, “cộng sản con diệt cộng sản bố”. Giới cầm quyền Mỹ và các thế lực thù địch thực hiện chính sách lôi kéo, thông qua các nước đồng minh, các tổ chức phi chính phủ, qua các hình thức giao lưu, hợp tác về văn hoá, khoa học, giáo dục... để thâm nhập, thu thập tin tức tình báo, làm chuyển hoá tư tưởng, chuyển hoá chính trị, mua chuộc cán bộ, cài cắm nội gián; móc nối với những người bất mãn, cơ hội chính trị, những người nắm được bí mật quốc gia, những người đi công tác, học tập ở nước ngoài, gửi phiếu đăng ký cung cấp thông tin cho nhiều tổ chức và cá nhân trong nước để nắm nội bộ ta và tuyên truyền gây nhiễu thông tin; lợi dụng các diễn đàn công khai (hội nghị, hội thảo) để tuyên truyền “tự do”, “dân chủ, “nhân quyền” theo kiểu tư sản; tuyên truyền quan điểm cá nhân ích kỷ cực đoan, phê phán ta vi phạm dân chủ, nhân quyền; tung ra các luận điểm “nhân quyền cao hơn chủ quyền” để tạo cớ can thiệp vào các nước có xu hướng độc lập, không chịu lệ thuộc Mỹ.

Chúng sử dụng trên 60 đài phát thanh và truyền hình, gần 400 tờ báo và tạp chí tiếng Việt (trong đó có 10 báo và tạp chí rất phản động), 100 nhà xuất bản, 400 trang web để tuyên truyền chống Việt Nam. Đưa một số lượng lớn tài liệu, sách báo, truyền đơn, băng hình, băng nhạc,... có nội dung phản động, đồi trụy vào Việt Nam; chỉ đạo bọn “bồi bút”, cơ hội viết nhiều bài xuyên tạc, dựng lên cái gọi là “vi phạm dân chủ, nhân quyền”, “tù nhân lương tâm” để bôi nhọ tình hình Việt Nam.

Từ năm 1986 đến nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch trong và ngoài nước dấy lên một cao trào tuyên truyền cho “tự do”, “dân chủ tư sản”, “chủ nghĩa đa nguyên”. Đẩy mạnh hoạt động này, chúng nhằm hai mục đích. Thứ nhất, gây sức ép đòi Nhà nước ta chấp nhận và hợp pháp hoá sự có mặt trên chính trường những tư tưởng tư sản và những lực lượng chính trị đối lập, chống chủ nghĩa xã hội. Đây là cái bẫy rất hiểm độc mà chúng đã từng sử dụng ở một số nước Đông Âu và Liên Xô cũ. Nếu chúng ta không sáng suốt, tỉnh táo thì khó lường hết những hậu quả sẽ xảy ra đối với chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, đối với Đảng và nhân dân ta. Thứ hai, về mặt công khai, nếu mục tiêu này không đạt được, thì “việc tuyên truyền dân chủ, tự do tư sản, tuyên truyền cho đa nguyên, đa đảng sẽ kích động, khuyến khích được những người bất mãn, cá nhân chủ nghĩa, non kém về chính trị nổi lên chống chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”.

Như vậy, khi sử dụng nội dung trên đây vào các hoạt động phá hoại Nhà nước ta, chúng âm mưu “cấy” vào xã hội ta nền tảng tư tưởng chống chủ nghĩa xã hội và tạo thế cho các lực lượng phi xã hội chủ nghĩa phát triển và có chỗ đứng ở Việt Nam. Đến một lúc nào đó, khi có thêm “chất xúc tác, các lực lượng này sẽ là những nhân tố tạo ra “ngòi nổ” làm sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Lợi dụng những mâu thuẫn xã hội tạm thời trong nội bộ nhân dân ở một số địa phương, tổ chức Đảng và chính quyền cơ sở ở một số nơi yếu kém, quan liêu, xa dân, có sai phạm; giải quyết không kịp thời những mâu thuẫn xã hội nảy sinh, kéo dài; bọn cơ hội và các thế lực thù địch đã kích động, khoét sâu thêm mâu thuẫn, nhất là vấn đề vi phạm dân chủ, vi phạm nhân quyền, tham nhũng, nhằm gây ra những “điểm nóng”, từng bước xóa nhòa tư tưởng xã hội chủ nghĩa.

Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch còn triệt để lợi dụng những “điểm nóng” đó để kích động quần chúng hoạt động chống đối. Chúng đã hỗ trợ tài chính, tổ chức lực lượng về nông thôn để “nắm tình hình”, chỉ đạo các hoạt động chống phá, thông qua các hoạt động hợp pháp và bất hợp pháp, dưới các hình thức tham quan, du lịch, phóng viên báo chí, Việt kiều về thăm thân. Mặt khác, chúng tăng cường vận động quốc tế gây sức ép đối với Việt Nam. Quốc hội Mỹ đã thông qua một số nghị quyết chống phá chúng ta trên các phương diện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội... Nghị quyết 231 của Quốc hội Mỹ, trong đó nội dung cơ bản nói về tình hình “nổi dậy” vì “dân chủ, tự do và tôn giáo,...” của nông dân ở tỉnh Thái Bình và một số địa phương khác ở Việt Nam. Tố cáo Việt Nam “vi phạm tự do, dân chủ, nhân quyền”; “đàn áp tự do tôn giáo”; “đàn áp đấu tranh chống tham nhũng”; “không có tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội,...”.

Được sự hỗ trợ, chỉ đạo của chủ nghĩa đế quốc, các thế lực thù địch trong nước đã và đang ráo riết đẩy mạnh hoạt động móc nối với bọn phản động trong các tôn giáo, tuyên truyền phổ biến “kinh nghiệm Thái Bình”, “phong trào Thái Bình” ra nhiều địa phương khác nhằm tạo ra nhiều “điểm nóng” , hình thành “một mặt trận” ở nông thôn, làm vô hiệu hoá tổ chức đảng và chính quyền ở cơ sở, từ nông thôn lan sang thành thị, mở rộng sang các lĩnh vực khác, thúc đẩy gây biến động chính trị, kinh tế, xã hội, tăng cường áp lực chuyển hoá đường lối, chế độ xã hội; tạo cớ cho các thế lực phản động bên ngoài can thiệp.

* Thư ký khoa học chuyên trách Hội đồng Lý luận Trung ương.

 | Trở Về đầu trang    |



KINH NGHIỆM VẬN ĐỘNG TRƯNG CẦU DÂN Ý Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

                                                                                      TS. TRỊNH THỊ XUYẾN*

Trưng cầu dân ý là một trong những hình thức dân chủ trực tiếp, mà thông qua đó người dân (các cử tri) có thể trực tiếp tự quyết định về một vấn đề cụ thể và không giao quyền ra quyết định này cho các đại diện (nhà nước). Trưng cầu dân ý thường được sử dụng để sửa đổi Hiến pháp, luật pháp hay thông qua một đạo luật hay chính sách mới. Ở khía cạnh khác, trưng cầu dân ý còn được coi là một hình thức công dân kiểm soát chặt chẽ các quan chức được bầu. Mặc dù trưng cầu dân ý đã được thực hiện ở khá nhiều nước như Mỹ, Canada, Thụy Sĩ... song xung quanh vấn đề này vẫn còn nhiều bàn cãi, tranh luận.

Có quan điểm phê phán hình thức dân chủ trực tiếp, cho rằng trưng cầu dân ý sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến nền dân chủ đại diện. Cụ thể, nó có thể làm suy yếu nền dân chủ đại diện do làm suy yếu vai trò và tầm quan trọng của các đại diện được bầu. Một lý do khác là, các cử tri không phải lúc nào cũng có khả năng hoặc đủ thông tin để đưa ra những quyết định hợp lý về vấn đề đang trưng cầu và thay vào đó là những quyết định thiếu hiểu biết dựa trên những nhận thức phiến diện hay trên các cơ sở và yếu tố không cơ bản. Xu hướng này sẽ trở nên trầm trọng hơn trong trường hợp trưng cầu dân ý về những vấn đề phức tạp như thay đổi Hiến pháp hoặc các hiệp ước quốc tế, vì cho rằng cử tri thường không am hiểu nhiều về các vấn đề này.

