|
|
 |
|
|
TIN MỚI :
thông tin được cập nhật liên tục
| |
|
|
 |
|
|
SỐ
80 (6 - 2010 ) |
|
|
|
|
|
KINH
NGHIỆM THỰC TIỄN |
|
Tăng
cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc thông qua việc tổ chức các hoạt
động và lễ hội văn hoá ở Quảng Nam
Mấy
ý kiến bàn về tổ chức bộ máy và cán bộ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Phát
huy vai trò của già làng, người có uy tín và trưởng thôn trong phát
triển kinh tế - xã hội ở Kon Tum
|
|
|
TĂNG CƯỜNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC
THÔNG QUA VIỆC TỔ CHỨC
CÁC HOẠT ĐỘNG VÀ LỄ HỘI VĂN HÓA Ở QUẢNG NAM
VŨ KHẮC TRỌNG*
Quảng
Nam là một trong những tỉnh, thành phố có truyền thống văn hoá lâu
đời và chính những giá trị văn hoá có tính truyền thống ấy đã làm
cho vùng đất và con người Quảng Nam ngày càng trở nên năng động
trong sự vận động, giao lưu giữa các nền văn hoá khác nhau và giữa
các dân tộc. Ý thức được tầm quan trọng của văn hoá trong sự nghiệp
xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh cũng như việc xây
dựng khối đại đoàn kết các dân tộc và đoàn kết quốc tế, trong những
năm qua tỉnh Quảng Nam đã liên tục tổ chức các hoạt động, lễ hội văn
hoá nhằm tăng cường xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống
văn hoá lành mạnh trong xã hội theo tinh thần Nghị quyết Ban Chấp
hành Trung ương Đảng lần thứ 5 (khoá VIII) đề ra. Việc làm này không
chỉ góp phần phục hồi, tôn tạo, phát huy các giá trị văn hoá truyền
thống, mà còn nhằm quảng bá hình ảnh quê hương đất Quảng trên con
đường đổi mới, hội nhập. Thông qua đây, khối đại đoàn kết các dân
tộc trong tỉnh và tình đoàn kết quốc tế càng được củng cố, tăng
cường.
Có thể khẳng định một điều rằng, việc tổ chức các hoạt động và lễ
hội văn hoá ở vùng đất có nhiều lợi thế như Quảng Nam đã để lại
những dấu ấn hết sức tốt đẹp. Qua đó, sự đoàn kết, gắn bó giữa các
cộng đồng dân cư, những hình ảnh thân thiện, gần gũi của đồng bào
dân tộc và nét đẹp văn hoá của vùng đất và con người Quảng Nam đã có
sức lôi cuốn, mời gọi đối với khách nước ngoài khi đến tham quan, du
lịch hoặc làm ăn kinh tế ở Quảng Nam.
Trong thời gian qua, nhiều hoạt động lễ hội tiêu biểu đã được tổ
chức ở Quảng Nam, như: “Quảng Nam - hành trình di sản”; “Lễ hội Bà
Thu Bồn”; “Lễ hội Bà Chúa Tằm tang”; “Lễ hội cầu ngư”; “Rước Cộ Chợ
Được - Thăng Bình”; “Lễ hội Ngũ xã - Trà Kiệu, Duy Xuyên”. Còn phải
kể đến các lễ hội của các tổ chức tôn giáo và nhiều lễ hội khác trên
khắp các vùng đất Quảng Nam từ miền xuôi đến miền núi đã góp phần
làm cho đời sống văn hoá, tinh thần người Quảng Nam ngày càng trở
nên phong phú, vừa khắc sâu cốt cách, tôn vinh, quảng bá những giá
trị văn hoá, tinh thần dân tộc nói chung và của con người xứ Quảng
nói riêng, vừa tạo điều kiện để giao lưu, hội nhập trong cộng đồng
văn hoá các dân tộc Việt Nam, tạo sự ngưỡng mộ trong lòng bạn bè
quốc tế. Đây thực sự là một động lực, tạo khí thế mới để nhân dân
Quảng Nam vững tin trên con đường xây dựng quê hương ngày càng giàu
đẹp.
Qua thực tiễn, việc tổ chức các hoạt động văn hoá và lễ hội truyền
thống ở Quảng Nam cho thấy, số lượng người tham gia ngày càng đông,
bao gồm nhiều thành phần từ các cụ già đến em thơ, thanh niên, nam
nữ, nhiều tổ chức tôn giáo, dân tộc khác nhau và các thành phần xã
hội khác cùng hưởng ứng và tham gia sôi nổi. Qui mô các hoạt động và
lễ hội được diễn ra ở nhiều cấp, có lễ hội mang tầm vóc quốc gia
được tổ chức hai năm một lần, như “Quảng Nam - Hành trình di sản”,
cũng có lễ hội được tổ chức trong phạm vi cộng đồng dân cư, làng, xã
như “Lễ hội mừng lúa mới”; “Lễ hội đâm trâu” của đồng bào các dân
tộc thiểu số; “Lễ hội cầu ngư” của ngư dân ven biển... Tuỳ đặc thù
của từng lễ hội mà mỗi địa phương có các hình thức tổ chức hoạt động
khác nhau. Với lễ hội “Quảng Nam - hành trình di sản”, nhằm hướng
giới thiệu, quảng bá về vùng đất và con người xứ Quảng, nhất là khi
UNESCO công nhận phố cổ Hội An và Khu đền tháp Mỹ Sơn là hai di sản
văn hoá thế giới và xã đảo Tân Hiệp - Cù Lao Chàm được công nhận là
Khu dự trữ sinh quyển thế giới. Thông qua lễ hội “Quảng Nam - hành
trình di sản” còn là dịp tỉnh kêu gọi, thu hút đầu tư của các tổ
chức trong và ngoài nước đến với Quảng Nam. Chính vì thế, bên cạnh
các hoạt động giới thiệu về vùng đất và con người xứ Quảng, như:
Liên hoan mỹ thuật “Họa sĩ và phố cổ Hội An”; triển lãm tác phẩm ảnh
nghệ thuật về Hội An; triển lãm những thành tựu trong quá trình khai
cơ lập nghiệp và về sự phát triển; trưng bày gốm sứ Chu Đậu được
trục vớt tại Cù Lao Chàm...
