|
|
 |
|
|
TIN MỚI :
thông tin được cập nhật liên tục
| |
|
|
 |
|
|
SỐ
80 (6 - 2010 ) |
|
|
|
|
|
DIỄN ĐÀN ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC |
|
Củng
cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ đổi mới
và hội nhập quốc tế
Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam với vai trò đại diện bảo vệ quyền lợi và lợi
ích hợp pháp, chính đáng cho nhân dân
Hội
Liên hiệp Phụ nữ Việt nam đẩy mạnh công tác hội để phối hợp tốt hơn
với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
|
|
|
CỦNG CỐ, TĂNG CƯỜNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN
TỘC
TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
GS-TS. DƯƠNG XUÂN NGỌC*
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc. Tuyệt đại bộ phận các dân tộc thiểu
số đều sinh sống ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và
hải đảo, nơi có vị trí chiến lược cả về kinh tế, chính trị, quốc
phòng, an ninh và giao lưu quốc tế. Bởi vậy, việc giải quyết thành
công vấn đề dân tộc góp phần tạo lập sự đồng thuận xã hội, củng cố,
tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc luôn là vấn đề chiến lược
của cách mạng nước ta.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7, Ban chấp hành Trung ương khoá IX
khẳng định: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược
cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách
mạng nước ta”1.
1. Quan điểm của Đảng ta về khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Có thể còn những ý kiến khác nhau, song về cơ bản có thể xem: Đoàn
kết toàn dân tộc là sự đoàn kết, hợp lực, hợp tác rộng lớn của các
giai cấp, tầng lớp xã hội, của đồng bào các dân tộc, các tôn giáo,
của các cộng đồng người Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài trên
cơ sở thống nhất về lợi ích cơ bản, độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội; dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh; đồng thời, tôn trọng sự khác biệt không cơ bản.
Ngay từ khi mới thành lập (3-2-1930) Đảng ta đã đề ra những chủ
trương đoàn kết rộng rãi những lực lượng yêu nước, các giai cấp,
tầng lớp, các nhân sĩ yêu nước tập hợp trong khối đại đoàn kết toàn
dân vì mục tiêu giành độc lập dân tộc khỏi ách thực dân, đế quốc.
Trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, tuy chỉ có 5.000 đảng viên,
nhưng do thực hiện đường lối đoàn kết rộng rãi nên Đảng ta đã tập
hợp được đông đảo các tầng lớp nhân dân đứng lên đấu tranh và giành
thắng lợi trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đường lối đoàn
kết của Đảng vẫn tiếp tục được phát huy, đã động viên được sức mạnh
của toàn dân, kể cả những nhân sĩ, trí thức, tư sản... mặc dù chưa
hoặc không tán thành chủ nghĩa cộng sản, vẫn tích cực tham gia kháng
chiến.
Nhờ phát huy được truyền thống đại đoàn kết toàn dân, Đảng ta đã
lãnh đạo nhân dân làm nên những chiến thắng lịch sử, đánh bại những
thế lực thực dân, đế quốc hung bạo, có tiềm lực kinh tế, quân sự lớn
hơn ta nhiều lần.
Sau đại thắng mùa xuân 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, giang
sơn thu về một mối, nước nhà thống nhất, cả nước cùng đi lên chủ
nghĩa xã hội, Đảng ta tiếp tục phát huy truyền thống hòa hợp dân tộc,
đối xử nhân đạo với những người lầm đường, lạc lối, đưa họ trở về
với cộng đồng dân tộc. Đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố trên
cơ sở đồng thuận và thống nhất về mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Trong sự nghiệp đổi mới, trên cơ sở phát huy truyền thống, tiếp tục
nhất quán đường lối chiến lược đại đoàn kết toàn dân, sức mạnh vĩ
đại, động lực to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân đã được huy động
và phát huy cao độ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thực ra, thuật ngữ “đại đoàn kết toàn dân tộc” chưa xuất hiện trong
Văn kiện Đại hội VI, Đại hội đổi mới, nhưng tinh thần về vai trò sức
mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã được nêu lên khá rõ.
Trong bốn bài học kinh nghiệm mà Đại hội nêu ra, trong đó bài học
kinh nghiệm đầu tiên là “Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải
quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền
làm chủ của nhân dân2. Lấy dân làm gốc chính là truyền
thống là biểu hiện sinh động, cô đọng và tập trung quan điểm về đại
đoàn kết toàn dân tộc của Đảng. Xuất phát từ dân để lãnh đạo toàn
dân, Đảng phải thực hành dân chủ trong công tác vận động nhân dân
tạo lập khối đại đoàn kết toàn dân để đấu tranh giải phóng dân tộc,
tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Đến Đại hội VII (1991), lần đầu thuật ngữ “đoàn kết, đoàn kết toàn
dân tộc” được đưa vào Văn kiện và Cương lĩnh. Trong Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, từ thành
công và thất bại của cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã rút ra 5 bài học
kinh nghiệm, trong đó có bài học: “Không ngừng củng cố, tăng cường
đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết toàn dân
tộc, đoàn kết quốc tế”. Cương lĩnh còn nhấn mạnh: “Đoàn kết là
truyền thống quý báu và là bài học lớn của cách mạng nước ta” và đã
nâng tư tưởng về đại đoàn kết toàn dân tộc thành một chính sách:
“chính sách đại đoàn kết dân tộc”. Vậy là, ngay trong Cương lĩnh đầu
tiên của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, chính sách đại đoàn
kết toàn dân tộc đã được đặt đúng vị trí của nó.