Những người phản đối trưng cầu dân ý còn chỉ ra khả năng khi cơ quan hành pháp có quyền quyết định thời gian tổ chức trưng cầu dân ý, họ có thể sử dụng trưng cầu dân ý như một công cụ chính trị để đáp ứng nhu cầu của đảng cầm quyền hơn là lợi ích của nền dân chủ.

 Tuy nhiên, những người ủng hộ trưng cầu dân ý lại cho rằng, trong bối cảnh cử tri ngày càng thờ ơ và vỡ mộng đối với các hình thức dân chủ truyền thống, thì hình thức dân chủ trực tiếp này có thể giúp gắn kết các cử tri với chính trị và dân chủ. Hơn nữa, dân chủ trực tiếp đóng vai trò là một quy tắc hữu ích đối với thái độ của các quan chức được bầu, đảm bảo các đại diện này sẽ xem xét đầy đủ nguyện vọng của cử tri khi ra các quyết định thay mặt cử tri. Ngoài ra, trưng cầu dân ý còn được sử dụng để giải quyết các vấn đề chính trị cụ thể cho chính phủ đương nhiệm, khi đảng cầm quyền bị chia rẽ về một vấn đề nào đó. Lúc này việc tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý có thể tìm ra giải pháp cho một vấn đề mà không dẫn đến sự chia rẽ trong đảng.

Trưng cầu dân ý có hai loại: bắt buộc và không bắt buộc. Trưng cầu dân ý bắt buộc, được tổ chức trong những trường hợp nhất định hoặc liên quan đến những vấn đề nhất định đã được quy định trong luật. Kết quả của trưng cầu dân ý bắt buộc có tính ràng buộc, phải thực hiện. Trong khi đó, trưng cầu dân ý không bắt buộc có thể là cuộc trưng cầu dân ý không do luật quy định, có thể do chính phủ và trong một số trường hợp là do đảng chính trị khởi xướng. Kết quả của cuộc trưng cầu dân ý này chỉ có tính chất tham khảo hoặc tư vấn.

Trưng cầu dân ý nên là bắt buộc hay chỉ là tư vấn cũng là vấn đề được đặt ra. Chính phủ có thể quyết định một cuộc trưng cầu dân ý về vấn đề chính trị cụ thể do áp lực công chúng hoặc do sự chia rẽ trong chính phủ. Trưng cầu dân ý không bắt buộc được tổ chức khá thường xuyên ở các nước châu Âu về vấn đề gia nhập liên minh châu Âu (mặc dù trong một số trường hợp, những cuộc trưng cầu dân ý như vậy là bắt buộc vì chúng liên quan đến sửa đổi Hiến pháp của một quốc gia). Những cuộc trưng cầu dân ý này có thể không bị ràng buộc về mặt pháp lý. Tuy nhiên, đối với chính phủ việc phớt lờ kết quả trưng cầu dân ý có thể gây nên những khó khăn về mặt chính trị.

Bài học rút ra ở đây là, trong khi tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý, cần phải rõ ràng ngay từ khi bắt đầu về tầm quan trọng, vị thế của cuộc trưng cầu dân ý. Chính phủ có bị ràng buộc bởi kết quả trưng cầu dân ý hay không, hay kết quả trưng cầu dân ý chỉ đơn thuần có tính chất tham khảo? Để tránh sự không rõ ràng có thể làm giảm tính chính đáng và giá trị của một cuộc trưng cầu dân ý, câu trả lời phải được tuyên bố trong phạm vi luật trưng cầu dân ý.

Thông thường, chính phủ không có lợi khi luật trưng cầu dân ý quy định rằng, kết quả trưng cầu dân ý là bắt buộc, vì điều này có nghĩa sẽ không còn chỗ cho sự thoái lui của chính phủ, khi kết quả trưng cầu dân ý không phải là kết quả mà chính phủ ủng hộ. Tuy nhiên, trên thực tế, việc chính phủ tảng lờ kết quả trưng cầu dân ý là rất khó, ngay cả khi trưng cầu dân ý chỉ có tính chất tư vấn về mặt kỹ thuật. Một chính phủ bị cho là chống lại ý nguyện của đa số cử tri sẽ là rất không khôn ngoan về mặt chính trị, ngay cả khi nó rất muốn chống. Những vấn đề này thường được xem xét kỹ lưỡng khi thiết kế cơ chế trưng cầu dân ý.

Thông qua thực tiễn vận động trưng cầu dân ý ở các nước trên thế giới, có thể rút ra các kinh nghiệm vận động trưng cầu dân ý sau:

+ Thứ nhất, cần có một ủy ban trưng cầu dân ý độc lập để vận động trưng cầu dân ý không bị lạm dụng và có tác động tích cực trong xã hội. Ủy ban trưng cầu dân ý là một cơ quan hoạt động độc lập, được thiết lập bởi đạo luật trưng cầu dân ý. Chức năng cơ bản của ủy ban là giải thích những vấn đề thuộc về trưng cầu dân ý, thúc đẩy nhận thức công chúng về vấn đề trưng cầu và khuyến khích toàn bộ cử tri bỏ phiếu. Như vậy, ủy ban thông báo chi tiết về thông tin vận động, hoạt động để nâng cao hiểu biết của cử tri và khuyến khích nhân dân bỏ phiếu.

Các cuộc vận động rất sinh động cả về mặt ủng hộ và chống đối đối với vấn đề đưa ra trưng cầu và nhiệm vụ của ủy ban là loại bỏ những nhầm lẫn, làm cho các vấn đề trở nên rõ ràng và khuyến khích người dân bỏ phiếu. Ủy ban khẳng định lại chắc chắn với cử tri rằng, ở giữa những cuộc tranh cãi và thay đổi nóng bỏng này, ủy ban sẽ trình bày vấn đề được trưng cầu với một sự độc lập, trung tính và giải thích rõ ràng những gì mà người dân yêu cầu. Ủy ban không đưa ra lập luận ủng hộ hay phản đối mà nó chỉ giải thích chi tiết để dựa vào đó cử tri sẽ ra quyết định vào ngày bỏ phiếu.

+ Thứ hai, cách thức diễn đạt vấn đề trưng cầu dân ý của cơ quan có trách nhiệm phải đảm bảo tính trung lập. Nghiên cứu của các chuyên gia cho thấy rằng, cách thức vấn đề được nêu ra có thể có gợi ý đáng kể cho nhân dân bỏ phiếu như thế nào. Vì vậy, việc soạn thảo và đưa ra vấn đề trưng cầu dân ý phải đảm bảo được tính trung lập với các lợi ích trong xã hội.

Để đảm bảo tiêu chí này, ủy ban trưng cầu dân ý là một lựa chọn hợp lý nếu nó được coi là trung tính trong cuộc tranh luận trưng cầu dân ý. Trách nhiệm của ủy ban là đảm bảo vấn đề trưng cầu dân ý dễ hiểu đối với cử tri hơn là cố gắng khuyến khích cử tri bỏ phiếu theo một cách cụ thể. Chính phủ có thể đảm nhận trách nhiệm soạn thảo vấn đề trưng cầu dân ý. Tuy nhiên, nếu chính phủ ủng hộ một kết quả cụ thể của trưng cầu dân ý, chính phủ sẽ có thể cố gắng diễn đạt vấn đề một cách có tính toán để khuyến khích nhân dân bỏ phiếu theo những cách có lợi cho mình. Hơn nữa, ngay cả khi chính phủ không cố gắng làm như vậy, các đối thủ của chính phủ cũng có thể cho rằng chính phủ đang tìm cách thao túng vấn đề, điều này sẽ hủy hoại tính chính đáng của cuộc trưng cầu dân ý.

