Ðặt làm trang chủ

    Google   

                 | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ |   

             | Hộp Thư |
     
 
 

 

 

 

 

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh: Tinh thần của Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc phải trở thành nếp nghĩ, nếp sống hàng ngày của mỗi người dân
 

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: Mặt trận Dân tộc thống nhất luôn phát huy tốt vai trò tập hợp và đoàn kết sức mạnh toàn dân 

 
 

    TIN MỚI :                                                                    thông tin được cập nhật liên tục  



 SỐ 73   (11-2009 )


 KINH NGHIỆM THỰC TIỄN

Mặt trận làm gì để góp phần xây dựng sự đồng thuận xã hội

Mặt trận thành phố Hà Nội với công tác giám sát và phản biện xã hội

Để đổi mới hoạt động và công tác Mặt trận, trước hết phải đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận

Mặt trận tỉnh Hải Dương với công tác tham gia xây dựng chính quyền 

Một số kinh nghiệm qua 10 năm triển khai thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn

Tỉnh Sóc Trăng phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân thực hiện tốt chính sách dân tộc đối với vùng dân tộc Khmer

Hồ Chí Minh với khối đại đoàn kết toàn dân trong những năm chống Mỹ cứu nước



MẶT TRẬN LÀM GÌ
ĐỂ GÓP PHẦN XÂY DỰNG SỰ ĐỒNG THUẬN XÃ HỘI
 

                                                                                                        TRẦN NGỌC NHẪN*

     Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng tiếp tục khẳng định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong việc tập hợp, vận động, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân; đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân; đưa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các chương trình kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh vào cuộc sống, góp phần xây dựng sự đồng thuận trong xã hội”.

Như vậy, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có bước phát triển mới; đó là, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, thực hiện giám sát và phản biện xã hội đối với hoạt động của Đảng và Nhà nước, kể cả công tác tổ chức và cán bộ, góp phần xây dựng sự đồng thuận trong xã hội.

Về vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức nhà nước đã được Đảng ta nêu ra từ Nghị quyết lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) năm 1991 và đã được thể chế hóa tại Điều 9 Hiến pháp năm 1992 và nhiều văn bản pháp luật của Nhà nước. Việc giám sát hoạt động, phẩm chất, đạo đức, lối sống của đảng viên được nêu khá rõ trong Nghị quyết Đại hội IX của Đảng và đã được thể chế hóa thành Quy chế giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với cán bộ, công chức, đảng viên ở khu dân cư, đến nay đã thực hiện thí điểm được hơn hai năm và đã sơ kết, chuẩn bị trình Ban Bí thư cho ý kiến để triển khai thực hiện ra diện rộng.

Còn phản biện xã hội mà Nghị quyết đại hội X của Đảng nêu ra là một nhiệm vụ mới của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân. Đây là việc làm khó và nhạy cảm. Tuy nhiên, phản biện xã hội về thực chất là việc góp ý kiến rộng rãi của các tầng lớp nhân dân đối với dự thảo các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, kể cả công tác tổ chức và cán bộ. Nhân dân ở đây được hiểu là nhân dân có tổ chức, nhân dân góp ý kiến thông qua tổ chức mà mình là thành viên, hội viên, đoàn viên. Mặt khác, việc góp ý kiến với nghĩa là phản biện xã hội có điểm khác với việc góp ý kiến thông thường mà lâu nay Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận đã thực hiện; đó là tổ chức tham gia góp ý kiến cần nghiên cứu một cách đầy đủ, trên cơ sở lý luận và thực tiễn của đời sống xã hội để có những ý kiến mang tính khoa học và thực tiễn cao. Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành văn bản có trách nhiệm xem xét tiếp thu hoặc chưa tiếp thu, cần thông báo hoặc giải trình với tổ chức đã có ý kiến đóng góp.

Như vậy, hoạt động phản biện xã hội sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng các văn bản của Đảng và Nhà nước khi được ban hành. Việc làm này sẽ giúp cho chủ trương, chính sách, pháp luậtø phù hợp với quy luật khách quan, sát với thực tiễn của đời sống xã hội và như vậy sẽ tạo được sự đồng thuận trong xã hội, có tính khả thi cao, sớm đi vào cuộc sống.

Một vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng về vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc xây dựng và tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân tộc được thể hiện tại Nghị quyết Đại hội X của Đảng là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân. Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001), cũng đã quy định “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của nhân dân”. Về việc cùng Nhà nước chăm lo đời sống của nhân dân, những năm qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã triển khai thực hiện được một số việc, đó là thực hiện Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” với mục tiêu là lấy sức dân để lo cho dân, nội dung chủ yếu là phát triển dân sinh, nâng cao dân trí và mở rộng dân chủ. Đây là cuộc vận động toàn dân, toàn diện và lâu dài. Mặt khác, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Chính phủ và chính quyền các cấp thực hiện cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” và đã giúp đỡ nhiều gia đình nghèo có nhà ở. Tuy nhiên, việc cùng Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân thì chưa làm được bao nhiêu, nhất là còn nhiều vụ việc mà cơ quan tư pháp xét xử chưa thấu tình đạt lý để dân vẫn kêu oan, tập trung vào vấn đề thu hồi đất, đền bù, hỗ trợ khi giải phóng mặt bằng để giao đất cho các doanh nghiệp, vấn đề  việc làm và tái định cư nhiều nơi người dân chưa đồng tình và thiệt thòi phần lớn là thuộc về người dân bị mất đất, mất việc. Về việc này, một mặt do cơ chế, mặt khác, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng chưa thật sự quan tâm làm được nhiều việc để tập trung bảo vệ người dân.

Để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, theo quy định của Hiến pháp thì Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần tích cực, chủ động kiến nghị, đề xuất với Quốc hội sớm sửa đổi, bổ sung Luật Khiếu nại, tố cáo theo hướng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam không chỉ là tổ chức tiếp dân, nhận đơn và chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét giải quyết như “bưu điện” và cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho Mặt trận được biết trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày giải quyết, mà cần quy định Mặt trận có quyền và trách nhiệm nghiên cứu đơn thư khiếu nại, tố cáo nếu có oan sai yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phối hợp cùng xem xét giải quyết. Mặt khác, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có quyền kiến nghị, nếu cơ quan, tổ chức, cá nhân không xem xét giải quyết theo đúng thời hạn quy định của pháp luật thì phải có chế tài xử lý, ít nhất là hình thức kỷ luật hành chính. Có như vậy thì Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mới có cơ sở để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người dân; đảm bảo hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, tổ chức và người dân. Trên cơ sở đó Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sẽ góp phần tích cực vào việc xây dựng sự đồng thuận trong xã hội theo tinh thần Nghị quyết Đại hội X của Đảng.

* Nguyên Trưởng ban Dân chủ - Pháp luật, cơ quan Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

 | Trở Về đầu trang    |



MẶT TRẬN THÀNH PHỐ HÀ NỘI VỚI CÔNG TÁC GIÁM SÁT VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI

                                                                                                                 BÙI XUÂN HỘ*

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hà Nội đón nhận “Huân chương Hồ Chí Minh” do Nhà nước trao tặng
             
 Ảnh: HOÀNG LONG

Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã khẳng định “Phát huy vai trò và tạo điều kiện thuận lợi để Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tham gia xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội”; Nghị quyết yêu cầu “Nhà nước ban hành cơ chế để Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội”. Như vậy, có thể thấy Đảng và Nhà nước rất coi trọng và quan tâm đặc biệt đến giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.

Tuy nhiên, phản biện xã hội là vấn đề mới và khó, vì vậy cần được nghiên cứu, trao đổi làm rõ để có nhận thức đúng cả về lý luận và thực tiễn, từ đó thống nhất về nhận thức để thực hiện. Quán triệt sâu sắc tinh thần đó, trong thời gian qua, Mặt trận Tổ quốc thành phố Hà Nội và các đoàn thể đã chủ động, tích cực xây dựng các chương trình giám sát, tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhân dân phát huy dân chủ, tham gia giám sát và tổ chức các hoạt động giám sát việc tổ chức các cuộc tiếp xúc cử tri, bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp; giám sát việc quản lý và sử dụng quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, giải quyết đơn thư, khiếu nại - tố cáo... đạt kết quả bước đầu. Hoạt động giám sát của Ban Thanh tra nhân dân và Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng ngày càng phát huy tác dụng. Năm 2008, thanh tra nhân dân đã phát hiện 989 vụ việc, kiến nghị các cấp có thẩm quyền thu hồi 69.572m2 đất và 1.158.860.000 đồng. Ban Giám sát đầu tư cộng đồng đã giám sát 641 dự án, trong đó có 100 dự án có vi phạm các quy định đã được nhắc nhở khắc phục. Việc thí điểm thực hiện quy chế “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát cán bộ, công chức, đảng viên ở khu dân cư” và tổ chức lấy phiếu tín nhiệm các chức danh chủ chốt do Hội đồng nhân dân cấp xã bầu đã phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong công tác giám sát góp phần tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.

Tuy nhiên, nghiêm túc nhìn nhận lại, công tác giám sát của Mặt trận Tổ quốc vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Vấn đề phản biện xã hội đã có chủ trương của Đảng, nhưng chưa có hướng dẫn triển khai, chưa có cơ chế rõ ràng, cụ thể; do vậy việc tổ chức thực hiện gặp nhiều khó khăn. Nhưng với tinh thần chủ động, tích cực, bước đầu Mặt trận Tổ quốc thành phố Hà Nội đã tổ chức được một số hội nghị, làm được một số việc, như: tham gia góp ý xây dựng các văn bản Luật (dự thảo) của Trung ương, một số chương trình, đề án cụ thể của thành phố.

Từ kinh nghiệm thực tiễn và để từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, góp phần tham gia xây dựng đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động mọi nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội, phấn đấu cho mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, Mặt trận Tổ quốc các cấp trong thời gian tới sẽ quan tâm chỉ đạo và hướng dẫn triển khai thực hiện một số nội dung sau:

Thứ nhất, Mặt trận Tổ quốc các cấp cần làm tốt công tác tuyên truyền, quán triệt để cán bộ và nhân dân hiểu đúng về vai trò, ý nghĩa, mục đích, tính chất giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

- Trước hết, cần thống nhất nhận thức trong hệ thống chính trị về sự cần thiết có giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, coi đây là sự đòi hỏi khách quan trong quá trình dân chủ hoá xã hội. Trong công tác tuyên truyền, cần làm rõ thế nào là giám sát, thế nào là phản biện xã hội mang tính nhân dân của Mặt trận Tổ quốc trong việc tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, thể hiện được ý Đảng, lòng dân, phù hợp với sự đòi hỏi của thực tiễn. Có như vậy, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước mới đi vào cuộc sống, phát huy được quyền làm chủ của nhân dân, huy động được mọi nguồn lực của khối đại đoàn kết để phát triển kinh tế - xã hội đất nước.

- Nội dung, phạm vi các vấn đề thực hiện việc phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc cần được định hướng rõ. Phản biện tất cả các vấn đề, các lĩnh vực hay chỉ một vài nội dung, một vài lĩnh vực liên quan đến quốc kế dân sinh hoặc liên quan, ảnh hưởng đến đời sống nhân dân. Không nên đặt vấn đề Mặt trận Tổ quốc tham gia phản biện xã hội ở tất cả các lĩnh vực, các chương trình, dự án của địa phương mà chỉ nên thực hiện phản biện xã hội một số lĩnh vực trọng tâm, trọng điểm liên quan trực tiếp tới người dân, tránh dàn trải. Có như vậy, mới tập trung được lực lượng, trí tuệ tham gia phản biện xã hội một cách khoa học, có hiệu quả.

