Ðặt làm trang chủ

    Google   

                 | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ |   

             | Hộp Thư |
     

 
 

 



   


              
 


HUỲNH THÚC KHÁNG - NHÀ CHÍ SĨ YÊU NƯỚC

                                                                                                 ĐINH ĐỨC HIỀN*

     Vùng đất Quảng Nam trải dài theo lịch sử của đất nước với bao thăng trầm. Trên miền đất lửa này đã có không ít những con người vĩ đại. Họ đã sống và cống hiến trọn đời mình cho quê hương đất nước. Huỳnh Thúc Kháng là một trong những con người như thế.

Toàn bộ sự nghiệp và chặng đường hoạt động cách mạng của Huỳnh Thúc Kháng, nhất là trong phong trào Duy Tân, khi ông ra làm Viện trưởng Nhân dân đại biểu Trung kỳ, chủ bút báo Tiếng Dân, cho đến sau này là Bộ trưởng Bộ Nội vụ và quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa… lúc nào ông cũng đấu tranh cho quyền lợi của nhân dân và dân tộc.

Từ người chiến sĩ yêu nước của nhân dân...

Huỳnh Thúc Kháng sinh ngày 1-10-1876 (năm Tự Đức thứ 26 - Bính Tý), tại làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, huyện Tâân Phước,  phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Với ý chí nỗ lực, tinh thần hiếu học và sự thông minh vốn có, ông đã nhanh chóng được nhiều người biết đến. Khi mới 13 tuổi, đã biết làm văn, 16 tuổi đã đi thi Hương, 29 tuổi đỗ Tiến sĩ và nổi danh là một trong ba người hay chữ nhất ở kinh đô Huế vào thời kỳ đó.

Khi nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của chí sĩ yêu nước Huỳnh Thúc Kháng, chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng, bản thân ông vốn không phải là một nhà tư tưởng, nhà nghiên cứu lý luận, có chăng ông chỉ đơn thuần là một nhà văn, nhà cách mạng, một chiến sĩ yêu nước “tận trung với nước, tận hiếu với dân”, dấn thân mình làm “vị thuốc đắng của đồng bào, người bạn ngay của Chính phủ”. Song, với tấm lòng son sắt của một nhà cách mạng hết lòng vì dân, luôn trăn trở cho vận nước và dân tộc, nên đối với Huỳnh Thúc Kháng, quần chúng nhân dân và vai trò của họ bao giờ cũng được ông hết sức xem trọng.

Dân là ai? Họ có vai trò như thế nào? Huỳnh Thúc Kháng chưa bao giờ nói rõ ràng, thế nhưng, dường như mọi công việc ông đã làm đều lấy dân làm gốc và xuất phát từ quyền lợi chính đáng của người dân. Chẳng hạn, trong Tiếng Dân, số 2, ra ngày 13-8-1927, ông khẳng định: “Dân là đầu mối của nước... Nếu chánh phủ biết rõ những nguyện vọng sâu xa của dân thì cần gì đối xử bất công với Tiếng Dân như đã từng đối xử với vài tờ báo đã ra mắt gần đây và đã bị đóng cửa”. Tiếp đến, trong bài: “Nghĩa chữ dân” trên báo Tiếng Dân, số ra vào năm 1928 ông đã viết: “Khắp trong thế giới, chữ Dân đã hiện thành một chữ rất to lớn. Nét ngang, sổ dọc, đá ngược, vác xiên, sáng chói rõ ràng như mặt trời treo giữa khoảng không, gom tóm cả loài người trên mặt địa cầu, thâu vào dưới bóng sáng đó”.

Đồng thời, khi xác định giá trị của quần chúng nhân dân, trong bài báo “Sao gọi là trị an” ngày 25-5-1929, ông đã chỉ rõ: “Một số người ấy là ai?... thuộc về số ít tức là vua, mà vua không thể lấy một mình mà gánh cả trăm ngàn công việc nên phải chọn người trung thành, tài cán, đặt quan, chia chức để giúp việc cho mình. Thuộc về số đông tức là dân, mà dân càng không thể mỗi người đều ra làm hết công việc, nên phải chọn người xứng đáng để thay việc cho mình”.

Như vậy, trong tư tưởng của Huỳnh Thúc Kháng, quần chúng nhân dân là lực lượng hùng mạnh và to lớn, người làm quan phải do nhân dân bầu chọn, được nhân dân ủy thác, giao phó trách nhiệm làm những công việc chung nhằm phục vụ cho họ. Có lẽ cũng vì vậy, đối với nhân dân, ông không phải là một con người huyền thoại hay một chính khách, một Quyền Chủ tịch nước xa rời nhân dân.

...Đến tinh thần bảo vệ Dân quyền trong tư tưởng Huỳnh Thúc Kháng

Huỳnh Thúc Kháng không có hệ thống các quan điểm, tư tưởng nhân quyền, dân quyền, song  những vấn đề này thường được ông rất quan tâm và đề cập đến ở nhiều khía cạnh khác nhau. Đó là những vấn đề về quyền tự quyết dân tộc, quyền tự do ngôn luận, quyền bình đẳng nam nữ, quyền được giáo dục của người dân... Chúng thường được ông đề cập và minh chứng bằng những nét cụ thể, sâu sắc và luôn gắn với chính thực tiễn của xã hội đương thời.

Chẳng hạn, khi đề cập đến mối quan hệ giữa quyền dân với quyền nước, trong Tiếng Dân số 190, ngày 13-7-1930, ông khẳng định:

“Dân không quyền dân sống được đâu,
Không quyền là ngựa, là trâu
Dân đà đến thế nước đâu được còn…”

Theo ông, không một ai có thể dựa vào lý do gì mà phủ nhận giá trị cao cả của quyền dân trong sinh hoạt nói chung của loài người: “Bây giờ chữ dân cũng chiếm cả toàn thể, thì sức mạnh chân lý ra thế nào ai cũng thấy… lá cờ nhân đạo đã phất phơ trước mặt… trên địa cầu này “dân” chính là vị chủ nhân, không ai giành được mà không ai cãi được… Cái nghĩa chân chính của chữ dân từ đây về sau, như mặt trời mới mọc, rồi ra không mây mù gì che đậy cả”1.

Huỳnh Thúc Kháng cũng đặc biệt quan tâm đến quyền tự do ngôn luận, nhất là trong thời gian ông làm chủ bút báo Tiếng Dân, ông luôn đấu tranh cho quyền tự do ngôn luận của dân tộc, ông viết: “Ở nước ta có quyền tự do ngôn luận hay không? Xét về phương diện pháp luật thì ở nước ta, vô luận là hạng ngôn luận nào, đều chẳng có một chút tự do gì cả… Cái tiếng tự do ngôn luận ở xã hội hiện thời, chỉ là một tiếng trống không, vô luận là hạng người nào, cũng đều là không được tự do ngôn luận. Ngôn luận của người bản xứ, trừ một số “xu thời mưu lợi”, bị con ma kim tiền và thế lợi nó ám ảnh mà phải bỏ cái nhân cách mình mà mạo cái nhân cách khác, viết mà không phải ý của mình, nói mà không phải lời của mình, thực không có chút gì gọi là tự do, còn những nhà không vì danh, không vì lợi, lòng son máu nóng, chan chứa vì nòi giống non sông, nhưng lại bị cái lưới pháp luật bủa vây, muốn nói mà không được nói, tư tưởng không thể bày tỏ tự do, điều ấy không phải nói nữa. Đến những hạng ngôn luận mà bề ngoài phần nhiều người vẫn cho là tự do, nếu xét nội dung và ẩn tình thì thực chẳng có chút gì tự do cả… Ôi! Ngôn luận tự do! Đến bao giờ ngôn luận tự do mới thực là xuất hiện”2.

Từ đó, ông đi đến tố cáo sự giả nhân, giả nghĩa của bọn thống trị, và đã khẳng định rằng: “Trong xã hội hiện tại, nói gì thì nói người dân cũng không có quyền ăn nói trước công chúng. Nếu là tự do ngôn luận lại càng bó buộc. Cho nên quyền ấy không có, không bao giờ có thể xuất hiện được dưới quyền bảo hộ của người Pháp”3.

Riêng đối với vấn đề bình đẳng nam nữ, ở Huỳnh Thúc Kháng về phương diện chính trị xã hội không có vấn đề nam nữ mà chỉ có con người, ông không chỉ coi giá trị nam nữ ngang nhau mà lắm lúc còn đặt nặng thực chất vai trò của người phụ nữ. Tìm hiểu công việc giáo dục của phong trào Duy Tân chúng ta sẽ thấy điều này thể hiện rất rõ, chẳng hạn: Trong các lớp học nam và nữ được học chung, có các nữ giáo sư trực tiếp giảng dạy. Hay như trong tuồng Trưng Vương bình ngũ lãnh, khi đánh giá về vai trò của người phụ nữ, Huỳnh Thúc Kháng đã viết:

“Non nước Hồng Bàng lắm khi thiêng
Ngàn năm rạng mặt gái thuyền quyên.
Mày râu ai những phường nô lệ
Xem thử quần thoa gióng nữ quyền”.

Đặc biệt, khi đề cập đến quyền tự quyết của dân tộc, Huỳnh Thúc Kháng đã khẳng định mạnh mẽ: “Dân sang hèn là cốt tại trình độ thế nào, mà chính ở thời đại dân quyền này, dân tộc nào mà dân đức hoàn toàn, dân trí khai thông, dân khí mạnh mẽ thì dân tộc ấy có quyền tự quyết, dân tộc nào mà dân đức, dân trí, dân khí không có thì dân tộc ấy phải tiêu diệt, lệ chung đó không sao tránh được”4. Do đó, người dân dùng cái quyền ấy để trình bày nguyện vọng của mình, dù cho phải dùng bạo lực cách mạng: “Các nước Âu Tây nhân quyền phát đạt đã sớm… đối với những việc dân tộc cạnh tranh, chính trị cải cách, không những không cho là điều bội nghịch mà xem như là tâm lý tự vệ chung của loài người. Người Mỹ chống nước Anh mà mưu cuộc độc lập, thì người Pháp ra sức tán trợ người Mỹ cho thành công, Đảng cách mạng Trung Hoa cự với Mãn Thanh thì các nước liệt cường cũng công nhận như hai nước đánh nhau mà không cho đảng ấy là trộm cướp”5. Từ đó, theo Huỳnh Thúc Kháng, muốn đặt cơ sở cho mọi quyền hành thì cần phải xây dựng một thỏa ước và nó phải được hình thành từ nguyện vọng chung của toàn dân. Những dữ kiện ông phác họa ra để tìm thỏa ước đó là Hiến pháp. Ông viết: “Quốc thị đã mơ màng thì nhân dân không biết đường nào xu hướng, đó là cái lẽ tự nhiên. Bởi vậy, để cho cuộc trị an trong xứ được lâu dài… thì cần thiết phải có một cái cơ thể chính trị, chia bộ phận mà có trách nhiệm, định quyền hạn mà có quy thức để chỉnh đốn việc ích lợi chung trong xứ. Đó là một điều cốt yếu tức là Hiến pháp vậy”6. Đồng thời, để xây dựng và thực thi Hiến pháp riêng cho dân tộc, ông cũng trực tiếp đòi thực dân phải để cho nhân dân tự do bầu một cơ quan đại diện họ để soạn thảo Hiến pháp. Hiến pháp, đó là uy quyền tối cao của quốc gia, nó không bị một đoàn thể, cơ cấu hội đoàn nào có thể chi phối được. Theo đó, Hiến pháp phải được đặt nền tảng từ dân tộc, cương giới quốc gia và tình hình chính trị trong nước, hoặc mọi sinh hoạt tinh thần của đoàn thể nhân dân trong quốc gia. Với Huỳnh Thúc Kháng: “Ba cái nguyên tố của Hiến pháp là thổ địa, nhân dân, chánh trị ở trong xứ nầy, xu vức giới hạn đã không phân minh thì cái hiến pháp cũng chẳng biết dựa vào đâu làm cơ sở, mà cơ quan hiến pháp thì quyền lập pháp, hành chính, tư pháp cũng khó phân bộ rõ ràng, dù có thảo một bản giấy không chắc rồi cũng có hiệu lực”7. Toàn thể dân chúng đều bình đẳng trước pháp luật và Hiến pháp. Ai cũng phải thi hành, cũng có quyền đòi hỏi. Ngược lại, cũng không có ai có quyền bắt người khác làm bất cứ điều gì mà chính mình không làm.

Ngoài ra, nhiều lần Huỳnh Thúc Kháng tỏ ra có cảm tình với ý niệm mong muốn xây dựng một xã hội đại đồng “bất tề” không còn “so le”, đó là một xã hội có sự bình quyền, bình đẳng giữa mọi giai tầng trong xã hội dù ở phương diện nào, cụ thể là: “… về phần xu xác, thế nào cho ai cũng có đồ ăn, chất tư dưỡng mà khỏi thiếu thốn, chưa nói đến nem công chả phụng, đồ mặc thì phải lụa bền chặt, đủ thay đổi trong khi làm việc, khi nghỉ ngơi và hợp với khí hậu lạnh ấm, chưa nói đến gấm đoạn sô sa, nhà ở thì tường cao nền chắc, không khí trong sạch hợp với vệ sinh, chưa nói đến nhà lầu, gác tía, cùng già trẻ có chỗ nuôi, đau bệnh có chỗ uống thuốc... Còn về mặt sống tinh thần thì trẻ con, trai gái đến tuổi học có trường học, có sách vở và đồ dùng học khóa, khỏi đều khiếm khuyết, cốt thế nào cho đại đa số ai ai cũng hưởng được món học phổ thông, có đủ tri thức thông thường mà trong xã hội không có người nào là mù chữ”8.

Trong hơn 30 năm chạy vạy với đời, “dù làm bia cười cho muôn lỗ miệng, chính đích cho muôn mũi tên” nhưng với một tấm lòng yêu nước thương dân cao độ và vô cùng thiết thực, Huỳnh Thúc Kháng đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp cứu nước và giải phóng dân tộc.

1. Nguyễn Q. Thắng, Huỳnh Thúc Kháng con người và thơ văn, Phủ Quốc vụ khanh Đặc trách văn hóa, xuất bản 1972, Sài Gòn. tr.125.
2, 3. Huỳnh Thúc Kháng, Tự do ngôn luận, Tiếng Dân  số 175, 1 Mai 1929.
4. Sở Khoa học - Công nghệ và Môi trường tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Phan Châu Trinh và Huỳnh Thúc Kháng, tổ chức tại Đà Nẵng ngày 8 – 9-9-1992, Nxb Đà Nẵng.
5. Huỳnh Thúc Kháng, Tiếng Dân, 20 About 1928.
6. Nguyễn Q. Thắng, Huỳnh Thúc Kháng con người và thơ văn, Phủ Quốc vụ khanh Đặc trách văn hóa, xuất bản 1972, Sài Gòn, tr.215.
7. Tạp chí Thông tin khoa học và phát triển, số 4, tháng 7-1992, tr.9-10.
8. Huỳnh Thúc Kháng, Thuyết bình đẳng, Tiếng Dân, 19 Janvier 1935.
9. Lê Duy Anh - Lê Hoàng Anh, Lược sử Đà Nẵng 700 năm (1306 - 2006), Nxb Đà Nẵng, 2006.
10. Bộ Tư Pháp, Việt Nam với vấn đề quyền con người, Hà Nội, Nxb Bộ Văn hóa - Thông tin, 2005.

* Sở Nội vụ thành phố Đà Nẵng.

 | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |             



HÀNH TRÌNH TỪ CỐ ĐÔ HUẾ ĐẾN PARI
CỦA NGUYỄN TẤT THÀNH - NGUYỄN ÁI QUỐC

                                                                                           NGUYỄN THẾ PHÚC*

       Trong các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình nhận thức, hình thành chí hướng cách mạng để quyết định ra đi tìm đường cứu nước, thì thời kỳ Nguyễn Tất Thành sống ở Huế là chín muồi nhất cho quá trình tự ý thức về bản thân và về dân tộc mình.

    Từ nhỏ, Nguyễn Tất Thành đã từng đến Huế hai lần (lần thứ nhất từ 1895 - 1901; lần thứ hai từ 1906 - 1909), hai lần đến Huế chưa đầy mười năm nhưng đã để lại cho Người một dấu ấn đặc biệt trong nhận thức. Chính bối cảnh lịch sử, cảnh vật và con người Huế cùng với thực tiễn hoạt động của Nguyễn Tất Thành trên mảnh đất cố đô là cơ sở khách quan, cung cấp đầy đủ những chất liệu cần thiết cho nhận thức để Người tự ý thức về bản thân, hình thành chí hướng cách mạng, đi đến một quyết định táo bạo đầy bản lĩnh - hành trình sang phương Tây để khảo nghiệm, tìm công thức đúng cho cách mạng Việt Nam.

Khi vào học trường tiểu học Đông Ba và trường Quốc học Huế, Nguyễn Tất Thành tiếp cận khẩu hiệu ra đời trong cách mạng tư sản Pháp là Tự do - Bình đẳng - Bác ái, đây là chất liệu cần thiết để gây cho Nguyễn một biểu cảm hoài nghi về chân giá trị của tự do, bình đẳng, bác ái. Với câu hỏi tại sao nước Pháp là quê hương của những nhà Khai sáng, nơi sản sinh ra cuộc cách mạng đưa lại tự do, bình đẳng, bác ái và tự cho mình là sang An Nam để khai hóa, nhưng khai hóa gì mà nhà tù lại nhiều hơn trường học? Khi đến nước Pháp, trực tiếp chứng kiến cảnh nghèo khổ của nhân dân lao động Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã tự hỏi “tại sao người Pháp không “khai hóa” đồng bào của họ trước khi đi “khai hóa” chúng ta?”. Từ những gì chứng kiến trên đất cố đô Huế đến những câu hỏi đặt ra trên nước Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã viết Bản án chế độ thực dân Pháp để vạch trần tội ác của chủ nghĩa thực dân cho thế giới biết thực chất cái gọi là “khai hóa” văn minh, chính là mạo danh công lý. Cũng chính trên mảnh đất cố đô, Nguyễn Tất Thành đã tham gia phong trào chống thuế của nhân dân Trung Kỳ, năm 1908. Sự kiện này thể hiện sự đồng cảm sâu sắc đối với nỗi khổ của nhân dân lao động về chính sách áp bức thuộc địa mà thực dân Pháp gây ra ở Việt Nam. Những hoạt động thực tiễn phong phú của Nguyễn Tất Thành đã nuôi dưỡng và đào luyện tư chất để Người trở thành một nhà tư tưởng lớn sau này, đúng như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng khẳng định, thời gian ở Huế là “thời gian hình thành một con người lạ lùng, với một cuộc đời lạ lùng, những hoạt động lạ lùng đưa đến những thành tựu lạ lùng”. Vì vậy, đây là những chất liệu đặc biệt để Người đi đến tự ý thức: “Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”, và đó cũng là bản lĩnh của một thanh niên yêu nước tiêu biểu, được kết tinh từ ý chí của dân tộc Việt Nam anh hùng.

Ngày 5-6-1911, người thanh niên yêu nước đang tuổi trưởng thành, đầy nhiệt huyết đã ra đi tìm đường cứu nước. Sau cuộc hành trình hơn 2.190 ngày (6 năm), cuối năm 1917, Nguyễn Tất Thành trở lại nước Pháp. Tại đây, Nguyễn Tất Thành đã có sự chuyển biến lập trường từ người yêu nước trở thành người cộng sản; từ chủ nghĩa yêu nước chân chính đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Những ngày đầu tiên sống trên đất Pháp, cư trú ở Pari, Nguyễn đã bước đầu tìm hiểu và làm quen với những hoạt động chính trị, hy vọng thông qua đời sống chính trị ở Pari để hiểu về thực dân Pháp nói riêng và chủ nghĩa thực dân nói chung, từ đó tìm ra hướng đi đúng cho cách mạng Việt Nam. Đó là thấm nhuần lời dạy của cổ nhân “biết người biết ta, trăm trận trăm thắng” và Người đã chọn Pari để hoạt động. Bởi vì, Pari được xem là “trung tâm liên minh thế giới của bọn đế quốc”, đúng như lời khẳng định của V. I. Lênin.

Khi đến Pháp, Nguyễn Tất Thành được các đồng chí Đảng Xã hội Pháp kiếm cho một thẻ lao động hợp pháp để thuận tiện trong sinh hoạt. Ở Pari không bao lâu, Nguyễn đã nhanh chóng đến với phái tả của cách mạng Pháp, và gia nhập Đảng Xã hội Pháp, một chính đảng duy nhất của nước Pháp lúc bấy giờ theo đuổi mục tiêu lý tưởng Tự do - Bình đẳng - Bác ái của cách mạng Pháp và bênh vực cho các dân tộc thuộc địa.

 Sự kiện đánh dấu hoạt động chính trị đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc, là việc Người đã thay mặt cho nhân dân Việt Nam gửi bản Yêu sách 8 điểm tới Hội nghị Véc xây năm 1919, để đòi những quyền cơ bản cho dân tộc Việt Nam, như: tự do đi lại, tự do hội họp, tự do báo chí và tự do đi ra nước ngoài... Đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng đối với người thanh niên trẻ tuổi An Nam đang trưởng thành trong chính trị. Mặc dù bản Yêu sách không được các nước đế quốc chấp nhận, nhưng đã có tiếng vang làm lay chuyển tâm lý của nhà cầm quyền thực dân Pháp lúc bấy giờ. Đây là “một cơ hội thuận tiện để một lần nữa vạch trần chủ nghĩa thực dân, thu hút sự chú ý của giới dân chủ Pháp tới tình hình Việt Nam và thức tỉnh chính những người Việt Nam đang u mê, ảo tưởng”. Sau sự kiện này, Nguyễn Tất Thành đã trưởng thành không chỉ trong nhận thức về con đường cách mạng mà trưởng thành trong thực tiễn đấu tranh chính trị, “bản Yêu sách đã trở thành tuyên ngôn chính trị báo hiệu sự mở đầu của giai đoạn mới trong việc phát triển phong trào giải phóng dân tộc của Việt Nam”. Với một khát vọng độc lập, tự do, tình cảm yêu nước đúng đắn và quyết chí đấu tranh đến cùng cho độc lập dân tộc, Nguyễn Ái Quốc đã làm chấn động dư luận nước Pháp và Việt kiều ở Pháp, “n gay tại thủ đô nước Pháp, trên diễn đàn quốc tế, có một người Việt Nam ngang nhiên đứng ra đòi quyền lợi chính đáng cho cả dân tộc mình, dư luận thế giới xôn xao bàn tán. Ai mà không kính, ai mà không phục. Chính cái tên Nguyễn Ái Quốc bản thân nó có sức hấp dẫn kỳ lạ”.