Một giải pháp cho nguy cơ tiềm năng này là cho phép chính phủ soạn thảo vấn đề nhưng trao cho một cơ quan độc lập, chẳng hạn cho ủy ban trưng cầu dân ý vai trò trung lập giám sát quá trình soạn thảo. Ở Anh, chính phủ có trách nhiệm soạn thảo vấn đề trưng cầu dân ý, nhưng ủy ban Bầu cử độc lập được yêu cầu bình luận công khai về tính dễ hiểu của vấn đề. Ủy ban đã tạo cho công chúng một loạt các tiêu chí mà theo đó cuộc trưng cầu dân ý sẽ được thực hiện. Tuy nhiên, nếu bình luận của ủy ban có tính chỉ trích mạnh, thì việc chính phủ tảng lờ những bình luận này cũng gặp phải khó khăn về mặt chính trị.1

+ Thứ ba, xác định mục đích và động cơ vận động. Động cơ của cuộc vận động có thể khác nhau phụ thuộc vào vấn đề trưng cầu dân ý.

Có thể phân loại thành 3 dạng vận động:

Thứ nhất, vận động hình thành dư luận. Trong cuộc vận động này, người ta không mong đợi công luận được hình thành một cách đầy đủ về vấn đề trưng cầu mà chỉ cần tạo được dư luận trong xã hội.

Thứ hai, vận động thay đổi dư luận nhằm vào những vấn đề có tính khai phá, hợp lý để tạo sự ủng hộ cho những xu hướng mới qua cuộc vận động.

Thứ ba, vận động tăng cường dư luận, làm cho dư luận đã được hình thành vững chắc hơn và có ít khả năng có thể thay đổi nhanh chóng hay bộc lộ những điều bất ngờ.

+ Thứ tư, vận động trưng cầu dân ý cung cấp thông tin, làm rõ vấn đề đang được đưa ra để trưng cầu

Cách tốt nhất để làm rõ vấn đề trưng cầu dân ý là nên đề cập cả những lợi thế, lợi ích, tác động tích cực của vấn đề cũng như những mặt hạn chế và tác động tiêu cực của nó nếu vấn đề đưa ra được chấp thuận. Chương trình, nội dung vận động phải đưa ra được những luận cứ và chứng minh có tính thuyết phục để người tiếp nhận có thể dễ dàng đánh giá, so sánh, cân nhắc và đưa ra được quyết định của mình. Đối với chiến dịch vận động ủng hộ vấn đề, nên tránh đưa ra những câu khẩu hiệu có tính khẳng định như “đồng ý”, “tán thành” mà thay bằng sự khích lệ, “nếu các bạn còn nghi ngờ, hãy hỏi” hoặc “hãy tìm hiểu”.

Thông tin đóng vai trò quan trọng trong quá trình vận động và hình thành dư luận. Một trong những vấn đề quan trọng của vận động trưng cầu dân ý là làm thế nào để thông tin, thường được cung cấp bởi truyền thông, có thể giúp cho việc hình thành (vững chắc) ý kiến và thay đổi nhận thức của các ứng cử viên về vấn đề chính trị trong các điều kiện cụ thể của cuộc vận động trưng cầu dân ý.

Sự hiểu biết về vấn đề trưng cầu dân ý phải được thể hiện thông qua việc nhận thức các ý kiến có sự phê phán của cử tri. Đối với những vấn đề phổ biến, quá trình nhận thức này có thể ít quan trọng so với những gì mà các cử tri đã có từ kinh nghiệm và tri thức trước đây. Vì vậy, phiếu của họ có thể phần lớn bị dẫn dắt bởi ưu thế của việc sắp xếp trước, hoặc bởi thái độ được xây dựng từ trước. Đối với những vấn đề ít nổi bật, các cử tri có thể phụ thuộc nhiều hơn vào thông tin mà họ đã nhận được trong suốt cuộc vận động.

+ Thứ năm, tạo được các nguồn quỹ cần thiết để thực hiện chiến dịch tuyên truyền, quảng cáo. Việc xem xét làm thế nào để quy định trưng cầu dân ý là quan trọng, vì việc đưa ra một khuôn khổ cho tranh luận công khai là vấn đề cơ bản để tiến hành một cuộc vận động và trưng cầu tự do, công bằng. Tuy nhiên, việc giải thích như thế nào là công bằng vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Chẳng hạn, một cuộc vận động “công bằng” có phải là một cuộc vận động bình đẳng khi cả hai phía ủng hộ và phản đối có các nguồn lực sử dụng bằng nhau để thúc đẩy mong muốn của họ? Hay một cuộc vận động công bằng là khi mỗi phía vận động có một mức độ bình đẳng tối thiểu về tài chính nhưng cũng có thể tăng tài chính và sử dụng sự đóng góp của cá nhân? Hoặc một cuộc vận động công bằng có nghĩa là để cho các nhà vận động không bị kiểm soát việc chi tiêu bất kỳ khoản tiền nào được trao cho họ?

Trên thực tế, quy định vận động trưng cầu dân ý cũng khác nhau ở các nước. Một số nước không áp đặt bất kỳ sự kiểm soát nào đối với cuộc vận động và các nhà vận động, trong khi đó ở một số nước khác, tài chính và các kiểm soát khác được ấn định cho bất kỳ cá nhân hoặc tổ chức nào có mong muốn tham gia vận động.

Điều đáng chú ý là các nước thực hiện trưng cầu dân ý đã khai thác khá tốt ưu thế của phương tiện truyền thông hiện đại trong vận động trưng cầu dân ý. Phương tiện vận động, quảng cáo chính gồm có truyền hình, truyền thanh, báo chí và các phương tiện truyền thông trực tuyến cũng được thực hiện để tuyên truyền lợi ích của cuộc trưng cầu dân ý. Chẳng hạn, một Website sẵn có và giải thích những vấn đề chính của vấn đề trưng cầu dân ý; Website còn cho phép các cử tri tiếp cận và đăng ký, bỏ phiếu. Trong đó có giải thích việc đăng ký, bỏ phiếu như thế nào. Việc quảng cáo, tuyên truyền, vận động còn được thực hiện trên các báo quốc gia và các đài phát thanh để thu hút sự chú ý và nhận thức của nhân dân. Ngoài ra các sách cầm tay giải thích cũng được in và phân phát cho mỗi hộ gia đình bỏ phiếu.

Ở Việt Nam, hình thức dân chủ trực tiếp - trưng cầu dân ý, dù đã được ghi nhận thành nguyên tắc hiến định nhưng cho đến nay việc thực hiện trưng cầu dân ý chưa thực hiện được là bao. Hiện nay, chúng ta đang triển khai xây dựng luật trưng cầu dân ý. Tuy nhiên, để có được một đạo luật tốt và có khả năng thực thi trên thực tế, còn rất nhiều điều cần được bàn luận, cân nhắc. Một hình thức dân chủ trực tiếp thường gắn liền với những chi phí rất tốn kém, nếu được tổ chức thực hiện tốt thì trưng cầu dân ý mới có ý nghĩa, không lãng phí tiền của, công sức của nhân dân, xã hội.

_____________

1. Issues Relating to the Referendum Mechanism, an Electoran Processes Team Working Paper, International Idea, September 2004.

* Viện Chính trị học, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh.

 | Trở Về đầu trang    |



HƯỞNG ỨNG CUỘC VẬN ĐỘNG:
"HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH"

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC GẮN BÓ VỚI NHÂN DÂN

                                                                           TS. ĐẶNG ĐÌNH TÂN*

Một trong những tư tưởng chính trị quan trọng của Hồ Chí Minh là tư tưởng về mối quan hệ giữa Đảng - Nhà nước và quần chúng nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Tiếp thu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo chân chính ra lịch sử, ngay từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức sâu sắc về vai trò của nhân dân, lấy dân làm gốc, tin tưởng vững chắc vào sức mạnh to lớn, năng lực sáng tạo của nhân dân.

Để phát huy sức mạnh của nhân dân, Hồ Chí Minh đã khẳng định sự cần thiết phải có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, là đội tiền phong chính trị của giai cấp công nhân và xây dựng khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và trí thức làm nòng cốt của Mặt trận dân tộc thống nhất. Đảng có vai trò khơi dậy động lực, phát huy sức mạnh của cả dân tộc, thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc và đi lên chủ nghĩa xã hội.

Về bản chất, Đảng Cộng sản Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân, nhưng về lợi ích thì chỉ có mục đích cao nhất đấu tranh cho độc lập dân tộc, tự do hạnh phúc của nhân dân, cho mỗi con người, xây dựng đất nước giàu mạnh, hoà bình, hữu nghị với tất cả các dân tộc, ngoài ra Đảng Cộng sản Việt Nam không có lợi ích nào khác.

