TRANG CHỦ

Vấn đề sự kiện

Diễn đàn Đại đoàn kết

Kinh nghiệm thực tiễn

An toàn giao thông - Phòng chống tội phạm - ma tuý - mại dâm

Bạn hỏi tạp chí trả lời - Thông tin lý luận

   VẤN ĐỀ SỰ KIỆN


Những biểu tượng cao quý của nước Việt Nam

Suy nghĩ về bài học yêu nước, tận tuỵ với dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đồng chí Xuân Thuỷ - Nhà lãnh đạo tài năng có nhiều đóng góp to lớn cho cách mạng và sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc


NHỮNG BIỂU TƯỢNG CAO QUÝ CỦA NƯỚC VIỆT NAM

 

                                                                         MINH HỮU

Mỗi quốc gia trên thế giới đều có biểu tượng là quốc kỳ, quốc huy và quốc ca để khẳng định chủ quyền và bản sắc của riêng mình. Ở nước ta, biểu tượng quốc kỳ, quốc huy và quốc ca có lịch sử và ý nghĩa đặc biệt, gắn liền với cuộc đấu tranh anh dũng chống đế quốc xâm lược của cả dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Quốc kỳ tươi thắm, Quốc huy toàn diện uy nghi, Quốc ca hùng tráng luôn là biểu tượng thiêng liêng, cao quý, là niềm tự hào của mỗi người dân nước Việt Nam.

QUỐC KỲ

Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ ngày 23-11-1940. Trước lúc khởi nghĩa, những người lãnh đạo thống nhất cần phải có một lá cờ dẫn đầu để khẳng định, chỉ huy và động viên tinh thần quần chúng. Đồng chí Nguyễn Hữu Tiến (sinh ngày 5-3-1901 tại Hà Nam) là một chiến sĩ cách mạng nhiệt tình và tài hoa được trao nhiệm vụ sáng tác mẫu cờ. Sau nhiều ngày suy nghĩ, miệt mài phác thảo, đồng chí Tiến đã tạo ra lá cờ hình chữ nhật, có ngôi sao vàng năm cánh nằm giữa nền đỏ tươi, cùng một bài thơ đầy tâm huyết:

Hỡi ai máu đỏ da vàng

Hãy chiến đấu dưới cờ thiêng Tổ quốc

Nền cờ thắm máu đào vì đất nước

Sao vàng tươi da của  giống nòi

Đứng lên mau hồn nước gọi hồn ta rồi

Hỡi sĩ - công - nông - thương - binh

Đoàn kết lại như sao vàng năm cánh

Ban lãnh đạo khởi nghĩa khi đó là Nguyễn Văn Cừ, Võ Văn Tần... rất tâm đắc và đã chuẩn y mẫu cờ trên. Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ diễn ra tuy thất bại và bị bọn thực dân đàn áp rất dã man, nhưng đã thể hiện rõ tinh thần đấu tranh anh dũng của quần chúng nhân dân với biểu tượng lá cờ đỏ sao vàng tung bay làm lung lay chính quyền đô hộ. Đồng chí Nguyễn Hữu Tiến đã anh dũng hy sinh ngày 28-8-1941 cùng với các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Thị Minh Khai... Trước lúc ngã xuống, đồng chí đã kịp gửi lại một bài thơ động viên đồng bào, chiến sĩ, với những câu tràn đầy tinh thần lạc quan cách mạng:

... Anh em đi trọn con đường nhé

Cờ đỏ sao vàng sáng tương lai...

Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chính phủ lâm thời Việt Nam ra mắt quốc dân đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt cho Chính phủ và toàn dân Việt Nam đọc Tuyên ngôn độc lập chính thức khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tại buổi lễ, lá cờ đỏ sao vàng đã phấp phới tung bay, đỏ rực cả Quảng trường. Tại kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá I (ngày 2-3-1946), toàn thể đại biểu Quốc hội đã biểu quyết nhất trí lấy cờ đỏ sao vàng là Quốc kỳ của nước ta.