Cần đẩy mạnh việc tuyên truyền, quán triệt về phản biện xã hội để thống nhất về nhận thức, chỉ đạo hành động và tổ chức thực hiện, có như vậy giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân mới đúng hướng, phát huy được dân chủ, tập hợp được ý kiến đông đảo nhân dân tham gia góp ý xây dựng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Thứ hai, Mặt trận Tổ quốc cần phát huy tốt các hình thức tham gia phản biện xã hội của các tổ chức, các tầng lớp nhân dân đối với chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương thông qua các hình thức:

- Phát huy ý kiến đóng góp của nhân dân đối với Đảng, Quốc hội; nhất là các dịp họp hội nghị Trung ương, họp Quốc hội; họp tỉnh (thành) ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh (thành).

- Trao đổi và lắng nghe ý kiến của cử tri, đại biểu cử tri trong các dịp tổ chức tiếp xúc cử tri với đại biểu dân cử.

- Tác động thông qua các ý kiến chất vấn và trả lời chất vấn của đại biểu tại các kỳ họp Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.

- Đổi mới việc tổ chức lấy ý kiến góp ý của dân về dự thảo văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc, Đảng bộ tỉnh (thành phố), dự thảo các luật của Quốc hội, Nghị quyết Hội đồng nhân dân, các dự án, chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội có liên quan đến lợi ích của nhân dân trước khi thảo luận và thông qua.

- Trưng cầu dân ý thông qua các phương tiện thông tin đại chúng.

- Nắm ý kiến phản biện xã hội thông qua các kênh: giao ban dư luận xã hội, thu hoạch của các học viên ở các lớp học tập nghị quyết, chuyên đề, phản ánh qua Hội nghị đại biểu nhân dân.

Thứ ba, Mặt trận Tổ quốc chủ động tham mưu với Đảng và đề nghị với Nhà nước ban hành cơ chế, chính sách cụ thể, rõ ràng tạo điều kiện cho Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và nhân dân phát huy quyền làm chủ, tham gia giám sát và phản biện xã hội một cách chủ động, thiết thực, hiệu quả.

Các quy định để thực hiện giám sát và phản hiện xã hội cần cụ thể như:

- Về thời gian: Dự thảo chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; các chương trình, kế hoạch của địa phương khi lấy ý kiến đóng góp của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và nhân dân cần có thời gian nhất định để triển khai và tổ chức tập hợp ý kiến xây dựng. Có như vậy, mới huy động được trí tuệ của các Hội đồng tư vấn, các nhà khoa học, các nhà quản lý có kinh nghiệm và ý kiến nhân dân một cách đầy đủ, khoa học (văn bản dự thảo cần gửi sớm để nghiên cứu, trước khi tham gia hội thảo góp ý kiến). Những nội dung liên quan đến cuộc sống của đông đảo tầng lớp nhân dân cần tuyên truyền rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng để dân biết và tham gia ý kiến.

- Ban hành các quy chế nhằm tạo hành lang pháp lý cho Mặt trận Tổ quốc thực hiện giám sát và phản biện xã hội. Thực tiễn vừa qua cho thấy, chủ trương giám sát và phản biện xã hội đã có, nhưng chưa có quy chế, quy định có tính pháp lý thì Mặt trận Tổ quốc chưa triển khai được.

- Ban hành đủ các chính sách và tạo điều kiện cho Mặt trận Tổ quốc thực hiện các hoạt động giám sát, phản biện xã hội.

- Ban hành các quy định cụ thể về thời gian, yêu cầu, nội dung, cách thức, quyền hạn của các bên để ràng buộc và nâng cao trách nhiệm của tổ chức, cá nhân thực hiện giám sát và phản biện xã hội cũng như các tổ chức, cá nhân được Mặt trận Tổ quốc và nhân dân giám sát - phản biện xã hội và góp ý kiến xây dựng. Cần có chế tài xử lý đối với các tổ chức, cá nhân không thực hiện các quy định trong hoạt động giám sát - phản biện xã hội.

Thứ tư, Mặt trận Tổ quốc các cấp thường xuyên quan tâm kiện toàn tổ chức, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực cán bộ, chuẩn bị điều kiện cơ sở vật chất, tài chính để tổ chức hoạt động giám sát và phản biện xã hội có hiệu quả.

- Để hoạt động giám sát và phản biện xã hội có hiệu quả đòi hỏi phải thường xuyên kiện toàn tổ chức Mặt trận Tổ quốc, tổ chức tư vấn, Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư cộng đồng đủ số lượng, bảo đảm chất lượng, hoạt động tuân thủ các nguyên tắc quy định của pháp luật, làm việc với tinh thần trách nhiệm, tự nguyện, công khai, dân chủ, khách quan và có ý thức xây dựng. Việc cử Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư cộng đồng phải được nhân dân tín nhiệm, lựa chọn thành viên là những người có uy tín, có năng lực, có phẩm chất đạo đức tốt và có bản lĩnh vững vàng. Đồng thời, Mặt trận Tổ quốc cần phối hợp với chính quyền và cơ quan chức năng tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn và khả năng công tác của cán bộ tham gia giám sát và phản biện xã hội. Đề nghị với Đảng và Nhà nước cho thành lập trường hoặc trung tâm đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Mặt trận Tổ quốc. Cần có quy hoạch, luân chuyển, lựa chọn cán bộ có phẩm chất đạo đức, có năng lực chuyên môn tốt sang làm công tác Mặt trận, khắc phục tình trạng cán bộ giỏi không muốn về công tác tại cơ quan Mặt trận các cấp.

- Muốn hoạt động giám sát và phản biện xã hội có kết quả cần cung cấp đầy đủ thông tin, cho phép tiếp cận những vấn đề liên quan đến chủ đề giám sát và phản biện xã hội, tạo điều kiện về cơ sở vật chất, tài chính, chế độ, chính sách và nhất là bầu không khí dân chủ, cởi mở, cầu thị. Đề nghị Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nghiên cứu, xem xét, kiến nghị với Đảng và Nhà nước tạo điều kiện cho Mặt trận Tổ quốc được độc lập, tự chủ về tài chính, được phân bổ ngân sách từ Quốc hội và Hội đồng nhân dân, có như vậy Mặt trận Tổ quốc mới đảm bảo có tiếng nói khách quan, khắc phục tình trạng “khó nói” do cơ chế tài chính xin - cho như hiện nay chi phối.

Thứ năm, Mặt trận Tổ quốc chủ động phối hợp với chính quyền, ngành chức năng tổ chức các hội thảo chuyên đề nhằm nâng cao chất lượng giám sát và phản biện xã hội, quan tâm hướng về cơ sở, hướng dẫn và tổ chức các cuộc giao ban, trao đổi rút kinh nghiệm giữa các đơn vị, địa phương, giữa các Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư cộng đồng, đổi mới phương thức hoạt động, giúp cho hoạt động giám sát và phản biện xã hội có hiệu quả thiết thực. Kịp thời sơ kết, tổng kết hàng năm hoặc theo chuyên đề để đánh giá việc làm được, chưa được, kịp thời biểu dương khen thưởng các tập thể, cá nhân thực hiện tốt công tác phản biện xã hội. Trên cơ sở đó, tiếp tục nghiên cứu, tham mưu, đề xuất với Đảng và Nhà nước về cơ chế, chính sách để Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và nhân dân tham gia giám sát - phản biện xã hội có hiệu quả hơn.

                       (Bài tham luận tại Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII)

* Thành ủy viên, Phó Chủ tịch Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hà Nội.

 | Trở Về đầu trang    |



ĐỂ ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG VÀ CÔNG TÁC MẶT TRẬN,
TRƯỚC HẾT PHẢI ĐỔI MỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI MẶT TRẬN

                                                                                                           NGUYỄN HẢI QUÂN*

     Sau Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp lần thứ VIII, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 01 về “Nâng cao chất lượng tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể xã, phường, thị trấn đến năm 2010”. Mục tiêu trọng tâm là tập trung giải quyết vấn đề tổ chức và cán bộ, phải làm cho các tổ chức trực tiếp làm công tác vận động, tập hợp nhân dân đủ mạnh, đủ sức phổ biến đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với các tầng lớp nhân dân, hướng dẫn và tổ chức các phong trào thi đua yêu nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của mọi công dân, đồng thời hướng dẫn thực hiện các hoạt động tự quản của người dân ngay trên địa bàn dân cư.

Thực hiện mục tiêu đó, các cấp uỷ đảng, Mặt trận đã tập trung chỉ đạo, hướng dẫn xây dựng đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị theo hướng ngày càng hoàn thiện về kiến thức, năng lực và trách nhiệm phục vụ nhân dân, đẩy mạnh việc kiện toàn tổ chức, tinh gọn bộ máy, chuẩn hóa và chuyên nghiệp hóa đối với đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành. Toàn tỉnh có quy hoạch và kế hoạch thay thế gần 1.200 cán bộ xã, phường, thị trấn đến năm 2011; trong đó hơn 400 là cán bộ Mặt trận và các đoàn thể.

Đồng thời với quá trình củng cố, kiện toàn tổ chức và cán bộ của hệ thống chính trị, Tỉnh đã tập trung làm chuyển biến về chất của đội ngũ cán bộ Ủy ban Mặt trận và các tổ chức thành viên, nhất là Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp. Do ý thức được vai trò của Mặt trận Tổ quốc trong thời kỳ mới nên gần một năm qua, từ Đại hội Mặt trận Tổ quốc cơ sở đến Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc tỉnh Đồng Tháp lần thứ VII, công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ Mặt trận có bước chuyển biến mới. Toàn tỉnh có 673 Ban Công tác Mặt trận khóm, ấp với 7.791 thành viên; trình độ học vấn của các thành viên Ban Công tác Mặt trận được cải thiện đáng kể. Đồng Tháp có 144 xã, phường, thị trấn; số lượng Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn nhiệm kỳ 2008 - 2013 có 4.910 người. Trong đó, Uỷ viên Ban Thường trực là 720 người. Cán bộ chủ chốt Mặt trận khóa mới có trình độ học vấn, chính trị và chuyên môn cao hơn nhiệm kỳ trước: Về học vấn có 275 đồng chí đạt chuẩn văn hóa; về chính trị có 213 đồng chí có trình độ từ sơ cấp đến cao cấp; về chuyên môn từ sơ cấp đến đại học có 59 đồng chí.

Đối với 12 huyện, thị, thành phố có 682 uỷ viên, trình độ học vấn, chính trị và chuyên môn cũng được cải thiện đáng kể; cụ thể là: trung học phổ thông 510/682 người; chính trị từ trung cấp đến cử nhân 274/682 người; chuyên môn nghiệp vụ từ trung cấp đến đại học 226/682 người. Ban Thường trực có 59 người, thì có trình độ trung học phổ thông là 57 người, có 56 người có trình độ chính trị từ trung cấp đến cử nhân, có 32 người có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ từ trung cấp đến đại học.

Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh khóa VII, nhiệm kỳ 2009 - 2014 có 80/81 vị đủ trình độ học vấn, chính trị và chuyên môn nghiệp vụ. Ban Thường trực có 9 vị, tất cả các Ủy viên Ban Thường trực đều đạt các chuẩn theo quy định.

Do trình độ các mặt của cán bộ Mặt trận các cấp được cải thiện, đồng thời với bố trí ủy viên thường vụ cấp uỷ, cấp uỷ viên trực tiếp làm Chủ tịch Mặt trận nên tạo được cơ chế thuận lợi trong việc tham mưu, đề xuất tăng cường vai trò lãnh đạo của cấp uỷ đối với Mặt trận và công tác mặt trận, cũng như phát huy được vai trò chủ trì phối hợp giữa các ngành, các lực lượng trong công tác vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân. Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp chủ động hơn trong việc xây dựng kế hoạch, chương trình phối hợp thống nhất hành động và tổ chức thực hiện có hiệu quả các kế hoạch, chương trình đã đề ra. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Đồng Tháp đã hướng mạnh đến các vấn đề về dân sinh, dân trí và dân chủ thông qua các cuộc vận động lớn, khởi xướng, phát động và tổ chức thực hiện có hiệu quả các phong trào thi đua yêu nước trong các tầng lớp nhân dân, được nhân dân tự nguyện hưởng ứng... Chính việc làm và kết quả đó đã làm cho uy tín của Mặt trận trong hệ thống chính trị được nâng cao, ảnh hưởng của Mặt trận trong các tầng lớp nhân dân ngày càng rộng lớn hơn.

Có được những kết quả đó bắt nguồn từ ý thức xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác mặt trận của Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và của cấp uỷ đảng. Ngoài việc chọn lựa, bố trí cán bộ có năng lực, uy tín, kết hợp với chăm lo đào tạo, bồi dưỡng và tạo các điều kiện để công tác mặt trận được thuận lợi hơn thì vấn đề có tính quyết định vẫn là đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận, đồng thời tham mưu, đề xuất cho được việc đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp uỷ đảng theo hướng tôn trọng tính độc lập tương đối của Mặt trận, định hướng được những nội dung chính trong hoạt động và phát huy vai trò chủ động trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ của Mặt trận.

Trong đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận, ngoài nâng cao chất lượng các hoạt động tự quản của nhân dân trong xây dựng khóm, ấp, làng xã an toàn, văn minh, tự quản trong phát hiện và giải quyết các tranh chấp, bất hòa tại cộng đồng, còn đặc biệt quan tâm đến đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, không ngừng nâng cao nhận thức, trách nhiệm phục vụ nhân dân của hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức Nhà nước; hiểu đúng về vai trò Mặt trận và công tác Mặt trận trong phát huy sức mạnh khối Đại đoàn kết toàn dân tộc. Từ nhận thức đầy đủ như vậy, sẽ làm căn cứ vững chắc để cấp uỷ đảng đổi mới phương thức lãnh đạo của mình. Nội dung đổi mới trước tiên là xây dựng đội ngũ cán bộ Mặt trận đủ sức, đủ tầm vận động, tập hợp nhân dân vào tổ chức, tổ chức được các phong trào thi đua yêu nước của nhân dân có hiệu quả, đội ngũ cán bộ có uy tín với nhân dân. Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận còn là sự chỉ đạo các cơ quan chính quyền phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Mặt trận và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong mọi hoạt động, đặc biệt là các hoạt động chăm lo giải quyết tốt quyền và nghĩa vụ của công dân, bảo đảm an sinh xã hội.

Một trong những vấn đề mấu chốt của việc đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể là mở rộng và phát huy cả dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Ở Đồng Tháp, trong thời gian qua đã kết hợp khá tốt hai mặt này. Dân chủ trực tiếp ngày càng được mở rộng qua các kênh, như: tiếp xúc, đối thoại giữa bí thư cấp uỷ với nhân dân; tiếp xúc định kỳ của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp đối với người đi khiếu nại; tiếp xúc cử tri với đại biểu dân cử; xây dựng và công khai các quy ước của cộng đồng dân cư tự quản... Về phát huy dân chủ đại diện cũng có những nét mới và thu được những kết quả thông qua công tác giám sát các chức danh do Hội đồng nhân dân xã bầu, có mở rộng thêm một số cán bộ có quan hệ trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ công dân; giám sát xây dựng đầu tư cộng đồng; giám sát việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết có liên quan đến công tác vận động quần chúng. Không ít các kiến nghị, đề xuất có tính chất phản biện xã hội để phục vụ lợi ích người dân đã được Mặt trận quan tâm thực hiện đã giúp cho các chủ trương, chính sách được thực hiện nhất quán và tạo được sự đồng thuận cao của nhân dân, như: nghiên cứu, đề xuất về đời sống người dân sau khi thu hồi đất làm công nghiệp, phát triển đô thị, chi phí sản xuất và thực lãi của người nông dân trồng lúa... Ngoài ra, Mặt trận Tổ quốc cũng đã mở hòm thư góp ý về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; nêu rõ quan điểm trong đề xuất giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và kiến nghị của cử tri... Cùng với phương pháp trên, các cấp uỷ đảng mà trước hết là Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã thực hiện đúng quy chế định kỳ làm việc với Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, nội dung làm việc ngày càng hoàn thiện và nâng cao được chất lượng, các thông báo kết luận đánh giá thẳng thắn, sâu sắc, chỉ rõ được nhiệm vụ và giải pháp thực hiện cụ thể trong từng thời gian.

Những kết quả đạt được trong công tác mặt trận và phong trào thi đua yêu nước của nhân dân trong tỉnh thời gian qua gắn liền với vai trò tự thân của Mặt trận các cấp, trước hết là của Ban Thường trực. Mặt trận đã kịp thời tham mưu đúng những trọng tâm, trọng điểm công việc, nhất là tham mưu về chủ trương nâng cao chất lượng tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn đến năm 2010; trong hoạt động đã chú trọng nâng cao tính thiết thực và hiệu quả, khắc phục bệnh hình thức và phô trương thành tích, đẩy mạnh xã hội hoá các mặt đời sống xã hội, gắn với phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và huy động mọi nguồn lực xã hội; tăng cường sự phối hợp của Mặt trận với các ngành, các tổ chức trong hệ thống chính trị, đẩy mạnh công tác vận động, tập hợp quần chúng; các chương trình hành động và kế hoạch công tác mặt trận.

Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên và cả trong cấp uỷ đảng chưa nhận thức rõ và đúng tầm quan trọng của Mặt trận và công tác mặt trận. Một số nơi còn xem thường Mặt trận và công tác mặt trận dẫn đến tình trạng bố trí cán bộ Mặt trận, đoàn thể không tương xứng với nhiệm vụ; chế độ chính sách đối với đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn còn rất thấp. Chức năng giám sát của Mặt trận, đoàn thể đã được phát huy nhưng chưa thực hiện được phản biện xã hội dẫn đến hạn chế quyền dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện; sự chuyển biến về tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc chưa thật đồng đều giữa các địa phương; trình độ và năng lực công tác của một bộ phận cán bộ còn hạn chế; các cuộc vận động lớn được triển khai sâu rộng nhưng chất lượng, hiệu quả có mặt còn thấp; một bộ phận cán bộ trong Ban Thường trực Mặt trận Tổ quốc của một số cơ sở còn biểu hiện thụ động trong triển khai và tổ chức thực hiện chương trình hành động; công tác tập hợp nhân dân vào các tổ chức chính trị xã hội, xã hội nghề nghiệp vừa trùng lắp nhưng lại vừa bỏ sót; công tác phối hợp với các ngành, các tổ chức thành viên trong thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương và chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc ở một số nơi chưa thật chặt chẽ, hiệu quả thấp.

Xuất phát từ thực trạng trên, thiết nghĩ Mặt trận cần:

1. Tiếp tục làm chuyển biến về chất đối với đội ngũ cán bộ Mặt trận, trước hết là các Ủy viên Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp, đặt quy hoạch cán bộ Mặt trận trong quy hoạch tổng thể đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị.

2. Đồng thời với quán triệt sâu sắc quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh, các nghị quyết của Đảng về vai trò Mặt trận, các đoàn thể trong phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cần gắn với tăng cường vai trò lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng thông qua đổi mới phương thức lãnh đạo và phát huy tính độc lập tương đối của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể.

3. Lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc cùng các đoàn thể tích cực đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, hướng mạnh các hoạt động về cơ sở, quan tâm giải quyết và đề xuất giải quyết thoả đáng các vấn đề bức xúc của người dân. Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, làm cho mỗi cán bộ Mặt trận, đoàn thể đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ đổi mới.

4. Mặt trận Tổ quốc cùng các đoàn thể phải tự đổi mới chính mình, trước hết phải làm cho tổ chức có sức thu hút mọi đối tượng, nhất là các đối tượng “đặc thù” người dân đô thị, khu, cụm công nghiệp, người có đạo... Phải đủ sức làm tham mưu cho cấp uỷ kịp thời nắm được tình hình quần chúng, đề ra nội dung và phương thức công tác vận động và tập hợp quần chúng có hiệu quả; nội dung và phương thức công tác Mặt trận phải góp phần giải quyết được vấn đề dân sinh, dân trí và dân chủ.

Bên cạnh đó cần có sự quan tâm lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với công tác mặt trận trên các vấn đề cụ thể sau:

+ Đảng sớm có chủ trương kiện toàn tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hiệu lực và hiệu quả, đồng thời chuẩn hoá và chuyên nghiệp hoá đội ngũ cán bộ theo đúng tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 của Đảng (khóa IX), đó là: “Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với dân, nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”, song song với cải tiến chế độ, nâng cao thu nhập cho đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị ở cơ sở. Tinh gọn bộ máy với cải tiến lề lối làm việc và ban hành quy chế làm việc thống nhất cho các cấp, các ngành.

+ Đảng sớm ban hành quy chế giám sát và phản biện xã hội nhằm phát huy được trí tuệ và quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng và thực hiện các chủ trương của Đảng. Quy chế phải phát huy được quyền làm chủ trực tiếp và quyền làm chủ đại diện của các tầng lớp nhân dân.

+ Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng phải gắn liền với xây dụng bộ máy chính quyền vững mạnh về mọi mặt, nâng cao chất lượng phối hợp công tác giữa cơ quan chính quyền với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể; khuyến khích các hoạt động tự quản của nhân dân ngay trên địa bàn dân cư, đồng thời với tích cực xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức thật sự là công bộc của dân.

+ Về lãnh đạo chung của Đảng Cộng sản Việt Nam: Cần sớm sửa đổi điều chỉnh bộ máy của hệ thống chính trị phù hợp với thời kỳ đổi mới, như: Nhất thể hoá một số chức danh lãnh đạo ở các cấp. Sáp nhập một số cơ quan Đảng, chính quyền có chức năng, nhiệm vụ trùng nhau, cải tiến lề lối làm việc, hội họp sao cho chủ trương và giải pháp tổ chức thực hiện được đồng bộ, thống nhất và được tổ chức thực hiện có hiệu quả.

* Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Đồng Tháp.

 | Trở Về đầu trang    |



MẶT TRẬN TỈNH HẢI DƯƠNG VỚI CÔNG TÁC THAM GIA XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN

Hải Dương là một tỉnh nông nghiệp, có diện tích tự nhiên 1.662 km2, dân số có trên 1,7 triệu người, cư trú ở 263 xã, phường, thị trấn thuộc 12 huyện, thành phố; nằm ở vùng tam giác phát triển kinh tế Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh. Sau hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, vai trò lãnh đạo của các cấp uỷ đảng, sự quản lý và điều hành của chính quyền được tăng cường, vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân được khẳng định và phát huy có hiệu quả, đời sống của các tầng lớp nhân dân được cải thiện, lòng tin của nhân dân vào Đảng chính quyền, Mặt trận Tổ quốc các cấp ngày càng được củng cố, dân chủ trong xã hội có bước phát triển và phát huy tác dụng. Đây chính là những điều kiện thuận lợi cho Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tham gia xây dựng chính quyền đạt hiệu quả.

Qua thực hiện Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Nghị quyết Đại hội VI Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, công tác Mặt trận tham gia xây dựng chính quyền được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng và đặc trưng của Mặt trận Tổ quốc tỉnh Hải Dương trong giai đoạn cách mạng mới. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên từ tỉnh đến cơ sở đã tích cực tổ chức lấy ý kiến của các tầng lớp nhân dân tham gia vào các dự thảo luật, như: Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Dự thảo Luật Dân sự (sửa đổi); Luật Thuế thu nhập cá nhân... Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng với các tổ chức thành viên đã tích cực triển khai tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện tốt cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; tham gia các cuộc thi tìm hiểu pháp luật để nâng cao hiểu biết và nhận thức về pháp luật của các tầng lớp nhân dân. Bám sát vào chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, sự chỉ đạo của cấp uỷ đảng và hướng dẫn của Mặt trận Tổ quốc cấp trên, Mặt trận Tổ quốc các cấp trong tỉnh đã chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch hành động cụ thể trong từng năm để triển khai thực hiện các nhiệm vụ; tăng cường xây dựng quy chế phối hợp công tác giữa Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc với Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và các ngành liên quan cùng cấp.

Mặt trận Tổ quốc các cấp phối hợp với Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp tổ chức, đổi mới các hội nghị tiếp xúc cử tri, như: mở rộng thành phần, đối tượng các cử tri ở khu vực nông nghiệp, cán bộ, công chức, doanh nghiệp, dịch vụ, đơn vị sự nghiệp. Thông qua việc tiếp xúc cử tri, các ý kiến, kiến nghị của nhân dân được phản ánh đầy đủ; mối quan hệ giữa đại biểu dân cử và nhân dân ngày càng gần nhau, hiểu nhau hơn; việc nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân ngày càng sát thực hơn.

Mặt trận Tổ quốc tỉnh đã chỉ đạo, hướng dẫn Mặt trận Tổ quốc các cấp chủ trì tổ chức thực hiện tốt việc lấy phiếu tín nhiệm các chức danh chủ chốt do Hội đồng nhân dân cấp xã bầu. Năm 2006, tổ chức lấy phiếu tín nhiệm 242/263 Chủ tịch Hội đồng nhân dân, 239/263 Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn và 821 trưởng thôn, khu dân cư. Kết qua,û có 2 Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã và 28 Trưởng thôn có tỉ lệ phiếu tín nhiệm dưới 50%. Năm 2008, thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở xã, phường, thị trấn của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương, Mặt trận Tổ quốc tỉnh đã tổ chức cho cấp xã lấy phiếu tín nhiệm đối với chức vụ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn; phối hợp với Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành quyết định về nội dung kiểm điểm của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Tính chung toàn tỉnh có 1.060 người được lấy phiếu tín nhiệm, gồm: 247 Chủ tịch Hội đồng nhân dân, 245 Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, 248 Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, 320 Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân. Kết quả, qua lấy phiếu tín nhiệm có 7 người có số phiếu tín nhiệm thấp (dưới 50%) gồm: 3 Chủ tịch Hội đồng nhân dân, 1 Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, 3 Chủ tịch Uỷ ban nhân dân. Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh đã tổng hợp cụ thể những nguyên nhân, lý do của 7 người có số phiếu tín nhiệm thấp và báo cáo Thường trực Tỉnh ủy cho ý kiến định hướng xử lý. Đến nay, những người có phiếu tín nhiệm thấp đã được xử lý theo hướng dẫn. Việc lấy phiếu tín nhiệm đối với chức danh chủ chốt cấp xã đã được các tầng lớp nhân dân đồng tình ủng hộ và tham gia với ý thức xây dựng, có trách nhiệm đã thực sự góp phần xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh ở địa phương.

Công tác tiếp dân, xử lý các đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân được Mặt trận Tổ quốc các cấp quan tâm, chú trọng và đạt được nhiều kết quả tích cực. Trong nhiệm kỳ qua, Mặt trận Tổ quốc các cấp đã tiếp tổng số 12.691 lần với 26.240 lượt người trực tiếp đến trình bày và gửi đơn thư khiếu nại, tố cáo; đã tiếp nhận 6.042 đơn thư khiếu nại, tố cáo; Mặt trận Tổ quốc các cấp đã kịp thời phân loại và chuyển đến các cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết 5.302 đơn, được các cơ quan chức năng xem xét giải quyết 4.894 đơn (đạt 92,3%) so với tổng số đơn chuyển; Thông qua việc tiếp dân và xử lý đơn thư của công dân, Mặt trận Tổ quốc các cấp trong tỉnh đã khẳng định rõ hơn vị trí, vai trò của mình trong hệ thống chính trị và trở thành địa chỉ tin cậy của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh.

Một trong những hoạt động tiêu biểu, rõ nét trong công tác Mặt trận tham gia xây dựng chính quyền của Hải Dương là công tác chỉ đạo hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng theo Luật Thanh tra và Nghị định, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Việc chỉ đạo kiện toàn tổ chức và hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân xã, phường, thị trấn trong những năm qua đã góp phần vào việc xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh trên địa bàn tỉnh; đã chủ động tham mưu cho Ban Thường vụ Tỉnh uỷ ban hành Thông báo về việc tổng kết, kiện toàn tổ chức Ban Thanh tra nhân dân xã, phường, thị trấn và triển khai thực hiện Quy chế giám sát đầu tư của cộng đồng. Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh đã tổ chức hội nghị tổng kết công tác Thanh tra nhân dân nhiệm kỳ 2006 - 2008; triển khai kế hoạch, hướng dẫn việc tổng kết và kiện toàn tổ chức Ban Thanh tra nhân dân xã, phường, thị trấn nhiệm kỳ 2009 - 2011 đến Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các huyện, thành phố, các sở, ban, ngành có liên quan, các tổ chức thành viên và một số Ban Thanh tra nhân dân hoạt động tiêu biểu ở cơ sở. Việc chỉ đạo tổng kết, kiện toàn Ban Thanh tra nhân dân đã được triển khai thực hiện tốt. Toàn tỉnh đã kiện toàn xong 263 Ban Thanh tra nhân dân với 2.385 thành viên thanh tra nhân dân (tăng 366 thành viên so với nhiệm kỳ trước), cũng đồng thời là thành viên Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng. Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các xã, phường, thị trấn đã ra quyết định công nhận Ban Thanh tra nhân dân theo đúng quy định với 2.385 thành viên được bầu ở 1.647 thôn, khu dân cư. Trong tổng số thành viên Thanh tra nhân dân đã được bầu có 1.030 người là đảng viên, chiếm tỉ lệ 43,l%; là nữ 357 người, chiếm 14,9%, thành viên tái cử 1.226 người, chiếm 51,4%; thành viên mới tham gia lần đầu 1.159 người, chiếm tỉ lệ 48,5%; có 244/263 Phó Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn kiêm Trưởng ban Thanh tra nhân dân (92,8%). Do làm tốt công tác tổ chức, kiện toàn, tổng kết và bồi dưỡng nghiệp vụ nên hoạt động của các Ban Thanh tra nhân dân thường xuyên thực hiện tốt chương trình, kế hoạch đề ra, phù hợp với chương trình hành động của Mặt trận và đúng quy định của pháp luật. Trong nhiệm kỳ qua, các Ban Thanh tra nhân dân đã phát hiện và kiến nghị với chính quyền các cấp tổng số 15.223 vụ việc, được chính quyền giải quyết 13.299 vụ việc (đạt 87,3%), đã thu hồi cho tập thể và cá nhân 419.136 m2 đất lấn chiếm trái phép và trên 1.763 triệu đồng; tham gia hoà giải thành 9.880 vụ việc tranh chấp, mâu thuẫn trên địa bàn dân cư.

Công tác tham gia xây dựng chính quyền của Mặt trận Tổ quốc các cấp trên địa bàn tỉnh trong những năm qua có thể khẳng định đó là hướng đúng đắn thể hiện được vai trò, vị trí của tổ chức Mặt trận và các tầng lớp nhân dân tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước của mình. Tổ chức thanh tra nhân dân được kiện toàn, tăng cường số lượng, chất lượng; nhiệm vụ hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân phù hợp với quy định của pháp luật và thực hiện có hiệu quả, đã phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nâng cao được vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, góp phần vào việc thực hiện nghị quyết Hội đồng nhân dân, quyết định của Uỷ ban nhân dân, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, giải quyết kịp thời khiếu nại, tố cáo, tăng cường đoàn kết, ổn định chính trị, hạn chế tiêu cực, giúp Mặt trận Tổ quốc tham gia đấu tranh chống tham nhũng, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội để thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.

Để thực hiện tốt hơn vai trò của Mặt trận Tổ quốc tham gia xây dựng chính quyền trong thời gian tới, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, cần tập trung thực hiện tốt những nội dung sau:

Một là, phải tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng, sự phối hợp tạo điều kiện tích cực hơn của chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể trong thực hiện nhiệm vụ của Mặt trận. Mặt trận Tổ quốc các cấp phải chủ động, tích cực đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, không ngừng vươn lên để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ đổi mới.

Hai là, phải thật sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, để nhân dân có ý thức tự giác và trách nhiệm cùng Đảng, Nhà nước, Mặt trận tham gia giải quyết mọi công việc của xã hội; thường xuyên coi trọng việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, phát huy quyền làm chủ, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, có như vậy mới huy động được sức mạnh của toàn xã hội, tạo được sự đồng thuận và sự đóng góp tích cực của nhân dân vào nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và hệ thống chính trị ở địa phương.

Ba là, Mặt trận Tổ quốc phải thường xuyên coi trọng công tác tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ chuyên trách Mặt trận Tổ quốc các cấp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động; tăng cường, xây dựng, mở rộng lực lượng tư vấn, cộng tác viên, chú trọng phát huy vai trò người tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, các tôn giáo, kiều bào, doanh nhân nhằm khai thác, huy động mọi tiềm năng của các thành phần xã hội vào thực hiện nhiệm vụ của Mặt trận.

Bốn là, đề nghị Đảng, Nhà nước tạo cơ chế thuận lợi, cụ thể và ban hành các văn bản pháp luật để Mặt trận Tổ quốc thực hiện tốt chức năng giám sát và phản biện xã hội. Nhà nước cần quan tâm, xem xét ý kiến của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân tham gia vào chủ trương, chính sách của Nhà nước có liên quan đến các tầng lớp nhân dân; xem xét và giải quyết kịp thời các kiến nghị mà qua công tác giám sát Mặt trận đã phát hiện, kiến nghị với Nhà nước; Nhà nước cần phải bảo đảm các điều kiện về cơ sở vật chất cần thiết cho Mặt trận Tổ quốc hoạt động đạt hiệu quả cao.

