
|
|
|
|
I
Trang trước
I
Trang tiếp
I |
|
LUẬT
TỔ CHỨC VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
(Trích)
Điều 5
Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của
mình, Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan Toà
án, Công an, Thanh tra, Tư pháp, các cơ quan khác của Nhà nước, Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân, các đơn vị vũ trang trong
việc phòng ngừa, chống tội phạm và vi phạm pháp luật; tuyên truyền, giáo
dục pháp luật; xây dựng pháp luật; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; thống kê,
nghiên cứu tội phạm và vi phạm pháp luật. |
|
|
|
LUẬT
TỔ CHỨC TOÀ ÁN NHÂN DÂN
(Trích)
Căn cứ vào Hiến
pháp năm 1992 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật này quy
định về tổ chức và hoạt động của các Toà án nhân dân.
Điều 13
Toà án phối hợp với cơ quan Nhà nước,
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, đơn vị
vũ trang, tổ chức kinh tế trong việc phát huy tác dụng giáo dục của
phiên toà và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thi hành bản án, quyết
định của Toà án.
Điều 14
Toà án cùng với Viện kiểm sát, các cơ
quan Công an, Thanh tra, Tư pháp, cơ quan hữu quan khác, Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận nghiên cứu và thực
hiện những chủ trương, biện pháp nhằm phòng ngừa và chống tội phạm, các
vi phạm pháp luật khác.
Điều 39
Hội thẩm nhân dân Toà án nhân dân tối
cao do Uỷ ban thường vụ Quốc hội cử theo sự giới thiệu của Đoàn Chủ tịch
Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và do Uỷ ban thường vụ Quốc
hội miễn nhiệm, bãi nhiệm.
Hội thẩm quân nhân Toà án quân sự
Trung ương do Uỷ ban thường vụ Quốc hội cử theo sự giới thiệu của Tổng
cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam và do Uỷ ban thường vụ Quốc hội
miễn nhiệm, bãi nhiệm.
Hội thẩm nhân dân Toà án nhân dân địa
phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu theo sự giới thiệu của Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc cùng cấp và do Hội đồng nhân dân cùng cấp miễn nhiệm,
bãi nhiệm.
Hội thẩm quân nhân Toà án quân sự
quân khu và tương đương do Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân
dân Việt Nam cử theo sự giới thiệu của cơ quan chính trị quân khu, quân
đoàn, quân chủng, tổng cục hoặc cấp tương đương và do Chủ nhiệm Tổng cục
chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam miễn nhiệm, bãi nhiệm.
Hội thẩm quân nhân Toà án quân sự khu
vực do Chủ nhiệm Chính trị quân khu, quân đoàn, quân chủng, tổng cục
hoặc cấp tương đương cử theo sự giới thiệu của cơ quan chính trị sư đoàn
hoặc cấp tương đương và do Chủ nhiệm chính trị quân khu, quân đoàn, quân
chủng, tổng cục hoặc cấp tương đương, miễn nhiệm, bãi nhiệm.
Nhiệm kỳ của Hội thẩm nhân dân Toà án
nhân dân tối cao và Hội thẩm quân nhân là năm năm.
Nhiệm kỳ của Hội thẩm nhân dân Toà án
nhân dân địa phương theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân cùng cấp. |
|
|
|
LUẬT
BẦU CỬ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
(Trích)
Căn cứ vào Hiến
pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, Luật này quy định
việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.
Điều 6
Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam hướng dẫn Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở địa phương tổ chức
hiệp thương lựa chọn, giới thiệu những người ứng cử đại biểu Hội đồng
nhân dân, tham gia giám sát việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.
Điều 15
Chậm nhất là tám mươi ngày trước ngày
bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp nào thì Uỷ ban nhân dân, Thường
trực Hội đồng nhân dân và Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam cấp ấy thành lập Hội đồng bầu cử từ năm đến mười lăm người gồm đại
diện Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ
ban nhân dân và các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội khác; ở xã, phường,
thị trấn thì Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Ban thường
trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp thành lập Hội đồng bầu cử
từ năm đến chín người gồm đại diện Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các
tổ chức xã hội khác, Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân.
Hội đồng bầu cử bầu Chủ tịch, Phó chủ
tịch và Thư ký.
Danh sách Hội đồng bầu cử tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương phải báo cáo lên Uỷ ban thường vụ Quốc hội,
Chính phủ và Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Danh sách Hội
đồng bầu cử các cấp khác phải báo cáo lên Uỷ ban nhân dân, Thường trực
Hội đồng nhân dân và Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
cấp trên trực tiếp.
Hội đồng bầu cử có những nhiệm vụ,
quyền hạn sau đây:
1- Chỉ đạo việc tổ chức bầu cử ở địa
phương, kiểm tra, đôn đốc việc thi hành các quy định của pháp luật về
bầu cử;
2- Nhận hồ sơ của người tự ứng cử và
chuyển cho Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp;
3- Xét và giải quyết những khiếu nại,
tố cáo về công tác bầu cử của các Ban bầu cử, Tổ bầu cử;
4- Công bố số đơn vị bầu cử, danh
sách các đơn vị và số đại biểu được bầu của mỗi đơn vị bầu cử ở địa
phương mình;
5- Nhận hồ sơ và công bố danh sách
những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân theo từng đơn vị bầu cử,
xét và giải quyết những khiếu nại về việc lập danh sách đó;
6- Nhận tài liệu và phiếu bầu của Uỷ
ban nhân dân cùng cấp và phân phối cho các Ban bầu cử chậm nhất là hai
mươi ngày trước ngày bầu cử;
7- Nhận và kiểm tra biên bản xác định
kết quả bầu cử do các Ban bầu cử gửi đến, làm biên bản tổng kết cuộc bầu
cử ở địa phương;
8- Chỉ đạo việc bầu cử thêm, bầu cử
lại theo quy định tại các điều 53, 54, 55, và 56 của Luật này;
9- Công bố kết quả bầu cử;
10- Trình Hội đồng nhân dân biên bản
tổng kết cuộc bầu cử và chuyển giao các hồ sơ, tài liệu về cuộc bầu cử
theo quy định tại Điều 57 của Luật này.