Những năm gần đây, để tăng cường tình đoàn kết giữa Quảng Nam với
các tỉnh bạn và bạn bè quốc tế, Ban tổ chức lễ hội còn tổ chức nhiều
hoạt động nhằm tái hiện những nét văn hoá đặc thù của các tỉnh, các
nước bạn như giao lưu “Dân ca, dân vũ Bắc - Trung - Nam”; “Lễ hội
hoá trang” của các nước phương Tây; “Thi thả diều quốc tế”; “Lễ hội
giao lưu văn hoá Việt - Nhật”; “Không gian văn hoá Việt”..., biểu
diễn nghệ thuật dân gian Hàn Quốc, Nhật Bản, Lào, Campuchia... Để
thực hiện các nội dung này, Ban tổ chức đã huy động hàng ngàn diễn
viên quần chúng là những cư dân tại địa phương cùng các du khách và
diễn viên các tỉnh, các nước tham gia. Ngày diễn ra lễ hội thật sự
đã trở thành những ngày mà tình đoàn kết, mối quan hệ giao lưu giữa
các vùng miền, giữa các dân tộc, giữa bà con người Việt với khách
nước ngoài được tô đậm, được thắt chặt hơn bao giờ hết.
Từ năm 2003 đến nay, để phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc
trong mỗi cộng đồng dân cư, thực hiện chỉ đạo của Uỷ ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận các cấp trong tỉnh đã hướng dẫn
các khu dân cư đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng
đời sống văn hoá ở khu dân cư” và tổ chức tốt “Ngày hội đại đoàn kết
toàn dân tộc ở khu dân cư”. Thông qua việc tổ chức nói trên, cũng là
dịp nhằm ôn lại truyền thống vẻ vang của Mặt trận Dân tộc Thống nhất
Việt Nam, kiểm điểm, đánh giá lại một năm xây dựng khu dân cư văn
hoá, đồng thời đề ra những nhiệm vụ trong năm đến; biểu dương, khen
thưởng gia đình văn hoá, những gia đình vượt khó vươn lên, những học
sinh nghèo học giỏi, những tấm gương mẫu mực của các vị cao niên...
Thông qua việc tổ chức phần hội, nhiều trò chơi dân gian như “kéo
co”,“đẩy gậy” của đồng bào dân tộc; “đập niêu”, “nhảy bao bố”, “bịt
mắt bắt dê”, “thả diều”, “đua thuyền”... của các khu dân cư vùng
đồng bằng, ven biển, ven sông... đã được khôi phục, tổ chức. Bên
cạnh đó, các giải thi đấu bóng chuyền, cờ tướng, cầu lông, thi đánh
cờ người cũng đã được tổ chức, thu hút một lực lượng đông đảo nhân
dân dự thi, cổ động. Thông qua đây, truyền thống văn hoá làng xã,
dòng tộc được giữ gìn và phát huy; tinh thần đoàn kết giúp đỡ nhau
càng thêm sâu sắc; tình làng, nghĩa xóm đã trở thành sức mạnh, gắn
kết mỗi gia đình trong cuộc đấu tranh sinh tồn và phát triển.
Các tổ chức thành viên của Mặt trận, như: Hội Nông dân; Hội Liên
hiệp Phụ nữ; Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Liên đoàn Lao
động; Hội Cựu chiến binh tỉnh... cũng đã có nhiều hoạt động văn hóa
thiết thực, bổ ích. Từ năm 2004 đến nay, cứ hai năm một lần “Hội
trại nhà nông” đã được tổ chức. Hội trại đã thu hút hàng ngàn nông
dân tiêu biểu trong phong trào thi đua sản xuất giỏi tham gia, đem
đến cho Hội trại nhiều sản phẩm, việc làm có giá trị: thi tìm hiểu
về kiến thức nhà nông, về các vấn đề khác thật sự bổ ích đối với
nông dân; hội thi, hội diễn “Tiếng hát đồng quê”, “Thôn nữ duyên
dáng”, “Tiếng hát công nhân”, “Liên hoan tiếng hát công nhân, viên
chức”, “Công nhân có bàn tay vàng”, “Trí tuệ tuổi hai mươi”, “Hội
thi tài năng trẻ”, “Người cựu chiến binh tiêu biểu”, “Gia đình tiêu
biểu no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc”... Những hoạt động này
vừa phù hợp với từng loại đối tượng; có tác dụng khôi phục, phát huy
nếp sinh hoạt văn hoá truyền thống, lại vừa có tác dụng thúc đẩy mọi
người phát huy sáng tạo, thi đua sản xuất, đoàn kết giúp nhau khắc
phục khó khăn, ổn định cuộc sống để vươn lên.
