SỐ 57                                 

DIỄN ĐÀN ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC


Về xây dựng đội ngũ nữ công nhân ở nước ta hiện nay

Vận động hành lang: Từ thế giới đến thực tế Việt Nam

Bàn về hoàn thiện chế định thanh tra nhân dân

Phòng, chống tham nhũng phải từ trong tổ chức

 


 

VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ NỮ CÔNG NHÂN

Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

 

TS.Dương Văn Sao

Viện Công nhân - Công đoàn, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam

 

Nữ công nhân lao động (gọi chung là nữ công nhân) là bộ phận quan trọng của giai cấp công nhân Việt Nam. Theo thống kê, hiện nay tổng số công nhân nước ta có khoảng 9,5 triệu, trong đó nữ công nhân chiếm 43,6%, trong doanh nghiệp Nhà nước nữ công nhân chiếm 34,2%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nữ công nhân chiếm 67,4%. Giai cấp công nhân nước ta nói chung, nữ công nhân nói riêng đang tăng nhanh về số lượng, chuyển dịch mạnh về cơ cấu và từng bước nâng cao về chất lượng.

Hiện nay, nữ công nhân nước ta có mặt trong tất cả các thành phần kinh tế, các vùng, miền, luôn phát huy tính cần cù, năng động, sáng tạo, đóng góp tích cực, to lớn vào phát triển kinh tế, văn hoá xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Ngày nay, những thành tựu của sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế thị trường, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế đã, đang tạo khả năng, điều kiện để nữ công nhân, nhất là bộ phận nữ công nhân có trình độ cao tăng thu nhập, được đảm bảo quyền, lợi ích, từng bước cải thiện mức sống.

Bên cạnh những thành tựu mà công cuộc đổi mới đem lại đối với giai cấp công nhân nói chung, đội ngũ nữ công nhân nói riêng thì việc phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế cũng bộc lộ những hạn chế, thách thức đối với đội ngũ nữ công nhân: số đông nữ công nhân được bổ sung từ nông thôn, chưa được đào tạo có hệ thống, trình độ học vấn, chuyên môn nghề nghiệp, ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp chưa cao. Đặc biệt, do đặc điểm về giới, các chị còn phải đảm nhận những chức năng rất quan trọng là làm vợ, chức năng duy trì, phát triển thế hệ tương lai, trong khi đó vấn đề xây dựng gia đình bền vững, hạnh phúc, vấn đề nuôi dạy con trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, một vấn đề hết sức nhạy cảm, phức tạp, đòi hỏi phải đầu tư nhiều trí tuệ, tình cảm, công sức.

Theo điều tra, thời gian làm việc nội trợ bình quân một ngày của phụ nữ có gia đình sau giờ làm việc thường lớn hơn 2 lần so với nam giới, thời gian ngủ bình quân một ngày của nữ giới ít hơn nam giới khoảng 1 tiếng. Trong khi đó, nữ công nhân chưa được quan tâm thực hiện đầy đủ các chế độ chính sách đã quy định, ở một số nơi còn có sự đối xử chưa thực sự bình đẳng giữa nữ công nhân với nam công nhân tại nơi làm việc, thể hiện trên các khía cạnh tuyển dụng, tiền lương, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt...

Cụ thể, trong kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, nguy cơ mất việc làm, không kiếm được việc làm của nữ công nhân thường lớn hơn nam công nhân rất nhiều. Trong khi thời gian để học tập nâng cao trình độ của nữ công nhân lại rất ít, sức khỏe của nữ công nhân cũng không thể bằng nam công nhân, nên trình độ học vấn, chuyên môn nghề nghiệp của nữ công nhân thường thấp hơn nam giới. Do vậy, hệ quả tiếp theo là, thu nhập của một bộ phận không nhỏ nữ công nhân thường thấp và không ổn định, đời sống văn hoá, tinh thần của nữ công nhân cũng nhiều khó khăn hạn chế. Đây là sức ép lớn nhất đối với nữ công nhân nước ta hiện nay.

Đó là chưa kể, đối với nữ công nhân trẻ, do thời gian và cường độ làm việc căng thẳng, điều kiện sống có nhiều khó khăn, nữ công nhân ít có điều kiện tiếp xúc, giao lưu, nên một số nữ công nhân khó có cơ hội, điều kiện xây dựng tình bạn, tình yêu để đi đến hôn nhân. Thực tế có không ít công nhân nữ đã đang và sẽ có nguy cơ nhỡ nhàng việc gia đình, chấp nhận sống độc thân.

Trước những tác động và thực trạng bất lợi của đội ngũ nữ công nhân như nói trên, để phát triển về số lượng, nâng cao về chất lượng giai cấp công nhân, vấn đề quan trọng trước tiên đặt ra cho các cấp uỷ đảng, chính quyền, các ngành, các cấp và toàn xã hội phải nhận thức đúng đắn, đầy đủ vai trò quan trọng của phụ nữ nói chung, nữ công nhân nói riêng đối với phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội. Đặc biệt là vai trò đối với vấn đề sản sinh và nuôi dạy thế hệ tương lai và vai trò xây dựng hạnh phúc gia đình. Trên cơ sở đó để thống nhất nhận thức, quan tâm đến nữ công nhân thực chất là quan tâm đến xây dựng hạnh phúc gia đình, xây dựng thế hệ tương lai và xây dựng xã hội tiến bộ, phát triển góp phần xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh để giai cấp công nhân hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang của mình. Cần có những giải pháp đồng bộ thiết thực, hiệu quả, tạo điều kiện, cơ hội thuận lợi để nữ công nhân, học tập, làm việc, cống hiến và được chăm sóc sức khoẻ, bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần, có điều kiện để thực hiện tốt chức năng làm vợ, làm mẹ trong gia đình và chức năng duy trì, phát triển thế hệ tương lai.

Trong điều kiện hiện nay, Đảng phải quan tâm xây dựng chủ trương, đường lối và tập trung lãnh đạo thực hiện chủ trương, đường lối đối với nữ công nhân, đặc biệt các cấp uỷ đảng quan tâm tuyển chọn, quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nữ công nhân ưu tú trở thành những cán bộ của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị. Nhà nước cần thể chế hoá chủ trương, đường lối của Đảng thành chính sách, pháp luật, rà soát lại những cơ chế, chính sách chưa phù hợp có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của nữ công nhân, nhằm tạo điều kiện, cơ hội, động viên khuyến khích nữ công nhân học tập, làm việc, cống hiến và để nữ công nhân có điều kiện thuận lợi chăm sóc gia đình, nuôi dạy con cái, xây dựng hạnh phúc gia đình. Trước mắt, Nhà nước cần quan tâm xây dựng, hoàn thiện các cơ chế chính sách sau:

- Xây dựng, hoàn thiện chính sách ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, năng lực nữ công nhân và chính sách sử dụng, đãi ngộ nữ công nhân. Cần sớm có chính sách ưu tiên khi tuyển dụng, sử dụng lao động nữ, chính sách đối với doanh nghiệp sử dụng lao động nữ.