Qua sự kiện gửi bản Yêu sách, Nguyễn đã rút ra hai kết luận quan trọng có tính nguyên tắc và trở thành nguyên lý phổ biến của cách mạng Việt Nam sau này. Đó là, chủ nghĩa Uynxơn là một trò bịp bợm lớn; và “muốn được độc lập và tự do thật sự, các dân tộc bị áp bức phải trông cậy trước hết vào lực lượng của bản thân mình; người Việt Nam phải tự giải phóng lấy mình”, phải tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính chứ không thể đòi độc lập, tự do bằng yêu sách hay kiến nghị. Thông qua bản Yêu sách, Nguyễn Ái Quốc đã thấy sự bịp bợm của chủ nghĩa Uynxơn, sau này Người đã tổng kết tính chân thực của các học thuyết: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin” và “Mỗi người có quyền chọn cho mình một học thuyết, một chủ nghĩa, riêng tôi, tôi chọn chủ nghĩa Mác”. Bản Yêu sách là một sự khảo nghiệm về con đường cách mạng Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc.

Khảo sát các cuộc cách mạng tư sản trên thế giới, như Cách mạng Anh, Cách mạng Mỹ, Cách mạng Pháp bằng đầu óc phê phán tinh tường và tư duy độc lập tự chủ, sáng tạo cùng với thực tiễn sinh động, Nguyễn Ái Quốc hiểu rõ giải phóng dân tộc và con người triệt để nhất, chỉ có thể là con đường mà V.I Lênin đã khẳng định: “Ngày nay chỉ có đi theo con đường của Mác thì chúng ta mới ngày càng tiến gần đến chân lý khách quan, còn đi theo những con đường khác chỉ có thể là sự lẫn lộn và dối trá”. Bởi vì con đường của Mác là con đường “đưa nhân loại từ vương quốc tất yếu đến với vương quốc của tự do” và “sự tự do của mỗi người là điều kiện để đảm bảo cho tự do của tất cả mọi người”. Để có tự do cho con người, cho mỗi người và cho cả toàn dân tộc thì phải làm cách mạng, phải lấy khoa học thay cho mộng tưởng. Đó là những gì Nguyễn Ái Quốc lĩnh hội được từ trong học thuyết Mác ngay tại quê hương của những nhà Khai sáng Pháp.

Sau khi gửi bản Yêu sách đến Hội nghị Véc xây, không được các nước đế quốc chấp nhận, Nguyễn Ái Quốc tích cực hoạt động và Người gia nhập Đảng Xã hội Pháp (1919). Đến tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc đọc được bản sơ thảo Luận cương của V. I. Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa trên báo Humanite. Giải thích rõ ý nghĩa sự kiện này, Nguyễn Ái Quốc nói đây là giây phút hạnh phúc nhất của đời tôi. Người ví việc đọc được Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa như người khát được uống, người đói được ăn, người đi trong đêm tối tìm thấy ánh sáng. Nói về giờ phút lịch sử này, Người viết: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”. Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”.

Việc biểu quyết tán thành Quốc tế III và trực tiếp tham gia sáng lập ra Đảng Cộng sản Pháp (1920), trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên, là bước ngoặt quan trọng đối với Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, là bước chuyển biến quyết định, bước nhảy vọt làm thay đổi về chất hoàn toàn trong nhận thức tư tưởng và lập trường chính trị của Nguyễn Ái Quốc, từ người yêu nước trở thành người cộng sản, từ chủ nghĩa yêu nước chân chính đến với chủ nghĩa Mác - Lênin.

Sau khi tham gia bỏ phiếu tán thành Quốc tế III, và trực tiếp tham gia sáng lập ra Đảng Cộng sản Pháp, tích cực hoạt động chính trị và nghiên cứu lý luận, Nguyễn Ái Quốc trưởng thành một cách nhanh chóng trên lĩnh vực chính trị. Không bao lâu, Người đã xác lập được vị thế của mình trong phong trào Quốc tế Cộng sản, trở thành một thành viên tích cực trong phong trào Quốc tế Cộng sản. Đường lối đấu tranh giải phóng dân tộc mà Quốc tế Cộng sản nêu trong Đề cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, đã xác định lập trường giai cấp vô sản với nông dân và nhân dân bị áp bức ở các thuộc địa, xác định cương lĩnh ruộng đất của chuyên chính vô sản”. Đường lối đó chỉ rõ: “Đảng Cộng sản các nước giúp đỡ phong trào giải phóng dân tộc; với sự giúp đỡ của các nước vô sản tiên tiến, các nước lạc hậu có thể đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”. Nắm vững đường lối của Quốc tế Cộng sản và xuất phát từ thực tiễn cách mạng, để đáp ứng nhu cầu của cách mạng, năm 1921, Nguyễn Ái Quốc đã sáng lập Hội liên hiệp thuộc địa. Đây là sự kiện chính trị có ý nghĩa quan trọng đối với các dân tộc thuộc địa, càng tiếp thêm động lực cho cách mạng khi tuyên ngôn của Hội chỉ rõ: “Sự nghiệp giải phóng anh em chỉ có thể bằng sự nỗ lực của bản thân anh em”.

Để cho cương lĩnh của Hội đến được với các dân tộc thuộc địa, đi vào dân chúng, Nguyễn Ái Quốc đã cho xuất bản tờ báo Người cùng khổ (Le Paria) làm cơ quan tuyên truyền hướng tới mục đích thức tỉnh các dân tộc thuộc địa, giác ngộ dân chúng, giáo dục chủ nghĩa yêu nước và ý thức dân tộc cho nhân dân lao động, những Việt kiều đang sống ở Pháp. Từ đó cho thấy, tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam đã được tìm thấy chính trên đất Pháp - tại mảnh đất của kẻ đang xâm lược và thống trị nhân dân ta. Tại nước Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã có sự trưởng thành nhanh chóng về mặt chính trị và lý luận.

26 năm sau, kể từ ngày bỏ phiếu tán thành Quốc tế III và trực tiếp sáng lập ra Đảng Cộng sản Pháp, vào mùa thu năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành chính khách quan trọng của nước Pháp, được Chính phủ Pháp đón tiếp long trọng theo nghi thức cao nhất của Nhà nước. Có được thành tựu đó, Nguyễn Ái Quốc phải trải nghiệm từ thực tiễn với nhiều mùi vị khác nhau, nếm đủ mọi gian khổ của cuộc đời.

So với lịch sử của dân tộc, hành trình từ cố đô Huế đến thủ đô Pari của nước Pháp của Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc là một khoảng thời gian không dài, nhưng quãng đường đó thật là gian nan, vất vả. Chính thời gian này đã nuôi dưỡng chí hướng cách mạng đến cùng của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh về sau.

Tài liệu tham khảo

1. Chủ tịch Hồ Chí Minh: Tiểu sử và sự nghiệp, Nxb. Sự thật, Hà Nội. 1976, tr.20.
2. Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội. 1986.
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2002.
5. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, Viện Hồ Chí Minh xuất bản, Hà Nội. 1993, t.3.
6. E. Cô-bê-lép: Đồng chí Hồ Chí Minh, Nxb. Thanh niên, Hà Nội. 1985.
7. Nguyễn Thế Phúc: Góp phần nghiên cứu tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Nxb. Thuận Hóa, Huế. 2009.

* ThS, Trưởng Bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, Trường Đại học Khoa học Huế.

 | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |             



TẦM NHÌN CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC
TRONG SÁNG LẬP MẶT TRẬN VIỆT MINH

                                                                                              NGUYỄN PHƯƠNG AN*

        Với mọi quốc gia dân tộc, mọi sự nghiệp, mọi con người, tầm nhìn được biết đến như là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu, quyết định tính đúng đắn của phương hướng và quá trình hiện thực hóa phương hướng. Tầm nhìn của người đứng đầu, người dẫn đường lại càng đặc biệt quan trọng. Ở Hồ Chí Minh, đó là tầm nhìn của nhà tư tưởng, nhà tổ chức thiên tài, tạo nên những quyết sách chiến lược đưa cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi. Sự ra đời của Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh trong Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (5-1941) do Người chủ trì không lâu sau khi về nước, là biểu hiện điển hình.

Vai trò quan trọng của Mặt trận dân tộc thống nhất sớm được Nguyễn Ái Quốc nhận thức. Trong tác phẩm Đường Cách mệnh và nhiều văn bản từ nước ngoài gửi về, Người thường xuyên lưu ý Đảng xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất, đội quân chính trị hùng hậu của cách mạng, đoàn kết rộng rãi tất cả các giai cấp và tầng lớp tiến hành đấu tranh giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản. Ngay sau Hội nghị thành lập Đảng, việc làm đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc là thay mặt Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Việt Nam ra Lời kêu gọi gửi công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên, học sinh và tất cả đồng bào bị áp bức, bóc lột với mong muốn “từ nay anh chị em chúng ta cần phải… ủng hộ và đi theo Đảng”1.

Trước khi Mặt trận Việt Minh ra đời, Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương đã được thành lập (1939). Mặt trận xác định mục tiêu, chiến lược, chiến thuật,… nhưng vẫn chưa hoàn toàn thích hợp về hình thức tổ chức, và cũng chưa có điều kiện hình thành trong thực tế. Chuyển biến mau lẹ của tình hình thế giới và trong nước trong những năm chiến tranh thế giới thứ hai, đặt ra yêu cầu phải xây dựng một Mặt trận dân tộc thống nhất mới. Nguyễn Ái Quốc ngay khi trên đường về nước đã nói: “Trước tình hình mới, vấn đề đoàn kết toàn dân giải phóng dân tộc càng quan trọng. Ta phải nghĩ đến việc thành lập một hình thức Mặt trận thật rộng rãi, có tên gọi cho thích hợp. Việt Nam giải phóng đồng minh? Việt Nam phản đế đồng minh? Hay Việt Nam độc lập đồng minh, có thể gọi tắt là Việt Minh cho nhân dân dễ nhớ”2.

Thực hiện chủ trương trên, Nguyễn Ái Quốc tích cực khảo nghiệm và thí điểm xây dựng các đoàn thể cứu quốc (Thanh niên, Phụ nữ, Nông dân) của Mặt trận Việt Minh ở Cao Bằng - nơi Người đứng chân đầu tiên sau khi về nước (28-1-1941). 40 thanh niên là đảng viên và quần chúng trung kiên, được Nguyễn Ái Quốc mở lớp huấn luyện để làm hạt nhân giác ngộ và tổ chức quần chúng tham gia vào các Hội cứu quốc. Đây là những bước đi đầu tiên, nhưng rất chắc chắn và hiệu quả mà Nguyễn Ái Quốc tiến hành, nhằm chuẩn bị cơ sở thực tiễn và kinh nghiệm cụ thể cho thành lập Mặt trận Việt Minh trong Hội nghị Trung ương được tổ chức sau đó.

Tháng 5-1941, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8. Hội nghị quyết định nhiều vấn đề quan trọng về đường lối, trong đó có thực hiện quan điểm về Mặt trận dân tộc như trên. Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh, thường gọi là Mặt trận Việt Minh được thành lập. Tuyên ngôn, chương trình, 10 chính sách được Hội nghị thông qua. Cờ đỏ sao vàng được chọn làm kỳ hiệu; khẩu hiệu chính là phản Pháp - kháng Nhật - liên Hoa - độc lập. Tổ chức bộ máy gồm 6 cấp (làng, tổng, phủ, tỉnh, xứ, toàn quốc) theo hệ thống ngang, đoàn thể cứu quốc ở cấp nào tham gia Việt Minh cấp đó, Việt Minh cấp dưới không tham gia lập Việt Minh cấp trên.

Tên gọi Việt Nam độc lập đồng minh thể hiện tầm nhìn đi trước của Nguyễn Ái Quốc về những gì sẽ diễn ra trong tiến trình phát triển sắp tới của cách mạng Việt Nam. Mặt trận là một tổ chức tranh đấu vì nền độc lập của dân tộc Việt Nam, thuộc phe Đồng minh trong chiến tranh thế giới thứ hai. Với tên gọi ấy, mục tiêu đấu tranh của cách mạng Việt Nam gắn chặt với cuộc đấu tranh của nhân loại tiến bộ chống chủ nghĩa phát xít và các thế lực phản động. Thế nên, không chỉ giúp cho cách mạng nước ta tranh thủ được sự thừa nhận và ủng hộ của các lực lượng đồng minh ở thời điểm đó, như quan hệ giữa Mặt trận Việt Minh với các lực lượng quân đội Mỹ lúc bấy giờ, mà còn tạo vị thế cho những hoạt động ngoại giao của chính quyền cách mạng với các nước đồng minh sau khi cách mạng thắng lợi. Thực tế là sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám - 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh và chính quyền cách mạng đã khai thác tối đa lợi thế này trong các hoạt động với quân đội các nước làm nhiệm vụ giải giáp phát xít Nhật. Độc lập và đồng minh - hai yếu tố (dân tộc, thời đại) trong một cái tên, biểu thị bản chất, tôn chỉ, mang lại cho Mặt trận vị thế, sức mạnh cho cuộc đấu tranh vì mục tiêu của dân tộc và nhân loại.

Đường lối cách mạng được thông qua tại Hội nghị Trung ương 8 với chủ trương đánh đổ Pháp - Nhật, chống chiến tranh xâm lược, diệt trừ bọn Việt gian phản quốc; toàn thể nhân dân liên hợp và lập chính phủ dân chủ cộng hòa. Trong đó, Hội nghị xác định: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”3.

Mục tiêu trên chỉ có thể đạt được bằng sức mạnh của toàn dân tộc. Nhân dân Việt Nam mong mỏi một cuộc sống tự do, độc lập nhưng không phải ai lúc bấy giờ cũng tán thành đường lối của những người cộng sản. Để thu hút, tập hợp mọi giai cấp, tầng lớp thực hiện đường lối của mình, Đảng cần có một tổ chức đủ sức thuyết phục. Mặt trận Việt Minh ngay khi ra đời đã nêu Tuyên ngôn: “Coi quyền lợi dân tộc cao hơn hết thảy, Việt Minh sẵn sàng giơ tay đón tiếp những cá nhân hay đoàn thể, không cứ theo chủ nghĩa quốc tế hay quốc gia, miễn thành thực muốn đánh đuổi Nhật, Pháp để dựng nên một nước Việt Nam tự do và độc lập”4. Nguyễn Ái Quốc trong Kính cáo đồng bào (6-6-1941), kêu gọi: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng.

Hỡi đồng bào yêu quý! Việc cứu quốc là việc chung, ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm: Người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài năng góp tài năng. Riêng phần tôi, xin đem hết tâm lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành tự do độc lập, dầu phải hy sinh tính mệnh cũng không nề”5. Chương trình của Mặt trận, về ngoại giao, khẳng định tán thành hòa bình, chống xâm lược, thể hiện sự gắn bó mật thiết với phe Đồng minh (trong đó có rất nhiều cường quốc tư bản) đang đấu tranh chống họa phát xít. Tất cả cho thấy, Mặt trận Việt Minh đã đáp ứng khát vọng độc lập, tự do của toàn dân tộc, đánh trúng tâm tư, nguyện vọng của nhiều thành phần trong dân tộc, kể cả của bộ phận chưa hoàn toàn theo đường lối của Đảng; hạn chế dị biệt, phát huy tương đồng - yếu tố đặc biệt quan trọng để đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng lực lượng cách mạng hùng hậu nhằm khi điều kiện quốc tế thuận lợi thì có thể khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền từng bộ phận, mở đường cho tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Với tầm nhìn kiên định về thắng lợi của cách mạng, Hội nghị Trung ương 8 dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định: “Nếu cuộc đế quốc chiến tranh lần trước đã đẻ ra Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công”6. Cuối tác phẩm Lịch sử nước ta - một tác phẩm được viết để giáo dục tinh thần yêu nước và động viên nhân dân ta hăng hái tham gia Mặt trận Việt Minh - Nguyễn Ái Quốc tiên định năm 1945 Việt Nam độc lập. Cùng với tiên định đó, Người tích cực chuẩn bị các điều kiện cho sự ra đời của chính quyền cách mạng. Mặt trận Việt Minh là tổ chức chính trị - xã hội nhưng lồng ghép trong đó cả chức năng của nhà nước. Mặt trận là tổ chức hiện thực hóa đường lối cách mạng của Đảng; có quan hệ đối ngoại với lực lượng đồng minh như là một thiết chế của nhân dân Việt Nam; xây dựng hệ thống tổ chức từ Trung ương đến cơ sở làm chức năng tổ chức, quản lý nhân dân; Chương trình, chính sách hoạt động vạch rõ: Sau khi đánh đuổi được bọn đế quốc phát xít Nhật - Pháp, sẽ lập nên chính phủ nhân dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; có lực lượng vũ trang (đội du kích, đội tự vệ),… Như vậy, thông qua Mặt trận Việt Minh, mầm mống đầu tiên của chính quyền cách mạng đã được thiết lập. Ra đời sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám - 1945, chính quyền cách mạng đã tích lũy được kinh nghiệm tổ chức, hoạt động. Lồng ghép chức năng nhà nước trong một tổ chức mặt trận đoàn kết toàn dân, Nguyễn Ái Quốc cũng muốn khẳng định tính chất dân chủ nhân dân của chính quyền cách mạng sau này. Đây là cơ sở chính trị - xã hội rộng lớn, vững bền nhất cho sự tồn tại vững bền của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Hội nghị Trung ương 8 chủ trương đặt vấn đề dân tộc trong phạm vi của từng nước Việt Nam, Lào, Campuchia, làm cho nhân dân mỗi nước phát huy cao độ lòng yêu nước và tình đoàn kết chiến đấu vì sự nghiệp cách mạng của dân tộc mình, đồng thời cùng gắn bó với các dân tộc bạn ở Đông Dương chống kẻ thù chung. Theo quan điểm này, Mặt trận Việt Minh được thành lập thay cho Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương, thực hiện mục tiêu đoàn kết toàn thể nhân dân Việt Nam đấu tranh giải phóng dân tộc. Hội nghị quyết định “Đảng ta và Việt Minh phải hết sức giúp đỡ các dân tộc Miên, Lào tổ chức ra Cao Miên độc lập đồng minh, Ai Lao độc lập đồng minh để sau đó lập ra Đông Dương độc lập đồng minh. Mặt trận thống nhất tất cả dân tộc Đông Dương giành quyền độc lập cho Đông Dương với một cái tên vắn tắt dễ hiểu và có ý nghĩa từng dân tộc như thế, ta chắc rằng sự kêu gọi các dân tộc, các đoàn thể lên hàng ngũ tranh đấu sẽ dễ dàng, hiệu quả hơn. Còn các dân tộc thiểu số khác sống trong đất Việt Nam với Miên, Lào ta sẽ tổ chức vào các đoàn thể riêng và tham gia vào đồng minh của các xứ ấy”7. Sau Hội nghị, Thường vụ Trung ương Đảng giao cho Đảng bộ Nam Kỳ giúp nhân dân Cao Miên thành lập các hội cứu quốc và Cao Miên độc lập đồng minh; Đảng bộ Trung Kỳ giúp nhân dân Lào lập các tổ chức cứu quốc và Ai Lao độc lập đồng minh.

Nguyễn Ái Quốc hiểu rất đúng nguyên tắc thực hiện đoàn kết. Một khi khai thác tối đa điểm chung, khắc phục đến mức tối thiểu dị biệt, thì khối đại đoàn kết mới được xây dựng và hoạt động hiệu quả, vững bền. Ngay trong lòng mỗi dân tộc Đông Dương đã có những khác biệt, huống chi bao gồm trong đó cả ba dân tộc. Dù trong lòng mỗi dân tộc có sự khác biệt nhưng điểm chung cao nhất là yếu tố “đồng bào”, nên khác biệt có thể được hạn chế. Nhưng nếu bao gồm trong một Mặt trận cả ba dân tộc thì không những có những khác biệt nội bộ mỗi dân tộc, mà còn có những khác biệt ở tầm quốc gia dân tộc. Trong điều kiện phức tạp của tình hình, trước âm mưu và thủ đoạn chia rẽ của kẻ thù, thì một Mặt trận chung cho cả ba dân tộc Đông Dương là không hiệu quả. Thành lập ở mỗi nước một Mặt trận trong mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau cùng đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng sẽ hữu hiệu hơn. Quan điểm này của Nguyễn Ái Quốc giúp cho Mặt trận Việt Minh thực sự trở thành Mặt trận đoàn kết dân tộc của riêng nhân dân Việt Nam, tập trung khai thác tối ta “đồng lòng, đồng sức, đồng tình, đồng minh” trong toàn dân tộc, mang lại bước tiến của cách mạng. Mặt trận Việt Minh vì thế “có tính chất dân tộc hơn,… có một mãnh lực dễ hiệu triệu hơn và nhất là có thể thực hiện được trong tình thế hiện tại”8.

Năng lực phân tích thực tiễn kết hợp với vốn lý luận uyên thâm của một nhà cách mạng sáng tạo, mang lại cho Nguyễn Ái Quốc tầm nhìn chiến lược trong lãnh đạo cách mạng. Vai trò to lớn của Mặt trận Việt Minh trong thực tiễn thắng lợi của cách mạng Việt Nam từ sau Hội nghị Trung ương 8 đến Cách mạng tháng Tám - 1945 là minh chứng hùng hồn cho tầm nhìn của phượng hoàng đại ngàn Nguyễn Ái Quốc.

1, 5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, t.3, tr.10, 198.
2. Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb CTQG, H, 1994, tr.32.
3, 4, 6, 7, 8. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, t.7, tr.113, 461, 100, 122.

 * ThS, Trường Chính trị Tôn Đức Thắng - An Giang.

 | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |             



BIỆN CHỨNG CỦA HỒ CHÍ MINH
VỀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

                                                                                       NGUYỄN TRƯỜNG CẢNH*

      Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là nội dung cốt lõi, xuyên suốt toàn bộ hệ thống tư tưởng của Người. Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, tư tưởng đó vẫn là ánh sáng dẫn đường cho cách mạng Việt Nam định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội.

1. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam trong thời đại mới

Trước cuộc khủng hoảng con đường cứu nước ở đầu thế kỷ XX, cùng một khát vọng về độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, Hồ Chí Minh đã sớm nhận ra những hạn chế trong đường lối đấu tranh giành độc lập dân tộc của các thế hệ đi trước và “không hoàn toàn tán thành cách làm của một người nào”1. Hồ Chí Minh quyết định ra nước ngoài tìm con đường thoát khỏi thân phận nô lệ cho dân tộc. Thấu hiểu nỗi khổ của nhân dân làm thân trâu ngựa, nung nấu trong mình nhiệt huyết của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, Hồ Chí Minh đã thực hiện cuộc khảo sát sâu rộng cả trong nước và trên thế giới, tìm hiểu nhiều học thuyết và xem xét thực tiễn các hình mẫu cách mạng dân chủ tiêu biểu trên thế giới, từ đó rút ra những bài học quan trọng cho cách mạng Việt Nam. Khi nghiên cứu cuộc cách mạng tư sản Mỹ (1776) Hồ Chí Minh nhận xét: “Mỹ tuy rằng cách mệnh thành công đã hơn 150 năm nay, nhưng công nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần thứ hai”2. Nghiên cứu cách mạng tư sản Pháp dưới nhiều góc độ, từ đó Người đi đến kết luận: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hoà và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Cách mệnh đã 4 lần rồi mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức. Cách mệnh An Nam nên nhớ những điều đó”3. Tháng 7-1920, Hồ Chí Minh đã đọc Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin, Người đã tìm thấy con đường cứu nước và giải phóng dân tộc là duy nhất đúng đắn. Người viết: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đoạ đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”4. Từ đó, Người rút ra những kết luận quan trọng đối với cách mạng Việt Nam: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam. Cách mệnh Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ rồi, lại ra sức cho công nông các nước và dân bị áp bức các thuộc địa làm cách mệnh để đập đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản trên thế giới”5 và “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”6.

