SỐ 57                                 

HOẠT ĐỘNG LÝ LUẬN


Tìm hiểu về đạo Baha’i ở Việt Nam

Hiện đại hóa văn hóa và con người trong nền kinh tế toàn cầu

Người dân đâu phải “bức bình phong”?

Hỏi: Các tổ chức tôn giáo, tín đồ, nhà tu hành và chức sắc tôn giáo Việt Nam được phép quan hệ quốc tế như thế nào? VĂN LÂM, Phường Đa Kao, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh;  NGUYỄN MẠNH HƯNG, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

Hỏi: Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân đối với việc giám sát và kiểm tra của nhân dân được Quy chế dân chủ ở xã quy định như thế nào? TRẦN LỆ THANH, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình

 

 

TÌM HIỂU VỀ  ĐẠO BAHA’I Ở VIỆT NAM 

HÀ NAM

 

Ngày 28-2-2007, Ban Tôn giáo Chính phủ đã chứng nhận đăng ký hoạt động cho cộng đồng tôn giáo Baha’i Việt Nam. Đạo Baha’i du nhập vào Việt Nam đến nay khoảng hơn nửa thế kỷ.

Đạo Baha’i theo cổ ngữ Arập nghĩa là “Người noi theo ánh sáng của Thượng đế”, ra đời năm 1863 tại Ba Tư (nay là Iran). Người sáng lập đạo Baha’i là Marza Husuyri Ali (1817 - 1892). Năm 1948, cộng đồng Baha’i quốc tế được Liên Hiệp quốc chính thức chấp nhận là một tổ chức phi chính phủ, hoạt động trong lĩnh vực hỗ trợ phát triển. Đến tháng 5-1970, được hưởng cương vị tư vấn tại Hội đồng kinh tế - xã hội Liên Hiệp quốc (ECOSOC). Đại diện đạo Baha’i đã được bầu là Chủ tịch các Uỷ ban của Tổ chức phi chính phủ tại Liên Hiệp quốc, như: Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Chương trình Môi trường của Liên Hiệp quốc (UNEP), Quỹ Trẻ em của Liên Hiệp quốc (UNICEF) và đặc biệt năm 1991, Quỹ phát triển vì Phụ nữ của Liên Hiệp quốc (UNIFEM) đã tài trợ 205 ngàn đô la cho cộng đồng Baha’i quốc tế trong một dự án sử dụng các phương tiện truyền thông để thúc đẩy sự tiến bộ của phụ nữ.

