Ðặt làm trang chủ

    Google   

                 | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ |   

             | Hộp Thư |
     
 
 

 

 

 

 

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết dự ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc tại xã Kim Đức, Thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

 

Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam Vũ Trọng Kim dự ngày Hội đại đoàn kết toàn dân tộc tại khu dân cư 1D, phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội 

 
 

    TIN MỚI :                                                                    thông tin được cập nhật liên tục  



                     SỐ 77   (3 - 2010 )

   


 KINH NGHIỆM THỰC TIỄN

Mặt trận tỉnh Thái Nguyên đóng góp ý kiến cho đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, huyện và lấy phiếu tín nhiệm Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp xã

Tỉnh Đắk Nông thực hiện Chỉ thị số 18 của Chính phủ về tăng cường công tác dân vận

Hoạt động phối hợp giữa Bộ Tư pháp và Trung ương mặt trận về tăng cường thực hiện công tác hoà giải ở cơ sở



MẶT TRẬN TỈNH THÁI NGUYÊN ĐÓNG GÓP Ý KIẾN
CHO ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH, HUYỆN
VÀ LẤY PHIẾU TÍN NHIỆM CHỦ TỊCH, PHÓ CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ

                                                                                            NGUYỄN THANH TÙNG*

Thực hiện Đề án số 04 của Tỉnh uỷ Thái Nguyên về “Tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở giai đoạn 2006 - 2010”, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Thái Nguyên đã xây dựng Quy chế phối hợp công tác giữa Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh với Đoàn đại biểu Quốc hội, Thường trực Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân tỉnh; phối hợp tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Thực hiện Thông báo kết luận số 398-TB/TU, ngày 10-4-2008 của Thường trực Tỉnh ủy về việc khảo sát, đánh giá hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện; Công văn liên tịch số 375/CV-LT, ngày 18-4-2008 của Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh với Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh về việc phối hợp đánh giá kết quả hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện nhiệm kỳ 2004 - 2009, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh đã xây dựng Kế hoạch số 08, ngày 14-4-2008 về việc tổ chức tham gia đóng góp ý kiến và lấy phiếu đánh giá hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện nhiệm kỳ 2004 - 2009.

Trên cơ sở kế hoạch và các quy chế được xây dựng nói trên, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh đã chỉ đạo, hướng dẫn Mặt trận Tổ quốc các cấp tổ chức triển khai theo quy trình và thực hiện nghiêm túc, hiệu quả. Trước hết, Mặt trận đẩy mạnh tổ chức tuyên truyền, triển khai kế hoạch với cấp uỷ, Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, các ngành chức năng, các đoàn thể chính trị - xã hội từ tỉnh đến cơ sở, nêu rõ mục đích, yêu cầu của việc tham gia đóng góp ý kiến và lấy phiếu đánh giá hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện. Tổ chức tập huấn đến Chủ tịch, Phó Chủ tịch, cán bộ chuyên trách Mặt trận Tổ quốc cấp huyện, cấp xã. Mỗi đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, huyện đều được yêu cầu viết bản tự kiểm điểm hoạt động của mình để gửi đến Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các xã, phường, thị trấn theo các đơn vị bầu cử.

Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các huyện, thành phố, thị xã đã chủ động chủ trì hội nghị tham gia đóng góp ý kiến đối với đại biểu Hội đồng nhân dân huyện, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh và lấy phiếu đánh giá hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân huyện. Từng đại biểu Hội đồng nhân dân huyện đọc bản tự kiểm điểm, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp huyện đọc bản tự kiểm điểm của từng đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh. Đại biểu dự hội nghị tham gia đóng góp ý kiến với từng đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh và huyện, đại biểu Hội đồng nhân dân huyện phát biểu, giải trình, tiếp thu ý kiến, sau đó hội nghị tiến hành lấy phiếu đánh giá hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân huyện. Thành phần đại biểu chính thức lấy phiếu đánh giá là Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các xã thuộc đơn vị bầu cử; Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các xã, phường, thị trấn đơn vị bầu cử; Trưởng ban Công tác Mặt trận các xã thuộc đơn vị bầu cử; Trưởng ban Thanh tra nhân dân và Trưởng ban Giám sát đầu tư của cộng đồng các xã thuộc đơn vị bầu cử. Đại biểu khách mời là đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh tại đơn vị bầu cử, đại diện cấp uỷ, Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân huyện, thành phố, thị xã, đại diện cấp uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn thuộc đơn vị bầu cử huyện, thành phố, thị xã.

Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh chủ trì các hội nghị tham gia ý kiến và lấy phiếu đánh giáù hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh tại huyện, thành phố, thị xã. Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp huyện đọc bản tổng hợp các ý kiến tham gia của các xã đối với từng đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, các đại biểu tham gia đóng góp ý kiến cho từng đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh phát biểu, giải trình, tiếp thu ý kiến, sau đó hội nghị tiến hành bỏ phiếu.

Tính chung toàn tỉnh đã tổ chức được 96 hội nghị ở cơ sở tham gia đóng góp ý kiến đối với đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, huyện và lấy phiếu đánh giá đối với đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện và 10 hội nghị ở cấp huyện, thành phố, thị xã để tham gia đóng góp ý kiến và lấy phiếu đánh giá hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, có 8.125 lượt đại biểu tham dự hội nghị, 1.112 ý kiến tham gia đóng góp đối với đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, Đoàn đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh và Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân huyện. Kết quả việc tham gia đóng góp ý kiến và lấy phiếu đánh giá hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, đã có 62/64 đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được đóng góp ý kiến và lấy phiếu đánh giá. Trong đó có 31/62 (50%) đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh được đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ; 30/62 (48,3%) đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh hoàn thành nhiệm vụ. 1 (1,6%) đại biểu không hoàn thành nhiệm vụ. Đối với đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, được lấy phiếu đánh giá 321/321 đại biểu, có 168/321 (52,3%) đại biểu hoàn thành tốt nhiệm vụ; 149/321 (46,4%) đại biểu hoàn thành nhiệm vụ; 4/321 (1,2%) đại biểu không hoàn thành nhiệm vụ.

Thực hiện Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, Nghị quyết liên tịch số 09/2007/NQLT/CP-UBTWMTTQVN giữa Chính phủ và Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ra Chỉ thị số 22-CT/TU, ngày 31-3-2008 về triển khai Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh đã phối hợp với Uỷ ban nhân dân tỉnh có hướng dẫn liên tịch số 31/HDLT/UBND-UBMTTQ hướng dẫn thi hành Điều 26 của Pháp lệnh 34, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Thái Nguyên đã xây dựng Kế hoạch số 28, ngày 27-2-2009 tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đối với Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Ban Thường vụ Tỉnh ủy ra Quyết định thành lập Ban Chỉ đạo lấy phiếu tín nhiệm các chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn của tỉnh do Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh làm Trưởng ban, Ban chỉ đạo có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch và hướng dẫn triển khai thực hiện. Có 2.997/3.024 xóm, tổ dân phố tổ chức hội nghị để nhân dân tham gia đóng góp ý kiến vào bản tự kiểm điểm của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Có 173.279 đại biểu tham dự và có 19.079 ý kiến tham gia đóng góp vào bản kiểm điểm của các chức danh được lấy phiếu tín nhiệm, các ý kiến tập trung vào năng lực cán bộ, phẩm chất đạo đức, lối sống, chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và một số lĩnh vực khác; 100% xã, phường, thị trấn trong toàn tỉnh đã tổ chức được hội nghị tham gia đóng góp ý kiến và lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn, đảm bảo dân chủ, đúng quy định của pháp luật. Có 10.154 đại biểu đại diện hộ gia đình tham dự với 748 lượt ý kiến tham gia đóng góp. Có 770/811 người thuộc diện lấy phiếu tín nhiệm (số còn lại do chưa đủ thời gian 2 năm). Kết quả: số phiếu tín nhiệm từ 70 đến 100% là 650 người (tỉ lệ 84,4%); số phiếu tín nhiệm từ 50 đến dưới 70% là 98 người (tỉ lệ 12,7%); số phiếu tín nhiệm dưới 50% là 22 người (tỉ lệ 2,85%).

Kết quả lấy phiếu tín nhiệm đã phản ánh khách quan, đúng thực chất đội ngũ cán bộ cấp xã trong điều kiện hiện nay, qua đó cán bộ chủ chốt ở cơ sở thấy được mặt mạnh, mặt yếu để tiếp tục phấn đấu, rèn luyện, phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn. Đây cũng là căn cứ để lựa chọn, quy hoạch cán bộ, là bước để làm công tác nhân sự cho Đại hội Đảng các cấp. Những trường hợp có số phiếu tín nhiệm dưới 50% cần rà soát, xem xét để có phương án giải quyết cụ thể. Đối với những trường hợp còn trẻ nhưng phiếu tín nhiệm thấp do thiếu kinh nghiệm, nhưng được đánh giá phẩm chất đạo đức tốt, có khả năng phát triển, thì cho đi đào tạo, bồi dưỡng. Những trường hợp có số phiếu tín nhiệm thấp do vi phạm phải xem xét, xử lý cụ thể, tuỳ theo mức độ, có thể miễn nhiệm hay bố trí vào vị trí công tác thấp hơn, những trường hợp tuổi cao cho nghỉ theo chế độ.