Tại Đại hội lần thứ 18 Đảng xã hội Pháp tháng 12-1920, Hồ Chí Minh đã bỏ phiếu tham gia Quốc tế Cộng sản, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Khi được nữ đồng chí Rose hỏi tại sao đồng chí lại bỏ phiếu cho Quốc tế III? Hồ Chí Minh trả lời: “Rất đơn giản. Tôi không hiểu chị nói thế nào là chiến lược, chiến thuật vô sản và nhiều điểm khác! Nhưng tôi hiểu rõ một điều: Quốc tế III rất chú ý đến vấn đề giải phóng thuộc địa… Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”7. Sau đó, Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”8. Theo Hồ Chí Minh: “Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới”9. Như vậy, Hồ Chí Minh đã xác định được mục tiêu đi tới của cách mạng, không chỉ là độc lập dân tộc mà còn là chủ nghĩa xã hội. Lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng Việt Nam, độc lập dân tộc được gắn với chủ nghĩa xã hội. “Con đường giải phóng chúng ta” là con đường làm cho đất nước được hoàn toàn độc lập và thống nhất, nhân dân thoát khỏi áp bức, bóc lột, bất công, nhằm xây dựng cuộc sống tự do, hạnh phúc. Đó là con đường làm cho mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân chứ không thuộc về số ít người như trước. Đó là con đường “cách mạng đến nơi” để nhân dân không phải làm lại nhiều lần, thực hiện trọn vẹn mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là con đường mà Nguyễn Ái Quốc đã vượt qua được những hạn chế, những sai lầm của những người đi trước, vượt qua những quan niệm cũ về độc lập dân tộc, vượt qua những đường lối, phương pháp cũ để giành độc lập dân tộc và phát triển đất nước.

2. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh có mối quan hệ biện chứng

Trong điều kiện dân tộc bị thực dân cấu kết với thế lực phong kiến thống trị, Hồ Chí Minh đã chỉ ra: Độc lập dân tộc phải là mục tiêu trực tiếp, trước hết, là tiền đề để tiến lên chủ nghĩa xã hội. Ở giai đoạn này, tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc hay cách mạng thuộc địa, nhằm chống đế quốc, giành độc lập cho dân tộc và cách mạng dân chủ, nhằm chống phong kiến, để đem lại ruộng đất cho dân cày, dân chủ cho nhân dân; xây dựng chế độ dân chủ nhân dân làm tiền đề cho việc chuyển sang giai đoạn cách mạng tiếp theo. Giai đoạn cách mạng này về sau được gọi chung là giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến có quan hệ khăng khít với nhau, nhưng chống đế quốc là nhiệm vụ chủ yếu nhất. Phải đặt nhiệm vụ chống đế quốc lên trên hết và trước hết; còn nhiệm vụ chống phong kiến phải tiến hành từng bước thích hợp, rải ra làm xen kẽ với nhiệm vụ chống đế quốc.

Độc lập dân tộc theo Hồ Chí Minh phải là độc lập thật sự, độc lập hoàn toàn về tất cả các mặt: chính trị, kinh tế, an ninh, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; đối nội và đối ngoại; mọi vấn đề thuộc chủ quyền quốc gia phải do chính nhân dân tự quyết định, không có sự can thiệp của nước ngoài; độc lập dân tộc phải gắn liền với hoà bình, tự do, dân chủ, ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Hồ Chí Minh đã chỉ ra thực hiện độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội thì trước hết phải giành lấy độc lập dân tộc. Vì có giành được độc lập dân tộc thì mới chuẩn bị tiền đề cho giai đoạn cách mạng tiếp theo là cách mạng xã hội chủ nghĩa. Không giành được độc lập dân tộc, không chuẩn bị được những tiền đề cần thiết thì không thể tiến hành được cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Nhưng giành được độc lập mới chỉ là bước đầu của việc thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc. Còn phải củng cố và bảo vệ nền độc lập dân tộc mới giành được. Theo Hồ Chí Minh: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”10. Bởi vậy, chỉ một ngày sau khi tuyên bố nước nhà độc lập, ngày 3-9 - 1945 Người đã đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách để giải quyết ngay các vấn đề quan hệ tới vận mệnh của dân tộc và sự sinh tồn của mỗi người Việt Nam. Cùng với việc xây dựng kế hoạch lâu dài để kiến thiết nước nhà, Người đã chỉ thị cho các cấp “ngay từ bước đầu chúng ta phải theo đúng phương châm” là “gắng sức làm cho ai nấy đều có phần hạnh phúc”11. Người khẳng định:

“Chúng ta phải thực hiện ngay:

1. Làm cho dân có ăn;
2. Làm cho dân có mặc;
3. Làm cho dân có chỗ ở;
4. Làm cho dân có học hành.

Cái mục đích chúng ta đi đến là 4 điều đó. Đi đến để dân ta xứng đáng với tự do, độc lập và giúp sức được cho tự do, độc lập”12.

Với Hồ Chí Minh, nước có độc lập rồi thì dân phải được hạnh phúc - tự do, vì hạnh phúc - tự do là thước đo giá trị của độc lập dân tộc. Muốn có hạnh phúc - tự do thì độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Người nhấn mạnh chỉ có trong chế độ xã hội chủ nghĩa thì mỗi người mới có điều kiện để cải thiện đời sống riêng của mình, phát huy tính cách riêng và sở trường riêng của mình, chăm lo cho con người và con người có điều kiện phát triển toàn diện. Khi Hồ Chí Minh xác định giành độc lập theo con đường cách mạng vô sản, tức là đã khẳng định độc lập dân tộc đi với chủ nghĩa xã hội.

Như vậy, theo Hồ Chí Minh, thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa là bước tiếp theo tất yếu của con đường độc lập dân tộc, gắn liền với chủ nghĩa xã hội khi đã giành được độc lập dân tộc và chỉ có đi lên chủ nghĩa xã hội mới tạo ra được các yếu tố làm cơ sở củng cố, giữ vững độc lập dân tộc. Chủ nghĩa xã hội có khả năng tạo cơ sở giữ vững và phát triển độc lập dân tộc, Hồ Chí Minh cho rằng: “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giầu, nước mạnh”13, “là mọi người được ăn no, mặc ấm, sung sướng, tự do”14, “là làm cho mọi người dân được ấm no, hạnh phúc và học hành tiến bộ”15, là “xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt”16. Những mục tiêu đó được Hồ Chí Minh khái quát một cách súc tích và nhất quán khi Người khẳng định xã hội chủ nghĩa là “một xã hội đảm bảo cho đất nước phát triển rực rỡ một cách nhanh chóng chưa từng thấy, đưa quần chúng lao động đến một cuộc sống xứng đáng, vẻ vang và ngày càng phồn vinh, làm cho mọi người lao động có một Tổ quốc tự do, hạnh phúc và hùng cường, hướng tới những chân trời tươi sáng, mà trước kia không thể nghĩ tới”17. Những mục tiêu đó thể hiện một cách tổng quát và chính xác tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội: Độc lập dân tộc được đảm bảo bằng sự phát triển hùng cường của Tổ quốc tự do, với một xã hội ngày càng tăng tiến về điều kiện vật chất, tốt đẹp hơn về tinh thần, đảm bảo cho con người phát triển và có cuộc sống xứng đáng, vinh quang. Sự gắn bó chặt chẽ giữa độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội là nội dung đầy đủ nhất của tiêu chí Độc lập - Tự do - Hạnh phúc mà Hồ Chí Minh đề ra cho chế độ mới. Đó là điểm chung để thống nhất dân tộc, là tiêu điểm đoàn kết toàn dân phấn đấu tiến tới thực hiện hoàn chỉnh những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, vì lợi ích lâu dài của cả dân tộc. Hồ Chí Minh cũng chỉ ra giai đoạn xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa là một cuộc cách mạng triệt để nhất chưa từng có ở Việt Nam, đó là một con đường khó khăn, gian khổ, lâu dài và vô cùng phức tạp. Nhưng con đường đó nhất định sẽ thắng lợi vì nó phù hợp với quy luật tiến hoá của nhân loại, phù hợp với xu thế thời đại và phù hợp với nguyện vọng của quảng đại quần chúng trong dân tộc.

Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội còn kết hợp ngay trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Giữa hai giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa không có bức tường ngăn cách. Cuối giai đoạn trước đã có thể bắt đầu tiến hành một số nhiệm vụ của giai đoạn sau; khi bước vào giai đoạn sau vẫn có thể phải hoàn thành nốt một số nhiệm vụ còn lại của giai đoạn trước, như: vấn đề thực hiện dân chủ; vấn đề xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân; vấn đề không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân,... Đó là những vấn đề chung của cả mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Những vấn đề đó đã được đặt ra và thực hiện một phần ở giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, chúng càng được mở rộng, nâng cao hơn trong giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Trong thời kỳ đổi mới đất nước, bài học số một được Đại hội VI, VII, VIII, IX, X và từ kết quả thực tiễn 25 năm đổi mới , Đại hội XI của Đảng đã khẳng định: “Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - ngọn cờ vinh quang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao lại cho thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau”18. Thắng lợi của thời kỳ đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa là thắng lợi của tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh, là thắng lợi của Đảng và nhân dân ta đã nắm vững và giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, quyết tâm xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta hoàn toàn tin tưởng đất nước ta sẽ tiếp tục phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu “dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

1. Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb CTQG, H, 1994, tr.12.
2, 3, 5, 6. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2002, t. 2, tr.270, 274, 280, 268.
4, 15, 16. Hồ Chí Minh: Sđd, t.10, tr.127,97,591.
7. Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử, Nxb CTQG, H, 2006, t.1, tr.105.
8. Hồ Chí Minh: Sđd, t.9, tr.314.
9. Hồ Chí Minh: Sđd, t.10, tr.416.
10, 11, 12. Hồ Chí Minh: Sđd, t.4, tr.152,56,152.
13, 14, 17. Hồ Chí Minh: Sđd, t. 8, tr.226, 97, 591.
18. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H, 2011, tr.65.

* Ths, Trưởng bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên.

 | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |             



TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

                                                                                HOÀNG VĂN THANH*

       Trong hệ thống tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, “đại đoàn kết dân tộc” là một trong những tư tưởng nổi bật, có giá trị to lớn đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta. Đại đoàn kết dân tộc là tư tưởng xuyên suốt và nhất quán trong tư duy lý luận và trong hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh, tư tưởng đó đã trở thành chiến lược cách mạng của Đảng ta, gắn liền với những thắng lợi vẻ vang của dân tộc.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc được hình thành trên cơ sở kế thừa, phát triển biện chứng của chủ nghĩa yêu nước, lòng nhân ái và truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam. Tư tưởng đó còn được bắt nguồn từ những tinh hoa văn hóa của nhân loại, đặc biệt là chủ nghĩa Mác - Lênin đã được Người vận dụng, phát triển sáng tạo, phù hợp với tình hình và điều kiện cụ thể của Việt Nam trong từng giai đoạn cách mạng. Hồ Chí Minh đã tổng kết những kinh nghiệm của phong trào cách mạng Việt Nam và phong trào cách mạng nhiều nước trên thế giới, nhất là phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa; những thành công hay thất bại của các phong trào ấy được Người nghiên cứu, rút ra những bài học cần thiết và hình thành tư tưởng về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Đại đoàn kết dân tộc là một hệ thống những luận điểm, nguyên tắc, phương pháp nhằm tập hợp, tổ chức các lực lượng cách mạng và tiến bộ nhằm phát huy đến mức cao nhất sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Đó là tư tưởng xây dựng, củng cố, mở rộng lực lượng cách mạng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công của cách mạng. Tư tưởng về đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện nhất quán, xuyên suốt toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam. Người cho rằng, ở từng thời kỳ của cách mạng, có thể phải điều chỉnh chính sách và phương pháp tập hợp lực lượng cho phù hợp với từng đối tượng, nhưng đại đoàn kết dân tộc phải là vấn đề chiến lược có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của cách mạng.

Trong quá trình tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm nhận thấy, cuộc đấu tranh cứu nước của nhân dân ta cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX bị thất bại có một nguyên nhân sâu xa, là cả nước đã không đoàn kết lại được thành một khối. Người thấy rằng, muốn đưa cách mạng đến thành công phải có lực lượng cách mạng đủ mạnh để chiến thắng kẻ thù và xây dựng thành công xã hội mới. Vì vậy, phải thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, quy tụ mọi lực lượng cách mạng, tiến bộ thành một khối thống nhất vững chắc. Đó là chiến lược tập hợp lực lượng nhằm hình thành sức mạnh to lớn của dân tộc chống kẻ thù của dân tộc, của giai cấp. Đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề chiến lược lâu dài của cách mạng, là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng nước ta. Người chỉ rõ sức mạnh của cách mạng là sức mạnh của nhân dân: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”1. Người cho rằng: “Đoàn kết là điểm mẹ, điểm này mà thực hiện tốt đẻ ra con cháu đều tốt”2 và Người cũng nêu nhiều luận điểm về đoàn kết dân tộc: “Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi” và “Đoàn kết là then chốt của thành công”3, “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”4.

Sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân đã được khẳng định trong thực tiễn cách mạng, là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng nước ta. Người viết: “Lần đầu tiên trong lịch sử, một dân tộc bị áp bức đã đánh bại cuộc xâm lược của một đế quốc hùng mạnh, đã giành lại độc lập cho dân tộc, đem lại ruộng đất cho dân cày, đưa lại quyền dân chủ thực sự cho nhân dân. Thắng lợi đó là do lòng yêu nước nồng nàn và tinh thần đấu tranh anh dũng của quân và dân ta, do toàn dân ta đoàn kết chặt chẽ trong Mặt trận thống nhất và chính quyền nhân dân ta dựa trên nền tảng liên minh công nông dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và của Đảng, do sự ủng hộ của các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa và các lực lượng hoà bình dân chủ trên thế giới”5.

 Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng. Trong tư tưởng của Người, đại đoàn kết dân tộc không chỉ thể hiện ở việc nhấn mạnh vai trò to lớn của sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc mà Người coi đó còn là mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng. Do đó, tư tưởng đại đoàn kết dân tộc phải được quán triệt trong mọi chủ trương, đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng. Trong Lời kết thúc buổi ra mắt của Đảng Lao động Việt Nam năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ:

“Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam gồm 8 chữ:

ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN, PHỤNG SỰ TỔ QUỐC.

Nhiệm vụ của Đảng Lao động Việt Nam là kiên quyết lãnh đạo toàn dân đi đến:

KHÁNG CHIẾN THẮNG LỢI, KIẾN QUỐC THÀNH CÔNG”6

Theo Người, đại đoàn kết toàn dân tộc không đơn thuần chỉ là phương pháp tập hợp lực lượng cách mạng, nó cũng càng không thể là một thủ đoạn chính trị, mà đó là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng. Trong tư tưởng của Người, dân là gốc của cách mạng, là lực lượng tự giải phóng nên đại đoàn kết toàn dân tộc để tạo nên sức mạnh, là đòi hỏi khách quan đối với mọi cuộc cách mạng xã hội. Sứ mệnh của Đảng là thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn, tổ chức chuyển những đòi hỏi khách quan, tự phát của quần chúng thành hiện thực, thành sức mạnh vô địch của cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do cho dân tộc, hạnh phúc của nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, đại đoàn kết dân tộc phải là đại đoàn kết toàn dân. Đại đoàn kết toàn dân tộc có nghĩa là phải tập hợp được mọi người dân vào một mục tiêu chung. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, khái niệm “Dân” có nội hàm rất rộng, Người dùng khái niệm này để chỉ “mọi con dân nước Việt”, “con Rồng, cháu Tiên”. Theo đó, dân tộc Việt Nam được hiểu là toàn thể người dân Việt Nam đang sinh sống, làm ăn ở Việt Nam và những người Việt sinh sống, làm ăn ở nước ngoài có gốc gác là người Việt Nam, không phân biệt họ là dân tộc thiểu số hay đa số, họ theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo, không phân biệt họ giàu hay nghèo, họ là nam hay nữ, già hay trẻ. Người chỉ rõ: “Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà. Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”7.

Để thực hiện đoàn kết, Người căn dặn: Cần xóa hết thành kiến, cần phải thật thà đoàn kết với nhau, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ để phục vụ nhân dân. Người thường nhắc nhở: “Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòa bình, thống nhất độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ”8 Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định quan điểm đại đoàn kết dân tộc một cách rộng rãi như vậy là vì Người có lòng tin ở nhân dân, tin rằng trong mỗi người “ai cũng có ít hay nhiều tấm lòng yêu nước” tiềm ẩn bên trong. Tấm lòng yêu nước ấy có khi bị che mờ, chỉ cần làm thức tỉnh lương tri con người thì lòng yêu nước lại được dấy lên mạnh mẽ.

Theo Người, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân rộng rãi nhưng phải xác định lực lượng nào là nền tảng của khối đại đoàn kết với quan điểm giai cấp rõ ràng. Người chỉ rõ: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền của nhà, gốc của cây. Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, lại phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác”9. Như vậy, khi đã có nền vững, gốc tốt, nhưng phải thực hiện đoàn kết với tất cả các tầng lớp nhân dân khác trên nền tảng liên minh công nông - lao động trí óc do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo thì mới phát huy hết sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc phải biến thành sức mạnh vật chất, có tổ chức của khối đại đoàn kết dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng. Theo Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc nhằm tạo nên sức mạnh to lớn của toàn dân tộc để làm cách mạng xóa bỏ chế độ xã hội cũ, xây dựng chế độ xã hội mới. Do vậy, đại đoàn kết dân tộc không chỉ dừng lại ở quan điểm, tư tưởng, mà phải trở thành một chiến lược cách mạng, thành hành động thực tế của toàn Đảng, toàn dân ta. Đại đoàn kết dân tộc phải biến sức mạnh của tinh thần yêu nước, tinh thần đoàn kết, thành lực lượng vật chất có tổ chức và tổ chức đó là Mặt trận dân tộc thống nhất (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam) dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Khối đại đoàn kết dân tộc chỉ trở thành lực lượng to lớn có sức mạnh vô địch khi được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, được Đảng giác ngộ về mục tiêu, tổ chức thành khối vững chắc và hoạt động theo một đường lối chính trị đúng đắn. Trong đó, Mặt trận dân tộc thống nhất là nơi qui tụ mọi tổ chức và cá nhân yêu nước. Theo Người, nhân dân bao gồm nhiều lứa tuổi, nghề nghiệp, nhiều tầng lớp, giai cấp, nhiều dân tộc, tôn giáo khác nhau, do đó phải được tổ chức thực hiện đoàn kết vào trong Mặt trận dân tộc thống nhất. Đó là mặt trận chính trị rộng rãi tập hợp đông đảo các lực lượng phấn đấu vì hoà bình, vì mục tiêu của dân tộc. Mặt khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ Đảng là người lãnh đạo khối đại đoàn kết dân tộc đồng thời cũng là thành viên. Đảng lãnh đạo bằng việc xác định chính sách mặt trận đúng đắn, phù hợp với từng thời kỳ của cách mạng. Đảng phải dùng phương pháp vận động, giáo dục, thuyết phục, nêu gương, lấy lòng nhân ái để cảm hoá khơi dậy tinh thần tự giác, tự nguyện, không gò ép quan liêu mệnh lệnh. Đồng thời Người yêu cầu Đảng, Nhà nước phải có chủ trương, chính sách đúng đắn phù hợp với các giai cấp, tầng lớp, trên cơ sở lấy lợi ích chung của Tổ quốc, dân tộc và quyền lợi cơ bản của nhân dân lao động làm “mẫu số chung” cho sự đoàn kết. Người chỉ rõ: “Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình, mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất. Chỉ trong đấu tranh và công tác hàng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo”10.

Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh là kết tinh mối quan hệ biện chứng giữa đoàn kết dân tộc với đoàn kết quốc tế. Là một người yêu nước chân chính đồng thời là một nhà cộng sản quốc tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã suốt đời đấu tranh không mệt mỏi để củng cố và tăng cường tình đoàn kết hữu nghị giữa Việt Nam với các dân tộc trên thế giới đang đấu tranh cho mục tiêu vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Theo Hồ Chí Minh, từ đoàn kết dân tộc phải đi đến đại đoàn kết quốc tế; đại đoàn kết dân tộc đúng đắn là cơ sở cho việc thực hiện đại đoàn kết quốc tế trong sáng. Đoàn kết quốc tế là một nhân tố hết sức quan trọng giúp cho cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi hoàn toàn của sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đoàn kết quốc tế không chỉ giúp cho việc bảo vệ lợi ích sống còn của dân tộc mình mà còn vì nền độc lập, tự do của dân tộc khác, nước khác mà đó cũng vì mục tiêu cao cả của thời đại. Trong kháng chiến chống chủ nghĩa đế quốc, thực dân, tư tưởng đại đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế đã định hướng cho việc hình thành ba tầng Mặt trận: Mặt trận đại đoàn kết dân tộc; Mặt trận đoàn kết Việt Nam, Lào, Campuchia và Mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết với Việt Nam chống đế quốc xâm lược. Đây là sự phát triển rực rỡ và thắng lợi to lớn nhất của tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh.

Đại đoàn kết dân tộc là tư tưởng lớn, có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc với cách mạng nước ta. Thực tiễn cách mạng Việt Nam trên 80 năm qua đã chứng minh hùng hồn sức sống kỳ diệu và sức mạnh vĩ đại của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc. Từ chỗ là tư tưởng của lãnh tụ đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Trong giai đoạn mới của cách mạng, thực hiện tư tưởng của Người về đại đoàn kết dân tộc càng trở nên thiết thực hơn bao giờ hết, bởi nó vẫn là nhân tố quyết định tạo nên sức mạnh vô địch của toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

1, 5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2002, t.9, tr.583.
2. Hồ Chí Minh: Sđd, t.8, tr.392.
3. Hồ Chí Minh: Sđd, t.11, tr.70, 154.
4. Hồ Chí Minh: Sđd, t.10 tr.349.
6. Hồ Chí Minh: Sđd, t.6, tr.183.
7, 8, 9. Hồ Chí Minh: Sđd, t.7, tr.438.
10. Hồ Chí Minh: Sđd, t.3, tr.139.

