|
|
 |
|
|
TIN MỚI :
thông tin được cập nhật liên tục
| |
|
|
 |
|
|
SỐ
75 (1 - 2010 ) |
|
|
|
|
|
DIỄN ĐÀN ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC |
|
Vai
trò của Mặt trận với việc thực hiện dân chủ, đồng thuận xã hội và
đại đoàn kết toàn dân tộc
Quá
trình gia nhập WTO và những vấn đề đặt ra của vùng đồng bào các dân
tộc thiểu số ở nước ta
Đồng
bào Công giáo Việt Nam luôn gắn bó đồng hành cùng dân tộc, xây dựng
cuộc sống mới "Tốt đời đẹp đạo"
|
|
|
VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN VỚI VIỆC THỰC HIỆN DÂN
CHỦ,
ĐỒNG THUẬN XÃ HỘI VÀ ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC
(Tiếp theo và hết)
PGS-TS. PHAN XUÂN SƠN*
TS. NGUYỄN THỊ LAN**
Phần 2: Mặt trận Tổ quốc trong quá trình dân chủ hoá, xây dựng sự
đồng thuận xã hội và khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Nhằm củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Nghị
quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương (khoá IX) của Đảng
Cộng sản Việt Nam chủ trương “Mở rộng và đa dạng hoá các hình thức
tập hợp nhân dân, nâng cao vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các đoàn thể nhân dân trong việc thực hiện đại đoàn kết toàn
dân tộc”1.
Thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc dựa trên cơ sở đồng thuận xã hội
vừa phù hợp với truyền thống nhân nghĩa, khoan dung của dân tộc, với
tư tưởng nhân ái, bao dung của Hồ Chí Minh, vừa phù hợp với thực
tiễn của đất nước trong giai đoạn hiện nay. Chủ trương xây dựng sự
đồng thuận xã hội thực sự là sự tổng kết kinh nghiệm tập hợp lực
lượng dân tộc trong quá khứ và truyền thống đại đoàn kết dân tộc
trong những năm vừa qua.
Xã hội Việt Nam trong nền kinh tế thị trường phát triển theo định
hướng xã hội chủ nghĩa xuất hiện nhiều giai cấp, tầng lớp mới với
những lợi ích khác nhau, muốn đoàn kết, không còn con đường nào khác
là dựa trên những mục tiêu cơ bản, trên cơ sở những điểm tương đồng.
Đó là đất nước độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Những sự khác biệt
không ảnh hưởng tới mục tiêu chung được chấp nhận và xóa bỏ dần
những mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần,
giai cấp, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau cùng hướng tới
tương lai. Trên cơ sở những điểm tương đồng, mọi giai tầng có thể
gắn kết với nhau thành một khối thống nhất - đó chính là khối đại
đoàn kết toàn dân tộc. Trong khối đại đoàn kết đó, mỗi cá nhân, mỗi
giai tầng sẽ đóng góp trí tuệ, của cải để thực hiện mục tiêu phát
triển đất nước. Đây là một sự nghiệp cực kỳ khó khăn. Đúng như Hồ
Chí Minh đã chỉ rõ: “Trong việc phá hoại chống kẻ thù đòi độc lập
thì dễ dàng kéo cả toàn dân. Trong việc kiến thiết thì khó kéo hơn,
vì nó đụng chạm đến quyền lợi riêng của một đôi giai từng trong
nước”2. Vì thế, chỉ trên cơ sở đồng thuận xã hội mới có thể xây dựng
được khối đại đoàn kết dân tộc một cách bền vững.
Hiện nay, trong xã hội Việt Nam, giữa các nhóm xã hội, các giai cấp,
tầng lớp chắc chắn còn tồn tại nhiều khác biệt, nhưng đã là người
Việt Nam, ai cũng có mong muốn xây dựng một nước Việt Nam độc lập,
hoà bình, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh. Đây là điểm tương đồng căn bản, là cơ
sở cho đồng thuận xã hội ở nước ta.
Với tinh thần và nguyên tắc đồng thuận xã hội, chúng ta không yêu
cầu sự nhất trí tuyệt đối về chính trị và tinh thần mà sẵn sàng chia
sẻ, hợp tác, đối tác vì lợi ích của các bên trên cơ sở tôn trọng
những điểm tương đồng. Những sai lầm của quá khứ được gác lại, những
khác biệt không tổn hại đến lợi ích chung được chấp nhận. Chủ trương
này giúp Đảng tập hợp quanh mình một lực lượng rộng lớn những người
ngoài Đảng, những doanh nhân, đồng bào theo tôn giáo, đồng bào các
dân tộc thiểu số, đồng bào định cư ở nước ngoài và các lực lượng xã
hội khác, kể cả trong và ngoài nước.
Chủ trương xây dựng sự đồng thuận xã hội của Đảng phù hợp với tình
hình thực tiễn của đất nước trong giai đoạn hiện nay, hơn nữa là yêu
cầu mang tính khách quan. Thực tế cuộc sống, sự phát triển đất nước,
tương lai của dân tộc đòi hỏi như vậy. Đất nước còn nhiều khó khăn,
còn nhiều thách thức và nguy cơ, muốn phát triển tất yếu phải dựa
vào sức mạnh của cả dân tộc. Trong bối cảnh hiện nay, nếu chúng ta
cứ giữ nguyên nhận thức biệt phái của những thập kỷ trước về quá khứ,
về quan niệm thù bạn thì càng tự mình làm suy yếu mọi nguồn lực của
đất nước.