Điều
16
Chậm nhất là bốn mươi ngày trước ngày
bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp nào thì Uỷ ban nhân dân, Thường
trực Hội đồng nhân dân và Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam cấp ấy thành lập ở mỗi đơn vị bầu cử một Ban bầu cử từ năm đến mười
một người gồm đại diện các tổ chức xã hội và tập thể cử tri ở địa phương;
ở xã, phường, thị trấn thì Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Hội đồng nhân dân
và Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp thành lập ở
mỗi đơn vị bầu cử một Ban bầu cử từ năm đến chín người gồm đại diện các
tổ chức xã hội và tập thể cử tri.
Ban bầu cử bầu Trưởng ban, Phó Trưởng
ban và Thư ký.
Ban bầu cử có những nhiệm vụ, quyền
hạn sau đây:
1- Kiểm tra, đôn đốc việc thi hành
các quy định của pháp luật về bầu cử của các Tổ bầu cử trong đơn vị bầu
cử;
2- Kiểm tra, đôn đốc việc lập, niêm
yết danh sách cử tri và việc niêm yết danh sách những người ứng cử ở các
Tổ bầu cử trong đơn vị bầu cử;
3- Kiểm tra, đôn đốc việc bố trí các
phòng bỏ phiếu và công việc bầu cử ở các phòng bỏ phiếu;
4- Nhận tài liệu và phiếu bầu của Hội
đồng bầu cử; phân phối tài liệu và phiếu bầu cho các Tổ bầu cử chậm nhất
là mười ngày trước ngày bầu cử;
5- Xét và giải quyết các khiếu nại về
công tác bầu cử của các Tổ bầu cử;
6- Nhận, tổng hợp và kiểm tra biên
bản kiểm phiếu do các Tổ bầu cử gửi đến, làm biên bản xác định kết quả
bầu cử ở đơn vị bầu cử;
7- Chuyển giao biên bản xác định kết
quả bầu cử và hồ sơ, tài liệu về bầu cử theo quy định tại Điều 51 của
Luật này.
8- Tổ chức việc bầu cử thêm, bầu cử
lại theo quyết định của Hội đồng bầu cử.
Điều 17
Chậm nhất là ba mươi ngày trước ngày
bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Hội đồng
nhân dân và Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã, phường,
thị trấn thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu một Tổ bầu cử từ năm đến chín
người gồm đại diện các tổ chức xã hội và tập thể cử tri ở địa phương.
Trong trường hợp đơn vị bầu cử chỉ có
một khu vực bỏ phiếu thì Ban bầu cử kiêm nhiệm vụ của Tổ bầu cử.
Các đơn vị vũ trang nhân dân thành
lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu một Tổ bầu cử.
Tổ bầu cử bầu Tổ trưởng, Tổ phó và
Thư ký.
Tổ bầu cử có những nhiệm vụ, quyền
hạn sau đây:
1- Phụ trách công tác bầu cử trong
khu vực bỏ phiếu;
2- Bố trí phòng bỏ phiếu, chuẩn bị
hòm phiếu;
3- Nhận tài liệu về bầu cử của Ban
bầu cử và phát phiếu bầu có đóng dấu của Tổ bầu cử cho cử tri;
4- Thường xuyên thông báo cho cử tri
biết ngày bầu cử, nơi bỏ phiếu, thời gian bỏ phiếu trong thời hạn mười
ngày trước ngày bầu cử;
5- Bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnh nội
quy của phòng bỏ phiếu;
6- Xét và giải quyết những khiếu nại
về công tác bầu cử trong khu vực bỏ phiếu;
7- Kiểm phiếu và làm biên bản kiểm
phiếu;
8- Chuyển giao biên bản kiểm phiếu,
phiếu bầu và các tài liệu khác về bầu cử theo quy định tại Điều 50 của
Luật này.
Điều 20
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các
cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân
dân cử cán bộ, nhân viên của mình tham gia vào công tác bầu cử theo yêu
cầu của Hội đồng bầu cử, Ban bầu cử, Tổ bầu cử và trong phạm vi chức
năng, nhiệm vụ của mình, tạo điều kiện thuận lợi giúp các tổ chức phụ
trách bầu cử thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật này.
Điều 28
Chậm nhất là bảy mươi ngày trước ngày
bầu cử, Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp bầu cử đại
biểu Hội đồng nhân dân tổ chức hội nghị gồm đại diện các tổ chức thành
viên để hiệp thương thoả thuận về cơ cấu, thành phần và số lượng người
được đề cử của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế và
đơn vị vũ trang nhân dân đóng tại địa phương.
Điều
29
Theo cơ cấu, thành phần và số lượng
người được đề cử đã thoả thuận, trên cơ sở tiêu chuẩn đại biểu Hội đồng
nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các cơ quan Nhà nước, tổ
chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân đề cử đại biểu
của mình ra ứng cử.
Chậm nhất là bốn mươi lăm ngày trước
ngày bầu cử, người được đề cử phải nộp hồ sơ tại Ban thường trực Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở cấp bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân mà
mình được đề cử. Hồ sơ gồm có đơn ứng cử, sơ yếu lý lịch và giấy chứng
nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú về quyền ứng cử
theo quy định tại Điều 2 của Luật này
Điều 31
Trên cơ sở tiêu chuẩn, cơ cấu, thành
phần và số lượng đã thoả thuận, Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và đại diện các tổ chức thành viên của Mặt trận tập hợp danh
sách sơ bộ những người tự ứng cử và những người được đề cử gửi lấy ý
kiến cử tri nơi công tác và nơi cư trú. Việc tổ chức lấy ý kiến của cử
tri được tiến hành theo quy định tại Điều 32 của Luật này.
