TRANG CHỦ

Vấn đề sự kiện

Diễn đàn Đại đoàn kết

Kinh nghiệm thực tiễn

An toàn giao thông - Phòng chống tội phạm - ma tuý - mại dâm

Bạn hỏi tạp chí trả lời - Thông tin lý luận

  DIỄN ĐÀN ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC


Xoá đói, giảm nghèo là cơ sở quan trọng bảo đảm thực hiện đoàn kết toàn dân tộc

Phản biện xã hội về thực chất là phản biện của nhân dân

Tôn trọng sự khác biệt, quy tụ và thái độ khoan dung tôn giáo ở Việt Nam

Quan niệm về “Dân tộc thiểu số” và “cán bộ dân tộc thiểu số” hiện nay

Đoàn kết là sức mạnh vô địch trong khởi nghĩa Tháng 8-1945 ở Sài Gòn - Chợ Lớn

Lịch sử Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam (1930 - 2004) - Một công trình nghiên cứu có ý nghĩa thiết thực


XOÁ ĐÓI, GIẢM NGHÈO

LÀ CƠ SỞ QUAN TRỌNG BẢO ĐẢM THỰC HIỆN

 ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC

 

TRẦN ĐÌNH PHÙNG

Uỷ viên Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 

Không phải ngẫu nhiên chỉ sau một ngày tuyên bố với cả thế giới “Bản tuyên ngôn độc lập” khẳng định dân tộc ta giành được độc lập, trở thành người chủ đất nước, ngày 3-9-1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra ba nhiệm vụ cấp bách của nhà nước ta cần phải giải quyết, đó là: Giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. Trong lúc giặc ngoại xâm vẫn chưa từ bỏ ý định thôn tính nước ta, Người đặt việc giải quyết “giặc đói” lên hàng đầu, là vì dân tộc ta đánh đổ đế quốc, phong kiến để đem lại cơm ăn, áo mặc, học hành cho người dân... nếu không giải quyết được vấn đề này thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì.

Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước ta đã nỗ lực quyết tâm xoá đói, giảm nghèo. Xoá đói, giảm nghèo là một chủ trương lớn, một quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước; là sự nghiệp cách mạng của toàn dân, nhất là ở địa phương, cơ sở; là hướng ưu tiên trong toàn bộ các chính sách kinh tế và xã hội của đất nước, vì nếu không giải quyết được vấn đề nghèo đói sẽ không giải quyết được bất kỳ một mục tiêu nào của dân tộc ta đặt ra, như: hoà bình, ổn định, công bằng xã hội... Trong nhiều năm qua, mặc dù ngân sách nhà nước còn hạn hẹp, song Đảng và Nhà nước ta đã thể hiện quyết tâm cao đối với công tác xoá đói, giảm nghèo trên các địa bàn khó khăn của cả nước, đặc biệt là các vùng dân tộc thiểu số ở Tây Bắc, Nam Trung bộ, Tây Nguyên, Tây Nam bộ. Tư tưởng nhất quán của Đảng ta là “Tăng trưởng kinh tế phải tiến hành công cuộc xoá đói, giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội, bình đẳng giới, giảm sự phân hoá giàu nghèo”.

Thực hiện quan điểm trên của Đảng, Chính phủ đã giành nhiều nguồn lực cho xoá đói giảm nghèo thông qua các chương trình dự án lớn, như: Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa (Chương trình 135); Chương trình về định hướng kế hoạch phát triển các vùng Tây Nguyên (Chương trình 168); Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng Sông Cửu Long (Chương trình 173); Chương trình phát triển vùng đặc biệt khó khăn 6 tỉnh miền núi phía Bắc (Chương trình 186) và Quyết định 134/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào nghèo, đời sống khó khăn.... Đồng thời phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể quần chúng động viên toàn dân tích cực tham gia công cuộc xoá đói, giảm nghèo và Chính phủ đã quyết định lấy ngày 17-10 hàng năm là “Ngày vì người nghèo” trong cả nước.

Với Chương trình 135, Nhà nước đã đầu tư nguồn vốn ngân sách Trung ương là 9.142,2 tỷ đồng và sự đối ứng bằng ngân sách địa phương huy động đầu tư cho các xã đặc biệt khó khăn trên 527 tỷ đồng để phát triển kinh tế - xã hội ở 2.410 xã đặc biệt khó khăn của 52 tỉnh (trong đó có 1.938 xã thuộc khu vực III, 389 xã biên giới, 83 xã an toàn khu trong kháng chiến). Sau 7 năm thực hiện, Chương trình 135 đã xây dựng được trên 25.000 công trình hạ tầng và 498 Trung tâm cụm xã; đã đưa vào sử dụng trên 20.000 công trình thiết yếu các loại và trên 200 Trung tâm cụm xã. Trên địa bàn các xã thực hiện Chương trình 135, thì 86% số xã có trường tiểu học, 73% số xã có trường Trung học cơ sở kiên cố, 96% số xã có trạm y tế đảm bảo phục vụ khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho người dân, 74% số xã có trạm bưu điện văn hoá xã, 61% số xã có trạm truyền thanh, 44% số xã có chợ. 28 tỉnh thực hiện Chương trình 135 đã đạt 100% số xã có đường ô tô đến trung tâm, đưa tỷ lệ đường giao thông cơ giới và dân sinh đến trung tâm xã trong chương trình đạt 97,42%.

Nhờ có Chương trình 135 mà đến nay các xã đặc biệt khó khăn đã xây dựng được hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn, góp phần làm thay đổi và cải thiện đời sống, nâng cao thu nhập, xoá đói giảm nghèo, tạo tiền đề cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá vùng dân tộc và miền núi; góp phần quan trọng làm giảm nhanh tỷ lệ hộ đói nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn, bình quân mỗi năm giảm được 4 - 5% hộ nghèo (tỷ lệ hộ đói nghèo bình quân cả nước trước khi có chương trình gần 60%, đến năm 2005 còn 20%). Một số địa phương tỷ lệ hộ nghèo giảm 7 - 8% năm; nâng mức bình quân lương thực tự sản xuất từ 286 kg/người/năm lên 320kg/người/năm, nhiều địa phương đạt 500kg/người/năm.

Chương trình 135 còn góp phần quan trọng cải thiện đời sống đồng bào dân tộc thiểu số, tác động mạnh đến giáo dục, y tế, văn hoá vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Hầu hết các xã trong chương trình đã thu hút trên 90% trẻ em trong độ tuổi đến trường, nhiều địa phương đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học, có nơi đã phổ cập trung học cơ sở. Các xã đặc biệt khó khăn đã có trạm y tế, đa số thôn, buôn, bản, làng đã có y tế cộng đồng, góp phần ngăn chặn cơ bản được các dịch bệnh xã hội hiểm nghèo, nâng cao sức khoẻ và cải thiện đời sống cho đồng bào. Các dự án qui hoạch sắp xếp dân cư và định canh, định cư đã góp phần ổn định đời sống cho đồng bào các dân tộc sống phân tán trong điều kiện khó khăn được tiếp cận với các dịch vụ xã hội. Tỷ lệ đồng bào được tiếp cận với thông tin ngày càng tăng, chất lượng dịch vụ ngày tốt hơn.

Nhờ kinh tế miền núi, vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được cải thiện, nên đời sống văn hoá của bà con đã được nâng cao một bước, văn hoá truyền thống của các dân tộc được tôn trọng, giữ gìn và phát huy, cùng chính sách cấp không báo, tạp chí... đã đưa số xã được thụ hưởng văn hoá thông tin tăng nhanh, chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước đã đến được với đồng bào nhiều hơn, nhanh hơn. Đây chính là cơ sở giúp củng cố lòng tin, góp phần giữ vững an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo quốc phòng trên các vùng chiến lược xung yếu của đất nước. Với nguyên tắc thực hiện dân chủ công khai rộng rãi, chương trình đã thu hút được sự tham gia của các tổ chức, đoàn thể xã hội, phát huy vai trò của người dân trong các bước thực hiện, nâng cao năng lực của cộng đồng, của đội ngũ cán bộ chính quyền cơ sở, bản, làng, phum, sóc, góp phần củng cố hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở và củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước.

Ngày 20-7-2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 134/2004/QĐ-TTg về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào nghèo, đời sống khó khăn. Trong đó: số hộ cần hỗ trợ nhà ở là 333.313 hộ, đất ở là 83.984 hộ (tương ứng với 1.884 ha), đất sản xuất là 237.616 hộ (dự tính khoảng 75.535 ha), nước sinh hoạt phân tán là 280.944 hộ, công trình nước tập trung là 7.398 công trình. Vốn Trung ương đầu tư cho chương trình nói trên khoảng 3.927 tỷ đồng, trong đó: về nhà ở gần 1.656 tỷ đồng, về đất ở hơn 13 tỷ đồng, đất sản xuất hơn 451 tỷ đồng, về nước sinh hoạt phân tán hơn 107 tỷ đồng, nước sinh hoạt tập trung hơn 1.742 tỷ đồng. Đây là một quyết định quan trọng, có ý nghĩa to lớn trong việc thực hiện Nghị quyết Trung ương Đảng (khóa IX) về công tác dân tộc, thể hiện sự nỗ lực và quan tâm đặc biệt, tính nhân văn sâu sắc, phát huy bản chất tốt đẹp của cả dân tộc, của Nhà nước đối với đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số, nhất là hộ nghèo.

Tính riêng năm 2005, tổng vốn ngân sách nhà nước cấp cho 44 tỉnh là 780 tỷ đồng. Năm 2006, tiếp tục cấp 800 tỷ đồng cho 51/53 tỉnh và bổ sung 30 tỷ từ nguồn vượt chi ngân sách, nâng tổng số vốn cấp lên 1.610 tỷ đồng. Năm 2007, cấp 800 tỷ đồng. Tổng nguồn kinh phí cho chương trình trong 3 năm sẽ là 2.920 tỷ đồng, đáp ứng 74% nhu cầu. Các Khu vực trọng điểm ở Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ đều được ưu tiên bố trí nguồn vốn lớn; cụ thể: Đắk Lắk 84 tỷ, Gia Lai 88 tỷ, Kon Tum 72 tỷ, Đắk Nông 70 tỷ; Trà Vinh 65 tỷ, Sóc Trăng 70 tỷ; Lai Châu 52 tỷ, Thanh Hóa 57 tỷ, Ninh Thuận 48 tỷ...