Để đạt được đồng thuận xã hội ở mức độ nhất định, vai trò của Mặt
trận Tổ quốc rất quan trọng. Chính Mặt trận Tổ quốc với những chức
năng của mình, như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành
viên, cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và xã hội, cơ sở chính trị của
chính quyền nhân dân... là nhân tố quan trọng để xây dựng sự đồng
thuận xã hội và đoàn kết toàn dân tộc.
Ở nước ta, Mặt trận Tổ quốc với tư cách là liên minh chính trị, một
liên hiệp xã hội rộng lớn nhất, gồm Đảng Cộng sản Việt Nam, các tổ
chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp, từ
thiện nhân đạo, các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp,
các dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài, hoạt
động theo nguyên tắc hiệp thương dân chủ, thống nhất và phối hợp
hành động... là tổ chức có nhiều ưu thế để xây dựng sự đồng thuận xã
hội, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Để tạo lập sự đồng thuận xã hội, công tác tuyên truyền, vận động có
vai trò rất quan trọng; Mặt trận đã chú trọng hoạt động này. Mặt
trận là tổ chức tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân, Mặt trận góp
phần làm cho nhân dân ý thức về quyền và lợi ích chính đáng của nhân
dân, thấu hiểu về đường lối, chính sách, pháp luật để thực hiện.
Thông qua thực hiện công tác tuyên truyền, Mặt trận nâng cao nhận
thức cho nhân dân không những về vấn đề liên quan đến đời sống kinh
tế - xã hội của đất nước nói chung và của mỗi người dân nói riêng,
mà còn góp phần xoá bỏ những mặc cảm, định kiến, những thói quen của
mô hình kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp; hình thành những giá
trị mới về lợi ích xã hội, lợi ích tập thể, lợi ích cá nhân, giải
toả những xung đột xã hội, những bất đồng trong nhân dân.
Từ ngày đất nước thống nhất, Mặt trận đã góp phần rất tích cực giải
quyết các xung đột, các điểm nóng, như: tác động với Đảng và Nhà
nước để tạo điều kiện cho một số người Việt Nam ở nước ngoài có quá
khứ và lịch sử chính trị khác nhau được về thăm đất nước; trực tiếp
gặp gỡ, đối thoại với Việt kiều nhân dịp họ về thăm quê hương. Đặc
biệt, Mặt trận tham gia giám sát, phản biện xã hội đối với việc đề
ra chủ trương, chính sách của Đảng, góp phần làm cho chủ trương,
chính sách phù hợp với lợi ích, nguyện vọng của nhân dân. Từ đó,
việc thực thi có hiệu quả hơn.
Những hoạt động nói trên của Mặt trận góp phần tích cực để các chủ
trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đề ra trong quá
trình đổi mới ngày càng phản ánh được lợi ích đa dạng của các tầng
lớp nhân dân, tạo nên sự đồng thuận xã hội, góp phần ổn định chính
trị - xã hội, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thông qua các tổ chức thành viên, Mặt trận đã chủ trì tổ chức các
phong trào thi đua lao động sản xuất, kinh doanh, góp phần phát huy
mọi tiềm lực của các tầng lớp nhân dân, các thành phần kinh tế, phát
triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng, xoá đói giảm nghèo,
khuyến khích làm giàu hợp pháp, thực hiện kế hoạch hoá gia đình,
nâng cao dân trí và mức sống của các tầng lớp nhân dân, bài trừ tệ
nạn, giữ vững an ninh chính trị và trật tự - an toàn xã hội...
Một trong những nguyên nhân gây nên sự bất đồng giữa nhân dân với
Đảng, chính quyền ở một số địa phương là do tình trạng thiếu dân chủ
trong quá trình lãnh đạo, quản lý, trước hết là của chính quyền cơ
sở. Việc ban hành Chỉ thị 30/CT-TW của Bộ Chính trị và các Quy chế
thực hiện dân chủ ở cơ sở, nay là Pháp lệnh dân chủ ở xã, phường,
thị trấn là nhằm khắc phục tình trạng này. Mặt trận Tổ quốc đã góp
phần quan trọng trong việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở, tạo sự
chuyển biến quan trọng ở cơ sở, góp phần xây dựng Đảng, chính quyền
vững mạnh, tăng cường sự đồng thuận xã hội và đoàn kết trong nhân
dân.
Mặt trận còn lồng ghép việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở vào
các chương trình hoạt động, các phong trào, theo hướng phát huy
quyền làm chủ của nhân dân, vận động nhân dân đóng góp xây dựng cơ
sở hạ tầng, xây dựng cộng đồng dân cư tự quản, xây dựng hương ước,
quy ước, xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư.
Thông qua những hoạt động thực hiện Quy chế dân chủ, Mặt trận góp
phần quan trọng để nhân dân được quyết định và tham gia bàn bạc
những vấn đề liên quan đến quyền lợi của mình. Từ đó giúp nhân dân
nâng cao ý thức về quyền làm chủ, tự giác tham gia mọi hoạt động,
góp phần xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Thực hiện Quy chế dân
chủ đã làm cho sự đồng tình ủng hộ của nhân dân với Đảng, chính
quyền ngày càng cao, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân
ngày càng vững mạnh, thực sự là động lực để phát triển đất nước.