Trên thế giới, hiện nay đạo Baha’i có khoảng trên 6 triệu tín đồ được phân bố ở 235 quốc gia và vùng lãnh thổ, với hơn 2.100 sắc tộc. Quốc gia có số lượng tín đồ Baha’i đông nhất thế giới là Ấn Độ (với khoảng hơn 2 triệu người). Đạo Baha’i trên thế giới có 5 ngôi đền lớn. Đền của đạo Baha’i được xây dựng 9 cạnh, tượng trưng cho 9 tôn giáo lớn hợp nhất, gồm: Đạo Sabean, Ấn Độ giáo, Do Thái giáo, Bái Hoả giáo, Phật giáo, Thiên chúa giáo, Hồi giáo, đạo Babi và đạo Baha’i. Thánh địa trung tâm được đặt trên núi Carnel thuộc tỉnh Haifa (Israel) là nơi có Thánh Lăng của Marza Husuyri Ali người sáng lập đạo. Các đền thờ lớn còn có ở Iskhabat (Liên Xô cũ) Wilmette gần Chicagô (Mỹ), Panama City (Panama), Kampala (Uganda); Ingleisde gần Sydney (Úc). Đạo Baha’i không có các tu sĩ, để lo việc đạo, đạo Baha’i xây dựng tổ chức Hội đồng tinh thần chia làm 3 cấp, gồm: Hội đồng tinh thần địa phương, Hội đồng tinh thần Quốc gia, Hội đồng tinh thần Quốc tế (gọi là Toà Công lý Quốc tế). Các cơ quan này có quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp đối với cộng đồng đạo Baha’i. Người đứng đầu của đạo Baha’i là Đức Giám hộ. Đức Giám hộ chỉ định trên toàn thế giới có 27 vị phụ tá Giám hộ để giữ việc coi sóc các mối đạo và kêu gọi nhân loại xây dựng “toà nhà thống nhất”. Hệ thống này, các tín đồ Baha’i gọi là trụ cột thống nhất, trụ cột này giúp cho tín đồ tuân theo các giáo huấn của Marza Husuyri Ali - người sáng lập đạo. Bên cạnh hệ thống thống nhất trên, đạo Baha’i còn có một hệ thống dân chủ, đó là các hội đồng tinh thần được bầu cử bằng phiếu kín. Nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng tinh thần là lo việc truyền giáo, tổ chức các cuộc lễ, các lớp giáo lý, các cuộc họp, các thánh lễ, in ấn kinh sách, kiểm duyệt các ấn phẩm về đạo Baha’i, giải quyết các vấn đề liên quan tới đời sống tín đồ, bảo vệ Đức tin, nhắc nhở tín đồ trong cộng đồng tuân thủ các luật lệ tôn giáo, chính sách, pháp luật của nhà nước, tổ chức công tác từ thiện xã hội, đảm nhận vấn đề Quỹ của đạo và chỉ định các tín đồ vào các Uỷ ban đặc biệt để giúp việc cho Hội đồng. Hội đồng tinh thần của đạo Baha’i ở 3 cấp đều được bầu bằng phiếu kín, không ứng cử, đề cử. Mỗi tín đồ được ghi một danh sách gồm tín đồ đạo Baha’i trưởng thành trong cộng đồng mà mình xét thấy có đủ đức tính tốt, có khả năng và kinh nghiệm, sau khi kiểm phiếu, 9 người có số phiếu cao nhất sẽ được đắc cử vào Hội đồng tinh thần. Bên cạnh Hội đồng tinh thần 3 cấp là những nhóm cá nhân có vai trò làm cố vấn, là những người có tài năng, kinh nghiệm được chỉ định để làm tư vấn cho các Hội đồng tinh thần và các tín đồ.

Ở nước ta, theo thống kê của Ban Tôn giáo Chính phủ, tín đồ Baha’i hiện nay có gần 7.000 người đang sinh hoạt trong 93 cộng đồng, phân bố ở 43 tỉnh, thành phố, tập trung đông nhất tại một số tỉnh, thành phố, như: Hà Nội, Đà Nẵng, Quảng Nam, Gia Lai, Ninh Thuận, Bình Thuận, Cần Thơ, Kiên Giang... Hội đồng tinh thần địa phương của đạo Baha’i được thành lập đầu tiên ở Sài Gòn, ngày 21-4-1955, được chính quyền Sài Gòn công nhận tại Nghị định số 2.509/HCSV, ngày 20-9-1955. Hội đồng tinh thần địa phương tiếp theo được thành lập ở miền Trung, tại làng Trừng Giang (nay là thôn Hoà Giang, xã Điện Trung, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam). Sau đó có nhiều Hội đồng tinh thần địa phương khác được thành lập tại các tỉnh, thành phố, như: Thừa Thiên, Phú Yên, Cần Thơ, Biên Hòa, Tây Ninh, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận...

