|
|
|
thống kê
truy cập Số lượt truy cập Số lượt:  |
|
|
|
|
 |
|
|
Thông tin được cập nhật liên
tục

SỐ 57

|
NGHIÊN CỨU TRAO
ĐỔI |
Tổ chức và cá nhân tiêu biểu tham gia
Ủy ban Mặt trận các cấp cần có những tiêu chuẩn gì?
Một số kinh nghiệm trong chỉ đạo điểm Đại hội Mặt trận cấp xã
Về
chức năng giám sát của Mặt trận đối với các hoạt động tư pháp
Cần nhận thức đúng đắn cuộc cách mạng
chống tham ô, lãng phí, quan liêu
|
|
|
|
TIẾN TỚI ĐẠI HỘI LẦN THỨ VII MẶT TRẬN
TỔ QUỐC VIỆT NAM
TỔ CHỨC VÀ CÁ NHÂN TIÊU BIỂU THAM GIA UỶ BAN MẶT TRẬN CÁC CẤP CẦN CÓ
NHỮNG TIÊU CHUẨN GÌ?
Ông
Đỗ Duy Thường
Nguyên Phó Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Tiêu chuẩn của tổ chức là thành viên của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và các cá nhân tiêu biểu tham gia Uỷ ban Mặt trận các cấp
cần có sự nhận thức về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, yêu cầu về cơ cấu,
thành phần Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở mỗi cấp; về tổ chức là
thành viên của Mặt trận và các cá nhân tiêu biểu, về vai trò, vị trí
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trước yêu cầu đổi mới đất nước...
Nhiệm vụ chung của Mặt trận đã được quy định tại Luật Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam, đó là tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết
toàn dân tộc, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong
nhân dân; tuyên truyền, động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ,
thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nghiêm chỉnh
thi hành Hiến pháp và pháp luật; giám sát hoạt động của các cơ quan
Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ công chức Nhà nước; tập hợp ý
kiến, kiến nghị của nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng và Nhà
nước, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân; cùng Nhà
nước chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân; tham
gia phát triển tình hữu nghị, hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với
nhân dân các nước khu vực và trên thế giới. Đó là tính chất, vị trí,
vai trò và nhiệm vụ cơ bản của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam
đã được Đảng chỉ rõ và luật pháp Nhà nước thể chế hoá. Cơ quan nào
có trách nhiệm thực hiện những nhiệm vụ, quyền và trách nhiệm của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam? Đó là Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam. Trước hết cần hiểu rõ Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam là cơ quan như thế nào, cơ cấu, thành phần, chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn của Uỷ ban Mặt trận của từng cấp ra sao?
Theo Luật Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thì Uỷ ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam ở mỗi cấp là cơ quan chấp hành của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam cùng cấp, do Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam cấp đó hiệp thương cử ra, có trách nhiệm tổ chức thực hiện nhiệm
vụ chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và nhiệm vụ cụ thể ở mỗi cấp.
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam có 3 chức năng
cơ bản: Thứ nhất, thực hiện sự phối hợp và thống nhất hành động giữa
các thành viên Mặt trận ở mỗi cấp, đối với những hoạt động chung.
Thứ hai, tổ chức thực hiện phối hợp với cơ quan Nhà nước cùng cấp
trong những vấn đề chung liên quan đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của
công dân, các giai cấp, các tầng lớp trong xã hội mà Mặt trận Tổ
quốc Việt
Nam
là người đại diện chung. Thứ ba, trực tiếp vận động một số đối tượng
xã hội, như: nhân sĩ, trí thức tiêu biểu, người tiêu biểu trong các
dân tộc thiểu số, chức sắc tôn giáo, công kỹ nghệ gia, thân nhân
Việt kiều…
Nhiệm vụ của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam được Điều lệ
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quy định, ngoài những nhiệm vụ chung đối
với mỗi cấp còn có nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể về tổ chức và hoạt
động ở cấp mình.
Về cơ cấu, thành phần Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở mỗi
cấp cũng có sự khác nhau, nhưng cơ bản đều bao gồm những người đứng
đầu các tổ chức thành viên cùng cấp; Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam cấp dưới trực tiếp; một số cá nhân tiêu biểu trong các
giai cấp, tầng lớp xã hội, tổ chức kinh tế, các dân tộc, các tôn
giáo, người Việt Nam ở nước ngoài hoặc thân nhân trong nước, một số
chuyên gia liên quan đến hoạt động của Mặt trận, một số cán bộ
chuyên trách ở cơ quan Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp đó.
Trong các cơ cấu, thành phần trên, số đông nhất là cá nhân tiêu biểu,
tiếp đến là đại diện của các tổ chức thành viên và đại diện Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc cấp dưới trực tiếp. Cơ cấu, thành phần này là tiêu
biểu cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là ngôi nhà chung của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam, nơi thể hiện tiếng nói chung của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam, như: Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiện
hành (khóa VI) có 320 vị, trong đó có hơn 200 vị là cá nhân tiêu
biểu (chiếm 66,25%); 44 vị đại diện cho các tổ chức thành viên và 64
vị đại diện cho Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương.
Về số lượng Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiện
nay, tuỳ đặc điểm địa phương, cấp tỉnh từ 70 đến dưới 100 vị (riêng
thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Nghệ An, Thanh Hoá
không quá 120 vị); cấp huyện từ 35 đến 70 vị; cấp xã từ 25 đến 35 vị.
Theo hướng dẫn của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về
chuẩn bị nhân sự Đại hội VII tới, số lượng ủy viên Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc cấp xã từ 30 đến 45 vị; cấp huyện từ 45 đến 65 vị; cấp tỉnh
từ 65 đến 90 vị và 4 tỉnh, thành phố có số dân đông đã nêu ở trên,
tối đa không quá 120 vị; trong đó cơ cấu là người ngoài Đảng ở cấp
Trung ương là trên 50%, ở địa phương là trên 30%.
Với chủ trương mở rộng về tổ chức để tập hợp, đoàn kết mọi
người Việt Nam trong ngôi nhà chung, phấn đấu vì dân giàu nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, trong 4 năm qua ở Trung ương
Mặt trận đã kết nạp được 11 tổ chức thành viên với hàng triệu hội
viên, đoàn viên, hơn cả ba khoá trước cộng lại, nâng tổng số thành
viên Mặt trận là tổ chức lên 44. Ở các địa phương, Mặt trận đã kết
nạp được nhiều thành viên. Trong tổng số tổ chức thành viên, ngoài
thành viên là Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam, 5
tổ chức chính trị xã hội, còn lại là các tổ chức chính trị - xã hội
- nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp.