Để thực hiện tốt công tác tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, tham gia ý kiến, lấy phiếu tín nhiệm đối với Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, xin nêu ra một số kinh nghiệm:

Một là, Mặt trận Tổ quốc các cấp cần xác định rõ vai trò chức năng, nhiệm vụ của mình, căn cứ vào các quy định của pháp luật để thực hiện nhiệm vụ, tranh thủ sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, phối hợp chặt chẽ với chính quyền trong việc tham gia đóng góp ý kiến, lấy phiếu tín nhiệm đối với Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn.

Hai là, đội ngũ cán bộ làm công tác Mặt trận các cấp cần có sự cố gắng, nỗ lực, tâm huyết, có năng lực và phẩm chất chính trị thì Mặt trận mới phát huy được vai trò, trách nhiệm và chủ động tham mưu với cấp ủy đảng, chính quyền, để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, có các biện pháp giải quyết kịp thời, có lý, có tình, đúng pháp luật để tạo sự đồng thuận trong xã hội.

Ba là, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp và các tổ chức thành viên cần tiếp tục tuyên truyền sâu rộng hơn nữa Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, Nghị quyết liên tịch số 09/2007/NQLT/CP-UBTWMTTQVN để người dân hiểu rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của mình trong việc xây dựng đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh, thực sự là chính quyền của dân, do dân, vì dân.

Về đối tượng lấy phiếu tín nhiệm, đề nghị mở rộng đối tượng lấy phiếu tín nhiệm đối với cán bộ công chức cấp xã ở các lĩnh vực, như: địa chính; xây dựng; tư pháp; công an, bởi đây là những đối tượng liên quan trực tiếp đến giải quyết công việc của tổ chức và công dân ở cơ sở.

* Uỷ viên Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tỉnh ủy viên, Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Thái Nguyên.

 | Trở Về đầu trang    |



TỈNH ĐẮK NÔNG THỰC HIỆN CHỈ THỊ SỐ 18 CỦA CHÍNH PHỦ
VỀ TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC DÂN VẬN

                                                                                                     MỸ HẠNH*

Trong những năm qua, Chỉ thị 18-CT/TTg của Chính phủ về tăng cường công tác dân vận được các cấp uỷ đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể, các địa phương trong tỉnh nhận thức rõ và quan tâm thực hiện. Công tác dân vận không chỉ là công việc của Đảng, của Mặt trận, các đoàn thể mà còn là công việc thường xuyên và quan trọng của chính quyền các cấp, đúng như lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tất cả cán bộ chính quyền, tất cả cán bộ đoàn thể và tất cả hội viên của các tổ chức nhân dân đều phải phụ trách dân vận”.

Từ nhận thức nói trên đã tác động trực tiếp đến việc triển khai và thực hiện có hiệu quả cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” tại Uỷ ban nhân dân các cấp, người dân khi phải giải quyết các công việc liên quan đến chính quyền đã có sự nhanh chóng thuận lợi, giảm được phiền hà; quyền làm chủ của nhân dân tham gia xây dựng chính quyền ngày càng được phát huy; Pháp lệnh dân chủ ở các xã, phường, thị trấn và Quy chế dân chủ ở các loại hình cơ sở được thực hiện có hiệu quả.

Hiện nay trên địa bàn tỉnh, 100% đơn vị cấp xã, phường, thị trấn đã áp dụng triển khai thực hiện cơ chế “một cửa”; 19/26 sở, ban, ngành, huyện, thị đã xây dựng Đề án cải cách hành chính theo cơ chế “một cửa”. Quy trình thủ tục hành chính đã được xây dựng tương đối hoàn chỉnh ở các cấp; cán bộ, công chức làm việc tại bộ phận “một cửa” hầu hết đã đạt chuẩn về chuyên môn, đảm bảo được kỹ năng giao tiếp, nghiệp vụ về hành chính; việc cải cách chế độ hội họp; quy trình tiếp nhận, in ấn, sao chép, phát hành văn bản từng bước đã đi vào nề nếp, giảm đáng kể những cuộc họp không cần thiết, những sai sót trong quá trình tiếp nhận và phát hành văn bản. Việc nghiên cứu, loại bỏ các thủ tục hành chính trùng nhau, tổng hợp thành bộ thủ tục hành chính chuẩn đã được thực hiện đạt kết quả, cấp huyện từ 304 thủ tục giảm xuống còn 152 thủ tục, cấp xã từ 210 thủ tục giảm xuống còn có 89 thủ tục.

