
|
SỐ
60
|
 |
|
|
|
TIẾN TỚI ĐẠI HỘI LẦN THỨ VII MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
TỪ ĐẠI HỘI MẶT TRẬN CẤP XÃ VÀ ĐẠI HỘI ĐIỂM
MẶT TRẬN CẤP HUYỆN,
SUY NGHĨ VỀ CHUẨN BỊ BÁO CÁO CHO ĐẠI HỘI MẶT TRẬN
NGUYỄN QUANG DU*- NGUYỄN NGỌC DINH**
Đại hội
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp cũng giống như đại hội Đảng, đại
hội của tổ chức đoàn thể… các báo cáo bao giờ cũng là linh hồn, một
trong những nội dung chính là tổng kết, đánh giá hoạt động của nhiệm
kỳ trước, đề ra phương hướng cho nhiệm kỳ mới. Đại hội thành công
hay không thành công; hiệu quả, chất lượng cao hay thấp đều tùy
thuộc chủ yếu ở việc chuẩn bị tốt hay chưa tốt báo cáo chính trị
chung và các báo cáo tham luận tại đại hội. Chính vì vậy, từ nhiều
tháng trước khi chính thức diễn ra đại hội, hầu hết các cấp Mặt trận
chuẩn bị đại hội đều thành lập tiểu ban và phân công chuẩn bị cho
việc viết báo cáo cùng với công tác chuẩn bị của các tiểu ban nhân
sự, tiểu ban phục vụ đại hội…
Một báo
cáo tốt phải có “điểm nhấn”, thể hiện rõ đặc điểm công tác mặt trận
của địa phương, cấp đại hội
Từ thực
tế việc theo dõi, tổng hợp đánh giá việc tổ chức đại hội Mặt trận
cấp xã, thực tiễn công tác chuẩn bị và dự tổ chức Đại hội điểm Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam một số huyện cho thấy, bản báo cáo đánh giá
nhiệm kỳ của các đại hội nhìn chung còn dàn trải, chưa rõ “điểm nhấn”.
Nói cách khác, báo cáo của nhiều Đại hội chưa chú ý đến điều kiện,
đặc điểm địa phương, để trên cơ sở đó cùng với yêu cầu và chức năng,
nhiệm vụ mà thể hiện nội dung báo cáo cho sâu sát, cụ thể. Hầu hết
các báo cáo đều có khuôn mẫu đánh giá chung việc tập hợp và phát huy
sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân; dẫn chứng ra một số phong trào,
việc làm của tổ chức thành viên; kết quả vận động các tầng lớp nhân
dân qua một số phong trào, cuộc vận động của Mặt trận; khái quát
đánh giá công tác vận động các tầng lớp nhân dân tham gia xây dựng
đảng, xây dựng chính quyền; việc kiện toàn tổ chức bộ máy, đổi mới
phương thức hoạt động của Mặt trận; rút ra một số nguyên nhân, bài
học kinh nghiệm… Có thể nói không quá, không ít báo cáo Đại hội có
thể dùng chung, chỉ cần biên tập thay đi một số đoạn hay số liệu cụ
thể của các phong trào, cuộc vận động.
Vì vậy,
để đại hội Mặt trận cấp huyện, quận, kể cả đại hội Mặt trận cấp tỉnh,
thành phố tới đây có được sự thành công và đi vào thực chất, mỗi địa
phương cần căn cứ điều kiện, đặc điểm địa phương mình, trên cơ sở
yêu cầu, nhiệm vụ công tác mặt trận đòi hỏi, báo cáo chính trị chung
phải có được “điểm nhấn”, thể hiện rõ được tính đặc trưng riêng có
của hoạt động, công tác mặt trận địa phương mình, cấp mình. Chẳng
hạn như hoạt động, công tác mặt trận ở vùng có đông bà con theo đạo
phải khác với hoạt động, công tác mặt trận ở vùng có ít hoặc không
có bà con theo đạo; hoạt động, công tác mặt trận ở vùng nông thôn
phải khác với hoạt động, công tác mặt trận khu vực đô thị, miền núi,
vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng ven biển…Thậm chí cùng là hoạt
động, công tác mặt trận ở vùng nông thôn cũng đã có sự khác nhau
giữa vùng thuần nông với nơi có sản xuất làng nghề, nơi gần khu vực
đô thị, khu công nghiệp…
Qua thực
tế việc tổ chức Đại hội Mặt trận cấp xã và Đại hội Mặt trận điểm một
số huyện vừa qua cho thấy, hầu hết các bản báo cáo chung của đại hội
chưa nêu bật được đặc điểm công tác mặt trận ở địa phương mình. Có
huyện, xã miền núi, có số đông đồng bào dân tộc thiểu số, nhưng hoạt
động, công tác mặt trận rất chung chung, không thấy cán bộ dùng cách
gì vận động đồng bào mình, không thấy vai trò người tiêu biểu ở đâu.