Thực hiện công cuộc xoá đói, giảm nghèo, Mặt trận và các đoàn thể quần chúng các cấp đã hướng dẫn đồng bào cách làm ăn, phát triển kinh tế hộ, xây dựng mô hình xoá đói, giảm nghèo. Cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động đã huy động được hàng trăm tỷ đồng với sự giúp đỡ của các nhà hảo tâm, các Tổng công ty... Cuộc vận động “Quỹ vì người nghèo” đã được Mặt trận Tổ quốc các cấp, các tổ chức thành viên triển khai sâu rộng đến cơ sở, địa bàn dân cư và được nhân dân cả nước đồng tình hưởng ứng. Cấp uỷ, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể ở các tỉnh, thành phố trong cả nước đã có quyết tâm cao trong việc tập trung vận động ủng hộ và chỉ đạo việc làm nhà “Đại đoàn kết” cho người nghèo đạt kết quả thiết thực, giúp cho người nghèo có điều kiện ổn định cuộc sống, tự tin vươn lên thoát khỏi đói nghèo, góp phần cùng nhà nước đẩy nhanh quá trình xã hội hoá sự nghiệp xoá đói giảm nghèo, nhất là ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, xoá dần khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng miền.

Qua 6 năm vận động “Quỹ vì người nghèo”, Mặt trận Tổ quốc các cấp đã thu được trên 1.733 tỷ đồng (trong đó quỹ Trung ương là 75,69 tỷ đồng). Từ nguồn quỹ “Vì người nghèo” của Mặt trận các cấp và công sức của nhân dân cả nước, Mặt trận đã xây dựng và sửa chữa được 495.703 căn nhà “Đại đoàn kết” cho các hộ nghèo. Đã cấp bằng ghi công các địa phương xoá xong nhà dột nát cho người nghèo ở 4.911 xã, phường (đạt 47%); 256 quận, huyện (37%); 17 tỉnh, thành phố (đạt gần 27%). Mặt trận Tổ quốc các tỉnh và Uỷ ban Dân tộc cùng cấp vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã có sáng kiến xoá nhà tranh tre, dột nát gắn với thực hiện chương trình 134 trên địa bàn, đã xây dựng và sửa chữa được hàng ngàn ngôi nhà cho người nghèo.

Trong nhiều năm qua, ngày 17-10 (ngày “Vì người nghèo”); ngày 18-11 (ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam); ngày 31-12 (ngày cuối cùng trong năm - tổ chức cầu truyền hình góp quỹ cho người nghèo), đã trở thành ngày truyền thống của Mặt trận và được đông đảo các tầng lớp nhân dân hưởng ứng và tham gia ủng hộ công sức, tiền của cho người nghèo. Nhân dân các xã đặc biệt khó khăn đã đóng góp xây dựng công trình bằng hình thức tham gia lao động xây dựng, khai thác vật liệu sẵn có ở địa phương hoặc tài sản, hoa màu, đất đai... nhiều xã đã làm tốt công tác tuyên truyền vận động, huy động nhân dân tự giác giải phóng mặt bằng, không chờ vốn đền bù của Nhà nước, công khai các định mức đầu tư để dân biết và tự nguyện tham gia đóng góp, xây dựng các công trình nhằm thực hiện xoá đói, giảm nghèo một cách bền vững, giảm nhanh tỷ lệ nghèo đói; đảm bảo đủ nước sinh hoạt cho người dân; bảo đảm đủ phòng học và tương đối vững chắc cho trẻ em; bảo đảm đủ chỗ chăm sóc sức khoẻ và khám chữa bệnh cho người nghèo; không còn tình trạng dân du canh, du cư; cơ bản xoá tình trạng nhà ở dột nát, xiêu vẹo của hộ nghèo; có đường giao thông ô tô đến các xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn. Sau nhiều năm nỗ lực, cố gắng thực hiện, đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào các dân tộc ở các xã đặc biệt khó khăn đã từng bước được cải thiện, tạo điều kiện để đưa nông thôn các vùng dân tộc thiểu số ra khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, hoà nhập với sự phát triển chung của cả nước, góp phần bảo đảm trật tự an toàn xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh.

 Có thể nói, việc triển khai những chương trình, dự án quốc gia về xoá đói, giảm nghèo, điển hình là Chương trình 135, Quyết định 134 và cuộc vận động quỹ “Vì người nghèo” của Mặt trận nêu trên đã huy động được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia. Những nỗ lực trong công cuộc xoá đói, giảm nghèo của toàn Đảng, toàn dân trong nhiều năm qua đã có tác dụng quan trọng củng cố và tăng cường khối đoàn kết toàn dân tộc, nâng cao niềm tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước. Qua thực tế thực hiện các chương trình, dự án còn thu hút sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp, các ngành, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội từ Trung ương đến cơ sở, góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn, giảm dần khoảng cách chênh lệch phát triển giữa các vùng, miền trong cả nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần thực hiện công bằng xã hội, thể hiện sự ưu việt của chế độ ta, chế độ xã hội “của dân, do dân, vì dân”. Đồng thời công cuộc xoá đói giảm nghèo trong nhiều năm qua, còn thể hiện quyết tâm của toàn dân tộc ta thực hiện tư tưởng của Bác Hồ vĩ đại nhằm thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”.

[về đầu trang]


PHẢN BIỆN XÃ HỘI

VỀ THỰC CHẤT LÀ PHẢN BIỆN CỦA NHÂN DÂN

 

ĐÀM VĂN LỢI

Trung tâm Công tác Lý luận,

Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 

Phản biện xã hội là thuật ngữ được sử dụng chính thức trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Nhà nước ban hành cơ chế để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội”, “Xây dựng quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, quyết định lớn của Đảng và việc tổ chức thực hiện, kể cả đối với công tác tổ chức và cán bộ”1. Tuy nhiên, cho đến lúc này, qua các phương tiện thông tin đại chúng, các diễn đàn trao đổi; trong thực tiễn hoạt động của hệ thống chính trị nói chung, hoạt động của Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc nói riêng vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng.

Vậy phản biện xã hội là gì?

Cuốn “Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng” đã giải thích hai khái niệm phản biện và phản biện xã hội như sau:

- Phản biện là “nhận xét, đánh giá, bình luận, thẩm định công trình khoa học, dự án, đề án trong các lĩnh vực khác nhau”;

- Phản biện xã hội là “phản biện nói chung, nhưng có quy mô và lực lượng rộng rãi hơn của xã hội, của nhân dân và các nhà khoa học về nội dung và phương hướng, chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ, giáo dục, y tế, môi trường, trật tự an ninh chung toàn xã hội của Đảng, Nhà nước và các tổ chức liên quan”2.

Như vậy, muốn hiểu phản biện xã hội, trước hết phải hiểu khái niệm phản biện là gì? Phản biện là một từ Hán Việt. Nếu triết tự thì phản biện là “bàn luận theo hướng chống lại” hoặc là “tranh cãi”. Như vậy, phản biện là hoạt động khoa học nhằm đưa ra những ý kiến để bác bỏ biện luận, lập luận của người khác. Phản biện làm cho mỗi một hành vi được tiến hành trên cơ sở có một sự xác nhận có chất lượng khoa học đối với nó. Nói cách khác, kết quả của phản biện là đen, trắng phân minh, đúng, sai rõ ràng. Thuật ngữ này thể hiện rõ nhất trong hoạt động giáo dục, khoa học. Phản biện là chỉ ra những chỗ sai, yếu kém, không đúng về khoa học ở các công trình, các bài viết, các chủ trương, dự án.

Phản biện xã hội là một khái niệm chính trị, là biểu hiện đặc trưng rõ ràng nhất của cái gọi là đời sống dân chủ. Phản biện xã hội là bằng cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn để biện luận làm sáng tỏ đúng, sai về một vấn đề có tính chất xã hội liên quan đến lợi ích toàn xã hội do Đảng, Quốc hội và Nhà nước hay một tổ chức đoàn thể...nêu lên.

Như vậy, bản chất của phản biện xã hội là thực hành dân chủ, làm cho cái đúng được khẳng định, cái sai bị phủ định, để giúp Đảng, Quốc hội và Nhà nước thấy rõ đường lối, chủ trương, chính sách đã đề ra đi vào cuộc sống như thế nào.

Phản biện và phản biện xã hội có những điểm giống và khác biệt rất quan trọng. Về điểm giống nhau, đó là phản biện và phản biện xã hội cùng phải dựa trên cơ sở các lập luận và ý kiến hướng đến chân lý khách quan. Trong nhiều trường hợp (tùy thuộc nội dung và chủ thể phản biện xã hội), phản biện xã hội cũng chính là phản biện khoa học. Tuy nhiên, điểm khác nhau thứ nhất là, phản biện khoa học bao giờ cũng phải có sự hoàn chỉnh tương đối của lập luận để “đua tranh” với lập luận “chính thống”. Phản biện xã hội không phải bao giờ cũng như vậy. Có những trường hợp phản biện xã hội là sự tập hợp của nhiều ý kiến, phản ứng, dư luận, lý lẽ... riêng rẽ, không có tính hoàn chỉnh tương đối, nhưng vẫn có thể tác động mạnh đến phương án xã hội “chính thống” đã được đưa ra. Thứ hai là, phản biện khoa học về bản chất là khách quan. Phản biện xã hội bên cạnh thuộc tính khoa học, có thuộc tính xã hội, tức là phản ánh các quan điểm, quyền lợi của các tầng lớp khác nhau trong xã hội. Vì vậy, phản biện xã hội không phải lúc nào cũng dựa trên cơ sở lập luận khoa học thuần túy. Ngược lại, trong đa số các trường hợp của phản biện xã hội có thể thấy yếu tố quyền lợi chính trị - kinh tế - xã hội được phản ánh thông qua chủ thể phản biện.

Đây là khác biệt hết sức quan trọng. Không nắm vững điểm khác biệt này sẽ dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng trong việc nhìn nhận và tổ chức, xây dựng cơ chế phản biện xã hội, nhất là trong bối cảnh xã hội còn có sự khác biệt về những quyền lợi.

