Ðặt làm trang chủ

 
     
 


 
 
 

        SỐ 60

DIỄN ĐÀN ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC

Mấy suy nghĩ về giải quyết việc truyền đạo trái pháp luật trong vùng đồng bào các dân tộc thiểu số

Nhìn nhận về vị trí, vai trò của tầng lớp doanh nhân Việt Nam

Đồng bào dân tộc Khmer tỉnh Trà Vinh trong cuộc vận động xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư



Mấy suy nghĩ về
GIẢI QUYẾT VIỆC TRUYỀN ĐẠO TRÁI PHÁP LUẬT
TRONG VÙNG ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

                                                                   LÙ VĂN QUE*

      Từ những năm cuối của thế kỷ XIX, Toàn quyền Đông Dương đã sử dụng các cha cố người Pháp truyền đạo Thiên Chúa vào vùng đồng bào dân tộc Mông ở Sa Pa (Lào Cai) và Trạm Tấu (Yên Bái), nhưng qua nhiều năm đạo này cũng không phát triển thêm được. Năm 1999, bọn phản động trong nước câu kết với bọn phản động nước ngoài âm mưu dựng lên cái gọi là “Tin lành Đềga” ở Tây Nguyên. Trước đó, từ năm 1973 bọn phản động nói trên đã có kế hoạch mở rộng, phát triển đạo này ra các tỉnh miền núi phía Bắc, cụ thể bằng nhiều cách và thủ đoạn khác nhau, chúng đã dựng ra được “Vax Tsưr” cho vùng đồng bào dân tộc Mông và “Thìn Hùng” cho bà con người dân tộc Dao. Có thể nói, đến nay tình hình phát triển các tôn giáo nói trên đã có sự biến động phức tạp và chúng cũng đã lôi kéo được một số đồng bào dân tộc thiểu số cả tin ở Tây Nguyên và phía Bắc nước ta.

Để tồn tại và phát triển “Vax Tsưr”, “Thìn Hùng”, “Tin lành Đềga”, một số người cầm đầu truyền đạo trái pháp luật đã có âm mưu hợp pháp hóa truyền đạo bằng việc gắn với đạo Tin lành và Thiên Chúa giáo, vì đây là các đạo có tư cách pháp nhân được Nhà nước ta cho phép hoạt động. Để đạt được âm mưu, mục đích của mình, bọn phản động  đã nghiên cứu và có nhiều đổi mới trong cách truyền đạo và sinh hoạt đạo. Chúng vẫn dùng nhà thờ và Hội thánh làm danh nghĩa để hoạt động nhưng các thủ tục, lễ nghi đã được đơn giản hóa đi nhiều, nơi thì thờ cây thánh giá, nơi thì thờ chúa Jêsu, không nhất thiết phải đi nhà thờ rửa tội, cũng không có nhà nguyện hát thánh ca Tin lành; họ có nhà họp để phổ biến chương trình hành động và để hát ca ngợi Jêsu bằng tiếng Mông, tiếng Dao theo nhạc Tây. Nói cách khác, cả hình thức lẫn nội dung truyền giáo đang từng bước được dân tộc hóa. Sự đan xen và gắn kết đó làm cho một số cán bộ và đồng bào các dân tộc thiểu số không phân biệt được phải trái, đúng sai, lợi hại, đâu là chính đạo, đâu là tà đạo, đâu là tín ngưỡng, đâu là mê tín dị đoan, đâu là thật, đâu là giả. Về thực chất, đây là sự lợi dụng tôn giáo và hoạt động chính trị,... không chỉ trực tiếp làm tăng thêm tính phức tạp của vấn đề dân tộc và tôn giáo mà còn dẫn tới sự chia rẽ các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Trong thực tế, bằng thủ đoạn lợi dụng, trực tiếp và gián tiếp tuyên truyền, vận động, lừa bịp và mị dân, xuyên tạc và bịa đặt, cưỡng ép và đe dọa và bằng cả vật chất, chúng đã lôi kéo “phần hồn” của những người nhẹ dạ cả tin, trong đó có một số ít đảng viên vùng dân tộc theo đạo. Từ tin theo đạo, tin theo những lời tuyên truyền xuyên tạc của chúng đã dẫn đến giảm lòng tin đối với Đảng và Nhà nước ta. Ở một số nơi, sự mê hoặc của thứ giáo lý nói trên đã gây chia rẽ và phân hóa ngay trong làng, bản, trong từng gia đình và họ hàng của từng dân tộc, giữa các dân tộc khác nhau, giữa người theo đạo và người không theo đạo; làm xáo trộn, sai lạc hoặc làm mất đi một số thuần phong mỹ tục và văn hoá tốt đẹp của dân tộc; gây ảnh hưởng xấu đến sản xuất và đời sống, thậm chí gây thiệt hại về người và của cho đồng bào các dân tộc thiểu số, vốn đã bao đời sống đoàn kết gắn bó bên nhau.