Đồng thuận xã hội và đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố khi mọi
đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước
phản ánh được quyền, lợi ích và ý chí của nhân dân, phù hợp với xu
thế phát triển chung của nhân loại. Để có được điều đó, cần có sự
giám sát, phản biện xã hội mà vai trò của Mặt trận Tổ quốc là đặc
biệt quan trọng. Hiện nay, giám sát, phản biện xã hội đã được coi là
chức năng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Những kết quả giám sát,
phản biện xã hội với nhiều hình thức khác nhau của Mặt trận Tổ quốc
đã góp phần tăng cường sự đồng thuận xã hội và đoàn kết toàn dân tộc.
Ở nước ta, tham nhũng không chỉ là thách thức đối với sự vững mạnh
của hệ thống chính trị, mà còn là một thách thức đối với sự phát
triển bền vững của đất nước, gây chia rẽ xã hội, đe doạ sự đồng
thuận xã hội, khối đại đoàn kết toàn dân tộc và những thành quả dân
chủ. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khoá IX) và Luật Phòng,
chống tham nhũng, Mặt trận ban hành Nghị quyết số 03/NQ-MTTW về Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam tham gia thực hiện Luật Phòng, chống tham
nhũng và tổ chức tuyên truyền luật trong các tầng lớp nhân dân. Mặt
trận kiên quyết bảo vệ và kiến nghị Nhà nước có cơ chế bảo vệ những
người dũng cảm tố cáo, phát hiện những hành vi tham nhũng, đồng thời
có hình thức khen thưởng xứng đáng đối với những người có hành động
dũng cảm phát hiện, tố cáo chính xác những hành vi tham nhũng, động
viên khuyến khích mọi người dân tham gia phòng, chống tham nhũng.
Mặt trận Tổ quốc tham gia công tác hoà giải và giải quyết khiếu nại,
tố cáo, góp phần hạn chế những mâu thuẫn, bất đồng trong nội bộ nhân
dân, giữa nhân dân với chính quyền.
Công tác hoà giải ở cơ sở giữ vai trò rất quan trọng trong việc hạn
chế sự bất đồng, xung đột trong nhân dân. Việc hoà giải ở cơ sở do
tổ hoà giải, trong đó có thành viên của Ban Công tác Mặt trận tham
gia, tiến hành.
Thực hiện tốt công tác hoà giải góp phần quan trọng trong việc xây
dựng tình đoàn kết xóm giềng, làm cho nhân dân am hiểu pháp luật hơn,
thông cảm, hiểu nhau hơn, xoá bỏ những mặc cảm, hiềm khích, hận thù,
góp phần giữ gìn an ninh trật tự, hạn chế được đơn thư khiếu kiện
vượt cấp, ngăn chặn được các tình huống phức tạp có thể xảy ra.
Thông qua hoạt động hoà giải, số vụ việc phải đưa ra cơ quan nhà
nước để giải quyết giảm đáng kể, đơn thư khiếu nại, tố cáo và điểm
nóng được hạn chế, góp phần giảm bớt lãng phí về thời gian, công sức,
tiền của của nhân dân. Hoà giải cũng là hình thức thích hợp để giải
quyết mâu thuẫn, bất đồng. Hình thức này mang tính giáo dục con
người về tình nhân ái cộng đồng. Mặt trận tham gia tích cực trong
hoạt động này chính là góp phần xây dựng sự đồng thuận xã hội và
thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc.
Những thành công trong hoạt động của Mặt trận được ghi nhận trong
Nghị quyết Đại hội X của Đảng: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong việc tập hợp, vận
động, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân; đại diện cho quyền và
lợi ích hợp pháp của nhân dân, đưa các chủ trương, chính sách của
Đảng, Nhà nước, các chương trình kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh
quốc phòng thành hoạt động thực tiễn sinh động trong cuộc sống, góp
phần xây dựng sự đồng thuận trong xã hội”3.
_______________
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành
Trung ương khoá IX, Nxb CTQG, H, 2003, tr.23.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2004, t.4, tr.20.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành
Trung ương khoá X, Nxb CTQG, H, 2006, tr.124.
* Viện Chính trị học, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ
Chí Minh.
** Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Nghệ An.
| Trở Về đầu trang
| |
|
|
QUÁ TRÌNH GIA NHẬP WTO VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
CỦA VÙNG ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở NƯỚC TA
TÔ VĨ*
Việt
Nam đang trên đường chủ động hội nhập quốc tế và đã đạt được những
kết quả đáng ghi nhận trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế
- xã hội trên phạm vi cả nước nói chung, vùng đồng bào các dân tộc
thiểu số nói riêng. Sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta
chủ yếu là sản xuất nông nghiệp. Trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số nước ta những năm qua đã
có những biến đổi sâu sắc, đạt được những thành tựu trên các mặt,
như: thu hút các nguồn vốn đầu tư, thị trường tiêu thụ nông sản được
mở rộng, ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất. Đặc
biệt, là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp. Cơ cấu lao
động diễn ra mạnh mẽ theo hướng tích cực, đã tạo điều kiện cho nông
dân chủ động tiếp cận thị trường, nắm bắt cơ hội mới để khai thác,
phát huy mọi nguồn lực góp phần vào tốc độ tăng trưởng kinh tế của
đất nước.