Điều
32
Hội nghị cử tri ở xã, phường, thị
trấn tổ chức theo đơn vị buôn, bản, thôn, xóm, ấp, tổ dân phố do Ban
thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với chính quyền
cùng cấp triệu tập và chủ trì.
Hội nghị cử tri ở cơ quan Nhà nước,
tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế do Thủ trưởng cơ quan hoặc người đứng
đầu của tổ chức phối hợp với công đoàn cùng cấp triệu tập và chủ trì.
Hội nghị cử tri ở đơn vị vũ trang nhân dân do Thủ trưởng đơn vị triệu
tập và chủ trì.
Tại hội nghị này, cử tri đối chiếu
với tiêu chuẩn đại biểu Hội đồng nhân dân để nhận xét, bày tỏ sự tín
nhiệm đối với người tự ứng cử, người được đề cử bằng cách giơ tay hoặc
bỏ phiếu kín theo quyết định của hội nghị.
Người tự ứng cử, người được đề cử
hoặc đại diện tổ chức, cơ quan, đơn vị có người được đề cử được mời dự
hội nghị này.
Điều
33
Căn cứ vào danh sách người tự ứng cử,
người được đề cử và kết quả Hội nghị cử tri quy định tại Điều 32 của
Luật này, Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức hội
nghị hiệp thương thoả thuận với đại diện các tổ chức thành viên để lập
danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân. Đại
diện Hội đồng bầu cử được mời dự hội nghị này.
Điều
34
Chậm nhất là ba mươi ngày trước ngày
bầu cử, Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải gửi đến
Hội đồng bầu cử danh sách và hồ sơ của những người ứng cử đại biểu Hội
đồng nhân dân. Hồ sơ gồm có:
1- Đơn ứng cử;
2- Giấy chứng nhận của Uỷ ban nhân
dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú về quyền ứng cử theo quy định tại
Điều 2 của Luật này;
3- Tiểu sử tóm tắt của người ứng cử.
Khi nhận các giấy tờ trên, Hội đồng
bầu cử phải cấp giấy biên nhận.
Điều 50
Kiểm phiếu xong, Tổ bầu cử phải lập
biên bản ghi rõ:
- Tổng số cử tri của khu vực bỏ phiếu;
- Số cử tri đã tham gia bỏ phiếu;
- Số phiếu phát ra;
- Số phiếu thu vào;
- Số phiếu hợp lệ;
- Số phiếu không hợp lệ;
- Số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử;
- Những khiếu nại đã nhận được, những
khiếu nại đã giải quyết và cách giải quyết, những khiếu nại chuyển lên
Ban bầu cử giải quyết.
Biên bản kiểm phiếu làm thành ba bản,
có chữ ký của Tổ trưởng, Tổ phó, Thư ký Tổ bầu cử và hai cử tri được mời
chứng kiến việc kiểm phiếu để gửi đến Ban bầu cử, Uỷ ban nhân dân, Uỷ
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã, phường, thị trấn.
MỤC 2
KẾT QUẢ BẦU CỬ Ở ĐƠN VỊ BẦU CỬ
Điều
51
Sau khi nhận được biên bản kiểm phiếu
của các Tổ bầu cử, Ban bầu cử kiểm tra các biên bản đó và lập biên bản
xác định kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử của mình.
Biên bản phải ghi rõ:
- Số đại biểu Hội đồng nhân dân được
ấn định cho đơn vị bầu cử;
- Số người ứng cử;
- Tổng số cử tri trong đơn vị bầu cử;
- Số cử tri đã tham gia bỏ phiếu, tỉ
lệ so với tổng số cử tri;
- Số phiếu phát ra;
- Số phiếu thu vào;
- Số phiếu hợp lệ;
- Số phiếu không hợp lệ;
- Số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử;
- Danh sách những người trúng cử;
- Những khiếu nại do Tổ bầu cử đã
giải quyết; những khiếu nại do Ban bầu cử giải quyết; những khiếu nại
báo cáo lên Hội đồng bầu cử giải quyết.
Biên bản làm thành bốn bản, có chữ ký
của Trưởng ban, Phó Trưởng ban và Thư ký ban bầu cử để gửi đến Hội đồng
bầu cử, Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và Uỷ ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp. Đối với cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng
nhân dân xã, phường, thị trấn thì biên bản được gửi đến Hội đồng bầu cử,
Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam cùng cấp.
Điều
52
Những người ứng cử được quá nửa số
phiếu hợp lệ và được nhiều phiếu hơn thì trúng cử. Trong trường hợp có
nhiều người được số phiếu bằng nhau và đạt quá nửa số phiếu hợp lệ thì
Hội đồng bầu cử xét, quyết định người trúng cử theo đề nghị của Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và của Ban bầu cử ở đơn vị bầu cử đó.
Điều 57
Sau khi nhận và kiểm tra biên bản xác
định kết quả bầu cử của các Ban bầu cử và giải quyết những khiếu nại,
Hội đồng bầu cử làm biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân
dân ở đơn vị hành chính của mình.
Biên bản tổng kết phải ghi rõ:
- Tổng số đại biểu ấn định cho Hội
đồng nhân dân cấp đó;
- Tổng số người ứng cử;
- Số lượng đơn vị bầu cử, khu vực bỏ
phiếu;
- Tổng số cử tri;
- Số cử tri đã tham gia bỏ phiếu, tỷ
lệ so với tổng số cử tri;
- Số phiếu phát ra;
Điều 61
Chậm nhất là hai mươi ngày trước ngày
bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân cấp nào thì Uỷ ban nhân dân,
Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam cấp ấy thành lập Hội đồng bầu cử bổ sung từ ba đến năm người và
chậm nhất là mười lăm ngày trước ngày bầu cử bổ sung, thành lập ở mỗi
đơn vị bầu cử bổ sung một Ban bầu cử bổ sung từ ba đến năm người gồm đại
diện các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội.