Cần xây dựng các giải pháp đồng bộ nhằm phát huy hơn nữa sự tham gia của Mặt trận và các tầng lớp nhân dân trong công tác xây dựng chính quyền, góp phần tích cực vào việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

                          (Bài gửi tham luận tại Đại hội VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam)

 | Trở Về đầu trang    |



MỘT SỐ KINH NGHIỆM
QUA 10 NĂM TRIỂN KHAI THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ
Ở XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN

                                                                                          NGUYỄN THỊ ÁNH HỒNG*

     Qua 10 năm triển khai thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có thể thấy rõ, Quy chế đã phát huy tác dụng tích cực trong đời sống xã hội và thu được hiệu quả thiết thực. Quy chế dân chủ đã được triển khai sâu rộng tại 82/82 xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh; toàn tỉnh đã tổ chức 10.994 lớp bồi dưỡng, tập huấn, triển khai Quy chế dân chủ, số hộ dân được học tập quy chế dân chủ đạt tỉ lệ 90%, trên 1,4 triệu tờ tuyên truyền được cấp phát; 100% số hộ dân trong tỉnh được cấp sổ tay Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn.

Thông qua việc học tập Quy chế dân chủ, đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân đã nắm được nội dung cơ bản của quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn theo tinh thần Chỉ thị 30-CT/TW của Bộ Chính trị về những việc nhân dân được biết, được bàn và giám sát, kiểm tra, qua đó từng bước nâng cao nhận thức, phát huy dân chủ, góp phần xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, cơ sở. Việc tổ chức thực hiện Quy chế dân chủ đã được hầu hết các xã, phường, thị trấn áp dụng để đổi mới, cải tiến lề lối làm việc, cải cách thủ tục hành chính của các cơ quan, bộ phận của chính quyền và cán bộ công chức cơ sở. Những nội dung cần công khai để nhân dân biết, như: các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là những chủ trương, chính sách, pháp luật liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của nhân dân, các quy định về thủ tục hành chính, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thuế, phí, lệ phí, việc huy động các loại quỹ đóng góp xây dựng phúc lợi công cộng... được chính quyền quan tâm, công khai niêm yết tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã và thông tin tới nhân dân bằng các hình thức khác nhau tại cơ sở.

Việc tổ chức cho nhân dân bàn và quyết định những nội dung cơ bản và thiết thực với dân như: mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng ở xã, phường, thị trấn, xây dựng Quy ước khu dân cư; việc bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởng thôn, ấp, khu phố, thành viên Ban Thanh tra nhân dân đã được Uỷ ban nhân dân cấp xã phối hợp với Mặt trận và các đoàn thể tổ chức dân chủ và đem lại những kết quả tích cực. Theo thống kê, 10 năm triển khai thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, nhân dân trong tỉnh đã đóng góp trên 82,6 tỉ đồng xây dựng cơ sở hạ tầng ở khu dân cư, hiến trên 992 hécta đất xây dựng cơ sở hạ tầng; 527/530 khu dân cư trong tỉnh đã xây dựng hương ước. Việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước đã góp phần làm lành mạnh một bước môi trường văn hoá - xã hội ở khu dân cư; phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của cộng đồng dân cư ở thôn, ấp, khu phố; góp phần tích cực vào chủ trương xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá. Năm 2008, trên địa bàn tỉnh có 85,8% hộ gia đình được công nhận gia đình văn hoá, 431 thôn, ấp, khu phố văn hoá; 21 xã văn hoá và 1 huyện văn hoá (huyện Côn Đảo); củng cố, kiện toàn và xây dựng được 544 thôn, ấp, khu phố và 6.048 tổ dân cư. Nhiều nơi việc sinh hoạt tổ dân cư đã đi vào nề nếp, nội dung và chất lượng các cuộc họp đã được nâng lên, nhân dân đã đóng góp được nhiều ý kiến xây dựng chính quyền, phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, góp phần giữ gìn an ninh trật tự ở khu dân cư.

Việc bầu trực tiếp Trưởng thôn, ấp, khu phố được triển khai tại 100% thôn, ấp, khu phố, tạo không khí dân chủ, đem lại hiệu quả tích cực trong việc xây dựng cộng đồng dân cư tự quản. 91 Ban Thanh tra nhân dân, với 699 thành viên ở các xã, phường, thị trấn được củng cố và kiện toàn về tổ chức và hoạt động. Các Ban Thanh tra nhân dân đã tập trung vào giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật, giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Từ năm 1998 đến năm 2008 các Ban Thanh tra nhân dân đã thực hiện giám sát, kiến nghị 7.836 vụ việc, gửi tới các cơ quan có thẩm quyền thì có 6.670 kiến nghị đã được các cơ quan chức năng trả lời (chiếm 85,1%). Nhiều nội dung giám sát liên quan đến việc đóng góp xây dựng các công trình điện, đường, trường, trạm ở địa bàn dân cư; việc thu và sử dụng các loại quỹ, lệ phí, các khoản đóng góp của nhân dân, việc thực hiện các chính sách xã hội... bước đầu thu được hiệu quả tích cực. Toàn tỉnh đã tổ chức được 620 tổ hòa giải với 3.580 thành viên. Trong 10 năm (1998 - 2008) các tổ hòa giải đã tiến hành hòa giải 24.588 vụ việc và hòa giải thành 18.738 vụ việc (chiếm 76,2%). Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, năm 2005 và năm 2006, Uỷ ban Mặt trận các xã, phường, thị trấn đã chủ trì phối hợp tổ chức lấy phiếu tín nhiệm cho 130 lượt Chủ tịch Hội đồng nhân dân, 131 lượt Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã và 548 lượt Trưởng thôn, ấp, khu phố. Năm 2008, đã tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đối với 65 Chủ tịch Hội đồng nhân dân, 61 Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, 67 Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, 116 Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã. Nhờ triển khai nghiêm túc, dân chủ, khách quan, đúng quy định của pháp luật, việc lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh cán bộ chủ chốt cấp xã đã có tác dụng tích cực trong việc phát huy dân chủ xây dựng đội ngũ cán bộ chính quyền cơ sở vững mạnh, gần dân, có trách nhiệm với dân. Với cơ chế và quy định cụ thể, đây thực sự là hoạt động giám sát cán bộ, công chức cơ sở rất có hiệu quả.

Quá trình thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp còn lồng ghép với 6 nội dung cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”. Với mục tiêu của cuộc vận động là: lấy sức dân xây dựng cuộc sống cho dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân nâng cao chất lượng cuộc sống ở khu dân cư, việc gắn thực hiện Quy chế dân chủ với cuộc vận động được nhân dân hưởng ứng và thu được hiệu quả cao. Từ năm 1999 đến tháng 10-2008 đã vận động được trên 113 tỉ đồng, xây dựng hơn 665 căn nhà tình nghĩa, hơn 10.000 căn nhà Đại đoàn kết, đồng thời trợ cấp các gia đình chính sách, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, hỗ trợ các hộ nghèo, khó khăn, hỗ trợ trẻ em nghèo trên địa bàn tỉnh; vận động ủng hộ đồng bào các vùng bị thiên tai, bão lũ với số tiền trên 45 tỉ đồng.

Từ kết quả đạt được qua 10 năm tổ chức thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn có thể rút ra những bài học trong việc ban hành và tổ chức thực hiện chính sách như sau:

1. Việc ban hành chính sách phải đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đặt ra: Quy chế dân chủ được Đảng và Nhà nước ban hành là đáp ứng kịp thời tâm tư, nguyện vọng của nhân dân về phát huy dân chủ, công khai, minh bạch, xây dựng chính quyền cơ sở vững mạnh. Vì thế nó được đông đảo các tầng lớp nhân dân đồng tình ủng hộ và mong muốn thực hiện tốt, tạo nên chuyển biến tích cực trên các mặt đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội và an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

2. Công tác tuyên truyền chính sách, pháp luật phải được coi trọng và triển khai sâu rộng: Việc tuyên truyền Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn được coi trọng từ việc tập huấn cho lực lượng nòng cốt đến việc in ấn tài liệu, tổ chức tuyên truyền sâu rộng bằng những hình thức phong phú, thiết thực giúp cho mọi người nhận thức đúng đắn chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Nhờ tuyên truyền tốt mà tạo sự đồng thuận và ủng hộ cao trong cán bộ, đảng viên và nhân dân; nhân dân càng có điều kiện được biết, được bàn, được kiểm tra ở cơ sở, từ đó có ý thức tự giác hơn trong việc thực hiện trách nhiệm công dân; chính quyền và cán bộ công chức ở cơ sở cũng xác định rõ hơn được nhiệm vụ và trách nhiệm của mình.

3. Các quy định của pháp luật phải cụ thể, rõ ràng và tổ chức thực hiện được ngay: Nội dung các quy định của Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn phải công khai để nhân dân biết; những nội dung nhân dân được bàn và quyết định hoặc tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định; những nội dung nhân dân giám sát... là rất cụ thể, rõ ràng. Vì thế, việc tổ chức thực hiện thuận lợi, đầy đủ, xác định rõ trách nhiệm của tổ chức và cá nhân trong thực hiện, đồng thời tạo cơ chế cụ thể để Mặt trận, đoàn thể và nhân dân tham gia giám sát hoạt động của chính quyền và cán bộ, công chức ở cơ sở.

4. Có kế hoạch cụ thể trong việc tổ chức triển khai thực hiện quy chế, có sự lãnh đạo thống nhất, phối hợp đồng bộ giữa cấp ủy, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể: Khi Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn được ban hành, cấp ủy, chính quyền, Mặt trận và các tổ chức đoàn thể từ tỉnh tới xã, phường, thị trấn phải quan tâm lãnh đạo, coi đây là nhiệm vụ quan trọng và có kế hoạch hướng dẫn, tổ chức thực hiện trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình; có sự phối hợp như vậy thì Quy chế dân chủ mới có thể thực hiện tốt được.

5. Thường xuyên thực hiện công tác kiểm tra, giám sát: Hàng năm và theo từng giai đoạn, Ban Dân vận phải tham mưu cho Tỉnh ủy, Sở Nội vụ tham mưu cho Uỷ ban nhân dân tỉnh tiến hành công tác kiểm tra việc tổ chức thực hiện các nội dung của Quy chế dân chủ tại các xã, phường, thị trấn. Hội đồng nhân dân tỉnh, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh phối hợp tổ chức các đoàn giám sát tại cơ sở về công tác này. Các cơ quan chức năng cấp huyện, cấp xã căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình cùng có kế hoạch kiểm tra, giám sát.

Cần sớm khắc phục những mặt còn yếu kém, như: một số nội dung của Quy chế dân chủ chưa được triển khai đầy đủ, kịp thời và toàn diện. Những vấn đề nhạy cảm trong nhân dân như dự toán, quyết toán ngân sách xã hàng năm, dự toán và quyết toán thu chi các quỹ, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, phương án đền bù, giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ sở hạ tầng, triển khai các dự án chưa được công khai để nhân dân được biết và giám sát. Cần khắc phục việc tổ chức để nhân dân thực hiện quyền giám sát, nhưng lại thiếu thông tin và chưa có chế tài đối với những cơ quan, đơn vị chậm xử lý hoặc không xử lý những kiến nghị của nhân dân.