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là khi Việt Nam trở thành
thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) càng có những ảnh
hưởng, tác động tích cực đến vùng đồng bào các dân tộc thiểu số.
Những ảnh hưởng tích cực:
Thứ nhất, nguồn lực cho phát triển kinh tế ở vùng đồng bào dân tộc
thiểu số được tăng cường. Bởi vì, khi bước vào nền kinh tế thị
trường, hội nhập với khu vực và quốc tế, vùng đồng bào dân tộc thiểu
số sinh sống là vùng có điểm xuất phát thấp, khan hiếm vốn đầu tư,
trình độ khoa học và công nghệ thấp và lạc hậu; vật tư, hàng hoá cần
thiết cho sản xuất, đời sống của nhân dân quá thiếu thốn... việc hội
nhập kinh tế quốc tế đã tác động tích cực đến tăng nguồn lực cho
phát triển nông nghiệp, như:
- Vốn đầu tư trực tiếp thông qua các dự án nước ngoài vào vùng đồng
bào dân tộc thiểu số ngày càng tăng, đặc biệt là thu hút vào các
ngành sản xuất chế biến, như: chè, rau quả, trồng hoa, nuôi trồng
thuỷ sản,... nhiều dự án FDI đầu tư vào phát triển sản xuất ở vùng
miền núi đã có tác dụng tích cực cho phát triển kinh tế - xã hội.
Đồng thời, một phần vốn ODA sử dụng cho phát triển kết cấu hạ tầng,
đào tạo nguồn nhân lực, tăng cường thể chế, xoá đói giảm nghèo đã có
tác động tích cực cũng làm tăng vốn đầu tư cho vùng đồng bào dân tộc
thiểu số.
- Quá trình hội nhập đã tạo điều kiện cho việc chủ động nhập khẩu
nhiều loại vật tư phục vụ cho phát triển nông nghiệp ở vùng đồng bào
dân tộc, trong đó có nhiều mặt hàng rất cần thiết cho phát triển sản
xuất, như: phân bón, thuốc trừ sâu, giống mới và các loại vật tư
chiến lược, thiết yếu: xăng dầu, sắt thép, máy kéo, máy bơm, máy cơ
khí...
- Hạ tầng cơ sở được quan tâm đầu tư đúng mức để phục vụ cho phát
triển kinh tế - xã hội: vốn đầu tư nước ngoài (vốn FDI và ODA) được
dành ưu tiên, chiếm tỷ trọng lớn cho phát triển giao thông, bưu
chính viễn thông và hệ thống kết cấu hạ tầng khác ở vùng đồng bào
dân tộc thiểu số, tạo ra sự thay đổi lớn, tác động tích cực đến phát
triển kinh tế. Đầu những năm đổi mới, đường giao thông đến trung tâm
xã hoặc cụm xã rất ít, thì đến nay đã có hơn 86% số xã có đường ô tô
đến trung tâm xã; điện lưới, mạng điện thoại, sóng phát thanh,
truyền hình, mạng internet phát triển đã không còn xa lạ đối với một
số vùng đồng bào các dân tộc. Các nguồn vốn đầu tư nước ngoài đã góp
phần nâng cao kết cấu hạ tầng, tác động tích cực đến sản xuất và
giao lưu hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, trở thành những vùng
sản xuất hàng nông sản xuất khẩu có giá trị kinh tế cao, như: chè
xuất khẩu ở vùng miền núi phía Bắc, cà phê, tiêu, điều, cao su ở
vùng miền Trung và Tây Nguyên; thuỷ sản và lúa gạo cho xuất khẩu ở
vùng Tây Nam bộ...
- Trình độ khoa học và công nghệ cho phát triển kinh tế vùng đồng
bào dân tộc thiểu số ngày càng được nâng lên. Biểu hiện rõ nhất là,
thông qua việc nhập khẩu các loại giống cây trồng, vật nuôi, công
nghệ hiện đại, thiết bị tiên tiến, cách thức quản lý kinh tế... Trên
thực tế, các giống ngô lai tạo từ nước ngoài hay lai tạo trong nước
đã được trồng phổ biến ở vùng miền núi phía Bắc, giống sắn năng suất
cao từ Thái Lan đã được trồng phổ biến ở các tỉnh miền Đông Nam bộ
đều cho sản lượng gấp 2-3 lần so với giống cũ trước đây. Trong ngành
chăn nuôi gia súc, việc nhập khẩu giống lợn Landrát, Yorsai, bò thịt,
bò sữa từ Đan Mạch, Hoa Kỳ, Ôxtrâylia... đã góp phần tăng năng suất
và cải thiện chất lượng sản phẩm. Các giống gia cầm nhập khẩu như gà
Lương Phượng, vịt Bắc Kinh, đà điểu... đã được nông dân đón nhận,
nhất là hình thành các trang trại chăn nuôi thâm canh theo hướng
công nghiệp. Một số phương pháp tạo giống kỹ thuật cao từ kinh
nghiệm nước ngoài được áp dụng vào Việt Nam có kết quả, như: công
nghệ gen, nuôi cấy mô ghép đỉnh sinh trưởng trong nhân giống cây
trồng đã tạo cho đồng bào có cơ hội áp dụng kiến thức khoa học vào
sản xuất, chăn nuôi... Hiện nay, nhiều tỉnh miền núi đã nuôi trồng
phổ biến các loại cây trồng, vật nuôi nhập khẩu, như: lợn, bò, chè,
măng bát độ, sắn hoặc cỏ Pricam, cỏ Piri, cỏ Stylô... góp phần đáng
kể trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân
tộc thiểu số.