Đại hội VIII (1996), sau 10 năm đổi mới, đại đoàn kết toàn dân tiếp
tục được khẳng định là bài học lớn của cách mạng nước ta và được
trình bày thành một phần riêng với tư cách là một trong 10 phương
hướng lớn của sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam: Thực hiện đại đoàn kết
dân tộc, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân.
Đại hội IX của Đảng (2001) - Đại hội đầu tiên của thế kỷ XXI, đại
đoàn kết toàn dân tộc đã trở thành chủ đề của Đại hội: “Phát huy sức
mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”3.
Trong Báo cáo Chính trị, khi giải trình về con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta, Đảng ta một lần nữa khẳng định: “Đại đoàn
kết toàn dân tộc được xem là động lực chủ yếu để phát triển đất nước.
Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân
trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng
lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội,
phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế của
xã hội”; “Kế thừa truyền thống quý báu của dân tộc, Đảng ta luôn
luôn giương cao ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc. Đó là đường lối chiến
lược, là nguồn sức mạnh và động lực to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc”4.
Tiếp theo Đại hội IX, tại Hội nghị Trung ương bảy, khoá IX (3-2003),
Đảng ta đã ra một Nghị quyết chuyên đề về đại đoàn kết toàn dân tộc,
để tiếp tục khẳng định và cụ thể hoá đường lối đại đoàn kết toàn dân
tộc.
Đại hội X (2006), tổng kết 20 năm đổi mới đã cụ thể hoá đường lối
đại đoàn kết toàn dân tộc thành các điểm cơ bản sau:
- Đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công
nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của
Đảng, là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức
mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm
thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng
để gắn bó đồng bào các dân tộc, các tôn giáo, các tầng lớp nhân dân
ở trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài; xóa bỏ mọi mặc
cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần giai cấp.
Tôn trọng những ý kiến khác nhau không trái với lợi ích của dân tộc.
Đề cao truyền thống nhân nghĩa, khoan dung, xây dựng tinh thần cởi
mở, tin cậy lẫn nhau vì sự ổn định chính trị và đồng thuận xã hội.
- Đại đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính
trị mà hạt nhân lãnh đạo là các tổ chức đảng, được thực hiện bằng
nhiều biện pháp, hình thức, trong đó các chủ trương của Đảng và
chính sách, pháp luật của Nhà nước có ý nghĩa quan trọng hàng đầu.
- Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo của mình thông qua đường lối và
chính sách, liên hệ mật thiết với nhân dân. Nhà nước không ngừng
hoàn thiện hệ thống pháp luật và quản lý, tạo điều kiện để nhân dân
được làm những việc mà pháp luật không cấm. Nhà nước và nhân dân
cùng nỗ lực phấn đấu cho sự phát triển của đất nước, kết hợp hài hòa
lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích toàn xã hội.
- Thực hiện đồng bộ các chính sách và luật pháp của Nhà nước nhằm
phát huy dân chủ (dân chủ đại diện, dân chủ trực tiếp và chế độ tự
quản của cộng đồng dân cư) và giữ vững kỷ cương trong xã hội. Tổ
chức và động viên nhân dân tham gia các phong trào thi đua yêu nước,
làm kinh tế giỏi, phát triển kinh tế đi liền với phát triển văn hóa
- xã hội; mỗi người, mỗi hộ đều phấn đấu làm giàu cho mình, cho cộng
đồng và đất nước, thu nhập chính đáng, nâng cao đời sống. Chăm lo và
bảo vệ lợi ích của các tầng lớp nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội.
Tôn trọng và phát huy vai trò gương mẫu, dẫn dắt của những người
tiêu biểu có uy tín trong cộng đồng dân cư, các dân tộc, các tôn
giáo.
- Từ quan điểm trên về đường lối chính sách đại đoàn kết toàn dân
tộc và để thực hiện được trong thực tế, Đảng Cộng sản Việt Nam,
trong mỗi kỳ Đại hội thời kỳ đổi mới đều đưa ra những chủ trương cơ
bản đối với từng giai cấp và từng tầng lớp xã hội nhằm xây dựng và
đoàn kết các giai cấp và các tầng lớp xã hội ấy, đó là: giai cấp
công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức, doanh nhân, thế hệ
trẻ, phụ nữ, cựu chiến binh, người cao tuổi, đồng bào các dân tộc,
đồng bào các tôn giáo, đồng bào định cư ở nước ngoài. Đồng thời,
Đảng Cộng sản Việt Nam cũng chú trọng đến vai trò quan trọng của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân trong việc tập hợp,
vận động, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân; đại diện cho
quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân; đưa các chủ trương, chính
sách của Đảng, Nhà nước, các chương trình kinh tế, văn hóa xã hội,
quốc phòng an ninh vào cuộc sống, góp phần xây dựng sự đồng thuận
trong xã hội.5
2. Thực hiện chính sách dân tộc góp phần củng cố, tăng cường khối
đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thông qua quá trình lãnh đạo cách mạng, nhận thức và tư duy của Đảng
ta về vấn đề dân tộc, đoàn kết dân tộc, vấn đề chiến lược của cách
mạng, ngày càng thực chất hơn, sâu sắc hơn. Chính vì vậy, trong mỗi
kỳ đại hội, Đảng ta luôn quan tâm tới việc đề ra và tổ chức thực
hiện chính sách dân tộc, đoàn kết dân tộc.