- Cần quan tâm đến các chính sách xã hội đối với nữ công nhân, đặc biệt các chính sách về nhà ở, chính sách bảo hiểm xã hội, tiền lương, thu nhập, chính sách thời giờ làm việc, nghỉ ngơi, vệ sinh, an toàn lao động, cải thiện điều kiện lao động và các công cụ pháp luật bảo vệ người lao động. Chú trọng đến các chính sách giải phóng, chăm sóc, bảo vệ phụ nữ nói chung, nữ công nhân nói riêng.

- Cần đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục, nhằm làm chuyển biến nhận thức trước tiên trong nữ công nhân, để từ đó lan toả ra toàn xã hội về tầm quan trọng của việc học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của nữ công nhân đối với phát triển kinh tế, đảm bảo việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần, xây dựng hạnh phúc gia đình, nuôi dạy con cái. Các ngành, các cấp, toàn xã hội nói chung đều phải có trách nhiệm đối với việc chăm sóc, tạo điều kiện, để nữ công nhân được học tập, nâng cao trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp, rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp, đảm bảo cho nữ công nhân có năng lực, trình độ cao, để cạnh tranh thắng lợi, đảm bảo việc làm ổn định, nâng cao thu nhập cho nữ công nhân.

- Cần quan tâm hơn nữa công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức về gia đình, về xây dựng gia đình hạnh phúc, về xây dựng tình bạn, tình yêu và quan hệ ứng xử trong gia đình, xã hội. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về những giá trị truyền thống, những phẩm chất tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam. Tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật, nội quy, quy chế doanh nghiệp... cho nữ công nhân.

- Chú trọng hoàn thiện chính sách động viên, tạo điều kiện thuận lợi cho nữ công nhân học tập nâng cao trình độ. Tổ chức thực hiện nghiêm chính sách, pháp luật đối với nữ công nhân nhằm tạo điều kiện, cơ hội để nữ công nhân cống hiến, hưởng thụ và có thời gian, điều kiện để chăm sóc gia đình, nuôi dạy con cái. Quan tâm hơn nữa đến chăm lo đời sống, cải thiện điều kiện làm việc cho nữ công nhân.

- Tổ chức các phong trào thi đua và thực hiện quyền đại diện cho công nhân lao động, xây dựng các chỉ tiêu thi đua, tiêu chuẩn bình xét thi đua khen thưởng gắn với đặc điểm của nữ công nhân viên chức lao động ở đơn vị. Thực hiện sơ, tổng kết và động viên kịp thời phong trào thi đua và tuyên truyền, phổ biến, nhân rộng các điển hình tiên tiến trong nữ công nhân để khuyến khích nữ công nhân phấn đấu vươn lên.

- Hướng dẫn và tạo điều kiện cho nữ công nhân của đơn vị tham gia vào các phong trào, cuộc vận động chung của xã hội. Thực hiện đúng các chính sách, chế độ đối với bà mẹ là lao động nữ. Phối hợp với y tế cơ quan để có kế hoạch chăm sóc sức khoẻ nữ công nhân. Quan tâm đến những chị em tích cực trong lao động sản xuất, công tác mà sức khoẻ giảm sút.

- Đề xuất, kiến nghị xây dựng nhà trẻ, mẫu giáo và tổ chức, quản lý tốt nhà trẻ mẫu giáo để giúp nữ công nhân có con nhỏ giảm bớt khó khăn.

- Tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra, tham gia kiểm tra, giám sát thực hiện cơ chế, chính sách, pháp luật có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của lao động nữ, kiên quyết xử lý nghiêm những hành vi, vi phạm quyền, lợi ích của nữ công nhân.

- Công đoàn cần tập trung đổi mới tổ chức và hoạt động nhằm khắc phục triệt để tình trạng hành chính hoá, nhà nước hoá trong tổ chức, hoạt động. Hướng mạnh hoạt động về cơ sở, lấy cơ sở làm địa bàn hoạt động chủ yếu, lấy nữ công nhân làm đối tượng vận động, tập hợp, lấy đại diện chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của nữ công nhân góp phần phát triển kinh tế, xã hội làm mục tiêu hoạt động chủ yếu.

- Ban nữ công cơ sở đại diện cho nữ công nhân, viên chức, lao động của đơn vị có trách nhiệm thường xuyên phát hiện những bất hợp lý của chính sách, tập hợp những ý kiến, nguyện vọng của nữ công nhân, viên chức, lao động để tham gia xây dựng các chính sách, các nội quy, quy chế liên quan đến quyền và nghĩa vụ của lao động nữ.

Về đầu trang


VẬN ĐỘNG HÀNH LANG:

TỪ THẾ GIỚI ĐẾN THỰC TẾ VIỆT NAM

 

TS. TRỊNH THỊ XUYẾN

Viện Chính trị học, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh.

 

1.Nguồn gốc của vận động hành lang

Vận động hành lang xuất hiện đầu tiên ở nước Anh, nó gắn liền với sự ra đời của nền dân chủ đại diện. Vận động hành lang được lấy theo tên địa điểm mà hoạt động này diễn ra đầu tiên trong lịch sử, đó là hành lang của Nghị viện Anh, nơi mà trong thời gian nghỉ giải lao, các nghị sỹ thường trao đổi với đồng nghiệp, hoặc các cử tri tập trung để trình bày ý kiến, kiến nghị với các đại diện của mình. Tại các hành lang lớn này đã diễn ra các cuộc vận động, thuyết phục giữa các cử tri và các nghị sỹ nhằm mục đích gây ảnh hưởng đến những vấn đề sẽ được tranh luận và thông qua ở Nghị viện.

Tại Mỹ, thuật ngữ vận động hành lang bắt nguồn từ những ngày đầu tiên của Quốc hội Mỹ. Trong thời gian giải lao hoặc trước khi các cuộc họp của các nhà lập pháp bắt đầu, công dân là những người có thể thu lợi hay bị thiệt hại từ một dự luật đã đến hành lang của các tòa nhà nơi hai viện Quốc hội họp để vận động các nghị sỹ ủng hộ hoặc ngăn cản những chính sách đang và sẽ được Nghị viện xem xét.