Trước năm 1975, các hoạt động của đạo Baha’i ở miền Nam phát triển mạnh, có cơ sở ở hầu hết các tỉnh, thành phố phía Nam. Năm 1962 - 1975 một trong những hoạt động nổi bật của đạo Baha’i ở Việt Nam là việc tổ chức Hội nghị “Ngày tôn giáo Hoàn cầu” tại Sài gòn, Hội nghị đã mời đại diện các tôn giáo khác, như: Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, Cao Đài... để thảo luận việc thống nhất tôn giáo và hoà hợp các tôn giáo trong xã hội. Đạo Baha’i ở Việt Nam có quan hệ với đạo Baha’i thế giới. Toà Công lý Quốc tế là cơ cấu quản trị tối cao của đạo Baha’i trên toàn thế giới, trong đó có đạo Baha’i của Việt Nam, các Hội đồng tinh thần Quốc gia đều phải thực thi các kế hoạch của chính đạo do Toà Công lý Quốc tế ban hành chung cho toàn thế giới tín đồ Baha’i. Hội đồng tinh thần Baha’i Quốc gia Việt Nam được bầu lần đầu tiên vào năm 1964, có nhiệm kỳ 1 năm. Trong khoảng thời gian từ 1964 -1975, Hội đồng tinh thần Baha’i quốc gia Việt Nam đã được nhiều lần tham gia bầu Toà Công lý Quốc tế. Từ năm 1975 đến nay, do tình hình Cộng đồng Baha’i Việt Nam chưa được phép hoạt động nên đã nhiều nhiệm kỳ qua không được tham dự bầu Toà Công lý Quốc tế. Hoạt động của đạo Baha’i gián đoạn vào năm 1977.

Mối quan hệ của cộng đồng Baha’i Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á là mối quan hệ của Ban Cố vấn châu Á qua cố vấn phụ trách Cộng đồng Baha’i Việt Nam. Từ tháng 4-1989, Ban Liên lạc tín đồ Baha’i được thành lập tại thành phố Hồ Chí Minh để liên lạc với tín đồ trong nước. Kể từ đây một số tỉnh, thành phố, như: thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ, Bình Thuận, Kiên Giang, tín đồ Baha’i đã bắt đầu sinh hoạt. Đặc biệt, sau khi có Nghị định 69/HĐBT năm 1991, cộng đồng Baha’i đã đẩy mạnh hoạt động. Tháng 11-1991, “Ban vận động hợp thức hoá tôn giáo Baha’i” tự thành lập và xin đăng ký mở văn phòng tại thành phố Hồ Chí Minh, xin cho tín đồ Baha’i được sinh hoạt bình thường. Trong thời gian này, đạo Baha’i đã phát triển ra Hà Nội và tiếp đến là các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Nam Định, Hà Tây, Hoà Bình... Đạo Baha’i thu hút tín đồ do giáo lý và nghi lễ của đạo đơn giản, dễ thực hiện, có nhiều hoạt động hỗ trợ các đối tượng khó khăn trong cộng đồng. Đối với tín đồ đạo Baha’i ở nước ta phần lớn là những người trước đó đã có một đức tin, thậm chí là tín đồ của các tôn giáo khác chuyển theo đạo Baha’i.

Theo kết quả điều tra xã hội học, tín đồ đạo Baha’i ở nước ta đa số là tầng lớp trí thức và chủ yếu là phụ nữ, ngoài ra còn có người dân tộc thiểu số, như: dân tộc Chăm, Hoa và một số dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Tín đồ Baha’i trong những năm qua đã tích cực tham gia công tác từ thiện xã hội cũng như các hoạt động cứu trợ thiên tai, bão lũ, giúp đỡ các trẻ mồ côi, khuyết tật... Mọi công việc của đạo do Hội đồng tinh thần tại mỗi địa phương giải quyết, các Hội đồng này được bầu lại hàng năm. Sau khi được Nhà nước cho đăng ký hoạt động, các tỉnh, thành phố có tín đồ đạo Baha’i đang xúc tiến các công việc chuẩn bị cho Đại hội đại biểu toàn đạo Baha’i lần thứ nhất. Việc chứng nhận hoạt động của đạo Baha’i ở Việt Nam là thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với niềm tin tôn giáo của các tôn giáo ở Việt Nam, trong đó có đạo Baha’i, nhằm thực hiện chính sách nhất quán: Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng theo hoặc không theo tôn giáo của nhân dân. Sau hơn một năm đăng ký hoạt động, các hoạt động của đạo Baha’i đều tuân thủ đúng các qui định của pháp luật, tạo được mối quan hệ tốt với các cơ quan quản lý nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể ở các cấp.