QUỐC HUY

Tại kỳ họp thứ năm của Quốc hội khoá I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (từ ngày 15 - 20-9-1955) sau khi xem xét, cân nhắc rất nhiều mẫu, Tiểu ban nghiên cứu ba vấn đề là Quốc kỳ, Quốc ca và Quốc huy đã quyết định trình mẫu Quốc huy do Chính phủ đề nghị và đã được đa số đại biểu Quốc hội tán thành. Mẫu Quốc huy này do các danh hoạ Bùi Trang Chước và Trần Văn Cẩn đồng sáng tác (hoạ sĩ Bùi Trang Chước vẽ mẫu Quốc huy để làm cơ sở lựa chọn và hoạ sĩ Trần Văn Cẩn đã chỉnh sửa hoàn thiện mẫu Quốc huy để trình Quốc hội phê duyệt).

Quốc huy Việt Nam hình tròn, nền đỏ tươi, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh tượng trưng cho lịch sử cách mạng, tinh thần đoàn kết cùng tiền đồ rực rỡ của dân tộc ta, đất nước ta; bông lúa vàng bao quanh tượng trưng cho truyền thống nông nghiệp vững chắc; dòng chữ tên nước (quốc hiệu) phía dưới và bánh xe răng cưa tượng trưng cho nền nông nghiệp cũng như xu hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

QUỐC CA

Nếu quốc kỳ, quốc huy biểu trưng cho quốc gia bằng hình ảnh đặc thù, thì quốc ca lại biểu trưng bằng âm thanh, nhạc và lời. Quốc hội khoá I của nước ta đã quyết định lấy bài “Tiến quân ca” do nhạc sĩ Văn Cao sáng tác làm Quốc ca Việt Nam. Trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (1946) tại Điều 3 cũng ghi rõ: “Quốc ca là bài Tiến quân ca”. Kỳ họp thứ năm Quốc hội khoá I (1955) đã quyết định sửa một số từ về lời của bài Quốc ca và tác giả cùng đóng góp trong việc sửa lời này.

Bài “Tiến quân ca” được nhạc sĩ Văn Cao sáng tác vào cuối năm 1944, tại căn gác nhà số 171 phố Mông Grăng, Hà Nội (nay là nhà số 45 phố Nguyễn Thượng Hiền, Hà Nội). Ngay khi mới ra đời, bài hát đã được các chiến sĩ cách mạng nồng nhiệt đón nhận, rồi trở thành bài hát chính thức của Mặt trận Việt Minh, góp phần quan trọng cổ vũ nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám. Ngày tuyên bố độc lập (2-9-1945), Tiến quân ca đã được cử hành, hàng triệu người đã cất vang lời ca theo tiếng nhạc của hành khúc hùng tráng đó.

Cố nhạc sĩ Văn Cao (1923 - 1995) là một nghệ sĩ đa tài với các tác phẩm nổi tiếng về nhạc, hoạ, văn, thơ. Năm 1944, ông bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng, rồi trở thành đảng viên Đảng Cộng sản và là một trong những người sáng lập Hội Văn nghệ Việt Nam. Ông từng được tặng thưởng nhiều huân, huy chương cao quý và được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 1996. Ông mất đi nhưng đã để lại một tài sản tinh thần vô giá còn sống mãi với dân tộc Việt Nam.

[về đầu trang]


SUY NGHĨ VỀ BÀI HỌC YÊU NƯỚC, TẬN TỤY VỚI DÂN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

 

TS. PHẠM VĂN KHÁNH

Báo Nhân dân. 

Trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, chữ “NHÂN” đứng hàng đầu. Hồ Chí Minh từng nói, “nhân” có nghĩa là người, nói rộng ra là nhân dân và nhân loại. Người khẳng định, trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân, không có lực lượng nào bằng sức mạnh đoàn kết của nhân dân. Toàn bộ cuộc đời và hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh là tổ chức, giáo dục và mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân. Ham muốn tột bậc của Người là “làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”1.