Tại Đại hội VI (1986), đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước,
mở ra bước ngoặt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta,
trong khi xác định chính sách dân tộc là bộ phận của chính sách xã
hội, Đảng ta đã khẳng định chính sách dân tộc hướng vào giải quyết
vấn đề kinh tế - xã hội nhằm phát triển mối quan hệ tốt đẹp gắn bó
giữa các dân tộc trên tinh thần đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ nhau
cùng làm chủ tập thể: “Trong việc phát triển kinh tế, xã hội ở những
nơi có đồng bào dân tộc thiểu số, cần thể hiện đầy đủ chính sách dân
tộc, phát triển mối quan hệ tốt đẹp gắn bó giữa các dân tộc trên
tinh thần đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ nhau cùng làm chủ tập thể...
Sự phát triển mọi mặt của từng dân tộc đi liền với sự củng cố, phát
triển của cộng đồng các dân tộc trên đất nước ta”6.
Đến Đại hội VII (1991), Đảng ta tiếp tục khẳng định chính sách nhất
quán của Đảng và Nhà nước ta trong việc giải quyết vấn đề dân tộc:
“Đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, cùng xây
dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đồng thời giữ gìn, phát huy bản sắc
tốt đẹp của mỗi dân tộc là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước
ta”7. Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội thông qua trong Đại hội VII cũng khẳng định:
“Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân
tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường
văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng
đồng các dân tộc Việt Nam”. Đến Đại hội VIII, đồng thời với việc
khẳng định vị trí chiến lược của vấn đề dân tộc, Đảng ta còn đặt ra
yêu cầu phải xây dựng và thực thi trên thực tế luật dân tộc: “Vấn đề
dân tộc có vị trí chiến lược lớn. Thực hiện “bình đẳng, đoàn kết,
tương trợ” giữa các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước. Xây dựng luật dân tộc”8.
Đến Đại hội IX, nhận thức mới của Đảng về vấn đề dân tộc được thể
hiện khi gắn vấn đề dân tộc với đoàn kết dân tộc và xem đây là vấn
đề có vị trí chiến lược của cách mạng nước ta: “Vấn đề dân tộc và
đoàn kết dân tộc luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng.
Thực hiện tốt chính sách dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ,
giúp nhau cùng phát triển”9.
Báo cáo Chính trị tại Đại hội X, trên cơ sở tổng kết 20 năm đổi mới,
trong khi tiếp tục khẳng định vấn đề dân tộc, đoàn kết dân tộc là
vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài của sự nghiệp cách mạng nước ta,
Đảng ta còn đưa ra nguyên tắc giải quyết vấn đề dân tộc: “Đảng ta
luôn coi vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc là vấn đề chiến lược,
cơ bản, lâu dài của sự nghiệp cách mạng nước ta. Các dân tộc trong
đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ lẫn
nhau cùng tiến bộ; cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa... Đấu tranh ngăn chặn các hành vi lợi dụng các vấn đề dân
tộc, tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động trái pháp luật, kích động,
chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, tôn giáo làm phương hại đến
lợi ích chung của đất nước”10. Trên thực tế, mặc dù vấn
đề dân tộc còn tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp, bởi kẻ địch thường
xuyên lợi dụng để kích động, chia rẽ khối đoàn kết toàn dân, song về
cơ bản việc thực hiện chính sách dân tộc đã thu được những kết quả
quyết định: những vấn đề kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc
thiểu số đã được giải quyết khá thành công; những điểm nóng về vấn
đề dân tộc đã được chính đồng bào các dân tộc tự giải quyết một cách
thỏa đáng; nội dung bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau
cùng tiến bộ trong chính sách dân tộc ngày càng được thực hiện một
cách sinh động và có kết quả.