Nhằm khắc phục những chồng chéo, trùng lặp về chức năng, nhiệm vụ, việc cải cách tổ chức bộ máy đã đạt được những kết quả đáng kể: tổ chức bộ máy các cơ quan hành chính cấp tỉnh theo Nghị định 13/NĐ-CP là 18 cơ quan chuyên môn, đã giảm được 4 cơ quan; cấp huyện theo Nghị định 14/NĐ-CP là 12 cơ quan chuyên môn, giảm được 1 cơ quan. Việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cũng được đặc biệt quan tâm, quy định về phân cấp quản lý tổ chức bộ máy và cán bộ, công chức, viên chức giúp cho các cơ quan đơn vị chủ động được nguồn nhân lực, cơ cấu cán bộ hợp lý phù hợp với quản lý chuyên môn của từng cơ quan đơn vị; công tác tuyển dụng, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, cách chức, chuyển ngạch... đều được thực hiện theo đúng các văn bản quy định của pháp luật, pháp lệnh cán bộ công chức. Thông qua thi tuyển công chức hành chính và xét tuyển viên chức sự nghiệp từ năm 2004 đến nay đã thực hiện tuyển dụng được 1.183 công chức hành chính và 3.580 viên chức sự nghiệp.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức được thực hiện có hiệu quả, tổng số cán bộ viên chức sự nghiệp tham gia đào tạo, bồi dưỡng giai đoạn 2006 - 2008 là 1.089 lượt người (trong đó: ngành giáo dục là 160 lượt, y tế 358 lượt, văn hoá 119 lượt và các ngành sự nghiệp khác là 452 lượt). Số cán bộ công chức hành chính tham gia đào tạo, bồi dưỡng là 1.858 lượt người (trong đó, chuyên viên cao cấp: 25 lượt, chuyên viên chính: 119 lượt, chuyên viên: 202 lượt, cán sự: 91 lượt); bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, công chức có 271 lượt; đào tạo chuyên môn nghiệp vụ trình độ đại học và sau đại học: 254 lượt, trình độ trung cấp: 41 lượt; đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị: 626 lượt cho cán bộ công chức cấp tỉnh và huyện; bồi dưỡng các kiến thức bổ trợ khác: 199 lượt.

Riêng cấp xã: Đào tạo về lý luận chính trị cho cán bộ không chuyên trách trung cấp, sơ cấp: 507 lượt, bồi dưỡng: 136 lượt; đào tạo, bồi dưỡng về Quản lý Nhà nước, trình độ trung cấp: 496 lượt; kỹ năng lãnh đạo quản lý cho cán bộ là Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân: 91 lượt; bồi dưỡng cho cán bộ không chuyên trách và cán bộ trưởng thôn, buôn, bon: 394 lượt. Đào tạo trình độ sơ cấp trở lên cho cán bộ công chức cấp xã: 269 lượt. Đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ: 91 lượt; bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý tôn giáo cho cán bộ chuyên trách cấp xã: 412 lượt (trong đó cán bộ không chuyên trách: 204 lượt); đào tạo sơ cấp, trung cấp công an xã: 10 lượt; trung cấp quản lý văn hoá: 70 lượt; trung cấp luật: 19 lượt.

Để nâng cao tinh thần trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan nhà nước, phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm (về biên chế, tổ chức bộ máy và tài chính) của các đơn vị hành chính và sự nghiệp trong tỉnh, cũng như nâng cao tính chủ động trong thực thi công vụ của các cơ quan, đơn vị tạo một bước tiến lớn trong cải cách tài chính công, đến nay các cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh và huyện đã thực hiện theo Nghị định 130/2005/NĐ-CP là 27/27 đơn vị, các đơn vị sự nghiệp theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP là 121/226 đơn vị; đã có 18/27 cơ quan cấp tỉnh, huyện đưa vào áp dụng ISO trong quản lý hành chính của đơn vị mình. Uỷ ban nhân dân tỉnh cũng đã có kế hoạch xây dựng cổng thông tin điện tử (website) cho 5 cơ quan trong năm 2009 và tiến hành xây dựng cho tất cả các cơ quan hành chính từ cấp tỉnh đến huyện, phục vụ cho công tác quản lý nhà nước và thông tin trao đổi giữa các đơn vị trong tỉnh và các tỉnh bạn.