Còn có cán bộ, đảng viên nhận thức chưa đầy đủ về quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở. Ở một số địa phương, tình trạng xâm phạm quyền làm chủ của nhân dân vẫn còn; quy định về lấy ý kiến nhân dân trước khi ban hành các chủ trương, chính sách, dự án quan trọng ở cơ sở thực hiện chưa nghiêm túc; việc tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo còn nhiều hạn chế, như: đùn đẩy, né tránh trách nhiệm trong giải quyết, hoặc dây dưa kéo dài, gây bức xúc trong nhân dân; một số cán bộ còn có tư tưởng sợ nảy sinh phức tạp nên thiếu mạnh dạn trong triển khai Quy chế dân chủ. Việc thực hiện công khai các thủ tục hành chính tuy có ngăn chặn được một số biểu hiện nhũng nhiễu, tiêu cực, nhưng người dân còn phàn nàn ở một số lĩnh vực: cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đền bù giải phóng mặt bằng, làm hộ khẩu... Tâm lý chung của người dân vẫn còn ngại tiếp xúc với cán bộ công quyền khi có công việc. Bên cạnh đó, một bộ phận nhân dân và người lao động nhận thức chưa đầy đủ về Quy chế dân chủ nên ít quan tâm đến quy chế, còn có biểu hiện lệch lạc như nặng quyền lợi hơn nghĩa vụ, thiếu ý thức trách nhiệm làm chủ. Một số lợi dụng dân chủ xem thường kỷ cương phép nước, vi phạm pháp luật. Những hạn chế này đã làm giảm hiệu quả việc thực hiện Quy chế dân chủ và làm phát sinh những tiêu cực. Đây là những vấn đề cần tập trung khắc phục trong việc tổ chức thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trong thời gian tới.

* Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

 | Trở Về đầu trang    |



TỈNH SÓC TRĂNG PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN
THỰC HIỆN TỐT CHÍNH SÁCH DÂN TỘC ĐỐI VỚI VÙNG DÂN TỘC KHMER

                                                                                                    VÕ MINH CHIẾN*

Sóc Trăng là tỉnh nằm cuối lưu vực sông Hậu, được tách ra từ tỉnh Hậu Giang (cũ) năm 1992. Diện tích tự nhiên 3.310 km2. Đơn vị hành chính của tỉnh gồm 10 huyện, thành phố và 106 xã, phường, thị trấn với 770 khóm, ấp; trung tâm tỉnh lỵ là thành phố Sóc Trăng. Dân số toàn tỉnh hơn 1,3 triệu người, trong đó có 3 dân tộc chính: dân tộc Kinh chiếm 65,16%, dân tộc Khmer chiếm 28,92% (là tỉnh có đồng bào dân tộc Khmer đông nhất trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long, với gần 400.000 người), dân tộc Hoa chiếm 5,88%, còn lại khoảng 0,04% là các dân tộc khác, huyện Vĩnh Châu có đông đồng bào Khmer nhất (chiếm 52,1%) và ít đồng bào Khmer nhất là huyện Cù Lao Dung (6,08%).

Hầu hết đồng bào Khmer đều theo đạo Phật (Phật giáo Nam Tông), có truyền thống yêu nước, đoàn kết, gắn bó mật thiết với đồng bào Kinh, Hoa, cùng kề vai sát cánh đấu tranh với thiên nhiên và chống giặc ngoại xâm; cống hiến sức người, sức của cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Toàn tỉnh có 92 chùa, 36 Salatel với 1.699 vị chức sắc và sư sãi người Khmer. Kinh tế, đời sống của đồng bào Khmer gắn liền với sản xuất nông nghiệp, nông thôn.

Khi tái lập tỉnh, tình hình sản xuất và đời sống của bà con Khmer phần lớn còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo và thiếu đói cao. Một bộ phận khá đông bà con còn ở nhà tạm bợ, nhiều hộ không có đất sản xuất, đất ở, nhà ở. Phân hóa giàu nghèo trong cộng đồng dân cư và ngay cả trong đồng bào Khmer tương đối nhanh. Đội ngũ cán bộ người dân tộc Khmer ở các cấp, các ngành, nhất là những vùng có đông đồng bào dân tộc còn chiếm tỷ lệ thấp. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch luôn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để hoạt động chống phá, gây mâu thuẫn, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nhất là từ khi triển khai thực hiện Chỉ thị số 68-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VI) về công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khmer, Tỉnh ủy Sóc Trăng xác định phải huy động sức mạnh tổng hợp của tỉnh vào thực hiện chính sách dân tộc đối với vùng dân tộc Khmer. Từ đó, Tỉnh ủy đã ban hành Nghị quyết số 05-NQ/TƯ về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ đối với công tác vùng đồng bào dân tộc Khmer; xác định việc quán triệt và thực hiện tốt chính sách của Đảng đối với đồng bào dân tộc Khmer là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể. Để tham mưu giúp Ban Thường vụ Tỉnh ủy theo dõi, lãnh đạo, chỉ đạo công tác dân tộc, Tỉnh ủy đã thành lập Ban chỉ đạo công tác dân tộc của tỉnh do Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy làm Trưởng ban, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh làm Phó Trưởng ban, thủ trưởng các sở, ban, ngành, đoàn thể có liên quan làm thành viên. Tỉnh ủy chọn 1 xã làm điểm chỉ đạo, các huyện, thành phố căn cứ vào tình hình thực tế chọn điểm chỉ đạo thích hợp để triển khai thực hiện các chính sách đối với đồng bào dân tộc Khmer. Đến khi có Nghị quyết Trung ương 7 (khóa IX) về công tác dân tộc, Tỉnh ủy đã xây dựng Chương trình hành động số 32-CTr/TƯ và sơ kết Nghị quyết số 05-NQ/TƯ của Tỉnh ủy, triển khai Đề án “Xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở trong vùng có đông đông bào dân tộc, tôn giáo đến năm 2010”.

Tỉnh ủy thường xuyên triển khai quán triệt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với vùng đồng bào dân tộc Khmer trong toàn Đảng bộ, trong các cấp, các ngành, sư sãi và đồng bào Khmer, tạo sự nhất trí về chính trị, tư tưởng, sự chuyển biến rõ nét trong nhận thức đối với chính sách vùng đồng bào Khmer, quyết tâm thực hiện các mục tiêu đã đề ra. Các cấp ủy đảng, chính quyền, các sở, ban, ngành, đoàn thể theo chức năng, nhiệm vụ của mình đều xây dựng chương trình, kế hoạch, đề án cụ thể để tổ chức thực hiện. Để đảm bảo triển khai các chính sách một cách đầy đủ, kịp thời, chính xác, Ban Dân tộc tỉnh đã phối hợp với các ban, ngành chức năng lập các đề án trình Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt. Căn cứ vào đó, các cấp, các ngành tập trung chăm lo phát triển kinh tế, huy động các nguồn lực đầu tư cơ sở hạ tầng, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn vùng đồng bào dân tộc Khmer; tạo bước chuyển biến tích cực trên các lĩnh vực văn hoá - xã hội; nâng cao đời sống vật chất, văn hoá tinh thần trong đồng bào dân tộc; tăng cường giáo dục nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, đẩy mạnh thực hiện chương trình phòng, chống tội phạm, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong vùng đồng bào dân tộc Khmer; quan tâm xây dựng cơ sở chính trị, thực hiện tốt chính sách đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ người dân tộc Khmer. Đầu năm 2008, Ban Tổ chức Tỉnh ủy đã xây dựng kế hoạch “Về quy hoạch, đào tạo và sử dụng cán bộ lãnh đạo, quản lý người dân tộc Khmer của tỉnh đến năm 2015” và kế hoạch “Về củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động hệ thống chính trị cơ sở nơi có đông đồng bào dân tộc, tôn giáo”.

Qua triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với vùng đồng bào dân tộc Khmer, đặc biệt là thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn và thực hiện các Chương trình 135, 134... đã đạt được những kết quả đáng phấn khởi.

Trong 10 năm thực hiện Chương trình 135, tỉnh đã triển khai đầu tư cho 54 xã đặc biệt khó khăn với tổng kinh phí gần 610 tỷ đồng, xây dựng được 698 công trình giao thông, thủy lợi, điện, nước sinh hoạt, trường học, trạm y tế, chợ..., nâng cấp, xây dựng hơn 300 km cầu, đường, xây dựng mới được 63 mô hình sản xuất. Đến nay, đã có 15 xã cơ bản hoàn thành các mục tiêu Chương trình đề ra; 100% xã thuộc Chương trình đã có trường trung học cơ sở và trạm y tế. Các công trình thủy lợi đã phục vụ chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp cho hàng chục ngàn hecta đất. Hơn 5.000 hộ Khmer nghèo được hưởng lợi từ các mô hình sản xuất.

Trong 3 năm 2002 - 2004, triển khai Đề án hỗ trợ xây dựng nhà tình thương cho hộ nghèo, tỉnh đã xây dựng và cấp hơn 12.000 căn nhà cho các hộ Khmer nghèo. Từ năm 2005 đến năm 2008, thực hiện Chương trình 134, tỉnh tiếp tục triển khai hỗ trợ xây dựng 33.154 căn nhà và hỗ trợ nước sinh hoạt cho 25.020 hộ Khmer nghèo, đời sống khó khăn với tổng kinh phí hơn 252 tỷ đồng. Từ năm 2000 đến nay, tỉnh triển khai thực hiện chính sách trợ giá, trợ cước với tổng số tiền hơn 26 tỷ đồng. Song song với các công việc trên, tỉnh còn triển khai thực hiện tốt việc cho vay vốn phát triển sản xuất với số tiền hàng ngàn tỷ đồng và các chính sách an sinh xã hội khác.

Nhờ sự tập trung đầu tư của Đảng và Nhà nước, sự hỗ trợ, giúp đỡ của cộng đồng và sự nỗ lực, cố gắng vươn lên của chính đồng bào Khmer, cuộc sống của bà con không ngừng được cải thiện. Tỷ lệ hộ Khmer nghèo giảm từ 42,92% năm 2001 (theo tiêu chí cũ) xuống còn 28,48% năm 2008 (theo tiêu chí năm 2005) và không còn hộ thiếu đói. Các xã có đông đồng bào Khmer sinh sống đều có đường ôtô liên xã và đường ôtô đến trung tâm xã; trên 65,5% hộ Khmer ở nông thôn có nước sinh hoạt hợp vệ sinh (năm 1992 là 20%); trên 72% hộ Khmer có điện sử dụng (năm 1992 là 10,05%). Phần lớn diện tích đất nông nghiệp có hệ thống thủy lợi tương đối hoàn chỉnh, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn.

Mặt bằng dân trí vùng đồng bào dân tộc Khmer được nâng lên một bước. Bản sắc văn hoá, truyền thống tốt đẹp của đồng bào được giữ gìn và phát huy. Toàn tỉnh hiện có 157 trường dạy song ngữ Việt - Khmer, có 6 trường dân tộc nội trú và 1 trường bổ túc văn hoá Pali trung cấp Nam Bộ; có 3.070 giáo viên Khmer (chiếm 24,12% giáo viên toàn tỉnh) và 67.966 học sinh Khmer từ mầm non đến trung học phổ thông, trong đó có 40.126 em đang học ở các lớp có dạy chương trình tiếng Khmer (chiếm 65,71% so với tổng số học sinh Khmer tiểu học và trung học). Các chế độ, chính sách đối với giáo viên, học sinh người Khmer được thực hiện tốt. Năm 2008, tỉnh đã cử tuyển 200 em vào các trường đại học, nâng tổng số học sinh được cử tuyển từ năm 2001 đến nay là 962 em.