Trong bối cảnh toàn cầu hoá như hiện nay, vấn đề dân tộc luôn có
quan hệ với vấn đề tôn giáo, dân chủ, nhân quyền và thường được quốc
tế hoá trong nhìn nhận và giải quyết. Bởi vậy, hơn bao giờ hết, việc
thực hiện chính sách dân tộc cần gắn với việc thực hiện chính sách
tôn giáo, thực sự tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo
hoặc không theo tôn giáo của công dân, quyền sinh hoạt tôn giáo bình
thường theo pháp luật. Trên thực tế, vấn đề dân tộc, tôn giáo và
nhân quyền luôn là vấn đề nhạy cảm. Các thế lực thù địch của cách
mạng luôn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo và nhân quyền để kích
động, chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, các tôn giáo, phá hoại
khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây phương hại lợi ích chung của đất
nước. Bởi vậy, thực hiện tốt chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo
chính là góp phần khắc phục sự kỳ thị, chia rẽ các dân tộc, các tôn
giáo; khắc phục tư tưởng tự ti, mặc cảm dân tộc, mặc cảm tôn giáo,
xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc hướng tới thực hiện thắng lợi mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Trong bối cảnh toàn cầu hoá, việc giải quyết vấn đề dân tộc có thể
sẽ thuận lợi hơn, song phần nhiều là phức tạp hơn, do đó, đòi hỏi
chúng ta phải thường xuyên đổi mới và thực hiện tốt chính sách dân
tộc nhằm giải quyết tốt vấn đề dân tộc đặng góp phần củng cố và tăng
cường khối đại đoàn kết dân tộc. Đây thực sự là sự nghiệp của toàn
dân mà trực tiếp là của cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Việt Nam,
dưới sự lãnh đạo của Đảng. Điều đó cũng đòi hỏi việc mở rộng và phát
huy dân chủ trong xây dựng, hoàn thiện và hiện thực hoá chính sách
dân tộc là tất yếu khách quan, trong đó cần thực hiện đầy đủ các
hình thức dân chủ (dân chủ đại diện, dân chủ trực tiếp và chế độ tự
quản của cộng đồng dân cư), đồng thời phải giữ vững kỷ cương xã hội
và đạo lý dân tộc.
Hơn bao giờ hết, vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề hệ
trọng, vấn đề chiến lược của cách mạng nước ta. Giải quyết vấn đề
dân tộc cần quán triệt sâu sắc quan điểm toàn diện của Đảng được thể
hiện đầy đủ trong đường lối, chính sách của Đảng về vấn đề dân tộc,
đoàn kết dân tộc: Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng,
đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; cùng nhau thực
hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Chỉ có trên cơ sở thực
hiện tốt có hiệu quả đường lối, chính sách của Đảng về vấn đề dân
tộc, đoàn kết dân tộc thì khối đại đoàn kết toàn dân tộc mới được
củng cố và tăng cường tạo thành động lực to lớn cho công cuộc đổi
mới và phát triển đất nước.
___________
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị Ban Chấp hành Trung
ương lần thứ 7 khóa IX, Nxb CTQG, H, 2003, tr.32.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VI, Nxb ST, H, 1987, tr.29.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IX, Nxb CTQG, H, 2001, tr.60.
4. Sđd, tr.122.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ X, Nxb CTQG, H, 2006, tr.116-124.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng thời kỳ đổi mới, Nxb CTQG,
H, 2005, tr.103.
7. Sđd, tr. 283-284.
8. Sđd, tr.507.
9. Sđd, tr.670.
10. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ X, Nxb CTQG, H, 2006, tr... (Báo Hà Nội mới)
* Phó Giám đốc Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
| Trở Về đầu trang
|
|
|
|
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM VỚI VAI TRÒ ĐẠI DIỆN
BẢO VỆ QUYỀN
VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP, CHÍNH ĐÁNG CỦA NHÂN DÂN
TRẦN NGỌC NHẪN*
Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về Đại đoàn kết toàn dân tộc và Mặt
trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam, từ thực tiễn của công cuộc đổi mới
đất nước, Nghị quyết Đại hội X của Đảng trong mục Phát huy sức mạnh
đại đoàn kết toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân, đã khẳng
định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò
rất quan trọng trong việc tập hợp, vận động, đoàn kết rộng rãi các
tầng lớp nhân dân, đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của nhân
dân”. Đây thực sự là một bước tiến trong quan điểm của Đảng về phát
huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thời kỳ mới. Về thực
chất, đây chính là công tác mặt trận tham gia xây dựng, chỉnh đốn
bảo vệ Đảng, tham gia xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn
kết toàn dân tộc và quyền làm chủ của nhân dân góp phần đẩy mạnh
toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém
phát triển.
Quan điểm của Đảng ta về khẳng định vai trò đại diện của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam là phù hơp với nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
trong thời kỳ mới của cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản
Việt Nam cũng đã xác định: “Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất
phát từ lợi ích và nguyện vọng chân chính của nhân dân” mà Đảng là
lực lượng lãnh đạo Nhà nước và Nhà nước là người tổ chức thực hiện
chủ trương, đường lối đó của Đảng thông qua việc xây dựng và ban
hành các chính sách, pháp luật và tổ chức thực hiện chính sách, pháp
luật đó thì đương nhiên mọi hoạt động của Nhà nước cũng đều phải
xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chân chính của các tầng lớp nhân
dân. Mặt khác, khi chính sách, pháp luật của Nhà nước được ban hành
thì chính Nhà nước là lực lượng nòng cốt đưa chính sách, pháp luật
đó vào cuộc sống, nhất là những chính sách, pháp luật có liên quan
đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân như xoá đói giảm nghèo,
chính sách đối với người có công, về giáo dục, y tế, đất đai, nhà ở,
việc làm...
Đảng ta đã đề cập đến vai trò đại diện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
đối với các tầng lớp nhân dân từ lâu, nhưng còn ở mức độ phối hợp
chung với Nhà nước, chưa có nhiều nội dung cụ thể. Quan điểm về vai
trò đại diện của Mặt trận đối với nhân dân được thể chế hóa tại Điều
9 Hiến pháp năm 1992 và được sửa đổi, bổ sung năm 2001, đó là: “Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ quyền và lợi
ích chính đáng của nhân dân...”.