Thứ hai, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông, lâm nghiệp theo
hướng sản xuất hàng hoá. Hội nhập, mở cửa là nhân tố quan trọng thúc
đẩy chuyển dịch cơ cấu trong nông, lâm nghiệp ở vùng đồng bào dân
tộc thiểu số theo hướng sản xuất hàng hoá lớn; trước kia, tại các
vùng này, sản xuất mang tính tự túc, tự cấp, nay đã sản xuất theo
hướng sản xuất hàng hoá, với tỷ trọng xuất khẩu lớn. Tiêu biểu như,
sau khi nước ta gia nhập WTO, thì sản luợng cà phê tăng 40,8 lần; mủ
cao su khô tăng 9,4 lần; chè búp tươi tăng 4 lần; hồ tiêu tăng 21,4
lần; sản lượng lương thực có hạt tăng 2,4 lần; đặc biệt, việc nuôi
trồng thuỷ sản xuất khẩu có tốc độ tăng trưởng nhanh chóng. Nhờ xuất
khẩu thuỷ sản với số lượng lớn, nên đã chuyển một phần diện tích
trồng lúa hiệu quả thấp sang nuôi trồng thuỷ sản có hiệu quả cao hơn,
làm tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước, góp phần quan trọng trong
chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông nghiệp, nông thôn. Đến nay,
các ngành xuất khẩu chủ lực trong nông nghiệp, như cà phê, cao su,
hồ tiêu, điều, thuỷ sản không chỉ góp phần chuyển một phần lao động
sang các ngành nông nghiệp phi lương thực mà còn tạo thêm hàng triệu
việc làm cho công nghiệp chế biến, dịch vụ, thương mại liên quan đến
hoạt động xuất khẩu nông sản, hàng triệu lao động có việc làm mới ổn
định. Ngoài ra có hàng trăm ngàn lao động tập trung để thu mua, chế
biến, xuất khẩu nông sản. Ở tỉnh Bình Dương, các tỉnh thuộc vùng Tây
Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long đã hình thành những cụm công
nghiệp.
Thứ ba, việc hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo điều kiện cho thị
trường xuất khẩu nông sản phát triển toàn diện, như: khách hàng được
mở rộng, thị trường mới tăng nhanh, xuất khẩu đến trên 80 quốc gia
và vùng lãnh thổ trên thế giới. Trong năm 2007, kim ngạch xuất khẩu
gạo đạt 1,4 tỷ USD; cà phê đạt 1,7 tỷ USD; cao su đạt 1,4 tỷ USD;
thuỷ sản hơn 3,7 tỷ USD. Đến nay, đã có hàng trăm doanh nghiệp chế
biến sản phẩm có chất lượng đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh, đảm bảo
cho những tiêu chuẩn khắt khe của thị trường thế giới.
Việc hội nhập kinh tế quốc tế còn góp phần đổi mới hệ thống luật
pháp, nhiều chính sách được ban hành và cách thức chỉ đạo của nhà
nước đối với phát triển nền nông nghiệp hàng hoá, nâng cao trình độ
kinh doanh của các đơn vị sản xuất nông nghiệp và công nghiệp, dịch
vụ có liên quan đều có đổi mới.
Ảnh hưởng tiêu cực:
Thứ nhất, sự biến đổi cơ cấu sản xuất còn tự phát, thiếu ổn định,
dẫn đến gia tăng rủi ro. Các vùng dân tộc thiểu số hiện nay, chủ yếu
là sản xuất nông nghiệp, yếu tố rủi ro cao không chỉ do thiên tai mà
còn do sự biến động thường xuyên của thị trường quốc tế và trong
nước. Từ đó, gây nên tình trạng sản xuất chạy sau thị trường, tổn
thất lớn cho người sản xuất và cả người chế biến, xuất khẩu.
Thứ hai, xuất hiện sự chênh lệch về đầu tư và trình độ phát triển
giữa các ngành nghề, giữa các vùng và nhóm dân cư, phân hoá giàu
nghèo có chiều hướng gia tăng. Hiện nay, việc sản xuất hàng hoá,
nhất là những mặt hàng chủ lực tham gia xuất khẩu, phân bổ không đều,
như: gạo phục vụ cho xuất khẩu tập trung ở đồng bằng sông Cửu Long;
cà phê chủ yếu ở Tây Nguyên; cao su ở Đông Nam bộ và một số tỉnh Tây
Nguyên; điều ở Bình Dương, Bình Phước và một số tỉnh Nam Trung bộ;
hồ tiêu ở Đông Nam bộ, chè ở một số tỉnh trung du, miền núi phía Bắc
và Lâm Đồng. Năm 2007, cả nước sản xuất được 35,789 triệu tấn thóc
thì đồng bằng sông Cửu Long sản xuất 19,234 triệu tấn và chiếm trên
90% lượng gạo xuất khẩu của cả nước. Diện tích mặt nước nuôi trồng
thuỷ sản cả nước là 959,9 ngàn ha thì riêng ở đồng bằng sông Cửu
Long là 685,9 ngàn ha. Qui mô và trình độ sản xuất hàng hoá, nhất là
xuất khẩu, còn có sự chênh lệch lớn giữa các vùng, kéo theo phân bố
công nghiệp chế biến, các hoạt động thu mua, dịch vụ xuất khẩu cũng
tập trung vào một số vùng. Từ đó tạo ra khoảng cách chênh lệch lớn
không chỉ về thu nhập, đời sống mà cả tư duy, cách kinh doanh giữa
các vùng, làm tăng khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng.
