Ðặt làm trang chủ

 
     
 


 
 
 

        SỐ 60

VẤN ĐỀ SỰ KIỆN

Cả nước chung lòng chăm lo cho người nghèo

  Toàn dân hãy hưởng ứng "Tháng cao điểm vì người nghèo" ( 17-10 đến 18-11-2008 )

Nâng tầm công tác Mặt trận đáp ứng yêu cầu , nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Thủ đô trong tình hình mới

5 năm nhìn lại việc thực hiện Nghị quyết  Trung ương bảy về công tác dân tộc

Công tác lý luận của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - Thực trạng và một số giải pháp

Để cuộc chiến , phòng chống tham nhũng có hiệu quả phải có một chiến lược dài hạn



HƯỞNG ỨNG “THÁNG CAO ĐIỂM VÌ NGƯỜI NGHÈO”
(17/10 – 18/11/2008)

CẢ NƯỚC CHUNG LÒNG CHĂM LO CHO NGƯỜI NGHÈO

LTS: Vượt lên khó khăn, thách thức của tình hình lạm phát, giá cả tăng cao những tháng đầu năm 2008, gây ảnh hưởng đến phát triển sản xuất và đời sống nhân dân, nhất là với người nghèo, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã và đang có nhiều việc làm thiết thực cùng cả nước chăm lo cho người nghèo.

Để bạn đọc có thể hiểu thêm vấn đề này, nhất là các hoạt động trong “Tháng cao điểm vì người nghèo” do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì, Tạp chí Mặt trận xin được trân trọng giới thiệu bài phỏng vấn của phóng viên Tạp chí với ông Huỳnh Đảm, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Đầu đề là của Tạp chí.

                                                                     BAN BIÊN TẬP

- PV:Trước thực trạng kinh tế - xã hội nước ta những tháng đầu năm 2008 gặp rất nhiều khó khăn: lạm phát tăng cao; thiên tai, dịch bệnh gia súc, gia cầm diễn ra ở nhiều nơi; nhiều sản phẩm hàng hoá của nông dân sản xuất ra không bán được... đã làm cho đời sống người nghèo càng thêm khó khăn, xin ông cho biết “Tháng cao điểm vì người nghèo” năm nay có những thuận lợi, khó khăn gì?

- Chủ tịch Huỳnh Đảm: Tám năm qua, cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” do Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động đã được các cấp, các ngành, các doanh nghiệp, các tầng lớp nhân dân ở trong nước, đồng bào ta đang sinh sống ở nước ngoài tích cực hưởng ứng và đạt kết quả, góp phần thiết thực chăm lo cho người nghèo, đóng góp vào sự nghiệp xoá đói giảm nghèo, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và góp vào thành tựu chung của cả nước. Đến nay, Quỹ “Vì người nghèo” các cấp đã nhận được 2.286 tỷ đồng. Từ nguồn Quỹ này, cùng với đầu tư của Chính phủ, chính quyền các cấp và sự ủng hộ, giúp đỡ trực tiếp của cộng đồng, cả nước đã xây dựng và sửa chữa 799.638 nhà ở cho người nghèo; hàng triệu người nghèo được giúp đỡ sản xuất, khám chữa bệnh, hỗ trợ con em học tập... Hàng năm, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đều tổ chức “Tháng cao điểm vì người nghèo” (từ 17-10 đến 18-11) và phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức Chương trình “Nối vòng tay lớn” vì người nghèo (31-12). Cùng với sự quan tâm của các cấp uỷ đảng, sự phối hợp của chính quyền các cấp và nhất là sự nỗ lực vận động của Mặt trận Tổ quốc thì sự tham gia ủng hộ của đồng bào và chiến sỹ cả nước với tinh thần tương thân, tương ái, lá lành đùm lá rách là một trong những yếu tố hết sức quan trọng làm nên kết quả của cuộc vận động nói chung, Tháng cao điểm và Chương trình “Nối vòng tay lớn” nói riêng.

Những tháng đầu năm 2008, tình hình lạm phát, giá cả tăng cao ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp và đời sống của nhân dân. Chính phủ đã đề ra 8 nhóm giải pháp và Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã ra lời kêu gọi toàn dân chung sức chung lòng, cùng Đảng, Nhà nước khắc phục khó khăn, đẩy mạnh sản xuất, thực hiện các nhóm giải pháp do chính phủ đã đề ra nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững. Mấy tháng gần đây, tuy còn nhiều khó khăn, song với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, tình hình kinh tế -xã hội của cả nước đã có nhiều chuyển biến tích cực, nhất là tháng 9 vừa qua, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) chỉ tăng 0,18% so với tháng 8-2008, thấp nhất từ đầu năm đến nay. Đây là những kết quả bước đầu có ý nghĩa rất quan trọng, tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước những tháng cuối năm. Chính đó tạo ra những tiền đề để các tổ chức, cá nhân, các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm sẽ tiếp tục tham gia thực hiện các hoạt động xã hội, nhân đạo từ thiện và tham gia cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” và ủng hộ Quỹ “Vì người nghèo”. Mặt khác, chính ý nghĩa nhân văn sâu sắc của cuộc vận động sẽ thu hút các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân tiếp tục tham gia, ủng hộ Quỹ “Vì người nghèo”, góp phần thiết thực chăm lo cho người nghèo, nhất là trong những lúc khó khăn. Đặc biệt, với truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái của dân tộc, trong những lúc càng khó khăn, nhân dân ta lại càng đoàn kết chia xẻ, giúp đỡ lẫn nhau.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam luôn xác định mục tiêu đẩy mạnh và nâng cao chất lượng cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”. Trong điều kiện tình hình kinh tế - xã hội đất nước có nhiều khó khăn thì càng phải quyết tâm cao hơn, đổi mới phương thức vận động, đổi mới cơ chế ủng hộ, tăng cường quản lý và sử dụng Quỹ một cách có hiệu quả, nhằm thu hút ngày càng cao sự hưởng ứng tham gia và ủng hộ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, phối hợp tổ chức thành công “Tháng cao điểm vì người nghèo” và Chương trình “Nối vòng tay lớn” năm nay.

- PV: Xin ông cho biết những nội dung hoạt động chủ yếu diễn ra trong “Tháng cao điểm vì người nghèo” năm nay của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

- Chủ tịch Huỳnh Đảm: “Tháng cao điểm vì người nghèo” hàng năm diễn ra từ 17-10 đến 18-11. Trong Tháng cao điểm năm nay, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tập trung vào các hoạt động chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp phối hợp với các cơ quan thông tấn, báo chí tăng cường tuyên truyền về cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, về Tháng cao điểm và Chương trình “Nối vòng tay lớn”. Vừa để thu hút sự quan tâm của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp, đồng bào, chiến sỹ cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài; vừa để khẳng định những kết quả đã đạt được của cuộc vận động tám năm qua và công khai kết quả vận động, quản lý và sử dụng Quỹ “Vì người nghèo” các cấp; đồng thời, cũng là để hướng dẫn các tổ chức, cá nhân về nội dung, cách thức tham gia cuộc vận động và ủng hộ Quỹ “Vì người nghèo”.

Thứ hai, tổ chức Lễ phát động “Tháng cao điểm vì người nghèo” trước hoặc trong ngày 17-10 và đẩy mạnh vận động các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân hưởng ứng tham gia cuộc vận động và ủng hộ Quỹ “Vì người nghèo”. Trong điều kiện tình hình kinh tế-xã hội của đất nước có nhiều khó khăn như những tháng vừa qua, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp cần tăng cường hơn nữa công tác vận động để phát huy sức mạnh tổng hợp từ các tổ chức thành viên, các tập đoàn, các tổng công ty, các doanh nghiệp..., phấn đấu kết quả ủng hộ Quỹ “Vì người nghèo” năm nay phải nhiều hơn mọi năm. Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sẽ có chương trình phối hợp, thống nhất hành động với các tổ chức thành viên, phối hợp vận động các tập đoàn, tổng công ty, các doanh nghiệp.