Phong trào xây dựng “Gia đình văn hoá”, “Tộc họ văn hoá”, “Thôn bản
văn hoá”, “Cơ quan văn hoá”... đã làm xuất hiện những điển hình ở
nhiều địa phương trong tỉnh. Tiêu biểu như xã A Nông huyện miền núi
Tây Giang, từ một xã trình độ dân trí thấp, nhiều tập tục lạc hậu,
nằm trên tuyến biên giới Việt - Lào, qua phong trào đã trở thành
điểm sáng của vùng cao. Toàn xã có 4 thôn thì có 2 thôn đạt danh
hiệu thôn văn hoá cấp tỉnh nhiều năm liền, tình đoàn kết hữu nghị bà
con Việt - Lào ngày càng gắn chặt. Làng văn hoá Quảng Đại (xã Đại
Cường, huyện Đại Lộc) trở thành một làng quê tiêu biểu ở Quảng Nam
về việc giữ gìn, tôn tạo các kiến trúc văn hoá cổ như cổng chào,
đình làng, bình phong, trụ biểu, đền tưởng niệm. Phường Thanh Hà (xã
Cẩm Nam), thành phố Hội An (xã Tam Ngọc), thành phố Tam Kỳ (xã Tam
An, huyện Phú Ninh); làng văn hoá kinh tế mới Lâm Bình Phương (huyện
Bắc Trà My; làng văn hoá Phái Bắc (thị trấn Tiên Kỳ, huyện Tiên
Phước)... đều không chỉ ổn định, phát triển về kinh tế - xã hội mà
còn giữ được nề nếp văn hoá, ở mỗi nơi đây tình đoàn kết, tình làng
nghĩa xóm luôn được thể hiện trong mỗi việc làm, quan hệ giao tiếp.
Vai trò của các tộc họ trong việc xây dựng đời sống văn hoá càng có
tầm quan trọng và ý nghĩa đặc biệt. Các thành phố Tam Kỳ, Hội An,
huyện Duy Xuyên, Điện Bàn, Đại Lộc, Phú Ninh, Tiên Phước... việc xây
dựng tộc họ văn hoá thường xuyên được quan tâm đẩy mạnh. Huyện Điện
Bàn, từ năm 1995 đã thành lập Hội đồng gia tộc; huyện Đại Lộc hằng
năm đều tổ chức hội nghị biểu dương các tộc họ tiêu biểu. Thông qua
việc xây dựng và cam kết thực hiện các tộc ước, tộc họ không chỉ
giúp phát huy được truyền thống tốt đẹp của tộc họ mà còn trở thành
nơi giữ gìn, phát huy giềng mối đạo lý, nhân nghĩa cho con cháu, là
nơi tập hợp con cháu ở mọi miền Tổ quốc kể cả ở nước ngoài hướng về
quê hương, nguồn cội, đoàn kết chăm lo xây dựng tộc họ ngày càng văn
minh, no ấm, tiến bộ, hạnh phúc. Tộc Phan, tộc Đỗ, Nguyễn Hữu, Lê
Viết ở Điện Bàn; tộc Nguyễn ở Tiên Cảnh, Tiên Phước; tộc Lê Ngọc ở
Hội An; tộc Trương Đức ở Duy Xuyên; tộc Phan, tộc Trương ở Đại Lộc...
là những tộc họ tiêu biểu đã huy động hàng chục tỷ đồng cho quỹ
khuyến học, xây dựng trường học, trạm xá, đường giao thông và những
công trình phúc lợi xã hội khác; trong tộc họ không có gia đình đói
nghèo, không có người mắc vào các tệ nạn xã hội.
Cùng với các hoạt động để nâng cao các giá trị văn hoá phi vật thể,
việc xây dựng các thiết chế văn hoá, như: xây dựng nhà văn hoá thôn
ở đồng bằng; nhà Gươl, nhà Rông cho bà con các dân tộc miền núi; các
công trình nghiên cứu, bảo tồn giá trị văn hoá truyền thống các vùng
miền, âm nhạc, chữ viết của người Cơtu, Bnong, Xơđăng, Cor... đã
được xúc tiến, qua đó bà con trong cộng đồng các dân tộc trong tỉnh
có điều kiện để cảm thông, hiểu biết về nhau hơn từ đó việc hỗ trợ
cùng xây dựng cuộc sống về kinh tế - xã hội có hiệu quả và thiết
thực hơn.
Với một tỉnh có bề dày truyền thống văn hoá như Quảng Nam, việc tôn
tạo, phục hồi, giữ gìn và phát huy những giá trị văn hoá lâu đời là
rất cần thiết. Chính việc phát huy những giá trị văn hoá có tính
truyền thống cùng với việc tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn
hoá nhân loại trong quá trình giao lưu, hội nhập là điều kiện cần
thiết để Quảng Nam đi lên trong sự phát triển hài hoà và bền vững,
tăng cường được khối đại đoàn kết các dân tộc trong tỉnh, với nhân
dân các tỉnh bạn và với khách quốc tế.
