|
|
|
Thống kê
truy cập Số lượt truy cập
Số lượt: |
|
|
 |
|
|

SỐ 57

|
VẤN ĐỀ SỰ KIỆN |
Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam với công tác phòng, chống tham nhũng
Hoàn thiện chính sách ưu đãi người có công là ý Đảng,
lòng dân
|
|
|
|
|
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
VỚI CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG
LTS: Đầu tháng 7-2008, tại Thủ đô Hà Nội, Ban Chỉ đạo Trung
ương về phòng, chống tham nhũng và Ban Thường trực Ủy ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tổ chức hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm
về công tác phòng, chống tham nhũng. Tại hội nghị, đồng chí Vũ Trọng
Kim, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Ủy ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã trình bày một số nội dung về
công tác phòng, chống tham nhũng của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam từ tháng
10-2007 đến tháng 6-2008. Ban Biên tập Tạp chí Mặt trận xin trích
giới thiệu bản báo cáo nói trên đến bạn đọc.
BAN BIÊN TẬP
1.Về công tác chỉ đạo của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt
Nam
Hội nghị lần thứ 5 Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam (khoá VI) đã đề ra chương trình phối hợp và thống nhất hành động
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2008, trong đó nhấn mạnh các trọng
tâm: chủ động phối hợp với các cơ quan, tổ chức giúp Ban Bí thư xây
dựng và ban hành các quy chế về giám sát và phản biện xã hội của Mặt
trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội và nhân dân theo Nghị
quyết Đại hội X của Đảng và đề xuất với các cơ quan Nhà nước sớm thể
chế hoá để thực hiện. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc phối hợp với các tổ
chức thành viên và các cơ quan dân cử (Quốc hội, Hội đồng nhân dân)
có chương trình cụ thể để giám sát việc thực thi pháp luật của các
cơ quan Nhà nước, nhất là về phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết
kiệm, chống lãng phí và cải cách hành chính; sơ kết việc làm điểm
thực hiện Quy chế “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát cán bộ, công
chức và đảng viên ở khu dân cư”; triển khai Pháp lệnh Thực hiện dân
chủ ở xã, phường, thị trấn; tăng cường giám sát đầu tư của cộng đồng;
tiếp tục đẩy mạnh hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân; làm tốt công
tác tiếp dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân; đôn đốc
các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết dứt điểm những vụ
khiếu nại, tố cáo tồn đọng, phức tạp ở địa phương; bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân.
Thực hiện Nghị quyết của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam đã chỉ đạo Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các địa phương cụ thể hoá
thành các chương trình, nhiệm vụ cụ thể để thực hiện công tác phòng,
chống tham nhũng, lãng phí theo chức năng, nhiệm vụ được pháp luật
quy định. Bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc các cấp, các tổ chức thành viên tiếp tục tuyên truyền sâu rộng
trong các tầng lớp nhân dân pháp luật phòng, chống tham nhũng thông
qua đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, người tiêu
biểu trong các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, các tôn giáo; thông
qua các cuộc sinh hoạt của các đoàn thể, hội quần chúng... để nhân
dân, đoàn viên, hội viên, cán bộ, công chức nắm vững và hiểu rõ
những quy định của pháp luật phòng, chống tham nhũng. Trên cơ sở đó
để mỗi người dân ý thức đầy đủ về quyền và trách nhiệm của mình
trong việc phòng ngừa, phát hiện, tố cáo những hành vi tham nhũng,
lãng phí.
2. Về một số kết quả thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng
2.1. Về việc triển khai thực hiện Quy chế giám sát đầu tư của
cộng đồng
Quy chế giám sát đầu tư của cộng đồng được ban hành theo
Quyết định số 80/2005/QĐ-TTg, ngày
18-4-2005 của Thủ
tướng Chính phủ. Từ khi thành lập và đi vào hoạt động đến nay, Ban
giám sát đầu tư của cộng đồng ở nhiều địa phương trên toàn quốc đã
tiến hành giám sát nhiều công trình đầu tư ở cơ sở và đạt được một
số kết quả nhất định. Nội dung giám sát được tập trung vào việc theo
dõi, kiểm tra việc chấp hành các quy định của chủ đầu tư và các nhà
thầu trong đền bù, giải phóng mặt bằng và tái định cư; xử lý chất
thải, bảo vệ môi trường; theo dõi phát hiện tác động tiêu cực của dự
án (xâm hại lợi ích công cộng, môi trường sinh sống của cộng đồng...).