Nhu cầu vận động hành lang trong xã hội đã hình thành nên những nhóm người hoặc tổ chức chuyên nghiệp giữ vai trò trung gian giữa cử tri, các nhóm lợi ích với nghị sỹ nhằm tác động tới những chính sách và dự luật đang xem xét tại nghị viện. Những người này được gọi là nhà vận động hành lang

(lobbyist).

Sự phát triển của xã hội hiện đại đã làm xuất hiện ngày càng nhiều tổ chức, tập đoàn, hiệp hội và tầng lớp, nhóm lợi ích có cùng lợi ích, trên cơ sở đó hình thành các mối quan hệ, lúc đầu là dựa vào sự quen biết, để tác động gây ảnh hưởng đến những người tham gia vào quá trình hoạch định chính sách. Dần dần hoạt động vận động này được thực hiện một cách bài bản và chuyên nghiệp hơn.

Vận động hành lang là những nỗ lực của cá nhân hoặc nhóm, tổ chức gây ảnh hưởng đến cơ quan lập pháp trực tiếp hoặc gián tiếp theo hướng có lợi cho mình hoặc cho xã hội. Hoạt động của cơ quan lập pháp bao gồm các hoạt động giới thiệu, chỉnh sửa, thông qua, ngăn cản hoặc bãi bỏ một đạo luật, điều khoản, nghị quyết hoặc các quyết định tương tự. Vì vậy, vận động hành lang bao gồm tất cả các giao tiếp nhằm ảnh hưởng đến các thành viên của cơ quan lập pháp, quan chức chính phủ hoặc bất cứ ai có thể tham gia, tác động vào quá trình lập pháp.

Vận động hành lang xuất hiện chỉ trong các nhà nước dân chủ đại diện, ở đó nhân dân là người chủ quyền lực bầu ra các đại diện thay mặt mình thực thi công việc của nhà nước. Trong quan hệ giữa người chủ và người đại diện luôn tồn tại những khoảng cách nhất định, do người đại diện không phải lúc nào cũng thể hiện được đầy đủ, chính xác ý chí, nguyện vọng, lợi ích chính đáng của những người mình đại diện. Chẳng hạn, giữa người đại diện và nhân dân luôn tồn tại sự bất đối xứng thông tin; sự phát triển của xã hội ngày càng đa dạng, phong phú mà khả năng hiểu biết, bao quát, thể hiện các quyền và lợi ích của người dân trong các điều luật, chính sách của các nghị sỹ có những hạn chế, khiếm khuyết. Vì vậy, sự tiếp cận của nhân dân với những người đại diện (người hoạch định chính sách), thông qua đó mà trình bày quan điểm, ý kiến, nói cách khác sự can dự vào việc thiết kế chính sách và làm cho nó vận hành là hết sức cần thiết.

Tuy nhiên, trên thực tế, do chỉ là “kẻ ăn theo” và khả năng tác động của mỗi cá nhân đối với chính sách là yếu nên thông thường các cá nhân phải liên kết tổ chức thành các nhóm lợi ích, để gây ảnh hưởng, tác động tới chính sách. Vận động hành lang vì vậy thường là sự vận động của các nhóm lợi ích, tổ chức xã hội, tập đoàn hay công ty nhằm tác động để thay đổi chính sách có lợi cho tổ chức hoặc nhóm của mình.

Vận động hành lang như là chiếc cầu nối giữa những người hoạch định chính sách và những người thụ hưởng, chịu sự tác động trực tiếp của chính sách. Dưới một giác độ nào đó có thể nói, vận động hành lang là hoạt động chuyển tải những mong muốn, nguyện vọng từ một nhóm lợi ích, tập đoàn nào đó đến với những người có quyền ra quyết định. Những vấn đề vướng mắc, bất cập của chính sách trong thực tiễn sẽ được phản hồi, thông tin tới các nhà hoạt động chính sách và trên cơ sở đó có thể thay đổi, tháo gỡ những rào cản, khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của nhà nước và nhân dân.

Mục đích của vận động hành lang là nhằm mang lại lợi ích từ các chính sách, những hợp đồng, dự án có giá trị của Chính phủ cho nhóm hay tập đoàn của mình (chẳng hạn tập đoàn công nghiệp quân sự Halliburton đã bỏ ra hàng trăm triệu USD cho vận động hành lang để giành được những hợp đồng béo bở về trang bị khí tài cho quân đội Mỹ tại Iraq).

Những vấn đề của vận động hành lang

Vận động hành lang bao giờ cũng chuyển tải quan điểm, lợi ích của một nhóm, tổ chức, bộ phận dân cư nhất định trong xã hội tới cơ quan lập pháp. Có những quan điểm, lợi ích hài hòa với lợi ích của các nhóm khác và lợi ích của xã hội nói chung, nhưng cũng có những lợi ích, quan điểm nếu được thực hiện sẽ làm tổn hại đến lợi ích của các nhóm khác và lợi ích chung của xã hội. Vì vậy, hoạt động này có thể đem lại kết quả tốt đẹp cho xã hội, nhưng trong những trường hợp nhất định khác có thể đưa đến kết quả ngược lại. Tốt hay xấu, tích cực hay tiêu cực còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như mục đích, phương thức hoạt động của các chủ thể vận động hành lang, các điều kiện, môi trường và đặc biệt là đạo đức nghề nghiệp, năng lực của những người được vận động.

- Vận động hành lang có nguy cơ tạo nên những đạo luật có tính lợi dụng (exploitative). Luật này khi được thông qua sẽ đem lại lợi ích cho chỉ một nhóm người xác định với chi phí của nhóm xác định khác. Vì vậy, nó là lĩnh vực dễ dẫn đến tình trạng hối lộ, tham nhũng trong bộ máy nhà nước. Do hoạt động này thường gắn với những cuộc tiếp xúc cá nhân, là các hoạt động không chính thức, diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau mà có thể bao gồm cả việc tặng quà có giá trị lớn, mời tiệc chiêu đãi, mời đi nghỉ mát, dự hội nghị nên nguy cơ thao túng, hối lộ người được vận động cao, đặc biệt là từ các nhóm lợi ích lớn có thế mạnh tài chính.

