SỐ 58                                 

 KINH NGHIỆM THỰC TIỄN


Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của khối dân vận xã , phường thị trấn hiện nay


MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA KHỐI DÂN VẬN XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN HIỆN NAY

Khối dân vận xã, phường, thị trấn do cấp uỷ đảng thành lập theo Hướng dẫn số 01-HDLB/TC-DV-TW, ngày 25-5-2000 của Ban Tổ chức Trung ương Đảng và Ban Dân vận Trung ương Đảng "Về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và biên chế cán bộ của Ban Dân vận địa phương". Sau khi ra đời và đi vào hoạt động, khối dân vận đã phát huy vai trò tích cực trong việc tham mưu tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác dân vận, đưa chủ trương, chính sách vào cuộc sống.

 Mặc dù còn khó khăn nhiều mặt, nhưng về cơ bản khối dân vận ở cơ sở đã bám sát chức năng, nhiệm vụ theo hướng dẫn của Trung ương; thực hiện tốt sự phân công, phối hợp giữa các thành viên trong triển khai các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về công tác dân vận; hướng dẫn các phong trào quần chúng thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở.

Tuy nhiên, nhìn chung chất lượng hoạt động của khối dân vận còn nhiều hạn chế, bất cập so với yêu cầu vận động quần chúng ở cơ sở. Sau hơn 7 năm triển khai thực hiện, song số xã, phường, thị trấn có khối dân vận hoạt động thực sự hiệu quả còn ít. Tính hình thức trong tổ chức và hoạt động khối dân vận vẫn tồn tại ở nhiều xã, phường, thị trấn. Năng lực tham mưu tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách về dân vận còn nhiều hạn chế. Việc theo dõi, nắm bắt tình hình nhân dân và tham mưu giải quyết những vấn đề cụ thể liên quan đến công tác dân vận còn bị động, lúng túng. Một số nơi, hoạt động của khối dân vận mang nặng tính hành chính, nặng về phân công nhiệm vụ, ít chú trọng phát huy dân chủ của các thành viên. Công tác tuyên truyền vận động, tập hợp chưa thật đa dạng phong phú; một bộ phận lớn quần chúng chưa được thu hút, tập hợp vào các đoàn thể và ít được quan tâm vận động. Khối dân vận cũng chưa làm tốt việc phát hiện, hướng dẫn tổ chức các phong trào quần chúng. Nhiều phong trào tự phát của quần chúng chưa được giúp đỡ tạo điều kiện để phát triển; những nhân tố tích cực từ phong trào quần chúng chưa được quan tâm khuyến khích, cổ vũ kịp thời. Việc phối hợp thực hiện các phong trào thi đua, các cuộc vận động giữa các thành viên của khối chưa thật gắn bó, còn chồng chéo. Vai trò hướng dẫn, chỉ đạo hoạt động của các đoàn thể đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng quần chúng còn yếu. Chưa quan tâm sơ kết, tổng kết công tác xây dựng và hoạt động của khối để có tham mưu, đề xuất, kiến nghị cụ thể sửa đổi, bổ sung quy định về chức năng nhiệm vụ, cũng như quy chế hoạt động của khối.

Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế, yếu kém nêu trên, trước hết là do nhận thức của cấp ủy đảng về vị trí, vai trò công tác dân vận chưa đầy đủ, đúng đắn, do vậy chưa quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên đối với công tác dân vận. Chế độ chính sách đối với cán bộ cơ sở nói chung, đặc biệt là cán bộ dân vận, còn nhiều bất hợp lý, không đảm bảo điều kiện hoạt động và do đó không có khả năng động viên, thu hút cán bộ có năng lực về cơ sở công tác. Một số quy định và hướng dẫn của cấp trên còn thiếu đồng bộ, thiếu thống nhất, gây khó khăn cho địa phương, cơ sở khi vận dụng thực hiện1. Công tác hướng dẫn và kiểm tra thực hiện chủ trương về lập khối dân vận chưa được tiến hành thường xuyên, những khó khăn vướng mắc từ cơ sở chưa được quan tâm tháo gỡ, những điển hình làm tốt chưa được phát hiện kịp thời để phổ biến, nhân rộng.