Đảng và Nhà nước ta không cấm việc truyền đạo, nhưng việc truyền đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ theo Hiến pháp và pháp luật. Căn cứ vào những quy định của pháp luật thì việc truyền đạo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số như trên là trái pháp luật và không bình thường. Bởi vì, “Tin lành Đề ga”, “Vax Tsưr” và “Thìn Hùng”,... là những tổ chức bất hợp pháp; những người truyền đạo đó chưa được Nhà nước thừa nhận; nội dung, phương pháp, cách thức truyền đạo không chỉ không đúng giáo lý, giáo luật của tổ chức tôn giáo mà còn đi ngược, có ý chống lại chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta. Thực chất đó là sự lợi dụng tôn giáo để truyền tà đạo, là tạo ra các hoạt động mê tín dị đoan, ép buộc đồng bào dân tộc theo đạo để nhằm mục đích chính trị trong âm mưu “diễn biến hoà bình”, tranh thủ giành giật và lôi kéo đồng bào dân tộc chống phá lại Đảng và Nhà nước ta, dân tộc ta.

Xét về chủ quan và thực trạng truyền đạo trái pháp luật nói trên, cho thấy các cấp và các ngành, nhất là tổ chức đảng và chính quyền cấp cơ sở trực tiếp còn thiếu nhạy cảm về chính trị, từ nhận thức đến việc làm cụ thể còn chưa thống nhất và bị động. Cấp ủy và chính quyền một số nơi không phải không đoán biết các thế lực thù địch sẽ lợi dụng vấn đề dân tộc và tôn giáo để chống phá cách mạng nước ta, nhưng lại chưa chủ động xây dựng các phương án phòng, chống trước; không ít cán bộ địa phương chưa phân biệt rõ nhu cầu tâm linh của đồng bào dân tộc với việc chúng lợi dụng dân tộc và tôn giáo để hoạt động chính trị. Một số cán bộ, đảng viên của ta lại chưa được giải thích cặn kẽ để hiểu biết về “Đềga”, “Vax Tsưr” và “Thìn Hùng” là gì, ngay cả việc đồng bào Mông bỏ bàn thờ ma, bỏ bàn thờ tổ tiên cũng không biết, có người còn cho các hoạt động truyền đạo trái pháp luật nói trên là “nhu cầu” của đồng bào dân tộc.

Nguyên nhân quan trọng và sâu xa là, cán bộ chưa nắm chắc được lòng dân, thiếu cảnh giác cách mạng; việc giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, chính sách Mặt trận... của Đảng và Nhà nước ta đến với cán bộ và đồng bào các dân tộc chưa đầy đủ, sâu sắc và kịp thời, có tác dụng như bức rào chắn để đồng bào các dân tộc tự giác chống lại việc truyền đạo trái pháp luật cũng như các âm mưu, thủ đoạn xấu của các thế lực thù địch. Mặt khác, còn phải kể đến việc cấp ủy đảng và các cấp chính quyền một số địa phương còn chưa chăm lo đáp ứng yêu cầu chính đáng về đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ và nhân dân các dân tộc, nhất là bà con người dân tộc thiểu số ở vùng cao biên giới đang còn nhiều khó khăn và thiếu thốn.

Để đối phó với tình thế bất lợi trong truyền đạo trái pháp luật nói trên, có nơi đã tỏ ra hữu khuynh, thụ động, buông lỏng quản lý, coi lờ “Vax Tsưr” và “Thìn Hùng”, sợ động vào nó là động vào dân tộc, sợ quốc tế can thiệp, lên án ta đàn áp tôn giáo. Ngược lại, có nơi thì làm quá tả, chủ quan, giản đơn trong giải quyết, coi nhẹ công tác tuyên truyền, vận động thuyết phục đồng bào mà nóng vội sử dụng các biện pháp hành chính, như triệu tập những người đi theo “Tin lành Đề ga”, “Vax Tsưr” và “Thìn Hùng” đến kiểm điểm, phê phán, làm giấy cam đoan không theo đạo...

Trước tình hình quốc tế và trong nước có nhiều diễn biến phức tạp, đặc biệt về vấn đề tôn giáo và dân tộc, giải quyết tốt việc truyền đạo trái pháp luật là một trong những nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của Đảng, Nhà nước và Mặt trận, của quân và dân ta trong tình hình mới hiện nay. Đây là vấn đề rất nhạy cảm, có tính đặc thù, có quan hệ đến sự phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội, đặc biệt là tư tưởng và niềm tin của đồng bào đối với Đảng và Nhà nước ta. Hiện nay, ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, việc phát triển đạo vẫn còn nhiều phức tạp, các thế lực thù địch không ngừng tăng cường tác động, tiến hành “chiến tranh ngầm tôn giáo” và “Chiến tranh ngầm dân tộc”, chi viện tiền, cài cắm người hòng xây dựng cơ sở, phục vụ cho mưu đồ tranh giành, lôi kéo đồng bào dân tộc chống phá lại cách mạng, chống phá lại Đảng và chế độ ta.