Ngược lại có huyện, xã thuộc vùng có đông bà con theo đạo công giáo,
nhưng hoạt động, công tác mặt trận vẫn chỉ nói đến cuộc vận động
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” chung
chung mà không nói đến cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hoá ở khu dân cư, sống tốt đời đẹp đạo”. Các báo cáo này
chưa nêu bật cái riêng có ở đây là, trên cơ sở cuộc vận động và xây
dựng xứ họ đạo, gia đình công giáo thì cách thức công tác mặt trận
phải đi sâu vận động các chức sắc, bà con giáo dân gắn đạo với đời;
bảo đảm hoạt động, sinh hoạt tôn giáo trên cơ sở tôn trọng và chấp
hành luật pháp bằng cách nào. Ở một số Đại hội, cùng với việc báo
cáo chính trị trình bày dài, có ít thời gian cho đại biểu trình bày
các báo cáo tham luận nên đã gây sự nhàm chán cho người nghe. Và
điều quan trọng hơn, báo cáo tổng kết đánh giá cả một nhiệm kỳ nhưng
lại chưa phản ánh đúng thực chất hoạt động, công tác mặt trận. Trên
thực tế ở nhiều địa phương, hoạt động, công tác mặt trận làm tốt, có
kết quả thực tế, cũng tức là có “điểm nhấn”, có vấn đề để tổng kết,
có kinh nghiệm và mô hình hay nhưng chỉ vì bản báo cáo chưa được
chuẩn bị kỹ đã làm mờ nhạt đi một phong trào, cuộc vận động; hoạt
động, công tác mặt trận của địa phương, cơ sở mình.
Báo cáo
tham luận phải thể hiện rõ vai trò chủ thể và minh họa được cho báo
cáo chung
Các báo
cáo tham luận tại đại hội mục đích là để bổ sung, minh họa làm sáng
rõ cho bản báo cáo chính trị chung. Chính vì vậy, mỗi báo cáo tham
luận dù ở đại hội cấp nào cũng phải tìm cho được các khía cạnh nội
dung, mang tính chuyên đề sâu để báo cáo. Một báo cáo tham luận tại
đại hội rải mành mành, nói chung chung, không có trọng tâm, trọng
điểm, không bổ sung làm rõ cho báo cáo chính sẽ không mang lại kết
quả tốt, còn gây nhàm chán, giảm khí thế trong đại hội.
Qua thực
tế quan sát, đánh giá việc tổ chức đại hội Mặt trận cấp xã và Đại
hội Mặt trận điểm một số huyện cho thấy, hầu hết các báo cáo tham
luận còn dàn trải đều với nhiều nội dung hoạt động, công tác mặt
trận, là báo cáo thành tích, tính tổng kết thực tiễn ít. Đứng trên
phương diện báo cáo tham luận của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc do Ban
Thường trực chuẩn bị, hay báo cáo của tổ chức thành viên mặt trận,
báo cáo của các cá nhân tiêu biểu thì dù các báo cáo tham luận tại
đại hội Mặt trận ở cấp nào, địa phương nào cũng cần làm rõ vai trò
của chủ thể báo cáo tham luận. Với tư cách chủ thể và yêu cầu của
đại hội, mỗi báo cáo tham luận sẽ đi sâu vào một hay một số vấn đề,
nội dung vừa thể hiện rõ vai trò nổi bật hoạt động, công tác của tổ
chức hay cá nhân mình vừa minh họa, làm rõ cho báo cáo chính trị
chung.
Mỗi báo
cáo chỉ nên chọn một số hoạt động, công tác mặt trận được cho là nổi
bật, sâu sắc nhất để tổng kết, nêu vấn đề. Nội dung cần tổng kết,
nêu vấn đề đó được đặt trong tổng thể thống nhất các nội dung, vấn
đề của báo cáo chung cấp Đại hội Mặt trận yêu cầu, nhưng trong báo
cáo chung Đại hội chưa có điều kiện đi sâu làm rõ. Đó có thể là cách
làm hay, kinh nghiệm xây dựng các mô hình tổ chức thực hiện chương
trình hoạt động của Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã (Thực
hiện các phong trào, cuộc vận động hay hoạt động giám sát, xây dựng
quỹ “vì người nghèo”, xây “nhà đại đoàn kết”…); việc phát huy, phối
hợp hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc với các tổ chức thành viên
Mặt trận hay kinh nghiệm phát huy, việc thực hiện tốt hay chưa tốt
vai trò của Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư. Với các báo cáo tham
luận là tổ chức thành viên của Mặt trận thì báo cáo nên đi sâu vào
hoạt động phối hợp và thống nhất hành động thực hiện chương trình
của Mặt trận cấp mình. Cụ thể hơn là sự chủ động của tổ chức thực
hiện các nhiệm vụ, công tác Mặt trận theo Điều lệ Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đặc
biệt vai trò thành viên trong thảo luận, chất vấn, phê bình và kiến
nghị Ủy ban Mặt trận trong tổ chức phối hợp thực hiện chương trình
chung. Mỗi báo cáo không chỉ phản ánh được kinh nghiệm, bài học theo
vấn đề lựa chọn báo cáo mà còn phải nêu được vấn đề có tính tranh
luận, thảo luận, tạo không khí dân chủ, cởi mở trong Đại hội.