Thứ ba, tập trung đẩy mạnh các hoạt động xây mới, sửa chữa và trao “nhà Đại đoàn kết” cho các hộ nghèo; đồng thời, xây dựng các công trình phúc lợi công cộng, tăng cường hỗ trợ cho các hộ nghèo về sản xuất, khám chữa bệnh và việc học hành của con em, nhất là ở các vùng biên giới, hải đảo... Phấn đấu cuối năm nay, nhiều địa phương xoá xong nhà ở dột nát cho người nghèo để đến hết năm 2010, cả nước cơ bản sẽ xoá xong hơn 400.000 nhà dột nát, cơ bản các hộ nghèo đều có nhà ở tử tế.

Thứ tư, chuẩn bị tổ chức Chương trình “Nối vòng tay lớn” vào tối 31-12-2008. Kể từ năm 2002 trở lại đây, cứ vào 31-12 hàng năm, thời điểm chuyển giao giữa năm cũ và năm mới, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lại phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức Chương trình “Nối vòng tay lớn” vì người nghèo. Trong “Tháng cao điểm vì người nghèo” năm nay, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sẽ phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam và một số tập đoàn, tổng công ty chuẩn bị nội dung và mọi điều kiện để Chương trình “Nối vòng tay lớn” tổ chức đạt kết quả tốt.

- PV: Được biết hiện nay toàn hệ thống Mặt trận từ Trung ương đến địa phương đang tập trung công sức cho tổ chức Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, hướng tới Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII, việc tập trung cho Đại hội như vậy có gì ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả của “Tháng cao điểm vì người nghèo”?

- Chủ tịch Huỳnh Đảm: Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần

thứ 5 Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (khoá VI) và Chỉ thị 18-CT/TW, ngày 22-11-2007 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, từ đầu năm đến nay, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đang tập trung chuẩn bị và tổ chức Đại hội Mặt trận Tổ quốc các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII (dự kiến vào Quý III-2009). Hiện nay, cả nước đã hoàn thành Đại hội Mặt trận Tổ quốc cấp cơ sở và đang tập trung tổ chức Đại hội Mặt trận Tổ quốc cấp huyện, song điều đó không gây khó khăn gì, trái lại còn tạo điều kiện cho việc tổ chức “Tháng cao điểm vì người nghèo” năm nay:

Thứ nhất, từ đầu năm đến nay, tình hình kinh tế-xã hội đất nước có nhiều khó khăn, do vậy Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thể hiện rõ quyết tâm cao trong việc đẩy mạnh, nâng cao chất lượng cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, góp phần tăng cường các hoạt động an sinh xã hội, nhất là đối với người nghèo; phấn đấu nâng cao kết quả “Tháng cao điểm vì người nghèo” và Chương trình “Nối vòng tay lớn”.

Thứ hai, một trong những yêu cầu của việc tổ chức Đại hội Mặt trận Tổ quốc các cấp lần này là phải tạo ra phong trào hành động cách mạng, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, nâng cao chất lượng các cuộc vận động của Mặt trận trong đó có cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”. Trên thực tế, trong quá trình chuẩn bị và tổ chức Đại hội, Mặt trận Tổ quốc các cấp ở địa phương và Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư đã rất chú trọng tới việc đẩy mạnh phong trào thi đua. Mỗi cơ sở, mỗi khu dân cư đều có những công trình, những hoạt động thiết thực lập thành tích chào mừng Đại hội. Qua đó, thu hút, động viên được các tầng lớp nhân dân hăng hái đẩy mạnh lao động sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tham gia kiềm chế lạm phát và đẩy mạnh các hoạt động an sinh xã hội, tham gia các phong trào, các cuộc vận động, nhất là cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” và cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”.

Với truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái, tôi tin tưởng, các cấp, các ngành, các doanh nghiệp, đồng bào, chiến sỹ cả nước, kiều bào ta đang sinh sống ở nước ngoài và các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam tiếp tục hưởng ứng, tham gia cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” và ủng hộ Quỹ “Vì người nghèo”, nhất là trong “Tháng cao điểm vì người nghèo” và Chương trình “Nối vòng tay lớn”, góp phần xoá xong hơn 400.000 nhà tạm dột nát trong năm 2010 và chăm lo cho người nghèo một cách thiết thực, đóng góp vào sự nghiệp xoá đói giảm nghèo, tăng cường khối đại đoàn kết và đóng góp vào thành tựu chung của cả nước.

- PV: Xin chân thành cảm ơn ông.



TOÀN DÂN HÃY HƯỞNG ỨNG “THÁNG CAO ĐIỂM VÌ NGƯỜI NGHÈO”
(17-10 đến 18-11-2008)

      Ngày 17-10-2000, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã khởi xướng Cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” và hàng năm lấy ngày 17-10 là “Ngày vì người nghèo”, từ ngày 17-10 đến 18-11 là “Tháng cao điểm vì người nghèo”. Đây là một hoạt động mang tính nhân văn sâu sắc, thể hiện tinh thần tương thân tương ái, phát huy truyền thống đoàn kết “lá lành đùm lá rách” cao quý của dân tộc Việt Nam ta. Từ khi cuộc vận động được khởi xướng đã thu hút sự đóng góp tự nguyện của các tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước, góp phần cùng với Đảng và Nhà nước giải quyết tình trạng nghèo đói, giúp người nghèo vượt khó vươn lên làm giàu.

 Sau gần 8 năm phát động, thống kê đến nay, Quỹ vì người nghèo cả nước đã vận động được trên 2.286 tỷ đồng (trong đó Quỹ Trung ương trên 135,4 tỷ đồng). Riêng năm 2007, cả nước vận động đượctrên 322 tỷ đồng (trong đó Quỹ Trung ương là 45 tỷ đồng, Quỹ địa phương là 277 tỷ đồng). 9 tháng đầu năm 2008, Quỹ vì người nghèo cả nước cũng đã vận động được hàng trăm tỷ đồng.

Từ nguồn quỹ vận động được, Ban vận động các cấp đã tổ chức nhiều nội dung hoạt động, mà trọng điểm là Chương trình xây “nhà tình thương”, “nhà đại đoàn kết”, xoá nhà dột nát cho người nghèo. Tính đến nay, toàn quốc đã xây dựng và sửa chữa được trên 799.638 căn nhà cho hộ nghèo; có 5.529 xã, phường, thị trấn (đạt 51,71%), 283 huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (đạt 41,75%), 18 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được nhận Bằng ghi công hoàn thành chương trình xây dựng “nhà đại đoàn kết”, xoá xong nhà dột nát cho người nghèo. Tuy nhiên, hiện nay cả nước còn hơn 400.000 căn nhà dột nát của người nghèo cần phải tiếp tục thanh toán

 “Tháng cao điểm vì người nghèo” và Chương trình “Nối vòng tay lớn” năm nay, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xác định mục tiêu tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả cuộc vận động xây dựng Quỹ vì người nghèo Trung ương và các cấp để tập trung xây “nhà đại đoàn kết” cho người nghèo, xây trường học, trạm xá, làm cầu đường cho các xã khó khăn, chữa bệnh cho người nghèo... Đây chính là việc làm thiết thực hưởng ứng Chương trình chống đói nghèo của Liên hợp quốc và của Quốc gia, cũng là thiết thực lập thành tích chào mừng Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, tiến tới Đại hội VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

[ về đầu trang ]



NÂNG TẦM CÔNG TÁC MẶT TRẬN
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU, NHIỆM VỤ XÂY DỰNG
VÀ BẢO VỆ THỦ ĐÔ TRONG TÌNH HÌNH MỚI

                                                               PHẠM LỢI*

         Từ Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VI và Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc thành phố Hà Nội lần thứ XIV (năm 2004) đến nay, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc các cấp trong thành phố đã có những chuyển biến rõ nét, góp phần tích cực xây dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Thủ đô - lấy đó làm nhiệm vụ trung tâm trong công tác mặt trận.

Công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và thành phố được cải tiến, coi trọng việc tuyên truyền chính sách, pháp luật gắn với tuyên truyền truyền thống ngàn năm văn hiến của Thủ đô anh hùng, truyền thống, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Công tác tuyên truyền đã gắn với việc tổ chức phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”, “Ngày vì người nghèo”, “Đền ơn đáp nghĩa”, phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc và các phong trào khác. Công tác chính trị, tư tưởng gắn kết với tổ chức phong trào nhân dân đã nâng cao hiệu quả của công tác tuyên truyền và các cuộc vận động trong nhân dân.