Chính vì vậy, việc ngăn chặn, đầy lùi, tiến tới xóa bỏ việc truyền đạo trái pháp luật trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trực tiếp nhất là hệ thống chính trị cấp cơ sở. Vấn đề đặt ra là vừa phải ngăn chặn không để các thế lực thù địch và đạo giáo lợi dụng, hòng lôi kéo đồng bào dân tộc chống lại ta; vừa phải đáp ứng “nhu cầu tâm linh” của một bộ phận đồng bào dân tộc.

Phải giáo dục và vận động đồng bào các dân tộc bằng nhiều hình thức thiết thực, cụ thể để họ hiểu rõ và tự giác làm đúng chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ta, như tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về công tác dân tộc và công tác tôn giáo, về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, về Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định số 22/2005/NĐ-CP, ngày 1-3-2005 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành đã đặt ra. Phải làm cho bà con người dân tộc nhận thức rõ ràng rằng, tự do tôn giáo không có nghĩa là tự do truyền đạo trái pháp luật, tự do gieo rắc tà đạo, tự do xây cất đền chùa, tự do đả kích, tuyên truyền lật đổ chế độ, vượt ra khỏi khuôn khổ của pháp luật và sự quản lý nhà nước của các cấp chính quyền, càng không có nghĩa là tự do quan hệ, tiếp tay cho bọn phản động trong và ngoài nước,...

Đảng và Nhà nước ta công khai bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo. Song các hoạt động tôn giáo phải tuân theo pháp luật, nghiêm cấm các tổ chức truyền đạo, người truyền đạo và các cách thức truyền đạo trái pháp luật, vi phạm các quy định của Hiến pháp và pháp luật; nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng và đạo giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ và làm hại đồng bào các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia. Phải khơi dậy khả năng cách mạng, phát huy những mặt tích cực, những người tốt việc tốt, khắc phục cho được những mặt tiêu cực và yếu kém của đồng bào dân tộc để cùng với đồng bào cả nước phấn đấu vươn lên trong thời kỳ mới của cách mạng.

Đối với các cấp chính quyền, đội ngũ cán bộ trước hết phải am hiểu Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, biết quản lý tôn giáo bằng pháp luật, đó là sự quản lý có kết hợp chặt chẽ giữa pháp lý và đạo lý, nhằm đưa các tôn giáo hoạt động bình thường theo pháp luật, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, bảo hộ các hoạt động tôn giáo hợp pháp, đồng thời ngăn chặn việc lợi dụng tôn giáo và dân tộc để vi phạm pháp luật; làm cho giáo luật và đạo đức tôn giáo xích lại gần với pháp luật của Nhà nước và đạo đức xã hội, xây dựng cuộc sống “tốt đời - đẹp đạo”, “nước vinh - đạo sáng”...

Đối với những người đi truyền đạo trái pháp luật và đồng bào dân tộc đi theo đạo cũng cần có phân loại để có xử lý hoặc tuyên truyền cho phù hợp, ví như cảm hóa, tranh thủ, đoàn kết với những người nhẹ dạ cả tin do nhận thức và trình độ hạn chế; ngược lại kiên quyết đấu tranh với những đối tượng cố tình vi phạm pháp luật, chống phá cách mạng. Quá trình công tác cần tránh chủ quan, xử lý tùy tiện và thô bạo; khi xử lý những người vi phạm pháp luật phải thu thập đủ chứng cứ, xử đúng người, đúng tội, đúng luật; tranh thủ những người có uy tín, đứng đầu dòng họ, các chức sắc và quần chúng tốt để tạo sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi.

Tuy nhiên, điều cơ bản, lâu dài vẫn là tập trung phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội, sớm thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mọi mặt ở những vùng có đồng bào dân tộc sinh sống; giữa miền núi, vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số với các khu đô thị, vùng đồng bằng. Trong đó, phải chú trọng sắp xếp lại dân cư theo quy hoạch và kế hoạch, đẩy mạnh sản xuất hàng hóa, giúp đồng bào tiêu thụ nông sản, giải quyết xoá đói giảm nghèo, tạo cuộc sống ổn định và phát triển, ấm no và hạnh phúc. Thực hiện tốt Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 5 (khóa VIII) về văn hoá dân tộc, xây dựng thuần phong mỹ tục, vận động xóa bỏ hủ tục, củng cố trật tự trong xã hội truyền thống của các dân tộc.