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, chính quyền là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội. Nói về nhiệm vụ của giai cấp vô sản trong việc giành lấy quyền lực nhà nước từ tay giai cấp thống trị, C.Mác - F.A ngghen viết “Giai cấp vô sản sẽ dùng sự thống trị chính trị của mình để từng bước đoạt lấy toàn bộ tư bản trong giai cấp tư sản, để tập trung tất cả những công cụ sản xuất vào trong tay nhà nước, tức là trong tay giai cấp vô sản đã được tổ chức thành giai cấp thống trị và tăng thật nhanh số lượng những lực lượng sản xuất lên”. Tiếp thu, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về việc xây dựng nhà nước kiểu mới, kế thừa những giá trị truyền thống của dân tộc và những tinh hoa nhân loại, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng một Nhà nước của dân, do dân, vì dân là một di sản quý báu.

Hồ Chí Minh luôn đặt nhiệm vụ cho Đảng ta phải xây dựng một nhà nước kiểu mới mà quyền lực chính trị là tập trung và phải thuộc về nhân dân lao động. Nhà nước chỉ là cơ quan được uỷ thác quyền lực từ nhân dân và nhà nước sử dụng quyền lực ấy phục vụ cho nhân dân, vì sự nghiệp giải phóng người lao động và giải phóng con người. “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”1. Số nhiều, theo Hồ Chí Minh ở Việt Nam, đó là nhân dân lao động, trong đó công - nông - trí thức là đội quân chủ lực của cách mạng, là lực lượng nòng cốt trong việc xây dựng Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam.

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt tay vào thiết kế, tổ chức, chỉ đạo và trực tiếp điều hành hoạt động của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên trong lịch sử nước ta. Về phương diện này, tư tưởng của Người thể hiện trên một số luận điểm cơ bản sau:

Quyền lực Nhà nước là thống nhất ở nhân dân và chỉ ở nhân dân. Nhà nước được nhân dân giao quyền nhưng không được tiếm quyền, lộng quyền, lạm quyền. Việc Nhà nước sử dụng đúng quyền lực, đúng mục đích của mình chính là để phục vụ nhân dân. Chính vì vậy, từ khi Nhà nước ra đời đến nay, Đảng ta luôn quán triệt và thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên trong bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể phải chống mọi biểu hiện của sự tha hoá quyền lực và nhân dân là người có vai trò kiểm soát quyền lực “Quyền lực của cơ quan lãnh đạo là do quần chúng, đảng viên giao phó cho, chứ không phải ai tự tranh giành được”.

Tư tưởng về xây dựng nhà nước của dân, nhà nước là đại biểu cho sự tập trung thống nhất của khối đại đoàn kết dân tộc được Hồ Chí Minh thiết kế và chỉ ra những nội dung rất cụ thể:

“Nước ta là nước dân chủ
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân
Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân
Sự nghiệp kháng chiến kiến quốc là công việc của dân
Chính quyền từ xã đến chính phủ trung ương do dân cử ra
Đoàn thể từ trung ương đến xã do dân tổ chức nên
Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.

Ngay ngày 3.9.1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Người đã nêu ra 6 nhiệm vụ cấp bách về xây dựng một Nhà nước kiểu mới: “Tôi đề nghị chính phủ tổ chức càng sớm càng tốt cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân, trai gái 18 tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống”. “Trong nước Việt Nam dân chủ cộng hoà của chúng ta, tất cả mọi quyền lực đều là của nhân dân... Lấy liên minh công nông làm nền tảng, đoàn kết các giai cấp dân chủ và các dân tộc trong nước để thực hiện dân chủ chuyên chính”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, lợi ích của nhân dân mà Nhà nước có trách nhiệm chăm lo là cụ thể, như việc ăn, ở, mặc, học hành, chữa bệnh... hàng ngày của nhân dân. “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”.

Nhà nước dân chủ là một Nhà nước tiến bộ nhất trong lịch sử. Dân là chủ, địa vị cao nhất trong xã hội là nhân dân. Trong thời đại ngày nay, Nhà nước dân chủ được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, theo Hồ Chí Minh, một nhà nước phải thật sự trong sạch và sáng suốt. Nhà nước đó phải dựa hẳn vào nhân dân. “Phải nhớ rằng dân là chủ, dân như nước, mình như cá, lực lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết... chớ vác mặt quan cách mạng cho dân ghét, dân khinh, dân không ủng hộ”. Hồ Chí Minh đã đề cập nhiều đến mối quan hệ giữa chính phủ và nhân dân: “Nếu không có nhân dân thì chính phủ không đủ lực lượng. Nếu không có chính phủ thì nhân dân không có ai dẫn đường. Vì vậy chính phủ và nhân dân phải đoàn kết thành một khối”. Nhân dân và chính phủ là hai mặt thống nhất trong mối quan hệ biện chứng. Khi đã xác định dân là chủ, là chủ thể thì chính phủ là công bộc, là đầy tớ của nhân dân. Nếu không làm tròn bổn phận của người đầy tớ, nếu chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ. “Chính phủ cộng hoà dân chủ là gì? Là đầy tớ trung thành của dân, từ Chủ tịch toàn quốc đến làng... Làm việc không phải để thăng quan phát tài. Nếu chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ, nhưng khi dân dùng đầy tớ làm việc cho mình thì phải giúp đỡ chính phủ”. Người khẳng định “Đã phụng sự nhân dân thì phụng sự cho ra trò. Nghĩa là việc gì lợi cho dân thì phải làm cho kỳ được, việc gì hại cho dân thì phải hết sức tránh”.

Nhân dân với tư cách là chủ, thì mọi công dân phải hết lòng vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, phụng sự cho sự nghiệp kháng chiến kiến quốc, đoàn kết xung quanh Đảng Cộng sản, ủng hộ và giúp đỡ chính phủ, kiểm tra phê bình, kiểm tra chính phủ: “Chế độ của ta là chế độ dân chủ. Nhân dân là chủ, chính phủ là đầy tớ của nhân dân. Nhân dân có quyền đôn đốc, phê bình chính phủ... Nhân dân lại có nhiệm vụ giúp đỡ chính phủ theo đúng kỷ luật của chính phủ và làm đúng chính sách của chính phủ để chính phủ làm tròn bổn phận mà nhân dân đã giao”.

Từ những tư tưởng cơ bản về một đảng kiểu mới, một nhà nước kiểu mới, quyền lực tối thượng thuộc về nhân dân, nòng cốt là liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng, được Hồ Chí Minh vận dụng trong chỉ đạo xây dựng Hiến pháp 1946 và suốt trong những năm sau khi hòa bình lập lại (1954) ở miền Bắc và trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nó là kết tinh những giá trị truyền thống với hiện đại và chủ nghĩa Mác - Lênin. Tư tưởng của Hồ Chí Minh về một đảng kiểu mới, về Nhà nước của dân, do dân và vì dân và về vai trò của quần chúng nhân dân, các đoàn thể nhân dân đến nay vẫn giữ nguyên giá trị, tiếp tục định hướng chính trị cho việc xây dựng, củng cố sự lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của các tầng lớp nhân dân thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện nay.

____________

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 1995, t.2, tr.270.

 | Trở Về đầu trang    |



KỶ NIỆM 85 NĂM NGÀY BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM (21-6-1925 _ 21-6-2010)

HỘI NHÀ BÁO VIỆT NAM - 60 NĂM MỘT CHẶNG ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN VẺ VANG

LTS: Ngày 20-4-2010, tại thủ đô Hà Nội, Hội Nhà báo Việt Nam đã long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 60 năm Ngày thành lập (21-4-1950 – 21-4-2010), đồng chí Trương Tấn Sang, Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã đến dự và có bài phát biểu quan trọng.

Ban Biên tập Tạp chí Mặt trận lược ghi bài phát triển nói trên và xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc. Đầu đề là của Tạp chí.

                           b                                                    BAN BIÊN TẬP

...Trong mọi giai đoạn cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng, đánh giá cao vai trò của báo chí, luôn quan tâm chăm lo xây dựng, chỉ đạo hoạt động báo chí và đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ những người làm báo.

