Ðặt làm trang chủ

    Google   

                 | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ |   

             | Hộp Thư |
     
 
 

 

 

 

 

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh: Tinh thần của Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc phải trở thành nếp nghĩ, nếp sống hàng ngày của mỗi người dân
 

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: Mặt trận Dân tộc thống nhất luôn phát huy tốt vai trò tập hợp và đoàn kết sức mạnh toàn dân 

 
 

    TIN MỚI :                                                                    thông tin được cập nhật liên tục  



 SỐ 69   (7-2009 )


 

 MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
VỚI CÁC PHONG TRÀO, CUỘC VẬN ĐỘNG

Môi trường làng nghề và những vấn đề đặt ra



MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

                                                                                      PHẠM THỊ KIM CÚC*

Làng nghề là một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam. Đa số làng nghề đã trải qua lịch sử hình thành và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Báo cáo Môi trường quốc gia năm 2008 cho thấy ở nước ta, làng nghề phân bố tập trung chủ yếu tại đồng bằng sông Hồng (chiếm 60%), ở miền Trung 30% và miền Nam 10%. Dựa trên các yếu tố tương đồng về ngành sản xuất, sản phẩm, thị trường nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm, có thể chia hoạt động làng nghề nước ta ra thành 6 nhóm ngành chính gồm: thủ công mỹ nghệ; chế biến lương thực, thực phẩm; chăn nuôi, giết mổ; dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da; vật liệu xây dựng, khai thác đá; tái chế phế liệu và các ngành nghề khác. Mỗi ngành chính có nhiều ngành nhỏ.

Tính từ khi nước ta thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế làng nghề phát triển mạnh, nhưng cơ bản vẫn mang tính tự phát, nhỏ lẻ; thiết bị thủ công, đơn giản; công nghệ lạc hậu, mặt bằng sản xuất nhỏ hẹp cộng thêm ý thức người dân làng nghề trong việc bảo vệ môi trường sinh thái và bảo vệ sức khoẻ con người còn hạn chế,... Những yếu kém và hạn chế nói trên đã tạo sức ép không nhỏ đến chất lượng môi trường sống của chính làng nghề và cộng đồng xung quanh.

Biểu hiện rõ nhất của vấn đề này là môi trường của không ít làng nghề đang bị suy thoái trầm trọng. Các chất thải phát sinh tại nhiều làng nghề đã và đang gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, tác động trực tiếp tới sức khỏe người dân và ngày càng trở thành vấn đề bức xúc. Theo báo cáo Môi trường quốc gia năm 2008, ô nhiễm môi trường không khí tại các làng nghề có nguồn gốc chủ yếu từ đốt nhiên liệu và sử dụng các nguyên vật liệu, hóa chất trong dây chuyền sản xuất; ô nhiễm nước diễn ra đặc biệt nghiêm trọng do khối lượng nước thải của các làng nghề là rất lớn, hầu hết lại chưa qua xử lý mà được xả thẳng ra hệ thống sông ngòi, kênh rạch. Ngoài ra, chất thải rắn ở hầu hết các làng nghề chưa được thu gom và xử lý triệt để gây tác động xấu tới cảnh quan môi trường, gây ô nhiễm môi trường không khí, nước và đất. Theo dự báo, ô nhiễm không khí, nước và đất ở các làng nghề sẽ còn diễn biến phức tạp nếu không kịp thời và cương quyết áp dụng các giải pháp quản lý và kỹ thuật.