Nhận thức rõ trách nhiệm của Nhà nước đối với công dân, các sở, ngành, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn đều có phòng tiếp dân và bố trí lãnh đạo tiếp dân để giải quyết những khiếu nại của nhân dân; các đơn vị luôn quán triệt với tinh thần, quan điểm “trọng dân, gần dân, giải quyết kịp thời các quyền lợi chính đáng cho nhân dân; kiên quyết xử lý nghiêm những hành vi cửa quyền, hách dịch với dân”. Thông qua công tác tiếp dân các ngành, các cấp đã kịp thời nắm bắt được những tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, tuyên truyền, giải thích, vận động nhân dân thực hiện tốt các chế độ, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Các cấp, các ngành đã quan tâm chỉ đạo, vận động cán bộ công chức và nhân dân thực hiện tốt Luật Khiếu nại, tố cáo. Tổ chức tiếp nhận, xử lý theo dõi, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo chặt chẽ hơn. Quá trình giải quyết đơn thư khiếu nại đã làm tốt công tác xác minh, thu thập chứng cứ, tổ chức đối chứng... Do vậy hầu hết các vụ khiếu nại, tố cáo của nhân dân được giải quyết kịp thời, chính xác, tạo được sự đồng thuận với nhân dân.

Việc thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở xã, phường, thị trấn và Quy chế dân chủ ở các loại hình cơ sở được thực hiện khá đồng bộ, được nhân dân và cán bộ, công chức đồng tình hưởng ứng coi đó là một chủ trương lớn nhằm thể chế hoá phương châm “lấy dân làm gốc” để phát triển đời sống nhân dân và xây dựng chính quyền vững mạnh. Cán bộ, đảng viên các cấp, nhất là ở các xã, phường, thị trấn đã có ý thức tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, quan tâm đến nhân dân hơn, thái độ phục vụ của cán bộ đối với nhân dân có phần hòa nhã và tận tình hơn.

Kết quả thực hiện quy chế dân chủ thể hiện qua các đợt phát động quần chúng đấu tranh với Tin lành “Đề Gar”, bóc gỡ các ổ nhóm phản động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo nhằm chia rẽ mối đoàn kết các dân tộc, làm mất ổn định về an ninh, chính trị. Qua đấu tranh làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch, phản động đã giúp cho cấp uỷ đảng, chính quyền và các đoàn thể ở địa phương những bài học kinh nghiệm quý báu trong công tác vận động quần chúng, gắn kết với việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Các vấn đề về an ninh trật tự ở thôn, buôn ngày càng đi vào nền nếp, nhân dân đã đóng góp ý kiến cùng với chính quyền địa phương, có những biện pháp hữu hiệu, đảm bảo an ninh trật tự ở địa phương, giảm hẳn tệ nạn cờ bạc, rượu chè, trộm cắp vặt và gây rối trật tự công cộng. Qua quy chế thực hiện dân chủ, các Ban do nhân dân ở thôn, buôn bầu ra đã phát huy tác dụng tốt, như: Ban Hoà giải, Ban An ninh, Ban Kiến thiết...

Công tác xoá đói, giảm nghèo được chú trọng đúng mức và coi đây là nhiệm vụ chính trị của các cấp uỷ đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể. Nhiều xã đã xây dựng được quỹ xoá đói giảm nghèo, quỹ tình nghĩa do nhân dân tự nguyện đóng góp, với mức bình quân 50 - 60 triệu đồng để giúp đỡ các hộ nghèo vay vốn làm ăn, góp phần giải quyết những khó khăn đột xuất cho các gia đình thương binh, liệt sỹ, góp tiền cùng với huyện để xây nhà tình nghĩa cho người có công với cách mạng. Trong việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước tại các thôn, buôn, bon luôn được các cấp chính quyền quan tâm chỉ đạo; những quy định trong hương ước, quy ước được nhân dân đồng tình ủng hộ và nêu cao ý thức tự giác chấp hành; thực hiện nếp sống văn hoá, sống có tình làng nghĩa xóm.