Tại Thủ đô Hà Nội, các Ban giám sát đầu tư của cộng đồng (gọi tắt là
Ban giám sát) đã tổ chức giám sát 641 dự án trên tổng số 770 dự án
đầu tư trực tiếp cho xã, phường; tỉnh Đồng Tháp, các Ban giám sát
huyện Cao Lãnh đã giám sát được 159 công trình, huyện Tháp Mười giám
sát được 38 công trình; tỉnh Đồng Nai, các Ban giám sát đã giám sát
được 112 công trình; tỉnh Lạng Sơn, các Ban giám sát cùng với Ban
Thanh tra nhân dân giám sát được 450 công trình... Thông qua công
tác giám sát, các Ban giám sát đã phát hiện nhiều thiếu sót, sai
phạm trong quá trình lập thủ tục đầu tư, thi công công trình; vi
phạm về tiến độ, kế hoạch đầu tư; vi phạm quy trình, quy phạm kỹ
thuật, chủng loại vật tư; gây thất thoát tài sản, vốn; vi phạm về xử
lý chất thải và vệ sinh môi trường... kịp thời phản ánh với đơn vị
chịu trách nhiệm thi công để khắc phục.
2.2. Về việc thực hiện Quy chế Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam giám sát cán bộ
công chức, đảng viên ở khu dân cư
Việc thực hiện quy chế Mặt trận giám sát cán bộ, công chức,
đảng viên ở khu dân cư ở 5 tỉnh, thành phố làm điểm: Hà Nội, Ninh
Bình, Quảng Bình, thành phố Hồ Chí Minh, Tiền Giang tiếp tục được
tiến hành. Qua gần hai năm triển khai thực hiện (đến hết năm 2007),
qua báo cáo của 5 tỉnh, thành phố, đã nhận được 1.804 đơn giám sát
và ý kiến phản ánh trực tiếp của nhân dân, trong đó tỉnh Quảng Bình
nhận được 311 đơn, thành phố Hà Nội nhận được 560 đơn thư và ý kiến
kiến nghị, tỉnh Tiền Giang nhận được 380 đơn và ý kiến kiến nghị,
tỉnh Ninh Bình nhận được 449 đơn thư và ý kiến phản ánh, thành phố
Hồ Chí Minh nhận được 104 đơn và ý kiến kiến nghị. Nội dung đơn thư
phần lớn tập trung phản ánh, phát hiện những vi phạm về quản lý đất
đai, liên quan đến đền bù; giải phóng mặt bằng; quản lý trong xây
dựng; về môi trường; chính sách xã hội; vi phạm quy chế dân chủ ở cơ
sở; biểu hiện tham nhũng; số còn lại đề cập đến tư cách, thái độ
đảng viên, cán bộ, công chức của chính quyền cơ sở trong việc tiếp
xúc, giải quyết công việc của dân.
Từ đơn thư tố cáo của nhân dân và kiến nghị của Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc cấp xã, một số địa phương đã xem xét, giải quyết kịp
thời. Một số vụ việc có kết quả cụ thể được nhân dân hoan nghênh và
đánh giá cao như vụ việc xảy ra ở xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch,
tỉnh Quảng Bình, có 49 đơn cùng nội dung tố cáo về việc có 85 trường
hợp làm giả hồ sơ thương binh thanh niên xung phong. Ngay sau khi có
đơn của nhân dân và kiến nghị của Mặt trận thì đã có đến 60 trường
hợp tự nguyện xin rút hồ sơ không làm nữa và thừa nhận bản thân
không đủ điều kiện, tiêu chuẩn để hưởng chế độ, chính sách; Công an
địa phương cũng đã tiến hành khởi tố để xử lý hình sự những cá nhân
liên quan đến việc làm hồ sơ thương binh giả.