Theo Hồ Chí Minh thì đạo đức lớn nhất là làm cách mạng để giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Người chỉ rõ rằng, đạo đức cách mạng không vì danh vọng cá nhân mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người. Vì thế, toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Người đã dày công xây dựng, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và khéo dùng khái niệm “trung với nước, hiếu với dân”. Theo Người: Trung với nước, hiếu với dân là nội dung cơ bản nhất của đạo đức mới mà người cách mạng thường xuyên tu dưỡng và thực hành cũng như người con phải hiếu với cha mẹ, với nhân dân.

Nội dung và yêu cầu của “trung với nước, hiếu với dân” trong điều kiện Đảng cầm quyền có nhiều vấn đề mới do Đảng và nhân dân có chính quyền làm công cụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, nâng cao đời sống nhân dân. Song, như Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh báo, ngay sau khi nước nhà vừa giành được độc lập năm 1945, Đảng cầm quyền thì cán bộ, đảng viên dễ mắc vào quan liêu, mệnh lệnh, xa rời quần chúng, nhân dân; thoái hóa, biến chất, độc đoán, chuyên quyền, tham ô, lãng phí, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, thậm chí có nơi, có lúc, có người chà đạp, ức hiếp dân, xâm phạm quyền lợi chính đáng của nhân dân. Và để chống các bệnh ấy, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ rằng: Đảng cầm quyền thì cán bộ, đảng viên càng phải nâng cao tinh thần phụ trách trước Đảng và trước quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Phải yêu kính nhân dân. Phải thật sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân. Tuyệt đối không được lên mặt “quan cách mạng” ra lệnh ra oai. Phải nắm vững quan điểm giai cấp, đi đúng đường lối quần chúng, thành tâm học hỏi quần chúng, kiên quyết dựa vào quần chúng, giáo dục và phát động quần chúng tiến hành mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Phải thật thà, ngay thẳng, không được giấu dốt, giấu khuyết điểm, sai lầm. Phải khiêm tốn, gần gũi quần chúng, không được kiêu ngạo; phải thực sự cầu thị, không được chủ quan; phải luôn luôn chăm lo đến đời sống của quần chúng. Phải “chí công vô tư” và có tinh thần “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Đây chính là đạo đức của người

Cộng sản.

Năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Dân vận”, nêu bật quan điểm “trọng dân, phát huy quyền làm chủ của dân” cũng như vai trò quan trọng của công tác dân vận và chỉ ra nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải làm công tác dân vận, chăm lo công tác dân vận vì “dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”.

 Tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân hiện nay không chỉ là bảo đảm quyền làm chủ về chính trị mà cần tạo điều kiện để mọi người dân làm chủ về kinh tế, không chỉ đáp ứng nhu cầu giải phóng tư tưởng mà còn là nhu cầu giải phóng lực lượng sản xuất, giải phóng tiềm năng của mọi người. Sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước mở ra những cơ hội mới, cơ hội lớn cho mọi người dân vươn lên làm chủ về kinh tế, làm giàu, sớm thoát khỏi nước nghèo. Sự nghiệp đó là của toàn dân, do nhân dân và vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Lãnh đạo nhân dân thực hiện đường lối “phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm”, đẩy mạnh công nghiệp hóa vì dân giàu, nước mạnh, người cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị phải sâu sát với cuộc sống của nhân dân, thật sự phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tôn trọng ý kiến và quyền lợi chính đáng của nhân dân.

Đã là cán bộ thì lời nói phải đi đôi với việc làm và làm nhiều việc ích nước, lợi dân. Đặc biệt là đối với bộ máy nhà nước, các cơ quan dân cử từ hội đồng nhân dân ở cấp cơ sở đến Quốc hội là những đại biểu của dân cần thấm nhuần lời dạy của Bác: là đầy tớ nhân dân, mà đẩy mạnh cải cách hành chính, cắt bỏ những thủ tục phiền hà đối với nhân dân, thật sự phát huy vai trò “đại biểu” của dân trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền vì dân. Cần có chế tài xử lý đối với những “đại biểu nhân dân” không làm tròn chức trách “đại biểu” nhân dân, có cơ chế rõ ràng để nhân dân thực hiện quyền giám sát hoạt động, công tác đối với những “đại biểu”

của mình.