Trong thế kỷ XIX, hoạt động vận động hành lang ở Mỹ gắn liền với điều tiếng xấu do tình trạng các nhà vận động hành lang thường lợi dụng mối quan hệ của mình để hối lộ nghị sỹ nhằm đổi lấy sự ủng hộ của họ đối với những chính sách mà thân chủ của mình đang đeo đuổi. Vận động hành lang trong thời kỳ này được miêu tả như một con quái vật, tìm mọi cách luồn lách đến các phòng, ban, các hành lang để làm lũng đoạn Quốc hội. Trước tình trạng này, Quốc hội Mỹ đã ban hành nhiều đạo luật để đưa hoạt động vận động hành lang vào khuôn khổ như Luật Đăng ký đại diện nước ngoài (Foreign Agents Registration of lobbying Act) năm 1938, Luật Liên bang về họat động vận động hành lang (The Federal Regulation) năm 1946, Luật về công khai hóa hoạt động vận động hành lang (Lobbying Disclosure Act of 1995). Theo những quy định này, mọi cá nhân, tổ chức vận động hành lang phải đăng ký hoạt động với Văn phòng Quốc hội, phải công khai hóa danh sách khách hàng, các cuộc tiếp xúc, những vấn đề đã vận động và số tiền công được chi trả...

- Vận động hành lang cũng được coi là môi trường cho nguy cơ bè phái, bóp méo dân chủ và khiến các nhóm yếu thế, nhất là người nghèo mất đi cơ hội và tiếng nói của mình trong xã hội. Đây là vấn đề đã được các quốc gia đưa ra và tìm giải pháp hạn chế nhưng cho tới nay vẫn chưa có phương thuốc hữu hiệu. Trên thực tế, chỉ có những nhóm lợi ích, tập đoàn, công ty nào có tiềm lực tài chính mạnh mới có khả năng sử dụng phương thức vận động hành lang. Những nhóm nhỏ, tầng lớp nghèo trong xã hội sẽ không có đủ điều kiện để tham gia vào hoạt động chính trị này.

- Vận động hành lang vì vậy đòi hỏi phải có các điều kiện cần thiết để hạn chế nhất định mặt trái của hoạt động này. Bên cạnh việc hình thành một khuôn khổ pháp lý đủ mạnh và chặt chẽ để điều chỉnh và quản lý, bản thân bộ máy nhà nước mà cụ thể là cơ quan hoạch định chính sách, quy trình hoạch định chính sách phải minh bạch, công khai; cần tới năng lực, trình độ của các nhà hoạch định chính sách, tinh thần tham gia hoạt động chính trị, khả năng phản biện chính sách của các tổ chức, nhà khoa học, phương tiện thông tin đại chúng.

Vận động hành lang được coi là chuyên nghiệp khi đáp ứng được các tiêu chí sau:

- Thuyết phục dựa trên bằng chứng: những người vận động hành lang muốn có tiếng nói hiệu quả trong quá trình ra quyết định thì bên cạnh tiếng nói của số đông cử tri còn phải dựa trên sự thuyết phục khoa học và bằng chứng, được gửi tới đúng người, đúng lúc. Đây là một trong những yêu cầu của tính chuyên nghiệp trong vận động hành lang.

- Tạo được các diễn đàn

thảo luận về chính sách thông qua những cuộc vận động minh bạch có tính phản biện xã hội, mà tại đó nghị sỹ có điều kiện thu thập thông tin và ý kiến của các nhóm lợi ích đối với các dự luật hoặc chính sách.

- Yêu cầu thông tin công khai: Do bản tính chuyên nghiệp trong vận động và sự tham gia tương hỗ của công chúng, nên những vấn đề chuẩn bị được thảo luận hay bỏ phiếu tại Nghị viện cần được công khai, trừ khi thông tin đó là bí mật quốc gia.

2. Vấn đề vận động hành lang ở Việt Nam hiện nay

- Vận động hành lang là một hoạt động khách quan

Ở Việt Nam hiện nay chưa có khuôn khổ pháp lý rõ ràng cho các hoạt động vận động hành lang. Song trên thực tế đã diễn ra các cuộc vận động hành lang dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau.

Tiêu biểu như: hình thức vận động mang tính phản biện khoa học của các hiệp hội; phản biện thông qua việc lấy ý kiến góp ý của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, của những nhà khoa học đối với một số dự án luật. Việc quyết định thông qua dự án thủy điện Sơn La là một thí dụ cho thấy nhóm các nhà khoa học của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam đã tổ chức vận động hành lang vào nghị trường Quốc hội, hay như việc thông qua việc mở rộng địa giới hành chính của thủ đô Hà Nội vừa qua cũng đã mang những dấu ấn của vận động hành lang.

Thực tế những năm qua cũng đã xuất hiện những hình thức vận động hành lang chưa được kiểm soát. Biểu hiện cụ thể của nó là hình thức “đi đêm”, “chạy dự án” của một số doanh nghiệp, công ty với các quan chức nhà nước để nhằm ký được nhiều hợp đồng, dự án từ Chính phủ. Nhiều doanh nhân Việt kiều còn cho biết, trong quá trình tìm hiểu đầu tư vào Việt Nam, có nhiều người tự xưng là trung gian, đầu mối có thể quan hệ với các quan chức nhà nước để có thể vận động ủng hộ từ phía chính quyền. Song, trên thực tế, kiểu vận động hành lang này đúng nghĩa chỉ là “cò” với “một nửa phong bao vào túi họ và nửa kia đến tay người được vận động”, còn ảnh hưởng và hiệu quả đến công việc thì rất nhỏ.

Như vậy, các hoạt động vận động hành lang ở Việt Nam do chưa được kiểm soát nên không ít trường hợp đã bị biến dạng và là cơ hội cho các hành vi tham nhũng, tiêu cực. Trong điều kiện đất nước đang cải cách thể chế và mở cửa hội nhập với thế giới thì vận động hành lang cần được kiểm soát một cách chặt chẽ, tổ chức hoạt động theo hướng dân chủ, công khai nhằm tập trung được sức mạnh, trí tuệ của đông đảo quần chúng nhân dân.

- Việt Nam cần phải hình thành khuôn khổ pháp lý để điều chỉnh, quản lý hoạt động này nhằm đảm bảo lợi ích cho cá nhân và cả cộng đồng

Trong nền kinh tế thị trường, do có sự phân hóa, ngày càng xuất hiện nhiều nhóm lợi ích khác nhau, các nhóm này vừa có thể có lợi ích chung, vừa có lợi ích riêng. Việc các nhóm lợi ích có khả năng hoạt động hành lang nhằm bảo đảm lợi ích của nhóm mình mà không tổn hại đến lợi ích của cộng đồng là hoạt động khách quan và cần thiết trong xã hội. Mặt khác, xu thế các hiệp hội kinh tế ngày càng có vai trò quan trọng thì khả năng tiến hành các hoạt động vận động hành lang của các tổ chức này ngày càng gia tăng, tiếng nói của các tổ chức này sẽ ngày càng có trọng lượng trong nhiều vấn đề khác nhau của đời sống kinh tế xã hội. Vì vậy, cần phải đưa các hoạt động vận động hành lang vào khuôn khổ pháp luật.