Trong việc tham gia các hoạt động và lễ hội văn hoá, nhiệm vụ được
các cấp Mặt trận cùng quan tâm là vận động mọi người ở từng khu dân
cư, tộc họ, xứ đạo và từng gia đình phát huy những truyền thống văn
hoá tốt đẹp của dân tộc, địa phương và những giá trị mang tính đặc
thù ở từng vùng, miền để làm chỗ dựa vững chắc về mặt tinh thần; giữ
gìn và phát huy các giá trị quí báu về nếp sống, tư tưởng, đạo đức,
lối sống, bản sắc văn hoá của người Quảng Nam, để làm cho mỗi người
khi tiếp xúc, giao lưu, trao đổi đều cảm nhận được sắc thái đặc
trưng về văn hoá của con người xứ Quảng trong nền văn hoá dân tộc.
Lễ hội văn hoá gắn với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hoá ở khu dân cư” cũng giúp hình thành những nếp sống, thói
quen thể hiện nét đẹp về văn hoá, đạo đức của con người đất Quảng
trong giao tiếp, ứng xử với du khách, tạo tình cảm thân thiện, chân
thành, gần gũi, hữu nghị để gieo vào lòng du khách những tình cảm
tốt đẹp, tạo thuận lợi trong việc thực hiện các chủ trương phát
triển về kinh tế, văn hoá, xã hội của tỉnh.
* Chánh Văn phòng, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Quảng Nam.
| Trở Về đầu trang
|
|
|
|
Mấy ý kiến bàn về
TỔ CHỨC BỘ MÁY VÀ CÁN BỘ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
VIỆT QUANG
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận, một thành tố cấu thành hệ
thống chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, do Đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Giống như bộ máy Đảng và Nhà nước, Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam có hệ thống tổ chức bộ máy và cán bộ từ Trung
ương đến cơ sở, các khu dân cư, cộng đồng dân cư.
Tùy theo yêu cầu của cách mạng đòi hỏi, đặc điểm, điều kiện thực tế
đất nước mà tổ chức bộ máy và cán bộ của hệ thống mặt trận đã có sự
biến đổi, phát triển cho phù hợp. Gần một thế kỷ qua, xét về tổ chức
bộ máy và cán bộ Mặt trận đã có nhiều thay đổi, từ Mặt trận có tính
chất hiệu triệu, kêu gọi thời gian đầu mới thành lập (chưa có tổ
chức bộ máy và cán bộ chuyên trách) đến Mặt trận có tổ chức bộ máy,
biên chế cán bộ và các yếu tố, điều kiện hoạt động như ngày nay.
Trên cơ sở đất nước đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, hệ thống chính trị nói chung, hệ thống tổ
chức bộ máy và cán bộ Mặt trận nói riêng đã có sự đổi mới và phát
triển nhanh chóng nhằm đáp ứng yêu cầu của tình hình cách mạng đã có
nhiều thay đổi. Hiến pháp của Nhà nước năm 1980, 1992 (sửa đổi),
Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
đều có các điều khoản quy định trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan
đến tổ chức bộ máy và cán bộ của Mặt trận. Tựu chung có 2 loại hình
cơ bản của hệ thống tổ chức bộ máy và cán bộ, bao gồm: hệ thống các
tổ chức thành viên và hệ thống Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các
cấp.
Theo quy định của Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thành viên của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiện nay bao gồm các tổ chức và cá nhân tự
nguyện gia nhập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trên cơ sở tán thành Điều
lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Thành viên dù là tổ chức chính trị,
các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp...
trước hết bản thân nó là một tổ chức có vị trí, vai trò độc lập, có
tư cách pháp nhân, có chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp
luật, yêu cầu việc thành lập tổ chức và đều có tổ chức bộ máy và cán
bộ rõ ràng.
Hiệu quả và tác dụng thực tế của hoạt động Mặt trận, phụ thuộc chủ
yếu ở sự phối hợp và thống nhất hoạt động với nhau trên cơ sở vận
hành của hệ thống tổ chức bộ máy và cán bộ. Thực tế sự tồn tại và
phát triển của Mặt trận gần một thế kỷ qua, chính là sự khẳng định,
là câu trả lời rõ nhất cho việc củng cố, phát triển hệ thống tổ chức
bộ máy và cán bộ - cơ sở, điều kiện cho việc hoàn thành chức năng,
nhiệm vụ của từng tổ chức thành viên và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
nói chung.
Loại hình cơ bản, chủ yếu thứ hai của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải
kể đến hệ thống Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp. Theo quy
định hiện hành được Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ghi nhận thì
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp là cơ quan chấp hành giữa
hai kỳ Đại hội của Mặt trận cùng cấp. Theo đó, Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam được quy định theo 4 cấp hành chính là: Trung ương;
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; huyện, quận, thị xã, thành
phố trực thuộc tỉnh và xã, phường, thị trấn. Ở dưới cấp xã, phường,
thị trấn có Ban Công tác Mặt trận ở các khu dân cư, cộng đồng dân cư.