Các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội,
dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, là thể hiện tính đặc thù của một tổ chức liên minh
chính trị. Cá nhân tiêu biểu có vai trò quan trọng trong việc tập
hợp, vận động, đoàn kết những người trong giai cấp, tầng lớp xã hội,
dân tộc, tôn giáo, cộng đồng dân cư… mà mình là thành viên. Sự gương
mẫu, dẫn dắt của cá nhân tiêu biểu có tác động và ảnh hưởng lớn tới
cộng đồng trong công tác tuyên truyền, vận động thực hiện chủ trương,
chính sách của Đảng, Nhà nước, chương trình của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, trong công tác hoà giải mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân,
tập hợp phản ánh tâm tư, nguyện vọng của tầng lớp nhân dân nơi cá
nhân tiêu biểu cư trú và hoạt động. Ảnh hưởng của cá nhân tiêu biểu
trong dân tộc thiểu số (như già làng), trong tôn giáo (chức sắc),
trong dòng họ (trưởng họ) còn mạnh mẽ hơn nhiều. Cá nhân tiêu biểu
tham gia Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khoá VI hiện
rất đa dạng, có 84 vị là nhân sỹ, trí thức, văn nghệ sỹ tiêu biểu và
chuyên gia; 49 vị cá nhân tiêu biểu trong các dân tộc thiểu số; 29
vị chức sắc tôn giáo; 37 vị trên các lĩnh vực kinh doanh và 13 vị cá
nhân tiêu biểu ở nước ngoài. Trong tổng số 320 vị Uỷ viên Uỷ ban
Trung ương thì hơn 50% là người ngoài Đảng, phụ nữ chiếm tỷ lệ đáng
kể.
Với tính đa dạng về thành viên của Mặt trận là tổ chức và cá
nhân tiêu biểu như đã nêu trên, vấn đề tiêu chuẩn để tham gia Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam các cấp nên như
thế nào? Có phải tất cả các tổ chức và cá nhân tiêu biểu đều tham
gia Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở các cấp?
Ở đây có hai vấn đề đặt ra là, thành viên của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam bao gồm thành viên là tổ chức và thành viên là cá nhân,
rất khác tổ chức chính trị và các đoàn thể nhân dân. Thứ hai là,
nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo
nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương dân chủ, trong Đại hội không có
“ứng cử, đề cử, bầu cử” Uỷ ban Mặt trận, quá trình hình thành Uỷ ban
Mặt trận là quá trình hiệp thương dân chủ qua Đại hội.
Đối với các tổ chức thành viên của Mặt trận, từ trước đến nay
Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quy định có cơ cấu thành phần
trong Uỷ ban Mặt trận ở mỗi cấp, được cử đại diện của tổ chức mình
là người đứng đầu tham gia Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, thể hiện tính
chất đại diện, tính chất liên minh chính trị của tổ chức liên minh
trong Mặt trận Tổ quốc. Với tính chất như vậy, những tổ chức thành
viên của Mặt trận đương nhiên được cử đại diện là người đứng đầu
tham gia Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở mỗi cấp; ngược lại,
những người đứng đầu các tổ chức thành viên đương nhiên được tham
gia Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nên không có vấn đề “Về tiêu
chuẩn lựa chọn” đối với cá nhân người đứng đầu tổ chức thành viên
tham gia Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở mỗi cấp. Tiểu ban nhân
sự Đại hội của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam chỉ có nhiệm vụ
lập danh sách những người đứng đầu các tổ chức thành viên của Mặt
trận trong cơ cấu thành phần của Uỷ ban Mặt trận và báo cáo ra trước
Đại hội. Còn nếu giữa hai nhiệm kỳ Đại hội, tổ chức thành viên có sự
thay đổi người đứng đầu thì báo cáo Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp
để người đại diện mới của tổ chức đó tham gia Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc.
Với tiêu chí thành viên là cá nhân tiêu biểu như đã nêu ở
trên, thì trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các
tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài có rất nhiều cá nhân tiêu biểu,
song số lượng tham gia vào Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc ở mỗi cấp có hạn
(số lượng Uỷ viên Uỷ ban ở mỗi cấp theo hướng dẫn của Uỷ ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam cấp trên trực tiếp, sau đó đưa ra Đại hội
quyết định danh sách) nên cần đặt ra tiêu chuẩn để lựa chọn theo
hướng chung là bảo đảm tính tiêu biểu, tính thiết thực và tính đại
diện.
Về tính tiêu biểu phải đạt tới tiêu chí là cá nhân tiêu biểu
như đã nêu ở trên. Tính thiết thực được hiểu người đó là người yêu
nước, trung thành với Tổ quốc, tán thành mục tiêu giữ vững độc lập,
thống nhất của Tổ quốc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh; chấp hành pháp luật, có tinh thần đấu tranh chống
quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Tự nguyện tham gia Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam.
Tính đại diện còn được hiểu là người biết chăm lo quyền, lợi ích hợp
pháp của nhân dân nói chung, của giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc,
tôn giáo mà mình là thành viên. Tuy nhiên, tuỳ theo yêu cầu, chất
lượng của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc ở mỗi cấp để có thêm tiêu chuẩn cụ
thể. Ví dụ: đối với cấp Trung ương, ngoài tiêu chuẩn cán bộ nói
chung, là Ủy viên Uỷ ban Trung ương cần phải có khả năng đóng góp ý
kiến, tham gia các vấn đề quan trọng của Mặt trận, tham gia xây dựng,
giám sát và phản biện xã hội.
Từ định hướng chung theo ba tính chất của tiêu chuẩn cá nhân
tham gia Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, có thể đề ra
tiêu chuẩn như sau:
1. Trung thành với Tổ quốc, tán thành mục tiêu giữ vững độc
lập, thống nhất của Tổ quốc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh;
2. Có phẩm chất đạo đức tốt, có tín nhiệm trong một giai cấp,
tầng lớp xã hội, dân tộc, ngành, giới..., cộng đồng người Việt Nam ở
nước ngoài, gương mẫu chấp hành pháp luật và thực hiện Điều lệ Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam. Có tinh thần đấu tranh chống quan liêu, tham
nhũng, lãng phí;
3. Có năng lực, kinh nghiệm trong việc vận động, đoàn kết
nhân dân, biết chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng
của giai cấp, tầng lớp nhân dân, dân tộc, tôn giáo, ngành, giới… mà
mình là thành viên;
4. Có khả năng tham gia xây dựng, giám sát và phản biện xã
hội; có năng lực tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của Mặt
trận Tổ quốc Việt
Nam;
5. Tự nguyện tham gia Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam.
Từ trước đến nay, cứ mỗi lần đến kỳ Đại hội, cấp Trung ương
lại hướng dẫn cấp dưới kế hoạch tổ chức Đại hội ở mỗi cấp, trong đó
gợi ý tiêu chuẩn Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để các cấp
trên cơ sở đó hiệp thương lựa chọn, giới thiệu người tham gia Uỷ ban
Mặt trận ở cấp mình. Thiết nghĩ, nên có thảo luận sâu rộng về tiêu
chuẩn Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để hình thành tiêu
chuẩn chung đưa vào Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, như vậy vừa
đảm bảo tính thống nhất về tiêu chuẩn Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam, vừa thuận tiện trong thực tiễn mỗi khi cần bổ sung Uỷ
viên Uỷ ban giữa hai nhiệm kỳ Đại hội. Nhìn rộng ra trong hệ thống
chính trị, Đảng quy định tiêu chuẩn chung với cấp uỷ trong Điều lệ
Đảng; đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân có tiêu chuẩn
quy định chung trong Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật Bầu cử đại
biểu Hội đồng nhân dân, thì Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
cũng nên có tiêu chuẩn chung.
Về đầu trang
|
|
MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRONG CHỈ ĐẠO ĐIỂM
ĐẠI
HỘI MẶT TRẬN CẤP XÃ
CHU
BÁ THỊNH
Chuyên viên cao cấp, Ban Tổ chức - Cán bộ,
Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam.