Vận động hành lang là một hoạt động chính trị cần thiết trong xã hội dân chủ đại diện. Bản chất của hoạt động này không xấu, nó chỉ xấu khi bị người ta lợi dụng trong những môi trường, điều kiện cụ thể nhằm mang lại lợi ích cho cá nhân hoặc nhóm nhỏ cục bộ. Vì vậy cần phải có khung pháp lý để điều chỉnh và quản lý hoạt động này nhằm khắc phục, hạn chế sự lợi dụng, làm biến dạng hoạt động này trong xã hội của những người, nhóm người mưu lợi ích cá nhân.

Khuôn khổ pháp lý cho hoạt động vận động hành lang chỉ là điều kiện cần, bên cạnh nó cần phải có các yếu tố, điều kiện khác, như: công tác tuyên truyền, giáo dục, cách thức tổ chức, tạo môi trường thông thoáng... để vận động hành lang có thể đi vào hoạt động thực chất và đạt được hiệu quả. Đặc biệt, vận động hành lang phải được vận hành trong điều kiện một Nhà nước minh bạch, công khai, cụ thể là sự minh bạch, công khai trong quá trình hoạch định chủ trương, chính sách, trong phân bổ tài chính, trong việc kiểm soát thu nhập của các quan chức nhà nước, các đại biểu Quốc hội. Vận động hành lang còn phải được vận hành trong môi trường tự do ngôn luận, báo chí và tăng tính phản biện xã hội thông qua các tổ chức đại diện cho đông đảo quần chúng nhân dân như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân, nhằm không chỉ trực tiếp làm nhiệm vụ vận động hành lang mà còn góp phần giám sát, kiểm soát được hoạt động này

Về đầu trang


 

BÀN VỀ HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH

THANH TRA NHÂN DÂN

 

ThS.Nguyễn Tuấn Khanh

Viện Khoa học Thanh tra.

 

Cách đây gần 20 năm, Đảng ta đã ra chủ trương “phát huy vai trò của hệ thống Thanh tra nhân dân để cùng với hệ thống Thanh tra nhà nước phát hiện và tham gia xử lý những vụ tiêu cực trong Đảng, bộ máy Nhà nước và trong xã hội”1. Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, Thanh tra nhân dân luôn được đề cao với vai trò là một kênh quan trọng để nhân dân giám sát hoạt động của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nhà nước. Trong điều kiện nền kinh tế đang chuyển đổi, thực hiện cải cách hành chính và đặc biệt là phòng, chống tham nhũng, lãng phí thì việc nghiên cứu để hoàn thiện chế định thanh tra nhân dân nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này là rất cần thiết.

Năm 1990, Thanh tra nhân dân chính thức được quy định thành chế định riêng trong một đạo luật (Pháp lệnh Thanh tra). Hơn 10 năm sau, trong quá trình xây dựng Luật Thanh tra năm 2004, về cơ bản có hai loại ý kiến khác nhau trong việc thể hiện quy định về thanh tra nhân dân. Có ý kiến cho rằng, việc quy định chế định thanh tra nhân dân trong Luật Thanh tra là cần thiết; nhưng cũng có ý kiến cho rằng, Thanh tra nhân dân thực chất chỉ có chức năng kiểm tra, giám sát và kiến nghị, nên hoàn toàn khác với tính chất và hoạt động của Thanh tra Nhà nước; vì vậy, không nên quy định trong Luật Thanh tra. Cuối cùng, Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật Thanh tra năm 2004, trong đó có chế định thanh tra nhân dân. Thanh tra nhân dân được quy định là hình thức giám sát của nhân dân thông qua Ban Thanh tra nhân dân đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở của cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm ở xã, phường, thị trấn, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước. Đây là điểm cơ bản để phân biệt với tổ chức và hoạt động của Thanh tra Nhà nước.

Về hình thức tổ chức, Pháp lệnh Thanh tra năm 1990 quy định: “Ban Thanh tra nhân dân ở xã, phường, thị trấn do Mặt trận Tổ quốc cùng cấp tổ chức, chỉ đạo hoạt động. Ban Thanh tra nhân dân ở cơ quan hành chính, sự nghiệp, đơn vị sản xuất kinh doanh do đại hội của những người lao động bầu ra, Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở chỉ đạo hoạt động”2 và giao Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cùng Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) quy định cụ thể về tổ chức và hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân. Đến Luật Thanh tra năm 2004, tổ chức thanh tra nhân dân đã được quy định cụ thể hơn. Theo đó, Ban Thanh tra nhân dân ở xã, phường, thị trấn được thành lập do Hội nghị nhân dân hoặc Hội nghị đại biểu nhân dân tại thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố bầu với nhiệm kỳ hai năm. Mỗi Ban có từ 5 đến 11 thành viên và các thành viên không phải là người đương nhiệm trong Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Ban Thanh tra nhân dân ở cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước do Hội nghị công nhân, viên chức hoặc Hội nghị đại biểu công nhân, viên chức bầu với nhiệm kỳ hai năm. Mỗi Ban có từ 3 đến 9 thành viên là người lao động hoặc đang công tác trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước.

Về hoạt động, chức năng của Ban Thanh tra nhân dân theo Luật Thanh tra năm 2004 đã được quy định rõ và “mở” hơn cho hoạt động thanh tra nhân dân trong một số trường hợp có thể dẫn đến bế tắc, không hiệu quả. Ví dụ: nếu như Pháp lệnh Thanh tra quy định “Khi phát hiện dấu hiệu vi phạm pháp luật thì kiến nghị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn, Thủ trưởng cơ quan, đơn vị mình kiểm tra và giám sát việc thực hiện kiến nghị đó”3, thì Luật Thanh tra quy định: “Khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật thì kiến nghị người có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật và giám sát việc thực hiện kiến nghị đó”4. Như vậy, khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật thì Ban Thanh tra nhân dân không chỉ có quyền kiến nghị tới “Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn, Thủ trưởng cơ quan, đơn vị mình” mà còn có thể kiến nghị tới “người có thẩm quyền” khác. Quy định “phối hợp giúp tổ chức thanh tra Nhà nước khi thanh tra ở địa phương, cơ quan, đơn vị mình; giám sát tổ chức, cá nhân trong địa phương, cơ quan, đơn vị thực hiện kiến nghị, quyết định về thanh tra” tại khoản 4 Điều 27 của Pháp lệnh Thanh tra cũng bị bãi bỏ.