Điểm nổi rõ thứ hai là, Mặt trận Tổ quốc đã tích cực vận động nhân dân tham gia xây dựng đảng, xây dựng chính quyền, thực hiện vai trò là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, trách nhiệm đối với Đảng. Cụ thể Mặt trận đã có rất nhiều cố gắng trong việc vận động nhân dân tham gia các đợt sinh hoạt chính trị, tham gia ý kiến vào văn kiện Đại hội Đảng các cấp, góp ý kiến cho cán bộ, đảng viên, tích cực tham gia các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, phối hợp tổ chức các cuộc tiếp xúc cử tri, tổ chức lấy phiếu tín nhiệm các cán bộ chủ chốt do Hội đồng nhân dân phường, xã, thị trấn bầu ra; vận động nhân dân thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, tăng thêm mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc với nhân dân.

Công tác giám sát bước đầu được đẩy mạnh là hướng đi tích cực. Nội dung giám sát của Mặt trận Tổ quốc đã tập trung vào giám sát việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, giám sát cán bộ, công chức, đảng viên ở 61 phường, xã, thị trấn làm điểm, giám sát cải cách hành chính và giám sát đầu tư cộng đồng có kết quả. Đã phát hiện 520 vụ việc cán bộ, công chức, đảng viên ở khu dân cư có dấu hiệu vi phạm đạo đức, lối sống, quan hệ với nhân dân, kiến nghị với các cơ quan quản lý cán bộ, công chức, đảng viên xem xét, giải quyết, có tác dụng phòng ngừa và quản lý cán bộ. Ban giám sát đầu tư cộng đồng đã giám sát 641 dự án xây dựng, trong đó phát hiện 98 dự án có vi phạm, đã kiến nghị, yêu cầu chủ đầu tư, chủ xây dựng xem xét, giải quyết.

Điểm rõ thứ ba là luôn chăm lo xây dựng Mặt trận Tổ quốc cơ sở vững mạnh, đổi mới phương thức chỉ đạo, hướng dẫn của Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc thành phố và các quận, huyện.

Đã sớm hướng dẫn chỉ đạo việc kiện toàn Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư theo hướng tăng số lượng, cơ cấu thành phần đảm bảo tính đại diện, tính thiết thực và kiện toàn Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các phường, xã, thị trấn có Chủ tịch, hai Phó Chủ tịch và Uỷ viên Thường trực, xem đây là 2 khâu chủ yếu trong xây dựng Mặt trận Tổ quốc cơ sở vững mạnh.

Ngay khi có Chỉ thị số 18-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Thông tri của Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về tiến hành Đại hội Mặt trận Tổ quốc các cấp tiến tới Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc thành phố đã chủ động tham mưu với Thành uỷ, phối hợp với Uỷ ban nhân dân, Ban Dân vận, Ban Tổ chức, Ban Tuyên giáo Thành uỷ có chỉ thị, kế hoạch hướng dẫn tiến hành Đại hội Mặt trận Tổ quốc các cấp, tổ chức tập huấn cán bộ mặt trận từ cơ sở đến thành phố về tổ chức Đại hội Mặt trận Tổ quốc, tiến hành đại hội điểm ở một số phường, xã và quận, huyện. Trong lãnh đạo, chỉ đạo đại hội Mặt trận Tổ quốc các cấp đã quan tâm 3 vấn đề: Tổ chức đánh giá việc thực hiện Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; kiện toàn Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp, kiện toàn Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư và đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước trong các tầng lớp nhân dân.

Việc đánh giá thực hiện Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được tiến hành từ cơ sở đến quận, huyện và thành phố, là một nội dung quan trọng trong sinh hoạt chính trị nhằm nâng cao nhận thức của hệ thống chính trị về đại đoàn kết toàn dân tộc, vai trò Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong tình hình mới.

Qua đại hội Mặt trận Tổ quốc các xã, phường, thị trấn đã được sự quan tâm lãnh đạo của cấp uỷ đảng, sự phối hợp của chính quyền, nâng cao vai trò, vị trí của Mặt trận Tổ quốc, mở rộng cơ cấu, số lượng, thành phần của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, tăng tỷ lệ người ngoài đảng trên 30%, kiện toàn Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc có Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch và các uỷ viên, kiện toàn Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư là những kết quả bước đầu có ý nghĩa.

Việc đổi mới phương thức hướng dẫn, chỉ đạo của Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc đã tập trung vào yêu cầu: hướng về cơ sở và nhân dân; chỉ đạo có trọng tâm, trọng điểm; tập huấn cán bộ; chủ động tham mưu với cấp uỷ đảng, phối hợp với Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Ban Dân vận thành uỷ; khắc phục bệnh hình thức, xa dân, dàn trải “trận nào cũng có”.

Đạt được những kết quả nói trên là do sự quan tâm lãnh đạo của Thành uỷ và các cấp uỷ đảng; sự hướng dẫn chỉ đạo của Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố, sự phối hợp của chính quyền, sự nỗ lực chủ động, sáng tạo của Mặt trận Tổ quốc các cấp, nhất là cơ sở.

Những kết quả trên đây so với yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng Thủ đô còn khiêm tốn, còn nhiều việc chưa làm được hoặc làm chưa tốt, như:

+ Việc nắm tình hình tâm tư, tình cảm của nhân dân chưa sâu, chưa kịp thời phát hiện những vấn đề nảy sinh, chưa làm đúng chức năng đại diện cho lợi ích, quyền làm chủ của nhân dân. Nhiều kiến nghị chính đáng của nhân dân, của Mặt trận Tổ quốc chưa được các cơ quan có trách nhiệm xem xét, giải quyết, trả lời cho dân.

+ Chưa phát huy được sức mạnh của nhân dân, của các tổ chức thành viên trong hoạt động giám sát, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu. Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc chưa có những quy định cần thiết, nên còn lúng túng, khó khăn. Sự phối hợp giữa các cơ quan của Đảng, cơ quan Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc trong công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa đồng bộ, chưa tạo được sức mạnh trong hoạt động giám sát, kiểm tra.

Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc thành phố và các cấp chưa thật chủ động tham mưu với các cấp uỷ đảng trong công tác quy hoạch, đào tạo, bố trí cán bộ Mặt trận và chính sách cán bộ mặt trận nên chưa khuyến khích được những người có năng lực, trình độ, phẩm chất làm công tác mặt trận.

Hà Nội đang nỗ lực thực hiện những chương trình và công trình trọng điểm hướng tới kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội với những thuận lợi và cả khó khăn.

Đặc biệt việc thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về mở rộng địa giới hành chính Thủ đô với diện tích 3.344 km2 (trước đây 920 km2), dân số 6,3 triệu người (trước đây là 3,1 triệu người), với 29 quận, huyện, thành phố trực thuộc và 576 xã, phường, thị trấn (trước 14 quận, huyện; 232 xã, phường, thị trấn). Đây là sự kiện trọng đại, với tầm nhìn xa của Đảng, Nhà nước đối với thủ đô, tạo thế và lực để Thủ đô Hà Nội phát triển bền vững.

Để phát huy được thế mạnh của Thủ đô sau mở rộng đòi hỏi lãnh đạo Thành phố nói chung và Mặt trận Tổ quốc nói riêng phải đổi mới tư duy, phương thức lãnh đạo, chỉ đạo đáp ứng yêu cầu mới. Vì vậy, nâng cao tầm công tác Mặt trận các cấp trong thành phố đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới là một yêu cầu khách quan:

1. Tạo sự chuyển biến trong nhận thức về yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ thủ đô trong tình hình mới, những khó khăn, thuận lợi, thời cơ và thách thức đặt ra đối với các cấp Mặt trận và nhân dân Thủ đô.