Tính từ cấp Trung ương đến cấp tỉnh, thành phố, huyện, quận, xã,
phường thì Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp là cơ quan chấp
hành giữa 2 kỳ Đại hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, có cơ
quan giúp việc, nghĩa là có tổ chức bộ máy và biên chế cán bộ. Những
nguyên tắc để duy trì tổ chức bộ máy và hoạt động của hệ thống Uỷ
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam này, ngoài quy định của pháp luật,
Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, còn được quy định ở nhiều văn bản
quy phạm pháp luật khác.
Tuy nhiên, qua thực tế hoạt động, công tác Mặt trận hiện nay cho
thấy, với cả hai loại hình tổ chức bộ máy Mặt trận như vừa nói trên
vẫn còn nhiều vấn đề chưa đuợc nghiên cứu, làm sáng tỏ. Trên thực tế,
việc tổ chức bộ máy và cán bộ Mặt trận đã và đang có nhiều vướng mắc
về cơ chế, cách thức tổ chức bộ máy, về nội dung hoạt động, về
phương thức tổ chức phối hợp, đặc biệt về các điều kiện và chính
sách đãi ngộ đối với cán bộ Mặt trận chưa được giải quyết. Đây cũng
chính là nguyên nhân chưa phát huy có hiệu quả vai trò các tổ chức
thành viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
So với yêu cầu, nhiệm vụ đòi hỏi của Mặt trận hiện nay thì đội ngũ
cán bộ làm công tác Mặt trận là vừa thừa, vừa thiếu. Thừa cán bộ
không có năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, khả năng công tác Mặt trận
hạn chế, nhưng ngược lại thiếu những cán bộ làm công tác mặt trận
giỏi, tận tâm, tận lực vì dân. Hệ thống Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam các cấp hiện nay còn chưa có sự thống nhất chặt chẽ từ cấp trung
ương xuống đến cấp địa phương, cơ sở, trong việc tổ chức bộ máy,
biên chế cán bộ, nội dung, phương thức và kinh phí cho hoạt động...
Sự không đồng bộ này đã gây khó khăn cho hoạt động, công tác mặt
trận... Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng rõ ràng là chưa có một đề án
tổ chức bộ máy và cán bộ nhất quán cho toàn hệ thống Mặt trận. Thực
tế, việc đề ra nhiệm vụ, nội dung hoạt động công tác Mặt trận, nhất
là quá trình chuyển giai đoạn đất nước từ chiến tranh sang hòa bình,
quá trình đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc chưa có đầu tư thỏa
đáng cho đổi mới tổ chức bộ máy và cán bộ Mặt trận.
Tổ chức bộ máy và cán bộ Mặt trận cấp Trung ương và cấp địa phương,
cơ sở còn thiếu đồng bộ, do Mặt trận cấp Trung ương chỉ đạo, hướng
dẫn cấp địa phương chủ yếu về nội dung công tác, còn tổ chức bộ máy
và cán bộ, đến kinh phí hoạt động lại do địa phương chi phối, quyết
định. Đây chính là một nguyên nhân làm cho tổ chức bộ máy và cán bộ
trong hệ thống Mặt trận mỗi nơi bố trí một khác và không đồng bộ,
gây khó khăn cho công tác chỉ đạo từ Mặt trận cấp trên.
Việc tuyển dụng, bố trí, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ
Mặt trận chuyên trách trong các cơ quan Uỷ ban Mặt trận hiện nay còn
không ít vướng mắc, bất cập. Mặt trận đã qua gần một thế kỷ xây dựng
và trưởng thành, nhưng đến nay vẫn chưa có hệ thống trường lớp đào
tạo cán bộ của mình. Hầu hết cán bộ Mặt trận hiện nay được đào tạo
từ nhiều nguồn và được tuyển dụng từ các ngành, các cấp. Do vậy, khả
năng cán bộ đáp ứng yêu cầu, chất lượng công tác là rất hạn chế.
Trên thực tế, không ít chủ trương về tổ chức bộ máy và cán bộ được
Đảng đề ra, nhưng việc thể chế hóa, cụ thể hóa thực hiện của Nhà
nước còn chậm và gặp rất nhiều khó khăn. Việc cơ cấu tổ chức bộ máy
và cán bộ của hệ thống tổ chức Mặt trận Tổ quốc Việt Nam so với yêu
cầu, nhiệm vụ và thực tiễn xã hội đòi hỏi còn nhiều vấn đề chưa hợp
lý, thiếu cơ bản và hệ thống. Để từng bước khắc phục tình trạng nói
trên, xin lưu ý một số vấn đề sau:
- Thứ nhất, phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động trong toàn
hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân nói chung về vị trí, vai
trò, chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Chỉ có trên
cơ sở hiểu đúng và đầy đủ về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị mới nói đến có tư
duy đúng để hoạch định, xây dựng một cách cơ bản, hệ thống tổ chức
bộ máy và cán bộ hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
- Thứ hai, song song với việc rà soát lại hệ thống các văn bản tài
liệu về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, bao gồm từ những vấn đề chung đến
vấn đề tổ chức bộ máy và cán bộ, cần tiến hành tổng kết thực tiễn
hoạt động Mặt trận Tổ quốc Việt Nam một cách căn bản, hệ thống.