Công tác chăm sóc sức khỏe đồng bào dân tộc Khmer được quan tâm thực hiện. Hệ thống y tế được củng cố, cơ sở vật chất và trang thiết bị, đội ngũ y, bác sĩ được đầu tư, phát triển. Đến nay, toàn tỉnh có 314 bác sĩ, dược sĩ là người Khmer, 78/106 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế. Tỉnh đã cấp 156.472 thẻ bảo hiểm y tế cho người Khmer nghèo; đầu tư xây dựng được 42 lò hỏa táng cải tiến tại các chùa Khmer với tổng số tiền 11,5 tỷ đồng.

Tỉnh đã tăng cường đầu tư xây dựng các thiết chế văn hoá trong vùng đồng bào dân tộc Khmer. Tiếp tục duy trì, phát huy hiệu quả và đẩy mạnh việc xây dựng tụ điểm văn hoá trong các chùa Khmer. Toàn tỉnh hiện có 65 tụ điểm văn hoá chùa Khmer, 1 đoàn nghệ thuật Khmer chuyên nghiệp, có 2 di sản di tích lịch sử cấp quốc gia, 3 di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh vùng đồng bào Khmer, 1 nhà bảo tàng của tỉnh đang lưu giữ 462 hiện vật văn hoá truyền thống có giá trị về văn hoá lịch sử.

Các lễ hội theo phong tục tập quán và lễ hội tôn giáo của đồng bào, sư sãi Khmer được tổ chức theo nghi thức cổ truyền, phù hợp với điều kiện kinh tế và đúng quy định pháp luật. Việc tu hành của sư sãi và đồng bào Khmer được tôn trọng. Đặc biệt, năm 2008, Lễ hội Ooc - Om - Boc đã được Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch đưa vào danh sách 15 lễ hội thuộc Chương trình quốc gia về du lịch Việt Nam.

Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh duy trì thời lượng phát thanh, truyền hình chương trình tiếng Khmer (hàng ngày phát thanh 3 buổi, truyền hình 2 buổi); 85/85 xã, phường có đông đồng bào Khmer và 50 điểm chùa có máy tiếp âm để phục vụ đồng bào. Tỉnh tiếp tục xuất bản và phát hành tờ báo Sóc Trăng Khmer ngữ 1 kỳ/tuần, tập san Khmer 2 kỳ/năm phát hành rộng rãi không thu tiền đến các cơ quan, ban, ngành và 92 chùa Khmer. Từ đó, góp phần tích cực nâng cao nhận thức chính trị cho cán bộ, đảng viên, sư sãi và đồng bào Khmer.

An ninh chính trị trong vùng đồng bào Khmer cơ bản ổn định. Những âm mưu, thủ đoạn tuyên truyền, xuyên tạc, kích động đồng bào và sư sãi Khmer của các thế lực thù địch được phát hiện, ngăn chặn kịp thời. Các cấp, các ngành quan tâm đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục bà con Khmer về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, tập trung giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, đặc biệt là những khiếu kiện của đồng bào Khmer.

Hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc Khmer được củng cố. Tỉnh ủy rất quan tâm lãnh đạo công tác phát triển đảng viên và quy hoạch, đào tạo, sử dụng cán bộ lãnh đạo, quản lý người dân tộc Khmer. Hiện nay, tổng số đảng viên người Khmer toàn tỉnh là 3.010 đồng chí (chiếm 12,09% tổng số đảng viên); có 4.291 cán bộ, công chức người Khmer (chiếm 16,59% tổng số cán bộ, công chức) và 88.895 đoàn viên, hội viên là người dân tộc Khmer. Hiện có 73 xã, phường, thị trấn có đảng viên là người Khmer; 8 xã, phường, thị trấn có trên 50% đảng viên là người Khmer.

Những kết quả đạt được nêu trên khẳng định chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước đối với công tác dân tộc trong sự nghiệp xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, thể hiện sự vận dụng có hiệu quả của các cấp ủy, chính quyền địa phương, phát huy sức mạnh tổng hợp trong thực hiện chính sách dân tộc, thể hiện sự nỗ lực to lớn của nhân dân nói chung, đồng bào Khmer nói riêng. Đại bộ phận đồng bào, sư sãi Khmer trong tỉnh đều tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Tuy những năm qua mọi mặt hoạt động của tỉnh Sóc Trăng đã được tăng lên đáng kể, nhưng tình hình trong vùng đồng bào dân tộc Khmer và công tác dân tộc của địa phương vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra cần quan tâm giải quyết, như: Tốc độ phát triển kinh tế vùng có đông đồng bào dân tộc Khmer còn chậm; cơ sở hạ tầng kỹ thuật được quan tâm đầu tư nhưng vẫn còn yếu kém; kết quả xoá đói giảm nghèo chưa được bền vững; hộ Khmer nghèo không có đất ở, nhà ở, đất sản xuất còn nhiều. Tình trạng sang bán, cầm cố ruộng đất trong đồng bào Khmer tiếp tục diễn ra. Phân hóa giàu nghèo trong cộng đồng dân cư và trong đồng bào Khmer có chiều hướng gia tăng. Việc nâng cao trình độ dân trí và xây dựng các thiết chế văn hoá trong vùng đồng bào Khmer còn chậm. Tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào Khmer từng lúc vẫn còn tiềm ẩn những nhân tố phức tạp. Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc mặc dù được quan tâm thực hiện, nhưng kết quả còn hạn chế, nhiều nơi còn hụt hẫng. Tỷ lệ cán bộ, đảng viên người Khmer tuy có tăng nhưng vẫn còn thấp. Năng lực và trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Những hạn chế, yếu kém trên có nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan, nhưng chủ yếu là do một số nơi cấp ủy, chính quyền nhận thức chưa sâu sắc, toàn diện về công tác dân tộc trong tình hình mới; việc triển khai, cụ thể hóa, tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Trung ương, của Tỉnh ủy về công tác dân tộc ở một số ngành, địa phương trong tỉnh còn nhiều hạn chế; công tác tuyên truyền, giáo dục các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong đồng bào Khmer chưa được tập trung đúng mức, có lúc chưa kịp thời. Từ thực tế của tỉnh Sóc Trăng, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:

+ Phải chú trọng làm tốt việc quán triệt các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác dân tộc, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của cán bộ và nhân dân, nhất là trong sư sãi và đồng bào dân tộc Khmer, coi đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định đến việc thực hiện hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu về phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội trong vùng đồng bào Khmer.

+ Cán bộ trong toàn bộ hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở phải thường xuyên quan tâm xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đây là yếu tố quan trọng nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp, góp phần cho công tác vận động đồng bào dân tộc Khmer đạt kết quả. Quá trình tổ chức thực hiện, cùng với việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu về phát triển kinh tế - xã hội phải quan tâm giáo dục ý thức tự lực tự cường trong đồng bào Khmer, khắc phục tư tưởng trông chờ vào sự hỗ trợ giúp đỡ của Nhà nước.

+ Thường xuyên chăm lo củng cố, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vùng đồng bào dân tộc Khmer trong sạch, vững mạnh có vai trò quyết định trong việc triển khai các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc. Quan tâm xây dựng lực lượng cốt cán, thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ người dân tộc Khmer. Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội phải quan tâm đổi mới nội dung và phương thức hoạt động nhằm thu hút quần chúng nhân dân vào tổ chức đoàn, hội của mình.

Trong thời gian tới, Đảng bộ và nhân dân Sóc Trăng sẽ phát huy mọi nguồn lực để tiếp tục thực hiện tốt các chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác dân tộc trong vùng đồng bào Khmer; đặc biệt là Chỉ thị số 68-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VI); Nghị quyết Trung ương 7 (khóa IX); Thông báo kết luận số 67-TB/TW, ngày 14-3-2007 của Ban Bí thư, các chương trình mục tiêu quốc gia và các chính sách an sinh xã hội, góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, tạo sự khởi sắc trong vùng đồng bào dân tộc Khmer trên địa bàn tỉnh.

* Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bí thư Tỉnh ủy Sóc Trăng.

 | Trở Về đầu trang    |



KỶ NIỆM 79 NĂM NGÀY THÀNH LẬP MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT VIỆT NAM
(18-11-1930 – 18-11-2009)

 HỒ CHÍ MINH VỚI KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN
TRONG NHỮNG NĂM CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC

                                                                                                              ThS. LÊ THỊ HÒA*

Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, có tính sống còn của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh được quán triệt và thể hiện trong mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng. Năm 1951, trong lời kết thúc buổi ra mắt của Đảng Lao động Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam có thể gồm trong 8 chữ là: Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”1. Dưới sự lãnh đạo của Người, nguồn sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân đã góp phần làm nên thành công to lớn của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 và thắng lợi của 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

1. Ngày 20-7-1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, miền Bắc Việt Nam được hoàn toàn giải phóng. Từ đây, nhân dân miền Bắc bắt đầu khôi phục, cải tạo, xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội. Miền Nam tiếp tục cuộc trường chinh “đi trước về sau”, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trong bối cảnh đó, nói về những nhiệm vụ cần phải làm, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Một là đoàn kết. Hai là xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ba là đấu tranh thống nhất nước nhà”2.

Về đoàn kết, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh “đoàn kết làm nên sức mạnh”, “đoàn kết là điểm mẹ”, là nhân tố góp phần quan trọng vào thành công của sự nghiệp cách mạng, nên Người luôn chăm lo xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnh nội lực của khối đoàn kết toàn dân. Trong những năm đấu tranh giành chính quyền và kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến nội dung trọng yếu này. Thực tế đã chứng minh rằng, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh là vô địch, đồng thời khẳng định chân lý “lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do” và chừng nào “chúng ta đoàn kết” thì mọi âm mưu chia rẽ của kẻ thù đều thất bại. Trong mọi thời điểm cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đều không ngừng quan tâm mở rộng và củng cố Mặt trận Dân tộc Thống nhất từ Nam đến Bắc.

 Trong những năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược (1954 - 1975), toàn Đảng, toàn quân và toàn dân cả nước đã đồng tâm, đồng sức, đồng lòng kiên trì tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân. Từ trong những năm tháng chiến tranh ác liệt đó, sức mạnh đoàn kết của mọi người dân Việt Nam, không phân biệt giai cấp, trẻ, già, trai gái; không phân biệt Lương hay Giáo, đồng bào miền Bắc hay đồng bào miền Nam, đồng bào miền xuôi hay đồng bào miền ngược,... đã ngày một củng cố và phát triển. Thực hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân rộng rãi như vậy, Hồ Chí Minh cũng từng nhiều lần nhắc nhở và thực hiện đoàn kết với tinh thần rộng mở: Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hoà bình, thống nhất, độc lập dân chủ thì chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ. Vì độc lập, tự do, vì hoà bình, thống nhất nước nhà, Người tha thiết kêu gọi tất cả những người thật thà yêu nước, không phân biệt tầng lớp nào, tín ngưỡng nào, chính kiến nào và trước đây đứng về phe nào, hãy thật thà cộng tác vì dân, vì nước. Để khối toàn dân đoàn kết luôn được củng cố và phát triển, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn căn dặn: Cần xoá bỏ mọi thành kiến, cần rộng lòng khoan dung, cần giúp đỡ những người nhẹ dạ, cả tin, vì thiếu hiểu biết mà trở nên xa rời sự nghiệp cách mạng.