Như vậy, phản biện xã hội mang tính nhân dân, bên tổ chức phản biện phải đứng trên lập trường của nhân dân, đại diện cho quyền lợi hợp pháp và nguyện vọng chính đáng của nhân dân, bảo đảm lợi ích của toàn xã hội và yêu cầu của đất nước. Do đó, phản biện xã hội phải thực sự giúp cho bên được yêu cầu phản biện đưa ra quyết sách đúng đắn.

Khi đề cập đến khái niệm “phản” không nên nghĩ là chống lại. Phản biện xã hội không có nghĩa chỉ có phản đối mà phải hiểu có đồng tình, có phản đối, có chấp nhận, có bổ sung. Phản biện trên tinh thần xây dựng, chứ không phải phản biện là chống lại tất cả. Cần phân biệt phản biện xã hội với phản kháng xã hội. Đây là vấn đề rất phức tạp. Trong các trường hợp xung đột quyền lợi, phản kháng xã hội có thể nấp dưới hình thức phản biện xã hội.

Vì sao phải phản biện xã hội?

Ngày nay, dân chủ đang trở thành xu thế mạnh mẽ không chỉ ở nước ta mà cả ở nhiều nước trên thế giới, vai trò của quần chúng nhân dân càng ngày càng được chú trọng hơn. Dân chủ là một động lực phát triển của xã hội, là một xu thế, đặc biệt cần thiết khi chúng ta hội nhập quốc tế.

- Trước hết, Đảng, Nhà nước có nhu cầu về phản biện xã hội đối với các chính sách của mình.

Trong điều kiện nước ta chỉ có một đảng cầm quyền lãnh đạo thì các chủ trương, chính sách thường bị nhìn nhận là sản phẩm tư duy mang nhiều yếu tố chủ quan. Để ngăn ngừa và khắc phục bệnh quan liêu, độc đoán, mất dân chủ thì phản biện xã hội trở thành công việc thường xuyên của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội. Mở rộng dân chủ mà không có phản biện xã hội thì không có dân chủ thực sự. Các hình thức phản biện xã hội thay đổi theo từng thời kỳ, phụ thuộc vào sự phát triển xã hội, khả năng tư duy, nhận thức của cả chủ thể phản biện và người được phản biện. Đối với xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa “của dân, do dân và vì dân”, thì phản biện xã hội chính là hình thức sinh hoạt chính trị, con đường đạt tới dân chủ thực sự giúp thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

- Thứ hai, phản biện xã hội về thực chất là sự phản biện của nhân dân.

Nhân dân thực hiện phản biện xã hội với hai tư cách: với tư cách là người chủ, nhân dân thực hiện quyền giám sát của mình với mọi hoạt động của Nhà nước. Bằng hình thức phản biện xã hội, nhân dân có điều kiện tốt hơn để thực hiện quyền giám sát hoạt động của Nhà nước; với tư cách là đối tượng chịu sự quản lý của nhà nước, nhân dân có quyền phản biện đối với các chương trình, kế hoạch của Nhà nước để bảo vệ những quyền lợi chính đáng của mình mà cơ quan nhà nước chưa quan tâm đến một cách đầy đủ. Bằng hình thức phản biện xã hội, quyền Hiến định của nhân dân tham gia công tác quản lý nhà nước sẽ trở thành hiện thực, chứ không chỉ tồn tại về mặt lý thuyết.

Thực hiện phản biện xã hội, do vậy không những sẽ đem lại nhiều lợi ích về vật chất mà còn có ý nghĩa chính trị, xã hội rất sâu sắc. Nó làm cho đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội của đất nước ta ngày càng trở nên phong phú và đa dạng.

Điều kiện để phản biện

xã hội?

Có thể nói hiện nay, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã và đang thực hiện nhiều nhiệm vụ quan trọng liên quan đến quốc kế dân sinh, có tác động và ảnh hưởng đến đông đảo mọi tầng lớp nhân dân, nên rất cần có sự phản biện xã hội. Thực chất của vấn đề phản biện xã hội, là thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trong điều kiện một Đảng cầm quyền, để làm cho đường lối, chủ trương của Đảng được thể hiện một cách đúng đắn, đầy đủ nhất đáp ứng nguyện vọng của quần chúng nhân dân. Những vấn đề này được thể hiện thông qua tổ chức đại diện cho quần chúng nhân dân, đó là Mặt trận. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện có thể đoàn kết được quần chúng nhân dân một cách rộng rãi nhất, tạo sự đồng thuận xã hội mà không tổ chức nào khác có thể làm được như vậy.

Muốn thực hiện tốt chức năng phản biện xã hội, cần phải hội tụ được những điều kiện sau:

Một là, phải tuyên truyền, giáo dục về phản biện xã hội, để cán bộ và nhân dân hiểu và nắm rõ mục đích, yêu cầu, cơ chế tổ chức phản biện xã hội trên quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hai là, Đảng, Nhà nước cần ban hành các văn bản làm cơ sở chính trị cho việc thực hiện chủ trương phản biện xã hội. Cần xác lập cơ chế phản biện xã hội; xử lý các tình huống không thống nhất với các ý kiến phản biện; thông tin, tư liệu về vấn đề yêu cầu phản biện...

Ba là, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam muốn thực hiện tốt chức năng phản biện xã hội cần phải có nguồn lực. Nguồn lực bao gồm: Thứ nhất là, phải tập hợp, xây dựng đội ngũ cán bộ Mặt trận, các chuyên gia có trình độ chính trị, chuyên môn, có chính kiến, có tư duy độc lập, thực sự “phụng công thủ pháp” theo tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực sự có “tâm”, nắm được nguyện vọng chính đáng, hợp lý của dân và có năng lực phản biện, đặc biệt là phải có dũng khí. Muốn có đội ngũ cán bộ Mặt trận giỏi, ngay từ bây giờ, các cấp Mặt trận cần phải có kế hoạch, biện pháp để nâng cao trình độ cho đội ngũ lãnh đạo, chuyên viên làm công tác Mặt trận. Ngoài ra, phải đảm bảo đủ điều kiện cả về vật chất lẫn tinh thần cho cán bộ làm công tác Mặt trận. Thứ hai là, Mặt trận phải được tự chủ về tài chính. Mặt trận không thể nhận kinh phí hoạt động như hiện nay, mà phải nhận phân bổ ngân sách từ Quốc hội, từ Hội đồng nhân dân các cấp. Để thực hiện phản biện xã hội, Mặt trận cần phải có nhiều kinh phí phục vụ cho nhóm họp các chuyên gia, đại diện các ngành, các giới, đi khảo sát tiếp xúc tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân... Về thực chất, đây là sự thay đổi cơ chế tài chính, Mặt trận phải được độc lập, tự quyết về tài chính thì mới đảm bảo có tiếng nói khách quan.

Vì lợi ích của cả dân tộc, để giữ gìn đoàn kết toàn dân và đồng thuận xã hội, vấn đề phản biện xã hội đã, đang và sẽ được Đảng, Nhà nước, Mặt trận quan tâm triển khai thực hiện một cách nghiêm túc dần trở thành một công việc thường xuyên trong đời sống của xã hội Việt Nam.q

_______________

1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H, 2006, tr.124-135.

2. Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng”, Nxb CTQG, H, 2006, tr.182-183.

[về đầu trang]


 

TÔN TRỌNG SỰ KHÁC BIỆT, QUY TỤ

VÀ THÁI ĐỘ KHOAN DUNG TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

 

PGS-TS. NGUYỄN ĐỨC LỮ

Viện Nghiên cứu Tôn giáo và Tín ngưỡng,

 Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh.

Lịch sử Việt Nam, có thời kỳ nhà nước phong kiến coi một tôn giáo là “quốc giáo”, nhưng nhìn chung không coi các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo khác là “tà giáo”, “dị giáo” mà cũng không hiểu “quốc giáo” theo phương Tây. Bởi vì, triều đình có thể trọng tôn giáo này và coi là chỗ dựa tinh thần cho xã hội, nhưng nhìn chung không cấm các tôn giáo, tín ngưỡng khác không được hoạt động như ở các triều đình phong kiến châu Âu. Ở Việt Nam cũng không có một tôn giáo nào chiếm vị trí độc tôn suốt chiều dài lịch sử dân tộc và cũng chẳng có Giáo hội bao trùm lên toàn xã hội và quốc gia.

 Từ những năm đầu của thời kỳ xây dựng nền độc lập cho đến cuối vương triều Trần, Phật giáo là tôn giáo chủ lưu làm nền tảng tinh thần cho quốc gia Đại Việt. Đến thời Lê - Nguyễn, Nho giáo trở thành ý thức hệ chính thống cho việc xây dựng một quốc gia phong kiến tập quyền. Nhưng ngay triều đại Đinh - Tiền Lê - Lý - Trần, Khổng giáo vẫn có vai trò và ở thời Lê - Nguyễn đâu phải Phật giáo đã lụi tàn hoàn toàn.

Từ thế kỷ thứ XI các vua nhà Lý sùng tín Phật giáo, nhưng đã chủ động tạo ra sự hỗn dung tôn giáo. Một mặt đề cao Phật giáo và cả Tam giáo, như cho xây cất nhiều chùa, quán, đàn, văn miếu... Thậm chí đưa tượng Phật vào quán thờ phối; mặt khác lại sử dụng các nghi lễ của các tôn giáo đó để thực hiện nhu cầu thiết thực và dân sinh vốn có từ lâu của cư dân nông nghiệp. Các đời vua Lý - Trần ưa thích thực hành Đạo giáo. Thực ra Tam giáo ở Việt Nam nghiêng về thực hành hơn lý thuyết.

 Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi, coi trọng Khổng giáo. Ông tập trung tuyển quan lại qua thi cử, lập Quốc Tử Giám, tế Khổng Tử, mở trường học và cử thày dạy Nho học ở kinh đô và các phủ lộ... Các ông vua cùng trí thức phò tá nhà Lê hầu hết đều theo Nho học. Chính vì vậy mà ý thức hệ Nho giáo thâm nhập vào xã hội ngày một sâu. Tuy nhiên, Phật giáo không có chỗ đứng như trước ở chốn cung đình thì trở về cắm rễ ở chốn thôn dã và Đạo giáo vẫn còn ảnh hưởng trong đời sống tinh thần của xã hội. Vả lại, ngay tầng lớp quan lại vẫn có người chuộng đạo Phật. Đại tư đồ Lê Sát là người rất sùng đạo Phật. Ông đã cho xây dựng chùa Báo Thiên, Thanh Đàm, Chiêu Độ với quy mô lớn, tổ chức lễ rước Phật Pháp Vân về kinh để cầu mưa, lễ Vu Lan báo hiếu tổ chức ở ngay chốn cung đình. Đời Lê Nhân Tông (1443-1459) vẫn còn những lễ nghi Phật giáo tại triều đình.

 Đến đời Lê Thánh Tông lên ngôi (1460-1497) với 38 năm trị vì đất nước. Ông là một vị vua thông minh hiếm thấy, lại chịu ảnh hưởng sâu đậm của học thuyết Khổng Tử và từ đây Nho giáo mới thực sự trở thành ý thức hệ chính thống. Hệ thống nghi lễ, quan chế triều đình hoàn toàn theo mẫu hình triều đình Nho giáo. Cơ sở thờ tự mang đậm dấu ấn Nho giáo: Đàn Nam Giao, đàn Xã Tắc, nhà Tôn miếu, đàn Phong Vân, đàn Tiên nông, ruộng Tích điền, Văn Miếu... Vua cho xây dựng đền thờ các vị Thượng Đẳng thần ở kinh đô: Đền Bạch Mã, đền Đô Đại Thành hoàng, đền Bố Cái, đền thờ Sơn Minh...

 Nhà nước đặt chức vụ Ngũ Kinh bác sĩ1, ban hành luật pháp mang chuẩn mực của Nho giáo, từ quan hệ vua tôi, cha con, chồng vợ đến quan hệ gia đình, tộc họ, làng xóm, đất nước; từ hôn nhân đến tang ma, thờ cúng, lễ hội... đều theo quy chuẩn của Nho giáo. Luật Hồng Đức dành 16 điều quy định về tôn giáo nhằm hạn chế Phật giáo và Đạo giáo.

 Nho học mở rộng phạm vi, quy định hình thức, nội dung thi cử... Thi cử gần như con đường tiến thân của các lớp thanh niên ưu tú của xã hội. Tầng lớp trí thức miệt mài say sưa với cửa Khổng sân Trình, với thuyết “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”.

 Nho giáo là hệ tư tưởng chính thống dưới triều Lê, nhất là đời Lê Thánh Tông, nhưng không phải vì vậy mà Phật giáo lụi tàn. Dân chúng vẫn cần đạo Phật. Thế kỷ XV chùa vẫn được tiếp tục xây cất, tu sửa. Năm 1461 vua Lê Thánh Tông ra sắc chỉ hạn chế xây chùa Phật giáo, nhưng ảnh hưởng Phật không chỉ duy trì trong dân gian, vùng quê nghèo khổ mà ngay cả giới quý tộc chốn cung đình.

 Thời Nhà Mạc, vẫn duy trì hệ tư tưởng Nho giáo, nhưng chiến tranh triền miên, loạn lạc kéo dài, Nho giáo khủng hoảng. Nhà Mạc cởi mở và bao dung tôn giáo làm cho Phật và Đạo giáo lại có cơ hội phục hưng, ngay cả Nho sĩ cũng trở về với Phật giáo. Các vua, quan văn võ nhiều người tham gia sửa chữa, xây cất nhiều chùa, quán. Nếu như thời Lý - Trần tam giáo song hành thì đến Nhà Mạc, Phật - Khổng - Đạo hòa quyện vào nhau thành một thứ tôn giáo dung hợp thật sự để trở thành “Tam giáo đồng quy”. Nhiều chùa Tam giáo được xây dựng và ở đấy sư tăng kiêm chức năng đạo sĩ. Đây là khởi nguồn cho hiện tượng kéo dài đến ngày nay là nhiều vị sư chủ trì các chùa làm nhiệm vụ bắt quyết trừ tà, yểm bùa đọc thần chú.

 Như vậy, thời Hậu Lê, Khổng giáo là hệ tư tưởng chính, nhưng Nho sĩ ở gần dân nơi thôn dã và quan chức trong triều, phi tần, công nương vẫn có nhiều người cúng ruộng và tiền để tu bổ nơi thờ tự của Phật giáo.

 Thời kỳ Vua Lê - Chúa Trịnh, Nho giáo vẫn là ý thức hệ của triều đình, nhưng không còn hưng thịnh như thời Lê Thánh Tông mà nó đã suy vi, bởi dân không còn tin vào “Thiên tử”, vì dung túng cho tầng lớp đại quý tộc ăn chơi xa xỉ, hủ bại, tranh ngôi đoạt vị để cho dân tình lầm than, ai oán. Dân trở về hy vọng ở sự cứu khổ, cứu nạn của Phật và lãng quên thực tại trong Đạo giáo. Thời kỳ này vẫn có nhiều quý tộc sùng đạo Phật, họ bỏ nhiều tiền của để xây chùa chiền, cung điện... Nhiều vị cao tăng được vua chúa ưu ái và ban nhiều bổng lộc. Nghi lễ Phật giáo được vua chúa và các bậc công hầu ưa thích.

 Đến triều Tây Sơn - Nguyễn Huệ, chính quyền trọng Nho. Những nhân tài quốc gia đào tạo Nho học được Quang Trung - Nguyễn Huệ thu nạp để giúp nước an dân. Do có sự gia tăng chùa chiền chức sắc thời Lê, nên Quang Trung - Nguyễn Huệ tỏ ra nghi ngờ Phật giáo, lấy chùa làm nơi giảng học, xuống chiếu bỏ chùa nhỏ ở các làng, bắt sư không xứng đáng hoàn tục, tịch thu chuông đồng, đồ tế khí bằng đồng để đúc súng đại bác với ý đồ phục hưng đất nước, mở mang cõi bờ.

 Thời họ Nguyễn trấn giữ Đàng Trong gần hai thế kỷ rưỡi, Nguyễn Hoàng cho xây chùa Thiên Mụ cùng nhiều chùa ở các nơi và đứng ra bảo hộ Phật giáo. Không chỉ Công giáo có công với Nguyễn Hoàng mà thời hàn vi ông còn được nhiều chư tăng vùng Gia Định đã từng che chở, giúp đỡ. Vương triều nhà Nguyễn bắt đầu từ 1802. Nhà Nguyễn lấy Nho giáo làm hệ tư tưởng chính thống, nhưng Phật giáo tồn tại và ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội. Dù cho nhà Nguyễn dựa vào Khổng giáo để xây dựng vương quyền. Nhưng, nhiều quan chức và phụ nữ trong Hoàng tộc vẫn sùng kính Phật giáo.

 Nhà Nguyễn ưu ái Nho giáo, có biểu hiện “tả khuynh” với Công giáo, hạn chế những điều phi lý của các tôn giáo khác cũng như cấm đoán những suy nghĩ và hành vi làm tổn thương đến Nho giáo. Ví dụ: như đối với Phật giáo, triều đình nhà Nguyễn buộc các chư tăng dưới 50 tuổi phải lao dịch như dân, chùa có đổ nát mới được tu sửa, kê khai số lượng những người đi tu, thẩm định các chức sắc bằng việc cấp độ điệp2, chứng nhận các chùa của nhà nước, nhà nước phải trùng tu, khuyến khích dân xây “chùa nhỏ trong nhà”, hạn chế sự hà lạm của chùa, ngăn cấm những việc làm thiếu đạo đức của sư tăng... Nhưng ngược lại, triều đình cũng lại chủ trương xây chùa, đúc tượng, in ấn kinh sách, để người dân và hoàng tộc quan lại tự do lên chùa hay tu tại gia không hạn chế3. Đạo giáo với các đền phủ vẫn hoạt động. Sau này, các đạo khác ở Nam Bộ, như: Bửu Sơn Kỳ Hương, Phật thầy Tây Ân, Tứ Ân hiếu nghĩa... ra đời cũng không có sự ngăn cấm của triều đình.

 Khái quát lại, dù lịch sử nước nhà có thể ông vua này, thời kỳ khác coi Phật giáo hoặc Nho giáo là nền tảng tinh thần, nhưng nhìn chung các triều đại phong kiến Việt Nam đều thấy sự đắc lực của Nho giáo với đạo lý “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” để duy trì lệ làng, phép nước, kỉ cương xã hội. Việc phải trái, đúng sai, hay dở trong cuộc sống trần tục cần dựa vào lễ giáo, đạo lý Khổng - Mạnh. Nhưng Khổng giáo không bàn về thế giới mai sau, trong khi con người không chỉ có nhu cầu vật chất và tinh thần ở thế giới hiện hữu mà còn luôn trăn trở về thế giới “bên kia”. Về “phúc, tội”, “nơi thiên cung, cõi cực lạc”, hoặc chốn “Niết bàn”, nơi “địa ngục” cũng như báo ân, trả oán từ đời nọ sang kiếp kia. Điều này lại phải dựa vào giáo lí của Phật giáo, Đạo giáo. Tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam đan xen hoà quyện, xâm nhập vào nhau, vừa có cái “duy lý” của Nho giáo, lại có cái “tâm linh” của Phật giáo cùng với cái “siêu việt” của Lão - Trang được quyện chặt với bao tín ngưỡng “thần ma” của căn tính tiểu nông ở một xứ sở đầy rẫy những thiên tai và loạn lạc. Thời Lý dù Phật giáo là quốc đạo vẫn cho xây Văn Miếu thờ Khổng Tử và tổ chức thi Tam giáo. Đến Thời Lê - Nguyễn, Khổng giáo thay vị trí của Phật giáo để trở thành quốc đạo, nhưng chính nhà Nguyễn cho xây chùa Thiên Mụ và cũng không ít những bậc phu nhân quyền quý lập bàn thờ Phật để tụng kinh, gõ mõ ngay trong tư gia.

Thế kỷ XX đã trôi qua, nhân loại đã bước vào thế kỷ XXI đầy biến động trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên, loài người cũng đang đứng trước sự thách đố mới có tính toàn cầu mà cần có sự điều chỉnh của chính con người. Khoan dung với tự nhiên và xã hội được xem như tư tưởng cơ bản của con người trong thế giới đương đại và tương lai.