 Đảng và Nhà nước ta mong muốn rằng, các tín đồ đạo Baha’i sẽ cùng đồng bào cả nước đoàn kết trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cùng chung tay xây dựng một nước Việt Nam độc lập, hoà bình, phát triển. Theo đó, các tín đồ đạo Baha’i được tự do bày tỏ đức tin, thực hành các sinh hoạt lễ nghi tôn giáo và học tập giáo lý mà mình tin theo, phù hợp với truyền thống, bản sắc văn hoá tập quán, thuần phong, mỹ tục của dân tộc Việt Nam, pháp luật và các quy định của Nhà nước Việt Nam về hoạt động và sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội, các hương ước, quy ước của cộng đồng và làm tròn nghĩa vụ của người công dân đối với Tổ quốc.

Về đầu trang


HIỆN ĐẠI HÓA VĂN HÓA VÀ CON NGƯỜI

TRONG NỀN KINH TẾ TOÀN CẦU

 

GS-TS. TRẦN VĂN BÍNH

Nguyên Trưởng khoa Văn hoá, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

 

Toàn cầu hóa kinh tế đang trở thành “cú hích” lớn làm thay đổi phương thức sống của dân tộc. Từ một nền kinh tế lạc hậu, phân tán và rời rạc, chúng ta đang bước sang một xã hội với những cơ sở sản xuất hiện đại, với mạng lưới thương nghiệp và dịch vụ rộng khắp. Từ chỗ chỉ sản xuất và tiêu dùng các hàng hóa đơn điệu, rẻ tiền, chúng ta đã sản xuất và tiêu thụ nhiều sản phẩm hiện đại, đủ các chủng loại. Từ một xã hội mang tính khép kín, với các tổ chức làng xã rời rạc, chúng ta đã đẩy mạnh đô thị hóa, mở rộng quan hệ với các quốc gia và châu lục. Luồng gió của toàn cầu hóa và của nền kinh tế thị trường đã thổi tới mọi địa bàn cư dân, kể cả vùng cao, vùng sâu, vùng xa của đất nước, thông qua việc trao đổi hàng hóa, qua công nghệ thông tin viễn thông, qua các hoạt động du lịch quốc tế, qua các dự án và công trình có vốn đầu tư nước ngoài. Những biến động về kinh tế - xã hội đó tác động trực tiếp tới đời sống vật chất của mỗi con người mỗi gia đình và qua đó, tác động tới đời sống tinh thần của toàn xã hội. Con người buộc phải soát xét lại toàn bộ những hiểu biết trước đây của mình, soát xét lại cách cảm nhận, cách suy nghĩ, cách sống,… cả đến thói quen, tập quán, sở thích trước đây, để có thể thích nghi với điều kiện tồn tại mới. Hiện đại hóa con người và văn hóa đã trở thành xu thế tất yếu.

Từ những đòi hỏi của nền văn minh công nghiệp đã hình thành những phẩm chất cần thiết về văn hóa và về con người.

1. Về lao động sản xuất: Lao động trong xã hội công nghiệp là lao động trực tiếp với máy móc và công nghệ. Phải có kiến thức và kỹ năng cơ bản về khoa học, công nghệ để làm chủ quá trình lao động. Trong một xã hội mà khoa học và công nghệ luôn đổi mới, thì bản thân người lao động cũng phải được chuẩn bị về mọi mặt để đón nhận sự đổi mới đó. Ở đây không có chỗ đứng cho tư duy cảm tính, chủ nghĩa kinh nghiệm, tâm lý an phận thủ thường, ngại đổi mới. Lao động công nghiệp cũng là lao động đòi hỏi cao về kỷ luật lao động, phải quan tâm thường xuyên đến kết quả lao động. Vì vậy, thói lề mề, luộm thuộm, tùy tiện phải dần bị loại bỏ.

2. Về học vấn: Người lao động phải có trình độ học vấn, tối thiểu là cấp trung học phổ thông, để làm chủ các phương tiện khoa học, công nghệ trong lao động và trong đời sống.

3. Ý thức và nhận thức chính trị: Xã hội công nghiệp là xã hội công dân, đòi hỏi mỗi người dân phải hiểu rõ trách nhiệm và quyền lợi công dân của mình, nó khác xa với ý thức thần dân trong các xã hội tiền hiện đại.