Ngay từ năm 1925, trong quá trình vận động thành lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho ra đời Báo Thanh niên. Người trực tiếp viết bài, biên tập và tổ chức xuất bản tờ báo để tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin và khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí đấu tranh giành độc lập dân tộc trong các tầng lớp thanh niên và nhân dân ta. Báo Thanh niên đã góp phần tích cực vào việc chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức để Đảng ta ra đời vào ngày 3-2-1930. Nhiều cán bộ được Chủ tịch Hồ Chí Minh đào tạo, rèn luyện từ khi đó, sau này trở thành những cán bộ ưu tú của Đảng, những nhà báo xuất sắc. Ngày 21-6-1925, ngày Báo Thanh niên ra số đầu đã trở thành Ngày truyền thống của Báo chí cách mạng Việt Nam.

Từ khi ra đời, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi báo chí là vũ khí tư tưởng sắc bén để tuyên truyền, vận động nhân dân; đoàn kết tập hợp mọi lực lượng yêu nước; chỉ đạo các phong trào hành động cách mạng của quần chúng; đấu tranh chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, giành độc lập, tự do và thống nhất đất nước; thúc đẩy sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trong thời kỳ hoạt động bí mật, đấu tranh giành chính quyền vô cùng gian khổ, Đảng đã chắt chiu dành dụm nguồn kinh phí ít ỏi, cử những cán bộ dày dạn kinh nghiệm, những quần chúng trung kiên sang phụ trách, trực tiếp làm báo và phát hành báo. Trong những năm tháng ác liệt của các cuộc kháng chiến chống xâm lược, Đảng, Nhà nước ta vẫn luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tạo điều kiện để báo chí cách mạng hoạt động và phát triển; chăm lo đào tạo, bồi dưỡng phát triển đội ngũ những người làm báo ngày càng đông đảo, đồng thời bằng nhiều hình thức vận động, đoàn kết, tập hợp các nhà yêu nước và tiến bộ trong vùng địch chiếm đóng tham gia đóng góp vào cuộc kháng chiến của dân tộc. Việc các hội nhà báo yêu nước do Đảng ta chỉ đạo ra đời từ rất sớm, nhất là việc thành lập Hội Những người viết báo Việt Nam, nay là Hội Nhà báo Việt Nam, tại chiến khu Việt Bắc năm 1950, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang diễn ra rất ác liệt, đã thể hiện sự quan tâm, đánh giá cao của Đảng, Nhà nước ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với vai trò rất quan trọng của báo chí nói chung và của Hội Nhà báo nói riêng.

Trong suốt mấy thập kỷ qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, báo chí cách mạng Việt Nam và đội ngũ những người làm báo nước nhà đã vượt qua mọi khó khăn gian khổ, nhiều nhà báo anh dũng hy sinh trên các chiến trường, hoàn thành xuất sắc sứ mệnh vẻ vang mà đất nước và nhân dân giao phó. Báo chí đã tuyên truyền, đưa chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với các tầng lớp nhân dân; phản ánh sinh động thực tế hào hùng của các cuộc kháng chiến cứu nước cũng như thực tiễn sôi động của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phát hiện, cổ vũ, động viên, nhân rộng các nhân tố mới, những điển hình tiên tiến; góp phần khơi dậy và làm sôi động các phong trào thi đua yêu nước của đồng bào, chiến sĩ ta ở mọi miền của Tổ quốc, trên mọi lĩnh vực, làm nên những chiến công vang dội, những thành tựu to lớn. Đồng thời, báo chí còn là diễn đàn thể hiện ý chí, tình cảm, nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân, những đóng góp, kiến nghị của nhân dân với Đảng, Nhà nước; những sáng kiến của nhân dân tham gia vào việc giải quyết những vấn đề đặt ra trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Báo chí đã tích cực đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội, góp phần làm cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn, môi trường xã hội trong lành hơn; đấu tranh phản bác các luận điểu vu cáo, xuyên tạc, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động tuyên truyền của các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Báo chí đã tham gia tích cực, đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực thông tin đối ngoại để nhân dân thế giới, bạn bè quốc tế hiểu biết về đất nước, con người, sự nghiệp chính nghĩa và thành tựu to lớn của cách mạng Việt Nam, tạo nên sự đoàn kết, ủng hộ rộng rãi của bạn bè quốc tế đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta,... Trong những thành tựu chung đó, có sự đóng góp của Hội Nhà báo Việt Nam. 60 năm qua, Hội Nhà báo Việt Nam khi là một tổ chức thống nhất trong cả nước, hay khi do yêu cầu của tình hình nhiệm vụ phải tổ chức thành hai hội hoạt động ở hai miền, đều làm tốt vai trò doàn kết, tập hợp, động viên, cổ vũ những người làm báo sáng tạo ra những tác phẩm báo chí phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng ta, nhân dân ta.

Trong những năm vừa qua, các cấp hội nhà báo đã phối hợp với các cấp, các ngành, các cơ quan chức năng của Đảng và Nhà nước triển khai tổ chức thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa X) “Về công tác tư tưởng, lý luận, báo chí trong thời kỳ mới”, Chỉ thị 37 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) về “Nâng cao vai trò, vị trí, chất lượng và hiệu quả hoạt động của các cấp Hội Nhà báo Việt Nam” và gần đây nhất là Thông báo Kết luận số 221 của Ban Bí thư (khóa X) về tiếp tục thực hiện Chỉ thị 37 của Ban Bí thư, bước đầu đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Vai trò, vị trí và hiệu quả hoạt động của các cấp hội nhà báo được nâng lên. Công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nhận thức chính trị, trình độ nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp cho hội viên được tăng cường. Hội đã cố gắng, nỗ lực tham gia vào việc chuẩn bị và hoàn thiện các cơ chế, chính sách về thông tin, báo chí, quản lý báo chí của Nhà nước; bảo vệ quyền hành nghề hợp pháp và chính đáng của nhà báo. Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng, tôi nhiệt liệt biểu dương những cống hiến to lớn của nền báo chí cách mạng và giới báo chí nước nhà đối với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng ta, nhân dân ta; nhiệt liệt biểu dương những thành tựu và đóng góp xứng đáng của Hội Nhà báo Việt Nam trong 60 năm qua vào sự nghiệp phát triển của báo chí đất nước nói riêng cũng như sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung.

... Sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa của đất nước ta trong những năm qua đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Thế và lực của đất nước được tăng cường. Vị thế và uy tín của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Chúng ta đang đứng trước những triển vọng và thời cơ lớn để phấn đấu đưa đất nước đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Đồng thời, tình hình thế giới và trong nước cũng đặt ra trước đất nước ta những khó khăn và thách thức lớn. Điều đó cũng đặt ra cho báo chí, cho đội ngũ những người làm báo, cho hội nhà báo các cấp những nhiệm vụ rất nặng nề và rất vẻ vang.