Thực tiễn những năm qua cho thấy, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã rất
tích cực cùng với Nhà nước chăm lo đời sống của các tầng lớp nhân
dân thông qua việc thực hiện các phong trào, các cuộc vân động, như:
xoá đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, giúp đỡ đồng bào vùng bị thiên
tai, chính sách và chương trình Ngày vì người nghèo... đã mang lại
kết quả thiết thực. Tuy nhiên, việc bảo vệ quyền hợp pháp, chính
đáng của nhân dân thì Mặt trận chưa làm được nhiều. Tiêu biểu như
việc Mặt trận tham gia giải quyết và giám sát việc giải quyết đơn
thư khiếu nại, tố cáo của người dân còn rất hạn chế. Đơn cử năm
2008, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp đã nhận được hàng vạn đơn thư
khiếu nại tố cáo của nhân dân, chỉ riêng bộ phận tiếp dân thuộc Ban
Dân chủ - Pháp luật, cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam đã nhận qua việc tiếp dân hàng ngày là 887 đơn, qua Bưu điện là
2.203 đơn. Trong tổng số đơn thư nói trên, thì tỷ lệ đơn thư khiếu
nại, tố cáo liên quan đến đất đai chiếm 80%, chủ yếu là về bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Trước thực
trạng nói trên, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam đã có chỉ đạo sát sao yêu cầu các ban, bộ phận giúp việc
tham mưu và cùng với Ban Thường trực phối hợp với cơ quan nhà nước,
ngành chức năng giải quyết. Cụ thể, sau khi xem xét kỹ lưỡng các đơn
thư khiếu nại, tố cáo, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam đã chuyển 2.411 đơn và có văn bản kiến nghị gửi cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét giải quyết và thông báo
lại kết quả để Mặt trận được biết. Kết quả đã nhận được 188 văn bản
thông báo tiến độ giải quyết của cơ quan có thẩm quyền (chiếm 8%).
Với mức độ và tiến độ giải quyết như trên là quá thấp so với yêu cầu
và thực tiễn đòi hỏi. Thực tiễn năm 2009, việc tổ chức thực hiện
cũng như hiệu quả giải quyết công tác này chưa có chuyển biến tích
cực. Có nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân quan trọng nhất là do cơ
chế, chế tài pháp luật về giải quyết kiến nghị của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam chưa rõ và thậm chí là chưa có. Điều 91 Luật Khiếu nại, tố
cáo hiện hành quy định: “Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận có trách nhiệm tổ chức việc
tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh liên quan
đến khiếu nại, tố cáo; khi nhận được khiếu nại tố cáo thì nghiên cứu
chuyển đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo... Người
giải quyết khiếu nại, tố cáo xem xét, giải quyết và thời hạn bảy
ngày, kể từ ngày có quyết định giải quyết phải thông báo bằng văn
bản cho tổ chức đã chuyển đơn đến biết kết quả giải quyết”. Như vậy,
quy định này không có thời hạn giải quyết đơn thư đối với công dân
và khi người có thẩm quyền nhận được đơn chuyển mà không giải quyết
và không thông báo kết quả cho tổ chức chuyển đơn cũng không có quy
định một hình thức xử lý nào, do vậy không mang tính bắt buộc, nên
dù không giải quyết hoặc không thông báo kết quả giải quyết cũng
không sao.
Nhìn chung, hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xét về
quyền và trách nhiệm giám sát đã được Hiến pháp, pháp luật xác định,
nhưng cơ chế, chế tài để giải quyết kiến nghị của Mặt trận chưa rõ
và chưa có, nên hiệu quả của công tác này là rất thấp và còn mang
nặng tính hình thức.
Để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực sự là tổ chức đại diện cho quyền
và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân như tinh thần Nghị
quyết Đại hội X của Đảng nêu ra, thì điều trước tiên Nhà nước cần
sớm sửa đổi, bổ sung Luật Khiếu nại, tố cáo và không nên quy định
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chỉ nhận đơn và chuyển đơn, mà cần quy
định rõ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có quyền và trách nhiệm cùng với
cơ quan nhà nước có thẩm quyền nghiên cứu, xem xét và xác minh vụ
việc khiếu nại, tố cáo trước khi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền ra quyết định giải quyết.
Mặt khác, Quốc hội cũng cần nghiên cứu để sớm xây dựng và ban hành
Luật Giám sát của nhân dân, trong đó có quy định rõ hoạt động giám
sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và rất cần thiết phải quy định rõ
cơ chế, chế tài giải quyết kiến nghị sau giám sát của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam. Chỉ có như vậy thì vai trò giám sát của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước, đại biểu
dân cử và cán bộ, công chức nhà nước quy định tại Điều 9 Hiến pháp
mới thực sự đi vào đời sống xã hội.