4. Lối sống: Trong xã hội hiện đại, khi cơ sở vật chất của xã hội đã phát triển đủ điều kiện bảo đảm một đời sống trung lưu cho đa số người dân, khi khoa học và công nghệ đã đi vào đời sống thường ngày của xã hội, thì việc xây dựng một lối sống khoa học, lành mạnh phải được đặt ra. Những thói quen, hủ tục có nguồn gốc từ sự nghèo đói và dốt nát trước đây, dần dần phải được khắc phục; tư duy khoa học, tác phong công nghiệp dần dần được hình thành, trước hết trong những người lao động.

5. Ý thức và tinh thần thực thi pháp luật: Nhà nước pháp quyền là một đặc trưng của xã hội hiện đại. Nó khác với các xã hội tiền hiện đại, khi mà con người sống chỉ bằng dư luận, bằng các lệ làng và luật tục. Do sống lâu đời trong xã hội nông nghiệp cổ truyền, nhân dân ta chưa có thói quen tôn trọng pháp luật, thậm chí nhiều người còn xa lạ với các đạo luật đã ban hành. Vì vậy, trước Cách mạng tháng Tám, khi vạch kế hoạch xây dựng nước Việt Nam mới, Bác Hồ đã nhấn mạnh: “Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”. Trong xã hội công dân, luật pháp là người bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người dân, là người trọng tài phán xử những xung đột, mâu thuẫn giữa công dân với nhau, giữa công dân với Nhà nước và các tổ chức xã hội khác.

6. Ý thức và trình độ thẩm mỹ: Nhu cầu thẩm mỹ là nhu cầu thiết yếu của con người. Sự phát triển thấp kém của nhu cầu và năng lực thẩm mỹ làm cho đời sống con người trở nên nghèo nàn. Trong xã hội hiện đại, do đời sống vật chất được nâng cao, điều kiện và thời gian lao động được cải thiện, qua mạng lưới công nghệ thông tin viễn thông, con người có dịp tiếp xúc nhiều với cái đẹp trong thiên nhiên và trong nghệ thuật, năng lực và nhu cầu thẩm mỹ của người dân có điều kiện phát triển. Sự phát triển các nhu cầu và năng lực thẩm mỹ trong mỗi con người tạo điều kiện cho sự phát triển và hoàn thiện nhân cách - một dấu hiệu quan trọng của sự phát triển xã hội.

7. Ý thức về sự bảo vệ môi trường tự nhiên và môi trường xã hội: Bước vào văn minh công nghiệp, nhân loại đang chứng kiến một thảm họa: mối quan hệ hài hòa giữa con người với xã hội, giữa con người với thiên nhiên bị phá vỡ. Điều này xuất phát từ quan niệm sống có tính truyền thống của văn minh phương Tây, coi con người là trung tâm của vũ trụ và chủ nghĩa cá nhân trong lối sống. Các thiên tai và tệ nạn xã hội xuất hiện, đe dọa sự sống trên trái đất. Bảo vệ môi trường tự nhiên và môi trường xã hội đang là khẩu hiệu hành động của các quốc gia. Đó cũng là tiêu chí của con người hiện đại.

8. Có sức khỏe tốt: Xã hội hiện đại đã giải phóng con người khỏi tình trạng đói nghèo và dốt nát. Nguy cơ giảm thiểu tuổi thọ được khắc phục nhờ điều kiện sống được cải thiện, các dịch vụ y tế và chăm sóc sức khỏe toàn dân được mở rộng. Mặt khác, do trình độ học vấn được nâng cao, thời gian lao động xã hội của người lao động được rút ngắn theo quy định của Nhà nước, mỗi người đều có ý thức và trách nhiệm chăm sóc sức khỏe của bản thân. Các hoạt động du lịch, giải trí, các buổi học tập theo chương trình dưỡng sinh, bảo vệ môi trường… là các hoạt động ngày càng có nhiều người tham gia. Các hoạt động đó ảnh hưởng tốt đến sức khỏe con người.