Báo chí cần phát huy những thế mạnh, ưu điểm, khắc phục những thiếu sót khuyết điểm để làm tốt vai trò là vũ khí tư tưởng sắc bén, tuyên truyền, vận động, tập hợp, đoàn kết cổ vũ động viên các tầng lớp nhân dân, nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng và Nhà nước ta. Báo chí phải tăng cường, nâng cao chất lượng tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, luật pháp, chính sách của Nhà nước; đấu tranh vạch trần những âm mưu, phản bác những luận điểm xuyên tạc, vu cáo của các thế lực thù địch. Phát hiện, biểu dương, cổ vũ những nhân tố mới, những điển hình tiên tiến, những cái đẹp, cái hay, cái tích cực, tiến bộ; đồng thời tích cực đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và tệ nạn xã hội, phê phán, đẩy lùi những cái xấu, cái ác, cái tiêu cực. Kiên quyết khắc phục những lệch lạc, xa rời tôn chỉ, mục đích, thương mại hóa của một số cơ quan báo chí. Báo chí phải góp phần tạo ra được trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta khí thế dời non lấp biển, chớp thời cơ, vượt qua mọi khó khăn, thách thức để đạt bằng được mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Để thực hiện tốt các nhiệm vụ nặng nề nhưng hết sức vẻ vang đó của báo chí, hội nhà báo các cấp có trách nhiệm và vai trò rất quan trọng. Là tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp của những người làm báo, Hội phải tập hợp, đoàn kết, sát cánh cùng hội viên; giúp các nhà báo nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, ý thức trách nhiệm, trình độ kiến thức, nghiệp vụ để sáng tạo ra nhiều tác phẩm hay và hữu ích cho xã hội. Hội cần khắc phục những nhược điểm, đổi mới mạnh mẽ hơn nội dung và phương thức hoạt động; tích cực tham gia bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, chính sách về thông tin, báo chí, tạo điều kiện thuận lợi để các nhà báo tác nghiệp, để các cơ quan báo chí phát triển; vừa quản lý, kiểm tra việc thực hiện quy định về đạo đức nghề nghiệp, vừa tích cực đấu tranh bảo vệ quyền lợi chính đáng và quyền hành nghề hợp pháp của nhà báo. Tôi tin tưởng rằng, trong bối cảnh mở cửa và hội nhập quốc tế, cùng với đà đi lên của đất nước, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân, nền báo chí nước nhà nhất định sẽ phát triển ngày càng mạnh mẽ, hoàn thành tốt sứ mệnh là “người thư ký” của thời đại Hồ Chí Minh, thời đại độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, làm cho đất nước ta ngày càng phồn vinh, nhân dân ta có cuộc sống ngày càng tự do, ấm no, hạnh phúc; Hội nhà báo nhất định sẽ hoàn thành tốt trọng trách của mình trước Đảng, Nhà nước và nhân dân, trước đội ngũ những người làm báo của đất nước.

 | Trở Về đầu trang    |



HỘI NHÀ BÁO VIỆT NAM - THÀNH VIÊN TÍCH CỰC CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

                                                                                          LÊ VĂN THIỀNG*

Trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò cực kỳ quan trọng. Với tư cách là đại diện cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tạo thành nguồn động lực vô cùng lớn lao, gắn kết, phát huy mọi sức mạnh, mọi tinh hoa của thời đại, cùng với Đảng, Nhà nước và nhân dân thiết lập hệ thống chính trị vững mạnh, tổ chức thực hiện thành công các nhiệm vụ cách mạng nhằm đạt mục tiêu: độc lập dân tộc, thống nhất lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Cùng với các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp khác, Hội Nhà báo Việt Nam rất vinh dự là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Hội Nhà báo Việt Nam đã và đang tiếp tục làm tốt vai trò tổ chức thành viên của mình trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Hội Nhà báo Việt Nam được thành lập ngày 21-4-1950 tại xóm Roòng Khoa, xã Điềm Mặc, huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên. Kể từ đó đến nay, Hội Nhà báo Việt Nam đã qua 8 kỳ đại hội. Tại Đại hội lần thứ II Hội Nhà báo Việt Nam năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát biểu: “Nói về Hội Nhà báo. Đó là một tổ chức chính trị và nghiệp vụ. Nhiệm vụ của Hội là phải làm cho hội viên đoàn kết chặt chẽ, giúp đỡ nhau để nâng cao trình độ chính trị và nghiệp vụ. Có như thế thì Hội Nhà báo mới làm tròn nhiệm vụ của mình và những người làm báo mới phục vụ tốt nhân dân, phục vụ tốt cách mạng”. Tiếp sau đó, tại Đại hội lần thứ III Hội Nhà báo Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã dạy: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng, cây bút trang giấy là vũ khí sắc bén của họ. Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng, cố gắng trau dồi tư tưởng, nghiệp vụ và văn hoá, chú trọng học tập chính trị để nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ, đi sâu vào thực tế, đi sâu vào quần chúng lao động”.

Chỉ thị 37 của Ban Bí thư Trung ương Đảng nêu rõ: “Hội Nhà báo Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp của những người làm báo Việt Nam, hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng và trong khuôn khổ pháp luật của Nhà nước. Hội cần được tiếp tục đổi mới, kiện toàn về tổ chức, đổi mới phương thức hoạt động nhằm tập hợp và đoàn kết rộng rãi các nhà báo trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc, chủ động tham gia công tác chỉ đạo, quản lý báo chí; xây dựng hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về báo chí để góp phần xây dựng và phát triển nền báo chí cách mạng và đội ngũ những người làm báo Việt Nam trong thời kỳ mới... Các cấp uỷ đảng, chính quyền, các cơ quan chỉ đạo quản lý báo chí cần tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp hoạt động và có quy định cụ thể tạo điều kiện cần thiết về cán bộ chuyên trách, kinh phí, điều kiện, phương tiện làm việc để Hội Nhà báo các cấp hoạt động đạt hiệu quả thiết thực”.

Văn bản số 162, ngày 1-12-2004, thông báo Kết luận của Bộ Chính trị về một số biện pháp tăng cường quản lý báo chí trong tình hình hiện nay, nêu rõ: “Các cơ quan chỉ đạo, quản lý, chủ quản và Hội Nhà báo các cấp phối hợp chặt chẽ, thường xuyên để tổ chức thực hiện tốt những chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về báo chí, đề xuất những chủ trương, biện pháp cụ thể để nâng cao chất lượng hoạt động báo chí, giao ban báo chí. Khẩn trương hoàn thiện cơ quan quản lý về nội dung, nhân sự, tài chính. Quan tâm hơn nữa việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ các nhà báo về nhận thức chính trị và chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp, trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân”.

Hội Nhà báo Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp duy nhất của các nhà báo cách mạng Việt Nam với số lượng hội viên trên 17.000 người (tính đến hết năm 2009) đang công tác tại các cơ quan báo chí trong cả nước. Hội Nhà báo Việt Nam có tổ chức theo ngành dọc rất chặt chẽ, từ Trung ương xuống địa phương, cơ sở, theo 3 cấp: cấp Trung ương có Ban Chấp hành Hội Nhà báo Việt Nam được Đại hội bầu ra và Ban Chấp hành bầu ra Ban Thường vụ, Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ban Kiểm tra; cơ quan Trung ương có các bộ phận tham mưu, giúp việc cho Ban Chấp hành. Cấp thứ hai là Hội Nhà báo các tỉnh, thành phố có các Liên chi hội nhà báo. Cấp thứ ba là các Chi hội trực thuộc Trung ương Hội, các Chi hội thuộc Hội Nhà báo các tỉnh, thành phố và các Chi hội thuộc các Liên chi hội. Nhiệm vụ của Hội Nhà báo Việt Nam là tập hợp và đoàn kết rộng rãi những người làm báo Việt Nam phấn đấu vì mục tiêu và lý tưởng cách mạng của Đảng, đóng góp tích cực vào việc xây dựng và phát triển nền báo chí Việt Nam trong thời kỳ mới; vào việc xây dựng và phát triển đội ngũ những người làm báo Việt Nam; xây dựng và từng bước hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, chế độ chính sách về báo chí, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động báo chí.

Từ ngày thành lập đến nay, hơn nửa thế kỷ qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, Hội Nhà báo Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng vào việc tổ chức, động viên, cổ vũ các nhà báo - hội viên thực hiện tốt những nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của báo chí Việt Nam, xây dựng và phát triển đội ngũ những người làm báo; góp phần tích cực vào công tác tuyên truyền, phổ biến mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, trong đó có các chủ trương, đường lối, chính sách về đại đoàn kết toàn dân tộc. Đội ngũ những người làm báo mà nòng cốt là những hội viên Hội Nhà báo Việt Nam trong các cơ quan báo chí đã sáng tạo nhiều tác phẩm báo chí phản ánh đậm nét và có hiệu quả các chính sách về công tác mặt trận; giới thiệu, cổ vũ, động viên những nhân tố mới, điển hình mới về công tác mặt trận, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, chống những quan điểm sai trái và luận điệu xuyên tạc của các thế lực chống phá cách mạng Việt Nam. Đồng thời, Hội Nhà báo Việt Nam đã có những đóng góp to lớn vào sự phát triển của nền báo chí Việt Nam, tham gia chỉ đạo, quản lý báo chí, từng bước hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, chính sách về báo chí, có nhiều hoạt động đối ngoại phong phú, không ngừng phát huy và nâng cao vị thế của Hội Nhà báo Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.