Đại hội Mặt trận Tổ quốc cấp xã là bước khởi đầu, là tiền đề
quan trọng để tổ chức tốt Đại hội Mặt trận Tổ quốc các cấp, tiến tới
Đại hội VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Thực hiện Thông tri số 28/TT-MTTW,
ngày 14-2-2008 của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về
“Hướng dẫn việc tổ chức Đại hội Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị
trấn”, trong đó có quy định về tổ chức đại hội điểm; cấp uỷ, chính
quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đã tập trung chỉ đạo, hướng
dẫn, tạo điều kiện để tổ chức thành công Đại hội điểm Mặt trận Tổ
quốc cấp xã.
Sau một thời gian triển khai tổ chức trong toàn quốc, nhằm
đánh giá đúng những kết quả của công tác chỉ đạo Đại hội điểm Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã),
kịp thời rút kinh nghiệm, phát huy những ưu điểm, khắc phục những
hạn chế, giúp cho Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp kỳ này
đạt được những yêu cầu đã đặt ra, ngày 2-6-2008, Ban Thường trực Uỷ
ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tổ chức Hội nghị sơ kết
công tác chỉ đạo Đại hội điểm Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã. Sau
Hội nghị, Ban Thường trực đã có Thông báo số 172/TB-MTTW-BTT về kết
quả Đại hội điểm Mặt trận cấp xã gửi các tỉnh, thành phố trong cả
nước.
Theo báo cáo của các tỉnh, thành phố, tính đến ngày
30-6-2008, cả nước có 1.450/10.961 (13,22%) xã, phường, thị trấn
thuộc 56/64 tỉnh, thành phố đã tiến hành Đại hội, trong đó có
453/603 đơn vị làm điểm. 15 tỉnh, thành phố hoàn thành chỉ đạo điểm
Đại hội Mặt trận Tổ quốc cấp xã và đã chỉ đạo tổ chức Đại hội đại
trà, trong đó tỉnh Hà Tĩnh và 12 đơn vị cấp huyện đã tiến hành xong
Đại hội Mặt trận Tổ quốc cấp xã. Về cơ bản, công tác chỉ đạo điểm
Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã đã đạt được kết quả tốt,
các địa phương, đã có nhiều cách làm hay, sáng tạo, nhiều kinh
nghiệm tốt, hiệu quả phù hợp với đặc điểm cụ thể của địa phương, đơn
vị mình.
1. Về công tác chuẩn bị
Làm tốt công tác chuẩn bị là yếu tố quyết định đến sự thành
công của Đại hội, vì vậy thực hiện sự chỉ đạo và hướng dẫn của cấp
trên, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các xã được chọn làm
điểm đã tranh thủ tối đa sự chỉ đạo của cấp uỷ, sự phối hợp, giúp đỡ,
tạo điều kiện của chính quyền cơ sở, chủ động làm tốt việc chuẩn bị
Đại hội ở tất cả các khâu: Xây dựng kế hoạch, phân công nhiệm vụ cho
các Uỷ viên Ban Thường trực và các vị Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc cấp xã phụ trách các nội dung công việc của Đại hội; thành lập
các tiểu ban để chuẩn bị báo cáo tổng kết nhiệm kỳ, chuẩn bị nhân sự,
trang trí, khánh tiết, điều hành Đại hội.
Một trong những nội dung chuẩn bị Đại hội cấp xã là phải tổ
chức tốt Hội nghị Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư, qua đó để kiện
toàn Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư; quán triệt các văn bản chỉ
đạo, hướng dẫn của các cấp về Đại hội Mặt trận Tổ quốc; thảo luận
đóng góp ý kiến vào dự thảo báo cáo nhiệm kỳ qua và chương trình
hành động nhiệm kỳ tới của Mặt trận Tổ quốc cấp xã; hiệp thương cử
đại biểu đi dự Đại hội Mặt trận Tổ quốc cấp xã; phát động và tổ chức
các phong trào thi đua, đề ra những việc làm cụ thể thiết thực chào
mừng Đại hội Mặt trận Tổ quốc các cấp.
Trên cơ sở hướng dẫn của Trung ương và của cấp trên, các địa
phương đều có kế hoạch hướng dẫn cụ thể về nội dung, thời gian tổ
chức hội nghị Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư. Kinh nghiệm của
nhiều nơi là trước khi tổ chức hội nghị, các Ban Công tác Mặt trận ở
khu dân cư đều được kiện toàn, bố trí những cán bộ có đủ năng lực,
nhiệt tình với công tác Mặt trận để tổ chức hội nghị đạt chất lượng
cao. Nhằm khắc phục điều kiện khó khăn về địa điểm tổ chức hội nghị
và có nhiều ý kiến đóng góp từ nhân dân trên địa bàn, một số địa
phương có cách làm sáng tạo là tóm tắt báo cáo, chương trình hành
động của Đại hội và gợi ý thảo luận, gửi trước cho các đại biểu. Có
nơi tổ chức quán triệt cho đảng viên và thành viên Ban Công tác Mặt
trận trước khi tổ chức hội nghị, để làm nòng cốt phát biểu, giúp cho
thảo luận tại hội nghị tập trung hơn.
2. Về công tác tuyên truyền
Một trong những yêu cầu của công tác chỉ đạo Đại hội Mặt trận
Tổ quốc cấp xã kỳ này là phải quán triệt cho cấp uỷ, chính quyền,
Mặt trận Tổ quốc và mọi người dân hiểu rõ ý nghĩa, tầm quan trọng
của Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Quá trình Đại hội Mặt trận Tổ
quốc các cấp là sự kiện chính trị quan trọng trong xây dựng khối Đại
đoàn kết toàn dân; là dịp củng cố, tăng cường và nâng cao vị trí,
vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, xứng đáng là bộ phận quan
trọng của hệ thống chính trị, là cơ sở chính trị vững chắc của chính
quyền nhân dân. Đại hội Mặt trận Tổ quốc các cấp còn là đợt sinh
hoạt chính trị rộng lớn trong toàn Đảng, toàn dân; là quá trình chủ
động thực hiện nhiệm vụ chính trị, tạo phong trào hành động cách
mạng, thể hiện sức mạnh của toàn dân trong việc đẩy mạnh phát triển
kinh tế - xã hội và chăm lo đời sống của nhân dân, kết hợp giải
quyết được những vấn đề bức xúc của địa phương. Quá trình triển khai,
chuẩn bị và tổ chức Đại hội điểm Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã
phải thu hút sự tham gia hưởng ứng của đông đảo tầng lớp nhân dân ở
các khu dân cư, góp phần làm cho Đại hội Mặt trận Tổ quốc cấp xã
thực sự là ngày hội của toàn dân trên địa bàn.
Để làm được điều này, vừa qua trong quá trình tiến hành Đại
hội điểm Mặt trận Tổ quốc cấp xã, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã cho đến
các Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư đã tập trung chỉ đạo phối hợp
với các tổ chức thành viên tiến hành nhiều hình thức tuyên truyền
trước, trong và sau Đại hội.
Nhiều phường, xã đã thông qua sinh hoạt chi bộ, tổ dân phố để
phổ biến chủ trương, nội dung cũng như kết quả hoạt động của Mặt
trận, tình hình diễn biến của Đại hội; tổ chức các buổi “Liên hoan
tiếng hát từ tổ dân phố”; viết các băng rôn, kẻ khẩu hiệu; tập trung
tuyên truyền trên hệ thống phát thanh của các xã, phường về hoạt
động của Mặt trận Tổ quốc và các văn bản của Đại hội cấp mình. Một
số xã đã tổ chức truyền thanh trực tiếp chương trình của Đại hội
hoặc thông tin trên sóng truyền hình của tỉnh; một số đơn vị kết hợp
tổ chức trưng bầy các hình ảnh, hiện vật về thành tựu phát triển
kinh tế - xã hội, kết quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc tại địa
phương...