Những tiêu chí trên đã xuất hiện khá phổ biến trong đời sống cư dân ở các quốc gia đã hiện đại hóa. Qua toàn cầu hóa, qua hội nhập kinh tế quốc tế, những tiêu chí đó đang tác động đến đời sống nhân dân ta. Đó là những tiêu chí cần thiết để phát triển con người, phát triển văn hóa. Tuy vậy, vấn đề không dừng lại ở đó; quá trình hiện đại hóa văn hóa và con người lại đang diễn ra một cách cực kỳ phức tạp. Ở đây, cái tốt, cái xấu đan xen nhau. Trong quá trình mở cửa, hội nhập kinh tế toàn cầu, dân tộc ta có điều kiện tiếp cận với nhiều giá trị về văn hóa, khoa học, giáo dục, nghệ thuật, về tổ chức đời sống xã hội và cách quản lý các vấn đề kinh tế xã hội ở nhiều nước tiên tiến. Nhưng, cùng với những giá trị đó, những phản giá trị cũng đang thâm nhập vào nước ta dưới rất nhiều hình thức. Đó là chủ nghĩa cá nhân cực đoan, là chủ nghĩa tiêu dùng vật chất, là sự sùng bái các hàng hóa vật chất mà coi nhẹ lý tưởng, khát vọng, là hàng loạt các tội phạm quốc tế,… Những phản giá trị đó đều là sản phẩm của mặt trái kinh tế thị trường, hơn nữa là kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa.

Cần nhận thức một cách rõ ràng rằng, kinh tế thị trường toàn cầu hóa hiện nay là kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, do các công ty tư bản, các tập đoàn tư bản chi phối. Đó là nền kinh tế năng động, có cơ sở kỹ thuật và công nghệ cao, có nhiều kinh nghiệm tổ chức quản lý, có khả năng sản xuất ra một khối lượng hàng hóa đồ sộ. Nhưng bản thân nền kinh tế đó luôn chứa đựng nguy cơ tha hóa, có nghĩa là có thể làm biến dạng các giá trị. Những phân tích, đánh giá của C.Mác về chủ nghĩa tư bản nói chung, đặc biệt về mặt trái của nó, “về sự bất bình đẳng giữa giàu và nghèo ngày càng lớn, về tình trạng giảm sút đạo đức trầm trọng và sự tha hóa của con người trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, về cuộc chạy đua vơ vét tài nguyên và nạn gây ô nhiễm môi trường sinh thái để giành lợi nhuận tối đa…, tất cả những điểm phân tích ấy của C.Mác vẫn là hiện thực của thế giới ngày nay”1.

Dominique Wolton - nhà nghiên cứu người Pháp, trong tác phẩm “Toàn cầu hóa văn hóa”, cũng khẳng định: “Còn hơn cả chủ nghĩa khủng bố và nhập cư bất hợp pháp, nạn mại dâm là bằng chứng cho thấy châu Âu văn hóa thu nhỏ trong châu Âu của những người giàu,… Với nạn mại dâm, chính những nền tảng xã hội châu Âu bị nhạo báng. Ai nói châu Âu là quê hương của quyền con người?...”2.

Trong dòng chảy khẩn trương của toàn cầu hóa kinh tế, nhiều giá trị chân chính được thâm nhập vào nước ta, bổ sung và phát triển nền văn hóa và con người Việt Nam. Nhưng không ít rác rưởi từ bên ngoài cũng đang len lỏi thâm nhập vào cơ thể xã hội ta, đặc biệt đối với thế hệ trẻ.