Tại thành phố Hà Nội, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc phường Chương
Dương (quận Hoàn Kiếm) qua phát hiện đã kiến nghị và được Tổng Công
ty xây dựng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xem xét kỷ luật
cách chức giám đốc Công ty xây dựng và phát triển hạ tầng vì vi phạm
trật tự xây dựng đô thị; qua đơn giám sát của nhân dân xã Thanh Liệt
(huyện Thanh Trì) và kiến nghị của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã, Uỷ
ban nhân dân cùng cấp đã kiểm tra và ra quyết định bãi nhiệm đối với
1 phó công an xã. Tại thành phố Hồ Chí Minh, qua đơn giám sát của
nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã đã kiến nghị Uỷ ban nhân
dân và Đảng uỷ cùng cấp xử lý 3 cán bộ với hình thức cảnh cáo chuyển
công tác khác, 1 cán bộ bị đình chỉ công tác chờ xử lý, 1 cán bộ bị
khai trừ khỏi đảng, 1 nhân viên địa chính bị xử lý kỷ luật buộc thôi
việc; Ban Thanh tra nhân dân phường 3, quận 5 phát hiện kiến nghị Uỷ
ban nhân dân phường xử lý kỷ luật Chủ tịch Uỷ ban nhân dân và yêu
cầu hoàn trả số tiền chênh lệch của người dân để thi công cột cờ.
Tại tỉnh Ninh Bình, qua kiến nghị của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã, cơ
quan chức năng đã thanh tra và xử lý kỷ luật 3 cán bộ thuế, trong đó
buộc thôi việc 2 người, kỷ luật 1 người, thu hồi 8.830.000 đồng;
buộc thôi việc, cảnh cáo đảng viên đối với 1 cán bộ địa chính xã...
Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam
đã tổ chức hội nghị toàn quốc sơ kết hai năm thực hiện quy chế này;
đa số các ý kiến của đại biểu tham dự hội nghị đều đề nghị Trung
ương cho triển khai mở rộng thực hiện quy chế trên phạm vi cả nước.
2.3. Về việc thực hiện Thông tri của Ban Thường trực Uỷ ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam về lấy phiếu
tín nhiệm đối với các chức vụ chủ chốt do Hội đồng nhân dân xã bầu
và Trưởng thôn
Đến cuối năm 2006, tất cả 64 tỉnh, thành phố đã triển khai
việc lấy phiếu tín nhiệm đối với 2 chức danh là Chủ tịch Hội đồng
nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã và 61 tỉnh, thành phố đã
tổ chức việc lấy phiếu tín nhiệm đối với Trưởng thôn. Qua 2 năm thực
hiện (2005 - 2006) cho thấy, chủ trương này đã được các cấp uỷ đảng,
chính quyền và đông đảo nhân dân hoan nghênh, đồng tình ủng hộ và đã
thu được nhiều kết quả đáng khích lệ. Đại đa số những người được lấy
phiếu tín nhiệm đều đạt tỷ lệ tín nhiệm trên 50%. Tuy nhiên cũng đã
có 165 người thuộc các chức danh là Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ
tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã (chiếm tỉ lệ khoảng 0,6% tổng số những
người được lấy phiếu tín nhiệm) và 2.304 Trưởng thôn, Tổ trưởng Tổ
dân phố (chiếm tỉ lệ khoảng 2,7% tổng số những người được lấy phiếu
tín nhiệm) đã bị cơ quan có thẩm quyền xem xét miễn nhiệm do không
nhận được sự tín nhiệm cao của nhân dân và Mặt trận cơ sở. Năm 2007,
Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có chủ trương tạm dừng
việc thực hiện Thông tri 06 để tập trung phối hợp với Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội xây dựng và ban hành Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã,
phường, thị trấn (được thông qua ngày 20-4-2007) thay thế Nghị định
số 79, ngày 7-7-2003 của Chính phủ; trong đó mở rộng đối tượng và
thành phần lấy phiếu tín nhiệm các chức danh chủ chốt của Hội đồng
nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã (bao gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội
đồng nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã). Ngày
17-4-2008
Chính phủ và Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam
đã ký Nghị quyết liên tịch hướng dẫn thi hành các Điều 11, 14, 16,
22 và 26 của Pháp lệnh. Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam đã tổ chức hội nghị cán bộ Mặt trận toàn quốc để
triển khai Nghị quyết liên tịch này.