Để khắc
phục những điểm còn chưa tốt trong việc xây dựng, chuẩn bị báo cáo
chính trị chung và các báo cáo tham luận cho đại hội Mặt trận các
cấp, tiến tới Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII
một cách thiết thực, hiệu quả, xin nêu một số vấn đề mang tính trao
đổi, gợi ý để các đơn vị, địa phương chuẩn bị đại hội cùng tham khảo:
- Thứ
nhất, phải bảo đảm tính thống nhất chung giữa báo cáo chính trị của
cấp Mặt trận tổ chức đại hội với các báo cáo tham luận ngay từ khi
xây dựng kế hoạch, đề cương chuẩn bị báo cáo đại hội. Nói cách khác,
trên cơ sở “khung”, đề cương báo cáo chính trị chung, cần xác định
rõ ngay từ đầu những vấn đề, nội dung nào cần có các báo cáo minh
họa, chứng minh làm rõ thêm để phân công và tổ chức thực hiện.
- Thứ hai,
bản báo cáo chính trị chung của mỗi cấp, mỗi địa phương tổ chức đại
hội Mặt trận cần căn cứ vào điều kiện, đặc điểm địa phương; chức
năng, nhiệm vụ, yêu cầu công tác mặt trận của cấp trên đặt ra để tìm
ra một hoặc vài “điểm nhấn” xây dựng báo cáo. Điều đó cũng có nghĩa
là, bản báo cáo trên cơ sở khái quát chung (rộng) cần đi sâu, nhấn
mạnh vào một số vấn đề, nội dung là điểm mạnh hay yếu của hoạt động,
công tác mặt trận cấp mình, địa phương mình mà thể hiện, làm rõ
nguyên nhân, rút ra bài học kinh nghiệm làm cơ sở cho xây dựng
chương trình hoạt động nhiệm kỳ mới. Chỉ có như vậy, chủ trương đa
dạng hóa hoạt động, công tác mặt trận cũng mới được thể hiện, mới là
thực chất, khắc phục được tình trạng hoạt động, công tác mặt trận
chung chung “vô thưởng vô phạt”.
- Thứ ba,
cần thực hiện đúng, đủ quy trình, các bước xây dựng chuẩn bị báo cáo,
bao gồm từ lập ban soạn thảo, xây dựng kế hoạch, đề cương, tổ chức
bản thảo, tổ chức lấy ý kiến đóng góp từ cơ sở, các ban ngành liên
quan.
Điều cơ
bản nhất là phải có phân công trách nhiệm cụ thể, rõ ràng cho từng
cán bộ là người trực tiếp soạn thảo báo cáo đến người của tổ chức
Mặt trận cấp trên được phân công giúp đỡ theo dõi Mặt trận cấp dưới,
cán bộ cấp dưới chuẩn bị báo cáo. Quá trình xây dựng, chuẩn bị báo
cáo cũng cần có các hình thức linh hoạt để tranh thủ được ý kiến
đóng góp rộng rãi của các cấp, ngành, đoàn thể; các cán bộ lão thành
cách mạng có kinh nghiệm làm công tác dân vận, Mặt trận và cả cán bộ,
nhân dân tại đơn vị, địa phương.
- Thứ tư,
quá trình tổ chức đại hội, báo cáo chính trị chung của Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam cấp đại hội và các báo cáo tham luận tại đại
hội cần được gửi trước để các đại biểu tham dự đại hội đọc, nghiên
cứu, chuẩn bị ý kiến. Trong đại hội, chỉ nên đọc tóm tắt bản báo cáo
chính trị chung (8 đến 10 trang), để dành thời gian nhiều hơn cho
trình bày các báo cáo tham luận của đại biểu. Do cả 2 loại báo cáo
đã được gửi trước nên đại biểu tham luận nên dành thời gian phát
biểu trao đổi, thảo luận qua lại vừa bảo đảm tính dân chủ vừa mang
lại hiệu quả thực chất, đúng với tính chất và yêu cầu một đại hội
Mặt trận có đông đảo đại biểu của các giai cấp, tầng lớp xã hội, các
tôn giáo, dân tộc, các cấp ngành… tham dự.
- Thứ năm,
việc đọc xong các báo cáo ở đại hội chưa phải là đã kết thúc. Sau
đại hội, các báo cáo cần được Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận cấp tổ
chức đại hội quan tâm tập hợp, phân loại, tổng hợp và biên tập lại
giúp cho việc hoàn thiện báo cáo cũng như lựa chọn các vấn đề bổ
sung hoàn thiện bản chương trình hành động chung của Mặt trận cùng
kế hoạch công tác của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức
đại hội.
* Nguyễn Quang Du: Tổng biên tập Tạp chí Mặt trận
** Phó trưởng ban Tổ chức - Cán bộ Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam
[ về đầu trang ]
|
|
ĐẠI HỘI ĐIỂM
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM CẤP HUYỆN
- ĐÔI ĐIỀU RÚT KINH NGHIỆM
CHU BÁ THỊNH*
Tiếp tục thực hiện kế hoạch Đại hội Mặt trận Tổ quốc các cấp tiến
tới Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII, sau khi kết thúc
Đại hội Mặt trận Tổ quốc cấp xã, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương đã khẩn trương chỉ đạo Đại hội Mặt
trận Tổ quốc các huyện, quận, thị, thành phố trực thuộc tỉnh (gọi
chung là cấp huyện). Hầu hết các địa phương đều xây dựng kế hoạch
hoàn thành Đại hội Mặt trận Tổ quốc cấp huyện trong quý IV-2008,
trong đó một số tỉnh cố gắng hoàn thành trong tháng 10-2008. Tính
đến ngày 30-9-2008 đã có 58/673 Mặt trận Tổ quốc cấp huyện (trong đó
có 19 đơn vị làm điểm của 19/63 tỉnh, thành phố) đã tiến hành Đại
hội.