 Vì dân, tận tụy phục vụ nhân dân là mục đích cao đẹp của đạo đức cách mạng mà Bác Hồ nhiều lần dạy bảo cán bộ, đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương tiêu biểu nhất về đạo đức cách mạng suốt đời tận tụy lo cho dân, “hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân”. Theo Hồ Chí Minh, cốt lõi trong đạo đức mà người cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần và thực hành, rèn luyện suốt đời, không ngừng, không nghỉ là cần, kiệm, liêm, chính. Người giải thích: Cần là siêng năng, kiên trì, làm việc có năng suất; kiệm là tiết kiệm, bảo vệ của công; liêm là trong sạch, không tham ô, tham lam (kể cả tham địa vị); chính là thẳng thắn, việc thiện dù nhỏ cũng cố làm, việc ác dù nhỏ cũng cố tránh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ví bốn đức đó của con người như bốn phương của đất, bốn mùa của trời để khẳng định, thiếu một đức thì không thành người để nói lên ý nghĩa và quan hệ của cần, kiệm, liêm, chính trong đạo đức cách mạng. Và, cùng với cần, kiệm, liêm, chính, đạo đức của người cán bộ, đảng viên, nhất là trong điều kiện Đảng cầm quyền thì chí công vô tư là yêu cầu, phẩm chất hàng đầu. Người đã từng chỉ rõ, giặc nội xâm, kẻ thù bên trong của Đảng, Nhà nước, ở trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chính là quan liêu, tham ô, lãng phí. Nguyên nhân của chủ nghĩa quan liêu, nạn tham ô, lãng phí, cái làm cho cán bộ, đảng viên vi phạm đạo đức cách mạng là chủ nghĩa cá nhân. Do đó, người cán bộ, đảng viên thật sự chí công vô tư thì phải chống chủ nghĩa cá nhân, phải rèn luyện để trở thành tấm gương về đạo đức cách mạng. Song, Bác Hồ cũng nói rõ, “đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là giày xéo lên lợi ích cá nhân” mà phải chăm lo những lợi ích cá nhân chính đáng, chăm lo cho cuộc sống của cán bộ, đảng viên và gia đình họ.

Điều có ý nghĩa sâu sắc đối với cán bộ, đảng viên trong việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là sự gương mẫu. Gương mẫu về đạo đức và gương mẫu về hành động. Nói đi đôi với làm là những vấn đề cơ bản của đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên. Việc làm gương của đảng viên phải được thể hiện ở mọi lúc, mọi nơi, mọi hoàn cảnh và điều có ý nghĩa đối với người đảng viên là tinh thần tự giác, tự nguyện.

 Tháng 2-1967, trong một lần Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và nói chuyện với cán bộ của tỉnh Hà Tây, Người nêu rõ: “Đảng không bắt buộc ai vào Đảng cả. Vào thì có nhiệm vụ, có trách nhiệm của đảng viên, nếu sợ không phục vụ được nhân dân, phục vụ được cách mạng thì đừng vào hay là khoan hãy vào”. Là đảng viên thì phải gương mẫu chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Người đảng viên nói và làm theo nghị quyết của Đảng thể hiện ở việc phục tùng tuyệt đối sự phân công, điều động của Đảng và ra sức học tập, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Người đảng viên hoạt động, công tác đảng hoặc được Đảng phân công làm việc, công tác trong các tổ chức khác đều phải gương mẫu trong các sinh hoạt của tổ chức, hòa mình trong phong trào thi đua, nêu cao ý thức đảng viên; thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện tự phê bình và phê bình nghiêm túc, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội về chính trị.