Trước tình hình đó, cùng với việc giáo dục những phẩm chất mới của con người hiện đại, phê phán và khắc phục các tàn dư lỗi thời của quá khứ, cần có kế hoạch thường xuyên quan tâm giáo dục và phát huy các giá trị truyền thống của dân tộc, coi đó là giá đỡ tinh thần cho việc hiện đại hóa con người và văn hóa Việt Nam. Chúng ta có một may mắn lớn mà không phải dân tộc nào cũng có được. Đó là những giá trị văn hóa Hồ Chí Minh, tư tưởng, đạo đức của Hồ Chí Minh - một biểu tượng rực rỡ của văn hóa tương lai mà loài người tiến bộ đang vươn tới. Phải coi việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người là biện pháp cực kỳ hữu hiệu để hiện đại hóa văn hóa và con người Việt Nam ta.q

______________

1. Xem: “Triết lý phát triển” của Phạm Xuân Nam (chủ biên), Nxb KHXH, H, 2002, tr.521 - 522.

2. Dominique Wolton: Toàn cầu hóa văn hóa. Nxb Thế giới, H, 2006, tr.275 - 276.

Về đầu trang


Người dân đâu phải

“BỨC BÌNH PHONG”?

 

Đất nước đổi mới đi lên, đồng thời với dân chủ ngày một rộng mở; quyền lực thuộc về nhân dân. Dẫu rằng, để có dân chủ thực chất, tất cả quyền lực thực sự thuộc về nhân dân còn là cả thời gian dài phấn đấu.

Những năm đổi mới vừa qua, không thể phủ nhận nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật; các chương trình, đề án... khi soạn thảo, xây dựng hoặc triển khai thực hiện đã tôn trọng việc lấy ý kiến góp ý của người dân. Tuy nhiên, thực tế vẫn còn không ít các văn bản khi soạn thảo hoặc trước khi triển khai thực hiện các chương trình, đề án cụ thể nào đó vẫn chưa tổ chức việc thu thập ý kiến người dân một cách nghiêm túc, dân chủ và công khai. Không ít bộ, ngành, đơn vị, hoặc chủ của các chương trình, đề án tổ chức lấy ý kiến người dân, nhưng làm một cách hình thức, qua loa.

Một số địa phương, cơ sở ngay cả khi thông qua các chương trình, đề án lớn, quan trọng liên quan đến quốc kế dân sinh, trực tiếp ảnh hưởng đến lợi ích người dân vẫn còn đồng nhất ý kiến của Hội đồng nhân dân (chưa được tổ chức lấy ý kiến người dân) với ý kiến của đông đảo người dân. Vô hình chung trong nhiều trường hợp, cách làm phiến diện nói trên đã biến người dân thành “bức bình phong” để che chắn, “bảo vệ” cho tính hợp lý, hợp pháp của những ý tưởng; các văn bản; các chương trình, đề án của một đơn vị, bộ, ngành, địa phương còn mang nặng tính chủ quan, duy ý chí. Còn người dân, với thân phận “thấp cổ bé họng” của mình thì ngay cả khi lợi ích bị xâm phạm cũng chỉ còn biết... nhìn mà kêu than!

Trong khi đó, trên nhiều diễn đàn, trên các phương tiện thông tin đại chúng, người dân vẫn luôn được nghe, được coi là “gốc”, là “chủ thể” trong mọi việc làm. Chỉ tiếc rằng, đến nay vẫn chưa có cách gì, chưa có ai tính được mức độ thiệt hại, cũng như qui kết được trách nhiệm cho các tổ chức và cá nhân cụ thể đưa ra thực hiện những chủ trương, chính sách; chương trình, đề án mang nặng tính chủ quan do không tổ chức nghiêm túc việc lấy ý kiến người dân.

Trong việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa hiện nay ở nước ta, Đảng và Nhà nước không chỉ quan tâm đến dân chủ qua đại diện mà còn rất quan tâm đến dân chủ trực tiếp, dựa trên ý kiến và sáng kiến của quần chúng nhân dân; của cán bộ, đảng viên ngay từ mỗi địa phương, cơ sở, cơ quan, đơn vị... Việc Đảng, Nhà nước ta đưa ra phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở chính là nhằm một bước mở rộng dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, là để tập trung được ý kiến, phát huy được trí tuệ và sáng kiến người dân.

Thiết nghĩ, đất nước đang đổi mới phát triển đi lên, mở rộng và đề cao dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nhưng phải là dân chủ và làm chủ thực chất. Các cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân làm bất cứ việc gì cần thực sự tôn trọng ý kiến người dân.