Nhiều địa phương đã tổ chức phát động các phong trào thi đua
lập thành tích chào mừng Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam bằng các việc
làm thiết thực. Một số phường, xã của thành phố Hồ Chí Minh; các
tỉnh Lâm đồng, Hà Tĩnh, Quảng Bình đã tổ chức đăng ký các công trình
chào mừng Đại hội các cấp lên tới hàng trăm triệu đồng từ nguồn kinh
phí vận động đóng góp trong nhân dân, tập trung vào các nội dung như:
tu sửa đường xá, nhà văn hoá, xây dựng nhà Đại đoàn kết, chăm bón
lúa vụ đông xuân, tổ chức vệ sinh đường làng, ngõ xóm và các hoạt
động từ thiện nhân đạo, văn hoá thể thao…; phát động “Năm thực hiện
nếp sống văn minh đô thị” thu hút sự tham gia hưởng ứng của đông đảo
tầng lớp nhân dân ở các khu dân cư, góp phần làm cho Đại hội Mặt
trận Tổ quốc cấp xã thực sự là đợt sinh hoạt chính trị quan trọng và
là ngày hội của toàn dân trên địa bàn.
3. Về công tác nhân sự
Thông qua Đại hội để xây dựng, kiện toàn đội ngũ cán bộ Mặt
trận các cấp là khâu có tính quyết định đến toàn bộ hoạt động và
công tác Mặt trận.
Nội dung và yêu cầu công tác nhân sự Đại hội Mặt trận Tổ quốc
các cấp kỳ này đã được Chỉ thị số 18-CT/TW, ngày 22-11-2007 của Ban
Bí thư Trung ương Đảng chỉ rõ: “Việc chuẩn bị nhân sự Uỷ ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam các cấp phải căn cứ vào tiêu chuẩn cán bộ và
cơ cấu thành phần theo quy định của Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, coi trọng tính tiêu biểu, tính đại diện và tính thiết thực; mở
rộng thành phần là những cá nhân tiêu biểu, đại diện cho các giai
cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam ở nước
ngoài; có đủ điều kiện hoàn thành nhiệm vụ của Uỷ viên Uỷ ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam cấp mình; tăng số uỷ viên là người ngoài Đảng
hơn khoá trước (phấn đấu ở Trung ương là trên 50%, ở các cấp đia
phương là trên 30%) để Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp thực
sự là liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện rộng lớn nhất, là
hình ảnh tiêu biểu nhất cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở mỗi cấp
và trên phạm vi toàn quốc.
Kiện toàn tổ chức, bộ máy cơ quan Mặt trận các cấp theo hướng
tinh gọn, đội ngũ cán bộ chuyên trách đủ về số lượng, có chất lượng
và cơ cấu phù hợp. Đồng thời coi trọng việc mở rộng và tạo điều kiện
để phát huy đội ngũ cán bộ không chuyên trách, lực lượng cộng tác
viên, thông qua hoạt động của các tổ chức tư vấn”.
Để thực hiện được những nội dung và yêu cầu của công tác nhân
sự Đại hội Mặt trận Tổ quốc các cấp nêu trên, các địa phương đã có
nhiều cách làm đem lại hiệu quả thiết thực. Nhiều đơn vị đã tham mưu
cho cấp uỷ, đề nghị các ban Chi uỷ, Ban chấp hành các tổ chức thành
viên cùng tham gia, phát hiện, vận động các cá nhân tiêu biểu trong
nhân dân, các vị có uy tín, có điều kiện và tình nguyện tham gia vào
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc của địa phương. Các phường của quận Bình
Thạnh thành phố Hồ Chí Minh, để đảm bảo số lượng, cơ cấu của Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc phường, đã tổ chức hiệp thương nhiều lần, kiên trì
cùng cấp uỷ, các chi hội khu phố gặp gỡ vận động, thuyết phục các cá
nhân tiêu biểu trong các thành phần dân cư, các cơ quan doanh nghiệp
đóng trên địa bàn cử người tham gia.
Thành uỷ Hà Nội đã chỉ đạo Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
các quận, huyện trên cơ sở vận dụng Chỉ thị số 18-CT/TW, ngày
22-11-2007, của Ban Bí thư Trung ương Đảng, tập trung xây dựng Đề án
nhân sự Ban Thường trực, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã và Ban Công
tác Mặt trận khu dân cư, trong đó nêu rõ mục đích yêu cầu, số lượng,
tiêu chuẩn cụ thể của từng đối tượng, ngoài tiêu chuẩn chung còn
nhấn mạnh đến những người có tâm huyết và tình nguyện tham gia công
tác Mặt trận. Đặc biệt trong Đề án đã hướng dẫn cụ thể việc bố trí
và giải quyết chế độ, chính sách đối với các đồng chí tái cử Chủ
tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã đã quá 55 tuổi đến dưới 60 tuổi
(đối với nữ) và quá 60 tuổi đến dưới 65 tuổi (đối với nam) mà đã có
thời gian công tác đóng bảo hiểm xã hội trên 15 năm đến dưới 20 năm,
có uy tín cao, có năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới, có đủ sức
khoẻ thì có thể tiếp tục tham gia đến khi có đủ điều kiện nghỉ chế
độ thì cấp uỷ cùng cấp phải kịp thời bố trí người thay thế và giải
quyết để các đồng chí đó được nghỉ công tác, hưởng chế độ theo quy
định. Đề án nhân sự được thông qua Thường vụ cấp uỷ, Ban Thường trực
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố. Điều này thể hiện sự
quan tâm đặc biệt đối với đội ngũ cán bộ Mặt trận của cấp uỷ, chính
quyền, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hà Nội. Việc thực
hiện Đề án đã kịp thời động viên đội ngũ cán bộ Mặt trận, nhất là
đội ngũ cán bộ chủ chốt ở cấp cơ sở. Đây sẽ là điều kiện tốt, tạo
không khí an tâm, phấn khởi giúp cho thành phố bước vào Đại hội Mặt
trận các cấp trên cơ sở, tiến tới Đại hội VII Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam.
Về đầu trang
|
|
VỀ CHỨC NĂNG GIÁM SÁT CỦA MẶT TRẬN
ĐỐI VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP
NGUYỄN HUY PHƯỢNG
Viện
Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc
Ở nước ta, Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam là một thể chế
để thể hiện và thực thi quyền lực chính trị của nhân dân lao động,
phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội.
Vì vậy, thực hiện chức năng giám sát của Mặt trận đối với các
hoạt động tư pháp cũng chính là phương thức thực thi quyền làm chủ
của nhân dân và cần được đặt ra như là một vấn đề thường xuyên, quan
trọng trong đời sống chính trị, góp phần phát huy dân chủ, xây dựng
nhà nước trong sạch vững mạnh, thực sự là của dân, do dân và vì dân.