Là một thành phố đông dân, kết cấu dân cư đa dạng, phong phú, cán bộ, nhân dân làm việc sinh sống trong những lĩnh vực công tác khác nhau, điều kiện khác nhau. Do đó, để phát triển Thủ đô gắn với việc chuẩn bị, tiến hành Đại hội Mặt trận Tổ quốc các quận, huyện, thành phố, cần làm cho cán bộ Mặt trận Tổ quốc các cấp, cán bộ, đảng viên và nhân dân nói chung nhận thức rõ yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng Thủ đô trong giai đoạn mới, trong điều kiện mở rộng địa giới hành chính, với yêu cầu xây dựng Thủ đô như Nghị quyết số 15/NQ-TW của Bộ Chính trị đã chỉ ra.

Yêu cầu đặt ra là, phải tuyên truyền sâu rộng nhiệm vụ xây dựng Thủ đô, những thuận lợi, khó khăn, thời cơ và thách thức nhằm tạo sự đồng thuận ngày càng cao trong các tầng lớp nhân dân, lôi cuốn các tầng lớp nhân dân cùng tham gia các cuộc vận động, làm cho các hoạt động kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, trở thành Ngày hội của nhân dân.

2. Phát huy dân chủ của nhân dân trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu; tham gia xây dựng đảng, xây dựng chính quyền và vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc là một nội dung quan trọng nâng tầm hoạt động của Mặt trận.

Làm tốt việc vận động cán bộ, nhân dân thực hiện Pháp lệnh về dân chủ ở xã, phường, thị trấn sẽ khơi dậy được động lực tinh thần của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và các phong trào, các cuộc vận động chính trị, xã hội ở địa phương.

Để hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực sự mang tính nhân dân, hỗ trợ cho công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra của Nhà nước, góp phần xây dựng và bảo vệ nhà nước, cần sớm rút kinh nghiệm về thực hiện Nghị quyết liên tịch giữa Vhính phủ và Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để tháo gỡ những vướng mắc, hạn chế. Điều quan tâm, cần thiết ở đây là có những quy định cụ thể về trách nhiệm của cán bộ, công chức, đảng viên trong việc giải quyết những kiến nghị của nhân dân thông qua Mặt trận Tổ quốc đến các cơ quan nhà nước. Giám sát đầu tư cộng đồng là một chủ trương được nhân dân đồng tình, nhiều nơi Ban giám sát đầu tư cộng đồng hoạt động thiết thực, có hiệu quả. Cái thiếu và cần giải quyết ở đây là chế tài giải quyết những kiến nghị của Ban giám sát, trách nhiệm của chủ đầu tư và chủ xây dựng và những quy định cần thiết để Ban giám sát đầu tư cộng đồng hoạt động.

Điều có ý nghĩa quyết định để nâng cao vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc là việc củng cố các lực lượng tham gia giám sát, trong đó có vai trò của nhân dân cùng với Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên, Ban thanh tra nhân dân, phối hợp với kiểm tra, thanh tra của nhà nước, tạo nên sức mạnh đồng bộ của hệ thống chính trị trong hoạt động giám sát, thanh tra, kiểm tra.

Trong khi chưa có những quy định chung về phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, nên lựa chọn một số việc có liên quan nhiều đến nhân dân như xây dựng kế hoạch kinh tế - xã hội hàng năm, chính sách giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất, chính sách nhà ở cho người có thu nhập thấp…để tổ chức phản biện một cách thiết thực.

3. Chuyển mạnh phương thức hướng dẫn của Mặt trận Tổ quốc về cơ sở, gần dân, thực hiện các trọng tâm công tác.

Với địa giới hành chính mở rộng, dân số, số quận, huyện, phường, xã, thị trấn tăng lên đáng kể đòi hỏi công tác hướng dẫn, kiểm tra của Mặt trận Tổ quốc phải cải tiến, hướng mạnh về cơ sở, nắm tình hình nhân dân, vận động nhân dân, kiên quyết tập trung vào những trọng tâm công tác. Hướng về cơ sở, về nhân dân làm cho hoạt động của Mặt trận Tổ quốc thực sự gần dân, thể hiện được ý chí, nguyện vọng, quyền làm chủ của nhân dân, khắc phục những biểu hiện còn hình thức, xa dân, không nắm bắt và phát hiện kịp thời những việc nảy sinh trong đời sống nhân dân. Việc nắm tình hình, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân đòi hỏi từ cơ sở, Ban công tác Mặt trận ở khu dân cư, cán bộ Mặt trận và các tổ chức thành viên. Cải tiến việc nắm và phản ánh dư luận xã hội theo khu vực và chuyên đề cùng với việc tổ chức mạng lưới cộng tác viên của Mặt trận Tổ quốc từ cơ sở đến thành phố, tổ chức điều tra, khảo sát dư luận xã hội khi cần thiết. Làm tốt việc nắm và phản ánh dư luận nhân dân với việc trả lời những kiến nghị của nhân dân và hướng dẫn dư luận một cách chủ động.

Mặt trận Tổ quốc ở mỗi địa phương cơ sở đều tham gia hoạt động trên nhiều lĩnh vực, nhưng chỉ đạo công tác Mặt trận Tổ quốc nhất thiết phải có trọng tâm, trọng điểm là bài học kinh nghiệm tốt trong công tác mặt trận những năm vừa qua. Trọng tâm công tác Mặt trận Tổ quốc được xác định ngay từ khi xây dựng chương trình hành động hàng năm và trong từng thời gian cụ thể. Từ nay đến Đại hội Mặt trận Tổ quốc Thành phố và Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII nên tập trung tổ chức thực hiện có kết quả:

- Hoàn thành việc hướng dẫn, chỉ đạo điểm Đại hội Mặt trận Tổ quốc quận, huyện và mở rộng Đại hội Mặt trận Tổ quốc các quận, huyện, thành phố trực thuộc trong năm 2008. Chuẩn bị Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc thành phố vào đầu năm 2009 và các hoạt động tiến tới Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Trong quá trình tiến hành Đại hội Mặt trận Tổ quốc các quận, huyện và chuẩn bị đại hội Mặt trận thành phố nên lưu tâm làm tốt việc đánh giá thực hiện Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở quận, huyện và thành phố một cách thiết thực. Việc chuẩn bị báo cáo tình hình công tác Mặt trận Tổ quốc, nhất là định chương trình hành động trong những năm tới; Đề án nhân sự Mặt trận Tổ quốc quận, huyện và thành phố theo yêu cầu mở rộng Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc về số lượng, cơ cấu, thành phần đảm bảo tính đại diện, tiêu biểu, thiết thực, trong đó đặc biệt chú trọng nhân sự Ban Thường trực có chủ tịch, các phó chủ tịch, các ủy viên.

- Phối hợp với Uỷ ban nhân dân, các tổ chức thành viên đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, 3 cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” và “Ngày vì người nghèo” góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kinh tế - xã hội của Thủ đô năm 2008.

Tổ chức tốt hội nghị đại biểu nhân dân ở xã, phường, thị trấn bàn việc xây dựng đời sống văn hoá, xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, “Ngày hội đại đoàn kết toàn dân”, kỷ niệm ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam (18-11).

- Xây dựng phong cách công tác cán bộ Mặt trận trong thành phố để cán bộ Mặt trận thực sự là cán bộ của dân, trọng dân, hiểu dân, biết vận động nhân dân, được nhân dân tin cậy.

Đưa việc chỉ đạo điểm, nhân điển hình tiên tiến, giao ban định kỳ và tập huấn cán bộ thành nề nếp, làm cho việc quán triệt và tổ chức thực hiện tốt các trọng tâm công tác tiến tới Đại hội Mặt trận Tổ quốc thành phố và Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.

    * Phó chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

[ về đầu trang ]



5 năm nhìn lại
VIỆC THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG BẢY
VỀ CÔNG TÁC DÂN TỘC

                                                      PGS-TS. LÊ NGỌC THẮNG*

        Ngày 12-3-2003, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) đã ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW về công tác dân tộc. Để nghị quyết đi vào cuộc sống, ngày 12-6-2003, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 122/2003/QĐ-TTg về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết nói trên. Có thể nói Chương trình hành động của Chính phủ là thể hiện quyết tâm cao, cụ thể và sâu sát, cụ thể hóa nhiệm vụ và phân công các cơ quan trực thuộc, các địa phương trong việc thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu đề ra.