Cần chăm lo củng cố, xây dựng, phát triển tổ chức cơ sở đảng, chính quyền, đoàn thể, nhằm nhanh chóng tạo ra đội ngũ cán bộ và đảng viên người các dân tộc tại chỗ, làm cơ sở vững chắc không chỉ cho thực hiện tốt chính sách tôn giáo, dân tộc mà còn cho sự phát triển chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội nói chung.

___________

* Phó Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn về Dân tộc, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

[ về đầu trang ]



NHÂN NGÀY DOANH NHÂN VIỆT NAM (13-10)

NHÌN NHẬN VỀ VỊ TRÍ, VAI TRÒ
CỦA TẦNG LỚP DOANH NHÂN VIỆT NAM

                                                              ThS. VŨ TIẾN DŨNG*
                            ( Khoa Mác - Lênin, Trường Đại học XâY Dựng Hà Nội.)

     Ðể tầng lớp doanh nhân Việt Nam ngày càng phát triển và giữ đúng vị thế trong xã hội, cần thay đổi quan niệm cũng như cách nhìn nhận của xã hội về doanh nhân.

Trong lịch sử dân tộc ta và cả hiện nay trong quan niệm của không ít người, tầng lớp doanh nhân vẫn không được nhìn nhận, tôn trọng tương xứng với vị thế của họ trong đời sống kinh tế xã hội. Thời phong kiến, xuất phát từ ý thức hệ Nho giáo, coi trọng trật tự “sĩ, nông, công, thương”, “dĩ nông vi bản” - lấy nông nghiệp làm ngành sản xuất cơ bản cho sự phát triển kinh tế - xã hội nên tầng lớp doanh nhân chưa có chỗ đứng trong xã hội. Hơn thế, xuyên suốt trong nhiều triều đại của nước ta lại có chủ trương “trọng nông ức thương” - thương nghiệp bị chèn ép, tầng lớp doanh nhân, ngành thương nghiệp, buôn bán càng không được khuyến khích phát triển. Tiêu biểu như triều Nguyễn đã cho thi hành những chính sách kinh tế có tính chất kìm hãm sự phát triển của công thương nghiệp, đánh thuế thật cao vào các ngành nghề thủ công, buôn bán...

 Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đến thời kỳ phát triển kinh tế theo mô hình kế hoạch hóa - hành chính tập trung, quan liêu bao cấp, ở miền Bắc tầng lớp doanh nhân bị hạ xuống một bậc nữa trong quan niệm của xã hội, những người tham gia buôn bán bị dân ta miệt thị, gọi là “con phe”, thậm chí trong quan niệm của không ít người họ bị coi là “bọn bóc lột”. Thời kỳ này, những người làm ăn chạy theo lợi ích kinh tế thường bị đánh đồng với những sự xấu xa tội lỗi. Những người làm kinh doanh chỉ tồn tại trong hệ thống thương nghiệp của Nhà nước, còn gọi là thương nghiệp quốc doanh và nhất nhất hoạt động theo sự phân công, điều động của nền kinh tế kế hoạch tập trung. Một bối cảnh xã hội như vậy không thể là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển và chỗ đứng của tầng lớp doanh nhân.

 Hiểu một cách sâu xa, cơ chế vận hành của nền kinh tế - xã hội nói trên không theo đúng các quy luật phát triển kinh tế - xã hội mà chủ yếu theo mối quan hệ quyền lực, là thực hiện cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, là cơ chế xin - cho. Với một môi trường không minh bạch, còn nhiều bất công, với các thủ tục hành chính rườm rà, sự lộng quyền và cơ chế chưa cởi mở, tư duy chưa đổi mới, quan niệm chung của xã hội còn chưa thông thoáng thì rõ ràng chưa thể hình thành một tầng lớp doanh nhân theo đúng nghĩa của từ này.

 Đất nước đổi mới, mở cửa cùng với những chính sách cởi mở và thông thoáng, đặc biệt việc thừa nhận và tạo điều kiện cho phát triển kinh tế thị trường, phát triển sản xuất hàng hóa, từ chính sách đến quan niệm của các tầng lớp nhân dân trong xã hội cũng dần xóa bỏ cái nhìn định kiến, không đúng đối với tầng lớp doanh nhân. Trên thực tế, Đảng và Nhà nước ta đã mở ra nhiều cơ hội và có các chính sách cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế tư nhân, mà chủ thể là những doanh nhân có năng lực, có quyết tâm và ý chí, thực tâm muốn đem công sức làm giàu cho bản thân, gia đình và xã hội. Bằng kết quả thực tế, sự đổi mới tư duy, trong xã hội nói chung, từ đây đã có sự nhìn nhận đúng đắn hơn về đội ngũ các doanh nhân, sự giàu có của họ đã không bị coi là tội lỗi, doanh nhân đã không bị coi là những kẻ xấu xa... Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhất là do việc chậm đổi mới cơ chế, chính sách nên vị trí của doanh nhân Việt Nam trong xã hội vẫn chưa được cải thiện nhiều và chưa xứng tầm so với các giai tầng khác trong xã hội.