Trên cơ sở hệ thống, đánh giá văn bản quy định hiện có, kết hợp với
đánh giá qua tổng kết thực tiễn sẽ là cơ sở sát thực cho việc đổi
mới tổ chức bộ máy và cán bộ Mặt trận. Đây là việc làm khó khăn và
rất công phu, nhưng không thể không làm, nhằm đổi mới một cách căn
bản Mặt trận nói chung, đổi mới về tổ chức bộ máy và cán bộ Mặt trận
nói riêng.
- Thứ ba, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng với tư cách Đảng vừa
lãnh đạo Mặt trận vừa là thành viên Mặt trận, cần thiết phải có sự
rà soát, làm rõ trách nhiệm, vai trò lãnh đạo của Đảng đến đâu, việc
gì đã làm được, việc gì chưa làm được, đâu là yếu kém và việc khắc
phục yếu kém ra sao. Điều cơ bản với Đảng là phải định hướng đuợc
chiến lược phát triển Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, theo đó có chiến
luợc xây dựng tổ chức bộ máy và cán bộ Mặt trận tương ứng.
Rõ ràng sự sâu sát Mặt trận và tinh thần, trách nhiệm cao trước nhân
dân, là chìa khoá đưa Đảng đến mọi thành công nhằm phát triển Mặt
trận tương xứng, đáp ứng được yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới
đặt ra cũng như lòng mong muốn của toàn dân.
- Thứ tư, để đổi mới tổ chức bộ máy và cán bộ, Mặt trận phải có tinh
thần dám làm, dám chịu trách nhiệm. Xét từ góc độ tổ chức bộ máy và
cán bộ mặt trận, Đảng và Nhà nuớc phải cùng bàn bạc thống nhất với
Mặt trận, trước hết mạnh dạn đổi mới một số khâu, một số cung đoạn
cụ thể liên quan đến công tác tổ chức bộ máy và cán bộ, như cho mở
trường lớp đào tạo cán bộ Mặt trận tương xứng như các đoàn thể khác,
thực hiện luân chuyển cán bộ Mặt trận, có chính sách ưu đãi thông
qua việc điều chỉnh lại lương ngạch, bậc cán bộ Mặt trận...
- Thứ năm, cần có kế hoạch tổ chức nghiên cứu khoa học, cơ bản và hệ
thống về tổ chức bộ máy và cán bộ Mặt trận. Đây là trách nhiệm không
phải chỉ riêng Mặt trận mà còn là trách nhiệm của cả Đảng, Nhà nước,
các cấp, các ngành. Chính vì vậy cần có các đề tài nghiên cứu khoa
học cấp nhà nước và cả cấp bộ tổ chức mang tính liên ngành, có sự
tham gia của những cán bộ am hiểu công tác Đảng, Nhà nước, Mặt trận.
Chỉ có trên cơ sở nghiên cứu khoa học một cách bài bản, có hệ thống
như vậy mới mong có sự đổi mới căn bản hệ thống tổ chức bộ máy và
cán bộ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
| Trở Về đầu trang
|
|
|
|
PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA GIÀ LÀNG, NGƯỜI CÓ UY TÍN
VÀ TRƯỞNG THÔN
TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở KON TUM
DUY KHÁNH*
Thiết chế xã hội cổ truyền của các dân tộc ở Kon Tum cũng như phần
lớn các dân tộc ở Tây Nguyên là tổ chức xã hội làng, có tính cộng
đồng rất bền vững. Mỗi làng đều suy tôn một người thủ lĩnh, đại diện
cho dân làng quyết định những vấn đề đặt ra trong cuộc sống hàng
ngày và giải quyết các mối quan hệ với các làng lân cận, được gọi là
Trưởng làng, Chủ làng hay là Già làng.
Theo truyền thống, già làng thường là người hiểu biết, có bề dày
kinh nghiệm, có uy tín, am hiểu phong tục, luật lệ của làng nên được
dân làng coi trọng. Già làng là biểu tượng cho ý chí và sức mạnh của
cả cộng đồng, vì vậy già làng là chức vị linh thiêng, thể hiện quyền
lực trước cộng đồng, được mọi người suy tôn làm “thủ lĩnh”.
Thủ lĩnh làng có trách nhiệm quán xuyến mọi mặt về đời sống vật chất
và tinh thần của dân làng, chủ trì các nghi thức cúng bái, lễ hội
truyền thống, đứng ra phân xử những mâu thuẫn, xích mích trong nội
bộ làng, đại diện giao tiếp với bên ngoài, bảo vệ ranh giới khi bị
xâm phạm, tạo sự đoàn kết hòa thuận, bình yên, no ấm cho dân làng.
Trong hệ thống tự quản của làng, còn có hình thức lãnh đạo tập thể,
đó là “Hội đồng già làng”, với các thành viên là những người đứng
đầu các gia đình lớn, cùng với già làng giải quyết những việc lớn,
việc quan trọng của làng như tổ chức lễ hội, săn bắt, sản xuất, thực
hiện các tập tục của làng, quyết định các cuộc chiến tranh hoặc dời
làng... Mặc dù già làng và những người có uy tín chi phối các hoạt
động của làng nhưng họ vẫn là thành viên của làng, không hưởng thụ
thành quả lao động của người khác, với họ trách nhiệm đối với dân
làng là trên hết.
Trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược,
đội ngũ già làng đã có công lao to lớn trong việc tổ chức lãnh đạo
nhân dân nổi dậy chiến đấu chống kẻ thù, bảo vệ thôn làng, diệt ác,
trừ gian, vận động nhân dân một lòng đi theo Đảng, Bác Hồ làm cách
mạng và đã có những đóng góp to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân
tộc, thống nhất nước nhà. Mặc dù trải qua nhiều biến động sâu sắc
của lịch sử, kẻ thù xâm lược đã dùng nhiều âm mưu thủ đoạn thâm độc,
xảo quyệt như chính sách chia để trị, dồn dân lập ấp, gây mâu thuẫn
Kinh - Thượng để chia rẽ các dân tộc, mua chuộc những người có uy
tín... vai trò của già làng ít nhiều có bị ảnh hưởng và thu hẹp,
nhưng vẫn được lưu truyền và ảnh hưởng đậm nét trong đời sống tinh
thần của đại đa số đồng bào các dân tộc thiểu số ở Kon Tum, chế độ
già làng vẫn được duy trì.
Trong cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở
khu dân cư”, đội ngũ già làng đã tích cực vận động dân làng thực
hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước,
góp phần xóa đói, giảm nghèo và quan trọng hơn là tuyên truyền nâng
cao ý thức trách nhiệm cho mỗi người dân đối với cộng đồng; bên cạnh
việc vận động dân làng sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật,
các vị già làng có vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn, vận động
nhân dân xóa bỏ dần những hủ tục lạc hậu, tệ nạn mê tín dị đoan trái
với thuần phong mỹ tục của dân tộc mình; huy động nhân dân đóng góp
và tạo ra nguồn lực để cùng với Nhà nước xây dựng, quản lý và sử
dụng và công trình dân sinh; gương mẫu thực hiện chính sách dân số -
kế hoạch hóa gia đình; tham gia xây dựng và thực hiện hương ước, quy
ước của thôn làng, thực hiện dân chủ cơ sở... Với uy tín và ảnh
hưởng của mình, đội ngũ già làng thực sự đóng một vai trò rất quan
trọng trong việc đoàn kết các dân tộc anh em, góp phần xây dựng,
củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Trong hệ thống tự quản ở thôn (làng), bên cạnh già làng, thì trưởng
thôn, tổ trưởng tổ dân phố là những người được nhân dân tín nhiệm
bầu ra để gánh vác công việc của thôn (làng), tổ dân phố. Đây là đội
ngũ rất gần gũi và gắn bó với già làng. Ngoài những phẩm chất về đạo
đức, uy tín như già làng, những người trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân
phố phải có trình độ học vấn nhất định, hiểu biết về nhiều lĩnh vực
và là những người năng động, linh hoạt, có khả năng tiếp thu và
chuyển tải những chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách và pháp
luật của Nhà nước tới người dân, hướng dẫn nhân dân cách thức làm ăn,
xóa đói, giảm nghèo và vươn lên làm giàu chính đáng; điều hòa các
mối quan hệ trong nội bộ thôn (làng) và là mắt xích, cầu nối giữa
Đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể với quần chúng nhân dân...
Hiện nay, tỉnh Kon Tum có 706 trưởng thôn, 113 tổ trưởng tổ dân phố,
713 già làng; trong đó có 230 già làng theo đạo Công giáo (chiếm
32,2%), 86 già làng là đảng viên (chiếm 12,4%), 32 già làng là người
nghỉ hưu (chiếm 4,4%), 38 già làng có công với cách mạng (5,32%), 4
già làng là Bí thư Chi bộ, 18 già làng là Trưởng ban Công tác Mặt
trận thôn... Trong số 713 vị già làng, có 689 vị có uy tín trong
phạm vi một làng, 80 vị có uy tín trong phạm vi một xã, 13 vị có uy
tín trong phạm vi huyện... Đội ngũ già làng, trưởng thôn vẫn là nhân
tố quan trọng, gương mẫu đi đầu để vận động và tổ chức nhân dân thực
hiện có hiệu quả các Chương trình mục tiêu quốc gia, góp phần thúc
đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự
an toàn xã hội trên từng địa bàn thôn (làng).
Trong điều kiện hiện nay, Kon Tum vẫn là tỉnh miền núi nghèo, có
nhiều xã vùng sâu, vùng xa, điều kiện các mặt còn nhiều khó khăn,
kinh tế - xã hội chậm phát triển, cơ sở hạ tầng thấp kém, tỉ lệ hộ
nghèo còn cao, giao thông đi lại khó khăn, mặt bằng dân trí không
đồng đều... Vì vậy, việc phát huy vai trò của già làng, trưởng thôn,
người có uy tín trong cộng đồng các dân tộc thiểu số là rất quan
trọng và cần thiết để đưa ánh sáng của Đảng đến với vùng sâu, vùng
xa, vùng còn gặp nhiều khó khăn, vận động bà con phát triển kinh tế,
xóa đói giảm nghèo, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, kết hợp hài hòa
giữa luật tục và luật pháp, giữa truyền thống và hiện đại, thực hiện
tốt các hoạt động tự quản tại cơ sở, xây dựng và thực hiện quy ước,
hương ước trong từng cộng đồng dân cư... nhằm thực hiện thắng lợi
các chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, như: định canh, định cư,
sinh đẻ có kế hoạch, xóa đói, giảm nghèo, xóa bỏ những hủ tục lạc
hậu, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, thực hiện dân chủ và công bằng
xã hội, chống lại âm mưu “diễn biến hòa bình” của kẻ địch.