2.4. Xây dựng quy chế giám sát và phản biện xã hội
Triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng, Đảng đoàn,
Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã chủ
động kiến nghị và phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan tổ chức
các cuộc hội thảo khoa học, cử người tham gia vào các ban soạn thảo,
tổ biên tập để giúp Ban Bí thư Trung ương Đảng xây dựng các quy chế
về giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các
tổ chức chính trị-xã hội và nhân dân. Thực hiện chỉ đạo của Ban Bí
thư, Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã ra quyết định thành lập
Ban soạn thảo các Quy chế: Quy chế giám sát và phản biện xã hội của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội và nhân dân
đối với hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên; Quy chế giám sát và
phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính
trị-xã hội và nhân dân đối với hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân
dân các cấp, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cán bộ, công
chức của các cơ quan này và đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng
nhân dân các cấp; Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội và nhân dân đối với
hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước với cán bộ, công chức
nhà nước các cấp.
2.5. Về tình hình công tác tiếp dân và xử lý đơn thư khiếu
nại, tố cáo tại cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam
Từ ngày 01/10/2007 đến hết ngày 30 tháng 6 năm 2008, phòng
tiếp dân của cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã
nhận tổng số 1.927 đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị; trong đó có
1.195 đơn thư chuyển qua đường bưu điện và từ các đồng chí lãnh đạo
Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; có 732 đơn thư nộp trực
tiếp đến phòng tiếp dân cơ quan. Bộ phận tham mưu qua nghiên cứu đã
chuyển 1.256 đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân đến các cơ quan
có thẩm quyền đề nghị giải quyết. Số còn lại do nội dung trùng lặp
hoặc không rõ ràng nên không chuyển. Ban Thường trực Ủy ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã có 13 công văn kiến nghị về các
trường hợp cụ thể gửi đến cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết.
Cơ quan đã nhận được 149 văn bản trả lời và thông báo tiến độ giải
quyết của các cơ quan (Viện kiểm sát Nhân dân tối cao và Viện Kiểm
sát nhân dân các cấp 9 văn bản; Tòa án nhân dân tối cao và Tòa án
nhân dân các cấp 15 văn bản; các Bộ, ngành liên quan 27 văn bản;
Thanh tra Chính phủ và Văn phòng Chính phủ 28 văn bản; Ủy ban nhân
dân các cấp 58 văn bản; Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp 12 văn bản).
Tuy nhiên còn một số vụ việc kéo dài nhiều năm, mặc dù Ban Thường
trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã phối hợp với các
cơ quan hữu quan tổ chức xác minh đầy đủ và có kiến nghị cụ thể
nhưng vẫn chưa được giải quyết triệt để; tại hội nghị này, Ban
Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã trình bày
cụ thể để Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng xem xét,
giải quyết, kết luận và trả lời.
2.6 Về công tác phòng, chống tham nhũng trong cơ quan Uỷ ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam
Thực hiện chương trình hành động thực hiện Luật Phòng, chống
tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong cơ quan
Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Thường trực Uỷ ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã phối hợp với Đảng ủy, Công
đoàn thường xuyên đôn đốc, quán triệt nâng cao nhận thức cho cán bộ,
nhân viên toàn cơ quan về tham gia phòng, chống tham nhũng, thực
hành tiết kiệm, chống lãng phí gắn với việc thực hiện cuộc vận động
“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, đồng thời ban
hành các quy định và tổ chức thực hiện có kết quả một số nội dung
bước đầu. Cơ quan đã xây dựng và ban hành quy chế tự chủ tài chính
theo Nghị định 130 của Chính phủ để việc sử dụng ngân sách nhà nước
theo đúng các quy định của nhà nước, tạo điều kiện để cán bộ, công
chức giám sát việc quản lý, sử dụng ngân sách, góp phần phòng, chống
tham nhũng, lãng phí. Để thực hành tiết kiệm tránh thất thoát ngân
sách, cơ quan đã xây dựng cơ chế quản lý chi tiêu ngân sách, giám
sát việc sửa chữa nhà cửa, tài sản, phương tiện, mua sắm công. Một
số trường hợp dự toán vượt quá như sửa chữa thang máy, xe ô tô đã
được phát hiện và điều chỉnh kịp thời...Việc quản lý Quỹ Vì người
nghèo, Quỹ Phòng, chống bão lũ được thực hiện tốt. Đến nay chưa phát
hiện thất thoát, tiêu cực của hai quỹ này.