Từ kết quả nghiên cứu thực tế các địa phương, cơ sở, trong điều kiện hiện tại, để nâng cao hiệu quả hoạt động của khối dân vận cần giải quyết tốt một số vấn đề sau:

Một là, phải đề cao trách nhiệm lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy đảng đối với tổ chức và hoạt động của khối dân vận. Không giống như các tổ chức, cơ quan khác, khối dân vận không có bộ máy chuyên trách, không có cơ quan thường trực, hoạt động của khối chủ yếu được thực hiện thông qua các thành viên; vì vậy, vai trò điều hành của cấp ủy đảng, mà trực tiếp và thường xuyên là của trưởng khối rất quan trọng. Để điều hành tốt hoạt động của khối, trưởng khối nhất thiết phải do Thường trực cấp uỷ đảng đảm nhiệm. Trong trường hợp Phó Bí thư Thường trực tổ chức đảng kiêm nhiệm nhiều việc không thể làm trưởng khối, thì đồng chí Bí thư Đảng uỷ phải trực tiếp điều hành hoạt động khối dân vận. Thực tiễn cho thấy ở những nơi trưởng khối dân vận không phải là thường trực cấp uỷ đảng, hoạt động của khối thường khó khăn, kém hiệu quả.

Hai là, cần bám sát chức năng, nhiệm vụ của khối dân vận để tránh hoạt động hình thức hoặc ôm đồm, sự vụ. Chức năng cơ bản của khối dân vận là tham mưu tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác dân vận. Để thực hiện tốt chức năng tham mưu, nhiệm vụ của khối là huy động, tập hợp và phát huy mọi tiềm lực của các thành viên hệ thống chính trị trong việc thực hiện và phối hợp thực hiện các nhiệm vụ dân vận. Do đặc thù về tổ chức, hoạt động của khối dân vận bao hàm cả hoạt động lãnh đạo của cấp uỷ đảng, đồng thời cũng có những điểm tương đồng với hoạt động của Mặt trận Tổ quốc. Không bám sát chức năng nhiệm vụ, hoạt động của khối dễ chỉ thiên về hoạt động lãnh đạo của cấp ủy đảng. Thực tế các cuộc họp giao ban của khối dân vận cũng có thành phần tham dự như giao ban của cấp uỷ đảng với các thành viên hệ thống chính trị. Do vậy, ở một số nơi tổ chức họp giao ban khối dân vận được tiến hành giống như cách thức cấp uỷ đảng triệu tập đến để giao nhiệm vụ, ít quan tâm thảo luận dân chủ cùng phối hợp tham mưu của các thành viên của khối. Mặt khác, dưới góc độ công tác mặt trận, có thể thấy về cơ bản thành viên tham gia khối dân vận cũng đồng thời là thành viên của Mặt trận. Sự tương đồng về tổ chức rất dễ dẫn tới nhầm lẫn về nội dung và phương thức hoạt động một khi trưởng khối dân vận đồng thời là Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc.

Cùng với việc bám sát chức năng, nhiệm vụ, cần xây dựng quy chế hoạt động cụ thể, quy định rõ trách nhiệm của mỗi thành viên trong thực hiện và phối hợp thực hiện các nhiệm vụ công tác dân vận. Hiện tại đã có những cơ sở xây dựng được quy chế với những quy định rất cụ thể, như: chế độ giao ban định kỳ, chế độ báo cáo của các thành viên trước mỗi kỳ họp đối với trưởng khối, chế độ giao nhận nhiệm vụ và kiểm tra thực hiện nhiệm vụ công tác dân vận,… Tuy vậy, số cơ sở có được những quy chế cụ thể như vậy chưa nhiều, còn lại khá phổ biến là xây dựng quy chế mang tính chiếu lệ với những quy định chung chung không rõ trách nhiệm, cốt chỉ để có báo cáo với cấp trên, thậm chí còn có sự tham khảo và sao chép nguyên mẫu lẫn nhau.

Ba là, cần thiết phải có một cán bộ chuyên trách giúp việc thường xuyên cho trưởng khối dân vận. Nhiệm vụ cụ thể của cán bộ chuyên trách là giúp trưởng khối duy trì hoạt động của khối theo quy chế và theo dõi, đôn đốc thực hiện chương trình kế hoạch đã đặt ra. Trong điều kiện hiện tại, việc bố trí thêm một cán bộ không chuyên trách cho khối dân vận cùng với phụ cấp chi trả hàng tháng là hoàn toàn khả thi trong phạm vi thẩm quyền của các địa phương. Nghị quyết số 08/2004/NQ-CP, ngày 30-6-2004 của Chính phủ về tiếp tục đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, đã quy định "Chính quyền cấp tỉnh quyết định cụ thể số lượng cán bộ chuyên trách, công chức thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã theo quy định khung của Chính phủ; quyết định số lượng và mức phụ cấp đối với cán bộ không chuyên trách cấp xã". Như vậy, Chính phủ chỉ quy định số lượng cụ thể đối với cán bộ chuyên trách và công chức cấp xã, còn cán bộ không chuyên trách cấp xã, thôn, tổ dân phố thuộc thẩm quyền của địa phương.