Đại hội
Mặt trận Tổ quốc các cấp, trong đó có cấp huyện, được ghi nhận thực
sự là công việc của toàn Đảng, toàn dân. Công tác chỉ đạo Đại hội kỳ
này của các địa phương đều được các cấp uỷ, tổ chức đảng tập trung
chỉ đạo chặt chẽ, sự phối hợp, tạo điều kiện của chính quyền và sự
chuẩn bị tích cực của Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các
cấp. Có huyện đã thành lập Ban Chỉ đạo Đại hội Mặt trận Tổ quốc của
cấp uỷ, phân công đồng chí Phó Bí thư Thường trực Huyện uỷ làm
Trưởng ban; tập trung chỉ đạo, huy động các lực lượng cán bộ, ưu
tiên các điều kiện về vật chất để tổ chức thành công Đại hội Mặt
trận Tổ quốc các cấp tại địa phương mình.
Công tác
chuẩn bị và tổ chức Đại hội Mặt trận Tổ quốc cấp huyện đã quán triệt
tinh thần của Chỉ thị số 18/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và
đảm bảo theo yêu cầu Thông tri số 32/TTr-MTTW, ngày 04-4-2008, của
Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về
“Hướng dẫn Đại hội Mặt trận Tổ quốc cấp huyện, cấp tỉnh tiến tới Đại
hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII”.
Các Báo
cáo chính trị của Đại hội đã tập trung tổng kết đánh giá kết quả
hoạt động của Mặt trận Tổ quốc nhiệm kỳ qua trong việc tập hợp khối
Đại đoàn kết toàn dân tộc và thực hiện tốt hai cuộc vận động “Toàn
dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” và “Ngày vì
người nghèo”; sự phối hợp thống nhất hành động với các tổ chức thành
viên, phát huy dân chủ, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong
sạch, vững mạnh; khẳng định hoạt động của Mặt trận Tổ quốc các cấp
đã có nhiều đóng góp tích cực trong việc giúp cấp uỷ, chính quyền
giải quyết nhiệm vụ chính trị tại địa phương, vị thế của Mặt trận đã
được nâng lên, hoạt động của Mặt trận đã tạo được sự hưởng ứng nhiệt
tình của nhân dân.
Các tham
luận của đại biểu đã minh họa và làm rõ nét hơn kết quả hoạt động
của Mặt trận; đồng thời thẳng thắn nêu những hạn chế và khuyết điểm,
như còn có biểu hiện né tránh công tác giám sát, phát hiện sai phạm
của các cơ quan đảng, chính quyền, các cơ quan tư pháp và của cán bộ,
đảng viên... Hoạt động thanh tra nhân dân nhiều nơi còn hình thức.
Cơ chế giám sát, phản biện của Mặt trận chưa rõ ràng, hiệu lực, hiệu
quả chưa cao… Chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác mặt trận còn
hạn chế, nhất là đội ngũ cán bộ chuyên trách chưa đáp ứng yêu cầu,
nhiệm vụ công tác mặt trận trong giai đoạn mới.
Nội dung
và công tác nhân sự của Đại hội nhìn chung đã đảm bảo theo yêu cầu
hướng dẫn của Trung ương. Số lượng Uỷ viên, tỷ lệ cá nhân tiêu biểu
tham gia Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã khoá mới đều tăng so với
khoá trước, tỷ lệ người ngoài Đảng đa số các xã đạt trên 30%. Nhân
sự Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp huyện đã được cấp uỷ quan
tâm, bố trí các đồng chí thực sự có năng lực làm chuyên trách công
tác mặt trận, trong đó có 20% là Uỷ viên Ban Thường vụ cấp uỷ, số
còn lại là Đảng uỷ viên, có khả năng tham gia Ban Thường vụ cấp uỷ
khoá mới.
Công tác
tuyên truyền trước, trong và sau Đại hội; việc trang trí, khánh tiết,
đã được chuẩn bị khá công phu, tạo được không khí sôi nổi trong
những ngày Đại hội. Việc điều hành trong Đại hội đã tuân thủ các quy
trình của Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và hướng dẫn của cấp
trên.