Việc bầu cử trực tiếp trưởng thôn được tiến hành một cách công khai, dân chủ, được nhân dân đồng tình ủng hộ và đề cao được ý thức trách nhiệm của những người tham gia ứng cử vào chức danh trưởng thôn, từ đó đã nâng cao được ý thức và trách nhiệm của trưởng thôn để phát huy hết năng lực, kiến thức của mình để phục vụ nhân dân và trở thành chỗ dựa vững chắc của chính quyền cơ sở trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tham gia phát triển sản xuất, nâng cao đời sống của nhân dân và giữ gìn trật tự an ninh, an toàn xã hội trong thôn, buôn, tạo được lòng tin đối với quần chúng nhân dân. Phát huy được quyền làm chủ của nhân dân và tạo động lực, sức sáng tạo trong nhân dân đối với việc xây dựng, củng cố chính quyền. Nhân dân tích cực tham gia quản lý Nhà nước, tham gia kiểm tra, giám sát các hoạt động của Nhà nước, khắc phục một phần tệ quan liêu, tham nhũng, mất dân chủ, xa rời quần chúng nhân dân. Nhiều xã, thị trấn qua việc thực hiện quy chế dân chủ đã niêm yết lịch tiếp dân, công khai các thủ tục hành chính, đặc biệt là trong lĩnh vực nhà ở, đất đai, hộ tịch, hộ khẩu, các loại thuế,... Đội ngũ cán bộ trưởng, phó thôn, buôn sau khi đã được nhân dân tín nhiệm bầu trực tiếp, thực sự đã được nâng cao một bước về chất lượng, đồng thời đã phát huy hết năng lực, kiến thức của mình để trở thành những chỗ dựa vững chắc của chính quyền cơ sở trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Hầu hết các cán bộ chủ chốt, như: Bí thư Đảng uỷ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã được tăng cường từ cán bộ huyện đều về các xã vùng sâu, địa bàn rộng, có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống, trình độ quản lý của cán bộ xã còn hạn chế, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội còn phức tạp. Số cán bộ được tăng cường hầu hết là những cán bộ có năng lực công tác, được đào tạo cơ bản, có kinh nghiệm thực tế, do đó đã giúp được cơ sở cải tiến được lề lối làm việc, nâng cao được hiệu quả quản lý, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, củng cố, hoàn thiện dần bộ máy chính quyền cấp xã để phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng và xây dựng được lòng tin của nhân dân đối với chính quyền cơ sở. Chính vì vậy, trong những năm qua tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở các buôn, bon luôn được ổn định, đồng bào không còn để bị xúi dục, lôi kéo vượt biên, bạo loạn biểu tình. Nhiều buôn, bon đồng bào đã tự giác khai báo các tổ chức phản động và giao nộp nhiều loại vũ khí, như súng tự chế, lựu đạn,... cho chính quyền.

Với quan điểm tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội phải gắn với mục tiêu xoá đói giảm nghèo bền vững; bằng nguồn lực của địa phương và sự hỗ trợ của Trung ương, tỉnh đã tập trung chỉ đạo lồng ghép các chương trình tạo ra nguồn lực tổng hợp xoá đói giảm nghèo; đã chú trọng thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục để giải quyết việc làm, đổi mới phương thức sản xuất, đưa ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Đối với những xã vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, tỉnh đã ưu tiên tập trung nhiều chương trình từ những nguồn vốn 132, 134, 135... để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi công cộng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế và phục vụ an sinh xã hội.

* Ban Dận vận Tỉnh ủy Đắk Nông.

 | Trở Về đầu trang    |



HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP GIỮA BỘ TƯ PHÁP VÀ TRUNG ƯƠNG MẶT TRẬN
VỀ TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CÔNG TÁC HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ

                                                                                 NGUYỄN DUY THẮNG*

Để tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở theo quy định tại Pháp lệnh số 09/1998/PL-UBTVQH10, ngày 25-12-1998 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, thực hiện các giải pháp đề ra tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm thực hiện Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở; ngày 24-4-2009, Bộ Tư pháp và Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã ký kết Chương trình phối hợp thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở, đánh dấu một bước tiến hơn nữa trong công tác phối hợp giữa hai cơ quan nói chung và về công tác hoà giải cơ sở nói riêng.

Chương trình phối hợp này nhằm đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân ở cơ sở về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác hòa giải ở cơ sở; nâng cao hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở trong việc giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân ngay tại cơ sở; xây dựng, củng cố cơ chế phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và ngành Tư pháp từ Trung ương đến cơ sở trong công tác hòa giải ở cơ sở; xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ hòa giải viên ở cơ sở về trình độ chuyên môn và nghiệp vụ hòa giải; gắn hoạt động hòa giải ở cơ sở với việc thực hiện các phong trào, cuộc vận động ở khu dân cư do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động; tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các Tổ hòa giải ở cơ sở trong việc thực hiện nhiệm vụ.

Công tác phối hợp giữa Bộ Tư pháp và Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đòi hỏi phải kịp thời, đồng bộ, chặt chẽ, thống nhất, đúng quy định của pháp luật, nhằm đảm bảo hiệu quả của hoạt động hòa giải ở cơ sở và yêu cầu cả hai cơ quan thường xuyên củng cố, kiện toàn tổ chức của các Tổ hòa giải ở cơ sở, đảm bảo cơ cấu, thành phần, đúng thủ tục theo quy định của pháp luật, đồng thời duy trì và phát huy hiệu quả hoạt động của các Tổ hòa giải ở cơ sở trên phạm vi cả nước.

Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp và Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã chú trọng đến việc bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ và phát huy tính chủ động của cơ quan Tư pháp và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trong việc phối hợp thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở, đồng thời tăng cường sự cộng tác, hỗ trợ của cán bộ chính quyền, các ngành, các cấp ở địa phương đối với công tác hòa giải ở cơ sở.