 Gương mẫu về đạo đức cũng đòi hỏi người đảng viên phải biết hy sinh. Đó là nhường thuận lợi cho đồng chí, nhận phần khó về mình trong công việc hàng ngày ở cơ quan, nhà máy, xí nghiệp, trường học…, hoặc xung phong nhận các công việc khó khăn ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, góp phần cùng cơ sở, đồng bào ở những nơi đó làm tốt các chủ trương, chính sách của Đảng trong điều kiện sinh hoạt vật chất, văn hóa, tinh thần còn nghèo, còn nhiều khó khăn đối với bản thân và gia đình mình.

 Người đảng viên còn phải gương mẫu trong xây dựng gia đình văn hóa. Bởi lẽ, gia đình đảng viên không gương mẫu trong thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước thì đảng viên nói sẽ không ai nghe và cũng không lãnh đạo được ai. Ví thử đảng viên làm công tác thuế vụ, mà gia đình trốn, lậu thuế thì đi thu thuế sẽ gặp rất nhiều khó khăn… Một gia đình văn hóa có nhiều tiêu chí, biểu hiện ở nhiều mặt và đảng viên thật sự là tấm gương tiêu biểu thì có vai trò quyết định trong việc xây dựng gia đình gương mẫu. Người đảng viên muốn làm được trách nhiệm lãnh đạo của Đảng giao thì trước hết phải xây dựng cho mình một gia đình hạnh phúc, hòa thuận, tiến bộ. Nói tóm lại là gia đình văn hóa tiêu biểu, thực hiện tốt mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, làm tốt các chức năng của gia đình. Xây dựng gia đình gương mẫu là quyền lợi và trách nhiệm của đảng viên đối với gia đình và đất nước.

 Khi chuyển sang thực hiện cơ chế kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập, tệ quan liêu, nạn tham nhũng phát triển, không ít cán bộ, đảng viên tha hóa về phẩm chất đạo đức, vi phạm kỷ luật Đảng và pháp luật do bản thân không gương mẫu, chưa xây dựng gia đình gương mẫu. Nhiều cán bộ, đảng viên kể cả một số người có chức quyền do kém tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, không thật thà tự phê bình và phê bình, nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít, nói nhưng không làm, nói một đằng làm một nẻo đã bị pháp luật xử lý và kỷ luật Đảng. Những tệ nạn tham ô, lãng phí, mua quan, bán chức, chạy chức, chạy tội, tha hóa đạo đức… đã gây nên những bất bình trong nhân dân, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, với Nhà nước cần lên án mạnh mẽ và phải được xoá bỏ.

 Việc thấm nhuần tư tưởng đạo đức, tấm gương Hồ Chí Minh phải làm thiết thực, gắn liền quá trình phấn đấu rèn luyện lâu dài, bền bỉ của cán bộ, đảng viên và mỗi đảng viên cần nêu gương về đạo đức, tu dưỡng đạo đức cách mạng suốt đời. Cán bộ, đảng viên cần được học tập có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là về đạo đức cách mạng, các nghị quyết của Đảng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao nhận thức tư tưởng, năng lực hoạt động thực tiễn. Trong sinh hoạt đảng, sinh hoạt cấp ủy cần thật sự mở rộng và phát huy dân chủ, nghiêm túc tự phê bình, phê bình, đề cao ý thức phòng, ngăn ngừa suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng thật sự tự giác rèn luyện, gương mẫu trong mọi việc, gắn bó với dân và vì dân. Cấp ủy các cấp lấy chất lượng cuộc sống của quần chúng nhân dân, tinh thần, thái độ của dân đối với Đảng, Nhà nước, với cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức để đánh giá chất lượng sinh hoạt đảng, chất lượng, uy tín cán bộ, đảng viên. Đồng thời coi trọng nâng cao chất lượng và hiệu lực kiểm tra đảng viên và tiêu chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, đảng viên. Có những chế tài cụ thể trong chống tham nhũng, lãng phí để khắc phục có hiệu quả sự thoái hóa, biến chất của đảng viên, nhất là đảng viên giữ các trọng trách ở các ngành, các cấp. Một khi kiểm tra phát hiện ra những yếu kém, thoái hóa biến chất, vi phạm pháp luật và Điều lệ Đảng của đảng viên thì cần phải nhanh chóng xử lý và xử lý nghiêm minh, công bằng, đúng người, đúng tội.