 Trên thực tế, doanh nhân Việt Nam có nhiều đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội đất nước, vị trí của họ trong xã hội đã được nâng lên đáng kể nhưng rõ ràng vẫn chưa tương xứng với vai trò và tiềm năng vốn có của họ. Hiện nay, trong một bộ phận doanh nhân vẫn còn có sự mặc cảm, tự ti do trong quan hệ họ chưa được bình đẳng với các doanh nghiệp nhà nước hay với các cơ quan nhà nước. Trong cơ chế và một số chính sách, các doanh nhân vẫn phải chịu thiệt thòi và chưa thực sự có sự bình đẳng kể cả với các thành phần kinh tế khác.

 Có thể có nhiều cách lý giải về vấn đề này, nhưng một trong những nguyên nhân cơ bản là do Nhà nước ta chưa xây dựng được hệ thống các chính sách và các tiêu chuẩn về văn hoá kinh doanh cũng như chưa khu biệt được tầng lớp doanh nhân trong xã hội.

 Gần đây, việc trao các giải thưởng “Sao đỏ”, “Sao vàng đất Việt”, “Doanh nhân tiêu biểu”, “Bông hồng vàng”, “Thắp sáng tài năng kinh doanh”, “Doanh nhân tâm - tài”... cho những doanh nhân xuất sắc là sự tôn vinh của Đảng, Nhà nước và xã hội đối với doanh nhân. Những động thái chính trị này là cần thiết đối với tầng lớp doanh nhân - một lực lượng xã hội đang phát triển, đang trên con đường thể hiện vai trò, vị trí của mình và có nhiều đóng góp cho xã hội. Tuy nhiên, cái mà doanh nhân Việt Nam đang hướng đến không chỉ là sự nhìn nhận mà còn là sự tạo điều kiện về cơ chế, chính sách để họ thực sự có những đóng góp hữu ích cho dân, cho nước.

 Nói đến doanh nhân là nói đến khát vọng làm giàu, trước khi là doanh nhân, hầu hết họ đều là những công dân yêu nước, biết kết hợp lợi ích cá nhân với lợi ích của cộng đồng, sự làm giàu của họ là chính đáng, tuân thủ pháp luật, góp phần làm giàu cho chính bản thân và cho xã hội. Bên cạnh các hoạt động kinh doanh thuần túy, những năm qua không ít các doanh nhân Việt Nam, với tư cách là những người có tiềm lực tài chính, đã có nhiều đóng góp tích cực vào các hoạt động nhân đạo từ thiện, góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng đỡ, trợ giúp các đối tượng chính sách có nhiều khó khăn trong xã hội. Đây chính là biểu hiện của văn hoá cao, thể hiện tính nhân bản, nhân văn, một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.

 Với tư cách là những người trực tiếp hoạt động trong lĩnh vực kinh tế, hiểu biết sâu sắc thị trường trong nước và thế giới, đồng thời có mối quan hệ rộng rãi với các đối tác kinh tế trên thế giới, tầng lớp doanh nhân Việt Nam có thể đề xuất các phương hướng, giải pháp thiết thực, đồng thời đóng vai trò là cầu nối cho Nhà nước trong các quan hệ đối ngoại.

 Hiện nay, môi trường pháp lý ở nước ta đang từng bước được đổi mới và hoàn thiện sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và ngày một tăng cường tầng lớp doanh nhân - những người tổ chức sản xuất, kinh doanh giỏi, làm giàu cho mình và góp phần làm giàu cho xã hội trong sự thống nhất giữa ích nước với lợi nhà.

 Doanh nhân Việt Nam, với tư cách là công dân, nhanh nhạy trong học tập và tiếp thu các kinh nghiệm, kiến thức khoa học công nghệ mới từ nước ngoài, họ đang tích cực, năng động góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Hơn ai hết, họ là những người ý thức rõ ràng về giá trị của lao động, sản xuất kinh doanh, làm ăn, buôn bán, luôn tính toán cho sự gia tăng giá trị các sản phẩm hàng hóa sản xuất ra. Xét theo quan điểm kinh tế, sự gia tăng giá trị kinh doanh chính là thước đo giá trị của họ đối với xã hội và đất nước, một động lực không nhỏ đóng góp cho sự phát triển chung của cộng đồng và xã hội.