Tuy
nhiên, qua theo dõi tình hình Đại hội Mặt trận Tổ quốc cấp huyện của
các địa phương, bên cạnh những thành công đáng ghi nhận, cũng còn
một số điều cần rút kinh nghiệm nhằm khắc phục những hạn chế, thiếu
sót không đáng có, giúp cho Đại hội Mặt trận Tổ quốc cấp huyện đạt
được yêu cầu đã đặt ra, đó là:
1. Về báo
cáo chính trị và tham luận tại Đại hội
Báo cáo
chính trị của Đại hội là sự tổng kết hoạt động của Mặt trận Tổ quốc
nhiệm kỳ qua, xây dựng chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc
nhiệm kỳ tới, vì vậy, đòi hỏi một sự đầu tư tập trung, phát huy cao
độ trí tuệ tập thể trong xây dựng báo cáo. Ở một số đơn vị, báo cáo
chính trị còn dài, tính khái quát chưa cao, nặng về kể lể; bố cục
chưa cân đối giữa phần đánh giá nhiệm kỳ qua và chương trình hành
động nhiệm kỳ tới; còn lúng túng trong việc xác định nhiệm vụ, mục
tiêu trong chương trình hành động; chưa đề ra biện pháp cụ thể để
phối hợp, thống nhất hành động giữa các tổ chức thành viên. Có đơn
vị đưa mục tiêu phấn đấu tỷ lệ người ngoài Đảng tham gia Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc còn chưa hợp lý.
Phần lớn
các tham luận tại Đại hội đều mang tính chất minh họa, báo cáo thành
tích của đơn vị mình là chính, mà chưa phải là sự phát huy trí tuệ
tập thể bàn bạc, thảo luận, phát hiện, đề xuất biện pháp xây dựng
chương trình hành động, làm cho hoạt động của Mặt trận nhiệm kỳ mới
có hiệu quả hơn. Thời gian và số lượng các tham luận lại quá ít, đa
số các đơn vị đều chỉ bố trí 3 (có đơn vị chỉ bố trí 2) ý kiến tham
luận tại hội trường.
2. Về
chương trình và sự điều hành của Đoàn Chủ tịch Đại hội
Về chương
trình Đại hội, các đơn vị đều thực hiện đầy đủ theo hướng dẫn của
Thông tri số 32/TTr-MTTW,
nhưng việc phân bố chương trình Đại hội của một số đơn vị chưa hợp
lý:
Một là,
theo hướng dẫn của Thông tri số 32/TT-MTTW
và Thông báo kết quả Hội nghị sơ kết công tác chỉ đạo điểm Đại hội
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã đã thống nhất: Đại hội cấp huyện
tiến hành trong 2 ngày, gồm 17 nội dung; chương trình Đại hội Mặt
trận Tổ quốc nếu tổ chức thành 2 buổi, nên thống nhất tên gọi là
phiên họp thứ nhất (chiều hôm trước) và phiên họp thứ hai (cả ngày
hôm sau) đều có chào cờ. Như vậy dù có tổ chức một hoặc hai phiên
thì đều là Đại hội chính thức và công khai. Một số đơn vị chỉ tiến
hành 1 ngày, tổ chức thành 2 buổi (chiều hôm trước và sáng hôm sau),
phiên chiều hôm trước được coi là phiên trù bị nên không chào cờ và
chỉ làm một số nội dung trù bị với thời gian từ 1 tiếng đến 1 tiếng
rưỡi. Với việc bố trí như vậy khiến cho Đại hội rất eo hẹp thời gian,
khó thực hiện hết nội dung chương trình Đại hội, vì vậy ở một số đơn
vị, Đoàn Chủ tịch Đại hội chỉ còn cách hạn chế tối đa số lượng các ý
kiến và thời gian thảo luận của các đại biểu trên hội trường. Nên
chăng, Đại hội Mặt trận Tổ quốc cấp huyện có từ 5 đến 7 ý kiến tham
luận phát biểu tại hội trường, các tham luận còn lại không có điều
kiện phát biểu trên hội trường, nên nhân bản phát cho đại biểu hoặc
bố trí để ở nơi thích hợp bên ngoài hội trường cho đại biểu tham
khảo.
Hai là,
một số nơi bố trí việc chào mừng Đại hội mất nhiều thời gian. Có đơn
vị ngoài Đoàn đại biểu các tầng lớp nhân dân cùng các cháu thiếu nhi
đến biểu diễn văn nghệ chào mừng Đại hội, còn lần lượt 8 đoàn tặng
hoa. Nên chăng, việc tặng hoa chỉ để một hoặc hai đại biểu đại diện
trao, số hoa của các đoàn còn lại, Chủ tịch đoàn thông báo và cảm ơn
trước Đại hội.
Ba là,
một số nơi bố trí các đại biểu cấp trên phát biểu quá nhiều và trùng
lặp, làm cho tính chất của Đại hội gần như hội nghị triển khai chỉ
thị, nghị quyết của cấp trên. Nên chăng thống nhất, nhiều nhất có 2
ý kiến của đại biểu cấp trên phát biểu trong Đại hội. Một là của đại
diện Mặt trận Tổ quốc cấp trên trực tiếp và một của đại diện cấp uỷ
cùng cấp.
Bốn là,
sự điều hành của Đoàn Chủ tịch nhiều nơi còn lúng túng, nhầm lẫn. Có
đơn vị hai lần đọc báo cáo tổng hợp ý kiến đóng góp của Đại hội cấp
dưới vào văn kiện Đại hội cấp trên, hai lần thông qua chương trình
hành động nhiệm kỳ mới; có đơn vị thông qua chương trình hành động
thực hiện Nghị quyết Đại hội trước khi thông qua Nghị quyết Đại hội.
Đây là những nhầm lẫn không đáng có. Nên chăng, các đơn vị cần tập
dượt việc điều hành trước khi diễn ra Đại hội.