Trong những năm gần đây, Hội Nhà báo Việt Nam đã phối hợp với Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức thành công Giải báo chí “Vì sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc” hàng năm. Ngay từ khi phát động, Giải đã thu hút được sự chú ý của giới báo chí và của các tầng lớp nhân dân đến các hoạt động thuộc lĩnh vực đại đoàn kết toàn dân tộc, từ đó khơi gợi, sáng tạo được nhiều tác phẩm báo chí tham gia cuộc thi, lần lượt xuất hiện các tác phẩm báo chí phản ánh sâu đậm về đề tài này, trong đó có nhiều tác phẩm có hiệu quả và hiệu ứng xã hội cao. Trong công tác vận động quần chúng chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân bên cạnh việc phối hợp tổ chức giải báo chí “Vì sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc” ở cấp Trung ương, Hội Nhà báo Việt Nam cũng chỉ đạo các Hội Nhà báo tỉnh, thành phố thường xuyên phối hợp với Mặt trận cùng cấp tổ chức các Giải báo chí “Vì sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc” ở địa phương. Báo chí địa phương qua vai trò của các hội viên - nhà báo sinh hoạt trong các Chi hội, luôn luôn đổi mới cách viết, cách phản ánh, làm sao cho các bài viết về công tác mặt trận có nội dung hấp dẫn, thiết thực, có tác dụng tuyên truyền tập thể, cổ động tập thể và tổ chức tập thể các chương trình, nội dung công tác mặt trận đến các đối tượng bạn đọc. Đã có nhiều địa phương tổ chức thành công các cuộc thi hàng năm, có sự phối hợp của Mặt trận với Hội Nhà báo, tiêu biểu như: Đắc Lắc, Kon Tum, Gia Lai, Lâm Đồng, Sóc Trăng, Trà Vinh, Yên Bái, Tuyên Quang, Sơn La, Hoà Bình, Phú Thọ... Đây là kết quả nổi bật không chỉ của mối quan hệ trong phối hợp công tác chung mà còn thể hiện mối quan hệ phối hợp hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với các tổ chức thành viên.

Cùng với việc phối hợp tổ chức các giải báo chí, Hội Nhà báo Việt Nam cũng phối hợp chặt chẽ với Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức tuyên truyền các chương trình, dự án của Mặt trận, đặc biệt là các chương trình từ thiện nhằm mục đích xoá đói giảm nghèo cho các đối tượng xã hội; giúp dân khắc phục thiên tai... Hưởng ứng lời kêu gọi của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, năm nào Hội Nhà báo Việt Nam cũng thông qua các cấp hội trực thuộc vận động nhà báo, hội viên đóng góp tiền và hiện vật đưa xuống tận vùng sâu, vùng xa để giúp đồng bào khắc phục hậu quả thiên tai. Cụ thể trong năm 2009, Hội Nhà báo Việt Nam đã tổ chức 2 chuyến cứu trợ đồng bào bị bão lụt ở Nghệ An và Điện Biên. Cùng với Trung ương Hội, Hội Nhà báo các tỉnh, thành phố cũng phối hợp với Ban Biên tập các báo tham gia tích cực các đợt quyên góp ủng hộ đồng bào khắc phục hậu quả thiên tai, tiêu biểu như các Hội Nhà báo tỉnh, thành phố: Điện Biên, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bình Định, Phú Yên, Quảng Nam, Đà Nẵêng, Thừa Thiên - Huế, Kon Tum, thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội.

Hội Nhà báo Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp của những người làm báo Việt Nam. Tính chất xã hội trực tiếp nằm trong tính chất nghề nghiệp của những người làm báo. Đối tượng phản ánh, đối tượng phục vụ của báo chí bao gồm toàn bộ các giai tầng xã hội và hoạt động xã hội trên tất cả các lĩnh vực: xã hội - chính trị, xã hội - kinh tế, xã hội - văn hoá, xã hội - quốc phòng, xã hội - an ninh, xã hội - giáo dục, xã hội - y tế, xã hội -giới tính, xã hội - lứa tuổi, xã hội - nghề nghiệp, xã hội - sở thích, xã hội - tâm linh, xã hội - tín ngưỡng... Tính chất hoạt động của báo chí bao hàm luôn tính chất mặt trận.

Mục tiêu của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thế nào thì mục tiêu của hoạt động báo chí như vậy. Trong hoạt động báo chí cũng có chủ trương tập hợp và phân công trách nhiệm, nên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có tổ chức thành viên nào thì Hội Nhà báo Việt Nam cũng có chi hội và quan hệ công tác trong cơ quan báo chí của tổ chức thành viên đó. Một trong những nhiệm vụ quan trọng thường xuyên của báo chí Việt Nam cũng là tuyên truyền, giáo dục, tập hợp và xây dựng khối đoàn kết toàn dân tộc cùng hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Hội Nhà báo Việt Nam có tiếng nói chung với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trên tất cả các diễn đàn, đặc biệt là diễn đàn chống âm mưu “diễn biến hoà bình” và âm mưu “phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc” của các thế lực thù địch. Hội Nhà báo Việt Nam lên án mọi âm mưu, thủ đoạn, luận điệu, hành động của các thế lực thù địch ở trong và ngoài nước xâm hại đến những lợi ích của người Việt Nam và của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam. Mỗi hội viên nhà báo, dù là đảng viên cộng sản hay không phải đảng viên cộng sản cũng đều là một công dân yêu nước, có trách nhiệm xã hội, trách nhiệm nghề nghiệp; ngòi bút, trang giấy, máy ảnh, máy quay phim, máy ghi âm, trang báo, số báo, sóng phát thanh, truyền hình, trang tin điện tử... đều là công cụ tuyên truyền nhạy bén, sâu sắc và tin cậy, hoạt động trong các cơ quan báo chí. Bởi ý nghĩa rộng rãi và cụ thể đó, với tư cách thành viên, Hội Nhà báo Việt Nam có thể tham gia vào nhiều hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Trước hết, tập trung vào các hoạt động sau đây:

- Phối hợp tổ chức tốt Giải báo chí “Vì sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc” hằng năm;

- Chỉ đạo các cấp hội trực thuộc tổ chức tuyên truyền thường xuyên và có hiệu quả các nhiệm vụ công tác của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Mặt trận các cấp;

- Tham gia các diễn đàn trao đổi kinh nghiệm hoạt động phục vụ sự nghiệp “Đại đoàn kết toàn dân tộc”.

- Tổ chức thường xuyên các hoạt động cứu trợ, từ thiện hàng năm;

- Tham vấn, đóng góp ý kiến với các cơ quan chức năng của nhà nước về việc soạn thảo, ban hành văn bản pháp luật;

- Hiệp thương, giới thiệu người ra ứng cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp...

* Trưởng ban Công tác Hội, Hội Nhà báo Việt Nam.

 | Trở Về đầu trang    |



BẠN CÓ BIẾT?

I. BÁO CHÍ VIỆT NAM

* Số lượng báo chí

Tính đến tháng 12-2009, cả nước có:

1/ 706 cơ quan báo in, bao gồm:

- Báo: 178 cơ quan (76 báo các cơ quan Trung ương, bộ, ban, ngành, đoàn thể; 102 báo các tỉnh, thành phố).

- Tạp chí: 528 cơ quan (414 tạp chí các cơ quan Trung ương, bộ, ban, ngành, đoàn thể; 114 tạp chí địa phương).

2/ 1 Hãng Thông tấn quốc gia.

3/ 2 Đài Phát thanh và Truyền hình quốc gia.

4/ 1 Đài Truyền hình của ngành.

5/ 64 Đài Phát thanh, Truyền hình tỉnh, thành phố.

6/ 500 Đài Truyền thanh, Truyền hình cấp huyện (cùng hàng ngàn trạm truyền thông cấp xã).

7/ 5 tờ báo điện tử lớn (cùng nhiều trang báo điện tử, thông tin điện tử, website của báo chí...).

8/ Hội Nhà báo Việt Nam các cấp có 16.800 hội viên, 15 liên chi hội, 175 chi hội trực thuộc Trung ương Hội, 63 Hội Nhà báo tỉnh, thành phố, 9 câu lạc bộ báo chí đang hoạt động.