Nhìn chung, công tác phòng, chống tham nhũng thu hút được sự
quan tâm sâu sắc của đông đảo các tầng lớp nhân dân, được nhân dân
đồng tình hưởng ứng. Các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận từ trung
ương đến địa phương đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn việc thực
hiện Luật Phòng, chống tham nhũng, làm cơ sở cho công tác tham gia
phòng, chống tham nhũng. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức
thành viên các cấp đều xây dựng chương trình hành động nhằm thực
hiện Luật Phòng, chống tham nhũng với những nội dung rất cụ thể, thể
hiện quyết tâm cao của hệ thống tổ chức Mặt trận trong công tác
phòng, chống tham nhũng. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp đã chủ động
phát hiện kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý các vụ việc tham
nhũng, kể cả những vụ việc nhạy cảm, phức tạp.
Tuy nhiên, công tác tuyên truyền trong nhân dân, công tác
giáo dục đoàn viên, hội viên còn có những hạn chế nhất định, chưa
khơi dậy được tinh thần mạnh dạn đấu tranh chống tham nhũng ngay tại
từng cơ quan, tổ chức, địa phương, đơn vị mình. Công tác giám sát
của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên, nhất là ở cơ sở
còn hạn chế, chưa có nhiều sáng tạo trong cách làm. Trong thời gian
tới, Ban Thường trực tiếp tục chỉ đạo, kiểm tra Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam các cấp trong việc tham gia phòng, chống tham nhũng theo
chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận. Đôn đốc Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
các cấp kiểm tra, rà soát hoạt động của các đơn vị kinh tế, các quỹ,
các chương trình, dự án, tài chính, tài sản do cơ quan quản lý không
để xảy ra tham nhũng, lãng phí trong các cơ quan, tổ chức của Mặt
trận. Tiếp tục nghiên cứu tham gia xây dựng một số cơ chế, chính
sách về phòng, chống tham nhũng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương
3; bổ sung, sửa đổi các chính sách về quản lý đất đai, quản lý vốn
đầu tư, quản lý nhà công vụ, cơ chế đền bù khi thu hồi đất và một số
vấn đề liên quan đến chi tiêu ngân sách, mua sắm tài sản công; Tham
gia giám sát cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức thực hiện quá trình
tố tụng xử lý các vụ việc về tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp mà dư
luận xã hội đặc biệt quan tâm; đồng thời tham gia với các cơ quan
Nhà nước rà soát, xem xét các vụ việc khiếu kiện phức tạp, tồn đọng,
đặc biệt là các đơn tố cáo hành vi tham nhũng của cán bộ, công chức.
Phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan giúp Ban Bí thư xây dựng
và ban hành các quy chế về giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân theo
tinh thần Nghị quyết Đại hội X của Đảng
Về đầu trang
|
|
KỶ NIỆM 61 NĂM NGÀY THƯƠNG
BINH - LIỆT SỸ (27-7-1947 _ 27-7-2008)
HOÀN THIỆN
CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI NGƯỜI CÓ CÔNG
LÀ Ý ĐẢNG,
LÒNG DÂN
Nguyễn Thị Kim
Ngân
Ủy viên Ban
Chấp hành Trung ương Đảng,
Bộ trưởng Bộ
Lao động- Thương binh và Xã hội.
Ưu đãi người có công là thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”,
“ăn quả nhớ người trồng cây”- một đạo lý quý báu của dân tộc ta, phù hợp với ý
Đảng, lòng dân. 61 năm qua, kể từ ngày 27-7-1947- ngày được Hồ Chủ tịch chọn
làm Ngày thương binh toàn quốc hàng năm, chính sách ưu đãi đối với thương binh,
gia đình liệt sỹ và người có công đã không ngừng phát triển, đổi mới và hoàn
thiện, trở thành một hệ thống chính sách ưu đãi lớn của Đảng, Nhà nước ta. Các
chính sách này đã đi vào cuộc sống, tạo được sự đồng thuận giữa “Ý Đảng, lòng
dân” và trở thành động lực của một phong trào cách mạng rộng lớn, góp phần
quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa của Đảng
và nhân dân ta.
Hệ thống chính sách ưu đãi người có công được hoàn thiện
qua các thời kỳ.