1. Tổ chức quán triệt Nghị quyết là khâu quan trọng đối với Nghị quyết về vấn đề dân tộc. Đúng như Nghị quyết đã chỉ ra hạn chế, yếu kém là “Nhận thức của các cấp, các ngành và của nhiều cán bộ, đảng viên về vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc, công tác dân tộc chưa sâu sắc, chưa toàn diện”. Chính phủ giao cho Ủy ban Dân tộc chủ trì phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Dân vận, Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo) và các cơ quan hữu quan triển khai với các Thông tư hướng dẫn. Trong thời gian qua, các cơ quan trên đã có những nỗ lực nhất định trong việc triển khai, như biên soạn tài liệu nghiên cứu các Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX (Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương), các bài nghiên cứu trên Tạp chí Dân tộc (Ủy ban Dân tộc); Tạp chí Mặt trận (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam); Tạp chí Cộng sản; báo Dân tộc và Phát triển (Ủy ban Dân tộc)..., triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ cung cấp luận cứ tuyên truyền (Ủy ban Dân tộc), Chương trình VTV5, Đài Tiếng nói Việt Nam... và nhiều báo, tạp chí của các bộ ngành liên quan. Có thể nói với sự ra đời của Nghị quyết về công tác dân tộc đã tạo ra sự thúc đẩy một bước nhất định trong hệ thống chính trị, các ngành các cấp, các tầng lớp xã hội về vị trí, vai trò của vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc, công tác dân tộc. Tuy nhiên, đến nay chưa có một “Thông tư” hướng dẫn, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết nhằm đáp ứng yêu cầu đối với công tác dân tộc và việc giải quyết vấn đề dân tộc trong giai đoạn mới của Đảng và Nhà nước ta. Sau 5 năm nhìn lại, sự “hạn chế, yếu kém” như nhận định trên của Trung ương chưa được khắc phục là bao, mặc dù Chính phủ đã có chương trình hành động và phân công cụ thể cho cơ quan chủ trì cũng như cơ quan phối hợp.

2. Việc tổ chức thực hiện một số nhiệm vụ chủ yếu và cấp bách, được biểu hiện bằng chuyển biến nhất định trong quan điểm hoạch định, quan điểm đầu tư, xây dựng nội dung chính sách của các bộ, ngành, cơ quan hữu quan.

Nhiệm vụ phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống của đồng bào các dân tộc là những nội dung trọng tâm được Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương tập trung thực hiện. Cụ thể, là triển khai các nhiệm vụ như: tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng (ưu tiên các xã đặc biệt khó khăn), cấp điện đến tất cả các xã, đầu tư các công trình hạ tầng và dự án đưa điện thoại xuống xã; chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển hàng hóa; thực hiện một số giải pháp, chính sách đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo như tập trung cho giải quyết vấn đề đất đai, giống, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, cấp nước sinh hoạt, giải quyết vấn đề nhà ở; tiêu thụ sản phẩm; trợ giá, trợ cước vận chuyển các mặt hàng chính sách xã hội, hỗ trợ vùng dân tộc đặc biệt khó khăn; quy hoạch sắp xếp lại dân cư ở những nơi cần thiết... Nhìn chung, những nhiệm vụ trên do được chú trọng triển khai nên đã đạt được một số kết quả nhất định. Nhiều nhiệm vụ được tập trung trong các chương trình quan trọng như: Chương trình 134 ban hành theo Quyết định 134/2004/QĐ-TTg ngày 20-7-2004 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào nghèo, đời sống khó khăn. Chương trình đã có tác động quan trọng đến việc thực hiện các nhiệm vụ đề ra của Nghị quyết Trung ương 7 về công tác dân tộc. Đến nay, còn những ý kiến khác nhau về việc thực hiện Quyết định 134/2004/QĐ-TTg, song không ai phủ nhận được những kết quả và những nỗ lực của Chính phủ và các địa phương đối với đời sống của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số... Việc quy hoạch sắp xếp lại dân cư vừa qua đối với đồng bào các dân tộc thiểu số chủ yếu liên quan đến các công trình thủy điện, các công trình phát triển theo hướng đô thị hóa, công nghiệp hóa... Đây là nhiệm vụ quan trọng cần được rà soát, tổng kết theo định hướng nhiệm vụ của sản phẩm có tính pháp lý như các Quyết định, Thông tư của Chính phủ.

Các nội dung thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu văn hóa - xã hội được giao cho các bộ, cơ quan chức năng phối hợp với Ủy ban Dân tộc triển khai theo bốn nhóm nhiệm vụ: a) Phát triển giáo dục nâng cao dân trí, tăng cường đào tạo nguồn nhân lực; b) Phát triển y tế; c) Phát triển thể dục thể thao; d) Phát triển văn hóa thông tin (thông qua các Dự án phát thanh, truyền hình và các vấn đề văn hóa khác). Việc thực hiện các nhiệm vụ cụ thể của các ngành trong sự phối hợp với Ủy ban Dân tộc và các cơ quan chức năng phải ra được các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ để tăng tính pháp lý, tính chỉ đạo điều hành và hiệu quả các nhiệm vụ... Bên cạnh sự nỗ lực thường xuyên của các bộ ngành thực hiện Nghị quyết, đến nay các văn bản chỉ đạo của Chính phủ trong việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khóa IX) về công tác dân tộc là chưa nhiều, chưa đầy đủ. Tiêu biểu như nhiệm vụ Bảo vệ môi trường vùng dân tộc và miền núi được triển khai thông qua các dự án đầu tư, xây dựng mô hình và nhiều hoạt động khác do Bộ Tài nguyên - Môi trường phối hợp với các bộ ngành và Ủy ban Dân tộc đảm nhận với yêu cầu đề ra phải có các Thông tư hướng dẫn thực hiện; bên cạnh những kết quả đạt được, đến nay vẫn chưa có Thông tư hướng dẫn thực hiện, mặc dù đây là lĩnh vực rất quan trọng, nhạy cảm với đời sống và hoạt động kinh tế của đồng bào các dân tộc cũng như liên quan đến mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia.

Củng cố để nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở là nhiệm vụ có tính đặc thù vì liên quan đến phát triển con người, liên quan đến hiệu quả thực hiện chính sách dân tộc. Nhiệm vụ này được giao cho Bộ Nội vụ và Ủy ban Dân tộc nhằm triển khai các nội dung về xây dựng kế hoạch đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở; đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số; tăng cường cán bộ xuống địa bàn trọng điểm; xây dựng quy chế dân chủ ở cơ sở phù hợp với tập quán của mỗi vùng và ban hành các văn bản Quyết định và Thông tư hướng dẫn để các nhiệm vụ đó đi vào cuộc sống thực tiễn. Tuy nhiên đến nay, bên cạnh một số kết quả đạt được còn nhiều nội dung chưa được triển khai thực hiện đúng mức.

Nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, bảo đảm ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng dân tộc và miền núi được giao cho Bộ Công an, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, với sự phối hợp của Bộ Quốc phòng, Ủy ban Dân tộc và các cơ quan hữu quan. Trong thời gian qua với sự nỗ lực của các bộ chủ quản, nhiệm vụ trên đã đạt được những kết quả quan trọng góp phần giải quyết những điểm nóng, phức tạp; xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm an ninh quốc phòng; tăng cường quản lý nhà nước về an ninh, trật tự khu vực biên giới... song sự phối hợp để ban hành các Quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về vấn đề trên chưa được triển khai đúng tiến độ, chưa được quan tâm đúng mức.