Quyền giám sát của Mặt trận đối với các hoạt động tư pháp,
các cơ quan tư pháp đã được khẳng định trong nhiều Văn kiện, Nghị
quyết quan trọng của Đảng và nhiều chính sách, pháp luật của Nhà
nước, trong đó có Hiến pháp năm 1992. Chức năng giám sát của Mặt
trận đối với các hoạt động tư pháp còn được thể hiện trong một loạt
các bộ luật, đạo luật, pháp lệnh khác như: Bộ Luật Tố tụng Hình sự;
Bộ Luật Hình sự; Bộ Luật Tố tụng Dân sự; Luật Tổ chức Viện Kiểm sát
nhân dân; Luật Tổ chức Toà án nhân dân; Luật Khiếu nại, tố cáo; Luật
Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật; Luật Hoạt động giám sát của
Quốc hội; Luật Đặc xá; Luật Đất đai; Luật Hôn nhân và Gia đình...;
Pháp lệnh Lực lượng Cảnh sát nhân dân Việt Nam...
Qua nghiên cứu, phân tích và tổng hợp từ các Văn kiện, Nghị
quyết Đảng; Hiến pháp, các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước,
có thể hệ thống hoá chức năng giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
đối với các hoạt động tư pháp trên một số nội dung sau:
1. Giám sát tính hợp hiến, hợp pháp các văn bản quy phạm pháp
luật của Tòa án nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.
Pháp luật quy định Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam có quyền và trách nhiệm tham gia giám sát tính hợp hiến, hợp
pháp các văn bản quy phạm pháp luật của Toà án nhân dân tối cao và
Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. Khi phát hiện sai phạm, Uỷ ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam có nhiệm vụ:
+ Đề nghị, kiến nghị Quốc hội xem xét, quyết định bãi bỏ một
phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Toà án nhân dân tối
cao và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, Luật, Nghị
quyết của Quốc hội.
+ Đề nghị, kiến nghị Uỷ ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết
định đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm
pháp luật của Toà án nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân tối
cao trái với Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc
hội huỷ bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản đó; xem xét, quyết định huỷ
bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Toà án nhân
dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trái pháp lệnh, Nghị
quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Qua nghiên cứu một số báo cáo của Mặt trận trong những năm
qua cho thấy, thực hiện nội dung giám sát này, theo chức năng và
trách nhiệm của mình, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã
bước đầu tham gia giám sát tính hợp hiến, hợp pháp các Nghị quyết
của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; Quyết định, Chỉ thị,
Thông tư của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. Tại Công
văn số 127/MTTW ngày 21-4-1997, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam đã kiến nghị Quốc hội xem xét, huỷ bỏ những điểm không phù
hợp với Điều 255 Bộ Luật Dân sự trong Thông tư Liên ngành số 03/TTLN,
ngày 10-8-1996, giữa Toà án nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhân
dân tối cao về việc giải quyết vấn đề nhà vắng chủ. Kiến nghị này đã
được Quốc hội, thông qua.
Tuy nhiên, ở mảng công tác này, Mặt trận cũng chưa phát hiện
được nhiều những văn bản quy phạm pháp luật không hợp hiến, hợp pháp
của Toà án nhân dân tối cao cũng như Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
để kiến nghị Quốc hội và Uỷ ban Thường vụ Quốc hội huỷ bỏ hay đình
chỉ thi hành.
2. Giám sát quá trình tố tụng (hình sự, dân sự, hành chính,
lao động, kinh tế, hôn nhân và gia đình) của các cơ quan tư pháp.
Việc giám sát hoạt động của các cơ quan tư pháp không chỉ là
giám sát tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật,
mà nội dung quan trọng nữa là giám sát quá trình thực hiện pháp luật
về tố tụng của các cơ quan tư pháp.
Quá trình tố tụng gồm nhiều giai đoạn, như: điều tra, truy tố,
xét xử và thi hành án.
Pháp luật quy định Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam tham gia giám sát hoạt động tố tụng là nhằm bảo vệ quyền, lợi
ích chính đáng, hợp pháp của công dân, thực hiện dân chủ, công bằng
và bình đẳng xã hội. Cụ thể là trong các giai đoạn của quá trình tố
tụng, nếu Mặt trận phát hiện những hành vi trái pháp luật của các cơ
quan tiến hành tố tụng thì kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền
và các cơ quan này phải xem xét, giải quyết và trả lời cho Mặt trận
biết kết quả. Đối với việc vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho tài
sản xã hội chủ nghĩa hoặc quyền lợi của người lao động trong quan hệ
lao động, kết hôn trái pháp luật, xác định cha, mẹ cho người con
chưa thành niên ngoài giá thú, xâm phạm nghiêm trọng quyền lợi của
người chưa thành niên hoặc của người có nhược điểm về thể chất hoặc
tâm thần, nếu không có người khởi kiện thì Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc,
các tổ chức thành viên của Mặt trận trong phạm vi chức năng của mình
có quyền khởi kiện hoặc đề nghị Viện Kiểm sát nhân dân xem xét việc
khởi tố vụ án.
Báo cáo của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho
thấy, trong những năm qua Mặt trận đã tiếp hàng ngàn lượt người dân
có khiếu nại, tố cáo về kết quả điều tra, truy tố, xét xử của cơ
quan công an, Viện Kiểm sát và Toà án các cấp. Qua đó, Mặt trận đã
có hàng trăm bản kiến nghị để các cơ quan có thẩm quyền xem xét,
giải quyết dứt điểm theo đúng pháp luật. Thông qua việc tập hợp ý
kiến, kiến nghị, nguyện vọng của cử tri và các tầng lớp nhân dân
trong cả nước, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã lựa
chọn, xem xét và kiến nghị đối với một số vụ án mà Toà án cấp sơ
thẩm đã xét xử nhưng bị cáo, đương sự và ý kiến của đông đảo nhân
dân vẫn kiến nghị kêu oan và đã được Toà án, Viện Kiểm sát cấp có
thẩm quyền xem xét, giải quyết. Tiêu biểu như vụ Toà án nhân dân tối
cao đã xét xử lại và tuyên bị cáo không phạm tội trong vụ án nhập
khẩu 118 xe ô tô tay lái nghịch của bị cáo Nguyễn An Trung tại thành
phố Hồ Chí Minh...
Thông qua việc tiếp dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo của
công dân gửi đến Mặt trận, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam cũng đã góp phần xem xét, giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố
cáo của các cơ quan nhà nước, đặc biệt là cơ quan tư pháp đối với
công dân có đúng thẩm quyền, thủ tục, trình tự và có đúng pháp luật
hay không. Trong quá trình giám sát tố tụng, để có những kiến nghị
xác đáng, có lý có tình, Mặt trận đã phát huy vai trò tư vấn của các
chuyên gia pháp lý trong các Hội đồng tư vấn, đặc biệt là Hội đồng
tư vấn Dân chủ - Pháp luật của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam để tham mưu, tư vấn cho Ban Thường trực Đoàn Chủ tịch; đồng
thời bố trí cán bộ, chuyên viên có chuyên môn đến xem xét tại chỗ
các vụ việc xảy ra, thu thập các nguồn thông tin trong nhân dân hay
qua các tổ chức thành viên của Mặt trận và bám sát căn cứ, quy định
của pháp luật…
Để hoạt động giám sát quá trình tố tụng có hiệu quả, pháp
luật quy định Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia
Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao trình Chủ tịch
nước bổ nhiệm.