Hội đồng bầu cử bổ sung và Ban bầu cử
bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn do Uỷ ban nhân
dân, Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam cùng cấp thành lập. Số lượng thành viên, thành phần, thời
gian thành lập Hội đồng bầu cử bổ sung và Ban bầu cử bổ sung theo quy
định tại Điều này.
Hội đồng bầu cử bổ sung bầu Chủ tịch
và Thư ký.
Ban bầu cử bổ sung bầu Trưởng ban và
Thư ký.
Điều 62
Chậm nhất là mười ngày trước ngày bầu
cử bổ sung, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn thành lập ở mỗi khu vực
bỏ phiếu một Tổ bầu cử bổ sung từ năm đến bảy người gồm đại diện các tổ
chức xã hội và tập thể cử tri.
Tổ bầu cử bổ sung bầu Tổ trưởng, Tổ
phó và Thư ký.
Điều 63
Các tổ chức phụ trách bầu cử bổ sung
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của
các tổ chức phụ trách bầu cử quy định tại Luật này.
Điều
64
Danh sách cử tri do Uỷ ban nhân dân
xã, phường, thị trấn lập và niêm yết chậm nhất là mười lăm ngày trước
ngày bầu cử bổ sung.
Điều
65
Chậm nhất là mười lăm ngày trước ngày
bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân cấp nào thì Ban thường trực Uỷ
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp ấy tổ chức hội nghị hiệp thương để lựa
chọn, giới thiệu, lập danh sách người ứng cử.
Danh sách những người ứng cử đại biểu
Hội đồng nhân dân ở đơn vị khuyết đại biểu do Hội đồng bầu cử bổ sung
công bố chậm nhất là mười ngày trước ngày bầu cử. |
|
|
|
LUẬT
TỔ CHỨC HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ UỶ
BAN NHÂN DÂN
(Trích)
Điều 10
Trong hoạt động của mình, Hội
đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, các ban
của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, Hội đồng nhân dân, Chủ tịch,
Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp xã và các đại biểu
Hội đồng nhân dân phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác chăm lo và bảo
vệ lợi ích của nhân dân, vận động nhân dân tham gia vào việc quản lý Nhà
nước và thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước.
Điều 26
Uỷ ban nhân dân các cấp, các cơ
quan, viên chức Nhà nước và cán bộ trong bộ máy chính quyền ở địa phương,
trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm tạo điều kiện
thuận lợi cho hoạt động của các đại biểu Hội đồng nhân dân như cung cấp
tư liệu, thông tin, bảo đảm nơi tiếp xúc với cử tri, các phương tiện đi
lại.
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
và các tổ chức thành viên của Mặt trận giúp đỡ đại biểu Hội đồng nhân
dân cùng cấp làm nhiệm vụ đại biểu, tạo điều kiện cho đại biểu tiếp xúc
với cử tri, thu thập ý kiến, nguyện vọng và kiến nghị của nhân dân với
Hội đồng nhân dân.
Điều 29
Đại biểu Hội đồng nhân dân nào
không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân thì tuỳ mức độ phạm
sai lầm mà bị Hội đồng nhân dân hoặc cử tri bãi nhiệm. ở cấp tỉnh, cấp
huyện Thường trực Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, ở cấp xã Chủ
tịch Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân quyết định việc đưa ra Hội
đồng nhân dân hoặc cử tri bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân theo đề
nghị của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp.
Trong trường hợp Hội đồng nhân
dân bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân thì việc bãi nhiệm phải được
hai phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân biểu quyết tán thành.
Trong trường hợp cử tri bãi nhiệm
đại biểu Hội đồng nhân dân thì việc bãi nhiệm được tiến hành theo thể
thức do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định.
Điều 31
Hội đồng nhân dân thảo luận và ra
nghị quyết về các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình tại các kỳ
họp của Hội đồng nhân dân. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân phải được
quá nửa tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân biểu quyết tán thành, trừ
trường hợp bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân được quy định tại Điều
29 của Luật này. Hội đồng nhân dân quyết định việc biểu quyết bằng cách
giơ tay, bỏ phiếu kín hoặc bằng cách khác theo đề nghị của Chủ toạ phiên
họp.
Hội đồng nhân dân các cấp họp
thường lệ mỗi năm hai kỳ. Trong trường hợp cần thiết, ở cấp tỉnh, cấp
huyện, theo yêu cầu của Chủ tịch Hội đồng nhân dân, của Chủ tịch Uỷ ban
nhân dân cùng cấp hoặc khi có ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Hội
đồng nhân dân cùng cấp yêu cầu thì Thường trực Hội đồng nhân dân quyết
định triệu tập kỳ họp bất thường; ở cấp xã, theo yêu cầu của Uỷ ban nhân
dân hoặc khi có ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân
yêu cầu thì Chủ tịch Hội đồng nhân dân quyết định triệu tập kỳ họp bất
thường.
Hội đồng nhân dân họp công khai.
Khi cần thiết, Hội đồng nhân dân quyết định họp kín theo đề nghị của Chủ
toạ kỳ họp hoặc của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp.
Ngày họp, nơi họp và chương trình
của kỳ họp Hội đồng nhân dân phải được thông báo cho nhân dân biết, chậm
nhất là năm ngày, trước ngày khai mạc kỳ họp.
Kỳ họp Hội đồng nhân dân được
tiến hành khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân
tham gia.
Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội
đồng nhân dân cấp trên đã được bầu ở địa phương, Chủ tịch Uỷ ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam và người đứng đầu các đoàn thể nhân dân ở địa
phương được mời tham dự kỳ họp Hội đồng nhân dân, được phát biểu ý kiến,
nhưng không biểu quyết.
Tài liệu cần thiết của kỳ họp Hội
đồng nhân dân phải được gửi đến đại biểu Hội đồng nhân dân trước ngày
khai mạc kỳ họp.