______________

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2002, t.4, tr.161.

[về đầu trang]


ĐỒNG CHÍ XUÂN THỦY

NHÀ LÃNH ĐẠO TÀI NĂNG

CÓ NHIỀU ĐÓNG GÓP TO LỚN

CHO CÁCH MẠNG VÀ SỰ NGHIỆP

ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

NGUYỄN TÚC

Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. 

Sinh ra trong một gia đình nho học yêu nước và lớn lên tại vùng quê Phương Canh nổi tiếng thời phong kiến với “Mỗ, La, Canh, Cót - tứ danh hương”, là đất văn học với những danh nhân văn hoá và đặc biệt sống trong bầu không khí sục sôi chống Pháp, từ những câu chuyện, những vần thơ về thời cuộc của người cha thân yêu và bè bạn, tinh thần yêu nước của đồng chí Xuân Thuỷ đã nảy nở.

Cùng với phong trào học chữ quốc ngữ, ông đã chủ động tiếp cận và “bị thuyết phục một cách lạ thường” bởi những vấn đề về đấu tranh giai cấp, về Cách mạng tháng Mười Nga, về cuộc đời của Mác, Ăngghen, Lênin... Năm 1934, Xuân Thuỷ xin phép gia đình đi làm ăn tự lập mà thực chất là đi tìm mối liên lạc để hoạt động cách mạng. Rời làng đến thị xã Phúc Yên, mặc dù chưa bắt liên lạc được với tổ chức cộng sản, nhưng Xuân Thuỷ vẫn chủ động tiếp cận, nghiên cứu và tiếp tục tuyên truyền lý tưởng cộng sản theo hiểu biết của mình. Cùng với những người được ông giác ngộ, Xuân Thuỷ đã đề ra một chương trình hành động, góp phần mở mang dân trí, chống áp bức bóc lột, tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản. Thực hiện chương trình hành động trên, Xuân Thuỷ và các cộng sự của mình đã tổ chức các lớp học quốc ngữ ban đêm; tổ chức những nhóm đọc sách, báo tiến bộ; đấu tranh chống bọn quan lại tham nhũng, thu thập nguyện vọng nhân dân chuẩn bị cho Đông Dương đại hội; tổ chức các cuộc mít tinh chống sưu cao, thuế nặng, đòi hoà bình, cơm áo, chống phát xít... Cay cú và hoảng sợ trước những hoạt động ngày càng có hiệu quả và ảnh hưởng lớn đến phong trào đấu tranh của quần chúng, chính quyền tay sai và thực dân Pháp đã bắt giam Xuân Thuỷ. Hết hạn tù, ông lại tiếp tục hoạt động cách mạng và năm 1939 lại bị bắt và bị đày đi nhà tù Sơn La.

Khi chi bộ của Đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập bí mật ở nhà tù Sơn La, năm 1941, đồng chí Xuân Thuỷ đã được đồng chí Tô Hiệu và đồng chí Trần Huy Liệu giới thiệu kết nạp đặc biệt và được công nhận là đảng viên chính thức ngay, do đã được thử thách trước khi bị bắt và khi ở trong tù. Từ đó, đồng chí luôn được tín nhiệm bầu vào cấp uỷ đảng và tham gia phụ trách, lãnh đạo các phong trào đấu tranh trong nhà tù Sơn La và trực tiếp phụ trách tờ “Suối Reo”.