Một số nội dung phối hợp chủ yếu giữa Bộ Tư pháp và Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong công tác hòa giải ở cơ sở bao gồm:

Phối hợp xây dựng, củng cố, kiện toàn các Tổ hoà giải ở cơ sở:

- Củng cố, kiện toàn về tổ chức của các Tổ hòa giải ở cơ sở: Để kiện toàn về tổ chức của các Tổ hòa giải ở cơ sở, Ủy ban nhân dân cấp xã phối hợp với Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp chỉ đạo Ban Công tác Mặt trận, công chức Tư pháp - Hộ tịch và Tổ trưởng tổ dân phố, Trưởng thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố và các cụm dân cư khác thực hiện một số nội dung công việc sau:

+ Thường xuyên tiến hành rà soát tổ chức của các Tổ hòa giải ở cơ sở để thống kê số lượng Tổ hòa giải hiện có trên địa bàn xã, phường, thị trấn; số lượng tổ viên Tổ hòa giải đủ điều kiện trở thành hòa giải viên; số lượng hòa giải viên cần được bổ sung, thay thế;

+ Ban Công tác Mặt trận lựa chọn, giới thiệu những người có đủ tiêu chuẩn trở thành hòa giải viên theo quy định tại Điều 9 của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở, để công chức Tư pháp - Hộ tịch lập danh sách tổ viên cần bổ sung cho các Tổ hòa giải ở cơ sở;

+ Trưởng thôn phối hợp với Ban Công tác Mặt trận tổ chức các cuộc họp nhân dân hoặc họp chủ hộ trên địa bàn để bầu bổ sung tổ viên Tổ hoà giải ở cơ sở hoặc tổ chức phát phiếu lấy ý kiến chủ hộ về việc bổ sung tổ viên Tổ hòa giải ở cơ sở. Thủ tục bầu tổ viên, tổ trưởng Tổ hòa giải thực hiện theo quy định tại Điều 8 của Nghị định số 160/1999/NĐ-CP, ngày 18-10-1999 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải cơ sở;

+ Công chức Tư pháp - Hộ tịch căn cứ biên bản bầu tổ viên Tổ hoà giải ở cơ sở trong các cuộc họp nhân dân, họp chủ hộ, biên bản kết quả phiếu lấy ý kiến chủ hộ đề xuất Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét, công nhận kết quả bầu tổ viên Tổ hòa giải ở cơ sở.

- Thành lập các Tổ hòa giải ở cơ sở tại những địa bàn chưa có Tổ hòa giải ở cơ sở: Công chức Tư pháp - Hộ tịch chủ động phối hợp với Ban Công tác Mặt trận, Trưởng thôn căn cứ đặc điểm, tình hình cụ thể của cụm dân cư và kết quả cuộc họp nhân dân, kết quả cuộc họp chủ hộ hoặc kết quả phiếu lấy ý kiến chủ hộ đề xuất Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định số lượng các Tổ hòa giải ở cơ sở cần thành lập mới, trên cơ sở đảm bảo số lượng mỗi Tổ hoà giải ở cơ sở có từ 3 tổ viên trở lên.

Lồng ghép hoạt động hòa giải ở cơ sở trong thực hiện các phong trào, cuộc vận động ở cơ sở do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động:

- Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chỉ đạo, hướng dẫn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp thực hiện lồng ghép hòa giải ở cơ sở với các phong trào, cuộc vận động tại cộng đồng dân cư, đặc biệt là cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” nhằm gắn công tác hòa giải ở cơ sở với nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội của địa phương, đưa kết quả thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở thành một tiêu chí trong đánh giá thực hiện cuộc vận động, góp phần động viên, tôn vinh, nhân rộng các mô hình, điển hình về hòa giải ở cơ sở.

- Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã, Ban Công tác Mặt trận trực tiếp thực hiện việc đưa hoạt động hòa giải ở cơ sở thành một hoạt động trong các cuộc vận động, phong trào; tích cực phối hợp với chính quyền vận động nhân dân giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn trong gia đình, khu dân cư bằng biện pháp hòa giải, khuyến khích những thành viên của mình và những cá nhân có uy tín, có chuyên môn và kỹ năng hòa giải tham gia Tổ hòa giải ở cơ sở.

Phối hợp tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động hoà giải ở cơ sở:

- Cơ quan Tư pháp các cấp, công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã phải quan tâm thường xuyên tới hoạt động hòa giải ở cơ sở, phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp phản ánh kịp thời những khó khăn, vướng mắc trong quá trình theo dõi, kiểm tra hoạt động của các Tổ hòa giải ở cơ sở và hòa giải viên tại cộng đồng dân cư để kiến nghị Ủy ban nhân dân cùng cấp có biện pháp giải quyết tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc đó.