* Nguyên Trưởng ban Dân chủ - Pháp luật, cơ quan Uỷ ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
| Trở Về đầu trang
|
|
|
|
HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM ĐẨY MẠNH CÔNG
TÁC HỘI
ĐỂ PHỐI HỢP TỐT HƠN VỚI MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ KIM OANH*
Là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ
Việt Nam các cấp luôn tích cực tham gia thực hiện tốt Chương trình
phối hợp và thống nhất hành động của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam. Hội đã chú trọng thu hút, tập hợp hội viên theo hướng
đa dạng hóa các mô hình tập hợp, tập trung vào một số đối tượng đặc
thù như nữ thanh niên, phụ nữ cao tuổi, phụ nữ đi làm ăn xa, nữ công
nhân trong các khu công nghiệp, tập hợp hội viên theo hộ gia đình...
Đến nay, đã có trên 14 triệu hội viên tham gia tổ chức Hội.
Công tác vận động, chăm lo cho phụ nữ các dân tộc thiểu số, phụ nữ
theo các tôn giáo được quan tâm đẩy mạnh. Cụ thể, Hội đã xây dựng
được nhiều mô hình tập hợp hội viên phụ nữ dân tộc thiểu số, tôn
giáo; phối hợp với chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể địa phương
tổ chức thăm hỏi, tặng quà, động viên chị em nhân các ngày lễ tết,
tích cực tham gia giải quyết các “điểm nóng”.
Thực hiện chủ trương của Nhà nước phấn đấu đến năm 2010, nước ta
không còn người dân ở nhà tạm, từ năm 2008, Ban Chấp hành Trung ương
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã phát động cuộc vận động ủng hộ xây
dựng, sửa chữa “Mái ấm tình thương” cho phụ nữ nghèo, phụ nữ có hoàn
cảnh đặc biệt khó khăn, thu hút được sự quan tâm của lãnh đạo các
cấp ủy đảng, chính quyền, sự hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức, doanh
nghiệp, các nhà hảo tâm, cán bộ, hội viên phụ nữ nhiệt tình ủng hộ.
Tính đến 20-10-2009, qua 2 đợt phát động, Hội đã nhận được số tiền
đăng ký ủng hộ trên 53 tỷ đồng, 4.590 ngôi nhà đã được xây dựng cho
phụ nữ nghèo. Vào dịp kỷ niệm 79 năm Ngày thành lập Hội
(20-10-2009), Trung ương Hội đã tổ chức Lễ vận động xây dựng Mái ấm
tình thương đợt 3, kết quả đã nhận được cam kết ủng hộ trên 11 tỷ
đồng.
Để hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo, đảm bảo an
sinh xã hội, các cấp Hội đã chủ động rà soát, nắm địa chỉ phụ nữ
nghèo, hộ nghèo do phụ nữ là chủ hộ; phân công hội viên kinh tế khá
giúp hội viên nghèo, phân công cán bộ Hội giúp hội viên; hướng dẫn
kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt phù hợp với điều kiện địa phương; đẩy
mạnh phong trào giúp nhau phát triển kinh tế gia đình, nhất là với
62 huyện nghèo. Trung ương Hội chỉ đạo 20 tỉnh, thành có huyện nghèo
chủ động khảo sát nhu cầu của phụ nữ; xây dựng bộ công cụ khảo sát,
hướng dẫn các tỉnh, thành; chọn xã Mường Dao (huyện Phù Yên, tỉnh
Sơn La) để khảo sát và chỉ đạo điểm. Hội Liên hiệp Phụ nữ các tỉnh,
thành đầu tư chỉ đạo và ưu tiên hỗ trợ nguồn lực cho các huyện nghèo,
một số địa phương chủ động xây dựng và trình diễn các mô hình sản
xuất có hiệu quả tại những vùng có tỉ lệ hộ nghèo cao; tổ chức các
hình thức kết nghĩa để giúp những địa bàn khó khăn. Hiện nay, các
cấp Hội đang quản lý 9 chương trình với tổng dư nợ trên 28 nghìn tỷ
đồng cho gần 3 triệu hộ vay thuộc hơn 77 ngàn tổ tiết kiệm và vay
vốn.
Bên cạnh việc tập trung xây dựng đề án và chỉ đạo các cấp Hội đẩy
mạnh hoạt động hỗ trợ phụ nữ học nghề và tạo việc làm giai đoạn 2009
- 2015, các cấp Hội đã tích cực hỗ trợ phụ nữ xây dựng gia đình no
ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. Thông qua các hoạt động truyền
thông, giáo dục về các chính sách, pháp luật về gia đình; thực hiện
Nghị quyết liên tịch với Bộ Công an về quản lý và giáo dục con em
trong gia đình không phạm tội và mắc tệ nạn xã hội, triển khai công
tác phòng chống ma túy, triển khai Luật Phòng chống bạo lực gia đình
trong hệ thống Hội... đã thu hút được sự tham gia hưởng ứng và thực
hiện đông đảo của các tầng lớp chị em phụ nữ, sự phối hợp tích cực
của các cấp chính quyền, đoàn thể địa phương.