Xin hãy đừng đem người dân ra làm bức bình phong.q

LAM DẦN

Về đầu trang


Hỏi: Các tổ chức tôn giáo, tín đồ, nhà tu hành và chức sắc tôn giáo Việt Nam được phép quan hệ quốc tế như thế nào? VĂN LÂM, Phường Đa Kao, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh;  NGUYỄN MẠNH HƯNG, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai 

 

Trả lời: Tổ chức tôn giáo, tín đồ, nhà tu hành, chức sắc có quyền thực hiện các hoạt động quan hệ quốc tế theo quy định của hiến chương, điều lệ hoặc giáo luật của tổ chức tôn giáo, phù hợp với pháp luật Việt Nam.

Khi thực hiện các hoạt động quan hệ quốc tế, tổ chức tôn giáo, tín đồ, nhà tu hành, chức sắc phải bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng độc lập, chủ quyền và công việc nội bộ của các quốc gia.

Các tổ chức tôn giáo, tín đồ, nhà tu hành và chức sắc tôn giáo Việt Nam khi tiến hành các hoạt động quan hệ quốc tế sau đây phải có sự chấp thuận của cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo ở Trung ương:

+ Mời tổ chức, người nước ngoài vào Việt Nam hoặc triển khai chủ trương của tổ chức tôn giáo nước ngoài ở Việt Nam.

+ Tham gia hoạt động tôn giáo, cử người tham gia các khóa đào tạo về tôn giáo ở nước ngoài.

Về đầu trang


Hỏi: Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân đối với việc giám sát và kiểm tra của nhân dân được Quy chế dân chủ ở xã quy định như thế nào? TRẦN LỆ THANH, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình

Trả lời:

Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân đối với việc giám sát và kiểm tra của nhân dân được quy định như sau:

- Uỷ ban nhân dân xã có trách nhiệm:

+ Mời đại diện Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các thành viên của Mặt trận cùng cấp, các đối tượng liên quan trực tiếp tham gia các cuộc họp của chính quyền xã bàn bạc về các vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích trực tiếp của nhân dân địa phương;

+ Xem xét, giải quyết các kiến nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo thẩm quyền và thông báo kết quả giải quyết cho tổ chức, cá nhân có kiến nghị;

+ Trình cơ quan có thẩm quyền các vụ việc vượt quá thẩm quyền;

- Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã có trách nhiệm gửi cho Trưởng thôn bản kiểm điểm công tác và tự phê bình tại cuộc họp tổng kết hàng năm, để Trưởng thôn tổ chức nhân dân đóng góp ý kiến.

- Hàng năm, Mặt trận Tổ quốc xã tổ chức lấy phiếu tín nhiệm của các thành viên Mặt trận đối với các chức vụ chủ chốt do Hội đồng nhân dân xã bầu ra. Nếu tỉ lệ số phiếu tín nhiệm dưới 50% số người tham gia, thì Mặt trận Tổ quốc xã đề nghị Hội đồng nhân dân xã xem xét miễn nhiệm.

- Trưởng thôn phối hợp với Trưởng ban Công tác Mặt trận có trách nhiệm tổ chức cuộc họp thu thập ý kiến của nhân dân về các vấn đề do nhân dân tự quyết định; tổng hợp, báo cáo một cách chính xác, khách quan, trung thực ý kiến góp ý của nhân dân bằng văn bản gửi về chính quyền xã.

- Nhân dân không được tụ tập đông người khiếu kiện vượt cấp, gây mất trật tự an ninh và chống đối người thi hành công vụ trong khi các kiến nghị đang được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về đầu trang


 

 

 

 
 
English
Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2007 Trang TTĐT - Cơ quan UBTW MTTQ Việt Nam.
Giấy phép số:111/GP-BC, Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 20 tháng 3 năm 2008 • Tổng Biên tập: LÊ BÁ TRÌNH • Phó Tổng Biên tập: NGUYỄN TUẤN ANH
Địa chỉ: 46 Tràng Thi - Hà Nội • ĐT: • Fax:  Email: mttqvn@mattran.org.vn