Về việc tham gia tuyển chọn Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao,
Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân quy định: Uỷ ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia Hội đồng tuyển chọn Thẩm
phán (cùng các thành viên trong Hội đồng, gồm: Bộ Tư pháp, Toà án
nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng, Hội Luật gia Việt Nam) để trình Chủ
tịch nước bổ nhiệm làm thẩm phán và xem xét những trường hợp thẩm
phán vi phạm kỷ luật, không còn đủ tiêu chuẩn để trình Chủ tịch nước
cách chức (Điều 26). Pháp lệnh còn quy định cụ thể là đại diện Uỷ
ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia Hội đồng tuyển
chọn Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thẩm phán Toà án quân sự
Trung ương, Thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương, Thẩm phán Toà án quân sự quân khu và tương đương, Thẩm
phán Toà án quân sự khu vực (Điều 26, Điều 28).
Trong năm 2000, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
đã tham gia 2 Hội đồng tuyển chọn thẩm phán, là Hội đồng tuyển chọn
Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao và Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán
Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Uỷ ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam còn có nhiệm vụ hướng dẫn Uỷ ban Mặt
trận Tổ quốc các tỉnh, thành chỉ đạo Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã,
phường tổ chức lấy ý kiến của nhân dân nơi cư trú góp ý kiến nhận
xét cho người được giới thiệu tuyển chọn làm thẩm phán. Nhờ vậy, tất
cả những người được giới thiệu đều được nhân dân đóng góp ý kiến,
góp phần nâng cao chất lượng thẩm phán, qua đó nâng cao chất lượng
hoạt động xét xử của Toà án.
Về việc giới thiệu Hội thẩm nhân dân Toà án nhân dân cấp tỉnh,
huyện: Chế định về Hội thẩm nhân dân chính là sự tham gia của xã hội
công dân vào quá trình tố tụng và xét xử, nhằm đảm bảo quyền làm chủ
của nhân dân tham gia và giám sát quá trình xét xử của Toà án; đảm
bảo sự công minh của pháp luật, của Thẩm phán trong xét xử; hạn chế
oan sai, đồng thời khắc phục những hạn chế của pháp luật (nếu có).
Thực hiện tốt chế định Hội thẩm nhân dân cũng chính là góp phần mở
rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.
Hiến pháp, các luật, pháp lệnh hiện hành đều quy định việc
xét xử của Toà án nhân dân có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân; khi
xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán và cả Thẩm phán lẫn Hội
thẩm nhân dân đều độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Tuy nhiên
trong thực tế, chế định Hội thẩm nhân dân tham gia công tác xét xử
của Toà án nhân dân nhiều nơi vẫn còn hình thức và Hội thẩm nhân dân
chưa phát huy được vai trò đại diện quyền làm chủ của nhân dân tham
gia giám sát hoạt động xét xử của Toà án.
3. Tham gia và giám sát công tác đặc xá hàng năm.
Đặc xá cho các phạm nhân có quá trình cải tạo tốt là thẩm
quyền của Chủ tịch nước theo quy định của Hiến pháp (khoản 12, Điều
103, Hiến pháp năm 1992). Đây là hoạt động thể hiện sâu sắc bản chất
nhân đạo và tốt đẹp của chế độ ta, cũng như truyền thống khoan dung
của dân tộc ta.
Hàng năm, vào các dịp lễ, tết của dân tộc (Quốc khánh, Tết
Nguyên đán), Chủ tịch nước đều có quyết định đặc xá trên cơ sở danh
sách do Hội đồng tư vấn đặc xá khảo sát, thẩm tra và đề nghị. Hội
đồng tư vấn đặc xá hàng năm bao gồm các thành phần: Chính phủ, Uỷ
ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bộ Công an, Toà án nhân
dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Ngoại giao...
Thực hiện nhiệm vụ công tác này, hàng năm Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc các cấp từ Trung ương đến địa phương đã chủ động tham gia các
nội dung sau:
+ Tuyên truyền trong nhân dân về ý nghĩa tốt đẹp và nhân đạo
của chủ trương đặc xá của Đảng, Nhà nước.
+ Tham gia Hội đồng tư vấn xét đặc xá để xét duyệt và đề nghị
đặc xá cho phạm nhân cải tạo tốt.
+ Xác nhận hoàn cảnh gia đình và đơn xin đặc xá của thân nhân
phạm nhân.
+ Phối hợp với các cơ quan Nhà nước và các tổ chức thành viên
của Mặt trận xây dựng kế hoạch quản lý, giúp đỡ, giáo dục để những
người được tha tù trước thời hạn trở về địa phương nhanh chóng hoà
nhập cộng đồng, giúp họ tìm kiếm việc làm ổn định cuộc sống, phấn
đấu trở thành công dân tốt, sống có ích cho xã hội.
+ Giám sát việc thi hành quyết định đặc xá và các văn bản
pháp luật có liên quan, nhằm đảm bảo thực hiện đúng đắn các chủ
trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Để thực hiện tốt việc giám sát công tác đặc xá, Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam phải chủ động tham gia từ khâu đầu đến khâu cuối, tức
là:
- Đóng góp xây dựng các văn bản hướng dẫn công tác đặc xá của
Hội đồng tư vấn đặc xá Trung ương;
- Hướng dẫn Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các địa phương tham gia
công tác đặc xá;
- Tổ chức tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân
về công tác đặc xá. Kịp thời chuyển đơn của một số công dân tới
Thường trực Hội đồng tư vấn đặc xá Trung ương để xem xét, giải quyết
theo thẩm quyền;
- Cử cán bộ, chuyên viên tham gia trực tiếp các đoàn đi thẩm
định hồ sơ đặc xá ở các địa phương và các trại giam;
- Tổ chức thẩm định lại toàn bộ hồ sơ đề nghị đặc xá đã được
các Tổ chuyên viên thẩm định bước đầu do Hội đồng đặc xa Trung ương
chuyển đến.
Thông qua quá trình thẩm định lại, Uỷ ban Trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam phát hiện các trường hợp đề nghị đặc xá chưa đủ
điều kiện, tiêu chuẩn hoặc thiếu một số tài liệu liên quan, để kịp
thời kiến nghị với Thường trực Hội đồng xem xét, giải quyết. Có thể
nhận định rằng, việc tham gia xét đặc xá và giám sát quá trình đặc
xá của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã có đóng góp
tích cực, góp phần củng cố, tăng cường niềm tin của quần chúng nhân
dân vào bản chất tốt đẹp của chế độ ta.
Về đầu trang
|
|
HƯỞNG
ỨNG CUỘC VẬN ĐỘNG:
“HỌC TẬP VÀ LÀM THEO
TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH”
CẦN NHẬN THỨC ĐÚNG ĐẮN CUỘC CÁCH MẠNG
CHỐNG THAM Ô, LÃNG PHÍ, QUAN LIÊU
PGS-TS. BÙI ĐÌNH
PHONG
Học viện Chính trị
- Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh.
Theo quan điểm Hồ Chí Minh, tham ô, lãng phí, quan liêu là
nguy hiểm.
Thứ nhất, nó là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội, của Chính
phủ. Đây là loại kẻ thù nguy hiểm, vì không mang gươm súng mà nằm
trong các tổ chức của ta, làm hỏng công việc của ta. Nó là bạn đồng
minh của thực dân và phong kiến, của các thế lực thù địch; nó làm
chậm trễ công việc của ta; nó phá hoại đạo đức cách mạng của ta. Vì
vậy, tham ô, lãng phí, quan liêu là tội lỗi như Việt gian, mật thám.