Thứ ba, hiện nay, nhiều hàng hoá nông sản được nhập khẩu với giá rẻ,
đã gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp, tình trạng buôn lậu còn
dẫn đến thất thu thuế, không kiểm soát được chất lượng, tạo nguy cơ
lây lan dịch bệnh cho cây trồng vật nuôi và gây hại cho sức khoẻ của
con người, làm ảnh hưởng đến qui mô phát triển một số ngành nông
nghiệp, nhất là người nông dân ở các vùng dân tộc thiểu số.
Những vấn đề đặt ra:
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực bằng con đường đào tạo và tạo
thêm việc làm mới cho đồng bào vùng dân tộc thiểu số là rất quan
trọng. Đây là một trong những giải pháp vừa cấp bách, vừa phải giải
quyết trong thời gian dài. Vì vậy, nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực không chỉ là động lực mà còn là mục tiêu của phát triển nông
nghiệp, nông thôn. Chất lượng nguồn lực nông thôn hiện nay quá thấp
là nguyên nhân cơ bản cản trở người nông dân tự tạo việc làm tại chỗ
ở quê hương, đồng thời lại là nhân tố cản trở lao động nông thôn tìm
việc làm trên thị trường lao động xã hội với yêu cầu cạnh tranh gay
gắt. Chất lượng nguồn nhân lực thấp, chuyển dịch lao động nông
nghiệp sang phi nông nghiệp khó khăn cũng đang là nguyên nhân cơ bản
cản trở tập trung đất đai để hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Sự
yếu kém của nguồn nhân lực ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số thể hiện
ở nhiều khía cạnh: Trình độ văn hoá hạn chế, chuyên môn, năng lực
kinh doanh, tính năng động xã hội, ý thức cộng đồng vẫn còn thấp.
Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tạo việc làm cho dân cư
nông thôn vùng dân tộc thiểu số, các chính sách của nhà nước nên
định hướng ưu tiên và thực hiện những vấn đề cụ thể sau:
1. Tiếp tục nâng cao chất lượng kết cấu hạ tầng và hỗ trợ tài chính,
khuyến khích hình thành các doanh nghiệp phi nông nghiệp ở vùng dân
tộc thiểu số. Hướng ưu tiên phát triển các doanh nghiệp theo hai
tiêu chí cơ bản: thứ nhất, sản xuất sản phẩm thị trường có nhu cầu
thực sự. Thứ hai, thu hút được nhiều lao động tại chỗ và trong vùng,
đội ngũ người lao động có việc làm tăng thì tệ nạn xã hội sẽ giảm
hẳn.
2. Quan tâm đến chính sách tài chính, chính sách thuế, đặc biệt ưu
tiên cho những hộ nghèo, hộ thiếu việc làm, cho các doanh nghiệp
thuộc mọi thành phần kinh tế sẽ thực sự là những tác nhân quan trọng
tham gia giải quyết việc làm. Theo hướng này, việc Nhà nước có những
chính sách để hình thành các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động,
phát triển tiểu thủ công nghiệp và làng nghề... cần được coi trọng.
Việc khuyến khích các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế kinh
doanh phi nông nghiệp ở vùng dân tộc thiểu số phải được coi là giải
pháp vừa có tác dụng chuyển dịch cơ cấu lao động vừa thúc đẩy nông
thôn phát triển bền vững.
3. Ở những vùng bảo đảm được an ninh lương thực, cần hướng dẫn và hỗ
trợ dân cư chuyển sang thực hiện an ninh dinh dưỡng, nhằm nhanh
chóng cải thiện thể chất nguồn nhân lực nông thôn. Việc vệ sinh môi
trường nông thôn, làm chuồng gia súc, gia cầm xa nơi ở, nhà vệ sinh
cải tiến, tạo thói quen sinh hoạt hợp vệ sinh cần được quan tâm
hướng dẫn thực hiện. Ngoài ra cần có những biện pháp thích hợp để
nhanh chóng thay đổi tâm lý, thói quen cũ, lạc hậu của đồng bào, tạo
lập sự liên kết kinh tế giữa các cấp hội nông dân nhằm đẩy mạnh phát
triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân.
* Phó Tổng Biên tập Tạp chí Mặt trận.
| Trở Về đầu trang
| |
|
|
ĐỒNG BÀO CÔNG GIÁO VIỆT NAM LUÔN GẮN BÓ ĐỒNG HÀNH CÙNG DÂN TỘC,
XÂY DỰNG CUỘC SỐNG MỚI “TỐT ĐỜI ĐẸP ĐẠO”
Linh mục DƯƠNG PHÚ OANH*
Đạo
Công giáo là một trong những tôn giáo lớn ở Việt Nam được truyền vào
từ thế kỷ thứ XVI, với số tín hữu hiện nay chiếm khoảng 7% dân số
trong cả nước. Trước khi trở thành một tín hữu Công giáo, họ đã là
một con dân đất Việt với đầy đủ những phẩm chất cao đẹp, như: truyền
thống đoàn kết, lòng yêu nước nồng nàn, sức mạnh quật cường chống
giặc ngoại xâm, tinh thần tương thân tương ái cũng như đạo hiếu uống
nước nhớ nguồn...