 Ngày 13-10-1945, ngay trong những ngày đầu mới lập nước, khi công việc còn đang bộn bề, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn đặc biệt coi trọng đến tầng lớp doanh nhân. Chính Người đã tự tay gửi bức thư đầu tiên cho giới công thương Việt Nam. Bức thư có đoạn viết: “Trong lúc các giới khác trong quốc dân ra sức hoạt động để giành lấy nền hoàn toàn độc lập của nước nhà, thì giới Công - Thương phải hoạt động để xây dựng một nền kinh tế và tài chính vững vàng và thịnh vượng. Chính phủ nhân dân và tôi sẽ tận tâm giúp giới Công - Thương trong công cuộc kiến thiết này. Việc nước và việc nhà bao giờ cũng đi đôi với nhau. Nền kinh tế quốc dân thịnh vượng nghĩa là sự kinh doanh của các nhà công nghiệp, thương nghiệp thịnh vượng”1.

 Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, đến nay tư tưởng của Người về vị trí, vai trò quan trọng của giới công thương vẫn tiếp tục soi sáng cho chúng ta trong công cuộc đổi mới đất nước. Đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đoàn kết phát huy mọi nguồn lực, mọi thành phần kinh tế (trong đó có đội ngũ các doanh nhân Việt Nam) được khẳng định một lần nữa trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng vừa qua làm cho đội ngũ doanh nhân Việt Nam thêm tin tưởng và phấn khởi góp sức mình thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

 Rõ ràng, nền kinh tế nước ta có hội nhập và cạnh tranh được với nền kinh tế thế giới hay không, một phần phụ thuộc vào sự mạnh hay yếu của các doanh nghiệp và cộng đồng các doanh nhân Việt Nam. Vì lẽ đó, tạo điều kiện cho tầng lớp doanh nhân phát triển chính là một trong các giải pháp thúc đẩy nhanh sự phát triển và hội nhập của nền kinh tế đất nước.

 Ngày 13-10-2004, lần đầu tiên tầng lớp doanh nhân Việt Nam có ngày truyền thống, được xã hội tôn vinh và thừa nhận. “Giáo dục truyền thống yêu nước, tự cường, chủ động sáng tạo của tầng lớp doanh nhân, động viên phong trào thi đua sản xuất kinh doanh, nâng cao kỷ luật, đạo đức, văn hoá kinh doanh của các doanh nghiệp, doanh nhân”. Đó là yêu cầu và cũng là ý nghĩa của Ngày Doanh nhân Việt Nam mà trong Quyết định số 990/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã nêu rõ. Cũng như vậy, Báo cáo Chính trị tại Đại hội X của Đảng đã chủ trương xóa bỏ mọi rào cản, xóa bỏ mọi phân biệt đối xử theo hình thức sở hữu nhằm tạo tâm lý xã hội và môi trường kinh doanh thuận lợi cho các loại hình doanh nghiệp, các doanh nhân phát triển. Có thể nói, đây là bước chuyển biến đột phá của Đảng, Nhà nước và xã hội nói chung trong sự nhìn nhận và đánh giá về vị trí, vai trò của doanh nhân trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Các doanh nghiệp và đội ngũ các doanh nhân Việt Nam cùng các thành phần kinh tế khác đã và đang tham gia tích cực vào các hoạt động sản xuất kinh doanh để làm giàu cho quê hương, đất nước. Doanh nhân Việt Nam ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 ___________

 1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2002, t.4, tr.49

[ về đầu trang ]



ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER TỈNH TRÀ VINH
TRONG CUỘC VẬN ĐỘNG
XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ Ở KHU DÂN CƯ

                                                                   ThS. MÁ THỊ HÀ*

       Trà Vinh là một tỉnh ven biển thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, có diện tích tự nhiên là 2.369km2; dân số xấp xỉ một triệu người, trong đó có khoảng 30% là người dân tộc Khmer. Với truyền thống đoàn kết, đồng bào Khmer đã cùng với cộng đồng các dân tộc trong tỉnh viết nên những trang sử vẻ vang của quê hương, được Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trước đây tặng thưởng lá cờ thêu tám chữ vàng “Toàn dân nổi dậy, đoàn kết lập công” ghi nhận những đóng góp to lớn trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai.

 Trong những năm gần đây, để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân trong tỉnh, đặc biệt đối với đồng bào Khmer, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh đã phối hợp chặt chẽ với các tổ chức thành viên và ngành Văn hoá thống nhất việc thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”, trong đó chú trọng xây dựng đời sống văn hoá ở vùng đồng bào dân tộc Khmer. Các ban ngành, đoàn thể đã đầu tư nguồn nhân lực, vật lực, tài lực, phát huy hiệu quả nguồn nội lực trong dân nhằm ưu tiên phát triển vùng đồng bào Khmer theo phương châm xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở gắn với 6 nội dung của cuộc vận động. Nhờ vậy, bên cạnh việc ổn định, nâng cao đời sống kinh tế thì đời sống văn hoá tinh thần của đồng bào Khmer đang có sự chuyển biến rõ nét theo chiều hướng tích cực.