* Đại tá, TS. Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự - Bộ Quốc phòng.

 | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |             



THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC Ở VIỆT NAM
THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

                                                                                    NGUYỄN NĂNG NAM*
                                                                                    NGUYỄN HẢI DƯƠNG**

        Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, trên cơ sở kế thừa tinh hoa văn hóa nhân loại, mà chủ yếu là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc, bình đẳng dân tộc, với trí tuệ anh minh, tình thương yêu đối với con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta những tư tưởng có giá trị, trong đó phải kể đến tư tưởng về bình đẳng dân tộc ở Việt Nam. Tư tưởng đó đã đặt nền móng cho việc xây dựng, củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tư tưởng bình đẳng dân tộc của Người gồm nhiều nội dung sâu sắc, rộng lớn được thể hiện ở những nội dung cơ bản sau:

Một là, bình đẳng dân tộc là quyền cơ bản của các dân tộc và luôn gắn liền với độc lập, tự do của Tổ quốc, ấm no, hạnh phúc của nhân dân

Bình đẳng giữa các quốc gia - dân tộc là quyền tất yếu trong quan hệ quốc tế của các dân tộc trong tiến trình phát triển của lịch sử xã hội. Do đó, Hồ Chí Minh xác định mục tiêu tối thượng của cách mạng Việt Nam là giải phóng Tổ quốc, giành quyền độc lập và quyền bình đẳng thiêng liêng, bất khả xâm phạm cho dân tộc Việt Nam. Để thực hiện quyền cơ bản đó, Người đã đặt sự nghiệp giải phóng dân tộc vào tiến trình của cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với CNXH và chỉ dưới CNXH các dân tộc ở nước ta mới được bình đẳng thật sự, bình đẳng hoàn toàn. Người viết: “Các dân tộc bị áp bức trên thế giới thấy rằng chỉ có dựa vào phong trào cách mạng xã hội chủ nghĩa, đi theo đường lối của giai cấp công nhân thì mới đánh đổ được bọn đế quốc để giành lại độc lập dân tộc hoàn toàn và bình đẳng thật sự giữa các dân tộc”. Nghĩa là, muốn thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc, cách mạng Việt Nam phải đi theo con đường cách mạng XHCN, và các dân tộc ở nước ta muốn được bình đẳng thì trước hết cả dân tộc Việt Nam phải được độc lập, tự do và bình đẳng với các dân tộc trên thế giới. Bình đẳng dân tộc là quyền tất yếu mà dân tộc Việt Nam được hưởng.

Bình đẳng dân tộc có mối quan hệ chặt chẽ với độc lập dân tộc. Theo Người, độc lập dân tộc là điều kiện “gốc” của bình đẳng dân tộc. Muốn có bình đẳng dân tộc, trước hết dân tộc ta phải được độc lập và nền độc lập đó phải là nền độc lập thực sự, độc lập hoàn toàn. Người cho rằng, nếu nước mà chưa giành được độc lập thì quyền lợi giai cấp vạn năm cũng không đòi lại được, dân tộc ta phải chịu mãi kiếp ngựa trâu và không thể có quyền bình đẳng. Cho nên, để thực hiện bình đẳng dân tộc, phải tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, làm cho nước ta hoàn toàn độc lập, nhân dân ta hoàn toàn tự do, trên cơ sở đó thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc ở Việt Nam. Khi nước ta đã giành được độc lập, Hồ Chí Minh chỉ rõ: Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, gắn bó máu thịt với nhau trên một lãnh thổ chung. Đó là quyền rất cơ bản của các dân tộc, phải được tôn trọng và bảo vệ. Người viết: “Bây giờ chúng ta, tất cả các dân tộc Kinh, Thái, Mường, Mèo, Mán, Xá, Puộc,... đều là anh em ruột thịt một nhà chứ không phải Kinh ăn hiếp Thái, Thái ăn hiếp Xá, Puộc như trước nữa”. Đồng bào các dân tộc thiểu số còn lạc hậu, nên Người đặc biệt quan tâm đến thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc thiểu số với dân tộc đa số và giữa các dân tộc thiểu số với nhau.

Bình đẳng dân tộc không chỉ gắn liền với độc lập dân tộc mà theo Hồ Chí Minh, còn phải vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. Bởi theo Người, nếu nước được độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập ấy cũng chẳng có nghĩa lý gì. Chính cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, ốm đau có thuốc chữa bệnh, có quyền giữ gìn, phát triển, phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc mình... mới là giá trị đích thực của bình đẳng dân tộc mà Hồ Chí Minh hướng các dân tộc ở nước ta vươn tới. Nội dung quan trọng này chỉ ra mục đích, phương pháp đúng đắn để thực hiện quyền bình đẳng dân tộc ở Việt Nam trên thực tế.

Hai là, bình đẳng dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là nguyên tắc chỉ đạo nhất quán trong chính sách dân tộc ở nước ta và phải được bảo đảm về pháp lý

Bình đẳng dân tộc là mục tiêu quan trọng, là nguyên tắc chỉ đạo nhất quán trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng viết: “Chính sách dân tộc của chúng ta là nhằm thực hiện sự bình đẳng giúp nhau giữa các dân tộc để cùng nhau tiến lên chủ nghĩa xã hội”. Muốn thực hiện bình đẳng dân tộc, phải xác định quan điểm, chủ trương, chính sách dân tộc đúng đắn, phù hợp với đặc điểm của dân tộc Việt Nam và tổ chức thực hiện có hiệu quả trên thực tế. Như vậy, bình đẳng dân tộc là một trong những mục tiêu quan trọng trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta.

Mục đích của chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, được Hồ Chí Minh chỉ rõ là nhằm đánh thắng “giặc đói, giặc dốt”, nghèo nàn và lạc hậu, làm cho các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam được hoàn toàn bình đẳng về mọi mặt, đồng bào ngày càng được hưởng đầy đủ hơn những quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, dân tộc thiểu số tiến kịp dân tộc đa số và cùng tiến bộ, văn minh, cùng tiến lên CNXH. Bởi chỉ dưới CNXH các dân tộc mới được bình đẳng thật sự, bình đẳng hoàn toàn. Đây là sự bảo đảm chắc chắn nhất cho các dân tộc được bình đẳng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và cũng là quá trình từng bước xoá bỏ những yếu tố bất bình đẳng giữa các dân tộc.

Hồ Chí Minh cho rằng, một xã hội công bằng, dân chủ, bình đẳng thì phải vận hành theo phương châm “trăm điều phải có thần linh pháp quyền”. Do đó, quyền bình đẳng dân tộc phải được bảo đảm về mặt pháp lý. Nghĩa là mọi người trong xã hội được quyền tự do, dân chủ, thực hiện sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Chính vì vậy, ngay khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Người đã chỉ đạo tổ chức tốt cuộc Tổng tuyển cử trong cả nước, vì “Tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng, tức là dân chủ, đoàn kết”. Mọi người dân thuộc các dân tộc khác nhau sống trên đất nước Việt Nam, nếu không mất quyền công dân đều có quyền làm chủ đất nước, đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ.

Ba là, bình đẳng dân tộc được thực hiện một cách toàn diện trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội

Quyền bình đẳng phải được thể hiện thực tế trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, trong đời sống của các dân tộc. Ở nước ta, sự thấp kém về trình độ kinh tế - xã hội của các dân tộc thiểu số không chỉ cản trở sự phát triển của bản thân các dân tộc ấy, mà còn là lực cản tiến trình phát triển chung của cả dân tộc Việt Nam. Nhưng không vì thế mà chấp nhận tồn tại sự bất bình đẳng giữa các dân tộc, theo Hồ Chí Minh, chúng ta phải “thực hiện các dân tộc bình đẳng về mọi mặt”, phải đặc biệt quan tâm tạo cơ hội, điều kiện phát triển cho các dân tộc đang ở trình độ thấp cùng tiến lên CNXH. Cụ thể: Về kinh tế, làm cho đời sống và sự sinh tồn của đồng bào các dân tộc ở nước ta được bảo đảm và ngày càng nâng cao; từng bước khắc phục sự chênh lệch về thu nhập, mức sống, điều kiện ăn, mặc, ở, đi lại... Về chính trị, các dân tộc đều bình đẳng, dân chủ, đoàn kết. Đó là quyền làm chủ của mọi công dân thuộc các dân tộc đối với đất nước, với Tổ quốc. Về văn hoá - xã hội, là bình đẳng trong phát triển, nâng cao dân trí, trình độ học vấn của mỗi dân tộc; là việc thừa nhận và khẳng định quyền được tôn trọng, bảo vệ, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá, truyền thống; quyền được học tập, được hưởng chế độ giáo dục “như nhau” giữa các dân tộc... Trong đó, thực hiện bình đẳng dân tộc về kinh tế suy cho cùng giữ vai trò quyết định sự bình đẳng trên các lĩnh vực khác.

Bốn là, bình đẳng dân tộc luôn gắn với đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ; nêu cao lòng tự hào, ý thức tự giác vươn lên của các dân tộc, khắc phục mọi nguy cơ gây bất bình đẳng dân tộc

Đoàn kết các dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài của sự nghiệp cách mạng ở nước ta; đoàn kết là sức mạnh, là “mẹ” của mọi thành công. Do đó, bình đẳng dân tộc phải luôn gắn với đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc. Người cho rằng: “Phải tăng cường đoàn kết dân tộc... Các dân tộc miền núi đoàn kết chặt chẽ, các dân tộc thiểu số đoàn kết với các dân tộc đa số”. Đồng bào các dân tộc không phân biệt nhiều ít phải thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, phải đoàn kết chặt chẽ như anh em một nhà để cùng nhau xây dựng Tổ quốc chung. Khi các dân tộc được bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, không có sự phân biệt đối xử hoặc chênh lệch,­ sẽ tạo nên tiếng nói chung và sự đồng thuận giữa các dân tộc. Ngược lại, nếu sự bất bình đẳng gia tăng, hay sự chênh lệch ngày càng lớn, sẽ nảy sinh những vấn đề phức tạp trong quan hệ giữa các dân tộc, có thể dẫn đến những hậu quả khôn lường. Vì thế, bình đẳng dân tộc là nguyên tắc để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc.

Ở nước ta, các dân tộc có trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đều, sinh sống trên các vùng, miền có những thuận lợi và khó khăn khác nhau. Để thực hiện bình đẳng dân tộc, Hồ Chí Minh cho rằng phải phát huy tinh thần giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc. Người viết: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau”. Các dân tộc có điều kiện phát triển cao hơn, nhất là dân tộc đa số phải tương trợ, giúp đỡ các dân tộc thiểu số cùng tiến bộ về mọi mặt. Cho nên, dân tộc nào đông hơn, nhiều người hơn, tiến bộ hơn thì phải giúp đỡ các dân tộc khác để đều tiến bộ như nhau, đều đoàn kết như anh em một nhà. Và phải giữ thái độ tôn trọng lẫn nhau giữa các dân tộc; tránh thái độ miệt thị, coi thường văn hoá, phong tục, tập quán của dân tộc khác.

Theo Hồ Chí Minh, muốn có độc lập, tự do, bình đẳng thực sự thì các dân tộc phải “tự giải phóng”, phải “dựa vào sức mình là chính”. Một dân tộc mà cứ ngồi chờ, không tự vươn lên khắc phục những hạn chế, khó khăn thì dân tộc đó không xứng đáng được hưởng quyền tự do, bình đẳng. Do đó, phát huy lòng tự hào, ý thức tự vươn lên, tinh thần tự lực, tự cường là động lực bên trong thúc đẩy quá trình thực hiện bình đẳng dân tộc, chủ động, tích cực đấu tranh chống mọi tư tưởng và hành động chia rẽ, gây bất bình đẳng dân tộc. Những nguy cơ gây bất bình đẳng xuất phát từ nhiều phía và thường biểu hiện ở tư tưởng dân tộc lớn, thái độ xem thường dân tộc nhỏ, tư tưởng dân tộc hẹp hòi, cục bộ, hoặc những biểu hiện ban ơn, áp đặt, kỳ thị, hiềm khích, phân biệt đối xử trong quan hệ dân tộc.

Năm là, cách thức, biện pháp thực hiện bình đẳng dân tộc là “phải làm đầy đủ chính sách dân tộc, phải làm cho khéo”, thiết thực và hiệu quả trên thực tế

Trong chỉ đạo việc ban hành và thực hiện chính sách dân tộc, Hồ Chí Minh luôn nhất quán giữa nguyên tắc pháp lý nêu trong các văn bản pháp luật với quá trình thực hiện các nguyên tắc đó. Nghĩa là, quyền bình đẳng dân tộc không chỉ được công nhận, bảo đảm bằng pháp luật của chế độ dân chủ nhân dân, cụ thể hoá trong chính sách, chương trình, kế hoạch mà phải được triển khai thực hiện nghiêm túc và đạt hiệu quả trên thực tế. Mọi chủ trương, chính sách thực hiện bình đẳng dân tộc phải sát với đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội, cư dân ở vùng dân tộc. Người viết: “Miền núi đất rộng người thưa, tình hình vùng này không giống vùng khác. Vì vậy, áp dụng chủ trương và chính sách phải thật sự sát với tình hình thực tế của mỗi nơi. Tuyệt đối chớ rập khuôn, chớ máy móc, chớ nóng vội”.

Để quyền bình đẳng của các dân tộc được thực hiện trên thực tế, Hồ Chí Minh yêu cầu phải tuyên truyền, giáo dục về bình đẳng dân tộc một cách đúng đắn, rõ ràng để đồng bào nghe, đồng bào hiểu những gì phải làm, cái gì phải xoá, phải giác ngộ về quyền lợi và nghĩa vụ đối với cuộc sống của chính mình, nhất là những giá trị của bình đẳng để phấn đấu và thực hiện. Nội dung của công tác tuyên truyền, giáo dục cho đồng bào và cán bộ dân tộc thiểu số cần hết sức cụ thể, toàn diện, ngắn gọn và dễ hiểu vì trình độ dân trí của đồng bào còn thấp.

Đảng, Nhà nước là chủ thể chính trong việc xác lập và thực hiện quyền bình đẳng dân tộc. Người chỉ rõ: “Trung ương Đảng và Chính phủ, mà trực tiếp là các cấp uỷ đảng, các ban địa phương, các cô, các chú phải làm sao nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của đồng bào các dân tộc”. Các cấp bộ đảng phải thi hành đúng chính sách dân tộc, thực hiện sự đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc, cần quan tâm chăm lo đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số, bởi những cán bộ được đào tạo và trưởng thành ở vùng nào mới thích hợp với hoàn cảnh ở đó. Người yêu cầu bộ đội phải giúp đỡ đồng bào cách sản xuất và bảo đảm đời sống, thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng và Chính phủ. Phải tạo động lực, phát huy lòng tự hào dân tộc, quyền tự chủ, tinh thần tự vươn lên của các dân tộc thiểu số.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng dân tộc có vai trò to lớn đối với việc thực hiện bình đẳng dân tộc ở nước ta, nó không chỉ định hướng tư tưởng, lý luận cho hành động của Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành, các địa phương, cán bộ, đảng viên mà còn tạo động lực, khơi dậy niềm tin, lòng tự hào, ý chí vươn lên bình đẳng của tất cả các dân tộc ở nước ta.

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc. Phần lớn các dân tộc thiểu số sống ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới. Đây là những địa bàn có vị trí chiến lược về kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh, giao lưu quốc tế. Điều này đòi hỏi chúng ta cần tập trung thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc cùng phát triển, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam... Các chính sách kinh tế - xã hội phải phù hợp với đặc thù của các vùng và các dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số. Các dân tộc không phân biệt đa số hay thiểu số, trình độ phát triển cao hay thấp đều ngang nhau về quyền lợi và nghĩa vụ trong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội và được bảo đảm bằng Hiến pháp và pháp luật. Nhà nước có trách nhiệm giúp các dân tộc có kinh tế chậm phát triển cùng đạt được trình độ phát triển chung với các dân tộc khác trong cả nước..., giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá của các dân tộc, làm phong phú và đa dạng nền văn hoá Việt Nam thống nhất. Sự quan tâm tương trợ, giúp đỡ nhau cùng phát triển, đó chính là biểu hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc đặc trưng nhất ở Việt Nam. Thực hiện nhất quán quan điểm của Đảng về đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đó cũng chính là việc thực hiện đúng đắn, sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng dân tộc ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay.

*  ThS, Học viện Khoa học Quân sự.
** ThS, Học viện An ninh nhân dân.

 | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |             



VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ TÔN GIÁO
TRONG THỰC TIỄN CÔNG TÁC TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

                                                                                             NGUYỄN MINH NGUYÊN*

         Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề tôn giáo, vì muốn giành độc lập dân tộc phải đoàn kết được toàn dân, trong đó những người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau ở nước ta là lực lượng đông đảo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Người đã vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam và trở thành tư tưởng của Người về vấn đề tôn giáo ở Việt Nam, gồm những điểm cơ bản sau đây:

Một là, đoàn kết lương giáo, hòa hợp dân tộc

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng việc đoàn kết lương giáo, đoàn kết giữa những người có tín ngưỡng, tôn giáo với những người không có tín ngưỡng, tôn giáo là một bộ phận của đoàn kết dân tộc. Để đoàn kết những người có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau với người không theo tín ngưỡng, tôn giáo thì cần phải đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, đồng thời quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào có đạo. Để có thể thực hiện tốt việc đoàn kết tôn giáo cần phải phân biệt được nhu cầu tín ngưỡng chân chính của đồng bào có đạo với việc lợi dụng tín ngưỡng vì lợi ích cục bộ, vị kỷ; đồng thời phải phân biệt giữa đức tin của quần chúng với việc lợi dụng tôn giáo để chống phá sự đoàn kết trong nhân dân của các phần tử phản động để có các biện pháp xử lý phù hợp. Cần phải biết kế thừa các giá trị nhân bản của các tôn giáo, trân trọng các nhân vật sáng lập các tôn giáo.

Hai là, tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân

Quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng là một trong những quyền chính đáng của con người. Hạn chế và vi phạm quyền ấy là đi ngược với xu thế của tiến bộ xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn giáo dục mọi người và bản thân Người luôn gương mẫu trong việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng của đồng bào có đạo. Sự tôn trọng ấy không chỉ thể hiện trên văn bản, lời nói mà còn trên cả hoạt động thực tiễn của Bác. Chủ tịch Hồ Chí Minh nghiêm khắc phê phán những phần tử lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo, những kẻ hành nghề mê tín dị đoan, phê phán những việc làm sai chủ trương chính sách tôn giáo của Đảng và chính phủ.

Ba là, xử lý hài hòa mối quan hệ giữa tôn giáo và dân tộc, đức tin và lòng yêu nước

Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm rằng giữa đức tin tôn giáo và lòng yêu nước là không mâu thuẫn nhau. Một người có thể vừa là một tín đồ chân chính vừa là một công dân yêu nước. Hồ chủ tịch thường nhắc: Nước nhà có độc lập thì tôn giáo mới được tự do, vì vậy mọi người phải làm cho nước nhà được độc lập. Khi có được độc lập rồi thì phải quan tâm đến đời sống nhân dân vì độc lập sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu người dân vẫn còn đói khổ.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh để giải quyết thực tiễn mối quan hệ tôn giáo ở nước ta hiện nay, như: Mối quan hệ giữa đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo với đồng bào không có tín ngưỡng, tôn giáo; đồng bào theo tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau; đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo ở trong nước với đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ngoài và mối quan hệ đồng đạo trong và ngoài nước... cùng đồng hành với dân tộc trong công cuộc xây dựng chế độ XHCN là công tác quan trọng nhằm vừa đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, vừa đấu tranh chống lại những âm mưu lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch, tạo sự đồng thuận của đồng bào các tôn giáo trong quá trình xây dựng chế độ XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng. Vấn đề nhận thức và xử lý hài hoà mối quan hệ về tôn giáo ở nước ta hiện nay là một bài toán khó, cần phải có sự phối hợp đồng bộ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhằm tạo ra mối quan hệ hài hòa, gắn bó với hơn 20 triệu đồng bào theo đạo để họ cùng đồng tâm, hiệp lực, đoàn kết trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do đó, thực hiện công tác quản lý về tôn giáo phải dựa trên quan điểm lịch sử, khoa học, nhận thức toàn diện căn nguyên lịch sử, căn nguyên xã hội, căn nguyên tâm lý phát sinh và sự tồn tại của tôn giáo, nhận thức toàn diện hiện tượng xã hội tôn giáo có ảnh hưởng tương đối lớn đối với một bộ phận quần chúng nhân dân.

 Trải qua hơn 25 năm đổi mới, cải cách, mở cửa để hội nhập với quốc tế, đoàn kết xã hội và lợi ích xã hội nước ta có sự thay đổi phức tạp, quan niệm tư tưởng của nhân dân ngày càng có xu hướng đa dạng, một số người tìm kiếm sự an ủi tâm lý từ trong tôn giáo... Ảnh hưởng của tôn giáo trong đời sống của một bộ phận nhân dân ngày càng tăng lên. Cùng với sự phát triển của các tôn giáo, các hoạt động xâm nhập của các thế lực lợi dụng tôn giáo từ bên ngoài cũng ngày càng tăng lên, ngày càng can thiệp sâu hơn vào đời sống chính trị ở nước ta. Trong một mức độ nhất định, sự can thiệp của các thế lực thù địch đã làm cho tính phức tạp của vấn đề tôn giáo ngày càng trở nên nổi cộm. Do đó, chúng ta nhất định phải nắm chắc và xử lý đúng đắn vấn đề tôn giáo theo tư tưởng Hồ Chí Minh, vừa không thể dùng thủ đoạn hành chính để chèn ép tôn giáo, đồng thời cũng không thể từ bỏ vai trò quản lý đối với các hoạt động của tôn giáo, mà ngược lại cần phải tăng cường làm tốt công tác tôn giáo của Đảng, đoàn kết chặt chẽ những người theo tôn giáo xung quanh Đảng và chính quyền, cùng phấn đấu vì sự nghiệp “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đối với công tác tôn giáo trong tình hình hiện nay, chúng ta cần phải vận dụng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thực tiễn giải quyết công tác tôn giáo ở nước ta hiện nay là:

1. Phải thực hiện đúng đắn và toàn diện chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước, là “Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của quần chúng nhân dân”. Đây là một chính sách cơ bản và lâu dài, nhất quán trước sau như một của Đảng và Nhà nước, đồng thời cũng là quyền lợi cơ bản mà Hiến pháp đã dành cho mỗi công dân. Phải kiên trì thống nhất giữa nghĩa vụ và quyền lợi, tăng cường công tác chính trị, tư tưởng đối với quần chúng theo tôn giáo, tăng cường tiến hành giáo dục chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa tập thể và CNXH, triển khai tuyên truyền, giáo dục pháp luật và giáo dục đạo đức công dân, phổ cập tri thức văn hoá và khoa học kỹ thuật, đặc biệt là tri thức khoa học hiện đại, làm cho quần chúng theo tôn giáo ngày càng có nhiều cống hiến, đóng góp cho sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta.