Các cấp hội ở tất cả các địa phương còn tích cực đẩy mạnh các phong
trào thi đua yêu nước, như phong trào “Phụ nữ tích cực học tập, lao
động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc” gắn với cuộc vận động
“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Nhiều cấp Hội
đã cụ thể hóa bằng các tiêu chuẩn, chỉ tiêu phù hợp với điều kiện và
nhiệm vụ chính trị của từng địa phương, đơn vị. Chính vì vậy, chỉ
sau 2 năm triển khai thực hiện đã tạo được sự chuyển biến tích cực
trong việc tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, sửa đổi lối làm
việc của cán bộ, hội viên phụ nữ; nhiều nhân tố điển hình và mô hình
về học tập và làm theo lời Bác được phát hiện, nhân rộng.
Các cấp Hội đã vận động, hướng dẫn, tổ chức cho chị em đăng ký tiết
kiệm bằng nhiều hình thức, như: tiết kiệm chi tiêu, tiết kiệm điện,
nước, lương thực, thực phẩm trong sinh hoạt gia đình, đóng góp tiết
kiệm theo tổ nhóm. Các mô hình thực hành tiết kiệm phổ biến mà Hội
Phụ nữ ở cơ sở đã triển khai, nhân rộng là: mô hình “ống tiết kiệm”,
“nuôi heo đất”, “hũ gạo tình thương”, “vườn rau sạch tiết kiệm”, mô
hình “chuyển giao, hỗ trợ phương tiện, máy móc, thiết bị, vật dụng
gia đình”... Đến nay, đã có 63/63 Tỉnh, Thành Hội xây dựng được mô
hình làm theo tấm gương Bác trong thực hành tiết kiệm. Kết quả thu
được là 25,289 tỷ đồng, 360,673 ngàn tấn gạo; 12,262 ngàn tấn thóc,
840.959 Kw/h điện, 84.521 ngày công... đã giúp đỡ cho 89.864 hội
viên, phụ nữ, trẻ em nghèo, khó khăn.
Gắn với thành tích nói trên, còn phải kể đến việc lồng ghép hoạt
động của các cấp Hội với 2 cuộc vận động lớn do Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam phát động là cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hoá ở khu dân cư” và cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”.
Thông qua những nội dung của 2 cuộc vận động này, nhiều cấp Hội đã
cụ thể hóa thành các tiêu chuẩn cụ thể để chị em phấn đấu thực hiện.
Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhiều cấp Hội còn chủ động, tích
cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền bằng việc tuyên
truyền, vận động các tầng lớp phụ nữ thực hiện chủ trương của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước, tập trung vào các nội dung liên
quan đến phụ nữ, trẻ em như: Luật Bình đẳng giới, Luật phòng chống
bạo lực gia đình, xây dựng tủ sách báo và đẩy mạnh phong trào phụ nữ
đọc, tìm hiểu sách, báo tại các cơ sở Hội. Thực hiện đề án “Cấp báo
Phụ nữ Việt Nam không thu tiền cho Hội Liên hiệp phụ nữ xã, chi hội
phụ nữ xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn thuộc xã vùng II” từ ngày
14-9-2009, đến nay, đã có 1.837 xã và 19.394 chi hội được nhận báo.
Nhiều cấp Hội tập trung làm tốt công tác giám sát các chính sách an
sinh xã hội và việc thực hiện luật pháp, chính sách về bình đẳng
giới, chính sách hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn,
chính sách đối với 62 huyện đặc biệt khó khăn, đối với lao động
ngừng, nghỉ việc... phù hợp với đối tượng và tình hình của địa
phương. Ngoài ra, các cấp Hội cả nước đã chủ động giám sát việc thực
hiện một số chính sách liên quan trực tiếp đến đời sống của phụ nữ,
như: hỗ trợ kinh phí cho người nghèo đón Tết nguyên đán, hỗ trợ nhà
ở cho hộ nghèo, trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội.
Năm 2009, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã chỉ đạo các cấp Hội tổng
kết 10 năm thực hiện Chị thị 30-CT/TW của Bộ Chính trị về xây dựng
và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Sau 10 năm thực hiện, nhìn
chung Chỉ thị 30-CT/TW của Bộ Chính trị đã được các cấp Hội từ Trung
ương đến cơ sở triển khai thực hiện nghiêm túc, bước đầu có hiệu quả
thiết thực, tạo được sự chuyển biến trong nhận thức và hành động của
cán bộ, hội viên, phụ nữ cả nước, góp phần nâng cao vị trí, vai trò
của Hội cũng như của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Hơn thế, việc thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở còn góp phần đổi
mới phong cách, lề lối làm việc của đội ngũ cán bộ Hội, đổi mới nội
dung, phương thức hoạt động của Hội với phương châm tập trung hướng
mạnh về cơ sở, phát huy quyền làm chủ của cán bộ, hội viên phụ nữ.
Cũng trong năm 2009, Trung ương Hội đã phối hợp với Bộ Nội vụ tổ
chức tổng kết 5 năm thực hiện Nghị định 19/2003/NĐ-CP của Chính phủ
về quy định trách nhiệm của cơ quan hành chính Nhà nước các cấp
trong việc bảo đảm cho Hội Phụ nữ các cấp tham gia quản lý Nhà nước.