 Xuất phát từ phong tục, tập quán của đồng bào Khmer là nhà chùa Phật giáo đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống văn hoá tinh thần của mỗi người dân, mỗi gia đình và cộng đồng phum sóc, nên chùa được coi là một trọng điểm xây dựng đời sống văn hoá cơ sở. Dựa vào những giá trị văn hoá truyền thống của đồng bào Khmer, các cấp Mặt trận đã vận dụng sáng tạo để lồng ghép với 6 nội dung của cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”, 141 chùa Phật giáo từ khi triển khai thực hiện cuộc vận động nói trên đã biến thành những điểm sinh hoạt văn hoá cho đồng bào. Với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, hầu hết các ngôi chùa này đã được trùng tu, tôn tạo khang trang, đẹp đẽ hơn, được trang bị máy truyền thanh, ti vi, tủ sách báo, dàn ngũ âm, đội bóng chuyền... để nhà chùa đảm nhận tốt vai trò trung tâm sinh hoạt văn hoá tinh thần mang tính cộng đồng của phum sóc. Các vị sư sãi, archar... được vận động, bồi dưỡng kiến thức để trở thành những người tiên phong trong việc vận động đồng bào Khmer phát triển kinh tế, văn hoá, xoá đói giảm nghèo, phát triển giáo dục...

 Quá trình vận động cho thấy, đối với vùng đồng bào Khmer nếu được sự đồng tình hưởng ứng và tiên phong của sư sãi thì phong trào quần chúng sẽ phát triển mạnh mẽ, đạt nhiều kết quả khả quan. Bên cạnh việc đầu tư để nhà chùa đảm nhiệm vai trò trung tâm sinh hoạt văn hoá, tinh thần của phum sóc, tỉnh đã chú trọng đầu tư xây dựng các thiết chế sinh hoạt văn hoá - thông tin, văn nghệ, thể dục thể thao nhằm tạo động lực đẩy nhanh việc xây dựng đời sống văn hoá cơ sở. Chính nhờ sự gắn kết chặt chẽ giữa Mặt trận và ngành văn hoá, cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” đã đạt được những thành tựu đáng kể như: các phum sóc đều có hệ thống giao thông thuận tiện, hơn 60% hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia, hơn 80% hộ dân được sử dụng nước sạch, gần 70% hộ có tivi... Công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu, dân số - kế hoạch hoá gia đình, chống suy dinh dưỡng trẻ em... đều được tiến hành một cách có hiệu quả. Đã có nhiều khu dân cư đạt danh hiệu tiên tiến và nhiều gia đình đạt danh hiệu văn hoá. Điển hình như: ấp Trà Kim, ấp Trà Cú, ấp Trì Phong (huyện Châu Thành)... đi đôi với việc xây dựng các điển hình tiên tiến, Mặt trận và các tổ chức đoàn thể còn chú trọng vận động nhân dân chống lại các biểu hiện văn hoá thiếu lành mạnh, văn hoá ngoại lai độc hại cũng như các hủ tục lạc hậu khác. Các loại hình văn hoá truyền thống của đồng bào Khmer được ngành văn hoá chú trọng sưu tầm, bảo tồn và phát huy, như nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật tạo hình, âm nhạc, thơ ca dân gian... Các lễ hội được tổ chức ngày càng có qui mô lớn hơn, chất lượng cao hơn, phong phú hơn. Bên cạnh đó, tỉnh đã xây dựng được bảo tàng văn hoá dân tộc Khmer ngay trong khu văn hoá du lịch liên hoàn Chùa Âng - Ao bà Om, trưng bày hàng trăm hiện vật thể hiện truyền thống đoàn kết, bản sắc văn hoá của đồng bào Khmer.

 Những thành tựu của cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” do Mặt trận phát động đã góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, ổn định và nâng cao đời sống người dân, kiện toàn hệ thống chính trị ở địa phương, đồng thời góp phần vào việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc, tạo nên tính đặc thù của văn hoá dân tộc Khmer tỉnh Trà Vinh trong nền văn hoá Việt Nam đa dạng và thống nhất. Ngày nay đồng bào Khmer đã có được nếp sống, nếp suy nghĩ, nếp sinh hoạt ngày càng văn minh hiện đại, phù hợp với yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngay tại quê hương, phum sóc mình, củng cố lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng bộ, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể các cấp trong tỉnh; tăng cường khả năng đề kháng đối với các âm mưu của các thế lực phản động.