Điều 36
Thường trực Hội đồng nhân dân cấp
tỉnh, cấp huyện có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1- Triệu tập và chủ toạ các kỳ
kọp của Hội đồng nhân dân; phối hợp với Uỷ ban nhân dân trong việc chuẩn
bị kỳ họp của Hội đồng nhân dân;
2- Đôn đốc, kiểm tra Uỷ ban nhân
dân cùng cấp và các cơ quan Nhà nước khác ở địa phương thực hiện các
nghị quyết của Hội đồng nhân dân;
3- Điều hoà, phối hợp hoạt động
của các ban của Hội đồng nhân dân, giữ mối liên hệ với các đại biểu Hội
đồng nhân dân;
4- Tiếp dân, đôn đốc, kiểm tra và
xem xét tình hình giải quyết các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công
dân; tổng hợp ý kiến và nguyện vọng của nhân dân để báo cáo tại kỳ họp
của Hội đồng nhân dân;
5- Phối hợp với Uỷ ban nhân dân
quyết định việc đưa ra Hội đồng nhân dân hoặc đưa ra cử tri bãi nhiệm
đại biểu Hội đồng nhân dân phạm sai lầm theo đề nghị của Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam cùng cấp;
6- Báo cáo về hoạt động của Hội
đồng nhân dân cùng cấp lên Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp trên
trực tiếp; Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh báo cáo về hoạt động
của Hội đồng nhân dân cấp mình lên Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chính
phủ;
7- Giữ mối liên hệ và phối hợp
công tác với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp; mỗi năm hai lần
thông báo cho Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp về hoạt động của
Hội đồng nhân dân.
Điều 37
Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp xã
có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1- Triệu tập và chủ toạ các kỳ
họp của Hội đồng nhân dân; phối hợp với Uỷ ban nhân dân trong việc chuẩn
bị kỳ họp Hội đồng nhân dân;
2-Đôn đốc, kiểm tra việc thực
hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân;
3- Tổ chức việc tiếp dân, đôn đốc,
kiểm tra việc giải quyết các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của nhân dân;
4- Giữ mối liên hệ với các đại
biểu Hội đồng nhân dân; báo cáo tình hình hoạt động của Hội đồng nhân
dân lên Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp;
5- Phối hợp với Uỷ ban nhân dân
quyết định việc đưa ra Hội đồng nhân dân hoặc đưa ra cử tri bãi nhiệm
đại biểu Hội đồng nhân dân phạm sai lầm theo đề nghị của Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam cùng cấp;
6- Giữ mối liên hệ và phối hợp
công tác với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp; mỗi năm hai lần
thông báo cho Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp về hoạt động của
Hội đồng nhân dân.
Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân
cấp xã giúp Chủ tịch Hội đồng nhân dân làm nhiệm vụ và thay Chủ tịch Hội
đồng nhân dân khi vắng mặt.
Điều 50
Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và người đứng đầu các đoàn thể nhân dân ở địa phương được mời
dự các phiên họp của Uỷ ban nhân dân cùng cấp khi bàn đến các vấn đề có
liên quan.
Uỷ ban nhân dân tạo điều kiện
thuận lợi để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân tổ chức,
động viên nhân dân tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, tổ
chức, thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giám
sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ và viên chức
Nhà nước.
Uỷ ban nhân dân thực hiện chế độ
thông báo tình hình mọi mặt của địa phương cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
và các đoàn thể nhân dân.
Uỷ ban nhân dân và các thành viên
của Uỷ ban nhân dân có trách nhiệm giải quyết và trả lời các kiến nghị
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân. |
|
|
|
LUẬT BAN HÀNH
VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
(Trích)
Điều 3.
Tham gia góp ý kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
1- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
tổ chức thành viên, các tổ chức xã hội khác, tổ chức kinh tế, cơ quan
nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân có quyền tham gia góp ý
kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.
2- Trong quá trình xây dựng văn bản
quy phạm pháp luật, căn cứ vào tính chất và nội dung của dự án, cơ quan,
tổ chức hữu quan tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân nói tại
khoản 1 Điều này tham gia góp ý kiến và tiếp thụ ý kiến đóng góp để xây
dựng văn bản quy phạm pháp luật.
Điều 11.
Gửi, lưu trữ văn bản quy phạm pháp luật
1- Văn bản quy phạm pháp luật phải
được gửi kịp thời đến cơ quan nhà nước cấp trên trực tiếp và đến các cơ
quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội hữu quan.
2- Bản gốc của văn bản quy phạm pháp
luật phải được lưu trữ theo quy định của pháp luật về lưu trữ.
Điều 18.
Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật liên tịch
Căn cứ vào Hiến pháp, luật, nghị
quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội,
lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị quyết, nghị định của Chính phủ,
quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, các cơ quan, tổ chức sau
đây có thể phối hợp ban hành văn bản quy phạm pháp luật liên tịch để
hướng dẫn thi hành văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn của mình:
1- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ;
2- Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ với Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối
cao;
3- Toà án nhân dân tối cao, Viện
kiểm sát nhân dân tối cao;
4- Cơ quan
nhà nước có thẩm quyền với tổ chức chính trị - xã hội trong trường hợp
pháp luật có quy định việc tổ chức chính trị - xã hội tham gia quản lý
nhà nước.
Điều 22.
Lập chương trình, thông qua chương trình
1- Chương
trình xây dựng luật, pháp lệnh được xây dựng trên cơ sở đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội,
quốc phòng, an ninh và yêu cầu quản lý nhà nước trong từng thời kỳ, bảo
đảm các quyền, nghĩa vụ của công dân.
2- Cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc
hội có quyền trình dự án luật được quy định tại Điều 87 của Hiến pháp
năm 1992 gửi đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh đến Uỷ ban thường vụ Quốc
hội và đồng thời gửi đến Chính phủ, trong đó phải nêu rõ sự cần thiết
ban hành văn bản, xác định đối tượng và phạm vi điều chỉnh của văn bản,
các điều kiện cần thiết cho việc soạn thảo văn bản; kiến nghị về luật,
pháp lệnh của đại biểu Quốc hội cũng được gửi đến Uỷ ban thường vụ Quốc
hội và Chính phủ.