2. Phải kiên trì sự nghiệp quản lý tôn giáo theo pháp luật. Hoạt động tôn giáo là hoạt động liên quan và ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội, chắc chắn sẽ liên quan tới lợi ích chung của xã hội và lợi ích quốc gia. Do đó, mọi hoạt động của các tổ chức tôn giáo cần phải quản lý theo pháp luật, kiên quyết xử lý các đối tượng lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm ảnh hưởng tới lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo đảm hoạt động tôn giáo được tiến hành một cách qui phạm và có trật tự. Tôn giáo cần phải hoạt động trong phạm vi của Hiến pháp và pháp luật, hoạt động tôn giáo không được can dự vào quá trình thực thi của các cơ quan chức năng của quốc gia, như: hành chính, tư pháp và giáo dục; không cản trở trật tự xã hội, trật tự công cộng và sinh hoạt bình thường của nhân dân.

3. Tạo điều kiện, giúp đỡ các tổ chức tôn giáo, trong nước giao lưu, mở rộng đối ngoại với các tổ chức tôn giáo trên thế giới; cổ vũ và ủng hộ các tổ chức tôn giáo tiến hành giao lưu đối ngoại và tuyên truyền đối ngoại trên nguyên tắc: Độc lập, tự chủ, bình đẳng, hữu nghị, đem lại sự hiểu biết và ủng hộ ngày càng lớn của các nước trên thế giới về sự đúng đắn của chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời cũng là sự bảo đảm quan trọng để các tổ chức tôn giáo và tín đồ các tôn giáo không chịu sự chi phối và khống chế của thế lực bên ngoài. Cần phải chỉ đạo và ủng hộ các tổ chức tôn giáo kiên trì nguyên tắc này; giúp đỡ và ủng hộ các tổ chức tôn giáo phát huy những giá trị đạo đức tốt đẹp của tôn giáo tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phải bảo đảm quyền lãnh đạo các tổ chức tôn giáo thuộc về các chức sắc yêu nước, yêu tôn giáo.

4. Phải tích cực định hướng và giúp đỡ tôn giáo thích ứng với xã hội XHCN. Vì xã hội XHCN không phải là một mớ giáo điều, cứng nhắc, xa lạ với lợi ích vật chất và tinh thần của con người. Xã hội XHCN hết sức cụ thể và thiết thực: “Chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời sống hạnh phúc”. Cổ vũ và ủng hộ các tổ chức tôn giáo phát huy truyền thống tốt đẹp yêu nước, yêu tôn giáo, đoàn kết tiến bộ, phục vụ xã hội, ủng hộ họ cống hiến vì sự nghiệp đoàn kết dân tộc, phát triển kinh tế, tiến bộ và công bằng xã hội, giữ vững độc lập, thống nhất đất nước. Giúp đỡ, ủng hộ các tổ chức tôn giáo đưa ra lý giải đối với giáo lý tôn giáo phù hợp với yêu cầu tiến bộ xã hội, giúp họ tăng cường sự hiểu biết của tín đồ đối với Đảng và chính phủ, ủng hộ các tôn giáo tham gia phản đối và ngăn chặn các thế lực lợi dụng tôn giáo để tiến hành hoạt động phi pháp gây nguy hại đối với Tổ quốc và lợi ích của nhân dân, cảnh giác và phòng ngừa âm mưu của các thế lực thù địch trong nước và quốc tế thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình” để chia rẽ nhân dân với Đảng và Nhà nước; lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để tiến hành xâm nhập vào nước ta. Trong thời kỳ hội nhập, tăng cường quan hệ quốc tế, chúng ta càng cần phải cảnh giác ngăn chặn sự thâm nhập của các tổ chức, cá nhân lợi dụng tôn giáo, kích động đồng bào tôn giáo chống đối chính quyền và chế độ.

* ThS, Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam.

 | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |             



Những điểm mới của bộ “Hồ Chí Minh toàn tập”
xuất bản lần thứ ba

                                                                                     NGUYỄN VĂN CHUNG*

       Sau 5 năm khẩn trương sưu tầm, xác minh, thẩm định, biên tập, tháng 11-2009, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh đã trình Hội đồng xuất bản bộ sách Hồ Chí Minh toàn tập những tác phẩm, bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh mới sưu tầm được. Tháng 2-2010, Hội đồng xuất bản đã tiến hành nghiệm thu Chương trình.

Trên cơ sở kết quả nghiệm thu, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa X) đã ra Quyết định số 299-QĐ/TW, ngày 6-4-2010 về việc thành lập Hội đồng xuất bản bộ sách Hồ Chí Minh toàn tập xuất bản lần thứ ba và đồng ý giao cho Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh phối hợp với Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật xuất bản lần thứ ba bộ sách Hồ Chí Minh toàn tập, coi đây là công trình chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng.

Thực hiện sự chỉ đạo của Ban Bí thư, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật đã khẩn trương huy động mọi nguồn lực cho công việc biên tập, xuất bản bộ sách quan trọng này, phục vụ kịp thời Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng.

Với sự nỗ lực cao độ, tinh thần làm việc đầy trách nhiệm, 3 tập đầu của bộ sách Hồ Chí Minh toàn tập xuất bản lần thứ ba được hoàn thành và công bố đúng vào dịp diễn ra Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Đây là kết quả của một quá trình lao động miệt mài, tận tụy, kỷ cương, sáng tạo của tập thể cán bộ, công chức, viên chức Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, với sự hỗ trợ, phối hợp kịp thời, hiệu quả của Nhóm xây dựng bản thảo, mà cụ thể là Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng trực thuộc Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh. Sau khi hoàn thành 3 tập đầu, các tập còn lại tiếp tục được khẩn trương biên tập, bổ sung và hoàn thiện. Cho đến cuối tháng 5, đầu tháng 6-2011, công việc biên tập đã hoàn tất. Cuối tháng 8-2011, tất cả 15 tập của bộ Hồ Chí Minh toàn tập xuất bản lần thứ ba đã được xuất bản và phát hành rộng rãi trong cả nước.

Bộ Hồ Chí Minh toàn tập xuất bản lần thứ ba, bao gồm 15 tập, với trên 3.300 tác phẩm quan trọng, trong đó được bổ sung thêm khoảng 800 tư liệu mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ năm 1912 đến năm 1969, đã được xác minh và thẩm định, nghiệm thu hai cấp theo quy định của một chương trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước. Bộ sách là một tài sản tinh thần vô giá của toàn Đảng, toàn dân ta, có giá trị lý luận và thực tiễn cao; phản ánh trí tuệ thiên tài của vị lãnh tụ, nhà tư tưởng mácxít; làm rõ quá trình lịch sử đấu tranh anh dũng và thắng lợi vẻ vang của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong bài viết này, chúng tôi muốn góp phần làm sáng rõ hơn những điểm mới của bộ Hồ Chí Minh toàn tập xuất bản lần thứ ba, qua đó thấy được sự kế thừa và phát triển so với hai lần xuất bản trước đó.

Thứ nhất, về số tập và việc sắp xếp thời gian của mỗi tập đã có sự thay đổi lớn. Như đã trình bày ở trên, do được bổ sung thêm một số lượng lớn tư liệu mới (800 tác phẩm, bài viết, bài nói) nên bộ sách Hồ Chí Minh toàn tập xuất bản lần thứ ba bao gồm 15 tập. Những tác phẩm, bài nói, bài viết của Người ra đời vào thời gian nào thì được sắp xếp đúng vào thời gian của tập đó. Đây không phải là sự bổ sung thêm 3 tập mới. Thứ tự thời gian của các tập trong bộ Hồ Chí Minh toàn tập xuất bản lần thứ ba được Ban biên soạn sắp xếp như sau: Tập 1 (1912-1924); tập 2 (1924-1929); tập 3 (1930-1945); tập 4 (1945-1946); tập 5 (1947-1948); tập 6 (1949-1950); tập 7 (1951-1952); tập 8 (1953-1954); tập 9 (1954-1955); tập 10 (1955-1957); tập 11 (1957-1958); tập 12 (1959-1960); tập 13 (1961-1962); tập 14 (1963-1965); tập 15 (1966-1969).

Thứ hai, trong lần xuất bản này, các tác phẩm chưa có đầy đủ dữ kiện khoa học để xác định của Chủ tịch Hồ Chí Minh được xếp vào phần Tác phẩm có thể là của Chủ tịch Hồ Chí Minh để bạn đọc tham khảo và góp phần xác minh thêm. Theo thống kê của chúng tôi, bộ Hồ Chí Minh toàn tập xuất bản lần thứ ba có 21 tác phẩm thuộc loại này. Nếu như trong lần xuất bản thứ hai, tác phẩm Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ được xếp ở phần Phụ lục, trong tiểu mục Các văn bản viết chung, thì ở lần xuất bản này, tác phẩm trên được xếp ở tiểu mục Tác phẩm có thể là của Chủ tịch Hồ Chí Minh.1

Bên cạnh đó, một số tác phẩm ở phần Phụ lục trong lần xuất bản trước, lần này đã được xác minh, có đủ cơ sở để khẳng định là của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được đưa lên phần chính. Chẳng hạn, nếu như trong lần xuất bản thứ hai, tác phẩm Chiến thuật du kích-Quyển IV, được xếp vào phần Phụ lục của Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, thì ở lần xuất bản này, tác phẩm trên đã được đưa vào phần chính.2

Thứ ba, tất cả các tác phẩm, bài nói, bài viết được in trong lần xuất bản thứ ba đã được rà soát, sửa lỗi kỹ thuật, được so sánh, đối chiếu với lần xuất bản thứ hai và văn bản gốc. Những điểm chưa rõ, còn nghi ngờ, các biên tập viên đã trao đổi với Nhóm xây dựng bản thảo để thống nhất, chỉnh sửa, bổ sung kịp thời, đảm bảo tính chính xác cao. Phần Chú thích và Bản chỉ dẫn tên người đã được bổ sung, cập nhật thông tin, được biên tập lại, để cho thông tin được đầy đủ, chính xác, thuận lợi nhất cho việc tra trích, nghiên cứu của các nhà khoa học và đông đảo bạn đọc. Bên cạnh đó, phần nguồn của mỗi văn bản và chú thích ở cuối trang cũng đã được thẩm định, bổ sung cho chính xác (bao gồm chú thích của tác giả, chú thích của người dịch và chú thích của biên tập).

Cũng giống như trong hai lần xuất bản trước đó, trong lần xuất bản thứ ba này, Ban Chỉ đạo xây dựng bản thảo và Nhóm xây dựng bản thảo đã đưa vào phần Phụ lục Danh mục những sắc lệnh do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký, một số văn bản, Hiệp ước, Tạm ước mà Người đã cùng ký với nhiều người khác với quan niệm rằng, những văn bản ấy đã phản ánh một phần hoạt động và tư tưởng của Người.

Thứ tư, ở những lần xuất bản trước, tất cả các sắc lệnh, tác phẩm, bài nói, bài viết mà Chủ tịch Hồ Chí Minh viết chung, ký chung,... được đưa vào phần Phụ lục, thì trong lần xuất bản thứ ba này, tùy vào tư liệu của mỗi tập, phần Phụ lục được chia ra làm các tiểu mục khác nhau. Tác phẩm, bài nói, bài viết thuộc tiểu mục nào, thì được sắp xếp vào tiểu mục ấy. Phần Phụ lục của bộ Hồ Chí Minh toàn tập xuất bản lần thứ ba này bao gồm các tiểu mục như: Danh mục các sắc lệnh do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký, Danh mục các sắc lệnh và quyết định do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký, Những văn bản do Chủ tịch Hồ Chí Minh viết chung và cùng ký, Những tác phẩm viết chung, Những bài ký tên chung, Những tác phẩm có thể là của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bài tường thuật trên báo, Những bài tường thuật trên sách báo.

Ở lần xuất bản thứ hai, bản Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Ban biên soạn xếp vào cả hai tập (tập 3 và tập 4), thì trong lần xuất bản thứ ba này, Tuyên ngôn độc lập được đưa vào tập 4. Khác với những lần xuất bản trước, Tuyên ngôn độc lập lần này được lấy nguồn từ báo Cứu quốc, số 36, ngày 5-9-1945, trong khi đó, các lần xuất bản trước được lấy nguồn từ bản sao băng ghi âm của Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng.

Thứ năm, về thời gian biên tập. So với bộ Hồ Chí Minh toàn tập xuất bản lần thứ nhất (năm 1990) và lần thứ hai (năm 1995), bộ Hồ Chí Minh toàn tập xuất bản lần thứ ba được tiến hành trong thời gian ngắn nhất, nhưng vẫn đảm bảo tính chính xác cao. Tổng thời gian biên tập bộ sách trong khoảng 6 tháng (chỉ tính thời gian biên tập, không kể thời gian in), trong đó, riêng 3 tập đầu (tập 1, 2, 3), tính từ khi biên tập cho đến khi ra sách chỉ trong khoảng 1 tháng.

 Có thể nói, việc xuất bản bộ Hồ Chí Minh toàn tập lần thứ ba là một sự kiện quan trọng, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Bộ sách đã cung cấp nhiều tư liệu mới, nêu lên những đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh với cách mạng thế giới và góp phần làm cho thế giới đổi thay bằng sự cổ vũ, đoàn kết các dân tộc thuộc địa cùng nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới đấu tranh, loại bỏ khỏi đời sống nhân loại sự thống trị, áp bức của chế độ thực dân dưới mọi hình thức, cống hiến to lớn vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên hành tinh của chúng ta.

Bộ Hồ Chí Minh toàn tập xuất bản lần thứ ba là sự kế thừa những kinh nghiệm và thành tựu của hai lần xuất bản trước, đồng thời là sự bổ sung, đổi mới và sáng tạo trong công việc biên tập - xuất bản nhằm đạt chất lượng, hiệu quả cao nhất, đồng thời rất tiện ích cho các nhà khoa học, những người nghiên cứu và đông đảo bạn đọc trong việc tra trích, tìm hiểu về cuộc đời và tư tưởng của Người. Đây là một công trình lao động khoa học nghiêm túc của một tập thể đông đảo các nhà khoa học, cán bộ nghiên cứu, sưu tầm, biên tập, xuất bản. Công trình ra đời đã đáp ứng kịp thời đòi hỏi bức thiết của toàn Đảng, toàn dân ta trong việc nghiên cứu, học tập tư tưởng và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; làm sáng rõ hơn công lao, đóng góp của Người đối với cách mạng thế giới nói chung, cách mạng Việt Nam nói riêng.

1. Xem Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. CTQG-ST, H, 2011, t.1, tr. 500.
2. Xem Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.3, tr.543.

* Ban sách Đảng, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật.

 | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |             



Những sự kiện nổi bật trong tháng 5-2012

                                                                                                              TOÀN TRỰC *

Tháng 5 gắn với nhiều sự kiện lịch sử quan trọng. Sau đây khái quát 10 nhóm sự kiện1.

1. Kỷ niệm các danh nhân

* Ngày sinh Các Mác (5-5-1818):Các Mác (Karl Marx) sinh ngày 5-5-1818 ở thành phố Tơria (nước Đức) trong một gia đình trí thức lớn. Ông tốt nghiệp tiến sĩ triết học vào năm 1841.

Bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản được ông và Friedrich Engels soạn thảo và xuất bản vào tháng 2-1848. Từ đó, nhân loại tiếp cận với một thế giới quan mới về chủ nghĩa duy vật triệt để, về sự phát triển lý luận, về đấu tranh giai cấp và về vai trò cách mạng dành cho giai cấp vô sản. Bộ Tư bản của Các Mác được đánh giá là bộ sách phân tích sâu nhất về chủ nghĩa tư bản. Không chỉ sáng tạo lý luận, Các Mác còn là người tổ chức, lãnh đạo, là linh hồn, trí tuệ của Quốc tế I, tức “Hội liên hiệp công nhân quốc tế”, thành lập ngày 22-9-1864.

Hai phát minh vĩ đại nhất của Các Mác là: Vạch ra quy luật phát triển chung của lịch sử (những quan niệm duy vật về lịch sử) mà hòn đá tảng là học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội, và vạch ra quy luật vận động riêng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa (học thuyết giá trị thặng dư).

Đối với nhân dân Việt Nam và các dân tộc tiến bộ trên thế giới, chủ nghĩa Mác vẫn là chủ nghĩa chân chính nhất, cách mạng nhất. Học thuyết của Người nhằm xây dựng một xã hội tốt đẹp mãi mãi dẫn dắt nhân loại tự giải phóng mình khỏi ách áp bức và bóc lột, tiến lên xây dựng một xã hội mới văn minh, tươi đẹp.

* Ngày sinh Trần Phú (1-5-1904):

Đồng chí Trần Phú, Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam, sinh ngày 1-5-1904, quê xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Ông đỗ đầu kỳ thi Thành chung năm 1922 tại trường Quốc học Huế, sau đó dạy học ở Vinh. Sớm giác ngộ cách mạng, ông tham gia Hội Phục Việt năm 1925, sau Hội đổi thành Tân Việt Cách mạng Đảng. Năm 1926, ông sang Quảng Châu (Trung Quốc) bàn việc hợp nhất với Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, sau đó sang học trường Đại học Phương Đông ở Moscow (1927), tham dự Đại hội VI Quốc tế Cộng sản (1928). Tháng 4-1930, ông được bổ sung vào Ban Chấp hành Trung ương lâm thời Đảng Cộng sản Việt Nam. Tháng 10-1930, ông chủ trì Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng ở Hương Cảng (Trung Quốc). Hội nghị quyết định đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương, thông qua bản “Luận cương chính trị” do ông soạn thảo và bầu Ban Chấp hành Trung ương chính thức do ông làm Tổng Bí thư. Tháng 3-1931, ông chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ hai, bàn việc chấn chỉnh Đảng sau đợt khủng bố của thực dân Pháp. Ngày 18-4-1931, ông bị giặc Pháp bắt ở Sài Gòn và ngày 6-9-1931, mất tại Nhà thương Chợ Quán. Ông đã để lại cho chúng ta lời nhắn nhủ “Hãy giữ vững chí khí chiến đấu”.

* Hoàng Văn Thụ hy sinh (24-5-1944):

Đồng chí Hoàng Văn Thụ là một nhà cách mạng, một chiến sĩ cộng sản kiên trung, xuất sắc của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông là người Tày, sinh năm 1906 tại xóm Lạc Phạn, xã Nhân Lý (nay là xã Hoàng Văn Thụ), châu Điềm He, huyện Văn Uyên (nay là huyện Văn Lãng), tỉnh Lạng Sơn. Năm 1928, Hoàng Văn Thụ sang Trung Quốc tìm đường cứu nước. Năm 1930, ông trở về huyện Văn Uyên xây dựng phong trào, thành lập chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương đầu tiên ở Lạng Sơn và dần dần mở rộng đến Bắc Sơn, Tràng Định. Năm 1938, ông phụ trách Xứ uỷ Bắc Kỳ, rồi làm Bí thư Xứ uỷ Bắc Kỳ. Năm 1941, ông được bầu vào Thường vụ Trung ương Đảng.

Mặt trận Việt Minh ra đời, Đảng Cộng sản Đông Dương một mặt xây dựng căn cứ ở Việt Bắc, mặt khác đẩy mạnh phong trào ở các tỉnh. Ban Thường vụ đặt cơ quan bí mật ngay tại quận 5, Hà Nội. Tháng 8-1943, ông bị địch bắt tại ngõ Nam Diệm, khu Tám Mái, Hà Nội. Ngày 24-5-1944, ông bị xử bắn. Năm đó ông 38 tuổi.

Hoàng Văn Thụ sáng tác nhiều bài thơ cách mạng bằng cả tiếng Tày và tiếng Việt. Thơ của ông có vị trí xứng đáng trong thơ ca cách mạng Việt Nam.

2. Miền Bắc hoàn toàn giải phóng (16-5-1955)

Thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954, mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp, mở ra trang sử mới cho dân tộc ta. Đế quốc Pháp buộc phải ký Hiệp định Giơnevơ đình chỉ chiến sự ở Việt Nam. 

Theo Điều 5 của Hiệp định, Hải Phòng và một số điểm thuộc khu vực Đông Bắc là khu tập kết 300 ngày, để quân đội “Liên hiệp Pháp” tập trung trước khi rút vào Nam. Ngày 16-5-1955, tên lính Pháp cuối cùng rút khỏi đảo Cát Bà (Hải Phòng) - Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, một nửa đất nước Việt Nam hoàn toàn về tay nhân dân. Đó là thắng lợi lịch sử của nhân dân ta sau những năm tháng chiến đấu kiên cường và anh dũng.

Sau khi miền Bắc được giải phóng, Đảng ta chủ trương tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược là tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và tiếp tục đấu tranh giải phóng miền Nam.

3. 40 năm Ngày giải phóng tỉnh Quảng Trị (1-5-1972)2

Ngày 23-3-1972, Bộ Chính trị thông qua lần cuối và phê chuẩn kế hoạch tiến công chiến lược năm 1972, mà hướng chính là giải phóng Quảng Trị.

 Lực lượng tham gia chiến dịch gồm: 3 sư đoàn bộ binh của Bộ, 2 trung đoàn bộ binh độc lập, 4 tiểu đoàn bộ binh của Quân khu Trị - Thiên, Đoàn đặc công hải quân 126, 3 tiểu đoàn đặc công của Bộ, 2 trung đoàn xe tăng, thiết giáp, 7 trung đoàn pháo binh, 3 sư đoàn phòng không, 4 tiểu đoàn tên lửa phòng không, 2 trung đoàn công binh và các đơn vị lực lượng vũ trang các huyện, tỉnh trong địa bàn chiến dịch. Với thế và lực như vậy, bắt đầu từ ngày 30-3-1972, ta đã chủ động mở chiến dịch tiến công. Ngày 1-5-1972, Quảng Trị được hoàn toàn giải phóng.

Không cam chịu thất bại, ngày 19-6-1972, địch mở chiến dịch phản công. Trong 81 ngày đêm, từ 28-6 đến 16-9-1972, để chiếm lại Thành cổ (với 16 ha) và thị xã Quảng Trị (hơn 3km2) giặc Mỹ đã ném xuống đây 328.000 tấn bom, tương đương với sức công phá của 7 quả bom nguyên tử ném xuống Hiroshima năm 1945. Chiến trường Quảng Trị trở nên khốc liệt, đẫm máu bởi sự mất mát quá lớn của cả hai bên.

Thắng lợi của chiến dịch giải phóng Quảng Trị đã tạo tiền đề để chúng ta mở cuộc tấn công vũ bão, thần tốc làm nên đại thắng mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

4. Ngày thành lập thành phố Đà Nẵng (24-5-1889)3

Sau khi xâm chiếm toàn bộ nước ta, ngày 24-5-1889, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập thành phố Tourane (Đà Nẵng) thuộc tỉnh Quảng Nam, có quy mô thành phố cấp 2, như Chợ Lớn và Phnôm Pênh (Campuchia) lúc đó.