Việc đọc
danh sách dự kiến người tham gia Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, danh sách
người chính thức tham gia Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc khoá mới và danh
sách giới thiệu đại biểu đi dự Đại hội cấp trên mất rất nhiều thời
gian của Đại hội, một số đơn vị đã đọc lặp lại 2 lần. Nên chăng,
danh sách đó được in gửi tất cả đại biểu dự Đại hội và nếu không có
sự khác biệt trước và sau khi hiệp thương chính thức tại Đại hội thì
chỉ đọc một lần danh sách trước khi hiệp thương.
Về phiên
họp thứ nhất của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc khoá mới, nên thực hiện
theo các bước: biểu quyết số lượng Ban Thường trực khóa mới, sau đó
hiệp thương cử Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Uỷ viên Thường trực
còn lại.
Đại hội
Mặt trận Tổ quốc các cấp là dịp củng cố, tăng cường và nâng cao vị
trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Để Đại hội Mặt trận Tổ
quốc các cấp đạt được hiệu quả cao, đòi hỏi cấp uỷ đảng, Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam các cấp phải tập trung chỉ đạo chặt chẽ, đúng quy
trình, quán triệt tinh thần Chỉ thị số 18 của Ban Bí thư Trung ương
Đảng, các hướng dẫn của Trung ương để Đại hội Mặt trận Tổ quốc thành
công tốt đẹp, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã
hội, an ninh - quốc phòng của các địa phương và đất nước vì mục tiêu
“Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
* Chuyên viên cao cấp Ban Tổ chức - Cán bộ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận tổ
quốc Việt Nam
[ về đầu trang ]
|
|
GIÁO DỤC Ý THỨC DÂN CHỦ
VÀ PHÁT HUY QUYỀN LÀM CHỦ CỦA DÂN
THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN
THẾ PHÚC
(Giảng viên Khoa Mac-Lê Nin, Trường Đại học Huế )
Quyết tâm của Hồ Chí Minh là phải đánh đuổi đế quốc xâm lược và bọn
phong kiến tay sai để giành độc lập dân tộc, dựng nên chế độ dân chủ
mới; xây dựng chính trị dân quyền. Giải phóng dân tộc để phát triển
dân tộc, đưa cộng đồng dân tộc Việt Nam hòa nhập vào trong cộng đồng
thế giới. Sự nghiệp giải phóng này gắn liền với trào lưu tư tưởng
dân chủ hóa.
Để cho
nhân dân được thực sự hưởng những thành quả của cách mạng, hưởng độc
lập, tự do và phát huy được quyền làm chủ thì cần phải giáo dục ý
thức dân chủ, văn hóa trọng dân trọng pháp cho nhân dân và cán bộ,
đảng viên. Đối với cán bộ công chức, giáo dục ý thức dân chủ là giáo
dục tinh thần phục vụ nhân dân, giáo dục ý thức trách nhiệm của cán
bộ, đảng viên: chống tham ô, lãng phí, quan liêu, chống thói kiêu
ngạo, bệnh hẹp hòi... đó là đạo đức cách mạng chân chính, đạo đức
mới. Bởi, theo Hồ Chí Minh “Bao nhiêu quyền hạn đều là của dân, mọi
quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Mục đích và phương pháp luận
trong hành động của Người là, “việc gì có lợi cho dân thì phải hết
sức làm, việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh”.
Nhận thức
được giá trị của dân chủ, thấm nhuần được ý thức dân chủ, thực hiện
ứng xử dân chủ trong hệ thống chính trị, bảo đảm quyền dân chủ cho
nhân dân, đồng nghĩa với nâng cao giá trị văn hoá dân chủ. Giá trị
của văn hoá dân chủ được biểu lộ thông qua hai mối quan hệ là dân
chủ và pháp luật, là tinh thần trọng dân và trọng pháp. Để thực hành
dân chủ rộng rãi trong nhân dân, để có một nền dân chủ lành mạnh thì
phải có pháp luật làm chỗ dựa. Không có dân chủ nằm ngoài pháp luật,
mà dân chủ đồng thời là pháp luật, dân chủ là quyền tự nhiên của con
người, con người biến quyền tự nhiên thành ý chí của mình để bảo vệ
quyền tự nhiên, đó là pháp luật, lúc đó pháp luật cũng là pháp luật
dân chủ.
Từ việc
giáo dục ý thức dân chủ, thấm nhuần tinh thần dân chủ tạo thành một
giá trị văn hóa trọng dân đi liền với trọng pháp. Đây là điểm cốt
lõi như một nhu cầu chính trị trong tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh. Tư
tưởng trọng pháp xuất phát từ nhận thức đúng đắn về vai trò của pháp
luật trong xã hội, trong việc bảo vệ quyền lợi của nhân dân, bảo vệ
con người. Bởi vì, quyền lực Nhà nước và pháp luật đều xuất phát từ
nhân dân mà ra. Pháp luật thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân.