3. Bốn nhiệm vụ cụ thể về Đổi mới công tác dân tộc được Nghị quyết Trung ương cũng như Chương trình hành động của Chính phủ chỉ ra không chỉ có ý nghĩa “chủ yếu trước mắt” mà còn có tính chiến lược đối với công tác dân tộc là: xây dựng Luật Dân tộc; xây dựng, bổ sung, hoàn thiện một số chính sách đặc thù cho vùng dân tộc và miền núi; đổi mới nội dung quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc; kiện toàn hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về công tác dân tộc. Các nhiệm vụ trên được giao cho Ủy ban Dân tộc, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, Bộ Văn hóa và Thông tin (nay là Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch), Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ làm nhiệm vụ chủ trì các nội dung liên quan trực tiếp, phối hợp với các cơ quan hữu quan để ra Nghị định của Chinh phủ và các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ triển khai công việc. Những năm qua Ủy ban Dân tộc, Bộ Nội vụ và các bộ ngành được giao nhiệm vụ đã có những nỗ lực nhất định phối hợp với các địa phương, các ngành hữu quan tổ chức xây dựng Luật Dân tộc, tổng kết đánh giá và xây dựng Chương trình 135 giai đoạn 2, xây dựng và triển khai Quyết định 134/2004/QĐ-TTg, xây dựng cơ quan công tác dân tộc các cấp địa phương và nhiều chính sách khác, xây dựng đề án “Nội dung nhiệm vụ chủ yếu của quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc” ban hành theo Quyết định 1277/2005/QĐ-TTg ngày 7-12-2005 của Thủ tướng Chính phủ... Song nhìn chung, các nhiệm vụ nói trên còn nhiều nội dung cần được quan tâm, đầu tư hơn nữa mới đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác dân tộc đề ra trong bối cảnh tình hình mới theo định hướng mà Nghị quyết Trung ương 7 (khóa IX) đã đề ra...

4. Vấn đề đặt ra

 Hai năm nữa là đến 2010, năm cuối cùng của những mục tiêu, nhiệm vụ đề ra của Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 7 (khóa IX) về công tác dân tộc. Năm năm đã qua (2003 - 2008), một số đầu việc liên quan đến tổ chức thực nghị quyết cần rà soát lại, xem việc gì làm được, việc gì chưa làm được để có kế hoạch khắc phục trong thời gian tới. Nhìn một cách tổng thể các tiến độ thời gian theo yêu cầu đã chậm, các sản phẩm hình thức văn bản thực hiện còn nhiều điểm trống theo sự phân công của Chính phủ trong Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết đã đề ra.

Dưới góc độ công tác dân tộc cho thấy, đây là Nghị quyết rất quan trọng, hợp ý Đảng, lòng dân. Những gì Nghị quyết sơ kết, đánh giá và chỉ ra sẽ không chỉ mang tính lý luận mà còn có giá trị thực tiễn quan trọng trong bối cảnh và tình hình trong nước và thế giới hiện nay. Những người giàu tâm huyết và trách nhiệm với công tác dân tộc đang dõi theo việc thực hiện Nghị quyết có tính lịch sử này không chỉ trong công tác dân tộc mà còn có ý nghĩa to lớn trong việc giải quyết vấn đề dân tộc của Đảng và Nhà nước ta trong bối cảnh tình hình quốc tế và trong nước những năm đầu thế kỷ XXI (2006 - 2010).

  * Uỷ ban dân tộc; Tổng thư ký hội Dân tộc học và Nhân học Việt Nam

[ về đầu trang ]



CÔNG TÁC LÝ LUẬN CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
- THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP

                                                       ThS. ĐÀM VĂN LỢI*

         Công tác lý luận của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận quan trọng trong công tác lý luận của Đảng. Trong những năm qua, công tác lý luận của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bước đầu đã được Đảng đoàn, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quan tâm và từng bước tổ chức thực hiện có hiệu quả. Đặc biệt, từ khi Nghị quyết 01-NQ/TW của Bộ Chính trị (Khoá VII) “Về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay” và “Về một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay”… công tác lý luận của Mặt trận đã đạt được kết quả bước đầu, đó là:

Trong chỉ đạo công tác lý luận, Ban Thường trực, Thủ trưởng cơ quan đã nhấn mạnh sự cần thiết của việc định hướng nghiên cứu lý luận vào việc giải quyết những vấn đề bức xúc, nổi cộm mà công tác mặt trận đã và đang đặt ra; nâng cao trách nhiệm của các cơ quan khoa học trong việc tổng kết thực tiễn nhằm rút ra những vấn đề lý luận, những bài học kinh nghiệm cần thiết để tiếp tục hoàn thiện và nâng cao năng lực lãnh đạo và tổ chức thực tiễn của cán bộ Mặt trận.

Trên cơ sở bảo đảm tăng cường vai trò nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khuyến khích những người làm công tác lý luận tìm tòi, có trách nhiệm vì sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc và phát triển của Mặt trận và đổi mới phát triển đất nước. Do vậy, công tác lý luận ở Mặt trận đã khởi động được bầu không khí đối thoại, trước hết là ở trong một số hội thảo khoa học, trong hoạt động của các Hội đồng tư vấn. Việc công khai, dân chủ hóa quá trình nghiên cứu lý luận được thực hiện.

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương ba (khoá VIII) về chiến lược cán bộ của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã đề cao nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong hệ thống Mặt trận. Việc học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị được thực hiện gắn với việc tiêu chuẩn hoá cán bộ, đảng viên các cấp trong hệ thống. Nhờ coi trọng công tác đào tạo, năng lực lý luận của cán bộ trong hệ thống Mặt trận dần được nâng lên; đội ngũ cán bộ làm công tác lý luận trong cơ quan Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được tăng lên cả về số lượng và chất lượng.

Để nâng cao hiệu quả chỉ đạo công tác lý luận, Trung tâm Công tác lý luận và Hội đồng khoa học cơ quan Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã được thành lập. Nhờ vậy, công tác tư vấn các vấn đề lý luận cho Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày càng hiệu quả và thiết thực. Kết quả nghiên cứu của nhiều chương trình, nhiều đề tài khoa học đã góp phần hoàn thiện các chủ trương, chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Việc tổ chức các đoàn khảo sát, nghiên cứu khoa học, trao đổi kinh nghiệm với các tổ chức nước ngoài được quan tâm hơn... Công tác lý luận của Mặt trận đã đóng góp một phần đáng kể trong việc khẳng định vị thế quan trọng của Mặt trận, góp phần đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thời kỳ mới.

Điều đáng ghi nhận là, sự liên kết, phối hợp giữa các ban, đơn vị trong cơ quan Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, giữa cơ quan nghiên cứu của Mặt trận với các cơ quan nghiên cứu của Đảng, của Nhà nước, của các đoàn thể chính trị ngày một chặt chẽ và rộng rãi hơn.

Tuy nhiên, công tác lý luận của Mặt trận vẫn còn một số hạn chế, đó là:

- Việc nghiên cứu lý luận của Mặt trận do trình độ cán bộ (trình độ học vấn, ngoại ngữ),  thông tin lý luận còn hạn chế nên còn thiếu tầm nhìn rộng và sâu. Nhìn chung, đội ngũ làm công tác lý luận của Mặt trận còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng.

- Việc tổng kết thực tiễn và sau đó đưa kết quả nghiên cứu lý luận vào thực tế vẫn còn chưa kịp thời. Có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học sau khi nghiệm thu coi như làm đã xong. Đề tài nào được “quan tâm” thì công trình nghiên cứu đó được xã hội hoá bằng việc xuất bản thành sách. Nhiều trường hợp, kỷ yếu và báo cáo tổng quan được đóng quyển và cho vào kho lưu trữ. Điều này cho thấy, việc nghiên cứu lý luận cũng như nghiên cứu ứng dụng đều chưa được chú trọng.

- Phương pháp nghiên cứu lý luận còn lạc hậu. Lý luận luôn luôn cần đến sự khái quát hoá, trừu tượng hoá. Tuy nhiên, điều này phụ thuộc vào khả năng của từng cán bộ nghiên cứu, không ai thay thế được. Song, để khái quát hoá, trừu tượng hoá chính xác, đòi hỏi phải có tư liệu đầy đủ, khách quan do thống kê, phân loại, điều tra... đem lại. Mặc dù gần đây, phương pháp điều tra xã hội học đã được chú ý vận dụng, song nhìn chung, số liệu thu được thường không đầy đủ, tính đại diện kém, do vậy những kết luận khái quát rút ra từ nghiên cứu còn phiến diện, một chiều, độ tin cậy không cao và ít thuyết phục. Những nhược điểm trên lại ảnh hưởng tới chất lượng và khả năng áp dụng vào hoạt động thực tiễn của các công trình nghiên cứu.