Năm 1950, Pháp trao trả Đà Nẵng cho chính quyền Bảo Đại. Tháng 3-1965, quân Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng và biến nơi đây thành căn cứ quân sự lớn. Năm 1967, Đà Nẵng trực thuộc Trung ương chính quyền Sài Gòn và được xây dựng thành trung tâm chính trị, quân sự, văn hóa của vùng I, vùng II chiến thuật. Năm 1975, hòa bình lập lại, Đà Nẵng thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Ngày 6-11-1996, Đà Nẵng được tách ra thành thành phố trực thuộc Trung ương. Hiện nay, Đà Nẵng là đô thị loại 1, có 6 quận và 2 huyện (có huyện đảo Hoàng Sa), gồm 56 phường, xã; dân số trên 834.000 người.

Sau hơn 15 năm phát triển, diện mạo thành phố thay đổi hẳn với những công trình cao tầng, nhiều con đường lớn, nhiều cây cầu bắc ngang sông Hàn, tăng trưởng GDP luôn duy trì ở mức cao... Với những chuyển biến mạnh mẽ, Đà Nẵng đã trở thành một trong những đô thị lớn của nước ta.

5. Việt Nam gia nhập Ngân hàng đầu tư Quốc tế (27-5-1977)

Ngân hàng Đầu tư Quốc tế (MIB) là tổ chức tài chính liên quốc gia được thành lập năm 1970, hoạt động theo các quy định tại các Hiệp định quốc tế về thành lập Ngân hàng và các Điều lệ đăng ký tại Ban Thư ký Liên Hợp Quốc. Trụ sở chính của MIB đóng tại Matxcơva, Liên bang Nga.

Việt Nam chính thức gia nhập MIB năm 1977. Kể từ sau đó đến trước những năm 1990, MIB đã cấp cho Việt nam 10 khoản tín dụng với tổng số vốn là 40 triệu EUR. Các khoản vay đó có ý nghĩa quan trọng khi Việt Nam còn gặp khó khăn trong việc huy động vốn nước ngoài.

Sau năm 1990, hầu hết các nước thành viên MIB chuyển sang kinh tế thị trường, hoạt động của MIB có phần bị hạn chế. Dù vậy, với tư cách là một cổ đông, Việt Nam vẫn thường xuyên tham gia tích cực vào các hoạt động của Ngân hàng, bảo vệ quyền và lợi ích của Việt Nam tại tổ chức này. Việt Nam gia nhập MIB còn có ý nghĩa quan trọng, là góp phần tăng cường quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và các nước thành viên của Ngân hàng.

6. Mở đầu loạt bài “Những việc cần làm ngay” của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh (25-5-1987)

Thực hiện phương châm của: Đại hội VI “Dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật”, nói đúng sự thật, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã khởi xướng chuyên mục “Những việc cần làm ngay” trên báo chí, bàn về những việc cần phải chấn chỉnh trong xã hội. Ngày 25-5-1987, báo Nhân Dân đăng bài đầu tiên, dưới bút danh N.V.L. Bài viết nêu rõ: “Thực hiện đổi mới, thì việc chống tiêu cực đã thành nhiệm vụ quan trọng dọn đường cho việc thực hiện Nghị quyết Đại hội VI và các nghị quyết khác của Đảng nhằm đưa nước nhà khỏi cảnh khó khăn, đi đến ổn định tình hình mọi mặt, làm cho dân bớt khổ, ngày càng được hạnh phúc”.

Trên báo Nhân Dân ngày 24-6-1987, tác giả N.V.L viết: “Nhà báo phải có tấm lòng cương trực: Yêu người làm đúng, làm tốt để ca ngợi; ghét kẻ làm xấu, làm sai, làm ác để lên án.”

Tổng Bí thư đòi hỏi báo chí phải là vũ khí sắc bén, nhà báo phải là chiến sĩ dũng cảm trong cuộc đấu tranh chống tiêu cực. Ông nhận định: “Báo chí hưởng ứng đã có tác dụng tốt, tạo khí thế trong nhân dân để đẩy mạnh phê bình, tự phê bình, chống bọn tham nhũng, ăn cắp, ức hiếp nhân dân. Phải tiếp tục phanh phui các vụ việc và xử lý thật nghiêm”.

Cuộc đấu tranh chống tiêu cực được tác giả N.V.L khởi xướng đã mau chóng trở thành một phong trào rộng lớn trên báo chí và các phương tiện thông tin cả nước, để lại dấu ấn sâu đậm cho đến hôm nay.

7. Ban Bí thư ra Quyết định về việc thống nhất các tổ chức đoàn thể và thống nhất Mặt trận (24-5-1976)

Cùng với việc hoàn thành thống nhất đất nước về mặt Nhà nước, Ban Bí thư đã ra Quyết định và đề ra Kế hoạch thống nhất Mặt trận và các đoàn thể.

Việc thống nhất Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hòa bình Việt Nam tiến hành bằng cách mỗi tổ chức cử ra một số người lập thành Ban trù bị Đại hội thống nhất. Ban trù bị phụ trách việc dự thảo Cương lĩnh, Điều lệ mới của Mặt trận và các vấn đề về tổ chức để mở Đại hội sau kỳ họp Quốc hội tháng 6-1976 và trước Đại hội Đảng lần thứ IV.

Thực hiện Quyết định trên, các tổ chức quần chúng đã họp và thống nhất tổ chức trong cả nước: Đoàn Thanh niên từ ngày 2 đến 5-6-1976, Công đoàn từ ngày 6 đến 8-6-1976, Hội Phụ nữ từ ngày 10 đến 12-6-1976, Hội Nhà báo ngày 7-7-1976, Hội Liên hiệp Thanh niên trong hai ngày 20, 21-9-1976... Đại hội thống nhất các tổ chức Mặt trận trong cả nước được tiến hành từ ngày 31-1 đến 4-2-1977.

8. Hội nghị lần thứ 5, khoá XI BCH Trung ương Đảng

Hội nghị diễn ra từ ngày 7 đến 15-5-2012 tại Hà Nội, bàn về các nội dung: Tổng kết việc thi hành Hiến pháp năm 1992 và một số nội dung cơ bản cần sửa đổi, bổ sung; tổng kết việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khoá IX) “Tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”; sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khoá X) “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”; xem xét, quyết định một số vấn đề về chính sách xã hội, tiền lương giai đoạn 2012 - 2020 và một số vấn đề quan trọng khác.

Những nội dung trình Hội nghị Trung ương lần này đều là những vấn đề rất khó, phức tạp, nhạy cảm và rất quan trọng đối với sự phát triển bền vững của đất nước, không chỉ trong nhiệm kỳ này mà cả các nhiệm kỳ tiếp theo.

9. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội họp phiên thứ 8

Tại Phiên họp (trong 2 ngày 4 và 5-5-2012), Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã cho ý kiến về 5 nhóm vấn đề chủ yếu: Dự kiến Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội năm 2013; cho ý kiến về việc bổ sung một số dự án mới chưa có trong danh mục quy định tại Nghị quyết số 12/NQ-QH13 và dự án có điều chỉnh tăng quy mô, về phương án phân bổ 5.500 tỷ đồng vốn trái phiếu Chính phủ cho một số dự án thuộc lĩnh vực thủy lợi lớn; cho ý kiến về mục tiêu, nhiệm vụ, thời gian thực hiện và nguồn lực cụ thể của các dự án thành phần thuộc từng Chương trình mục tiêu Quốc gia, giai đoạn 2012-2015; cho ý kiến về phương án sử dụng nguồn dư dự toán chi và vượt thu ngân sách Trung ương năm 2011; cho ý kiến về việc chuẩn bị kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa XIII, Đề án tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội; thông qua Nghị quyết về việc thực hiện chính sách, pháp luật đối với người có công với cách mạng và cho ý kiến về công tác nhân sự.

10. Những sự kiện văn hóa - thể thao

* Trưng bày chuyên đề “Biển Đông Việt Nam và con đường tơ lụa trên biển”, dự kiến diễn ra vào cuối tháng 5-2012:

Đây là sự kiện văn hóa lớn, có quy mô quốc gia, với nhiều hiện vật có giá trị từ các bảo tàng Đà Nẵng, bảo tàng Quảng Ngãi, Bảo tàng Gốm sứ Mậu dịch Hội An, Bảo tàng Lịch sử - Văn hóa Hội An và nhà sưu tập cổ vật Lâm Du Xênh (Bình Sơn, Quảng Ngãi). 18 hiện vật của thành phố Hội An gồm 13 hiện vật gốm sứ, 4 hiện vật thủy tinh và 1 chuông đồng được chọn tham gia trưng bày tại sự kiện này, sẽ góp phần tuyên truyền, quảng bá, khẳng định giá trị văn hóa lịch sử lâu đời của Hội An - Di sản văn hóa thế giới.

* Nhiều sự kiện văn hóa đặc sắc của châu Âu tại Việt Nam:

Những sự kiện này là minh chứng sống động của một nền văn hóa đa dạng châu Âu, đồng thời thể hiện sự hợp tác thành công, sâu rộng giữa Việt Nam và EU.

Với hơn 15 sự kiện văn hóa và tri thức đa dạng diễn ra tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh trong suốt tháng 5, chương trình “Những ngày châu Âu - 2012”, được tổ chức bởi Phái đoàn Liên minh châu Âu, các Đại sứ quán thành viên EU và các Trung tâm Văn hóa châu Âu, hứa hẹn mang đến sự độc đáo và hoành tráng.

* Giải Vô địch bóng bàn toàn quốc Báo Nhân Dân lần thứ 30-2012, tranh Cúp Dầu khí Việt Nam:

Giải diễn ra từ ngày 7 – 13-5 tại Nhà thi đấu TP. Đà Nẵng. Giải đấu năm nay có sự tham gia của 16 đơn vị thi đấu bóng bàn trên toàn quốc với sự góp mặt của 156 vận động viên, huấn luyện viên.

Hệ thống giải thưởng bao gồm các hạng mục giải: đồng đội nam, đồng đội nữ, đơn nam, đơn nữ, đôi nam, đôi nữ và đôi nam nữ. Trong đó, đồng đội nam, đồng đội nữ thi đấu theo hai giai đoạn: chia bảng thi đấu và đấu loại trực tiếp 5 ván thắng 3. Đơn nam, đơn nữ đấu loại trực tiếp trong 7 ván thắng 4. Đôi nam, đôi nữ, đôi nam nữ đấu loại trực tiếp trong 5 ván thắng 3.

* Tổ chức “Liên hoan Ca Múa Nhạc chuyên nghiệp toàn quốc - 2012”:

Cục Nghệ thuật biểu diễn chủ trì phối hợp với Hội Nghệ sĩ Múa Việt Nam, Hội Nhạc sĩ Việt Nam, các Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Sơn La, tỉnh Đăk Lăk tổ chức “Liên hoan Ca Múa Nhạc chuyên nghiệp toàn quốc - 2012”.

Liên hoan sẽ tổ chức làm hai đợt: đợt 1 vào đầu tháng 5-2012, tại Trung tâm Văn hoá tỉnh Sơn La; đợt 2 vào trung tuần tháng 8-2012, tại Trung tâm Văn hoá tỉnh Đăk Lăk.

Các đơn vị nghệ thuật ca múa nhạc chuyên nghiệp hoạt động trong, ngoài công lập và các đoàn nghệ thuật thuộc lực lượng vũ trang trên toàn quốc là đối tượng tham dự Liên hoan.

* Từ tháng 5, mở màn cuộc thi Hoa khôi Thể thao:

Sau 3 lần tổ chức thành công vào các năm 1995, 2001 và 2007, năm nay Tổng cục Thể dục Thể thao, Cục Nghệ thuật biểu diễn, Công ty Cổ phần Truyền thông và Đầu tư Nam Hương phối hợp với Liên đoàn Thể dục Việt Nam tổ chức cuộc thi Hoa khôi Thể thao 2012. Cuộc thi tuyển sinh từ tháng 4 và bắt đầu tổ chức vòng sơ loại vào tháng 5-2012 tại 3 địa điểm: TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Hà Nội.

Đêm chung kết dự kiến tổ chức vào ngày 4-8, tại Khu liên hợp cao cấp Bà Nà, TP. Đà Nẵng.

(Nguồn: Các phương tiện thông tin đại chúng )

* Nhà báo.
1. Xem thêm Tạp chí Mặt trận số 91, tr.21: “Những sự kiện tháng 5-2011”.

 | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |             



CẦN THƯỜNG XUYÊN CHỈNH ĐỐN, XÂY DỰNG ĐẢNG,
KHÔNG CHỜ CÓ NGHỊ QUYẾT

                                                                                          NGUYỄN ĐỨC MẠNH*

        Nghị quyết là quyết định của một hội nghị tập thể, nó là sự biểu thị ý chí và quyết tâm thực hiện của hội nghị tập thể về một hay một số vấn đề quan trọng.

Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tư, khóa XI của Đảng là biểu thị sự quyết tâm của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về việc chỉnh đốn và xây dựng Đảng trong tình hình hiện nay.

Từ trước đến nay, Đảng ta đã ban hành một số nghị quyết về chỉnh đốn và xây dựng Đảng trong bối cảnh đất nước có những diễn biến đầy khó khăn, phức tạp về các vấn đề kinh tế, chính trị, an ninh, xã hội. Khi đó, tâm trạng, tư tưởng cán bộ đảng viên thường có những biểu hiện chao đảo, mất thăng bằng rồi dẫn đến phát sinh các hiện tượng suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống. Các hiện tượng đó đã ít nhiều gây phản cảm trong quần chúng nhân dân và bị các thế lực phản động lợi dụng để tuyên truyền bôi nhọ Đảng và chế độ.

Có thể thấy các nghị quyết về chỉnh đốn và xây dựng Đảng từ trước đến nay đều ở trạng thái bị động, ứng phó. Nói cách khác là đều ở trạng thái phản ánh các sự việc, hiện tượng đã xảy ra rồi phân tích tìm nguyên nhân, rút kinh nghiệm, xác định giải pháp khắc phục. Sau mỗi lần có nghị quyết, các cấp bộ Đảng ở các cơ quan, đoàn thể, chính quyền trong cả nước lại triệu tập đảng viên học tập quán triệt. Phong trào học tập đó ít nhiều cũng thu được những kết quả nhất định, nhưng sau một thời gian, những kết quả đó phai dần, tình hình trở lại như cũ, thật chẳng khác gì ném cục gạch xuống ao bèo tấm. Điều đó cho thấy dấu hiệu của sự nhờn nghị quyết, nhờn dư luận, nhờn danh dự, liêm sỉ và nhờn luật đã tương đối phổ biến trong một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Tại sao một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên có tình trạng tha hóa, hư hỏng, biến chất, như Nghị quyết TW lần thứ tư  khóa XI của Đảng đã nêu ra? Tuy nghị quyết đã nêu và phân tích các nguyên nhân; nhưng xin được phân tích thêm một vài nét nhằm góp phần xác định các giải pháp khắc phục tình trạng nêu trên.

Một là, do đại bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng ta đều xuất thân từ môi trường nông dân, nông thôn, nông nghiệp. Trong môi trường xuất thân đó, người đảng viên khó tránh khỏi bị tiêm nhiễm, bị chi phối bởi tâm lý, thói quen tiểu nông và những tập quán cũ kỹ, lạc hậu với các biểu hiện: vun vén cá nhân; phân tán, tản mạn; tự do, tùy tiện; kèn cựa, ganh ghét; so đo hơn thiệt; cơ hội, hám danh; nể nang, né tránh; nặng tình hơn lý; gia trưởng, sĩ diện; mê tín, hoang đường; lợi dụng việc công mưu lợi tư... Những biểu hiện đó thường giao thoa, đan xen với nhau và tùy theo hoàn cảnh, môi trường, điều kiện, vị trí làm việc mà chúng bộc lộ ra dưới các hình thức, tính chất khác nhau.

Do xuất thân từ một nền kinh tế, xã hội tiểu nông nghèo nàn, lạc hậu; do bị chi phối bởi cơ chế quan liêu, bao cấp, xin - cho kéo dài nhiều năm; do tác động của mặt trái cơ chế thị trường; do đời sống khó khăn vì đồng lương ít ỏi và do cả những tác động tiêu cực từ những lãnh đạo “tài hèn đức mọn”, cho nên số đông cán bộ, đảng viên nước ta vốn có sẵn tâm lý, thói quen tiểu nông lại càng ngập sâu vào vũng bùn của chủ nghĩa cá nhân. Để tồn tại, thích nghi với cơ chế thị trường, để che đỡ dư luận xã hội, chủ nghĩa cá nhân từ đơn lẻ đã liên thủ với nhau thành “chủ nghĩa cá nhân bè mảng”, hay còn gọi là lợi ích phe nhóm cục bộ. Người cá nhân chủ nghĩa làm việc trong nhà nước không chỉ có hành vi “tranh thủ lấy của nhà nước càng nhiều càng tốt, bỏ vào túi rồi chuồn”, mà còn thiếu trung thực, thiếu trách nhiệm xã hội và hèn kém về nhân cách. Thời phong kiến, nho gia coi những hạng người đó là loại tiểu nhân, đê tiện. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói, chủ nghĩa cá nhân sinh ra đủ các thứ bệnh trong Đảng và Nhà nước; chủ nghĩa cá nhân không thể đồng hành, dung hòa với đạo đức cách mạng; muốn nâng cao đạo đức cách mạng thì phải quét sạch chủ nghĩa cá nhân.

V.I. Lênin đã từng nói, tính chất khó khăn phức tạp nhất của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga chính là sự tiêm nhiễm và chi phối của tâm lý, thói quen tiểu nông trong bộ máy Đảng và Nhà nước. Lênin cho rằng nếu không tẩy rửa được tâm lý, thói quen đó theo cách “chà đi xát lại” nhiều lần và nếu không cải tạo được kinh tế tiểu nông bằng phương thức sản xuất đại công nghiệp quy mô lớn thì chủ nghĩa xã hội chỉ là một khẩu hiệu, một ước vọng mà thôi. Ở nước ta, sự tồn tại lâu dài của kinh tế tiểu nông nghèo nàn, lạc hậu đã trở thành nguyên nhân kinh tế - xã hội sâu xa, là gốc rễ làm phát sinh, phát triển các hiện tượng tha hóa, biến chất trong Đảng và Nhà nước (mặt khác, bộ máy Đảng và Nhà nước theo thời gian đã trở nên cồng kềnh; kỷ cương, kỷ luật bị lỏng lẻo; tính chất, nguyên tắc liêm chính, công minh, công bằng, khách quan trong thực thi pháp luật và quản lý hành chính bị biến dạng hoặc bị vô hiệu hóa). Khắc phục nguyên nhân gốc rễ này là một vấn đề hết sức khó khăn, lâu dài, đòi hỏi phải có những công trình nghiên cứu phức hợp để tìm ra những giải pháp thiết thực, hữu hiệu của một đảng cầm quyền trong điều kiện kinh tế, xã hội tiểu nông, lạc hậu. Có một vấn đề, nên chăng cần nghiên cứu cách thức tổ chức của các đảng cầm quyền ở các nước ASEAN có hoàn cảnh kinh tế, xã hội tương tự như Việt Nam. Có một số điểm dễ thấy ở các đảng này là họ có bộ máy gọn nhẹ, có tổ chức kỷ luật chặt chẽ, có ý thức trách nhiệm chính trị rất cao; và điều chủ yếu là các đảng này đều đặt mình dưới pháp luật, chịu sự chế tài nghiêm ngặt của pháp luật.

Hai là, do quan điểm và cách thức tổ chức xây dựng Đảng, bao gồm các hoạt động: Giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức; quản lý; đào tạo, bồi dưỡng; kết nạp, khai trừ; thanh tra, kiểm tra; kỷ luật, khen thưởng; đề bạt, bổ nhiệm; bố trí, luân chuyển... đều có những dấu hiệu của sự chủ quan, bảo thủ, giáo điều, duy ý chí, kinh nghiệm chủ nghĩa, thủ tục nhiêu khê rườm rà, nói và làm không đi đôi với nhau.

Chẳng hạn, quan điểm Đảng lãnh đạo và cầm quyền là đúng về mặt lý luận và thực tiễn. Nhưng quan điểm này cũng lại trở thành một động lực kích thích các phần tử cơ hội lọt vào Đảng, lợi dụng danh nghĩa Đảng, biến Đảng thành tấm bình phong để tham ô, vơ vét, ăn chia, đục khoét. Sự thật là trong những năm đổi mới, tỷ lệ những người vào Đảng với mục đích tôn thờ lý tưởng cộng sản cao đẹp và để cống hiến, hy sinh cho đại nghiệp của dân tộc rõ ràng là giảm đi nhiều lần so với những người vào Đảng với mục đích làm lãnh đạo, có chức quyền để làm giầu và hưởng thụ. Điều đó được minh chứng từ thực tế là: Tất cả các tiêu chuẩn, tiêu chí để kết nạp vào Đảng cũng như để đề bạt, bổ nhiệm lãnh đạo (chẳng hạn như phải có thành tích, được tín nhiệm, có học vị, bằng cấp, độ tuổi, cơ cấu thành phần...) thì đều được các phần tử cơ hội đáp ứng bằng cách chạy chọt, hối lộ, móc ngoặc, ngã giá. Hiện tượng “chạy” và mua bán chức quyền của một bộ phận đảng viên là hiện tượng tái sinh của xã hội phong kiến thời mạt vận. Nó không chỉ làm cho tâm hồn, khối óc của họ trở nên đen tối, cặn bã đặc sệt mà nó còn là sự bôi nhọ, phỉ báng uy tín, danh dự của Đảng.

Số lượng đảng viên hàng năm tuy vẫn tăng lên, nhưng thực trạng vẫn là “đông về lượng mà không mạnh về chất”, trong đó chiếm một tỷ lệ đáng kể các đảng viên “vô thưởng, vô phạt”, học hành không đến nơi đến chốn; nhận thức về chủ nghĩa xã hội thì chắp vá; chất cộng sản thì “nửa mùa”. Công tác xây dựng Đảng trong nhiều năm lại đây đã không theo phương châm “quý hồ tinh, bất quý hồ đa”, hay theo quan điểm “thà ít mà tốt”. Không chỉ như vậy, thực trạng đó lại còn khiến cho các đảng viên có tài năng, đạo đức, có tinh thần dũng cảm đấu tranh phê và tự phê trở thành thiểu số trong các cuộc bình bầu thi đua, bỏ phiếu tín nhiệm. Ở khu vực nông thôn, đã có nơi có chỗ người dân địa phương nhận xét: Chi bộ bà con, Đảng ủy họ tộc, họ muốn làm gì mà chẳng được. Hiện tượng đó cũng góp phần làm cho uy tín, danh dự của Đảng và niềm tin của người dân vào Đảng bị giảm sút.