Ô nhiễm môi trường làng nghề là nguyên nhân gây ra các dịch bệnh cho người dân đang lao động và sinh sống tại chính làng nghề. Tỷ lệ người mắc bệnh tại các làng nghề đang có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây, tập trung vào một số bệnh, như: các bệnh ngoài da, bệnh đường hô hấp, tiêu hóa, thần kinh, bệnh phụ khoa và các bệnh về mắt… Đặc biệt, tỉ lệ người mắc bệnh ung thư tương đối cao ở một số làng nghề. Các kết quả nghiên cứu cho thấy, tuổi thọ trung bình của người dân tại các làng nghề ngày càng giảm đi, thấp hơn 10 năm so với tuổi thọ trung bình toàn quốc và thấp hơn từ 5 đến 10 năm so với làng không làm nghề. Ô nhiễm môi trường làng nghề còn gây ảnh hưởng trực tiếp tới các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của chính làng nghề đó, gây ra những tổn thất kinh tế không nhỏ và dẫn đến những xung đột môi trường trong cộng đồng.

Trước thực trạng trên, bảo vệ môi trường làng nghề là vấn đề được quan tâm của cả xã hội. Nhiều văn bản của Đảng và Nhà nước đã ban hành đề cập đến vấn đề này, như: Nghị quyết 41/NQ-TƯ năm 2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 định hướng đến năm 2020; Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 và các văn bản, như: Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 7-7-2006 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn; Thông tư số 113/TT-BTC ngày 28-12-2006 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn một số nội dung về ngân sách nhà nước hỗ trợ phát triển ngành nghề nông thôn… Một số địa phương có làng nghề cũng đã chú ý đến việc ban hành các văn bản liên quan nhằm cụ thể hóa đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước ở địa phương mình. Một số làng nghề đã từng bước ứng dụng các công nghệ mới trong xử lý chất thải, giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Công tác xã hội hóa bảo vệ môi trường làng nghề của nhà nước đã bắt đầu được chú ý và đã huy động được sự tham gia tích cực của các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương và của chính người dân, người sản xuất.

Trong công tác bảo vệ môi trường của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thực hiện Nghị quyết liên tịch số 01/2004/NQLT-MTTQ-BTNMT ngày 28-10-2004 giữa Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc phối hợp thực hiện Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia, hàng năm Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã xây dựng kế hoạch cụ thể triển khai thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường: chỉ đạo mở các chuyên mục về môi trường và bảo vệ môi trường trên các phương tiện thông tin của hệ thống Mặt trận, như:  Tạp chí Mặt trận, Thông tin Công tác Mặt trận, Báo Đại đoàn kết, Báo Người công giáo Việt Nam…; phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam xây dựng các phóng sự về toàn dân tham gia bảo vệ môi trường; tổ chức biên soạn tài liệu Sổ tay bảo vệ môi trường cho cán bộ Mặt trận cơ sở; điều tra, khảo sát thực tiễn ở một số tỉnh và triển khai xây dựng mô hình thí điểm lồng ghép nhiệm vụ bảo vệ môi trường vào cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” mà một lĩnh vực không thể thiếu là bảo vệ môi trường tại các làng nghề. Nhằm hưởng ứng và động viên các địa phương thực hiện phong trào toàn dân tham gia bảo vệ môi trường, trong đó có bảo vệ môi trường làng nghề, Mặt trận Tổ quốc các cấp đã thường xuyên chỉ đạo tổ chức các hoạt động làm vệ sinh đường làng ngõ xóm, các khu vực công cộng; trồng và chăm sóc cây xanh; trồng rừng phủ xanh đất trống, đồi núi trọc; xây dựng các công trình vệ sinh; phối hợp với các cấp ủy đảng, chính quyền tổ chức mít tinh trong quần chúng nhân dân ở các địa phương hưởng ứng Ngày môi trường thế giới (5-6)... Có thể thấy, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp và các tổ chức thành viên đã thể hiện vai trò, trách nhiệm của mình và từng bước thực hiện có hiệu quả các nội dung, nhiệm vụ được quy định trong Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia và góp phần không nhỏ trong công tác bảo vệ môi trường làng nghề, đó là:

- Góp phần từng bước tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, hành động của người dân; tạo sự quan tâm, chú ý của cộng đồng xã hội trong việc bảo vệ môi trường nơi sinh sống, trong sinh hoạt gia đình hàng ngày và những hoạt động sản xuất, kinh doanh, chăn nuôi, trồng trọt…

