LUẬT
TỔ CHỨC QUỐC HỘI
(Trích)
Điều 4
Khi thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội,
Hội đồng, Uỷ ban của Quốc hội và các đại biểu Quốc hội dựa vào sự tham
gia của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức xã hội và của công
dân.
Cơ quan
Nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang, trong phạm
vi chức năng, nhiệm vụ của mình, có trách nhiệm tạo điều kiện để Hội
đồng, ban và các đại biểu Quốc hội làm nhiệm vụ.
Điều 43
Đại biểu
Quốc hội phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri,
thường xuyên tiếp xúc với cử tri, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của cử
tri; thu thập và phản ánh trung thực ý kiến của cử tri với Quốc hội và
cơ quan Nhà nước hữu quan.
Mỗi năm
ít nhất một lần đại biểu phải báo cáo trước cử tri về việc thực hiện
nhiệm vụ đại biểu của mình. Cử tri có thể trực tiếp hoặc thông qua Mặt
trận Tổ quốc yêu cầu đại biểu báo cáo công tác và có thể nhận xét đối
với việc thực hiện nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội.
Điều 48
Các đại
biểu Quốc hội được bầu trong một tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung
ương hợp thành Đoàn đại biểu Quốc hội. Đoàn đại biểu Quốc hội có Trưởng
đoàn, có thể có Phó Trưởng đoàn để tổ chức hoạt động của Đoàn, giữ mối
liên hệ với Chủ tịch Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, cơ quan chính
quyền địa phương, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các cơ quan, tổ chức khác ở
địa phương về các vấn đề liên quan đến hoạt động của đại biểu Quốc hội.
Mỗi Đoàn
có thể có từ một đến hai đại biểu làm việc theo chế độ chuyên trách.
Điều 49
Đại
biểu Quốc hội không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân thì tuỳ
mức độ phạm sai lầm mà bị Quốc hội hoặc cử tri bãi nhiệm.
Uỷ ban
thường vụ Quốc hội quyết định việc đưa ra Quốc hội bãi nhiệm hoặc cử tri
bãi nhiệm đại biểu Quốc hội, theo đề nghị của Uỷ ban Trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt nam, Mặt trận Tổ quốc tỉnh hoặc của cử tri.
Trong
trường hợp Quốc hội bãi nhiệm đại biểu Quốc hội thì việc bãi nhiệm phải
được hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành.
Trong
trường hợp cử tri bãi nhiệm đại biểu Quốc hội thì việc bãi nhiệm được
tiến hành theo thể thức do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định.
Điều 62
Chủ
tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của
Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận, các
đại biểu Quốc hội có quyền trình dự án luật ra trước Quốc hội.
Quyền
trình dự án luật được thực hiện bằng việc trình dự án luật mới, dự án
luật sửa đổi, bổ sung luật hiện hành.
Đại
biểu Quốc hội thực hiện quyền kiến nghị về luật thông qua việc kiến nghị
ban hành luật mới hoặc sửa đổi, bổ sung luật hiện hành.