Vấn đề quản lý, phân loại, đánh giá, đề bạt, luân chuyển, điều động, khen thưởng, kỷ luật... đối với cán bộ đảng viên tuy là một phần của công tác xây dựng Đảng­ nhưng cũng còn quá nhiều hạn chế, bất cập. Chẳng hạn, đối với các đảng viên yếu kém có biểu hiện tha hóa, tiêu cực thì việc kỷ luật hoặc khai trừ họ ra khỏi Đảng cũng thường phải trải qua nhiều cuộc họp với những thủ tục lòng vòng phức tạp, thậm chí là trì hoãn để “xử lý nội bộ”, vì quan niệm rằng đó là vấn đề “sinh mệnh chính trị” nên cần kín đáo, tế nhị, thận trọng. Do cách nghĩ “quan trọng hóa” và cách làm thiếu công khai, minh bạch, có phần bao che, nâng đỡ cho nhau, nên công tác xây dựng Đảng không mang tính giáo dục kịp thời, thanh lọc kiên quyết để bảo đảm sự thống nhất về nhận thức chính trị, sự trong sạch về đạo đức và kỷ luật nghiêm minh của Đảng. Hơn nữa, còn gây cho xã hội cảm giác Đảng đứng ngoài, đứng trên pháp luật. Trước đây, Lênin có nói Đảng Cộng sản Bônsêvich Nga phải là một đảng có kỷ luật sắt; muốn giữ được kỷ luật thì Đảng phải đuổi ra khỏi tổ chức những phần tử cơ hội, tha hóa, biến chất. Theo quan điểm đó và theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, nên chăng Đảng ta cũng cần phải kiên quyết khai trừ các đảng viên vi phạm kỷ luật, điều lệ Đảng. Đồng thời, Đảng phải đốc thúc, chỉ đạo Nhà nước xử lý công khai, nghiêm khắc theo quy định pháp luật đối với các đảng viên tham nhũng, vi phạm chính sách, pháp luật, vô trách nhiệm dẫn đến gây tổn hại cho xã hội, bất kể họ là ai, đang giữ cương vị nào, không phải chờ hết nhiệm kỳ và không để “xử lý nội bộ”. Có thực hiện được các việc đó thì Đảng mới loại trừ được những “con sâu làm rầu nồi canh”; mới xóa bỏ được dư luận thị phi: “Đảng đứng ngoài, đứng trên pháp luật”; mới thể hiện trên thực tế quan điểm: Xây dựng nhà nước pháp quyền, xã hội công dân, mọi người bình đẳng trước pháp luật; và hơn nữa, là mới củng cố, giữ vững được niềm tin của xã hội đối với Đảng.

Một vấn đề khác cũng cần đổi mới, đó là vấn đề bình bầu, xét duyệt chi bộ trong sạch, vững mạnh, đảng viên xuất sắc. Trên thực tế cách làm này từ trước đến nay không mang lại hiệu quả thiết thực vì đó là cách làm nội bộ mang nặng thành tích chủ nghĩa và hình thức vui vẻ giả tạo; vì đó là sự thể hiện thái độ thiếu trách nhiệm, nể nang, né tránh, nhân nhượng, thỏa hiệp và “dĩ hòa vi quý” một cách vô nguyên tắc. Đã có bao người dân tự hỏi và thắc mắc rằng các chi bộ trong các cơ quan, các cấp chính quyền, đoàn thể phần lớn đều đạt danh hiệu trong sạch, vững mạnh với đa số đảng viên xuất sắc và gần như tất cả đảng viên đều hoàn thành tốt nhiệm vụ thì tại sao vẫn có một bộ phận không nhỏ đảng viên hư hỏng, tha hóa, biến chất như Đảng nhận định? Hiện tượng chạy theo thành tích có tính chất phổ biến và kéo dài trong các cơ quan Đảng và Nhà nước cho thấy công tác chỉnh đốn và xây dựng Đảng đã bị tệ quan liêu và bệnh hình thức ám hãm khá nặng. Muốn phòng chống được căn bệnh này thì Đảng phải dựa vào dân, vì dân; lấy ý kiến nhận xét, đánh giá tín nhiệm của dân để làm căn cứ thăng, giáng, khen thưởng, kỷ luật, khai trừ... đối với đảng viên.

Ba là, thiếu một cơ chế thực hành dân chủ thực sự trong Đảng, nhất là ở các cấp Đảng lãnh đạo các cấp chính quyền địa phương. Vì thiếu cơ chế này, hoặc có nhưng chỉ là hình thức và hiệu quả thấp cho nên các hiện tượng cửa quyền, độc đoán, bè phái cục bộ, địa phương chủ nghĩa, quan liêu, tham nhũng trong Đảng và Nhà nước có nơi, có lúc rất nặng nề, phổ biến. Tệ quan liêu, cửa quyền, độc đoán của người lãnh đạo, nhất là ở các cấp địa phương tồn tại trong nhiều năm không chỉ là nguyên nhân làm suy yếu năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính nhà nước và thực thi pháp luật, mà còn làm cho không ít đảng viên trở nên giả dối, xu nịnh, né tránh, “mũ ni che tai”, “ngậm miệng ăn tiền”, mặc kệ phải trái, đúng sai, xấu tốt lẫn lộn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: Đảng ta là đạo đức, là văn minh.

Đạo đức được thể hiện ở sự cần, kiệm, liêm, chính, “thương người như thể thương thân”. Đạo đức cách mạng thể hiện ở hành động cải tạo thực tại; thể hiện ở sự dũng cảm đấu tranh xóa bỏ những lề thói hủ bại, lạc hậu, hoang đường, mê tín để xây dựng xã hội văn minh tốt đẹp cho toàn dân.

Văn minh là thực hành dân chủ; là lấy việc thực hành dân chủ trong Đảng để dẫn dắt, định hướng, mở rộng dân chủ trong Nhà nước và trong cả xã hội. Dân chủ là xu thế, là biểu tượng của xã hội văn minh, là trái ngược với thái độ, hành vi gia trưởng, độc đoán. Có thực hành dân chủ thì mới mở mang được dân trí, thu hút, sử dụng được nhân tài; mới chống được quan liêu, độc đoán và mới tạo được năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính nhà nước. Một Đảng để tồn tại lâu dài hiện tượng độc đoán, quan liêu, không dám nhìn thẳng vào sự thật, không dũng cảm thừa nhận sai lầm, khuyết điểm là một đảng hỏng - như Bác Hồ đã nói. Một Đảng như thế sẽ xa dân, mất lòng dân, sẽ kìm hãm sự phát triển của dân tộc và sẽ khó tránh khỏi nguy cơ suy thoái, tan rã. Cho nên đẩy mạnh việc thực hành dân chủ trong Đảng, kết hợp với việc trưng cầu tín nhiệm của nhân dân đối với các vị trí lãnh đạo Đảng trong hệ thống bộ máy Nhà nước, sẽ là một giải pháp để Đảng tự phản biện và đổi mới. Chỉ có thực hiện giải pháp này thì Đảng mới giữ vững và thể hiện được vị trí, vai trò lãnh đạo của mình.

Người Việt Nam vốn có truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, ơn Đảng, ơn Bác Hồ không chỉ bây giờ mà đến cả đời con, đời cháu, chắt... Nhưng người Việt Nam cũng luôn luôn mong Đảng tự đổi mới, thậm chí là cải tổ mạnh mẽ để trở thành một Đảng thực sự đạo đức, văn minh, trí tuệ, vì dân, vì nước như Bác Hồ đã sáng lập và mong muốn. Bởi vì, Đảng chỉ có thực sự vì dân, vì nước, đặt lợi ích quốc gia - dân tộc và pháp luật lên trên hết thì Đảng mới đủ năng lực và bản lĩnh lãnh đạo, đưa đất nước, dân tộc sánh vai cùng các nước, các dân tộc văn minh trên thế giới. Do đó, công việc chỉnh đốn và xây dựng Đảng sẽ phải là công việc thường xuyên, liên tục với tinh thần cách mạng và khoa học, không cần phải chờ đến khi có nghị quyết.

* ThS, nguyên giảng viên Học viện Hành chính Quốc gia.

 | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |             



VĂN HÓA ĐẢNG VÀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG HIỆN NAY

                                                                                                       TRẦN CAO ANH*

            LTS: Nhằm đưa Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI và các Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng (Trung ương 4, Trung ương 5...) vào cuộc sống; Tạp chí Mặt trận từ tháng 2-2011 đến nay và thời gian tới thường xuyên có bài đề cập với những nội dung phong phú về vấn đề này. Tạp chí Mặt trận số 103, trân trọng giới thiệu với bạn đọc 2 bài... (đón đọc số 104 có bài “Những việc cần làm trong xây dựng Đảng hiện nay” và một số bài khác).

           Nói văn hóa là mục tiêu, động lực, nền tảng tinh thần của xã hội thì văn hóa đảng càng có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của Đảng và xã hội. Từ đó, ta có thể khẳng định, xây dựng, phát triển văn hóa đảng là nhằm xây dựng, chỉnh đốn Đảng một cách có hiệu quả nhất. Tuy nhiên, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đã đi vào từng khu dân cư, làng bản, thôn xóm, các cơ quan, đoàn thể thì văn hóa đảng càng đóng vai trò rất quan trọng trong từng chi, đảng bộ, cấp ủy….

Trong nhiều văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, Đảng ta đều khẳng định: bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng, chỉnh đốn đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội. Tạo nên sự phát triển biện chứng, đồng bộ của ba lĩnh vực này chính là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước. Ở đây, không nên hiểu, nhiệm vụ phát triển văn hóa là hệ quả của nhiệm vụ phát triển kinh tế, hoặc là sản phẩm kéo theo của nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn đảng. Khi đã thật sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, văn hóa sẽ thẩm thấu vào kinh tế và thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh mẽ. Hơn nữa, nó sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng, hoàn thiện văn hóa đảng, cũng như xây dựng, chỉnh đốn đảng. Tất nhiên, là người lãnh đạo, chỉ đạo trong công cuộc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Đảng giữ vai trò là lực lượng tiêu biểu, tiên phong của nền văn hóa đó.

Thời gian gần đây, “văn hóa Đảng” được nhiều người thừa nhận như là một khái niệm công cụ và là vấn đề cấp thiết cần phải tổ chức xây dựng, phát triển. Tuy nhiên, không phải từ khi có khái niệm “văn hóa Đảng”, Đảng ta mới có văn hóa đảng. Đảng ta là một đảng có văn hóa cao nhất ngay từ khi mới ra đời. Trải qua các thời kì cách mạng, các giá trị văn hóa của Đảng ta ngày càng được sinh sôi, tỏa sáng, dẫn dắt dân tộc đi đến con đường tiến bộ, văn minh, đó là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tính văn hóa của đảng ta không chỉ biểu hiện ở sự đúng đắn, sáng suốt của những đường lối, chủ trương, mà còn biểu hiện ở sự gương mẫu, tiên phong, lối sống, phẩm chất đạo đức trong sáng, cách mạng của từng đảng viên cụ thể. Bởi thế, trong dịp tổng kết 30 năm xây dựng và trưởng thành của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”.

Sự khác nhau giữa văn hóa dân tộc với văn hóa đảng là sự khác nhau giữa người cộng sản với bộ phận còn lại của giai cấp công nhân và dân tộc. Văn hóa đảng thể hiện mặt tiên tiến nhất của dân tộc, gồm: Nhận thức cách mạng và tình cảm cách mạng. Đồng chí Lê Duẩn đã rất đúng khi nhấn mạnh hai đặc trưng này trong đạo đức cách mạng.

Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản nói về đặc trưng của người cộng sản so với người khác là ở chỗ người cộng sản nhiệt tình hơn và sáng suốt hơn. Tuy nhiên, đi vào mặt biểu hiện và hành động cụ thể, văn hóa đảng phải thể hiện sự nhiệt tình và sự sáng suốt ấy qua những hành động có tính toán khoa học, có tổ chức chặt chẽ, có sự chỉ đạo cụ thể và linh hoạt.

Xưa nay người ta thường nói, người cộng sản là bộ mặt quang vinh của nhân loại. Về Đảng Cộng sản người ta cũng thường tôn vinh Đảng qua câu nói: Đảng là trí tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại. Đảng Cộng sản chỉ có thể xứng đáng với đánh giá trên, khi mọi đảng viên phải là một tấm gương sáng về hành vi văn hóa và là những biểu tượng thực sự của bộ phận văn hóa cao nhất của dân tộc tức văn hóa đảng, thể hiện ở hai phẩm chất cơ bản sau:

+ Về tình cảm cách mạng: Văn hóa đảng đòi hỏi người đảng viên phải triệt để chống chủ nghĩa cá nhân, phải khắc phục lối sống ích kỷ, lên án thái độ chỉ lo cho bản thân và dửng dưng với xã hội. Người đảng viên phải tìm thấy niềm vui và hạnh phúc không ở đời sống vật chất cá nhân mà ở trong quan hệ yêu thương giữa mình với người khác, trong sự tận tâm với gia đình, xã hội, nhân loại, trong thái độ căm ghét những kẻ áp bức, bóc lột nhân dân… Tìm thấy niềm vui và lẽ sống trong việc hiến dâng cuộc đời mình cho lý tưởng vì Tổ quốc, vì đồng bào, vì nhân loại.

+ Về nhận thức cách mạng: Người cộng sản phải có những suy nghĩ đúng đắn, phát hiện được quy luật phát triển của lịch sử và xác định được thái độ và hành vi của bản thân trước trách nhiệm và nhiệm vụ. Chính vì thế mà phải học tập thường xuyên, học tập suốt đời để có phương pháp tư duy khoa học và nhạy bén trước những diễn biến trong nước và trên thế giới.

Xây dựng, phát triển văn hóa đảng là nhằm đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Bởi vì, khi coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội thì cũng có thể coi văn hóa Đảng là nền tảng tinh thần của Đảng. Do đó, mọi vấn đề về đảng, từ thế giới quan, lập trường, quan điểm, đường lối, phương thức tổ chức và lãnh đạo, đến lề lối, tác phong, lối sống, đạo đức… đều xuất phát và xoay quanh văn hóa đảng. Đến lượt mình, văn hóa đảng lại là sự phản ánh, biểu hiện sự tập trung của mọi vấn đề đó. Trên cơ sở đó, nó đúc rút, khái quát, phát triển thành những tiêu chí, nguyên tắc, nội dung tương đối hoàn chỉnh và ngày càng hoàn chỉnh, nhằm tiếp tục định hướng cho công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng hiện nay.

Trước hết, xây dựng, phát triển văn hóa đảng là xây dựng và phát triển nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng, đó là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây cũng là nhiệm vụ hàng đầu của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Bởi vì, Đảng Cộng sản nói chung và mỗi đảng viên nói riêng, muốn có thế giới quan, lập trường, tư tưởng vững vàng, khoa học và cách mạng, lối sống, đạo đức trong sáng, vì giai cấp, dân tộc, phải luôn thấm nhuần, củng cố, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - là giá trị văn hóa tinh thần vĩ đại nhất, cao nhất, hoàn bị nhất của thời đại, của giai cấp công nhân và của dân tộc. Ở đây, việc xây dựng, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, của văn hóa đảng phải luôn gắn với việc tìm tòi, phát hiện, tổng kết những kiến thức mới, kinh nghiệm thực tiễn cách mạng mới của thời đại. Đồng thời, phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, đặc biệt là lý luận về xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam. Chỉ có trên cơ sở đẩy mạnh công tác lý luận, tổng kết thực tiễn chúng ta mới không ngừng bảo vệ, phát triển, hoàn thiện chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và mới bổ sung, làm giàu tri thức, tích lũy thêm nhiều giá trị mới, tiên tiến cho văn hóa đảng. Qua đó, văn hóa đảng càng có tác dụng củng cố, chấn chỉnh và định hướng niềm tin của cán bộ, nhân dân vào Đảng, vào cách mạng.

 Với tính cách là văn hóa chính trị của chính đảng của giai cấp công nhân, văn hóa đảng luôn thể hiện được tính nghiêm túc, khoa học, sáng tạo và trí tuệ cao trong việc hoạch định, ra quyết định về chủ trương, đường lối. Chỉ có vậy, Đảng mới xứng đáng là người lãnh đạo, chỉ đạo trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước của cả dân tộc; chủ trương, đường lối của Đảng mới có tính khả thi và chiếm được lòng tin của toàn thể nhân dân. Để văn hóa đảng thật sự trở thành nền tảng tinh thần trong việc hoạch định, ra quyết định về chủ trương, đường lối, điều quan trọng là phải tập trung được trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân, mà đại diện cho toàn dân có thể là Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân ở các ngành, các cấp. Công khai, dân chủ, có văn hóa trong tranh luận, đóng góp ý kiến của toàn Đảng, toàn dân về những vấn đề quan trọng của quốc gia, dân tộc là giải pháp quan trọng hàng đầu để tập trung trí tuệ cho việc hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng. Đây cũng là một trong những vấn đề liên quan đến công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn của Đảng. Bởi vậy, nếu chúng ta “sớm xây dựng và ban hành quy chế dân chủ trong nghiên cứu lý luận”, thì cũng có thể sớm xây dựng và ban hành quy chế dân chủ trong tranh luận, đóng góp ý kiến đối với việc hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng.

Một trong những yếu tố quyết định sự tồn tại của Đảng, đồng thời cũng là thành tố quan trọng của văn hóa đảng là giữ vững mối liên hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân. Nếu không giữ vững được mối liên hệ này, Đảng rất dễ bị đánh mất bản chất giai cấp công nhân, cũng như xa rời mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa và khi đó, Đảng có thể trở thành một đảng “hư vô”, “siêu giai cấp”, “siêu dân tộc”. Sự suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ đảng viên trong thời gian gần đây là biểu hiện của sự suy đồi về chính trị, là một dạng thái phản giá trị, phản văn hóa trong Đảng và trong xã hội. Để tránh rơi vào thái cực đó, mỗi cán bộ, đảng viên không chỉ thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện và trau dồi phẩm chất, đạo đức cách mạng, mà còn phải luôn luôn giữ mối liên hệ mật thiết với quần chúng nhân dân: thông cảm, chia sẻ, am hiểu mọi tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, “đồng cam cộng khổ ” với họ…. Một trong những biện pháp để giữ vững mối liên hệ mật thiết với nhân dân là các cấp ủy, các tổ chức cơ sở đảng và mỗi đảng viên phải làm tốt công tác dân vận, coi đó là nhiệm vụ chính trị trọng tâm hàng đầu, xuyên suốt quá trình xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Muốn công tác dân vận đạt hiệu quả cao, ngoài việc “đồng cam cộng khổ” với quần chúng, mỗi đảng viên phải tự trau dồi kiến thức văn hóa, nâng cao trình độ, nghiệp vụ công tác chuyên môn, rèn luyện kỹ năng truyền đạt, vận động, thuyết phục quần chúng. Thực hiện tốt được điều đó, công tác dân vận của Đảng sẽ vừa là hoạt động văn hóa, đạo đức, vừa là hoạt động chính trị mang tính chuyên nghiệp.

Tư tưởng, lối sống đạo đức của Đảng không phải là phép cộng đơn giản tư tưởng, lối sống, đạo đức của mỗi cá nhân đảng viên mà là sự tổng hòa tư tưởng lối sống đạo đức, tư tưởng của từng đảng viên. Trên cơ sở đó, Đảng có điều lệ, những quy định, nguyên tắc chung định hướng cho cách tư duy, suy nghĩ và lối sống, hành vi đạo đức của từng đảng viên. Hay nói cách khác, tư tưởng, lối sống, đạo đức của Đảng được biểu hiện thông qua tư duy, ý nghĩa và hành vi của từng đảng viên ở những nét chung nhất. Bởi vậy, sự suy thoái về tư tưởng, lối sống, đạo đức của một bộ phận cán bộ đảng viên thời gian gần đây không có nghĩa là đã làm cho Đảng rơi dần vào tình trạng thoái hóa, biến chất. Tuy nhiên, những biểu hiện suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên đó không thể không ảnh hưởng đến uy tín, danh dự và sức chiến của Đảng. Tư tưởng, đạo đức, lối sống của đảng viên là bộ phận quan trọng của văn hóa đảng. Sẽ không còn gì để bàn về văn hóa đảng nếu như trong Đảng, tình trạng suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống trở nên phổ biến, tràn lan, vô phương cứu chữa. Để đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trên lĩnh vực này, thiết nghĩ, cần đẩy mạnh hơn nữa công tác giáo dục đạo đức cách mạng, đạo đức công chức cho đảng viên; kết hợp với cải cách hành chính mạnh mẽ, triệt để, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng, tích cực phòng chống và phòng chống có hiệu quả tệ nạn tham nhũng, tham ô, lãng phí và các hành vi tiêu cực khác.

 Một trong những nguyên tắc cơ bản trong sinh hoạt đảng là nguyên tắc tập trung dân chủ. Đó cũng là nội dung quan trọng hàng đầu trong văn hóa chính trị của Đảng. Trình độ văn hóa chính trị của Đảng phụ thuộc rất lớn vào trình độ thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt Đảng. Bởi vì, một đảng biết sử dụng sâu rộng dân chủ trong nội bộ có mối liên hệ dân chủ, mật thiết với nhân dân, có kỷ luật, kỷ cương sắt đá và tự giác là một đảng có trình độ cao về văn hóa chính trị và văn hóa tổ chức. Để công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được thực hiện nghiêm túc và tiến triển mạnh mẽ, cần tiếp tục thực hiện triệt để, nền nếp nguyên tắc tập trung dân chủ. Nguyên tắc này cần phải được sử dụng một cách thường xuyên, bắt buộc nhưng lại rất tự giác trong mọi sinh hoạt Đảng, bởi nó đã trở thành máu thịt của Đảng, của văn hóa đảng. Chỉ khi nào trong Đảng vừa có dân chủ, vừa có kỷ luật theo đúng nghĩa thì khi đó Nhà nước và toàn xã hội với tính cách là đối tượng lãnh đạo của Đảng, mới thực sự có dân chủ và kỷ luật, kỷ cương.

1. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X.
2. GS Vũ Khiêu.: Bàn về văn hóa Đảng và xây dựng văn hóa trong Đảng.

* Ths. Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III.

 | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |             



THÁCH THỨC LỚN
TRONG QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC KHU VỰC NHÀ NƯỚC

                                                                                                NGUYỄN XUÂN HUY*

Những thách thức, khó khăn, thuận lợi trong quản lý nguồn nhân lực

         Sự tiên phong của khu vực tư trong hoạt động quản lý nguồn nhân lực đã ảnh hưởng lớn đến khu vực nhà nước. Các cơ quan hành chính nhà nước có những đặc điểm của mình. Ví dụ: Chế độ công vụ và tổ chức nhà nước, nền văn hoá và các quy chế đặc thù của mỗi cơ quan. Trong hoạt động quản lý nguồn nhân lực, trên phương diện nghiên cứu, mặc dù khu vực nhà nước có thể rất gần với khu vực tư, nhưng trên phương diện hoạt động thực tiễn lại hoàn toàn khác, vì phạm vi hoạt động và các khả năng thực hiện của hai khu vực không giống nhau: Khu vực nhà nước gắn với các tình huống cụ thể, những khó khăn thuận lợi của riêng nó; khu vực tư là tìm ra những đặc thù, bản sắc riêng. Mục đích hoạt động quản lý nguồn nhân lực ở khu vực nhà nước không chỉ dừng lại ở đó.