Cơ quan Tư pháp các cấp phối hợp với Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp hỗ trợ về văn bản, tài liệu pháp luật cho các Tổ hòa giải ở cơ sở.

- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp ở địa phương xem xét, kiến nghị chính quyền cùng cấp quan tâm, đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác hòa giải tại địa phương về kinh phí hoạt động và cơ sở vật chất khác.

- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã tạo điều kiện thuận lợi cho các thành viên của mình tham gia hoạt động hòa giải ở cơ sở.

Phối hợp biên soạn tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ, tổ chức tập huấn cho đội ngũ hòa giải viên, cán bộ làm công tác hòa giải ở cơ sở về kiến thức pháp luật, chuyên môn, nghiệp vụ hòa giải; tổ chức thi hòa giải viên giỏi; thường xuyên tiến hành sơ kết, tổng kết, kiểm tra, khen thưởng trong công tác hoà giải ở cơ sở:

- Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam biên soạn, phát hành tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ hòa giải ở cơ sở cho hòa giải viên.

- Cơ quan Tư pháp các cấp phối hợp với Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp xây dựng và thực hiện kế hoạch bồi dưỡng nghiệp vụ hàng năm cho đội ngũ hòa giải viên, cán bộ tham gia công tác hòa giải về kiến thức pháp luật và kỹ năng hòa giải. Trong chương trình các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ hòa giải cần bố trí thời gian cần thiết để trao đổi kinh nghiệm về công tác hòa giải giữa các hòa giải viên.

- Cơ quan Tư pháp các cấp chủ trì, phối hợp với Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp định kỳ thực hiện sơ kết, tổng kết, kiểm tra, khen thưởng trong công tác hòa giải ở cơ sở; tổ chức các cuộc thi hòa giải viên giỏi để tôn vinh những tập thể, cá nhân điển hình trong công tác hòa giải ở cơ sở tại địa phương.

Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã trong việc tham gia trực tiếp vào hoạt động hòa giải các mâu thuẫn, tranh chấp tại cơ sở theo quy định của pháp luật:

Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp hướng dẫn việc trực tiếp tham gia hòa giải của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã theo quy định của pháp luật, nhất là trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp về đất đai.

Ủy ban nhân dân cấp xã tạo điều kiện thuận lợi, cung cấp văn bản, tài liệu pháp luật phục vụ việc tham gia hòa giải trực tiếp của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, hướng dẫn các quy định pháp luật có liên quan đến vụ việc hòa giải, thủ tục hòa giải, nhất là trong việc giải quyết các tranh chấp về đất đai.

* Văn phòng Bộ Tư pháp.

 | Trở Về đầu trang    |

 

 



       Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc năm 2009     
     Các điển hình tiêu biểu trong CVĐ TDĐKXDĐSVH ở KDC (2004-2009)
     Đối ngoại nhân dân MTTQ (2004-2009)


    Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc năm 2008

                                   hoan nghênh bạn đọc góp ý cho tạp chí
 
 
 

 
 
Giới thiệu Uỷ ban MTTQ Việt Nam 63 tỉnh, thành phố trong cả nước !
 

 

 

 

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh dự Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc tại Tổ dân phố 13 (Khu tập thể Ba Tầng), phường Nguyễn Trãi, quận Hà Đông, T.P Hà Nội

 

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dự Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc tại thôn Dương Đình, xã Dương Xá, Gia Lâm, Hà Nội.

 

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng dự Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc tại khu dân cư Bồ Dương, xã Hồng Phong, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương

 

Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam Huỳnh Đảm dự Ngày hội Đại đòan kết toàn dân tộc tại xóm Bãi Bệ I.

 
  ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM          
 

   bến nhà Rồng ( TP Hồ Chí Minh )


Khuê các Văn miếu
TP Hà Nội

 

    Dinh Thống nhất

              Mai Châu Hoà Bình


    Biển Hà Tiên       

 
 

|   Giới thiệu  |   Mặt trận Tỉnh Thành  | Tổ chức thành viên |  Hội đồng tư vấn   |   English

 | Trở Về đầu trang    |

Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2008 Trang TTĐT - Cơ quan UBTW MTTQ Việt Nam.
Giấy phép số:111/GP-BC của Bộ Thông tin và Truyền thông • Trưởng ban Biên tập: LÊ BÁ TRÌNH • Phó ban Biên tập: NGUYỄN TUẤN ANH
Địa chỉ: 46 Tràng Thi - Hà Nội • ĐT:04-9287401;  Email:
ubmttqvn@mattran.org.vn