Sau khi ra tù và bắt liên lạc được với tổ chức đảng, đồng chí Xuân Thuỷ đã được Trung ương Đảng giao làm “Đặc san cứu quốc hải ngoại”, rồi phụ trách báo Cứu Quốc bí mật. Trong điều kiện vô cùng khó khăn, cơ sở vật chất thiếu thốn, kẻ địch truy lùng gắt gao, nhờ sự tận tuỵ, sự lãnh đạo tài ba của đồng chí với tinh thần cố gắng của cộng sự và che chở, đùm bọc của đồng bào, báo Cứu Quốc - tiếng nói của Đảng, của Việt Minh vẫn xuất bản đều đặn. Và ở đó, những bài viết, bài văn, bài thơ của đồng chí Xuân Thuỷ đã góp phần không nhỏ với việc vạch trần âm mưu, tội ác của kẻ thù, đồng thời tuyên truyền và chỉ đạo cuộc đấu tranh chống Pháp của nhân dân ta.

Cùng với nhiệm vụ phụ trách báo Cứu Quốc, đồng chí Xuân Thuỷ còn đảm nhận nhiều trọng trách khác trong công tác Mặt trận, như: Trưởng ban Tuyên truyền của Tổng bộ Việt Minh, Trưởng đoàn đại biểu Việt Minh trong Quốc hội (khoá I), Uỷ viên Thường trực Tổng bộ Việt Minh, Trưởng ban Thư ký Uỷ ban Trung ương Mặt trận Liên Việt, Trưởng ban Dân vận Mặt trận của Trung ương Đảng, Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư Đảng đoàn Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam... Trên mọi cương vị công tác, đồng chí Xuân Thuỷ luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình. Dấu ấn đặc biệt của ông trong lịch sử Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam là:

- Tham gia chỉ đạo và tổ chức thành công Đại hội thống nhất Liên Việt - Việt Minh với tên gọi mới là Mặt trận Liên Việt năm 1951.

- Chỉ đạo và tổ chức thành công Đại hội thống nhất Công đoàn, Thanh niên, Phụ nữ, Đại hội thống nhất Mặt trận hai miền Nam - Bắc. Tại Đại hội thống nhất Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam, khi đề nghị về tên gọi của Mặt trận trong giai đoạn mới của cách mạng, ông phát biểu: “Hai tiếng Tổ quốc vô cùng thiêng liêng! Người Việt Nam ta đều chung một Tổ quốc, từ Cao Lạng đến Minh Hải, đều chung một mộ Tổ Hùng Vương ở Lâm Thao, Vĩnh Phú. Người Việt Nam ở nước ngoài dù xa xôi đến đâu cũng hướng về Tổ quốc thân yêu. Bất kỳ một người Việt Nam yêu nước nào cũng vui mừng trước sự kiện lịch sử mùa Xuân 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc Việt Nam độc lập và thống nhất. Ngày nay, ai cũng được góp phần xây dựng Tổ quốc mình đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như lời Bác Hồ đã nói. Hai tiếng Tổ quốc kêu gọi trái tim Việt Nam, thúc giục mọi khối óc Việt Nam phải làm cho Tổ quốc Việt Nam giàu mạnh. Chính vì vậy, chúng tôi đề nghị các quý vị thông qua tên của Mặt trận mới là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam!”. Với những lời tâm huyết đó, đề nghị của ông được Đại hội nhiệt liệt hoan nghênh, tán đồng.

Nói tới Xuân Thuỷ, chúng ta cũng không thể không nói đến sự nghiệp ngoại giao của ông. Là Bộ trưởng Ngoại giao nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (1963 - 1965), rồi Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Đảng (1966 - 1968) và Bộ trưởng - Trưởng đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đàm phán với đoàn đại biểu Chính phủ Mỹ tại Hội nghị Pari về Việt Nam, đồng chí Xuân Thuỷ đã góp phần quan trọng làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của Chính phủ Mỹ, buộc Chính phủ Mỹ phải ký Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam, công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Tại Pari, với tinh thần đoàn kết, bằng tài năng ngoại giao kiệt xuất, lập trường cách mạng kiên định, đồng chí Xuân Thuỷ đã nhiều lần tiếp xúc với lãnh tụ các đảng phải chính trị quốc gia và các tổ chức quốc tế, các Thủ tướng, Bộ trưởng, đại sứ, nghị sĩ, các nhà khoa học, nhà văn, nhà nghệ thuật, các đoàn thể nhân dân, tổ chức xã hội, các cá nhân, bà con kiều bào ta và cả Giáo hoàng J.Paul VI. Qua các hoạt động đó, ông đã góp phần làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ và ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, góp phần hình thành mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam.