2. Giương cao ngọn cờ độc lập, tự do, trong tiến trình đấu tranh cách mạng, giải phóng dân tộc và thống nhất nước nhà, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc một cách sinh động, mềm dẻo, đặc biệt là với đồng bào Thiên chúa giáo. Hồ Chí Minh cho rằng, đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết. Theo Người, muốn huy động sức mạnh toàn dân đoàn kết, muốn toàn thể đồng bào ta đồng tâm, hiệp lực chống kẻ thù chung, vì một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, thì không thể không quan tâm đến vai trò của đồng bào Thiên chúa giáo.

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp năm 1954, đặc biệt là sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, với những điều khoản: vĩ tuyến 17 trở thành giới tuyến quân sự tạm thời, sau hai năm sẽ hiệp thương Tổng tuyển cử để thống nhất đất nước..., đã bị đế quốc Mỹ và các thế lực phản động vi phạm, không nghiêm chỉnh thi hành. Chúng dùng chiêu bài tuyên truyền cộng sản sẽ tiêu diệt tôn giáo, kích động gây căng thẳng giữa chính quyền cách mạng và một bộ phận giáo dân, đồng thời dụ dỗ các giáo dân đang sinh sống yên ổn, làm ăn ở miền Bắc, rời miền Bắc theo Chúa di cư vào Nam. Chúng phao tin “Chính phủ cấm đạo”, “Việt Minh phá đạo”, “không đi thì Mỹ sẽ ném bom nguyên tử chết hết” và “Chúa vào Nam rồi. Ai vào Nam mới còn linh hồn, mới được lên thiên đường”, chúng tăng cường hoạt động phá hoại an ninh, chính trị của miền Bắc, phá hoại cuộc sống bình an của nhân dân, đồng thời xúi bẩy đồng bào Công giáo di cư vào Nam, đẩy những người di cư rơi vào tình trạng cực khổ, chết đói và chết bệnh. Chính tờ Thời báo của Mỹ, số ra ngày 17-9-1954, cũng phải thừa nhận rằng: “Mỗi ngày độ 3000 người Bắc tràn vào Sài Gòn, bơ vơ không chỗ che mưa gió... Họ lăn lóc ở hai bên bờ sông...”. Thực tế cho thấy, đế quốc Mỹ và bọn tay sai Ngô Đình Diệm đã làm hại đồng bào công giáo, phạm tội tuyên truyền chiến tranh, phạm tội làm ô danh Chúa và chia rẽ khối đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ khối đoàn kết giữa Lương và Giáo.

Đứng trước những khó khăn, thử thách đó, Hồ Chí Minh vừa kiên trì và mềm mỏng, vừa rất sắc sảo và linh hoạt trong cách ứng xử với các vị chức sắc tôn giáo, khoan hòa với các giáo dân để làm yên lòng những con chiên của Chúa. Một mặt, Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch rõ âm mưu thâm độc của Ngô Đình Diệm, yêu cầu phải sớm ngăn chặn những âm mưu lợi dụng tôn giáo của kẻ địch, “kiên quyết trừng trị những kẻ mượn đạo làm nhục Chúa, làm hại dân”; mặt khác, Người xót xa, đồng cảm với những con chiên nhẹ dạ, cả tin.

 Dùng bút danh C.B, Người viết bài: “Quê đâu cho bằng quê nhà, nhà ta ta ở, việc ta ta làm”, đăng báo Nhân dân, số ra ngày 10-8-1954 (Bài này chưa có trong Hồ Chí Minh toàn tập), chỉ rõ những điều phi lý của chiêu bài giả dối mượn danh Chúa đó, đồng thời khuyên nhủ đồng bào công giáo hãy yên ổn sinh sống tại quê hương:

“Dạo này, bọn Ngô Đình Diệm đang ra sức dụ dỗ, lừa bịp, ép buộc một số đồng bào (ở vùng tạm bị chiếm) bỏ nhà bỏ cửa mà vào Nam.

Bọn Diệm bịa đặt nói: Chính phủ ta sẽ tịch thu những nhà công thương nghiệp, trừng trị những người đã làm việc cho đối phương, khủng bố đồng bào công giáo,... đó là âm mưu đê hèn, thâm độc, nhằm chia rẽ những đồng bào ấy với Chính phủ ta, hòng phá hoại tình đoàn kết giữa nhân dân ta.

Ai cũng biết rằng Chính phủ ta đã công bố và thi hành chính sách bảo hộ tính mệnh tài sản của nhân dân trong vùng mới giải phóng, chính sách khoan hồng đối với những kẻ trước đã lỡ đi nhầm đường, chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng đối với các tôn giáo. Âm mưu của bọn Diệm là một thứ thuốc độc, ai nhẹ dạ thì mới bị.

Mặt nạ của bọn Diệm đã bị lột trần: những người lầm nghe lời chúng đã vào Nam, ai tuổi trẻ sức khoẻ, thì bị chúng bắt đi làm lính nguỵ, hoặc đi làm phu cho các đồn điền; ai yếu đuối thì bị chúng bỏ rơi, sống chết mặc kệ, ...

Đời nào bánh đúc có xương,
Đời nào bọn Diệm biết thương đồng bào!

Cũng may, hàng nghìn người bị chúng lừa bịp (nhất là cựu ngụy binh), đã kịp thời bỏ Diệm mà quay về quê hương mình, an cư lạc nghiệp. Những người đang bị chúng mê hoặc, cần phải suy nghĩ lại cho kỹ, kẻo một khi đã lọt vào cạm bẫy của chúng, thì sẽ:

Trông về trời bể mênh mông,
Bà con đã cách, xóm làng đã xa,
Lưu ly không cửa không nhà
Chân trời góc bể, biết là về đâu”.

3. Thực hiện tư tưởng đại đoàn kết toàn dân, trong những năm cả nước đồng thời tiến hành, kháng chiến chống Mỹ để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm hết sức mình nhằm xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa lương và giáo, giữa tôn giáo với dân tộc. Theo Người, kính Chúa gắn liền với yêu nước, vừa phụng sự Thiên chúa vừa phụng sự Tổ quốc; nước có vinh thì đạo mới sáng, nước có độc lập thì tín ngưỡng mới được tự do,... Cũng theo quan niệm của Người, đối với người có tôn giáo, đức tin tôn giáo và lòng yêu nước không hề mâu thuẫn. Một người dân Việt Nam có thể vừa là một người yêu nước, đồng thời cũng là một tín đồ chân chính. Tôn giáo với dân tộc bao giờ cũng được Người xem xét, giải quyết trên tinh thần của khối đại đoàn kết toàn dân. Bởi rằng, tôn giáo chỉ có thể khẳng định được mình khi sống giữa lòng dân tộc và dân tộc trên con đường phát triển cần thiết phải biết phát huy những giá trị tích cực của tôn giáo.

Từ thực tiễn cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ngày 20-12-1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã ra đời. Sau đó, Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam được thành lập (ngày 21-4-1968) nhằm động viên, giúp đỡ những trí thức và công chức yêu nước trong bộ máy ngụy quyền Sài Gòn để họ có thể tham gia, đóng góp sức mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Hai tổ chức trên cùng với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đều hướng đến mục tiêu chung, cao cả đó là “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào” do Đảng ta lãnh đạo.

Sự ra đời của các hình thức tổ chức, tập hợp quần chúng rộng rãi nêu trên là một thành công lớn trong việc thực hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân, thực hiện đoàn kết giữa các lực lượng, các giai tầng, các tôn giáo theo tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng ta. Đây đồng thời cũng là sự quán triệt tư tưởng lấy dân làm gốc, cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, được Đảng ta do Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện nhận thức và phát huy cao độ trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng. Sau 21 năm trường kỳ và gian khổ tiến hành cuộc kháng chiến, bằng cuộc Tổng tấn công nổi dậy mùa xuân 1975, miền Nam đã được giải phóng, Nam - Bắc đã sum họp một nhà, non sông đã liền một dải. Hoài bão một nước Việt Nam độc lập, hoà bình, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã trở thành sự thật.

Trên cơ sở mục tiêu nhất quán là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thực hiện đại đoàn kết dân tộc là cơ sở đi đôi với hiện thực đoàn kết quốc tế, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hoà bình trên thế giới với cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam, Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam lên một tầm cao mới, đã huy động nguồn sức mạnh của quần chúng nhân dân được giác ngộ, được tổ chức lại thành sức mạnh to lớn - nhân tố đảm bảo thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Sau hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước Việt Nam đã ngày một hồi sinh, hội nhập và phát triển. Hơn lúc nào hết, càng nhiều cam go thử thách, chiến lược đại đoàn kết toàn dân theo tư tưởng và những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong đường lối chiến lược của Đảng nhằm huy động nguồn sức mạnh nội lực của toàn dân tộc càng được củng cố và phát huy mạnh mẽ. Đó không chỉ là yêu cầu tất yếu của lịch sử, đó còn là một trong những nhân tố quan trọng hàng đầu, đảm bảo thắng lợi của sự nghiệp cách mạng.

______________

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, t.6, tr.183.
2. Hồ Chí Minh, Sđd, t.11, tr.130.

* Đại học Giao thông vận tải.

 | Trở Về đầu trang    |

 

        Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc năm 2009 
      Các điển hình tiêu biểu trong CVĐ TDĐKXDĐSVH ở KDC (2004-2009)
      Đối ngoại nhân dân MTTQ (2004-2009)


                      hoan nghênh bạn đọc góp ý cho tạp chí

 
 
 
                                  Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc năm 2008
 
 

 
 

Giới thiệu Uỷ ban MTTQ Việt Nam 63 tỉnh, thành phố trong cả nước !

 

 

 

 

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết dự ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc tại khu dân cư số 7, phường Quán Thánh 

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng dự Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc tại khu dân cư Đồng Sơn, xã Liên Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam
 

 Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Huỳnh Đảm về dự Ngày Hội đại đoàn kết toàn dân tộc tại thôn Đa Tốn, huyện Gia Lâm, Hà Nội  

 

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng: Cần tiếp tục quan tâm hơn nữa đến công tác Mặt trận

  ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM          
 

   bến nhà Rồng ( TP Hồ Chí Minh )


Khuê các Văn miếu
TP Hà Nội


   

    Dinh Thống nhất

              Mai Châu Hoà Bình


    Biển Hà Tiên       

 
 

|   Giới thiệu  |   Mặt trận Tỉnh Thành  | Tổ chức thành viên |  Hội đồng tư vấn   |   English

 | Trở Về đầu trang    |

Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2008 Trang TTĐT - Cơ quan UBTW MTTQ Việt Nam.
Giấy phép số:111/GP-BC của Bộ Thông tin và Truyền thông • Trưởng ban Biên tập: LÊ BÁ TRÌNH • Phó ban Biên tập: NGUYỄN TUẤN ANH
Địa chỉ: 46 Tràng Thi - Hà Nội • ĐT:04-9287401;  Email:
ubmttqvn@mattran.org.vn