 Tuy nhiên, quá trình thực hiện vẫn còn những tồn tại cần được quan tâm khắc phục, như: Cơ sở vật chất, kinh phí dành cho công tác xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư trong vùng đồng bào Khmer chỉ có nguồn ngân sách địa phương lại mang tính phân bổ bình quân, chưa có sự ưu tiên đầu tư tập trung của ngân sách Trung ương. Trong khi đó, đồng bào Khmer Trà Vinh thường là ở vùng sâu, vùng xa, cơ sở hạ tầng còn yếu kém, nên nếu không có sự ưu tiên trong đầu tư sẽ dẫn đến tình trạng tụt hậu so với các vùng dân cư khác. Đội ngũ cán bộ người Khmer Nam bộ làm công tác văn hoá, nhất là đội ngũ cán bộ tuyến cơ sở, có tỷ lệ chưa qua đào tạo còn cao, vì vậy công tác tổ chức điều hành, quản lý các hoạt động văn hoá thông tin cũng như các phong trào văn hoá nghệ thuật quần chúng còn chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đề ra. Số lượng văn hoá phẩm bằng ngôn ngữ, chữ viết Khmer còn thiếu nhiều so với nhu cầu, chất lượng lại chưa cao, nên văn hoá phẩm bằng ngôn ngữ Khmer nhập lậu từ Campuchia vào với số lượng lớn, nội dung khó kiểm soát được.

 Để công tác xây dựng đời sống văn hoá cơ sở gắn với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” trong vùng đồng bào Khmer tỉnh Trà Vinh đạt được hiệu quả cao hơn, cần có những giải pháp sau:

 1. Trong qui hoạch các vùng văn hoá cũng như trong phân bổ ngân sách của các chương trình mục tiêu, Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch cần quan tâm nhiều hơn, ưu tiên hơn cho các tỉnh có đông đồng bào dân tộc Khmer, vì đây là những tỉnh nghèo, nguồn thu từ ngân sách thấp. Thời gian qua, ngân sách chi cho công tác xây dựng đời sống văn hoá cơ sở và cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” trong vùng còn hạn chế, trong khi cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ hoạt động văn hoá, thông tin ở đây lại mỏng và yếu kém. Nếu không có sự ưu tiên nhất định thì đời sống văn hoá cơ sở trong vùng khó có thể đuổi kịp những vùng khác, khó lòng để người Khmer Nam bộ có thể thực hiện quyền bình đẳng về văn hoá đối với các dân tộc anh em trong cả nước.

 2. Từ thực tiễn xây dựng đời sống văn hoá cơ sở gắn với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” trong vùng đồng bào dân tộc Khmer tỉnh Trà Vinh cho thấy, cần nhận thức đúng và phát huy cao nhất vai trò trung tâm sinh hoạt văn hoá tinh thần đối với phum, sóc của nhà chùa. Bởi lẽ, chùa ở đây không chỉ đơn thuần là trung tâm sinh hoạt tôn giáo, gắn liền với đời sống tâm linh của đồng bào, nơi gửi cốt của tổ tiên mà còn là nơi bảo lưu và truyền bá văn hoá, nơi quy tụ bà con thành các cộng đồng phum, sóc.

 3. Cần xây dựng các cơ quan đầu mối có chức năng sản xuất, phát hành văn hoá phẩm bằng ngôn ngữ, chữ viết Khmer, như: Đài phát thanh truyền hình, Nhà xuất bản, báo Khmer, trung tâm sản xuất và phát hành phim ở khu vực các tỉnh có đông đồng bào Khmer với sự phong phú về chủng loại, dồi dào về số lượng và ngày càng nâng cao về chất lượng, đáp ứng nhu cầu về hưởng thụ văn hoá của đồng bào Khmer Nam bộ. Trường Đại học Cần Thơ cần mở thêm khoa Văn hoá Dân tộc ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long để đào tạo văn nghệ sĩ Khmer, nhằm đáp ứng yêu cầu cho trước mắt và lâu dài.

 4. Phần đông bà con Khmer hiện nay có trình độ dân trí thấp so với mặt bằng chung trong vùng, đặc biệt là chị em phụ nữ phải chịu nhiều thiệt thòi do thất học, ít giao tiếp xã hội... Chính vì vậy, Nhà nước cần quan tâm và có những chính sách thật cụ thể nâng cao dân trí cho bà con

 ___________

  * Uỷ viên Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, chuyên viên Ban Tôn giáo- Dân tộc, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam


 
SỐ 55 | 56 | 57| 58| 59                     

[ về đầu trang ]

       
 
English
Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2008 Trang TTĐT - Cơ quan UBTW MTTQ Việt Nam.
Giấy phép số:111/GP-BC của Bộ Thông tin và Truyền thông • Tổng Biên tập: LÊ BÁ TRÌNH • Phó Tổng Biên tập: NGUYỄN TUẤN ANH
Địa chỉ: 46 Tràng Thi - Hà Nội • ĐT: • Fax:  Email: mttqvn@mattran.org.vn