Ngay sau cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ngày 16-2-1947,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 20/SL”Quy định chế độ hưu bổng thương
tật và tiền tuất tử sỹ”. Đây là văn bản pháp quy đầu tiên của Nhà nước ta,
khẳng định vị trí quan trọng của công tác thương binh, liệt sỹ đối với công
cuộc kháng chiến cứu nước của dân tộc. Sắc lệnh này là “khởi điểm” của chính
sách ưu đãi người có công gồm chính sách thương binh và chính sách liệt sỹ,
cho 3 đối tượng quân nhân, thanh niên xung phong và dân quân du kích. Thời kỳ
này, chế độ đối với thương binh, gia đình tử sỹ còn mang tính trợ cấp khó khăn.
Sang giai đoạn 1954 - 1964, đối tượng bệnh binh được bổ sung thêm. Ngoài chế
độ trợ cấp, tùy theo điều kiện thương binh về gia đình hay ở lại các trại nuôi
dưỡng, còn được bổ sung thêm chế độ trợ cấp sản xuất, miễn giảm thuế Nhà nước,
chế độ ưu tiên tuyển dụng, đi học... Năm 1964, Chính phủ ban hành Điều lệ ưu
đãi đối với quân nhân, dân quân, tự vệ ốm đau, bị thương, bị chết. Theo đó,
chế độ thương tật mới gồm 8 hạng và chế độ tiền tuất mới gồm tuất hàng tháng
và tuất 1 lần đối với gia đình liệt sỹ ra đời. Thời kỳ này, Đảng, Chính phủ đã
có những quy định đối với một số đối tượng có công khác, như: Quy định tiêu
chuẩn và trợ cấp ưu đãi đối với cán bộ hoạt động cách mạng trước ngày Tổng
khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội đối với công
nhân viên chức Nhà nước và chế độ đãi ngộ quân nhân; khen thưởng “Kỷ niệm
chương”, “Tổ quốc ghi công” và bằng “Có công với nước” đối với người có công
giúp đỡ cách mạng; Khen thưởng Huân, Huy chương kháng chiến đối với nhân dân
có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Pháp; khen thưởng tổng kết thời kỳ
kháng chiến chống Pháp: Huân, Huy chương chiến thắng đối với quân nhân; Huân,
Huy chương kháng chiến đối với cán bộ dân, chính, Đảng tham gia cuộc kháng
chiến.
Từ năm 1966, chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ mở rộng ở
miền Bắc và cách mạng miền Nam cần sự chi viện của miền Bắc, chế độ ưu đãi đã
mở rộng thêm đối với lực lượng Thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước, dân
công hỏa tuyến phục vụ các chiến trường, lực lượng vận tải bốc xếp, sơ tán
hàng hóa, cán bộ chủ chốt xã, cán bộ y tế làm nhiệm vụ cấp cứu phòng không.
Những đối tượng trên khi làm nhiệm vụ mà bị thương hoặc hy sinh thì được xác
nhận là người được hưởng chính sách như thương binh và liệt sỹ. Đi đôi với
việc ban hành và sửa đổi bổ sung các chính sách, chế độ đối với thương binh,
gia đình liệt sỹ, công tác thương binh, liệt sỹ giai đoạn này đã phát động
toàn dân chăm sóc thương binh, gia đình liệt sỹ, vận động được tất cả các
ngành, các cấp trong phạm vi chức năng ban hành các chế độ ưu đãi thương binh,
gia đình liệt sỹ.
Bước sang giai đoạn 1976 - 1985, khi miền Nam hoàn toàn giải
phóng, đất nước thống nhất, chính sách đối với người có công tiếp tục giải
quyết những tồn đọng và bổ sung thêm nhiều quy định về tiêu chuẩn đối với
thương binh, liệt sỹ cho phù hợp với tình hình mới, như bổ sung thêm đối tượng
người có công giúp đỡ cách mạng; thống nhất 2 chế độ thương binh (6 hạng đối
với thương binh thời kỳ chống Pháp và 8 hạng đối với thương binh thời kỳ chống
Mỹ) thành một chế độ thương binh 4 hạng. Đến năm 1995, sau gần 10 năm thực
hiện công cuộc đổi mới, Nhà nước ta đã ban hành Pháp lệnh Ưu đãi người có công
với cách mạng và Pháp lệnh phong tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt
Nam Anh hùng. Đối tượng được mở rộng thêm đến người hoạt động cách mạng từ
1-1-1945 đến Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945, người hoạt động cách mạng bị địch
bắt tù đày, người có công với cách mạng, người hoạt động kháng chiến, giải
phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc được thưởng Huân, Huy chương kháng chiến. Năm
2005, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Ưu đãi người có công (sửa
đổi), trong đó quy định một cách hệ thống cả về đối tượng, điều kiện, tiêu
chuẩn và chế độ ưu đãi cho phù hợp với từng thời kỳ cách mạng. Theo Pháp lệnh
(sửa đổi) đối tượng hưởng trợ cấp được mở rộng (13 diện đối tượng), mức trợ
cấp, phụ cấp hằng tháng đối với người có công và thân nhân của họ được nâng
lên, đảm bảo tương xứng với mức tiêu dùng bình quân của toàn xã hội. Công tác
quản lý và thực hiện cũng được kiện toàn cơ bản, như xác định cụ thể trách
nhiệm của cơ quan quản lý Nhà nước các cấp, nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam, các đoàn thể, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện chính sách
đối với người có công.