 Căn cứ Nghị quyết 08 của Chính phủ, từ năm 2005, một số tỉnh, thành có những chính sách cụ thể đối với khối dân vận và cán bộ dân vận cơ sở, như: bổ sung 1 cán bộ không chuyên trách cho khối dân vận cùng mức phụ cấp tương đương cấp phó các đoàn thể; quy định mức phụ cấp theo hệ số cho cấp phó các đoàn thể cấp xã và một số chức danh cán bộ ở thôn (ấp, khu dân cư…)2. Tiếc rằng vẫn còn nhiều địa phương chưa thật quán triệt thấu đáo Nghị quyết 08 của Chính phủ, mà vẫn phụ thuộc nhiều vào những quy định của Nghị định 121/2003/NĐ-CP, ngày 21-10-2003 của Chính phủ nên chưa giải quyết được những khó khăn, vướng mắc với đội ngũ cán bộ dân vận cơ sở nói chung và với khối dân vận nói riêng.

Bốn là, cần phải năng động sáng tạo trong xây dựng mô hình khối dân vận đáp ứng yêu cầu công tác vận động quần chúng, đồng thời phù hợp với đặc điểm, điều kiện thực tế địa phương cơ sở. Hướng dẫn 01 của Trung ương về tổ chức bộ máy và chức năng nhiệm vụ của khối dân vận tuyệt nhiên chưa phải là khuôn mẫu hoàn chỉnh phù hợp với mọi cơ sở xã, phường, thị trấn mà chỉ là những định hướng chung để địa phương, cơ sở tiếp tục cụ thể hoá thực hiện. Mô hình tổ chức cần thích hợp với đặc điểm và điều kiện cụ thể của công tác vận động quần chúng ở từng cơ sở. Từ thực tế địa phương, ở một số nơi, ngoài những thành viên quy định theo Hướng dẫn 01, còn mở rộng thêm thành viên là trưởng các hội quần chúng, Bí thư Chi bộ, trưởng thôn (ấp). Một số xã, phường, thị trấn (thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) bố trí 2 phó trưởng khối, trong đó có Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân nhằm tăng cường và nâng cao trách nhiệm công tác dân vận của chính quyền.

Năm là, Ban Dân vận cấp uỷ đảng cấp trên cần quan tâm hướng dẫn xây dựng quy chế hoạt động của khối dân vận phù hợp với thực tế địa phương, cơ sở, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động của khối trong điều kiện hiện nay. Cùng với việc hướng dẫn xây dựng quy chế hoạt động, cần tham mưu chỉ đạo xây dựng quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị cơ sở. Chỉ trên cơ sở quy chế công tác dân vận, khối dân vận mới có điều kiện phát huy đầy đủ vai trò và làm tốt chức năng, nhiệm vụ theo quy định.n

____________

1. Hướng dẫn của Ban Dân vận, Ban Tổ chức, Ủy ban Kiểm tra, Ban Tuyên giáo Trung ương đều quy định Phó Bí thư cấp ủy làm cấp trưởng (Trưởng khối, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra, Trưởng ban Tổ chức, Trưởng ban Tuyên giáo)

Nghị định 121/2003/NĐ-CP của Chính phủ chỉ quy định chức danh không chuyên trách đối với Văn phòng, Ủy ban Kiểm tra, Ban Tổ chức, Ban Tuyên giáo, còn khối dân vận không được đề cập

2. Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu quy định mức phụ cấp theo hệ số từ 0,3 đến 1,0 cho các chức danh: Bí thư chi bộ, Phó Bí thư Chi bộ, Trưởng thôn, Trưởng ban Công tác Mặt trận và Trưởng các chi hội đoàn thể.

Về đầu trang


SỐ 55 | SỐ 56 | 57
 

 

 

 

 
 
English
Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2007 Trang TTĐT - Cơ quan UBTW MTTQ Việt Nam.
Giấy phép số:111/GP-BC, Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 20 tháng 3 năm 2008 • Tổng Biên tập: LÊ BÁ TRÌNH • Phó Tổng Biên tập: NGUYỄN TUẤN ANH
Địa chỉ: 46 Tràng Thi - Hà Nội • ĐT: • Fax:  Email: mttqvn@mattran.org.vn