Nhận thức đúng vai trò của pháp luật trong quản lý xã hội thì mọi
hoạt động và hành động của công dân, cá nhân trong xã hội bao giờ
cũng là một sự ứng xử tự nhiên tuân theo pháp luật, như Hồ Chí Minh
từng khẳng định: “trăm điều phải có thần linh pháp quyền”. Trăm điều
ở đây muốn nói rõ sự đầy đủ, hoàn chỉnh tất cả, còn thần linh được
biểu hiện là ý thức, tinh thần pháp luật. Đây là sự khẳng định hoàn
hảo của nhận thức và hành động tuân theo một cách triệt để pháp luật.
Trong tư
tưởng Hồ Chí Minh, tinh thần trọng pháp không chỉ là một nguyên tắc
cốt lõi trong tư tưởng Nhà nước pháp quyền mà đó còn là một nhu cầu
chính trị, một giá trị đạo đức trong xã hội, thể hiện một nhà nước
pháp quyền văn minh và dân chủ. Đó cũng là quyền và nghĩa vụ của mỗi
công dân trong nhà nước và trước xã hội. Việc giáo dục mọi người
phải tuân theo pháp luật trở thành văn hóa trọng pháp trong di sản
dân chủ của Người. Chính văn hóa này sẽ góp phần xây dựng một chế độ
dân chủ mới, đồng thời thể hiện sức mạnh và tính kỷ luật của nguyên
tắc tập trung dân chủ trong hoạt động của nhà nước.
Trọng
pháp là tôn trọng quyền lợi của nhân dân, của con người, bảo vệ tính
mệnh và tài sản của nhân dân. Cho nên, những ai vi phạm đến tài sản
của nhân dân đều bị trừng trị nghiêm khắc.
Để nâng
cao ý thức trọng pháp, theo Hồ Chí Minh phải gắn liền với việc không
ngừng học tập nhằm nâng cao nhận thức pháp luật của cán bộ và nhân
dân. Thực hành văn hóa trọng pháp là để bảo vệ công lý và chân lý
của thời đại, đồng thời xác lập quyền bình đẳng dân tộc, mọi công
dân đều bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước đề ra pháp luật và mọi
người bình đẳng trước pháp luật, quyền hành là của chung, nhân dân
có quyền tham gia vào công việc Nhà nước và nhân viên Nhà nước phải
triệt để tuân thủ pháp luật, Người nói: “Chính phủ hiện thời đã cố
gắng liêm khiết lắm, nhưng trong Chính phủ, từ Hồ Chí Minh cho đến
những người làm việc ở các ủy ban làng đông lắm, phức tạp lắm. Dù
sao Chính phủ đã hết sức làm gương và nêu làm gương không xong thì
sẽ dùng pháp luật mà trị”1.
Chủ tịch
Hồ Chí Minh rất chú trọng đến việc thực hành dân chủ cho dân trong
bộ máy chính quyền Nhà nước, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở, vì đây là
nơi gần với cuộc sống mưu sinh hàng ngày của dân nhất, nơi kề cận,
trực tiếp thay mặt Chính phủ để giải quyết mọi công việc hàng ngày
cho dân, là nơi kiểm chứng giá trị dân chủ có thật sự hay không. Dân
chủ ở cơ sở được thực hiện tốt thì dân mới thụ hưởng được những giá
trị dân chủ thực sự. Trong thư gửi các Ủy ban nhân dân các Bộ, Tỉnh,
Huyện và Làng, Người căn dặn và nhắc nhở cán bộ: “Chúng ta phải hiểu
rằng các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng đều là
đầy tớ của dân, nghĩa là để gánh vác chung cho dân, chứ không phải
để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật.
Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì có hại cho dân,
ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân thì dân mới yêu ta,
kính ta”2.
Đối với
Hồ Chí Minh, việc gửi thư nhắc nhở cán bộ ở các Ủy ban Làng, Xã là
một sự quan tâm sâu sắc đến việc thực hiện dân chủ, nhưng cao hơn,
Người còn trực tiếp thị sát đến tận các cơ sở để nắm bắt tình hình,
tâm tư nguyện vọng của nhân dân. Chỉ tính từ năm 1955 - 1969, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã có hơn 700 lần đi cơ sở, Người đến các địa
phương, các công trường, nhà máy, xí nghiệp, các đơn vị bộ đội, công
an, trường học… Hình ảnh một vị Chủ tịch nước tóc bạc trắng đang kéo
lưới với bà con ngư dân hay tham gia tát nước với bà con nông dân
trên đồng đã in đậm vào trong tâm trí của nhân dân không bao giờ
phai...
Từ gần
dân, trọng dân đến thực hiện dân chủ thực sự cho dân, phục vụ nhân
dân là một trong những biểu hiện cao của đạo đức cách mạng. Trong sự
nghiệp đổi mới đất nước, việc thực hiện dân chủ ở cơ sở là một trong
những việc làm cụ thể có ý nghĩa thực hiện dân chủ hóa xã hội.
Pháp
lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn đã ghi rõ phương châm:
“Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Đây chính là sự thể hiện
và chuyển tải tư tưởng về địa vị và năng lực làm chủ của người dân.
Dân biết,
đó là quyền của người dân được biết, nó thể hiện địa vị là chủ của
dân trong xã hội. Một khi chính quyền do dân ủy thác đưa ra chương
trình hành động, kế hoạch về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội thì
dân phải được tham gia vào các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội.