5 năm qua (2003 - 2009), hầu hết các bộ, ban, ngành và đoàn thể ở
Trung ương và các tỉnh, thành phố đã tạo điều kiện để Hội Phụ nữ các
cấp khẳng định được khả năng, vị thế và tham gia góp ý kiến xây dựng,
sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật; tham gia tư vấn cho
các cơ quan hành chính nhà nước; góp phần nâng cao nhận thức của cấp
ủy, chính quyền các cấp về vai trò của đội ngũ cán bộ nữ và tạo điều
kiện để Hội Phụ nữ cùng cấp tham gia quản lý nhà nước; tham gia các
đoàn kiểm tra bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ, trẻ em;
tạo điều kiện và kinh phí, cơ sở vật chất cho Hội Phụ nữ các cấp
tham gia quản lý nhà nước. Cụ thể như thực hiện tốt công tác tư vấn
pháp luật, tham gia hòa giải thành công nhiều vụ mâu thuẫn gia đình;
tiếp nhận và giải quyết nhiều đơn thư khiếu nại, tố cáo một cách kịp
thời, không để tồn đọng và hạn chế đơn thư khiếu nại vượt cấp.
Công tác đối ngoại nhân dân, tăng cường đoàn kết quốc tế và công tác
vận động người Việt Nam ở nước ngoài được Trung ương Hội và các cấp
hội địa phương quan tâm, chăm lo. Với vai trò là Chủ tịch Liên đoàn
các tổ chức Phụ nữ ASEAN (ACWO) nhiệm kỳ 2008 - 2010, Trung ương Hội
đã chủ động và tích cực trao đổi với các nước thành viên chuẩn bị
cho việc tổ chức Đại hội đồng ACWO lần thứ 14 tại Hà Nội, do Hội
đăng cai (vào tháng 10-2010).
Nhờ làm tốt công tác đối ngoại nhân dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt
Nam đã góp phần vào việc củng cố quan hệ hữu nghị hợp tác với các
nước láng giềng và các nước khác trên thế giới. Bên cạnh việc tổ
chức các đoàn đi tham quan, giao lưu học tập, Hội Liên hiệp Phụ nữ
Việt Nam còn ký kết thỏa thuận hợp tác giai đoạn 2009 - 2012 với Hội
Phụ nữ Campuchia vì hoà bình và phát triển; tham dự Hội nghị Thượng
đỉnh phụ nữ toàn cầu tại Chi Lê; tham dự cuộc họp các nhà lãnh đạo
nữ APEC tại Singapo; tham gia Ban tổ chức Diễn đàn Công nghệ thông
tin thế giới được tổ chức tại Hà Nội và chủ trì phiên thứ 2 về Giới
và công nghệ thông tin; phối hợp với một số tổ chức trong nước và
quốc tế tổ chức tọa đàm “Tiếng nói phụ nữ cao tuổi...”. Đặc biệt,
đoàn đại biểu cấp cao của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã sang thăm
và làm việc tại nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào. Những chuyến
thăm và làm việc nói trên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đánh dấu
bước phát triển mới của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong mối quan
hệ với các nước trong khu vực và thế giới, để lại ấn tượng tốt đẹp
về Hội và về đất nước, con người Việt Nam, góp phần tăng cường khối
đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế.
Với tư cách là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Liên
hiệp Phụ nữ Việt Nam còn thường xuyên kiện toàn, phát triển tổ chức
Hội ở tất cả các địa phương, động viên mọi cấp Hội, hội viên tham
gia xây dựng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Cả nước hiện có 12.783 cơ sở Hội, 100.866 chi hội và 221.761 tổ phụ
nữ, không còn thôn bản trắng về tổ chức Hội. Mọi cấp hội đều thường
xuyên được kiện toàn, củng cố về tổ chức bộ máy và cán bộ, bầu bổ
sung Ủy viên Ban Chấp hành và các chức danh chủ chốt kịp thời cũng
như phân công, phân nhiệm cụ thể trong hoạt động. Với phương châm
hướng mạnh hoạt động về cơ sở, các cấp Hội đã đẩy mạnh công tác
tuyên truyền, vận động hội viên thực hiện tốt mọi chủ trương, chính
sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, nhiệm vụ của Hội. Năm 2009, các
cấp Hội đã phối hợp tốt với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng
cấp tích cực tham gia vào quá trình chuẩn bị Đại hội Mặt trận Tổ
quốc các cấp; vận động cán bộ, hội viên tham gia ý kiến vào văn kiện
Đại hội; giới thiệu đại diện của Hội có đủ năng lực, trình độ tham
gia vào Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp. Phối hợp với Mặt trận Tổ
quốc các cấp thực hiện tốt Chương trình phối hợp và thống nhất hành
động, cụ thể hóa thành phong trào thi đua và các nhiệm vụ công tác
Hội.
* Trưởng phòng Tổng hợp cơ quan Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt
Nam.
| Trở Về đầu trang
|
|
|
|
|
|
|
|
 |
|
|
|
|
|

Ngày hội đại
đoàn kết toàn dân tộc năm 2009

Các điển
hình tiêu biểu trong CVĐ TDĐKXDĐSVH ở KDC
(2004-2009)

Đối ngoại
nhân dân MTTQ
(2004-2009)
|
|

Ngày hội đại
đoàn kết toàn dân tộc năm 2008 |
|
|
hoan nghênh bạn đọc góp ý cho tạp chí |
|
|
|
| |
 |
|
|