Nó là tội ác.
Thứ hai, tham ô, lãng phí, quan liêu làm hại đến sự nghiệp
xây dựng nước nhà, đến việc cải thiện đời sống nhân dân.
Thứ ba, bệnh quan liêu ấp ủ, dung túng, che chở cho tham ô,
lãng phí; nó gieo hạt, vun trồng cho tham ô, lãng phí nảy nở. Do đó,
muốn trừ sạch tham ô, lãng phí thì trước mắt phải tẩy sạch bệnh quan
liêu.
Người còn chỉ rõ, đối với từng cá nhân mà nói, thì có những
người trong lúc đấu tranh thì trung thành, hăng hái, không sợ nguy
hiểm, không sợ cực khổ, không sợ quân địch, nghĩa là có công với
cách mạng. Song đến khi có ít nhiều quyền hạn trong tay thì đâm ra
kiêu ngạo, xa xỉ, phạm vào tham ô, lãng phí, quan liêu, không tự
giác mà biến thành người có tội với cách mạng. Chúng ta phải cứu vãn
họ, giúp họ khôi phục đạo đức cách mạng. Có những người miệng thì
nói: phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, nhưng bị vật chất dỗ dành
mà phạm vào tham ô, lãng phí, hại đến Tổ quốc, nhân dân. Chúng ta
phải giáo dục họ, đưa họ vào con đường cách mạng.
Chúng ta muốn xây dựng một xã hội mới, một xã hội tự do, bình
đẳng, một xã hội cần, kiệm, liêm, chính, cho nên chúng ta phải tẩy
cho sạch hết những thói xấu của xã hội cũ.
Một điều rất quan trọng và cần thiết hiện nay là giáo dục mọi
người nhận thức về ý nghĩa của việc chống tham ô, lãng phí, quan
liêu, góp phần quan trọng vào việc thực hiện cuộc cách mạng xã hội
chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa. Không nhận thức rõ tầm
quan trọng của cuộc cách mạng này thì rất dễ làm xuê xoa, hình thức.
Vì ba chứng bệnh đó là kẻ thù, nên trước hết phải nhận thức chống
tham ô, lãng phí, quan liêu là cách mạng. Cuộc cách mạng này là tiêu
diệt cái xấu, cái ác, xây cái tốt. Chống tham ô, lãng phí, quan liêu
là dân chủ. Cuộc cách mạng này phải dựa vào lực lượng quần chúng, đi
đúng đường lối quần chúng, đó chính là sức mạnh dân chủ. Chống tham
ô, lãng phí, quan liêu là giúp đoàn kết, nâng cao tinh thần trách
nhiệm, tinh thần làm chủ, cải tạo tư tưởng, nâng cao giác ngộ, thấm
nhuần đạo đức cách mạng, phụng sự nhân dân, Tổ quốc.
Như vậy, mỗi người dân, cán bộ, đảng viên phải ý thức sâu sắc
rằng, chống tham ô, lãng phí, quan liêu quan trọng như đánh giặc
trên mặt trận. Nhưng đây là mặt trận tư tưởng, chính trị. Vì vậy,
cần sự chuẩn bị chu đáo, có kế hoạch, có tổ chức, có lãnh đạo và
phải có một lực lượng nòng cốt, trung kiên. Chống tham ô, lãng phí,
quan liêu là một cuộc cách mạng nội bộ, đấu tranh giữa cái tốt với
cái xấu, cái mới với cái cũ... Bởi vì cách mạng là tiêu diệt những
cái xấu, xây dựng những cái tốt. Tham ô, lãng phí, quan liêu là nọc
xấu của chế độ cũ vẫn còn thì cách mạng vẫn chưa hoàn toàn thành
công, vì nọc xấu ấy ngấm ngầm ngăn trở, phá hoại sự nghiệp xây dựng
của ta.
Hiện nay, nhận thức về tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan
liêu để tiến hành chống các căn bệnh đó cũng còn chưa thật sự thống
nhất. Có người hiểu tham ô với tham nhũng là một. Nhiều người chỉ
quan tâm đến tham ô trực tiếp, còn tham ô gián tiếp thì không biết
hoặc không chú ý. Có người không thấy tác hại đặc biệt nghiêm trọng
của quan liêu...
Về tính chất, tham ô là trộm cướp; là hành động xấu xa nhất,
tội lỗi nhất, đê tiện nhất. Cán bộ và nhân dân, nếu thiếu lương tâm,
đều có thể tham ô. Nhưng nhân dân tham ô chủ yếu là ăn cắp của công,
khai gian, lậu thuế. Còn cán bộ tham ô thì ngoài ăn cắp của công,
còn đục khoét nhân dân, ăn bớt của bộ đội, lợi dụng của Chính phủ
làm của riêng, tiêu ít khai nhiều. Cán bộ còn có tham ô gián tiếp
như kém lòng trách nhiệm, làm việc chậm chạp, ăn cắp giờ...
Còn tham nhũng? Chỉ có cán bộ thiếu lương tâm thì mới có điều
kiện thực hiện hành vi tham nhũng, vì họ có quyền, có chức vụ. Bác
Hồ viết: “Cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to,
cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm
là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”1. Có
lần Người dùng đến hai từ “nhũng lạm”, tức là lạm dụng quyền lực,
chức vụ để nhũng nhiễu dân và tham nhũng. Luật Phòng, chống tham
nhũng định nghĩa: “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền
hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”. Như vậy, tham
nhũng trước hết và lâu dài là tham nhũng quyền lực, vì quyền lực là
điều kiện tiên quyết để thực hiện các hành vi tham nhũng tiền, của.
Vì vậy, muốn chống tham nhũng trước hết phải chữa nơi quyền lực, tức
là phải chữa bệnh cho hệ thống; phải giám sát, kiểm soát quyền lực
để cho quyền lực thực thi được minh bạch, không để xảy ra hiện tượng
chạy, mua, bán chức, quyền. Ở đâu tù mù, thiếu minh bạch, thiếu dân
chủ, ở đó sẽ nảy sinh tiêu cực. Từ sự phân tích đó cho thấy cuộc
chiến chống tham nhũng hiện nay, tuy có nhắm vào toàn bộ cơ chế,
song chủ yếu vẫn nhắm vào cán bộ và đảng viên cầm quyền. Nhận thức
như vậy để thấy nếu đa số cán bộ, đảng viên trong sáng thì sẽ có tác
động rất lớn tới vấn đề chỉnh đốn xã hội, làm cho cục diện chung sẽ
có chuyển biến theo hướng tích cực.
Nhận chân về lãng phí, cơ bản là những hành vi ngược lại với
tiết kiệm. Ví dụ: chỉ cần ít người mà dùng nhiều người; công việc
đáng làm trong một ngày, lại kéo dài trong nhiều ngày, như thế là
lãng phí... Hiện nay, cần nhận thức đúng có hai loại lãng phí: lãng
phí hữu hình và lãng phí vô hình.
Lãng phí hữu hình, như: xa xỉ, liên hoan, xài tiền như nước.
Dùng vật liệu phí phạm. Làm kế hoạch không thiết thực, không sát
hoàn cảnh để xây xong phải phá đi làm lại, hoặc không sử dụng được.