1. Những thách thức lớn trong bối cảnh hiện nay

- Số lượng biên chế lớn:

Hoạt động quản lý nguồn nhân lực trong khu vực nhà nước là nói tới việc quản lý một lực lượng lao động rất lớn của quốc gia với sự tham gia của một lực lượng đông đảo người lao động trong biên chế. Ví dụ: Nếu cộng biên chế của các cơ quan thuộc nền công vụ như công vụ hành chính trung ương, công vụ hành chính địa phương, công vụ giáo dục, công vụ y tế, các cơ quan sự nghiệp khác, các công ty thực hiện dịch vụ công và các doanh nghiệp quốc doanh thì tổng số người tham gia sẽ rất lớn, chiếm khoảng trên 40% lực lượng lao động trong các tổ chức xã hội.

- Thách thức về kinh tế:

Những thách thức về kinh tế đặt khu vực nhà nước vào hoàn cảnh phải nhanh chóng thích ứng với những thay đổi của tình hình kinh tế biến động, làm đảo lộn những thói quen hoạt động sẵn có. Tình hình kinh tế tạo ra một số ràng buộc, dẫn đến tình trạng căng thẳng không thể tránh khỏi về số lượng biên chế, bởi các khoản chi tiêu cho nhân sự đã chiếm khoảng 40% ngân sách nhà nước, một tỷ lệ rất lớn.

Trong khu vực nhà nước, xét về mặt số lượng, điều kiện hoạt động ngày càng bị thu hẹp. Đây chính là lý do khiến cho hoạt động quản lý năng lực và động cơ làm việc của nhân viên có vị trí ngày càng quan trọng. Điều này làm nảy sinh nhu cầu quản lý nguồn nhân lực sao cho có hiệu quả hơn.

 - Thách thức về tính chính đáng của khu vực nhà nước:

Thách thức về tính chính đáng gắn với chất lượng của sản phẩm và dịch vụ mà khu vực nhà nước có trách nhiệm cung cấp.

Trước đây, khu vực tư vốn đại diện cho hình ảnh của sự cổ hủ và cứng nhắc, ngày nay khu vực này lại đại diện cho tiến bộ và hiện đại. Gần 30 năm trở lại đây đã chứng kiến sự cải thiện đáng kể của những sản phẩm và dịch vụ mà khu vực tư cung cấp. Giờ đây, họ mong muốn được khu vực nhà nước đối xử như những “khách hàng thực sự”. Với những nhu cầu hết sức đa dạng và rất riêng tư, họ trong chờ sự giải quyết từ phía Nhà nước.

Những mối quan hệ “khách hàng - nhà cung cấp” ở khu vực nhà nước vốn dĩ trừu tượng hơn và phức tạp hơn. Với Nhà nước, công dân không giản đơn chỉ là “khách hàng” mà còn có những nghĩa vụ phải thực hiện. Công dân buộc phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình đối với nhà nước, vì vậy, người lao động có quyền đòi hỏi nhà nước thực hiện nghĩa vụ của nhà nước đối với họ. Các cơ quan khu vực nhà nước hiện cũng đang gặp không ít vấn đề, như: Hệ thống luật pháp còn khá rắc rối với những thủ tục; các hoạt động của Nhà nước quá phân tán, sự phân chia hệ thống quyền lực và thẩm quyền can thiệp của các bộ phận cấu thành hệ thống quyền lực còn chưa rõ ràng; tình trạng không phân tách rõ ràng giữa khu vực hoạt động dịch vụ công và khu vực cạnh tranh...

Ngoài ra, công chức được quản lý theo hệ thống ngạch, bậc, không phải bao giờ học cũng có được trình độ chuyên môn phù hợp, cần thiết. Với công chức, việc núp sau những thủ tục mù mờ và rối rắm bao giờ cũng dễ dàng hơn, an toàn hơn là tự mình tìm ra câu trả lời xác đáng cho một vấn đề cụ thể. Điều này vốn dĩ đòi hỏi người thực hiện phải hoàn toàn làm chủ những năng lực cần có và phải thực sự hiểu ý nghĩa của công việc của mình làm. Trong bối cảnh tình hình khó khăn và phức tạp hiện nay, hoạt động quản lý nguồn nhân lực là một phương cách để các tổ chức khu vực nhà nước tìm cách vượt qua thách thức, tiến hành những công việc cụ thể nhằm cải tiến cơ cấu, cải thiện chất lượng các hoạt động của mình.

 2. Những khó khăn và ràng buộc bối cảnh hiện nay

 - Những ràng buộc về quy chế:

Các nhà quản lý nguồn nhân lực trong khu vực nhà nước về những ràng buộc ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động, ngạch bậc và quy chế là một khó khăn thực sự cần phải vượt qua để tiến hành các hoạt động quản lý nguồn nhân lực. (Số lượng các ngạch của nền công vụ), sự phân biệt ngạch bậc trong lối tư duy quản lý công hiện hành cũng hết sức quan trọng. Đây là tiêu chí để người ta giải quyết mối quan hệ giữa chức vị và chức năng, là tiêu chí quan trọng nhất để xác định hình thức đối xử, trở ngại trước hết thuộc về các yếu tố văn hoá hơn là yếu tố quy chế.

Hệ thống quy phạm luật pháp chi phối nền công vụ có thể tạo cho các nhà quản lý một phạm vi hoạt động rộng hơn người ta tưởng, giảm thiểu số lượng ngạch bậc của nền công vụ và xem xét lại những quy phạm luật pháp không còn phù hợp là việc cần làm.

Việc hoàn thiện hệ thống quy phạm luật pháp đòi hỏi mất nhiều thời gian. Và dù các nguyên tắc quản lý có nhanh chóng được biến đổi, thì khu vực nhà nước sẽ còn phải đương đầu với những khó khăn đặc thù khác nữa trong quá trình tiến hành các biện pháp quản lý nguồn nhân lực, những khó khăn nêu trên còn có những biện pháp mà các cơ quan nhà nước có thể sử dụng để thu hẹp độ chênh lệch hiện tại và trong dự kiến giữa nhu cầu và nguồn nhân lực. Có thể khẳng định rằng, khu vực nhà nước cũng có các biện pháp giảm thiểu độ chênh lệch giữa nhu cầu và nguồn nhân lực, mặc dù chúng không được phong phú như ở khu vực tư.

Khó khăn nảy sinh trực tiếp từ hệ thống quy phạm luật pháp, đó là sản phẩm của con người có thể biến đổi. Vấn đề trước hết là ở tư duy quản lý, văn hoá quản lý, ở vị thế vượt trội của phương pháp quản lý theo ngạch bậc và thâm niên truyền thống so với phương pháp quản lý theo năng lực và quản lý theo kết qủa chưa hoặc không áp dụng trong hoạt động thực tế. Ở khu vực nhà nước, trước khi bổ nhiệm một người vào ngạch công chức, người ta có một năm để xem xét người vào ngạch công chức và quyết định. Ở khu vực tư, người ta chỉ có ba tháng để thử việc. Nhưng hầu như chưa có cơ quan hành chính nào sử dụng một cách nghiêm túc khoảng thời gian cho phép này. Cũng chưa có cơ quan nào quyết định không bổ nhiệm vào ngạch, bậc một người đã qua thi tuyển mà không phù hợp với công việc. Hiếm khi người ta áp dụng các biện pháp chế tài có ghi trong quy chế.

Hoạt động quản lý các cơ quan nhà nước trước hết mang tính quy phạm, dựa vào hệ thống các nguyên tắc trên văn bản, thì hoạt động quản lý nguồn nhân lực cần được bổ sung yếu tố năng lực, bằng các quy định đồng thời cũng cần quản lý theo công việc hoặc nghề nghiệp - quản lý theo năng lực. Đây thực sự là một cuộc “cách mạng văn hoá” đối với phần lớn các cơ quan thuộc khu vực nhà nước, đặc biệt là các cơ quan hành chính theo nghĩa rộng của từ này.

- Trở ngại từ nguyên tắc “ngân sách theo năm”:

Một vấn đề đặc thù của khu vực nhà nước là nguyên tắc “ngân sách theo năm”. Các cơ quan nhà nước không thể hoàn toàn làm chủ việc sử dụng ngân sách như các doanh nghiệp tư.

Nhu cầu và những nguyên tắc ngân sách thực tế giữa nhiệm vụ của một tổ chức công và việc phân bổ nguồn lực “ngân sách theo năm” làm nảy sinh nhiều vấn đề, ảnh hưởng tới việc thực hiện các hoạt động quản lý dự báo nguồn nhân lực (trừ các cơ quan được hưởng hoạt động kế hoạch ngân sách nhiều năm).

3. Những thuận lợi trong hoạt động quản lý nguồn nhân lực khu vực nhà nước.

- Sự ổn định:

Trừ các cơ quan tham gia thị trường cạnh tranh, khu vực nhà nước được hưởng một trạng thái ổn định tương đối. Đây là đặc điểm phân biệt với khu vực tư. Sự ổn định này được thể hiện trên hai lĩnh vực:

- Ổn định về nhiệm vụ cơ bản: Ngay cả trong trường hợp những nhiệm vụ này biến động hoặc thay đổi chúng vẫn được xây dựng trên cơ sở mục tiêu đã xác định: Giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, xét xử, bảo vệ, bảo trợ...

- Ổn định về nhân sự: Thông thường, khi được tuyển vào một cơ quan nhà nước, nhân viên sẽ làm việc ở đó suốt đời. Sự ổn định này có ưu điểm: Một mặt, nó khiến cho việc đầu tư vào nguồn nhân lực có ý nghĩa hơn; mặt khác, nó cho phép đơn giản hoá các hoạt động trù liệu hay quản lý dự báo đối với nguồn nhân lực trong khu vực nhà nước.

Sự ổn định về nhiệm vụ cơ bản và nhân sự trong khu vực nhà nước cho phép được dự báo dễ dàng hơn so với khu vực tư.

- Sự gắn bó thực sự của công chức, viên chức với các dịch vụ công:

Tạo động cơ làm việc cho một công chức không khó khăn hơn tạo động cơ làm việc cho một người lao động thuộc khu vực tư.

Khu vực tư thuần một mục đích lợi nhuận, khu vực nhà nước phải đáp ứng những nhu cầu mà đời sống xã hội đặt ra. Trong khu vực nhà nước có khái niệm “việc nước”, đem lại nhiều lợi thế, nó cho phép huy động sự tham gia của nhân viên vì mục đích của công việc một cách khá dễ dàng.

Tình trạng bất bình đẳng tiền lương trong khu vực nhà nước đã và đang tồn tại, tồn tại trong sự bề bộn và chồng chéo của các loại quy chế chính sách. Thực tế cho thấy: Tiền lương - khó khăn thường được viện dẫn để biện minh cho các vấn đề về động cơ làm việc ở khu vực nhà nước không quá quan trọng như người ta tưởng. Lương thấp so với khu vực tư là một yếu tố có khả năng nuôi dưỡng tư tưởng không hài lòng - nhưng không phải là yếu tố quyết định động cơ làm việc của các cá nhân công chức, viên chức. Động cơ làm việc trước hết phụ thuộc vào nội dung công việc và trách nhiệm mà người lao động được giao. Ngoài ra, như mọi người đều biết, người ta trở thành công chức, viên chức không phải để làm giầu, mà vì những lý do khác.

Khái niệm “dịch vụ công” cũng là một nguồn lực mà khu vực tư không thể có để tạo động cơ làm việc cho người lao động. Người ta luôn cảm thấy hào hứng với việc tham gia hoặc đóng góp trực tiếp cho sự nghiệp giáo dục, bảo vệ an ninh công cộng, chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào... hơn là chỉ sản xuất những sản phẩm tiêu thụ hàng loạt nhằm thu lợi nhuận.

Những người làm việc trong khu vực nhà nước thường có đặc điểm là gắn bó chặt chẽ với mục đích nhiệm vụ mà họ đảm đương. Đây là một lợi thế tự nhiên, thực tế mà khu vực nhà nước có được và phải cần tập trung khai thác.

II. Những giải pháp nhằm khắc phục khó khăn, phát huy lợi thế trong quản lý nguồn nhân lực khu vực nhà nước

1. Những hoạt động thực tế trong quản lý nguồn nhân lực khu vực nhà nước thời gian qua

Hoạt động quản lý nguồn nhân lực ở khu vực nhà nước hiện nay đang “đứng giữa dòng”, không ở vị trí thuận lợi nhất. Không phải tất cả các cơ quan thuộc khu vực nhà nước đều ở cùng một giai đoạn trong quá trình chuyển từ quản lý nhân sự sang quản lý nguồn nhân lực. Một số hoạt động dựa trên phương pháp quản lý nhân sự truyền thống, một số hoạt động khác lại chuyển hẳn sang phương pháp quản lý nguồn nhân lực. Một số dự án quản lý nguồn nhân lực trong khu vực nhà nước có thể coi là thành công, một số khác lại thất bại nặng nề. Nguyên nhân thất bại có thể là thiếu sự ủng hộ của lãnh đạo, hoặc những người điều hành dự án thiếu khả năng, thiếu những công cụ cần thiết.

Hoạt động quản lý nguồn nhân lực ở khu vực nhà nước những năm qua chủ yếu tập trung vào hướng đào tạo nhằm chuyển từ logic chỉ tiêu hoặc logic tiêu thụ sang logic đầu tư hay đồng đầu tư và hoạt động thực hành quản lý nhằm đổi mới các phương thức hành động không còn phù hợp.

2. Những giải pháp cần được tiến hành

Bốn giải pháp cho hoạt động quản lý nguồn nhân lực trong khu vực nhà nước cần tập trung nỗ lực tiến hành, là:

- Phân tích hệ thống việc làm:

Phân tích hệ thống việc làm (vị trí làm việc, công việc, nghề nghiệp...) cũng như việc mô tả các năng lực cần có là một vấn đề căn bản của hoạt động quản lý nguồn nhân lực, bởi nó cho phép xác định nhu cầu lao động của tổ chức.

- Áp dụng các hình thức mới để đánh giá nhân viên:

Thông qua nghề nghiệp và công việc để thống kê số lượng và đánh giá năng lực nhân viên là vấn đề cơ bản thứ hai của hoạt động quản lý nguồn nhân lực.

Hoạt động đánh giá nhân viên hiện nay là còn chưa được phát triển một cách đầy đủ, còn chịu ảnh hưởng nặng nề của cách đánh giá cũ ở chỗ người ta còn áp dụng hình thức “cho điểm đánh giá”.

- Thực hiện các hoạt động quản lý dự báo đối với công việc, năng lực làm việc của nguồn nhân lực:

Việc thực hiện các hoạt động quản lý dự báo đối với công việc, năng lực làm việc và nguồn nhân lực cho phép tránh được nguy cơ hành động nóng vội trong khi xử lý những thay đổi diễn ra nhanh chóng đã đặt các tổ chức thuộc khu vực nhà nước vào tình trạng không thể dừng lại ở việc đơn thuần ghi nhận sự chênh lệch rất đáng kể giữa nhu cầu sử dụng lao động của họ và nguồn nhân lực thực tế. Trong bối cảnh hiện nay, các cơ quan nhà nước không thể bỏ qua những vấn đề trầm trọng và kéo dài nảy sinh từ tình trạng bất cập giữa nhu cầu công việc và nguồn nhân lực hiện có.

- Hoạch định chính sách quản lý nguồn nhân lực:

Ở khu vực nhà nước - khu vực tiên tiến về quản lý nguồn nhân lực - phần lớn các hoạt động quản lý nguồn nhân lực còn manh mún, không thực sự gắn kết và thiếu toàn diện.

Vấn đề hết sức quan trọng đối với các cơ quan nhà nước là: Hoạch định cho được một chính sách tổng thể quản lý nguồn nhân lực. Hoạt động quản lý nguồn nhân lực cần được “sơ đồ hoá” trên cơ sở xác định các vấn đề ưu tiên giải quyết.

3. Các vấn đề đặc biệt cần xử lý

- Quản lý nguồn lực con người:

Một trong những đặc điểm của hoạt động quản lý nguồn nhân lực ở khu vực nhà nước là yêu cầu quản lý “nhân lực vốn có” cao hơn so với khu vực tư.

Trừ trường hợp ngoại lệ, dòng nhân công ra vào khu vực nhà nước thường nhỏ và chậm. Nói một cách khác: đội ngũ nhân viên của các tổ chức nhà nước “ổn định” đến mức khó thay đổi. Từ thị trường lao động, khu vực nhà nước không thể tuyển dụng hàng loạt người lao động với những năng lực làm việc mới, tích ứng với sự vận động biến đổi của nội dung công việc, buộc phải cải biến những năng lực sẵn có - áp dụng phương pháp quản lý nhân lực “tồn kho”, chứ không thể áp dụng phương pháp quản lý nhân lực “theo luồng”, khả năng thích ứng của các cơ quan nhà nước phải được thực hiện bởi nhân lực nội bộ chứ không phải bởi nhân lực từ bên ngoài. Đây là nguyên do dẫn đến việc phải quản lý nguồn “nhân lực vốn có” của cơ quan. Không dễ dàng thay đổi người lao động như khu vự tư, khu vực nhà nước buộc phải đổi mới năng lực của họ.

Vì vậy, cần phải chú ý đến việc đào tạo tại chỗ và đào tạo bổ sung cho một số lượng lớn và thường xuyên về chuyên môn cho nguồn nhân lực, chất lượng đào tạo phải được đảm bảo mới phát triển khả năng, trình độ chuyên môn của nhân viên. Đây là biện pháp giữ vai trò chiến lược.

- Chất lượng tuyển dụng là yêu cầu cơ bản. Trong khâu tuyển dụng nhân lực ở khu vực nhà nước là không thể hoặc rất khó sửa chữa so với khu vực tư. Tuyển dụng trong khu vực nhà nước phải hướng tới việc tuyển chọn các công chức tổng hợp có tiềm năng, không nhất thiết có bằng cấp quá cao, phải chuyên nghiệp hoá nhiều lần những người được tuyển chọn trong suốt quá trình làm việc của họ.

- Dành cho các đơn vị tác nghiệp một phạm vi hoạt động cần thiết trong việc tổ chức lao động nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữa nhân lực và công việc, góp phần quyết định sự thành bại trong việc cải thiện chất lượng sản phẩm và dịch vụ.

- Sự cơ động mang tính chức năng. Từ lâu trong khu vực nhà nước, sự cơ động mang tính chức năng đã trở thành một thực tế tồn tại phổ biến, nhân viên tiếp tục làm những công việc mà họ đảm đương cả ở cấp cao và cấp thấp từ 15 đến 20 năm. Một nhân viên đảm nhiệm cùng một công việc trong suốt 20 hoặc 30 năm, chắc chắn họ sẽ rơi vào tình trạng nhàm chán công việc. Nếu có khả năng làm việc cơ động, thường xuyên thay đổi công việc (5 hay 6 năm một lần), nhân viên sẽ được thử thách về năng lực làm việc, sẽ được rèn luyện khả năng học hỏi, càng dễ thích ứng với những biến đổi của công việc trong tương lai.

Trong khu vực nhà nước, ở các cấp độ cao, biến động nhân lực diễn ra rất nhanh; ở các cấp độ thấp, biến động diễn ra rất chậm. Chắc chắn có một mối liên hệ tương tác giữa hai hiện tượng trái nược đó: Sự cơ động quá cao của nhân lực ở cấp độ này buộc các cấp độ khác phải giữ nguyên vị trí để đảm bảo tính liên tục tối thiểu trong hoạt động.

Trong hoạt động quản lý nguồn nhân lực ở khu vực nhà nước, nếu như tuyển dụng và tổ chức lao động là hai phương tiện cần quan tâm phát triển hơn nữa, thì đào tạo tại chỗ và đào tạo bổ sung và sự cơ động về chức năng cũng là hai phương tiện phải được ưu tiên, bởi chúng cho phép làm phong phú thêm nguồn “nhân lực vốn có” của tổ chức.

- Cách tổ chức đặc biệt với cấp Trung ương và các cơ quan nhà nước đóng tại địa phương:

Một đặc điểm khác của khu vực nhà nước là: Phần lớn quyền lực tập trung ở cấp trung ương, các cơ quan nhà nước đóng tại địa phương chủ yếu đảm đương các nhiệm vụ tác nghiệp thực thi. Một cơ cấu như vậy rất hiếm thấy trong khu vực tư.

Đặc điểm của các tổ chức này khiến cho hoạt động quản lý nguồn nhân lực trong khu vực nhà nước trở nên phức tạp hơn, bởi nó làm xuất hiện những vấn đề đặc trưng trong điều hành, giao tiếp, trước hết là trong việc phân chia trách nhiệm giữa cấp trung ương và cấp địa phương.

Xét trên bình diện tổng thể, quản lý nguồn nhân lực trong khu vực nhà nước ngày nay quá tập trung nên không thể đem lại hiệu quả thực sự. Không dễ dàng giải quyết vấn đề, bởi lẽ: Nếu tập quyền quá mức dẫn đến mức độ tham gia của các cấp cơ sở sẽ rất thấp và cấp trung ương sẽ có rất ít thực tế. Ngược lại, nếu tản quyền quá mức, chắc chắn sẽ tạo ra những nguy cơ chệch hướng và thiếu đồng bộ trong các hoạt động quản lý nguồn nhân lực.

_________________________________________

Tài liệu tham khảo:

1. Giáo trình “Tổ chức bộ máy hành chính quản lý nhà nước”. NXB CTQGHN, H.2006, Học viện hành chính Quốc gia.
2. Võ Kim Sơn: Phương pháp phân tích và dự báo kinh tế - xã hội cho các nhà quản lý. NXB KH&KT, H.1999.
3. “Cải cách hệ thống công vụ các nước”. Tài liệu của WB.
4. Christian Batal: “Quản lý nguồn nhân lực trong khu vực nhà nước”. NXB CTQGHN, 2006.
5. Thomhill: “Public Administration”. NXB ICSA publihing Ltd.1985.
* Ths. Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III.

 | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |             

 

 

 
 
 

 

 

 

 

 

 

 

  ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM          
 

   Chợ bến Thành ( TP Hồ Chí Minh )


Khuê các Vănmiếu
TP Hà Nội

 

    Kon Tum

              Quảng Nam


Biển Hà Tiên       

 
 

|   Giới thiệu  |   Mặt trận Tỉnh Thành  | Tổ chức thành viên |  Hội đồng tư vấn   |   English

| TCMT | Trở Về đầu trang  |

Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2008 Trang TTĐT - Cơ quan UBTW MTTQ Việt Nam.
Giấy phép số:111/GP-BC của Bộ Thông tin và Truyền thông • Trưởng ban Biên tập: LÊ BÁ TRÌNH • Phó ban Biên tập: NGUYỄN TUẤN ANH
Địa chỉ: 46 Tràng Thi - Hà Nội • ĐT:04-9287401;  Email:
ubmttqvn@mattran.org.vn