Được quy định thành một chế định riêng trong đạo luật, nhưng thanh tra nhân dân vẫn chưa thực sự phát huy được hiệu quả như mong đợi, vì hoạt động thanh tra nhân dân vẫn đang gặp phải một số tồn tại, hạn chế:

Thứ nhất, về Ban Thanh tra nhân dân tại các xã, phường, thị trấn. Nhìn tổng thể trên phạm vi cả nước, sau gần 15 năm xây dựng và phát triển thì các Ban Thanh tra nhân dân theo quy định của Pháp lệnh Thanh tra vẫn chưa được thành lập đủ và theo đúng quy định. Chỉ tính riêng các Ban Thanh tra nhân dân ở xã, phường, thị trấn đến thời điểm ban hành Luật Thanh tra (năm 2004), số liệu tổng hợp báo cáo từ các địa phương cho thấy không phải tất cả các xã, phường, thị trấn đã thành lập Ban Thanh tra nhân dân, mà chỉ có 98,3% xã, phường, thị trấn thành lập Ban Thanh tra nhân dân theo quy định. Về chất lượng hoạt động, một số liệu tổng hợp từ nhiều tỉnh cho thấy, trung bình chỉ có hơn 60% hoạt động khá, còn lại là đạt loại trung bình và loại yếu.

Ngoài ra, Ban Thanh tra nhân dân do Hội nghị nhân dân hoặc Hội nghị đại biểu nhân dân tại thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố bầu và có chức năng giám sát việc thực hiện pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm ở xã, phường, thị trấn. Trong khi đó, theo quy định của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003 thì Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương. Hội đồng nhân dân không chỉ có chức năng thực hiện quyền giám sát việc thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân, mà còn có thẩm quyền giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân ở địa phương. Về phương diện tổ chức quyền lực, thẩm quyền giám sát của Hội đồng nhân dân là giám sát mang tính quyền lực Nhà nước, còn giám sát của Ban Thanh tra nhân dân là hình thức giám sát của nhân dân đối với chính quyền và việc thực hiện chức năng giám sát đó đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Do đó, trên lý thuyết thì có thể phân định được bản chất của hai loại hình giám sát trên, nhưng sự thể hiện trong hệ thống pháp luật hiện nay chưa rõ phương thức giám sát của Ban Thanh tra nhân dân và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng để các Ban Thanh tra nhân dân hoạt động thực sự hiệu quả.

Thứ hai, về các Ban Thanh tra nhân dân tại các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước, vì tâm lý lo sợ những sai phạm trong cơ quan, tổ chức mình bị phát hiện nên không ít thủ trưởng các cơ quan, đơn vị thiếu sự ủng hộ đối việc lập ra và tạo điều kiện để Ban Thanh tra nhân dân hoạt động. Quần chúng trong nhiều cơ quan, tổ chức cũng không quan tâm đến hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân do mình bầu ra. Thậm chí, trong trường hợp có vi phạm chính sách, pháp luật trong các cơ quan, tổ chức mà ảnh hưởng đến quyền lợi của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thì vai trò của Ban Thanh tra nhân dân cũng không được thể hiện.

Hiện nay, tổ chức và hoạt động thanh tra nhân dân còn đang đối mặt với những yêu cầu của công cuộc chuyển đổi nền kinh tế và cải cách hành chính. Thực hiện những chủ trương này, nhiều lĩnh vực thuộc khu vực nhà nước đang được chuyển giao cho xã hội thực hiện, nhiều doanh nghiệp nhà nước đang được chuyển dần sang hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần. Đó là giải pháp để huy động nguồn lực và sự tham gia của toàn xã hội vào công cuộc phát triển đất nước. Tuy nhiên, trong quá trình chuyển đổi đó, những vấn đề cơ bản về thanh tra nhân dân trong các tổ chức đã được chuyển đổi chưa được làm sáng tỏ, dẫn đến thiếu vắng hoạt động thanh tra nhân dân trong một số đơn vị, doanh nghiệp, thiếu sự giám sát của nhân dân trong những tổ chức, doanh nghiệp có vốn, tài sản của Nhà nước.

Để khắc phục những tồn tại bất cập trên đây và đáp ứng yêu cầu “Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở gắn với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Nâng cao hiệu quả thanh tra nhân dân, khắc phục bệnh hình thức” theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ Ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”, xin có một số kiến nghị sau:

Một là, về mặt lý luận, cần làm rõ bản chất của thanh tra nhân dân trên cơ sở phân định rõ chức năng thanh tra, kiểm tra, giám sát để hình thành cơ sở lý luận vững chắc cho việc hoàn thiện hệ thống các quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động của thanh tra nhân dân, nên mạnh dạn tập trung đề cao vai trò của thanh tra nhân dân trong một số lĩnh vực trọng tâm, trọng điểm.

Hai là, nghiên cứu về việc tổ chức và hoạt động của thanh tra nhân dân trong các đơn vị sự nghiệp, các doanh nghiệp hình thành trong quá trình chuyển đổi các đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp nhà nước.

Ba là, xây dựng cơ chế phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc và chính quyền trong việc tập huấn, nâng cao nghiệp vụ, kỹ năng và hiểu biết pháp luật cho người làm công tác thanh tra nhân dân, đặc biệt là nghiệp vụ thực hiện chức năng giám sát.

Bốn là, xây dựng và hoàn thiện quy trình cung cấp thông tin của các cơ quan, tổ chức, đơn vị khi các Ban Thanh tra nhân dân có yêu cầu và công khai, minh bạch trình tự, thời gian giải quyết các kiến nghị của Ban Thanh tra nhân dân.

Năm là, bảo đảm sự thông suốt và kết hợp giữa giải quyết kiến nghị của Ban Thanh tra nhân dân với quyền khiếu nại, tố cáo của công dân, đặc biệt là quyền tố cáo của các thành viên trong Ban Thanh tra nhân dân khi phát hiện các sai phạm trong việc thực thi pháp luật của các cơ quan, tổ chức, đơn vị. Bởi lẽ, theo quy định hiện nay thì các Ban Thanh tra nhân dân chỉ có quyền kiến nghị, không có quyền tố cáo, cho nên khi vì lý do nào đó mà quyền kiến nghị của Ban Thanh tra nhân dân không được giải quyết thoả đáng thì cần có quy định khuyến khích các thành viên của Ban Thanh tra nhân dân thực hiện quyền tố cáo, vì họ đã biết được nội dung vụ việc.

Sáu là, tăng thời gian nhiệm kỳ của các Ban Thanh tra nhân dân và có cơ chế đa dạng hoá các nguồn kinh phí phục vụ cho hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân để bảo đảm tính ổn định và nâng cao hiệu quả hoạt động của các Ban Thanh tra nhân dân.