Hiện tại đội ngũ già làng, trưởng thôn và người có uy tín trong cộng
đồng dân cư còn nhiều hạn chế về kiến thức văn hóa, học vấn, hoàn
cảnh kinh tế gia đình còn nhiều khó khăn..., kẻ địch lại thường
xuyên lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chia rẽ nội bộ, chống phá
cách mạng, nên việc tạo điều kiện cho các vị già làng, trưởng thôn,
người có uy tín tiếp tục phát huy hơn nữa vai trò, vị trí của mình,
góp phần thực hiện chính sách đoàn kết, bình đẳng, cùng nhau phát
triển kinh tế, văn hóa, xã hội trong cộng đồng các dân tộc tỉnh Kon
Tum là rất quan trọng. Để khắc phục các mặt hạn chế trên, cần tập
trung vào một số giải pháp sau:
Một là, chính quyền các cấp cần phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ
quốc rà soát, khảo sát và đánh giá lại số lượng và chất lượng của
đội ngũ già làng, trưởng thôn; có kế hoạch cụ thể để khắc phục những
điểm còn khiếm khuyết, đồng thời cần xây dựng các tiêu chí cụ thể về
già làng, trưởng thôn, người có uy tín, người tiêu biểu trong cộng
đồng các dân tộc, có định hướng để nhân dân bầu hoặc suy tôn, đảm
bảo tính hài hòa giữa các yếu tố truyền thống và hiện đại, phù hợp
với từng địa phương, từng dân tộc.
Hai là, thường xuyên bồi dưỡng kiến thức cho đội ngũ già làng,
trưởng thôn, người có uy tín, tiêu biểu thông qua việc cung cấp
thông tin về tình hình thời sự chính trị, kinh tế, xã hội của địa
phương, về âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch và các phần tử
xấu lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng; phổ biến
những chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, nhất
là chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số để họ hiểu và tự
giác tuyên truyền, giải thích cho quần chúng nhân dân.
Ba là, Mặt trận Tổ quốc các cấp tổ chức gặp mặt định kỳ những người
có uy tín, tiêu biểu để thống nhất những nội dung tuyên truyền, vận
động đồng bào các dân tộc thực hiện tốt các chủ trương, đường lối
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ chính trị
của địa phương, cơ sở về phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn an
ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, thực hiện tốt cuộc vận động
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”; phối hợp
với chính quyền các cấp và các ngành chức năng, hàng năm tổ chức hội
nghị biểu dương, khen thưởng để động viên và phát huy tốt vai trò
của người uy tín, tiêu biểu trong đồng bào các dân tộc thiểu số.
Bốn là, thường xuyên thăm hỏi, tặng quà cho người có uy tín, tiêu
biểu nhân ngày lễ, tết, khi ốm đau, cứu trợ khi gặp khó khăn; khen
thưởng về vật chất và tinh thần những vị có thành tích trong các
phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động do Đảng, Mặt trận và
các tổ chức thành viên phát động.
Năm là, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau để tập hợp người
có uy tín, người tiêu biểu tích cực tham gia các hoạt động xã hội,
nhất là phải tranh thủ tập hợp và phát huy vai trò của những người
uy tín, tiêu biểu trong các tôn giáo, vùng có đạo để vận động nhân
dân sống “tốt đời đẹp đạo”; có thể chấp nhận những khác biệt trong
đời sống xã hội để xây dựng cái chung, cái phổ biến và tạo sự đồng
thuận trong xã hội; cần tránh tư tưởng phân biệt đối xử, kỳ thị dân
tộc, quá khứ lịch sử...
Sáu là, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân phải
thường xuyên quan tâm tạo điều kiện và tổ chức các lễ hội truyền
thống, đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn các giá
trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc; tổ chức cho đội
ngũ già làng, trưởng thôn và người có uy tín đi tham quan các di
tích lịch sử, các công trình văn hóa của đất nước nhằm giao lưu,
trao đổi, học hỏi kinh nghiệm và hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc
trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Từ đó tạo sự cởi mở, tin tưởng,
khuyến khích họ tham gia tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc.
* Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Kon Tum
| Trở Về đầu trang
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
 |
|
|

Ngày hội đại
đoàn kết toàn dân tộc năm 2009

Các điển
hình tiêu biểu trong CVĐ TDĐKXDĐSVH ở KDC
(2004-2009)

Đối ngoại
nhân dân MTTQ
(2004-2009)
|
|

Ngày hội đại
đoàn kết toàn dân tộc năm 2008 |
|
|
hoan nghênh bạn đọc góp ý cho tạp chí |
|
|
|
|