Sau sự đổ vỡ chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô, chiến tranh lạnh lùi về quá khứ, ngỡ tưởng nhân loại sẽ được sống trong môi trường bình yên để cùng dắt tay nhau bước lên “thiên đường” của xã hội hậu công nghiệp. Nhưng thực tế thập kỷ qua cho thấy, thế giới có nhiều bất ổn cả môi trường tự nhiên lẫn môi trường xã hội. Gần đây, thiên tai và nhân tai ngày càng gia tăng làm cho người ta cảm thấy bất an về một hành tinh dễ đổ vỡ và rất khó chấp nhận này.

Sự phát triển mạnh mẽ chưa từng thấy của khoa học - kỹ thuật, công nghệ, tin học... với thành tựu kỳ diệu của nó đã đem đến cho con người những niềm vui mới khi được cải thiện về đời sống vật chất lẫn tinh thần. Nhưng mặt khác, sự phát triển thái quá với mọi giá đã và đang vi phạm ngay quyền sống của chính con người. Thiên tai với những thảm hoạ do nó gây nên đã không loại trừ bất cứ ai và một quốc gia nào. Thiên nhiên dường như đang nổi khùng và trả thù những hành vi biểu hiện sự tự phụ và thô bạo của con người. Đây đó, người ta đã dự đoán cũng như đã gióng những hồi chuông cảnh tỉnh cho thế kỷ XXI. Nhưng xem ra nhiều ông chủ và những kẻ vô trách nhiệm vì túi tiền của mình vẫn cứ làm thinh, khiến mái nhà chung của nhân loại xuống cấp đến mức báo động, môi trường sống suy thoái, động đất, núi lửa, lụt lội, bão táp, hạn hán... xảy ra ở khắp nơi

Môi trường xã hội cũng đang trong trạng thái thiếu ổn định. Trật tự thế giới sẽ ra sao? Thế giới đơn cực? Tam cực? Ngũ cực hay đa cực? Ở đây đang có nhiều “cái đầu” toan tính, thử nghiệm, thăm dò... nhằm khẳng định vị trí, vai trò của nó vào thế kỷ mới. Quá trình ấy cũng là quá trình đổ máu của các dân lành. Cùng với xu thế nhất thể hoá với sự xuất hiện của các tổ chức nhằm hợp tác, liên minh: song phương, đa phương, khu vực và toàn cầu; cũng còn có một khuynh hướng ngoảnh lưng, đối đầu, dẫn đến những xung đột dân tộc, sắc tộc gắn với tôn giáo xảy ra ở nhiều nơi.

Phải chăng trước bối cảnh trên mà Liên Hợp Quốc đã quyết định lấy năm 1995 là “năm quốc tế về khoan dung”? Dù thế nào đi nữa thì tư tưởng khoan dung vẫn là giá trị đạo đức mang tính nhân loại, nó được đặt ra trước những sự khác biệt về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội... có khả năng dẫn đến những hiềm khích, đối đầu, xung đột. Tư tưởng khoan dung vốn đã xuất hiện từ lâu trong các tôn giáo: Phật giáo, Khổng giáo, Công giáo đều rất coi trọng khoan dung, nhân ái. Nhưng tư tưởng khoan dung chứa đựng trong tôn giáo thường được tư duy thần bí khoác cho “vòng hào quang thần thánh”. Khi xã hội càng phát triển thì tư tưởng khoan dung càng mang tính phổ quát và dần dần bước khỏi giới hạn của thế giới quan và nhân sinh quan tôn giáo để mang tính trần thế.

Khoan dung là tập hợp những quan niệm biện chứng và nhân đạo chủ nghĩa các giá trị tinh thần - nhân văn, các hoạt động xã hội và những hành vi hướng tới cái tốt, cái đẹp trong quan hệ giữa người với người, với thiên nhiên, phê phán cái sai, lên án cái xấu, cái ác, hướng tới chân - thiện - mỹ trên cơ sở bảo toàn sự khác nhau4.

Hồ Chí Minh là một chiến sĩ cách mạng kiệt xuất, một vị anh hùng dân tộc, một danh nhân văn hoá. Người là hiện thân của sự tích hợp văn hoá Đông - Tây, kim - cổ, là biểu trưng cho con người của tương lai. Ở Người hội tụ đủ cả đức từ bi của Phật, lòng bác ái của Chúa, tình nhân nghĩa của Khổng, phương pháp làm việc biện chứng của Mác và tinh thần cách mạng của Lênin. Người để lại cho hậu thế nhiều di sản quý báu, trong đó tư tưởng khoan dung khi nhận thức, đánh giá và ứng xử với tôn giáo là một trong những di sản quý giá ấy.

Tư tưởng khoan dung của Hồ Chí Minh được hình thành trước hết là người đã kế thừa những đặc trưng văn hoá dân tộc, là sự nối tiếp truyền thống khoan dung, hòa hợp tôn giáo Việt Nam, thứ nữa là từ trong bản chất và tính cách của Người.

Nước ta ở vào vị trí thuận lợi cho sự du nhập và giao lưu văn hoá. Người Việt có khả năng giữ gìn bảo lưu văn hoá dân tộc, đồng thời cũng lại có những khả năng chắt lọc, kế thừa những tinh tuý của văn hoá ngoại lai. Cũng nhờ lượng khoan dung ấy mà nước ta lắm tôn giáo, nhiều tín ngưỡng nhưng lại tránh được những thảm hoạ do những cuộc “thánh chiến” gây nên như đã từng diễn ra ở một số nước phương Tây. Truyền thống khoan dung, hoà hiếu được phản ánh khá đậm trong các tôn giáo khiến cho nhiều người nước ngoài vô cùng ngạc nhiên khi thấy Thích Ca Mâu Ni, Khổng Tử, Lão Tử, Khương Tử Nha, Lý Thái Bạch, Đức Quan Thánh, Phật Bà Quan Âm đến Đức Chúa Giêsu cùng ngồi chung một điện thờ trong đạo Cao Đài. Tư tưởng khoan dung đã thấm đượm vào từng con người, xuyên suốt qua nhiều thời kỳ lịch sử, ghi đậm trong dấu ấn văn hoá. Vì lẽ đó mà chế độ phong kiến Việt Nam cho dù thời kỳ này xem một tôn giáo như quốc đạo vẫn không coi những tôn giáo khác

ngoài nó - là “tà đạo”, “dị giáo” như một số nước tôn giáo độc thần, mà ngược lại còn dựa vào các tôn giáo trong cùng một lúc để quản lý xã hội, giáo dục đạo đức, giữ gìn văn hóa. Tôn trọng sự khác biệt giữa các tín ngưỡng, tôn giáo đã là điều đáng khuyến khích, cao hơn nữa ở Việt Nam còn là sự quy tụ gần như đồng nhất. Hiện tượng Tam giáo đồng nguyên là một ví dụ, lại càng phải trân trọng.

____________

1. Chức vụ chuyên trị về ngũ kinh để dạy học trò ở Quốc Tử Giám. Xem Đại Việt sử ký toàn thư. Nxb Văn học, 2006, tr.252.

2. Nhà Nguyễn muốn hạn chế số lượng các nhà sư khi không đủ đức hạnh, trình độ học vấn, mà đi tu chỉ mong tránh làm nghĩa vụ với nhà nước: binh dịch, thuế má.

3. Trần Hồng Liên: Góp phần tìm hiểu Phật giáo Nam Bộ. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004, tr.100-111.

4. Xem Tạp chí Thông tin Lý luận, số 8, 1999, tr.6.

[về đầu trang]


QUAN NIỆM VỀ

“DÂN TỘC THIỂU SỐ”

VÀ “CÁN BỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ” 

HIỆN NAY 

ThS.Lô Quốc Toản

Học viện Chính trị khu vực I,

 Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh 

Cụm từ “dân tộc thiểu số” và “cán bộ dân tộc thiểu số” hiện đang được sử dụng tương đối phổ biến trong các văn bản của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và trong đời sống xã hội. Đây là những khái niệm khoa học liên quan đến vấn đề chính trị - xã hội. Tuy nhiên trong xã hội hiện nay, có lúc có nơi vẫn chưa có cách hiểu thống nhất về cách gọi cũng như nội hàm của nó.

“Dân tộc thiểu số” là một khái niệm khoa học được sử dụng phổ biến trên thế giới hiện nay. Các học giả phương Tây quan niệm rằng, đây là một thuật ngữ chuyên ngành dân tộc học (minority ethnic) dùng để chỉ những dân tộc có dân số ít. Trong một số trường hợp, người ta đánh đồng ý nghĩa “dân tộc thiểu số” với “dân tộc lạc hậu”, “dân tộc chậm tiến”, “dân tộc kém phát triển”, “dân tộc chậm phát triển”… Có nhiều nguyên nhân, trong đó có sự chi phối bởi quan điểm chính trị của giai cấp thống trị trong mỗi quốc gia.

Trên thực tế, khái niệm “dân tộc thiểu số” chỉ có ý nghĩa biểu thị tương quan về dân số trong một quốc gia đa dân tộc. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng dân tộc, thì khái niệm “dân tộc thiểu số” không mang ý nghĩa phân biệt địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc. Địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc không phụ thuộc ở số dân nhiều hay ít, mà nó được chi phối bởi những điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội và lịch sử của mỗi dân tộc.

Vận dụng quan điểm trên vào điều kiện cụ thể của cách mạng nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định quan niệm nhất quán của mình: Việt Nam là một quốc gia thống nhất gồm 54 dân tộc thành viên, với khoảng trên 80 triệu người. Trong tổng số các dân tộc nói trên thì dân tộc Việt (Kinh) chiếm 86,2% dân số, được quan niệm là “dân tộc đa số”, 53 dân tộc còn lại, chiếm 13,8% dân số được quan niệm là “dân tộc thiểu số” trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Khái niệm “dân tộc thiểu số”, có lúc, có nơi, nhất là trong những năm trước đây còn được gọi là “dân tộc ít người”. Mặc dù hiện nay đã có qui định thống nhất gọi là “dân tộc thiểu số”, nhưng cách gọi “dân tộc ít người” vẫn không bị hiểu khác đi về nội dung.