Để có cơ sở thực tiễn cho việc hoàn thiện chế định thanh tra nhân dân, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần phối hợp với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và các cơ quan chức năng khảo sát, đánh giá một cách tổng thể, đầy đủ về hiệu quả hoạt động của các Ban Thanh tra nhân dân qua các giai đoạn, đánh giá hiệu quả phối hợp trong việc nâng cao chất lượng của các Ban Thanh tra nhân dân và kết quả giải quyết kiến nghị của các Ban Thanh tra nhân dân, chỉ ra những bất cập, hạn chế để tìm hướng khắc phục tính hình thức trong hoạt động thanh tra nhân dân.q

______________

1. Nghị quyết số 08B-NQ/HNTW ngày 27-3-1990 Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khoá VI) về đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân.

2. Điều 26, Pháp lệnh Thanh tra năm 1990

3. Khoản 2, Điều 27, Pháp lệnh Thanh tra năm 1990.

4. Khoản 2, Điều 59, Luật Thanh tra năm 2004.

Về đầu trang


PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG

PHẢI TỪ TRONG TỔ CHỨC

 

TS.Đặng Đình Tân

Viện Chính trị học, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh.

 

Đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều sáng kiến và nhiều giải pháp phòng, chống tham nhũng. Chính phủ cũng đã tuyên chiến với tham nhũng. Nhưng tham nhũng có bị đẩy lùi hay không hiện nay còn có nhiều ý kiến khác nhau, có người thì cho rằng có, nhưng cũng không ít người thấy rằng tham nhũng hầu như không thuyên giảm, nên hoài nghi về hiệu quả của các giải pháp phòng, chống tham nhũng hiện nay. Có ý kiến cực đoan còn cho rằng, không có biện pháp nào có thể phòng, chống được tham nhũng.

Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra nhiều dạng tham nhũng. Việc đút lót cho cán bộ có chức có quyền để đạt được hoặc đẩy nhanh việc thực hiện một quyền lợi cụ thể nào đó, chẳng hạn như để được cất nhắc, đề bạt, bố trí vào những vị trí nhất định cũng có thể được coi là một dạng tham nhũng, là sự ăn cắp, ăn cướp quyền lực của dân.

Thực tiễn vấn đề trên đây đã được đặt ra từ nhiều năm nay. Chừng 5 năm trước, trong một bản báo cáo trình bày công khai trước Quốc hội, Thủ tướng Phan Văn Khải đã nhấn mạnh đến hiện tượng chạy chức, chạy quyền trong bộ máy. Vụ Bí thư Tỉnh ủy Cà Mau nộp lại số tiền 100 triệu đồng gần đây và nói rõ đó là tiền của một số người chạy chức (nhưng bỏ lửng câu chuyện chạy chức ở chỗ chỉ giao nộp bằng chứng) thêm một lần khẳng định chạy chức, chạy quyền ở nước ta đang là một tệ nạn xã hội làm đau đầu các nhà lãnh đạo và quản lý.

Tình trạng trên, nếu không tìm ra đâu là khâu mấu chốt để giải quyết thì không thể phòng, chống tham nhũng một cách triệt để được. Theo đó, muốn phòng, chống tham nhũng có hiệu quả thì phải phòng, chống từ chính ngay trong tổ chức. Có phòng, chống triệt để ngay từ trong tổ chức thì mới nói đến phát huy hiệu quả của các giải pháp phòng, chống tham nhũng khác. Nếu không, cho dù có hoàn chỉnh hành lang pháp lý, bổ sung cơ chế chính sách, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đến đâu, phòng, chống tham nhũng (thông qua kê khai tài sản, kiểm tra tài chính, tuyên truyền giáo dục, xét xử nghiêm minh) cũng chẳng có tác dụng là bao. Chỉ tính riêng năm 2007, cả nước phát hiện 584 vụ tham nhũng, nhưng không vụ nào do tổ chức đảng phát hiện ra. Có không ít trường hợp tiêu cực bị tố cáo lên, tố cáo xuống ở cơ quan nọ, đơn vị kia nhưng Đảng ủy nơi đó vẫn đạt danh hiệu trong sạch, vững mạnh. Số vụ tham nhũng nói chung, chạy chức, chạy quyền nói riêng, bị phát hiện chỉ là số rất ít “không may” bị bại lộ.

Có thể chỉ ra những nguyên nhân của tình trạng nói trên như sau:

Thứ nhất, cán bộ lãnh đạo chưa quán xuyến tốt những vấn đề diễn ra trong tập thể cơ quan, đơn vị.

Trong mỗi cơ quan, đơn vị, cán bộ lãnh đạo là những người được trao nắm quyền lực chỉ huy, điều khiển, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được phân công. Đây là đội ngũ rất đông đảo, bao gồm: cán bộ đảng, chính quyền (chuyên môn, nghiệp vụ), cán bộ công đoàn, các tổ chức đoàn thể, xã hội... họ có thể và có đủ các điều kiện để hiểu biết, nắm bắt nội tình tổ chức, phẩm chất của từng cán bộ, nhân viên, đoàn viên, hội viên, quán xuyến toàn bộ quá trình hoạt động của tập thể và từng cá nhân. Cho dù mỗi cán bộ lãnh đạo được giao phụ trách một hay một vài lĩnh vực, nhưng vẫn có sự phối hợp công tác chung giữa các thành viên lãnh đạo và toàn thể cán bộ, nhân viên. Do đó, không có lý do và không có khó khăn gì để mỗi cán bộ không biết, không thấy các dấu hiệu của tham nhũng trong tổ chức mình. Khi đã biết, đã thấy các dấu hiệu tham nhũng thì bất kể cán bộ nào bao che, không xử lý sai phạm thì đều có thể bị quy là những đồng phạm. Điều 314 Bộ Luật Hình sự ghi rõ: Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang hoặc đã được thực hiện mà không tố giác thì phạm “tội không tố giác tội phạm”.

Rõ ràng, trong mỗi cơ quan, đơn vị nếu cán bộ trung thực, thẳng thắn, nhất là cán bộ lãnh đạo liêm khiết, nghiêm minh, biết quán xuyến công việc, phát huy và mở rộng dân chủ thì sẽ không có cửa cho chạy chức, chạy quyền, tham nhũng.

Thứ hai, cán bộ lãnh đạo trong mỗi tổ chức còn chưa thật sự tâm huyết trong phòng, chống tham nhũng.