Chính phủ lập dự kiến chương trình
xây dựng luật, pháp lệnh về những vấn đề thuộc phạm vi chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của mình trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội và phát biểu ý
kiến về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của cơ quan khác, tổ chức, đại
biểu Quốc hội, kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội.
3- Uỷ ban pháp luật của Quốc hội
chủ trì và phối hợp với Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban khác của Quốc hội
thẩm tra dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Chính phủ, đề
nghị xây dựng luật, pháp lệnh của cơ quan khác, tổ chức, đại biểu Quốc
hội, kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội.
4- Căn cứ vào dự kiến chương trình
của Chính phủ, đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của cơ quan khác, tổ
chức, đại biểu Quốc hội, kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc
hội, ý kiến thẩm tra của Uỷ ban pháp luật, Uỷ ban thường vụ Quốc hội lập
dự án Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trình Quốc hội quyết định.
5- Chương trình xây dựng luật, pháp
lệnh bao gồm chương trình xây dựng luật, pháp lệnh theo nhiệm kỳ Quốc
hội và chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm.
6- Quốc hội quyết định chương trình
xây dựng luật, pháp lệnh cả nhiệm kỳ trong năm đầu tiên của mỗi khoá
Quốc hội; quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm tại
kỳ họp cuối năm của năm trước.
Điều 30.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên tham gia ý kiến vào
dự án luật, dự án pháp lệnh
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ
chức thành viên có quyền tham gia ý kiến vào dự án luật, dự án pháp lệnh.
Đối với dự án luật, dự án pháp lệnh
có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và các tổ chức thành viên; quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản
của công dân, về tổ chức bộ máy nhà nước, thì cơ quan soạn thảo có trách
nhiệm gửi dự án luật, dự án pháp lệnh đến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
các tổ chức thành viên để lấy ý kiến.
Điều 40.
Tham gia góp ý kiến vào dự án luật, dự án pháp lệnh
1- Công dân góp ý kiến về dự án luật,
dự án pháp lệnh thông qua cơ quan, tổ chức của mình, trực tiếp hoặc gửi
thư góp ý tới Văn phòng Quốc hội, cơ quan, tổ chức soạn thảo dự án hoặc
thông qua các phương tiện thông tin đại chúng.
2- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
tổ chức thành viên, cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội,
đơn vị vũ trang nhân dân có trách nhiệm tổ chức, tạo điều kiện để công
dân thuộc tổ chức, cơ quan, đơn vị mình tham gia ý kiến vào dự án luật,
dự án pháp lệnh.
Điều 62.
Tham gia ý kiến xây dựng dự thảo nghị quyết, nghị định
Tuỳ theo tính chất và nội dung của dự
thảo nghị quyết, nghị định, cơ quan soạn thảo gửi dự thảo tới Uỷ ban
trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam,
Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cơ quan, tổ
chức hữu quan, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) để tham gia ý kiến.
Điều 73.
Văn bản quy phạm pháp luật liên tịch giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền
với tổ chức chính trị - xã hội
Nghị quyết, thông tư liên tịch giữa
cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cơ quan trung ương của tổ chức chính
trị - xã hội được ban hành để hướng dẫn thi hành những vấn đề khi pháp
luật quy định về việc tổ chức chính trị - xã hội đó tham gia quản lý nhà
nước.
Điều 74.
Soạn thảo, ban hành văn
bản quy phạm pháp luật liên tịch
1- Dự thảo văn bản quy phạm pháp luật
liên tịch do cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội hữu quan thoả
thuận, phân công cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo.
2- Cơ quan, tổ chức được phân công
chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tổ chức xây dựng dự thảo văn bản và lấy
ý kiến cơ quan, tổ chức hữu quan.
Đối với dự thảo thông tư liên tịch
giữa Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ với Toà án nhân dân
tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải được lấy ý kiến các thành
viên Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, thành viên Uỷ ban Kiểm
sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Cơ quan, tổ
chức chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tập hợp ý kiến và chỉnh lý dự thảo.
3- Thủ trưởng cơ quan, người đứng đầu
tổ chức chính trị - xã hội cùng ký nghị quyết, thông tư liên tịch.
Điều 81.
Quốc hội giám sát, xử lý
văn bản trái pháp luật
1- Quốc hội thực hiện quyền giám sát
tối cao đối với văn bản quy phạm pháp luật của các các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền quy định tại Chương II của Luật này.
2- Theo đề nghị của Uỷ ban thường vụ
Quốc hội, Chủ tịch nước, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội,
Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, đại biểu Quốc hội, Quốc
hội xem xét, quyết định bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ luật, nghị quyết
của Quốc hội trái Hiến pháp; xem xét, quyết định bãi bỏ một phần hoặc
toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ
tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện
kiểm sát nhân dân tối cao trái Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội.
Điều
82. Uỷ ban thường vụ Quốc
hội giám sát, xử lý văn bản trái pháp luật
1- Uỷ ban thường vụ Quốc hội thực
hiện quyền giám sát đối với văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan
nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
2- Theo đề
nghị của Chủ tịch nước, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, Chính
phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, đại biểu Quốc hội, Uỷ ban
thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định đình chỉ việc thi hành một phần
hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính
phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái Hiến
pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định việc
huỷ bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản đó; xem xét, quyết định huỷ bỏ một
phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái
pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; xem xét, quyết định
bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ nghị quyết sai trái của Hội đồng nhân dân
cấp tỉnh. |
|
|
|
LUẬT KHIẾU NẠI
TỐ CÁO
SỐ 09/1998/QH10 NGÀY 02 THÁNG 12 NĂM 1998
(Trích)
Điều 13
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các
tổ chức thành viên của Mặt trận động viên nhân dân nghiêm chỉnh thi
hành pháp luật về khiếu nại, tố cáo; giám sát việc thi hành pháp luật về
khiếu nại, tố cáo theo quy định của Luật này.