Tinh thần Phúc âm của đạo Công giáo hòa quện vào tinh thần dân tộc
nơi người Công giáo Việt Nam, đã giúp người tín hữu trở thành những
công dân gương mẫu như Huấn từ của Đức Giáo hoàng Bênêdictô XVI
“Người tín hữu tốt là người công dân tốt”. Nêu cao truyền thống
“Sống Phúc âm trong lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào”,
trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước
cũng như trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước hiện nay, người
Công giáo Việt Nam có đóng góp to lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc.
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, khi đất nước còn trong cơn nguy biến,
nhiều linh mục như Nguyễn Văn Tường, Đậu Quang Lĩnh, Nguyễn Thần
Đồng đã tham gia các tổ chức yêu nước chống Pháp của Phan Bội Châu
và đã bị bắt đày ra Côn Đảo, có người đã chết trong nhà tù của bọn
đế quốc.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đã thổi bùng lên ngọn lửa
yêu nước trong cộng đồng Công giáo, thành một cao trào sâu rộng.
Hàng chục ngàn đồng bào Công giáo ở Vinh, Huế, Thái Bình đã xuống
đường tuần hành ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh. Cả 4 Giám mục người
Việt Nam lúc đó đã cùng ký tên vào Bức điện văn gửi Tòa thánh và
Ki-tô hữu toàn thế giới yêu cầu ủng hộ nền độc lập của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa, đồng thời bày tỏ quyết tâm bảo vệ đất nước đến
cùng. Các giám mục, linh mục và giáo dân ở Vinh, Hà Tĩnh, Quảng Bình
đã gửi thư lên Chủ tịch Hồ Chí Minh cam kết “Dù phải hy sinh xương
máu để kiến thiết nước nhà tự do, hạnh phúc hoàn toàn, thì chúng tôi
cũng sẵn sàng không ngần ngại”. Nhiều linh mục, giáo dân đã ra gánh
vác những trọng trách trong chính quyền nhân dân ngay khi chính
quyền mới được thành lập, như: Linh mục Phạm Bá Trực tham gia làm
Phó Trưởng ban Thường trực Quốc hội, ông Vũ Đình Hòe làm Bộ trưởng
Bộ Giáo dục, bác sĩ Vũ Đình Tụng làm Bộ trưởng Bộ Y tế, ông Nguyễn
Mạnh Hà làm Bộ trưởng Bộ Kinh tế, ông Ngô Tử Hạ là Cố vấn Chính phủ...
Giám mục Hồ Ngọc Cẩn (Giáo phận Bùi Chu) trong Tuần lễ vàng đã ủng
hộ Chính phủ kháng chiến của Cụ Hồ cả dây chuyền vàng. Trong kháng
chiến chống Pháp, nhiều linh mục, tu sĩ, giáo dân đã vào bưng biền
tham gia kháng chiến và lập ra Hội Công giáo kháng chiến Nam Bộ. Có
gia đình cả nhà gồm 3 linh mục, 1 nữ tu đều tham gia kháng chiến,
như gia đình linh mục Nguyễn Bá Luật. Tại các khu vực khác cũng có
các tổ chức kháng chiến của người Công giáo, như: Ủy ban Liên lạc
khu Tả Ngạn, Hội Công giáo kháng chiến khu Việt Bắc... Các linh mục
Vũ Xuân Kỷ, Hồ Thành Biên, Nguyễn Bá Luật, Lương Minh Ký, Trần Quang
Nghiêm,... đã quy tụ những tổ chức trên và lập ra tổ chức “Ủy ban
liên lạc những người Công giáo Việt Nam yêu Tổ quốc, yêu hòa bình”,
tiền thân của “Ủy ban đoàn kết Công giáo Việt Nam” ngày nay.
Trong sự nghiệp xây dựng, đổi mới đất nước, được sự hướng dẫn của
các Giám mục Việt Nam qua Thư chung năm 1980, người Công giáo càng
thêm vững tin vào con đường đồng hành với dân tộc mà mình đã chọn
lựa, “quyết tâm gắn bó với vận mạng quê hương, đồng hành với dân tộc,
phục vụ hạnh phúc đồng bào”, thi đua lao động sản xuất, xây dựng và
bảo vệ đất nước. Cụ thể, các giáo xứ đã mở được nhiều lớp học tình
thương dành cho trẻ em nghèo thất học. Bà con giáo dân đã đóng góp
hàng vạn ngày công, ủng hộ hàng trăm triệu đồng vào việc sửa chữa,
nâng cấp, xây mới các cơ sở trường lớp. Nhiều Đức Giám mục trong các
giáo phận, các vị linh mục, nam nữ tu sĩ trong các cơ sở dòng tu đã
trực tiếp tham gia, đóng góp công sức, vận động giáo dân và ủng hộ
tiền bạc trong việc đầu tư cơ sở vật chất phục vụ công tác giáo dục.