Đến nay, cả nước đã có trên 8 triệu người được hưởng chế độ
ưu đãi một lần và hằng tháng, trong đó khoảng 1,5 triệu người hưởng trợ cấp
hàng tháng; hàng chục nghìn con thương binh, con liệt sỹ được hưởng chế độ ưu
đãi về giáo dục đào tạo, chăm sóc y tế, 14.500 cán bộ lão thành cách mạng được
hỗ trợ cải thiện nhà ở... Cùng với chính sách ưu đãi của Đảng, Nhà nước, sự
quan tâm hỗ trợ của cộng đồng và sự nỗ lực vươn lên của đối tượng, đến nay gần
90% người có công với cách mạng đã có mức sống bằng hoặc cao hơn so với mặt
bằng mức sống người dân nơi cư trú. Ngày
21-6-2007, Ủy ban Thường vụ
Quốc hội tiếp tục sửa đổi Điều 9 và Điều 10 của Pháp lệnh Ưu đãi người có công
với cách mạng. Theo đó, đối tượng là người hoạt động cách mạng trước 1-1-1945,
người hoạt động cách mạng từ 1-1-1945 đến trước Tổng khởi nghĩa 19-8-1945 đã
chết thì cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con của hai diện đối tượng trên cũng
được hưởng những chế độ ưu đãi theo quy định của Chính phủ.
Thủ tục
hành chính được cải cách theo hướng thuận lợi cho các đối tượng chính sách
Cùng với việc mở rộng về diện đối tượng, bổ sung thêm về
chính sách, việc thực hiện chính sách ưu đãi người có công còn không ngừng
được cải cách về cơ chế nhằm huy động sự đóng góp của cộng đồng, động viên sự
vươn lên của đối tượng, đảm bảo sự ổn định lâu dài đời sống của người có công.
Đặc biệt là thủ tục hành chính trong xác nhận cũng như hưởng chính sách được
đơn giản hóa. Nếu như trước đây chế độ ưu đãi đi theo tiền lương tối thiểu,
thì nay, theo Pháp lệnh Ưu đãi người có công sửa đổi năm 2005, mức trợ cấp,
phụ cấp hàng tháng đối với người có công với cách mạng và thân nhân của họ
được đảm bảo điều chỉnh tương ứng với mức tiêu dùng bình quân của toàn xã hội;
bổ sung chế độ mai táng phí đối với diện đối tượng có công hưởng trợ cấp, phụ
cấp hàng tháng; bổ sung chế độ đối với người có công sau khi chết, thân nhân
của họ tiếp tục được hưởng một khoản trợ cấp (bằng 3 tháng trợ cấp, phụ cấp
trước khi chết); bổ sung chế độ đối với bố mẹ, vợ hoặc chồng, người có công
nuôi liệt sỹ được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng, không phụ thuộc tuổi đời
(trước đây phải hết tuổi lao động hoặc mất sức lao động từ 61% trở lên mới
được hưởng); thân nhân hai liệt sỹ được hưởng trợ cấp nuôi dưỡng (trước đây
chỉ được hưởng tiền tuất); bổ sung chế độ bảo hiểm y tế và mai táng phí đối
với người hoạt động kháng chiến và người có công giúp đỡ cách mạng, hưởng trợ
cấp một lần. Các chế độ ưu đãi về đất ở, đất sản xuất, nhà ở, thuế, tín dụng,
y tế, giáo dục, đào tạo...trước đây đã nêu ra nhưng chưa cụ thể nên việc hướng
dẫn và tổ chức thực hiện chưa thống nhất. Nay, Pháp lệnh Ưu đãi người có công
sửa đổi (2005) đã quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý Nhà nước, trách
nhiệm của từng Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân các cấp trong việc thực hiện các chế
độ ưu đãi đối với người có công. Đặc biệt, cơ chế xử lý vi phạm trong lĩnh vực
người có công cũng được quy định rất rõ, cụ thể tại các Điều 32, 33 và 34 Nghị
định 54/2006/NĐ-CP. Theo đó, người có công với cách mạng phạm tội xâm phạm an
ninh quốc gia hoặc phạm tội khác, bị phạt tù chung thân thì bị đình chỉ vĩnh
viễn chế độ ưu đãi đối với người có công với cách mạng và thân nhân của họ.