* Mức độ phát hành, phủ sóng của báo chí

1/ Báo in: phát hành phạm vi toàn quốc, một số phát hành ra nước ngoài.

2/ Phát thanh: phủ sóng 97,5% diện tích lãnh thổ và phủ sóng qua vệ tinh đến nhiều nước trên thế giới.

3/ Truyền hình: phủ sóng đến gần 90% số hộ gia đình ở trong nước và phủ sóng qua vệ tinh đến nhiều khu vực ở nước ngoài.

* Số lượng người làm báo

Cả nước có hơn 17.000 người làm báo chuyên nghiệp (được cấp thẻ Nhà báo) cùng hàng ngàn cán bộ, kỹ sư, nhân viên làm việc trong các cơ quan báo chí (chưa kể đội ngũ cộng tác viên đông đảo).

                                                                                         (LÀNH LANH tổng hợp)

II. BÁO CHÍ QUỐC TẾ

Theo tổ chức UNESCO của Liên Hợp Quốc, thế giới hiện có 60.000 loại báo, trong đó báo hàng ngày có 8.000 loại. Báo hàng ngày xuất bản bằng tiếng Anh chiếm 1/4 tổng số báo phát hành. Mỗi ngày, trên thế giới phát hành khoảng 500 triệu số báo, trong đó châu Âu chiếm 50%, châu Mỹ chiếm 25%, còn lại là các châu lục khác. Các nước Mỹ, Anh, Trung Quốc, Đức, Tây Ban Nha có số lượng phát hành lớn nhất. Xin giới thiệu một số những tờ báo được gọi là “Người khổng lồ” trên thế giới.

* Mười tờ báo lớn nhất thế giới: Tổ chức UNESCO căn cứ vào mức độ ảnh hưởng báo chí, mới đây đã chọn ra 10 tờ báo lớn nhất thế giới: New York Times (Mỹ); Zurich (Thụy Sĩ); Thế giới (Pháp); Thời báo (Anh); Người Bảo vệ (Anh); Nhân dân Nhật báo (Trung Quốc); Thế giới (Đức); A-be-sai (Tây Ban Nha); Bưu điện Washington (Mỹ); Sự thật (Nga).

* Báo có số phát hành lớn nhất: Nếu như con số phát hành 1 triệu bản mỗi năm được coi là thành công của một tờ báo lớn thì tờ Le Petit Journal xuất bản ở Paris (Pháp) là tờ báo đầu tiên đạt được định mức này vào năm 1886. Chưa đầy 9 thập niên sau, kỷ lục đó được nâng lên gấp 1.000 lần bởi tờ tuần báo Mỹ có số phát hành vô địch thế giới: TV. Guide: 1 tỷ bản vào năm 1974; thứ đến là Nhật báo Trud của Hội đồng Trung ương các công đoàn Liên Xô trước đây, được in ở 53 thành phố với lượng phát hành 15,4 triệu bản mỗi kỳ. Tháng 9-1990, tại Nga, nhật báo Komsmolskaya Pravda đạt tới mức 21.765.000 bản. Tuy nhiên, kỷ lục tuyệt đối lại thuộc về tuần báo Argumenti Fakty, cũng của Nga vào tháng 9-1990, đạt 33.431.000 bản một kỳ.

* Báo có quy mô lớn nhất: Tờ Yomiuri Shimbun của Nhật Bản (ra đời năm 1874) là một trong những tờ báo có quy mô lớn nhất hiện nay, với 468 văn phòng thường trú ở khắp nơi trên thế giới, gần 3.500 người làm việc, phát hành hằng ngày 14,567 triệu tờ (gồm hơn 10 triệu tờ buổi sáng và hơn 4 triệu tờ buổi chiều).

* Nguyệt san có số phát hành lớn nhất: Nguyệt san Reader’s Digest (Mỹ), ra đời năm 1922, có số phát hành cao nhất hiện nay, mỗi kỳ 29 triệu bản (riêng ở Mỹ là 17 triệu bản). Tờ nguyệt san này cũng nổi tiếng không kém với 48 loại ấn phẩm bằng 19 thứ tiếng phát hành ở nhiều nước trên thế giới.

* Báo nổi tiếng thế giới: Tờ Financial Times (Thời báo Tài chính của Anh) theo kết quả thăm dò dư luận tại 5 quốc gia do Hiệp hội Truyền thông Quốc tế (IMM), có trụ sở tại Đức thực hiện được bình bầu là tờ báo nổi tiếng nhất thế giới.

* Báo in nhiều lần nhất trong ngày: Tờ Tin tức mới nhất (Mỹ), dày 24 trang, nhận tin của Hãng AP, UPI, cứ mỗi giờ đồng hồ thì ấn hành một tờ báo với nhiều tin tức sốt dẻo nhất về tình hình kinh doanh và dự báo thời tiết. Báo này chủ yếu phát hành trên các chuyến bay từ thủ đô Washington đến thành phố New York.

* Báo nặng nhất, nhiều trang nhất: Danh hiệu “Báo nặng vô địch” chắc chắn thuộc về tờ Sunday New York Times (Mỹ) có số phát hành tháng 8-1987, nặng đến 6,35kg. Nhưng tờ báo nhiều trang nhất lại là Tạp chí Hongkong Toys (do Ủy ban phát triển mậu dịch Hồng Kông ấn hành) với 1.356 trang, xuất bản vào tháng 1-1992.

* Báo đăng quảng cáo nhiều nhất: Kỷ lục này thuộc về tờ Yomiuri Shimbun của Nhật Bản, trong tháng 4-1989, khách hàng nếu muốn được quảng cáo 1 trang thì phải trả 41,56 triệu yên Nhật cho số báo ra buổi sáng và 32,27 triệu yên với số ra buổi chiều.

* Nước có nhiều người đọc báo nhất: Nước có nhiều người đọc báo nhất là Thụy Điển. Trong thời gian gần đây, trung bình cứ 1.000 người Thụy Điển thì mua và đọc 680 tờ báo mỗi năm. Lượng người mua báo ở Phần Lan, Na Uy, Tây Ban Nha, Nhật Bản và một số quốc gia khác cũng đạt xấp xỉ tỷ lệ trên, nhưng tỷ lệ đọc báo của những nước này thấp hơn nhiều vì họ mua báo để dùng vào nhiều việc, chứ không chỉ để đọc!

                                                                                                      (TRI KỶ tổng hợp)

 | Trở Về đầu trang    |

 

 

 


       Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc năm 2009     
     Các điển hình tiêu biểu trong CVĐ TDĐKXDĐSVH ở KDC (2004-2009)
     Đối ngoại nhân dân MTTQ (2004-2009)


    Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc năm 2008

                                   hoan nghênh bạn đọc góp ý cho tạp chí
 
 
 

 
 
Giới thiệu Uỷ ban MTTQ Việt Nam 63 tỉnh, thành phố trong cả nước !
 

 

 

 

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh dự Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc tại Tổ dân phố 13 (Khu tập thể Ba Tầng), phường Nguyễn Trãi, quận Hà Đông, T.P Hà Nội

 

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dự Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc tại thôn Dương Đình, xã Dương Xá, Gia Lâm, Hà Nội.

 

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng dự Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc tại khu dân cư Bồ Dương, xã Hồng Phong, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương

 

Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam Huỳnh Đảm dự Ngày hội Đại đòan kết toàn dân tộc tại xóm Bãi Bệ I.

 
  ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM          
 

   bến nhà Rồng ( TP Hồ Chí Minh )


Khuê các Văn miếu
TP Hà Nội

 

    Dinh Thống nhất

              Mai Châu Hoà Bình


    Biển Hà Tiên       

 
 

|   Giới thiệu  |   Mặt trận Tỉnh Thành  | Tổ chức thành viên |  Hội đồng tư vấn   |   English

 | Trở Về đầu trang    |

Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2008 Trang TTĐT - Cơ quan UBTW MTTQ Việt Nam.
Giấy phép số:111/GP-BC của Bộ Thông tin và Truyền thông • Trưởng ban Biên tập: LÊ BÁ TRÌNH • Phó ban Biên tập: NGUYỄN TUẤN ANH
Địa chỉ: 46 Tràng Thi - Hà Nội • ĐT:04-9287401;  Email:
ubmttqvn@mattran.org.vn