- Phát huy quyền làm chủ, nâng cao tính tích cực, chủ động của người dân trong việc tham gia thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, trong đó có các quy định về môi trường làng nghề cũng như xây dựng các quy ước, hương ước của cộng đồng dân cư trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Nhiều hương ước đã ra đời tại các làng nghề, nhiều tổ chức tự nguyện hoạt động bảo vệ môi trường với sự đóng góp tài chính của từng hộ sản xuất đã hoạt động hiệu quả.

- Tăng cường sự thống nhất hành động trong hệ thống Mặt trận, phối hợp với chính quyền, ngành chuyên môn trong việc huy động toàn xã hội tham gia công tác bảo vệ môi trường nói chung, môi trường làng nghề nói riêng là một trong những nhiệm vụ rất quan trọng, việc cần làm ngay.

Thực tế cho thấy, mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định trong bảo vệ môi trường làng nghề, song vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại, bất cập chưa được giải quyết, đáng quan tâm nhất là công tác quản lý. Đây chính là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến cho môi trường tại nhiều làng nghề trong thời gian qua chưa được cải thiện, nhiều nơi xuống cấp nghiêm trọng. Biểu hiện rõ nhất của những yếu kém là các văn bản quy phạm pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề còn thiếu và chưa cụ thể; chức năng, nhiệm vụ về bảo vệ môi trường làng nghề của các cấp quản lý chưa rõ ràng; chưa có quy hoạch các khu, cụm công nghiệp tập trung làng nghề; tổ chức thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề còn yếu và chưa phát huy hiệu quả; nhân lực, tài chính và công nghệ cho bảo vệ môi trường làng nghề không đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của thực tiễn; chưa huy động được đầy đủ các nguồn lực xã hội trong bảo vệ môi trường làng nghề.

Trong giai đoạn tiếp theo, các làng nghề cần được phát triển theo định hướng bền vững, đóng góp xứng đáng vào sự phát triển kinh tế, tạo ra công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường nông thôn. Trên cơ sở các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước, để giảm thiểu ô nhiễm môi trường làng nghề, năm 2008 Bộ Tài nguyên và Môi trường đã kiến nghị áp dụng tổng hợp các giải pháp để quản lý, bảo vệ môi trường làng nghề, tập trung vào các nội dung:

Một là, hoàn thiện thể chế, tăng cường tổ chức thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề. Trong đó chú trọng việc tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống chính sách, văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật riêng cho vấn đề bảo vệ môi trường làng nghề, đồng thời xây dựng các quy định về vệ sinh môi trường tại các làng nghề và quy chuẩn quốc gia về khí thải, nước thải phù hợp với các cơ sở sản xuất ở các làng nghề. Quy hoạch không gian làng nghề gắn với bảo vệ môi trường theo hai loại hình chính là tập trung theo cụm công nghiệp nhỏ và quy hoạch phân tán tại chỗ, tuy nhiên với mỗi loại hình làng nghề cần có những mô hình quy hoạch cụ thể phù hợp với tính chất làng nghề và đặc điểm địa phương.

Hai là, với các làng nghề đang hoạt động, giải pháp hợp lý là tăng cường công tác quản lý và hoạt động giám sát môi trường chặt chẽ, áp dụng các công nghệ xử lý chất thải đi đôi với hạn chế phát triển mới, hạn chế mở rộng các cơ sở sản xuất tái chế chất thải, dệt nhuộm và thuộc da thủ công trong các làng nghề. Nghiêm cấm sử dụng trong làng nghề những phương pháp sản xuất thủ công và thiết bị gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Nghiêm cấm các làng nghề hoạt động sử dụng quặng có tính phóng xạ, tái chế chất thải nguy hại.