Tiếp tục đẩy mạnh phong trào Đền ơn, đáp nghĩa, cải thiện
đời sống vật chất, tinh thần người có công
Để tiếp tục hoàn thiện chính sách ưu đãi đối với người có
công với cách mạng và đẩy mạnh phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, thời gian tới,
Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội phối hợp với Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và các Bộ, ngành liên quan tập trung giải quyết một số nhiệm vụ
sau:
Một là, tiếp tục nghiên cứu sửa đổi, bổ sung và tiếp tục
hướng dẫn xử lý tồn đọng xác nhận, công nhận người có công với cách mạng;
chính sách trợ cấp một số trang cấp đặc biệt đối với thương binh nặng; hướng
dẫn thực hiện di chuyển mộ liệt sỹ theo nguyện vọng của thân nhân; sửa đổi cơ
chế miễn, giảm học phí đối với người có công và con người có công bằng cơ chế
hỗ trợ trực tiếp.
Hai là, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội đề xuất với cấp
ủy đảng, chính quyền địa phương tập trung xử lý dứt điểm các trường hợp còn
tồn đọng về xác nhận, công nhận người có công để những người thực sự có công
với cách mạng được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước.
Ba là, thực hiện chi trả đúng, kịp thời, đầy đủ các khoản trợ
cấp và các chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng; hoàn thành
việc lập hồ sơ, danh sách người tham gia kháng chiến được thưởng huân, huy
chương để thực hiện bảo hiểm y tế, trợ cấp mai táng phí, cấp sổ ưu đãi giáo
dục cho con người có công, cấp sổ trang cấp dụng cụ chỉnh hình - phục hồi chức
năng cho thương, bệnh binh, người có công.
Bốn là, lồng ghép các nguồn kinh phí từ Chương trình mục tiêu
quốc gia về: Việc làm, Dạy nghề, Giảm nghèo; ưu tiên hỗ trợ các gia đình chính
sách để học nghề, tạo việc làm, phát triển kinh tế, nhất là các hộ chính sách
thuộc diện hộ nghèo, chưa đạt mức sống trung bình của người dân nơi cư trú.
Năm là, phối hợp với Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, các đoàn thể chính trị, xã hội, nghề nghiệp, các phương tiện thông tin
đại chúng tăng cường thông tin, tuyên truyền về phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”;
xây dựng nhà tình nghĩa; phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam Anh hùng; đỡ đầu con liệt
sỹ, thương binh; xây dựng “xã, phường làm tốt công tác thương binh, liệt sỹ và
người có công”; vận động đóng góp Quỹ Đền ơn đáp nghĩa...
Sáu là, quy hoạch, sắp xếp, đầu tư mạng lưới cơ sở nuôi dưỡng,
điều dưỡng, chỉnh hình - phục hồi chức năng đáp ứng yêu cầu điều trị, phục hồi
sức khoẻ, hoà nhập cộng đồng cho người có công.
Bảy là, đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng công trình Nghĩa
trang liệt sỹ các tỉnh biên giới, nghiã trang liệt sỹ lớn gắn với di tích lịch
sử cách mạng của cả nước từ vốn đầu tư xây dựng cơ bản tập trung của ngân sách
trung ương; cùng với ngân sách địa phương, các nguồn huy động để tiếp tục sửa
chữa, nâng cấp mộ liệt sỹ, công trình tưởng niệm liệt sỹ đảm bảo ổn định, lâu
dài, phát huy tính giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ; tiếp tục
thực hiện báo tin mộ liệt sỹ đến gia đình liệt sỹ.
Về đầu trang
|
|
    

|
|