Có thể nói, không có cán bộ nào không nói phải chống tham nhũng, phải lên án bệnh tham nhũng, phải học Bác Hồ về tính liêm khiết. Nhưng tại sao, trong hầu hết các vụ tham nhũng bị phát hiện diễn ra ở nước ta trong những năm gần đây lại không phải do chính cán bộ, tổ chức đảng ở đó phát hiện? Phải chăng, trong cán bộ hiện nay đang có căn bệnh nói thì hay, làm thì dở; nói nhưng không làm; nói một đằng, làm một nẻo, xuất phát từ sự “cầu lợi” trong đó.

Vấn đề là phải đánh giá xem từ những gì mà chức quyền lại là cái đam mê vô hạn với rất nhiều người như vậy? Hiện nay, trong chế độ đãi ngộ, có quá nhiều chính sách ưu đãi đối với cán bộ lãnh đạo, những người nắm quyền. Đây chính là một trong các nguyên nhân của chạy chức, chạy quyền. Bởi cứ ngồi vào “ghế” ấy là được ưu đãi về nhà công, xe công và nhiều thứ ưu ái khác..., ngoài cái danh thì cái lợi, cái lộc là rất lớn, lớn lắm thì người ta mới “cháy bỏng khát vọng”... chạy chức. Đây là vấn đề cần được xem xét một cách nghiêm túc. Mặt khác, vấn đề đánh giá cán bộ nhiều khi chưa dựa vào năng lực và hiệu quả công việc cũng tạo điều kiện cho chạy chức, thậm chí công việc được giao không làm tốt cũng chẳng bị kỷ luật hay cách chức gì.

Phải chăng trong đội ngũ cán bộ còn có tâm niệm rằng, để giữ được vị trí lãnh đạo của mình, thì dù có biết tham nhũng cũng không đụng chạm đến nó (thậm chí còn nuôi dưỡng nó). Nếu tố cáo, trước hết bản thân mất nguồn lợi, hơn nữa còn có thể phải chịu trách nhiệm liên đới. Để được hưởng lợi, để được yên thân, tốt nhất là bịt kín mọi thông tin. Do đó, người ở bên ngoài và cả tổ chức đều khó phát hiện, tổ chức Mặt trận, Công đoàn, các đoàn thể cũng đành bó tay. Trên thực tế, các vụ tham nhũng bị phát hiện hầu hết là từ các cán bộ hưu trí, các cựu chiến binh đã nghỉ hưu. Một vấn đề “tế nhị” không thể không nhắc đến là có nhiều người khi có quyền cao, chức trọng thì chẳng lên tiếng phê phán ai, để khi yên vị hưu trí rồi họ mới “có điều kiện” sống thật với lòng mình!

Cũng phải nói rằng, cơ chế tuyển dụng và đề bạt cán bộ hiện nay còn nhiều khiếm khuyết, nên nhiều người có tài, có tâm, trung thực, thẳng thắn, lại không được trọng dụng; trong khi đó một bộ phận không nhỏ tài năng tầm thường, khéo luồn lách, dĩ hòa vi quý và “có tài chạy chức, chạy quyền” lại được trọng dụng. Quyền lực đặt sai vị trí là nguồn gốc của tha hóa nói chung, tham nhũng nói riêng. Mặc dù việc quy hoạch và bổ nhiệm cán bộ được làm theo quy trình rất “chặt chẽ” về văn bản, nhưng thực tế lại rất hình thức. Việc bổ nhiệm cán bộ ở ta lại thường dựa vào ý kiến của người lãnh đạo cao nhất trong cấp ủy đảng và chính quyền, còn việc đưa ra lấy ý kiến tập thể chỉ làm chiếu lệ, những ý kiến đã được “dân chủ bàn bạc” cũng chỉ là hình thức. Chính vì cách làm như vậy nên mới có chuyện chạy chức, mới có những cán bộ đứng đầu cơ quan pháp luật mà hành vi xử sự lại vi phạm pháp luật, thiếu văn hoá lãnh đạo, văn hoá chính trị.

Đã đến lúc phải nghiêm túc đánh giá, xây dựng, chấn chỉnh lại việc thực hiện các quy trình trong công tác cán bộ, đặc biệt là phải có một hệ thống các thước đo để đánh giá đúng cán bộ, là vấn đề có nhiều mối liên quan đến phòng, chống tham nhũng ở nước ta hiện nay.

Thứ ba, phòng, chống tham nhũng phát động từ trong lãnh đạo chưa mạnh mẽ, chưa có cơ chế bảo vệ người tố cáo.

Vì quyền lực trong tay người lãnh đạo, người cầm quyền và nếu lẽ phải bao giờ cũng thuộc về người nắm quyền thì khi tố cáo của dân trái với “ý muốn” của người lãnh đạo thì ai là người bảo vệ dân?

Chống tham nhũng là việc không hề dễ dàng. Người tố cáo tiêu cực, tham nhũng được ví như những người “rung chuông”, người “gác đèn biển” cảnh báo cho xã hội biết có vấn đề nghiêm trọng đối với cộng đồng. Ở nước ta hiện nay, những tấm gương dám hy sinh đấu tranh chống tham nhũng bảo vệ chân lý, mặc dù cũng có, nhưng chưa nhiều, nhất là những tấm gương chống quan tham, tiêu cực, tham nhũng trong quản lý hành chính công. Thông thường trước khi vụ việc tham nhũng được phanh phui thì người đấu tranh đã phải chịu đựng biết bao lời hăm dọa và khủng bố về tinh thần; không ít người đã phải bán nhà, bỏ cửa khi chấp nhận dấn thân vào hành trình tố cáo tiêu cực.

Chính vì vậy, để phòng, chống tham nhũng có hiệu quả thì trước hết phải củng cố, tạo ra các tiền đề bằng việc củng cố niềm tin, tạo cơ chế chính sách khuyến khích và bảo vệ người tham gia đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực. Cần thực hiện công khai, minh bạch, dân chủ trong mọi hoạt động, nhất là các hoạt động có liên quan đến kinh tế, tài chính. Đây chính là chìa khóa, là khâu đột phá để phòng, chống tham nhũng! Và nếu cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng được đẩy mạnh, được thực hiện tốt trong tổ chức, từ mỗi cán bộ lãnh đạo thì mọi giải pháp trở nên đơn giản.

Về đầu trang


 

 

 

 

 
 
English
Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2007 Trang TTĐT - Cơ quan UBTW MTTQ Việt Nam.
Giấy phép số:111/GP-BC, Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 20 tháng 3 năm 2008 • Tổng Biên tập: LÊ BÁ TRÌNH • Phó Tổng Biên tập: NGUYỄN TUẤN ANH
Địa chỉ: 46 Tràng Thi - Hà Nội • ĐT: • Fax:  Email: mttqvn@mattran.org.vn