- Trong những năm vừa qua, việc đưa ra những ý tưởng về lý luận còn ít. Trong các hội thảo khoa học, tính chất “hội” còn nhiều hơn “thảo”. Phản biện và tranh luận còn ít. Nhiều Chủ nhiệm đề tài sau khi nghiên cứu chỉ mong sao cho đề tài được nghiệm thu suôn sẻ, được đánh giá tốt của Hội đồng mà không chú ý đến khả năng áp dụng vào hoạt động thực tiễn. Nhiều cán bộ làm công tác lý luận vẫn chưa dân chủ, thẳng thắn, chưa dám cởi mở suy nghĩ của mình, không dám đối diện với lời chê, sợ bị phản biện. Sở dĩ một số cán bộ nghiên cứu chưa dám nói thẳng, nói thật, cởi mở quan điểm lý luận của mình cũng là vì sợ ảnh hưởng tới công việc, sự nghiệp, cuộc sống của bản thân và gia đình...

Từ những mặt hạn chế như trên, đặt ra yêu cầu phải nhanh chóng đổi mới mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của công tác lý luận của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Trong thời gian tới công tác lý luận của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải góp phần vào việc giải quyết những khó khăn, thách thức của công tác mặt trận, nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề cấp thiết từ thực tiễn đất nước và của công tác mặt trận đặt ra. Muốn vậy, cần phải tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ sau đây:

Một là, cần tập trung nghiên cứu, quán triệt sâu sắc và cụ thể hoá những quan điểm của Đảng về công tác lý luận. Tiếp tục đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận và các hoạt động khoa học trong cơ quan Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc và trong hệ thống Mặt trận nói chung. Coi trọng chất lượng các công trình nghiên cứu và các đề tài khoa học. Tập trung nghiên cứu và làm sáng tỏ một số vấn đề về vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thời kỳ nước ta gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), nhiệm vụ giám sát và phản biện xã hội… Cung cấp các luận cứ khoa học, xây dựng và đề xuất việc ra nghị quyết của Đoàn Chủ tịch, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về nghiên cứu lý luận của Mặt trận trong thời kỳ mới.

Hai là, cần phải xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ khoa học của Mặt trận trong thời kỳ mới. Đây là vấn đề nhạy cảm, khó khăn và rất công phu. Mặt trận cần thiết phải có đội ngũ cán bộ khoa học, nhưng để có đội ngũ này rất không đơn giản. Trước hết và chủ yếu bản thân các cán bộ phải nỗ lực và có ý chí vươn lên, phải say mê, miệt mài và kiên trì với công tác nghiên cứu khoa học; luôn có ý tưởng và có khả năng đề xuất những vấn đề bức xúc của thực tiễn cần nghiên cứu, luôn có những dự báo sự phát triển lĩnh vực chuyên môn của mình đảm nhận để tổ chức nghiên cứu cho phù hợp. Ngoài ra, cần phải nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan nghiên cứu khoa học, phải tạo môi trường nghiên cứu khoa học để kích thích cán bộ Mặt trận hoạt động khoa học với tất cả niềm say mê, khả năng, công sức, trí tuệ của mình. Tạo môi trường khoa học lành mạnh, đoàn kết thương yêu, giúp đỡ nhau thường là cái nôi sản sinh ra những công trình khoa học sáng tạo đáp ứng nhu cầu của lý luận và thực tiễn. Cần phát huy tính chủ động, sáng tạo trong nghiên cứu khoa học của cán bộ Mặt trận. Phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nghiên cứu lý luận trong và ngoài hệ thống Mặt trận.

Ba là, cần bám sát thực tiễn các phong trào trong hệ thống Mặt trận đã và đang tiến hành, qua đó kịp thời phát hiện và giải đáp những vấn đề vừa bức xúc vừa cấp bách ở cơ sở đặt ra. Thường xuyên đổi mới phương pháp nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, tiếp thu có phê phán, chọn lọc. Chống bệnh giáo điều, rập khuôn, bệnh hình thức, phô trương trong nghiên cứu lý luận. Kịp thời có những công trình nghiên cứu, bài viết và nội dung tuyên truyền chống lại các quan điểm và khuynh hướng lệch lạc… làm suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Bốn là, quan tâm tạo điều kiện về cơ sở, vật chất cần thiết cho các đơn vị và các cán bộ làm công tác nghiên cứu lý luận. Có chính sách khuyến khích và phát huy mọi tiềm năng, trí tuệ của đội ngũ cán bộ và cộng tác viên Mặt trận tham gia nghiên cứu lý luận.

   * Phó Giám đốc Trung tâm Công tác Lý luận, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

[ về đầu trang ]



ĐỂ CUỘC CHIẾN PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG CÓ HIỆU QUẢ
PHẢI CÓ MỘT CHIẾN LƯỢC DÀI HẠN

                                             ThS. NGUYỄN THANH BÌNH*

          Tham nhũng là một hiện tượng xã hội được Đảng và Nhà nước ta xác định là một nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ. Tệ nạn tham nhũng đã gây thiệt hại cho lợi ích, tài sản nhà nước, tập thể và cá nhân, xâm phạm kỷ cương phép nước, làm mất sự lành mạnh của cơ quan, tổ chức, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, làm tăng thêm sự phân hoá giàu nghèo bất chính, làm nẩy sinh mâu thuẫn xã hội, làm ảnh hưởng tiêu cực đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xói mòn truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, đảo lộn các giá trị xã hội và ảnh hưởng tiêu cực đến thế hệ tương lai, làm tổn thất, phân hóa đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, thậm chí để mất đi một số cán bộ đã được đào tạo rất cơ bản qua nhiều thời kỳ và ảnh hưởng tiêu cực đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta.

Nguyên nhân chủ yếu của tình hình trên là do hệ thống chính sách, pháp luật hiện nay còn chưa đồng bộ; việc kiện toàn các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị chưa theo kịp sự phát triển của đời sống kinh tế - xã hội, đội ngũ cán bộ, công chức thiếu tính chuyên nghiệp; phẩm chất, đạo đức của một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức bị xuống cấp; việc tổ chức thực hiện các chủ trương, giải pháp về phòng, chống tham nhũng được đề ra trong những năm qua vẫn chưa đáp ứng yêu cầu, hiệu quả chưa cao, đặc biệt là thiếu một chương trình, kế hoạch phòng, chống tham nhũng tổng thể, dài hạn.

Để cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng có hiệu quả cần phải có một Chiến lược dài hạn phòng, chống tham nhũng, ít nhất là đến năm 2020 của quốc gia, vừa đáp ứng yêu cầu tiếp tục thực hiện các giải pháp đã được đề ra trong Nghị quyết Trung ương 3 và Luật Phòng, chống tham nhũng, vừa đáp ứng yêu cầu cần phải có các giải pháp mới, đáp ứng sự phát triển của tình hình, phù hợp với yêu cầu thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010, tầm nhìn 2020. Chiến lược phòng, chống tham nhũng đến năm 2020 phải thể hiện rõ các quan điểm, hệ thống giải pháp cơ bản, tổng thể và mạnh của Đảng và Nhà nước ta đấu tranh chống lại hiện tượng tham nhũng cùng với một kế hoạch hành động cụ thể, có lộ trình và bước đi thích hợp. Chiến lược này cũng cần xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị và xã hội trong việc tổ chức thực hiện nhằm bảo đảm tính khả thi và hiệu quả của Chiến lược đảm bảo thực hiện mục tiêu phòng, chống tham nhũng ở nước ta. Một cách chung nhất, một chiến lược mang tính quốc gia dài hạn về phòng, chống tham nhũng, cần phải có:

Một là, các đánh giá toàn diện về thực trạng, hậu quả và nguyên nhân tham nhũng tại Việt Nam.

Hai là, các phân tích, đánh giá mang tính tổng kết về tình hình đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Việt Nam giai đoạn trước khi có Luật Phòng, chống tham nhũng và giai đoạn sau khi ban hành Luật, bao gồm: các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng đã được triển khai; các ưu điểm, kết quả đạt được và các hạn chế, yếu kém còn tồn tại trong công tác phòng, chống tham nhũng; nguyên nhân của các hạn chế, yếu kém này.

Ba là, tổng hợp kinh nghiệm nước ngoài về phòng, chống tham nhũng, đặc biệt là kinh nghiệm về xây dựng chiến lược phòng, chống tham nhũng.