Ba là, khẩn trương có các giải pháp xử lý đối với làng nghề đang bị ô nhiễm nghiêm trọng theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng (có 13 làng nghề bị đưa vào danh sách này). Mặt khác, cần tăng cường thanh tra, kiểm tra phát hiện mới các làng nghề gây ô nhiễm nghiêm trọng để đưa vào danh sách “đen” và có các biện pháp xử lý kịp thời. Ngoài ra, việc xử lý ô nhiễm môi trường không chỉ giới hạn trong phạm vi làng nghề mà cần phải xử lý cả các khu vực đã bị làng nghề làm ô nhiễm như các sông hồ.

Bốn là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho chủ cơ sở sản xuất, người lao động và cả cộng đồng dân cư tại các làng nghề về bảo vệ môi trường. Vấn đề đặt ra là phải mở rộng và đa dạng các hình thức tuyên truyền cho phù hợp với từng đối tượng, địa bàn góp phần tạo nên sự nhất trí trong nhận thức và hành động bảo vệ môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững.

Năm là, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tham gia bảo vệ môi trường nói chung, bảo vệ môi trường làng nghề nói riêng, nhất là ở các địa phương có nhiều làng nghề truyền thống. Cần đa dạng hóa các nội dung hoạt động bảo vệ môi trường như phát động các phong trào thi đua, lồng ghép nhiệm vụ bảo vệ môi trường; tham gia xây dựng và gương mẫu thực hiện hương ước, quy ước của cộng đồng dân cư gắn với nội dung bảo vệ môi trường; thông qua hoạt động giám sát tại chỗ để phát hiện những vi phạm về môi trường trong các cơ sở sản xuất, các hộ gia đình làm nghề kiến nghị cơ quan chức năng xử lý...

Sáu là, xây dựng các mô hình điểm bảo vệ môi trường làng nghề và nhân rộng các mô hình này, như: mô hình khu dân cư tự quản bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế hộ gia đình gắn với bảo vệ môi trường,... Mặt khác, khuyến khích tăng cường và đa dạng hóa đầu tư tài chính tạo cơ hội cho các làng nghề có thể chủ động tháo gỡ khó khăn bảo vệ tốt môi trường làng nghề.

* Chuyên viên Trung tâm Công tác lý luận, cơ quan Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

 | Trở Về đầu trang    |

 


 


                      hoan nghênh bạn đọc góp ý cho tạp chí

 
 
 
                                  Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc năm 2008
 
 

 
 

Giới thiệu Uỷ ban MTTQ Việt Nam 63 tỉnh, thành phố trong cả nước !

 

 

 

 

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết dự ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc tại khu dân cư số 7, phường Quán Thánh 

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng dự Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc tại khu dân cư Đồng Sơn, xã Liên Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam
 

 Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Huỳnh Đảm về dự Ngày Hội đại đoàn kết toàn dân tộc tại thôn Đa Tốn, huyện Gia Lâm, Hà Nội  

 

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng: Cần tiếp tục quan tâm hơn nữa đến công tác Mặt trận

  ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM          
 

   bến nhà Rồng ( TP Hồ Chí Minh )


Khuê các Văn miếu
TP Hà Nội


   

    Dinh Thống nhất

              Mai Châu Hoà Bình


    Biển Hà Tiên       

 
 

|   Giới thiệu  |   Mặt trận Tỉnh Thành  | Tổ chức thành viên |  Hội đồng tư vấn   |   English

 | Trở Về đầu trang    |

Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2008 Trang TTĐT - Cơ quan UBTW MTTQ Việt Nam.
Giấy phép số:111/GP-BC của Bộ Thông tin và Truyền thông • Trưởng ban Biên tập: LÊ BÁ TRÌNH • Phó ban Biên tập: NGUYỄN TUẤN ANH
Địa chỉ: 46 Tràng Thi - Hà Nội • ĐT:04-9287401;  Email:
ubmttqvn@mattran.org.vn