Nhiều cơ sở giáo dục và các trường lớp mầm non do đồng bào Công giáo
đảm trách luôn được đánh giá là những đơn vị dạy và học có chất
lượng, đạt kết quả tốt. Điển hình là các trường Khuyết tật tình
thương Mỹ Lâm (tỉnh Kiên Giang), trường Mẫu giáo Măng Non (thành phố
Đà Nẵng), trường Dân lập Hùng Vương Mỹ Tho (tỉnh Tiền Giang)...
trường Mầm non tư thục Sao Mai (tỉnh Bình Định) do các nữ tu phụ
trách, đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo tặng bằng khen. Nhiều xứ, họ
đạo trong các giáo phận trên cả nước đã thành lập “Quỹ Khuyến học”,
tổ chức các hoạt động phong phú, kịp thời hỗ trợ các cháu nghèo vươn
lên, kịp thời khen thưởng và động viên các cháu có nhiều thành tích
trong học tập và rèn luyện.
Nhiều địa phương, bà con giáo dân đã có các hoạt động từ thiện bác
ái phong phú, thiết thực ủng hộ đồng bào bị thiên tai, trợ cấp các
bệnh nhân nghèo, trẻ mồ côi, người già cô đơn không nơi nương tựa.
Với tinh thần “Yêu thương và phục vụ”, nhiều xứ, họ đạo trên địa bàn
cả nước đã xây dựng “Quỹ tình thương”, nhiều ngôi nhà tình thương
được trao tặng cho người có hoàn cảnh khó khăn. Phong trào “Lon gạo
tình thương”, “Nồi cháo không bao giờ cạn” nhằm giúp bệnh nhân nghèo
tại các bệnh viện được duy trì đều đặn ở nhiều địa phương. Các phòng
khám nhân đạo từ thiện, các đợt tổ chức khám chữa bệnh, phát thuốc
miễn phí cho người nghèo, những người ở vùng sâu, vùng xa luôn là
những hoạt động sôi nổi ở nhiều xứ họ. Đặc biệt là những tấm gương
tận tụy của các nữ tu ở các trại phong cùi, như chị Nguyễn Thị Mậu ở
trại phong Di Linh (Lâm Đồng) đã trở thành hình ảnh đẹp trong đời
sống xã hội. Các hoạt động phong phú, đa dạng vì tình yêu thương đó
thực sự mang lại niềm an ủi, chia sẻ phần nào khó khăn cho những
hoàn cảnh cơ nhỡ, bất hạnh.
Với truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, giáo dân trong khắp các giáo
xứ, họ đạo cả nước đã tích cực tham gia, đóng góp cho các phong trào
“Đền ơn đáp nghĩa”, tặng “Sổ tiết kiệm tình nghĩa” cho các gia đình
liệt sĩ, thương binh, nhận chăm sóc, nuôi dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng,
các mẹ liệt sĩ. Vào các dịp lễ tết hằng năm, nhất là kỷ niệm Ngày
Thương binh, liệt sĩ (27-7), các hoạt động thăm hỏi, động viên các
đối tượng chính sách luôn được đồng bào Công giáo cả nước quan tâm.
Đặc biệt, khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới thì phong trào yêu
nước lại có thêm động lực mới, vì các khả năng của giới Công giáo
được phát huy cao hơn. Người Công giáo bây giờ có mặt trong mọi lĩnh
vực của đời sống kinh tế - xã hội, tham gia giữ nhiều trọng trách ở
khu dân cư, là đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, là thành viên
Mặt trận Tổ quốc các cấp...
Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp to lớn thể hiện người Công giáo
Việt Nam luôn gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, xây dựng cuộc sống mới
“Tốt đời đẹp đạo” thì người Công giáo Việt Nam cũng luôn phải đối
mặt với những hành vi kích động, tuyên truyền của kẻ xấu, gây hoang
mang đến một bộ phận trong cộng đồng giáo dân. Vì tính chất đặc thù
trong niềm tin cũng như quá trình truyền giáo mà người Công giáo
nhiều lúc đã bị hiểu lầm, nghi kỵ, tạo cơ hội cho kẻ xấu lợi dụng,
gây chia rẽ trong khối đại đoàn kết toàn dân. Vì vậy, trọng trách
của Mặt trận, ngôi nhà chung của khối đại đoàn kết là phải luôn quan
tâm đến các nhu cầu chính đáng, hợp pháp của đồng bào Công giáo;
động viên, tạo điều kiện nhiều hơn nữa để người Công giáo đóng góp
sức người, sức của xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh,
sánh vai với các cường quốc trong khu vực và trên thế giới, nhân dân
được ấm no, tự do, hạnh phúc; đồng thời cảnh giác, làm thất bại
những âm mưu đen tối nhằm kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn
dân tộc của những thế lực xấu, giúp cho người Công giáo Việt Nam
phát huy tối đa sức mạnh của mình, góp phần làm phong phú vẻ đẹp đa
sắc màu vốn có của vườn hoa “Dân tộc Việt Nam”.
* Phó Chủ tịch Ủy ban Đoàn kết công giáo Việt Nam, Chủ tịch Ủy ban
Đoàn kết công giáo Hà Nội.
| Trở Về đầu trang
| |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
 |
|
|

Ngày hội đại
đoàn kết toàn dân tộc năm 2009

Các điển
hình tiêu biểu trong CVĐ TDĐKXDĐSVH ở KDC
(2004-2009)

Đối ngoại
nhân dân MTTQ
(2004-2009)
|
|

Ngày hội đại
đoàn kết toàn dân tộc năm 2008 |
|
|
hoan nghênh bạn đọc góp ý cho tạp chí |
|
|
|
| |
 |
|
|