MỤC 2
GIÁM SÁT CỦA UỶ BAN MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM, CÁC TỔ CHỨC THÀNH VIÊN
CỦA MẶT TRẬN, CỦA TỔ CHỨC THANH TRA NHÂN DÂN
Điều
91
1- Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
các tổ chức thành viên của Mặt trận có trách nhiệm tổ chức việc tiếp
công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh liên quan đến khiếu
nại, tố cáo; khi nhận được khiếu nại, tố cáo thì nghiên cứu, chuyển đến
người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo.
2- Khiếu nại, tố cáo do Uỷ ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận chuyển đến
phải được người giải quyết khiếu nại, tố cáo xem xét, giải quyết và
trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày có quyết định giải quyết phải thông
báo bằng văn bản cho tổ chức đã chuyển đơn đến biết kết quả giải quyết;
nếu không đồng ý với kết quả giải quyết đó thì tổ chức đã chuyển đơn có
quyền kiến nghị cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp xem xét, giải quyết;
cơ quan, tổ chức hữu quan có trách nhiệm trả lời kiến nghị đó trong thời
hạn 7 ngày, kể từ ngày có quyết định giải quyết.
Điều
92
Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao,
Viện kiểm sát nhân dân tối cao định kỳ thông báo đến Uỷ ban trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Uỷ ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm
sát nhân dân các cấp định kỳ thông báo đến Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng
cấp về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Điều
93
1- Tổ chức Thanh tra nhân dân, trong
phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tiếp nhận thông tin, phản ánh của
nhân dân về việc khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo ở xã,
phường, thị trấn, cơ quan, đơn vị cơ sở; kịp thời phát hiện những hành
vi vi phạm pháp luật về khiếu nại, tố cáo; kiến nghị Chủ tịch Uỷ ban
nhân dân cấp xã, thủ trưởng cơ quan, đơn vị cơ sở giải quyết kịp thời,
đúng pháp luật về khiếu nại, tố cáo và giám sát việc giải quyết đó.
2- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã,
thủ trưởng cơ quan, đơn vị cơ sở có trách nhiệm thông báo cho tổ chức
Thanh tra nhân dân biết việc giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm
quyền giải quyết của mình và xem xét, giải quyết kiến nghị của tổ chức
Thanh tra nhân dân.
Điều
94
Cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan có
trách nhiệm tạo điều kiện để Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ
chức thành viên của Mặt trận, tổ chức Thanh tra nhân dân giám sát việc
thi hành pháp luật về khiếu nại, tố cáo. |
|
|
|
BỘ LUẬT HÌNH SỰ
(Trích)
Điều 4.
Trách nhiệm đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm.
1- Các cơ quan Công an, Kiểm sát,
Toà án, Tư pháp và Thanh tra có trách nhiệm thi hành đầy đủ chức năng,
nhiệm vụ của mình, đồng thời hướng dẫn, giúp đỡ các cơ quan khác của Nhà
nước, các tổ chức xã hội và công dân đấu tranh chống và phòng ngừa tội
phạm, giám sát và giáo dục người phạm tội.
2- Các cơ quan Nhà nước và các tổ
chức xã hội có nhiệm vụ giáo dục những người thuộc quyền quản lý của
mình nâng cao cảnh giác cách mạng, ý thức bảo vệ và tuân theo pháp luật,
tôn trọng các quy tắc cuộc sống xã hội chủ nghĩa; kịp thời có biện pháp
loại trừ nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm trong cơ quan, tổ chức
mình.
3- Mọi công dân có nghĩa vụ tích
cực đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm. |
|
|
|
LUẬT TỐ TỤNG
HÌNH SỰ
(Trích)
Điều 8.
Việc tham gia tố tụng hình sự của các tổ chức xã hội và công dân.
Mặt trận Tổ quốc, Công đoàn, Hội
nông dân, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ,
các tổ chức xã hội khác và công dân đều có quyền và nghĩa vụ tham gia tố
tụng hình sự theo quy định của Bộ luật này, góp phần đấu tranh chống và
phòng ngừa tội phạm, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát
và Toà án có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức xã hội
và công dân tham gia tố tụng hình sự.
Trong các giai đoạn của tố tụng
hình sự, nếu Mặt trận Tổ quốc và các thành viên của Mặt trận phát hiện
những hành vi trái pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng thì có quyền
kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền quy định tại Bộ luật này. Các cơ
quan đó phải xem xét, giải quyết và trả lời cho các tổ chức xã hội đã
kiến nghị biết. |
|
|
|
LUẬT DÂN SỰ
(Trích)
Điều 110. Các loại
pháp nhân
1- Pháp nhân bao gồm các loại sau
đây:
a) Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ
trang;
b) Tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội;
c) Tổ chức kinh tế;
d) Tổ chức xã hội, tổ chức xã hội
- nghề nghiệp;
đ) Quỹ xã hội, quỹ từ thiện;
e) Các tổ chức khác có đủ điều
kiện quy định tại Điều 94 của Bộ luật này.
2- Quy chế tổ chức và hoạt động
của các loại pháp nhân do pháp luật quy định tuỳ thuộc vào mục đích hoạt
động của mỗi loại pháp nhân.
Điều 112. Pháp nhân là tổ
chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội
1- Tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu của
mình nhằm thực hiện mục tiêu chính trị, xã hội theo điều lệ, là pháp
nhân khi tham gia quan hệ dân sự.
2- Tài sản của tổ chức chính trị,
tổ chức chính trị - xã hội không thể phân chia cho các thành viên.
3- Tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản của mình, trừ
tài sản mà theo quy định của pháp luật không được sử dụng để chịu trách
nhiệm dân sự.