Như vậy, khái niệm “dân tộc thiểu số” dùng để chỉ những dân tộc có số dân ít, chiếm tỷ trọng thấp trong tương quan so sánh về lượng dân số trong một quốc gia đa dân tộc. Khái niệm “dân tộc thiểu số” cũng không có ý nghĩa biểu thị tương quan so sánh về dân số giữa các quốc gia dân tộc trên phạm vi khu vực và thế giới. Một dân tộc có thể được quan niệm là “đa số” ở quốc gia này, nhưng đồng thời có thể là “thiểu số” ở quốc gia khác. Chẳng hạn người Việt (Kinh) được coi là “dân tộc đa số” ở Việt Nam, nhưng lại được coi là “dân tộc thiểu số” ở Trung Quốc (vì chỉ chiếm tỉ lệ 1/55 dân tộc thiểu số của Trung Quốc); ngược lại người Hoa (Hán), được coi là “dân tộc đa số” ở Trung Quốc, nhưng lại là dân tộc thiểu số ở Việt Nam (người Hoa chiếm tỉ lệ 1/53 dân tộc thiểu số của Việt Nam). Rõ ràng, quan niệm về “dân tộc thiểu số” và “dân tộc đa số” cũng như nội hàm của chúng hiện nay còn có những vấn đề chưa thống nhất và nó cũng được vận dụng xem xét rất linh hoạt trong từng điều kiện cụ thể, tuỳ theo quan niệm và mối quan hệ so sánh về dân số của mỗi quốc gia dân tộc. Song, những nội dung được quan niệm như đã phân tích ở phần trên về cơ bản là tương đối thống nhất không chỉ ở nước ta mà trong cả giới nghiên cứu dân tộc học trên thế giới.

Về khái niệm “cán bộ dân tộc thiểu số”, hiện nay cũng được dùng tương đối phổ biến ở nước ta. Để hiểu được khái niệm này, trước hết, chúng ta phải thống nhất khái niệm về “cán bộ”. Trong bài nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hoá ngày 20-2-1947, Bác Hồ có viết: “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt. Cán bộ là những người đem chính sách của Chính Phủ, của Đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách dù hay cũng không thể thực hiện được”1.

Trong cuốn “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa nhấn mạnh: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng”2.

Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm: cán bộ là những nhân viên công tác cơ bản trong một tổ chức. Cán bộ là con người - là những cá nhân có trách nhiệm, có tư cách cụ thể, rõ ràng, gắn với một tổ chức nhất định. Khi tách rời tổ chức đó, người cán bộ sẽ mất đi tư cách của mình, khái niệm cán bộ sẽ không còn ý nghĩa.

Theo quan niệm của Đảng ta hiện nay, “cán bộ” được hiểu là những người công tác trong một tổ chức xác định của hệ thống chính trị, bao gồm: bộ máy Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị, có trách nhiệm và nghĩa vụ tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, tận tuỵ phục vụ nhân dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì lợi ích của Đảng và dân tộc. Để trở thành cán bộ, mỗi cá nhân phải rèn luyện và học tập theo những tiêu chuẩn quy định, giữ vững phẩm chất, tư cách, tự tu dưỡng và trau dồi đạo đức cách mạng.

Trên cơ sở hai khái niệm: “dân tộc thiểu số” và “cán bộ”, về thực chất cho thấy, “cán bộ dân tộc thiểu số” là tập hợp của hai khái niệm “cán bộ” và “dân tộc thiểu số”. Đây là một khái niệm kép. Khái niệm này dùng để chỉ những người đang công tác trong các cơ quan, đơn vị thuộc hệ thống chính trị có thành phần xuất thân là các dân tộc thiểu số trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Tiêu chí để phân biệt “cán bộ dân tộc thiểu số” trong “đội ngũ cán bộ” của hệ thống chính trị là thành phần dân tộc xuất thân của người cán bộ đó thuộc “dân tộc đa số” hay “dân tộc thiểu số”. Tiêu chí đó không có ý nghĩa phân biệt trình độ, năng lực hay địa vị xã hội của người cán bộ. Khi đã trở thành cán bộ thì dù có xuất thân từ “dân tộc đa số” hay “dân tộc thiểu số” đều phải đảm nhận những công việc được giao phó và đều phải có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện cần thiết đối với mỗi cương vị công tác của mình.

Từ những phân tích như trên, có thể đi đến một quan niệm chung về “Cán bộ dân tộc thiểu số” như sau:

“Cán bộ dân tộc thiểu số” là những người công tác trong một tổ chức xác định của hệ thống chính trị, có thành phần xuất thân từ các dân tộc thiểu số Việt Nam; có trách nhiệm, quyền hạn nhất định được tổ chức và nhân dân giao phó; có trình độ và năng lực đáp ứng các yêu cầu của nhiệm vụ được giao; có phẩm chất đạo đức cách mạng; có nghĩa vụ tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, tận tuỵ phục vụ nhân dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì lợi ích tối cao của Đảng, của Tổ quốc và nhân dân”.

Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về công tác dân tộc có sử dụng đồng thời hai khái niệm: “Cán bộ người dân tộc thiểu số” và “cán bộ dân tộc thiểu số”. Một số Văn kiện khác của Đảng và của Nhà nước cũng sử dụng tương tự như vậy. Về thực chất, đây là hai cụm từ đồng nghĩa, cùng chỉ chung đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số, chúng có thể thay thế cho nhau khi dùng.

Trong thực tế còn bắt gặp khái niệm “Đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số”. Đây là khái niệm dùng để chỉ một tầng lớp người có năng lực, trình độ nhất định, có phẩm chất đạo đức cách mạng và có năng lực hoàn thành trách nhiệm được giao trong các dân tộc thiểu số hiện nay. Nhìn chung, đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số từ cấp huyện trở lên, đa số đã có trình độ học vấn cao đẳng, đại học và trên đại học. Vì vậy, cũng có thể xếp họ thuộc đội ngũ trí thức dân tộc thiểu số. Dù vậy, so với yêu cầu để phát triển kinh tế - xã hội miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số thì lực lượng cán bộ là người dân tộc thiểu số tại chỗ hiện nay vẫn còn quá ít và có nhiều hạn chế.

Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường căn dặn “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, chính vì vậy “phải chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, cất nhắc cán bộ miền núi” để anh em có thể vươn lên tự đảm đương được công việc quản lý ở địa phương. Chỉ có làm được như vậy chúng ta mới tạo ra được một đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số có đủ đức, đủ sức và đủ tài đảm đương được yêu cầu, nhiệm vụ, mau chóng đưa miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số phát triển và hoà nhập với sự phát triển chung của đất nước, thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước.q

_________________

1, 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2002, t.5, tr.54, 269.

[về đầu trang


 

ĐOÀN KẾT LÀ SỨC MẠNH VÔ ĐỊCH

TRONG KHỞI NGHĨA THÁNG 8-1945

Ở SÀI GÒN - CHỢ LỚN

 

PHẠM BÁ NHIỄU

Phòng Quản lý Báo chí - Ban Tuyên giáo Thành uỷ thành phố Hồ Chí Minh. 

Cuộc tổng khởi nghĩa đồng loạt của nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn và tỉnh Gia Định giành chính quyền về tay nhân dân sáng ngày 25-8-1945 thắng lợi hoàn toàn, Sài Gòn hầu như được nguyên vẹn, là sự chuẩn bị nhiều mặt của Đảng bộ, lực lượng yêu nước thành phố. Để đi tới cuộc Tổng khởi nghĩa đó, ngoài những hy sinh to lớn của quần chúng nhân dân, những lực lượng nhân sĩ yêu nước đóng vai trò rất quan trọng.

Với khí thế sục sôi cách mạng của quần chúng trước cuộc khởi nghĩa, Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ Trần Văn Giàu cùng các Xứ ủy viên còn lại phải bàn tính mọi cách, mọi kế để chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa nổ ra tránh đổ máu và giành thắng lợi, đặc biệt trong tình hình Sài Gòn đang có hàng ngàn binh lính Nhật có đầy đủ vũ khí, trang bị nhà binh. Tháng 7-1945, đồng chí Lý Chính Thắng, mang theo Nghị quyết của Hội nghị toàn quốc của Đảng ta do đồng chí Nguyễn Ái Quốc chỉ đạo vượt qua bao vòng vây nguy hiểm về đến Sài Gòn. Trước đó, tháng 6-1945, đồng chí Dương Bạch Mai, đang hoạt động ở Bà Rịa - Vũng Tàu cũng về tham gia phong trào ở Sài Gòn - Chợ Lớn. Đồng chí Trần Văn Giàu và Hà Huy Giáp cùng bàn với các đồng chí trong Xứ uỷ Nam Kỳ còn lại thống nhất lấy tên chính quyền sau khi Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi là “Lâm uỷ hành chánh Nam bộ”. Tình hình càng diễn biến nhanh ở Sài Gòn - Chợ Lớn sau khi Thanh niên Tiền phong, mà bác sĩ Phạm Ngọc Thạch là người chủ xướng tuyên bố công khai ra cùng nhân dân đấu tranh và tuyên bố cùng những khẩu hiệu hành động cụ thể.

 Ngày 20-8-1945, Mặt trận Việt Minh ra hoạt động công khai ngay ở thành phố. Thanh niên Tiền phong tuyên bố đứng vào hàng ngũ Mặt trận Việt Minh và đưa ra những khẩu hiệu hành động để cùng đứng lên khởi nghĩa.

 Sáng ngày 21-8-1945, sau khi được tin Hà Nội khởi nghĩa thắng lợi vào ngày 19-8, Hội nghị mở rộng Xứ ủy Tiền Phong lại nhóm họp, với sự tham gia của nhiều nhân sĩ, trí thức yêu nước. Tại Hội nghị này ý tưởng có thể cho Sài Gòn Tổng khởi nghĩa vào đêm 22-8, nhưng nhiều ý kiến phân tích chưa đúng thời cơ, nên không tán thành khởi nghĩa. Xứ ủy tiếp tục phân tích tình hình, so sánh lực lượng giữa ta và Nhật ở Bắc và trong Nam, cho rằng quân đồng minh sẽ “rút kinh nghiệm” ở Hà Nội, để lệnh cho Nhật đàn áp khởi nghĩa Sài Gòn nếu nổ ra sớm. Cuối cùng theo đề nghị của Bí thư Xứ uỷ Trần Văn Giàu, Tỉnh ủy Tân An (nay là tỉnh Long An) lãnh nhiệm vụ khởi nghĩa “thí điểm” vào đêm 22, rạng sáng 23-8-1945. Quân khởi nghĩa đã chiếm tỉnh lỵ và giữ hai chiếc cầu huyết mạch là Bến Lức và Tân An.