Khi non sông đất nước Việt Nam được thống nhất, đồng chí Xuân Thuỷ tiếp tục được tín nhiệm cử giữ nhiều trọng trách quan trọng của đất nước cho tới những năm tháng cuối cùng của cuộc đời, như: Bí thư Trung ương Đảng; Trưởng ban Dân vận và Mặt trận Trung ương Đảng; Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội đồng Nhà nước; Bí thư Đảng đoàn Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam...

Tài năng, đức độ, uy tín và nghệ thuật thuyết phục, cảm hoá của đồng chí Xuân Thuỷ không chỉ có sức lôi cuốn, hấp dẫn đối với những người cùng chiến tuyến mà đối với cả những quan chức cấp cao trong chính quyền cũ. Đây là một thuận lợi lớn để ông hoàn thành sứ mạng là người giương cao ngọn cờ đoàn kết, qui tụ các lực lượng có xu hướng chính trị khác nhau vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.

Đồng chí Xuân Thuỷ là một trong những người đóng vai trò nòng cốt của sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc. Hình ảnh đồng chí Xuân Thuỷ trong lòng đồng chí, đồng bào và bè bạn quốc tế đã khẳng định cả cuộc đời hoạt động yêu nước và cách mạng của ông gắn liền với sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc và có những cống hiến rất to lớn trong sự nghiệp cao cả này.

Cuộc đời hoạt động của đồng chí Xuân Thuỷ là tấm gương sáng ngời về tinh thần yêu nước, ý chí cách mạng kiên cường, bất khuất, đấu tranh không mệt mỏi và đã cống hiến trọn đời mình cho lý tưởng độc lập dân tộc, hoà bình và chủ nghĩa xã hội. Đồng chí đã để lại cho chúng ta những bài học lớn về phẩm chất, đạo đức của một người chiến sĩ cộng sản, những kinh nghiệm rất quý báu về công tác dân vận, Mặt trận. Là lớp người được làm việc dưới sự lãnh đạo và dìu dắt của các vị lão thành cách mạng như bác Tôn Đức Thắng, bác Hoàng Quốc Việt, đồng chí Xuân Thuỷ, mỗi lớp người đi sau đều rất vinh dự và tự hào về các thế hệ trước, những người đã góp phần to lớn chăm lo xây dựng và phát triển Mặt trận Dân tộc Thống nhất. Nhân kỷ niệm lần thứ 95 ngày sinh đồng chí Xuân Thuỷ, một lần nữa cùng nhau ôn lại cuộc đời và sự nghiệp cao đẹp của đồng chí, cố gắng học tập, phấn đấu theo gương của đồng chí để góp phần cùng Đảng, Nhà nước tăng cường và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện cho được mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” mà Đại hội X của Đảng đã đề ra.

[về đầu trang]


 
 
 
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TẠP CHÍ MẶT TRẬN

Cơ quan chủ quản : UỶ BAN TRUNG ƯƠNG MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
Hội đồng biên tập: Chủ tịch Hội đồng Nhà báo Lê Truyền, GS Phan Hữu Dật, GS Phan Đình Diệu, Nhà báo Đỗ Phượng, GS-VS Nguyễn Duy Quý, GS Văn Tạo, Nhà báo Trần Trọng Tân, GS Lý Chánh Trung, Nhà báo Hoàng Tùng, GS Đặng Nghiêm Vạn.
Tổng Biên tập : TS Nguyễn Quang Du, Phó Tổng Biên tập : Bùi Thượng Toản.
Toà soạn : 46 Tràng Thi - Hoàn Kiếm - Hà Nội, Điện thoại: 04-9287010
E-Mail : tapchi@mattran.org.vn, tapchi_mattran@vol.vnn.vn , Website : WWW.MATTRAN.ORG.VN