Hoặc phô trương hình thức, nào “báo chí”, nào kỷ niệm, nào động thổ...
Có một loại lãng phí, tưởng là vô hình, nhưng lại là hữu hình, đó là
thủ tục hành chính. Khi thủ tục chồng chéo, rườm rà thì tốn kém đầu
tiên là thời gian. Một doanh nghiệp muốn được cấp phép thành lập cần
khoảng 2 tháng để giải quyết hơn chục thủ tục, như: xin mã số thuế,
lắp đặt điện nước, điện thoại... Thời gian là tiền bạc và để tiết
kiệm tiền bạc kiểu này thì người ta phải “bôi trơn”. Từ đó dẫn đến
cán bộ bị tha hóa, tham nhũng. Theo tính toán của Tổ chức Sáng kiến
nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam (VNCI), nếu giảm được 40% thủ
tục hành chính thì Việt Nam sẽ tiết kiệm được mức 2,8 - 6,5 tỷ USD/năm.
Lãng phí vô hình trong nền kinh tế lớn hơn nhiều. Đó là lãng
phí do sử dụng vốn và tài sản của Nhà nước tại các doanh nghiệp Nhà
nước chưa hiệu quả, quản lý tài sản công, quản lý sử dụng lãng phí
tài nguyên, khoáng sản; lãng phí do quy hoạch, bố trí dự án dàn trải,
kém hiệu quả hay chưa thật cần thiết, chậm tiến độ giải ngân các
nguồn vốn của Nhà nước, chậm tiến độ xây dựng các công trình, dự án
sử dụng ngân sách Nhà nước, nhất là các công trình, dự án quan trọng.
Theo quan điểm Hồ Chí Minh, lãng phí thì không lấy của công
đút túi được, nhưng nhiều khi còn hại hơn tham ô, vì lãng phí rất
phổ biến. Nhưng điều này không phải mọi người đều có thể nhận thức
được. Vì vậy, trên cơ sở nhận thức đúng để tập trung chống cả lãng
phí hữu hình và lãng phí vô hình.
Còn quan liêu thì có nhiều biểu hiện. Đối với người thì chỉ
biết dùng mệnh lệnh không sát công việc thực tế. Đối với công việc
thì trọng hình thức, thích hội họp, không đi sâu vào vấn đề. Đối với
mình thì làm cho qua chuyện, nói một đường làm một nẻo... Tóm lại,
quan liêu là “có mắt mà không thấy suốt, có tai mà không nghe thấu,
có chế độ mà không giữ đúng, có kỷ luật mà không nắm vững. Kết quả
là những người xấu, những cán bộ kém tha hồ tham ô, lãng phí”.
Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân đang tập trung chống tham ô,
lãng phí, quan liêu. Bên cạnh một số kết quả đạt được, vẫn còn nhiều
điều nhức nhối. Có một nguyên nhân ít người quan tâm, đó là nhận
chân tác hại của tham ô, lãng phí, quan liêu. Nhiều người chưa thấy
tác hại thật sự, dẫn tới những nhận thức sai, họ cho rằng: tham ô là
có tội, còn lãng phí chỉ là khuyết điểm. Người có công thì tham ô,
lãng phí một chút cũng nên tha thứ. Nước ta nghèo, có gì mà tiết
kiệm. Cơ quan ta không có gì, không phải cơ quan kinh tế, có gì mà
lãng phí, có gì mà tham ô...
Muốn chống tham ô, lãng phí, quan liêu có hiệu quả cần nhiều
biện pháp, bao gồm giáo dục về nhận thức, về đạo đức; đồng thời phải
nghiêm minh về “pháp trị”. Pháp trị, trước hết là tính đồng bộ, chặt
chẽ của luật pháp; phải minh bạch trong điều hành quản lý của bộ máy
Nhà nước trong điều kiện nhà nước pháp quyền. Và tất nhiên, pháp
luật phải “thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa
vị nào, làm nghề nghiệp gì”2.
Để giành thắng lợi trong cuộc cách mạng này, trước hết cần
một quyết tâm chính trị, một sự đồng tâm nhất trí cao từ trên xuống
dưới, để diệt tận gốc, như Bác Hồ dạy là phải “nhổ cỏ”. Phải huy
động sức mạnh của nhân dân, của hệ thống chính trị và báo chí. Báo
chí rất quan trọng. Những người làm báo phải xác định rõ ngòi bút
của mình là một vũ khí sắc bén trong sự nghiệp “phò chính trừ tà”.
Trong cuộc chiến này đòi hỏi cán bộ, đảng viên ở địa vị càng cao
càng phải giữ đúng kỷ luật, làm gương dân chủ, mạnh dạn thật thà
kiểm thảo, không giấu giếm khuyết điểm, dám chịu trách nhiệm trước
quần chúng. Phải khắc phục những nhận thức sai lầm, như: “một sự
nhịn chín sự lành”, “kiểm thảo lẫn nhau làm gì”. Tự nhận khuyết điểm
thì sợ mất thể diện, mất uy tín. Chỉ trích lỗi người khác sợ mất
đoàn kết. Ai tham ô, lãng phí mặc ai, mình không có thì thôi. Nói
thật mất lòng, bạn ghét, cấp trên trù dập...
Cần nhận thức đúng đắn rằng vai trò chi bộ là tổ chức lãnh
đạo chính trị, không phải là tổ chức hành chính. Lãnh đạo trên tất
cả các mặt: tự phê bình và phê bình; lãnh đạo kiểm tra, thanh tra;
lãnh đạo việc khen thưởng, kỷ luật thật nghiêm và thật minh. Khen
xứng đáng, kỷ luật đúng người, đúng tội, kể cả những ai ngăn cản, đe
dọa người kiểm thảo và người thấy tội không nêu ra.
Trong phong trào chống tham ô, lãng phí, quan liêu phải kết
hợp cả xây và chống, coi đây là hai bánh xe vững chắc. Chống triệt
để, bảo đảm cho xây; xây phát triển thì đối tượng chống được xóa bỏ
tận gốc. Nhưng xây và giáo dục là chính, trừng phạt là phụ. “Song
không phải tuyệt nhiên không dùng xử phạt. Lầm lỗi có việc to, việc
nhỏ. Nếu nhất luật không xử phạt sẽ mất cả kỷ luật, thì sẽ mở đường
cho bọn cố ý phá hoại. Vì vậy, hoàn toàn không dùng xử phạt là không
đúng. Mà chút gì cũng dùng đến xử phạt cũng không đúng”3.
Tóm lại, trong cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh”, trọng tâm trong năm 2008 nhiệm vụ hàng đầu là
“thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu”. Bối cảnh
hiện nay đã khác nhiều so với lúc Bác Hồ còn sống, nhưng tư tưởng và
tấm gương đạo đức của Người vẫn vẹn nguyên giá trị lý luận và thực
tiễn. Mỗi cán bộ, đảng viên cần thấu triệt tư tưởng và noi theo tấm
gương Hồ Chí Minh trong thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí,
quan liêu. Đây là một trong những việc làm có ý nghĩa thiết thực
nhất để làm cho dân tin, dân phục, dân yêu Đảng, góp phần quan trọng
thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng, sớm đưa nước ta ra khỏi
tình trạng kém phát triển.q
_____________
1, 2, 3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, t.5,
tr.641, 641, 284
Về đầu trang
|
|
    

|
|