Điều 114. Pháp nhân là tổ
chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp
1- Tổ chức xã hội, tổ chức xã hội
- nghề nghiệp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập,
chuẩn y điều lệ và có hội viên là cá nhân, tổ chức tự nguyện đóng góp
tài sản hoặc hội phí nhằm phục vụ nhu cầu chung của hội viên và mục đích
của hội là pháp nhân khi tham gia quan hệ dân sự.
2- Tổ chức xã hội, tổ chức xã hội
- nghề nghiệp chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản của mình.
3- Hội viên không chịu trách
nhiệm dân sự bằng tài sản riêng về việc thực hiện nghĩa vụ dân sự của tổ
chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp.
4- Trong trường hợp tổ chức xã
hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp chấm dứt hoạt động, thì tài sản của tổ
chức đó không được phân chia cho các hội viên mà phải được giải quyết
theo quy định của pháp luật.
Điều 115. Pháp nhân là quỹ xã
hội, quỹ từ thiện
1- Quỹ xã hội, quỹ từ thiện được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập, chuẩn y điều lệ, hoạt
động vì mục đích khuyến khích phát triển văn hoá, khoa học, từ thiện và
các mục đích xã hội nhân đạo khác không nhằm mục đích thu lợi nhuận là
pháp nhân khi tham gia quan hệ dân sự.
2- Tài sản của quỹ xã hội, quỹ từ
thiện được quản lý, sử dụng và định đoạt theo quy định của pháp luật và
phù hợp với mục đích hoạt động của quỹ do điều lệ quy định.
3- Quỹ xã hội, quỹ từ thiện chỉ
được phép tiến hành các hoạt động quy định trong điều lệ được cơ quan
nhà nước có thẩm quyền chuẩn y và trong phạm vi tài sản của quỹ và phải
chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản đó.
4- Tổ chức đã lập quỹ xã hội, quỹ
từ thiện không phải chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản thuộc sở hữu
của mình về các hoạt động của quỹ và không được phân chia tài sản của
quỹ trong quá trình quỹ hoạt động.
Trong trường hợp quỹ xã hội, quỹ
từ thiện chấm dứt hoạt động, thì tài sản của quỹ không được phân chia
cho các sáng lập viên mà phải được giải quyết theo quy định của pháp
luật.
Điều 214. Sở hữu của tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội
Sở hữu của tổ chức chính trị, tổ
chức chính trị - xã hội là sở hữu của cả tổ chức đó nhằm thực hiện mục
đích chung quy định trong điều lệ.
Điều 215. Tài sản thuộc sở
hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội
1- Tài sản được hình thành từ
nguồn đóng góp của các thành viên, tài sản được tặng cho chung và từ các
nguồn khác phù hợp với quy định của pháp luật là tài sản thuộc sở hữu
của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.
Tài sản thuộc sở hữu toàn dân mà
Nhà nước đã chuyển giao quyền sở hữu cho tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội là tài sản thuộc sở hữu của tổ chức đó.
2- Tài sản thuộc sở hữu toàn dân
mà Nhà nước giao cho tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội để
quản lý và sử dụng, thì không thuộc sở hữu của tổ chức chính trị, tổ
chức chính trị - xã hội đó.
Điều 216. Chiếm hữu, sử dụng,
định đoạt tài sản thuộc sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị
- xã hội
1- Tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc
sở hữu của mình nhằm thực hiện chức năng của tổ chức đó.
2- Việc quản lý, khai thác công
dụng và định đoạt tài sản thuộc sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội phải tuân theo pháp luật và phù hợp với mục đích hoạt
động của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội được quy định
trong điều lệ.
Điều 223. Sở hữu của tổ chức
xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp
Sở hữu của tổ chức xã hội, tổ
chức xã hội - nghề nghiệp là sở hữu của cả tổ chức đó nhằm thực hiện mục
đích chung của các thành viên được quy định trong điều lệ.
Điều 224. Tài sản thuộc sở
hữu của tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp
Tài sản được hình thành từ nguồn
đóng góp của các thành viên, tài sản được tặng cho chung hoặc từ các
nguồn khác phù hợp với quy định của pháp luật, là tài sản thuộc sở hữu
của tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp đó.
Điều 225. Chiếm hữu, sử dụng,
định đoạt tài sản thuộc sở hữu của tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề
nghiệp
Tổ chức xã hội, tổ chức xã hội -
nghề nghiệp thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc
sở hữu của mình theo quy định của pháp luật và phù hợp với mục đích hoạt
động của tổ chức đó được quy định trong điều lệ. |
|
|
|
LUẬT ĐẤT ĐAI
(Trích)
Điều 10
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác, các tổ chức
kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân có nhiệm vụ phối hợp với
các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các biện pháp bảo vệ và sử
dụng đất hợp lý, tiết kiệm theo quy hoạch và pháp luật.
Các cơ quan Nhà nước trong phạm
vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình có trách nhiệm xem xét và giải quyết
các kiến nghị của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn
vị vũ trang nhân dân và công dân trong việc thực hiện các biện pháp bảo
vệ và sử dụng đất.
Điều 38
1- Nhà nước khuyến khích việc hoà
giải các tranh chấp đất đai trong nhân dân.
Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị
trấn có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Nông dân,
các tổ chức thành viên khác của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác, tổ
chức kinh tế ở cơ sở và công dân hoà giải các tranh chấp đất đai.
2- Các tranh chấp về quyền sử
dụng đất mà người sử dụng đất không có giấy chứng nhận của cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền thì do Uỷ ban nhân dân giải quyết theo quy định sau
đây:
a) Uỷ ban nhân dân huyện, quận,
thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết các tranh chấp giữa cá nhân, hộ
gia đình với nhau, giữa cá nhân, hộ gia đình với tổ chức, giữa tổ chức
với tổ chức nếu các tổ chức đó thuộc quyền quản lý của mình;
b) Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương giải quyết các tranh chấp giữa tổ chức với tổ
chức, giữa tổ | |