Đêm 24-8-1945, tại Sài gòn - Chợ Lớn và các tỉnh Gia Định, Tân Bình, Chợ Lớn, Mỹ Tho, Biên Hòa, Bến Tre, Tân An, Thủ Dầu Một… từng đoàn quần chúng cách mạng bao gồm: công nhân, nông dân, thanh niên, có tổ chức mang theo giáo mác, tầm vông vạt nhọn… bằng mọi phương tiện kéo về nội thành Sài Gòn để tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền vào sáng hôm sau. Đoàn viên công đoàn và Thanh niên Tiền phong đã có mặt khắp mọi nơi sẵn sàng chiếm lĩnh những mục tiêu được phân công. 19 giờ tối đến 22 giờ đêm ngày 24-8-1945, quân khởi nghĩa tiến vào và chiếm giữ các sở cảnh sát, nhà ga, bưu điện, nhà đèn, các quận, bót… Tráng đoàn Lê Lai thuộc Thanh niên Tiền phong chiếm dinh Khâm Sai. Cờ quẻ ly bị hạ xuống, cờ đỏ Sao Vàng được kéo lên. Cuộc chiếm “Soái Phủ Nam kỳ” không vấp phải sự kháng cự nào của địch, vì hầu hết các viên chức cao cấp đều tham gia Thanh niên Tiền phong. Riêng tại sở Mật thám (lúc này gọi là lính kín) Catinat, còn có sự chống cự của thực dân Pháp một cách yếu ớt, nhưng liền bị lực lượng khởi nghĩa ta đè bẹp ngay.

 Sáng 25-8-1945, tại quảng trường Nhà thờ Đức Bà (Quận I ngày nay) đông đảo quần chúng nhân dân tập trung mít tinh; Cờ đỏ Sao Vàng tràn ngập đường phố, phấp phới bay hiên ngang trên các công sở; nhạc công đánh bài Quốc tế ca vang dội (vì anh em tưởng lầm đó là bài Quốc ca)1 ; những tiếng hô khẩu hiệu : “Việt Nam hoàn toàn độc lập!” “Tất cả chính quyền về tay Việt Minh!”, “Mặt trận Việt Minh muôn năm!”, “Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm!” “Độc lập hay là chết!” vang dội tạo nên một khí thế chuyển động khắp cả Sài Gòn và truyền đi cả Nam Bộ.

Lúc này ở Sài Gòn, Thanh niên Tiền phong, Thanh niên Giải phóng, các tổ chức nông dân, phụ nữ cứu quốc, các tờ báo do những nhân sĩ, trí thức yêu nước Sài Gòn phụ trách… đều đóng vai trò lớn trong vận động tập hợp hàng chục vạn quần chúng cách mạng tham gia Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, với ý chí, quyết tâm lớn lao, cùng vì mục tiêu độc lập dân tộc.

Như vậy, cuộc khởi nghĩa đã thành công nhanh chóng, trọn vẹn và không phải đổ máu trong toàn thành phố. Vào lúc này, các tờ báo công khai tại Sài Gòn đã đồng loạt đăng tường thuật và bình luận về sự kiện các cuộc biểu tình diễn ra trước ngày 25-8, làm cho cả thành phố hừng hực khí thế cách mạng. Báo Thanh niên Tiền phong số ra đầu tháng 9-1945 cho biết: “cuộc biểu tình của toàn thể dân chúng Việt, quyết ủng hộ triệt để Mặt trâïn Việt Minh đã nhất định vào sáng thứ Bảy ngày 25-8-1945, để biểu dương sự đồng tâm hiệp lực của dân tộc trên Mặt trận dân chủ duy nhất. Tới 5 giờ sáng thì tất cả những công sở và dinh thự đều bị Thanh niên Tiền phong chiếm và mang khí giới giữ cẩn thận dưới lá cờ cách mạng của Mặt trận Việt Minh…

Sau cuộc tổng khởi nghĩa giành thắng lợi, Lâm uỷ hành chánh Nam bộ do đồng chí Trần Văn Giàu làm Chủ tịch, đã đổi tên là Uỷ ban nhân dân Nam bộ do đồng chí Phạm Văn Bạch làm Chủ tịch ra mắt nhân dân. Uỷ ban nhân dân Thành phố do đồng chí Kha Vạng Cân là Chủ tịch đầu tiên. Đây là những nhân sĩ yêu nước Sài Gòn đã sát cánh cùng quần chúng nhân dân lãnh đạo cuộc đấu tranh trong lòng thành phố để giành thắng lợi trong Tổng khởi nghĩa sáng ngày 25-8-1945.

Trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945, bài học về sức mạnh đại đoàn kết là một nhân tố tối quan trọng. Bài học này còn tiếp tục được phát huy trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ sau này. Từ thực tiễn cuộc khởi nghĩa Tháng 8-1945 của Sài Gòn - Chợ Lớn thắng lợi có thể rút ra đôi điều bổ ích:

- Một là, sức mạnh và ý chí đại đoàn kết của nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn có nguồn gốc sức mạnh từ phát huy lòng yêu nước, ý chí bất khuất trong đấu tranh giữ nước và dựng nước của dân tộc Việt Nam. Khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân ở Sài Gòn - Chợ Lớn năm 1945 càng chứng tỏ một dân tộc dù nhỏ nhưng nếu biết đoàn kết mọi lực lượng yêu nước, tất cả mọi giai cấp, dân tộc, đi theo Đảng và đấu tranh trung thành hết mình với Đảng, kể cả hy sinh tính mạng của riêng mình vì sự nghiệp của Đảng và dân tộc thì nhất định sự nghiệp cách mạng sẽ thành công.

- Hai là, chủ trương và quyết sách của Đảng bộ Sài Gòn đi đúng hướng chỉ đạo của Trung ương Đảng, có sự vận dụng sáng tạo từ thực tiễn phong trào cách mạng của thành phố. Nhờ vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Đảng bộ thành phố mà đã tập trung, quy tụ được đông đảo lực lượng yêu nước, phát huy sức mạnh to lớn của quần chúng để giành lấy chính quyền toàn vẹn về tay nhân dân.

- Ba là, chớp thời cơ cách mạng là yếu tố trọng yếu của Sài Gòn - Chợ Lớn và cả Nam Bộ. Từ đúng thời cơ, Đảng bộ đã huy động đông đảo nhất lực lượng yêu nước, nhân sĩ, trí thức, các đoàn thể yêu nước không phân biệt tôn giáo, dân tộc; đưa đến cuộc cách mạng thành công không phải đổ máu, giành chính quyền trọn vẹn về tay nhân dân.

- Bốn là, tính tổ chức, ý chí chấp hành tổ chức, kỷ luật trong toàn Đảng bộ Sài Gòn - hạt nhân trung tâm của Xứ ủy Nam Bộ không chỉ là một bài học trong kháng chiến mà còn có tác dụng cho cả hòa bình xây dựng ?ất nước hôm nay. Từ chủ trương không Tổng khởi nghĩa khi thời cơ chưa chín muồi, đến cho Tân An làm thí điểm để rút ra kinh nghiệm huy động lực lượng cách mạng, làm hạt nhân từ các phong trào cách mạng đông đảo của nông dân, nhân sĩ trí thức yêu nước… đã làm nên một sức mạnh không có thế lực nào ngăn cản được. Tổ chức chặt, quần chúng được huy động tổ chức thành lực lượng chặt chẽ vì phong trào do Đảng bộ, do Mặt trận yêu nước đi đầu luôn là một bài học lớn cho Đảng ta.

“Sài Gòn cùng cả nước, vì cả nước”, Sài Gòn đã và luôn xứng đáng là một thành phố kiên cường, bất khuất trong giữ nước và dựng nước. Sự kiện giành chính quyền toàn thắng về tay nhân dân từ tháng Tám mùa Thu 1945 - đã làm nền móng cho những thắng lợi vẻ vang đến ngày nay và mãi mai sau.

[về đầu trang

 

LỊCH SỬ MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT VIỆT NAM (1930 - 2004)

MỘT CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ Ý NGHĨA THIẾT THỰC

 

LTS: Công trình khoa học độc lập cấp Nhà nước về: “Quá trình hình thành và phát triển của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam” do Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì và chịu trách nhiệm việc nghiên cứu, xuất bản; PGS-TS Trần Hậu, Uỷ viên Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là Chủ biên Công trình, đã được Hội đồng khoa học cấp Nhà nước tổ chức nghiệm thu cuối năm 2006, đầu năm 2007. Công trình bao gồm: 3 tập Văn kiện Đảng về Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam, 3 tập Biên niên sự kiện Lịch sử Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam và 3 tập Lịch sử Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam.

Để giúp bạn đọc có thể nghiên cứu, tìm hiểu dễ dàng và có hệ thống toàn bộ công trình, Ban Biên tập Tạp chí Mặt trận xin trân trọng đăng bài giới thiệu của Chủ biên Công trình từ Tạp chí số này (giới thiệu chung) cùng Tạp chí Mặt trận các số 48, 49 và 50. Với mỗi số Tạp chí Mặt trận tiếp theo sẽ giới thiệu 1 tập, tương ứng với một giai đoạn lịch sử phát triển của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam.

BAN BIÊN TẬP

 

Tại Hội nghị lần thứ 8 Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (Khoá VI), Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã công bố bộ sách 3 tập “Lịch sử Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam (1930 - 2004)”, và báo cáo kết quả nghiên cứu lịch sử Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam với hệ thống sản phẩm đầy đủ gồm 3 tập Văn kiện Đảng về Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam, 3 tập Biên niên sự kiện Lịch sử Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam và 3 tập lịch sử Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam, đã được Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản cuối năm 2006, đầu năm 2007.

Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam sáng lập và lãnh đạo, đã có lịch sử vẻ vang gần một thế kỷ. Lịch sử Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam là một pho sử vô cùng quý giá, là niềm tự hào và là bài học cho nhiều thế hệ người Việt Nam. Tổng kết lịch sử 75 năm của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam là một chủ trương lớn, nhưng là công tác khó khăn. Ban chỉ đạo Công trình đã chỉ đạo việc nghiên cứu, được sự cộng tác của nhiều cơ quan và cá nhân trong cả nước, do sự cố gắng của Ban biên soạn, bộ Lịch sử Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam gồm 3 quyển được biên soạn một cách công phu, nghiêm túc và xuất bản trên cơ sở hoàn thiện Công trình khoa học độc lập cấp Nhà nước có tên “Quá trình hình thành và phát triển Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam”, đã được Hội đồng khoa học cấp Nhà nước nghiệm thu. Công trình đã phản ánh được những nét lớn của lịch sử Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam, thể hiện tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, chủ trương, đường lối về Mặt trận của Đảng, giới thiệu các phong trào Mặt trận chủ yếu, làm rõ thực trạng, nguyên nhân, bài học kinh nghiệm của Mặt trận qua các thời kỳ lịch sử trong suốt 75 năm, từ năm 1930 đến năm 2004.

Quá trình xây dựng và phát triển Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam là quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam - một nước thuộc địa, nửa phong kiến để tập hợp và xây dựng lực lượng đấu tranh thông qua các hình thức Mặt trận Dân tộc Thống nhất khác nhau qua các thời kỳ. Đó còn là quá trình Mặt trận Dân tộc Thống nhất không ngừng tìm tòi nội dung, bước đi, hình thức tổ chức với nhiều tên gọi khác nhau, với các phương thức hoạt động phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng của từng giai đoạn: từ lúc hoạt động bí mật cho đến khi hoạt động công khai, từ vùng tự do cho đến vùng tạm bị chiếm, từ trong điều kiện hoà bình cho đến lúc có chiến tranh, từ khi đất nước bị chia cắt làm hai miền với hai nhiệm vụ chiến lược khác nhau cho đến khi Tổ quốc thống nhất, cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội. Quá trình ra đời, phát triển của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam gắn liền với bối cảnh xã hội Việt Nam, vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, có cả những khuyết điểm, thiếu sót, nhưng nổi trội hơn cả vẫn là những thành tựu vẻ vang, mãi mãi ghi vào lịch sử dân tộc ta những trang chói lọi và để lại cho ngày nay những bài học kinh nghiệm quý báu về phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, tập hợp mọi người Việt Nam yêu nước trong mặt trận rộng rãi để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng một nước chậm phát triển.

Trong quá trình nghiên cứu sự hình thành và phát triển của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam, công trình đã tìm tòi, khai thác, nghiên cứu các tư liệu lịch sử phong phú về những quan điểm, tư tưởng, nhận thức về Mặt trận thể hiện trong các nghị quyết của Đảng, các bài viết và nói của lãnh tụ Hồ Chí Minh và các nhà lãnh đạo khác; khai thác và nghiên cứu các nguồn tư liệu phản ánh những hoạt động đa dạng của các phong trào Mặt trận nói chung và các phong trào Mặt trận của các giới khác nhau nói riêng (công nhân, nông dân, trí thức, thanh niên, phụ nữ...) diễn ra qua các thời kỳ ở khắp các vùng miền từ khi ra đời (18-11-1930) đến Đại hội lần thứ VI của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2004). Công trình còn khai thác hồi ký của các nhà cách mạng lão thành của Đảng, Nhà nước, các nhà lãnh đạo Mặt trận, các cá nhân tiêu biểu, đồng thời cũng tham khảo một số tư liệu ở nước ngoài... Từ những nguồn tư liệu phong phú, đa dạng, Công trình đã phân loại, chọn lọc và đã vận dụng các phương pháp kết hợp lịch sử với lôgíc, phân tích, so sánh, diễn giải, quy nạp và phương pháp hệ thống... để rút ra những nội dung cần thiết.

Vấn đề xuyên suốt qua các thời kỳ lịch sử Mặt trận là, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã xử lý linh hoạt mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp. Từ sự phân tích thực tế cơ cấu xã hội, cơ cấu giai cấp ở nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thông qua Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam - một tổ chức rộng rãi linh hoạt, trong đó có thể kết hợp hài hoà lợi ích dân tộc và giai cấp, nhằm tập hợp rộng rãi mọi người Việt Nam yêu nước, hình thành lực lượng cách mạng vĩ đại, vượt qua mọi trở ngại, đưa sự nghiệp cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong quá trình đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo xây dựng, củng cố, phát triển các tổ chức Mặt trận, phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận thông qua vai trò vừa là tổ chức thành viên vừa là lãnh đạo của Mặt trận.

Lịch sử 75 năm Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam ghi nhiều dấu mốc quan trọng, tiêu biểu cho từng chặng đường phát triển. Bộ lịch sử biên soạn lần này đã tập trung phản ánh lịch sử Mặt trận trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ và những thập kỷ đầu của thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trên cơ sở những nguyên tắc chỉ đạo về biên soạn lịch sử Mặt trận và theo khả năng cho phép, bộ Lịch sử Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam được chia thành

3 quyển:

- Quyển I (1930 - 1954): Phản ánh lịch sử Mặt trận từ khi thành lập (năm 1930) đến khi giải phóng hoàn toàn miền Bắc (năm 1954). Đó là giai đoạn tiến hành cuộc vận động để thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam, qua các phong trào Mặt trận, tiến tới thành lập Mặt trận Việt Minh, đoàn kết toàn dân tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trải qua 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, giải phóng hoàn toàn miền Bắc, làm cơ sở cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước.

- Quyển II (1955 - 1975): Phản ánh lịch sử các tổ chức Mặt trận ở hai miền Bắc - Nam đã tập hợp, đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế, xây dựng miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Đây là giai đoạn Mặt trận hai miền phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết dân tộc của cả nước thực hiện thắng lợi đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn ác liệt, góp phần thống nhất đất nước.

- Quyển III (1975 - 2004): Phản ánh hoạt động của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam của cả nước, với tên gọi cụ thể Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đã tập hợp đoàn kết toàn dân vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, tiến hành công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đây là giai đoạn tìm tòi đổi mới tư duy về đại đoàn kết dân tộc và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, mở ra thời kỳ đổi mới có nhiều thành tựu, nhưng cũng đặt ra nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác Mặt trận trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội còn cần phải tiếp tục nghiên cứu.

Tôn trọng sự thật lịch sử, công trình không chỉ phản ánh những thành tựu, ưu điểm, mà còn phản ánh những hạn chế, khuyết điểm, những sự tìm tòi trăn trở với những ý kiến có thể còn khác nhau.

Công trình này được hoàn thành là nhờ sự đóng góp của nhiều tổ chức và cá nhân, như: Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Viện Lịch sử Đảng thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử quân sự, Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Bảo tàng Hồ Chí Minh, các cơ quan lưu trữ, thư viện, cơ quan nghiên cứu... của một số bộ, ban, ngành và của các thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Đà Nẵng; các vị lão thành cách mạng, các vị lãnh đạo Mặt trận đương chức và đã nghỉ hưu; các vị nhân sĩ, trí thức, kiều bào; các nhà khoa học và nhiều tổ chức, cá nhân khác.

Sau khi đã xuất bản bộ Biên niên sự kiện lịch sử Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam gồm 3 tập (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004), Bộ Văn kiện Đảng về Mặt trận Dân tộc Thống nhất gồm 3 tập (từ 1930 - 2004) do Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản, việc xuất bản bộ Lịch sử Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, 2007) lần này đã hoàn thành hệ thống các sản phẩm của Công trình nghiên cứu lịch sử Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam theo chủ trương của Ban Thường Trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Lần đầu tiên tiến hành nghiên cứu lịch sử 75 năm của Mặt trận nên khó tránh khỏi những hạn chế cũng như chưa phản ánh hết lịch sử phong phú của Mặt trận, và có thể còn những ý kiến cần phải được thảo luận... Bước đầu, công trình này góp phần khẳng định vị trí, vai trò của Mặt trận trước đây và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày nay trong quá trình đấu tranh lâu dài, gian khổ nhưng đã giành nhiều thắng lợi vẻ vang của dân tộc ta do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

Nhìn lại chiều dài lịch sử, nhân dân ta và những người làm công tác Mặt trận tràn đầy tin tưởng và tự hào về truyền thống vẻ vang của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam. Trên cơ sở đó, bộ sách này cũng góp phần tích cực vào việc giáo dục truyền thống yêu nước và truyền thống cách mạng cho các tầng lớp nhân dân ta và đóng góp kinh nghiệm quý cho việc xây dựng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hôm nay ngày càng vững mạnh để tích cực đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới. Những kinh nghiệm trong lịch sử Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam của những năm đấu tranh giành độc lập và giải phóng đất nước là rất phong phú, sinh động, song những kinh nghiệm của lịch sử Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam trong những năm xây dựng đất nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa thì mới chỉ là bắt đầu, còn rất khiêm tốn, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam trong giai đoạn mới hôm nay đang đòi hỏi tiếp tục tìm tòi, nghiên cứu, tổng kết.

(Còn nữa)

[về đầu trang

 
 
 
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TẠP CHÍ MẶT TRẬN

Cơ quan chủ quản : UỶ BAN TRUNG ƯƠNG MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
Hội đồng biên tập: Chủ tịch Hội đồng Nhà báo Lê Truyền, GS Phan Hữu Dật, GS Phan Đình Diệu, Nhà báo Đỗ Phượng, GS-VS Nguyễn Duy Quý, GS Văn Tạo, Nhà báo Trần Trọng Tân, GS Lý Chánh Trung, Nhà báo Hoàng Tùng, GS Đặng Nghiêm Vạn.
Tổng Biên tập : TS Nguyễn Quang Du, Phó Tổng Biên tập : Bùi Thượng Toản.
Toà soạn : 46 Tràng Thi - Hoàn Kiếm - Hà Nội, Điện thoại: 04-9287010
E-Mail : tapchi@mattran.org.vn, tapchi_mattran@vol.vnn.vn , Website : WWW.MATTRAN.ORG.VN