Bốn là, cần tập trung hơn nữa vào việc xây dựng các thể chế phòng ngừa, coi việc phòng ngừa là ưu tiên chiến lược. Điểm mấu chốt, xương sống của Chiến lược là xây dựng sự công khai minh bạch. Đây là một vấn đề lớn, không phải chỉ làm trước mắt mà phải làm rất kiên trì, lâu dài và phải có nhiều giải pháp mới làm được. Trong Chiến lược này, cần tính đến việc phát huy vai trò của các tổ chức xã hội, bởi phòng, chống tham nhũng là phải phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của toàn dân. Do đó, không thể chỉ dựa vào một mình bộ máy Nhà nước mà phải có sự đồng thuận và tham gia thực hiện của toàn xã hội. Tiếp đó là đẩy mạnh cải cách hành chính. Vấn đề này có quan hệ mật thiết đến công tác phòng, chống tham nhũng. Nói cho cùng, công chức Nhà nước phải có một đời sống tương đối ổn định để yên tâm làm việc, không vướng phải những khuyết điểm, theo lối “túng phải tính”, nhất là trong điều kiện chế độ tiền lương thấp, “bão giá” như hiện nay. Chúng ta không có tham vọng dùng tiền lương để giải quyết mọi thứ, nhưng tiền lương sẽ là một động lực để động viên cán bộ, công chức cống hiến nhiều hơn, làm việc tốt hơn và giữ mình hơn.

Mặt khác, Chiến lược cũng cần thể hiện một thông điệp mạnh mẽ rằng, tham nhũng dứt khoát sẽ bị trừng trị nghiêm khắc. Theo đó, sẽ xử lý thật nghiêm những vụ việc tham nhũng, xem đó là sự răn đe cho những kẻ lợi dụng chức vụ, quyền hạn mưu đồ lợi ích cá nhân. Thực tế cho thấy, việc xử lý kỷ luật Đảng, xử lý hành chính và xử lý hình sự đối với hành vi tham nhũng vừa qua ở một số nơi chưa thật sự nghiêm minh, vẫn còn biểu hiện nương nhẹ.

Năm là, Chiến lược phòng, chống tham nhũng đến năm 2020, cần có dự báo các loại hình tham nhũng mới, như là tham nhũng thông qua hình thức rửa tiền, tham nhũng tập thể và tham nhũng có tổ chức...

Đối với các vấn đề cụ thể, Chiến lược phòng, chống tham nhũng phải tập trung vào các vấn đề sau:

Thứ nhất, phải có quan điểm rõ ràng về kê khai tài sản.

Kê khai tài sản là một biện pháp rất quan trọng trong việc phòng ngừa tham nhũng. Việc này rất cần thiết, nhưng hiện chúng ta mới chỉ quy định kê khai tài sản trong cán bộ, công chức, còn việc đánh giá, kết luận tài sản để đi đến phân tích mối quan hệ giữa khối lượng tài sản với hành vi tham nhũng, tiêu cực của cán bộ, công chức thì chưa đặt ra. Do vậy, để phục vụ đấu tranh phòng, chống tham nhũng, phải có một quan điểm tương đối rõ ràng về vấn đề kê khai tài sản và yêu cầu cán bộ, công chức phải chứng minh được nguồn gốc tài sản của mình là hợp pháp, nhất là khi có những sự thay đổi đột biến về tài sản. Cần đặt thành vấn đề mạnh mẽ, quan chức phải chịu trách nhiệm nếu không giải trình được số tài sản gia tăng đột biến của họ. Mục đích của tham nhũng suy cho cùng là vấn đề tư lợi. Cho nên, Nhà nước cần tăng cường kiểm soát những giao dịch tài chính (của cán bộ, công chức) có dấu hiệu bất thường. Đây là một yêu cầu, một biện pháp chung mà hầu hết quốc gia trên thế giới đều áp dụng.

Vì vậy, việc ban hành quy định về nghĩa vụ chứng minh, giải trình nguồn gốc tài sản đối với cán bộ, công chức là rất có ý nghĩa trong giai đoạn hiện nay. Những yêu cầu và quy định trên cần phải ban hành dưới dạng Luật “Về nghĩa vụ chứng minh, giải trình nguồn gốc tài sản đối với cán bộ, công chức”. Để đồng bộ, Điều 10 Bộ luật Tố tụng hình sự phải bổ sung nguyên tắc về nghĩa vụ chứng minh trong các tội phạm về tham nhũng theo hướng: “Đối với các tội tham nhũng, nghĩa vụ chứng minh, giải trình về nguồn gốc tài sản thuộc về bị can, bị cáo. Những tài sản không được bị can, bị cáo chứng minh, giải trình có nguồn gốc hợp pháp là tài sản bất hợp pháp và bị xử lý theo quy định của pháp luật” .

Thứ hai, tiếp tục xem xét mô hình cơ quan chống tham nhũng chuyên trách và độc lập.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy tính độc lập đóng một vai trò quan trọng trong việc giải quyết vấn đề tham nhũng. Theo đó, Đảng và Nhà nước phải xây dựng một cơ quan chuyên trách có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng và chủ động phối hợp sức mạnh của toàn thể xã hội trong phòng, chống tham nhũng. Cơ quan này trực thuộc Quốc hội, chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Cơ quan này sẽ thực hiện chức năng là cơ quan đầu mối trong công tác phòng, chống tham nhũng trong giai đoạn hiện nay. Việc hiệp thương giới thiệu người để Quốc hội bầu làm thành viên của cơ quan này do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiến hành.

Thứ ba, chống tham nhũng hiện nay cần tập trung cả ở khu vực công và cả ở khu vực tư. Trước đây, cả luật pháp và thực tế của đấu tranh chống tham nhũng đều tập trung hướng vào khu vực công, tức là khu vực hành chính nhà nước, bởi ai cũng quan niệm rằng, chỉ có những người có chức, có quyền mới có điều kiện để tham nhũng. Đó là một quan niệm có phần lệch lạc bởi tham nhũng có thể xảy ra ở cả hai khu vực và ngay trong khu vực tư cũng có rất nhiều điều kiện làm nảy sinh tệ nạn tham nhũng. Theo đó, chống tham nhũng hiện nay không phải chỉ tập trung vào khối doanh nghiệp, cơ quan Nhà nước mà còn cả trong các doanh nghiệp tư nhân. Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp tư nhân lợi dụng các kẽ hở của quản lý kinh tế, sự quen biết để “mua” về cho mình những cơ hội kinh doanh mới, có hợp đồng béo bở, có một vị trí đắc địa, đầu tư giá rẻ... khiến cho môi trường cạnh tranh kinh tế không được lành mạnh. Mối quan hệ giữa công - tư liên quan đến quyền lực và quyền lợi đã là rõ.

Vì vậy, trong Chiến lược phòng, chống tham nhũng cần đẩy mạnh phòng và chống tham nhũng cả trong khu vực tư, đặc biệt là trong các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty và khu vực kinh tế tư nhân.

Thứ tư, nâng cao vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trong phòng, chống tham nhũng. Cần có các quy định cụ thể, phát huy hơn nữa vai trò của nhân dân trong việc giám sát các hoạt động của Nhà nước. Cần phải có một cơ chế hữu hiệu để người dân tố cáo tham nhũng. Từ đó, khuyến khích lực lượng đông đảo quần chúng nhân dân, xã hội dân sự, khu vực tư và báo chí tham gia vào cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

Thứ năm, xây dựng Chiến lược phòng, chống tham nhũng đến năm 2020 là việc hết sức quan trọng, nên cơ quan chủ trì soạn thảo cần lấy ý kiến rộng rãi của Mặt trận Tổ quốc (bao gồm cả các tổ chức thành viên) và các tầng lớp nhân dân.

Thứ sáu, quá trình soạn thảo chiến lược này cần phải thiết lập “một mô hình riêng cho Việt Nam”, bảo đảm tính thiết thực, hiệu quả trong phòng, chống tham nhũng đến năm 2020 và những năm tiếp theo.

   * Chuyên viên chính Ban Dân chủ - Pháp luật, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Viêt Nam.


 
SỐ 55