Người dân cần được biết về quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Dân bàn,
dân làm, dân kiểm tra là sự thể hiện năng lực làm chủ của người dân.
Đây vừa là nội dung của dân chủ, vừa là cách thức thực hiện từ phía
người dân. Theo Hồ Chí Minh, giá trị và ý nghĩa thực sự của dân chủ
chỉ có được một khi nhân dân lao động “biết hưởng, biết dùng quyền
dân chủ của mình dám nói, dám làm”. Với việc ban hành pháp lệnh dân
chủ đã chứng tỏ, dân chủ đã đi vào trong đời sống thực tế hàng ngày
của người dân và thực sự được mở rộng, quyền lợi và quyền lực của
nhân dân được bảo đảm thực thi ngày một đầy đủ theo đúng nghĩa của
nó.
Trong
những năm vừa qua, chúng ta đã làm tốt việc thực hiện dân chủ ở cơ
sở với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, một
biểu hiện của dân chủ hóa đời sống xã hội. Từ chỗ dân chỉ nghe theo,
dân chỉ biết chấp hành mệnh lệnh, thi hành nghĩa vụ một cách thụ
động, vô điều kiện thì nay đã được mở rộng hơn, đó là chuyển sang
dân biết, được bàn và có quyền kiểm tra giám sát; đây thực sự là một
cuộc chuyển biến lớn về dân chủ trong đời sống, nhất là ở khu vực
nông thôn hiện nay.
Thực hiện
dân chủ ở cơ sở là một trong những mục tiêu phấn đấu nhằm tiếp cận
đạt đến hệ giá trị của dân chủ là dân sinh, dân trí và dân quyền. Đó
là thấm nhuần tư tưởng của Hồ Chí Minh, “mọi đường lối, chủ trương,
chính sách đều từ cuộc sống của dân mà ra, đều cốt làm lợi cho dân,
có ích cho dân. Phải để cho dân góp ý phê bình mỗi khi họ thấy có gì
không ổn, không thuận trong chính sách hoặc nếu chính sách đúng
nhưng dân chưa hiểu rõ thì phải giải thích cặn kẽ cho dân hiểu để
dân tin và dân làm. Luôn luôn phải dựa vào dân mà điều chỉnh chính
sách, sửa chữa tổ chức, uốn nắn giáo dục cán bộ. Làm được như vậy
mới là thể chế dân chủ và mới thực hiện được dân chủ của dân, phát
huy được quyền làm chủ của dân”3.
Việc thực
hiện dân chủ ở cơ sở của nước ta trong những năm qua đã đạt được
những thành tựu đáng kể, nhất là từ khi Quốc hội ra Nghị quyết ban
hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Kết quả là:
+ Đã tạo
ra bước chuyển biến tích cực về ý thức làm chủ, tính chủ động sáng
tạo của người dân trong việc phát triển kinh tế - xã hội, đời sống
nhân dân được cải thiện, góp phần xóa đói - giảm nghèo, khuyến khích
làm giàu chính đáng, làm cho người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì
khá giàu, người khá giàu thì giàu có nữa, giàu có mãi đúng theo tư
tưởng Hồ Chí Minh.
+ Cùng
với sự phát triển kinh tế, đời sống nhân dân không ngừng được cải
thiện thì trình độ dân trí, văn hoá xã hội cũng được nâng cao. Đa số
người dân đã nhận thức được vai trò và quyền lực làm chủ của mình
trong xã hội. Theo đó, chế độ ủy quyền của người dân vào Nhà nước đã
và đang từng bước trở thành hiện thực.
+ Việc
triển khai thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở những năm qua đã góp
phần làm hoàn thiện hơn hệ thống chính trị, đặc biệt là hệ thống
chính trị ở cơ sở nông thôn. Bên cạnh tổ chức đảng, bộ máy chính
quyền được củng cố, vai trò Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân
dân cũng được phát huy, nhất là việc tham gia xây dựng và giám sát
chính quyền.
+ Việc
triển khai thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở còn đóng vai trò đổi
mới sự lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và
các đoàn thể nhân dân, Đảng ngày càng tiến dần thực hiện lãnh đạo
chứ không bao biện, làm thay. Tổ chức cơ sở đảng nói chung, ở nông
thôn nói riêng ngày một đổi mới và có nhiều tổ chức đảng đạt tiêu
chuẩn trong sạch, vững mạnh.
+ Việc
triển khai thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở còn góp phần làm tăng
cường, củng cố mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với dân, là cầu nối
cho tiếng nói của dân với chính quyền ngày càng đồng thanh, đồng ý.
Đồng thời, góp phần xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc vững
mạnh, làm nền tảng cho sự phát triển của đất nước.
________________
1. Hồ Chí
Minh: Nhà nước và pháp luật, Nxb. Pháp lý, H, 1985, tr.185.
2. Hồ Chí Minh: Nhà nước và pháp luật, Sđd, tr.172.
3. Hoàng Chí Bảo: Dân chủ và dân chủ ở cơ sở nông thôn trong tiến
trình đổi mới. Nxb CTQG, H, 2007, tr.65.
[ về đầu trang ]
|
|
|
|
SỐ
55
| 56
|
57|
58|
59
|
|
[ về đầu trang ] |
|
|