(Trích)
Điều 5
Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam tổ chức hiệp thương lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại
biểu Quốc hội; tham gia giám sát việc bầu cử đại biểu Quốc hội.
Điều 14
Chậm nhất là
chín mươi ngày trước ngày bầu cử, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thành lập
Hội đồng bầu cử từ mười lăm đến hai mươi một người, gồm Chủ tịch, các
Phó Chủ tịch, Tổng thư ký và các uỷ viên là đại diện Uỷ ban thường vụ
Quốc hội, Chính phủ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, một số
cơ quan, tổ chức hữu quan.
Hội đồng bầu cử
có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1- Lãnh đạo
việc tổ chức bầu cử trong cả nước; kiểm tra, đôn đốc việc thi hành các
quy định của pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội;
2- Chỉ đạo công
tác thông tin, tuyên truyền và vận động bầu cử;
3- Chỉ đạo công
tác bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội trong cuộc bầu cử;
4- Nhận và xem
xét hồ sơ của người được tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội,
tổ chức xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước ở Trung
ương giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội; gửi tiểu sử tóm tắt của những
người ứng cử đến Ban thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam;
5- Nhận hồ sơ
và danh sách người ứng cử đại biểu Quốc hội do Uỷ ban bầu cử gửi đến;
6- Quy định mẫu
thẻ cử tri và phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội;
7- Lập và công
bố danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội theo từng đơn vị bầu
cử trong cả nước;
8- Xét và giải
quyết khiếu nại, tố cáo về công tác của Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử và Tổ
bầu cử; xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo về bầu cử do Uỷ ban bầu cử
hoặc Ban bầu cử chuyển đến; xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo về người
ứng cử; xét và giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử;
9- Nhận và kiểm
tra biên bản xác định kết quả bầu cử do Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử gửi
đến; làm biên bản tổng kết cuộc bầu cử trong cả nước;
10- Xét và
quyết định việc bầu cử lại, bầu cử thêm hoặc huỷ bỏ kết quả bầu cử ở đơn
vị bầu cử;
11- Công bố kết
quả bầu cử trong cả nước;
12- Cấp giấy
chứng nhận cho đại biểu trúng cử;
13- Trình Uỷ
ban thường vụ Quốc hội và Quốc hội khoá mới biên bản tổng kết cuộc bầu
cử trong cả nước và những hồ sơ, tài liệu về bầu cử.
Điều 15
Chậm nhất là
tám mươi ngày trước ngày bầu cử, Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương sau khi thống nhất với Uỷ ban nhân dân
và Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp quyết định thành lập
Uỷ ban bầu cử từ bảy đến mười một người, gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch,
Thư ký và các uỷ viên là đại diện Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban
nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp, một số cơ quan, tổ chức hữu
quan.
Uỷ ban bầu cử
có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1- Chỉ đạo việc
chuẩn bị và tổ chức bầu cử ở các đơn vị bầu cử; kiểm tra, đôn đốc việc
thi hành những quy định của pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội của
Ban bầu cử, Tổ bầu cử;
2- Chỉ đạo thực
hiện công tác thông tin, tuyên truyền và vận động bầu cử ở địa phương;
3- Chỉ đạo thực
hiện công tác bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội trong cuộc bầu cử ở
địa phương;
4- Nhận và xem
xét hồ sơ của người được tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội,
tổ chức xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước ở địa
phương giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội và hồ sơ của người tự ứng cử
đại biểu Quốc hội; gửi danh sách trích ngang và tiểu sử tóm tắt của
những người được giới thiệu ứng cử và những người tự ứng cử đến Ban
thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương;
5- In tài liệu
bầu cử; in thẻ cử tri và phiếu bầu cử theo mẫu của Hội đồng bầu cử;
6- Lập danh
sách những người ứng cử theo đơn vị bầu cử và báo cáo Hội đồng bầu cử;
7- Kiểm tra
việc lập và niêm yết danh sách cử tri;
8- Xét và giải
quyết khiếu nại, tố cáo về công tác của Ban bầu cử, Tổ bầu cử; xét và
giải quyết khiếu nại, tố cáo về bầu cử do Ban bầu cử, Tổ bầu cử chuyển
đến; xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo về người ứng cử;
9- Nhận và kiểm
tra biên bản xác định kết quả bầu cử của các Ban bầu cử; lập biên bản
xác định kết quả bầu cử ở địa phương;
10- Thông báo
kết quả bầu cử ở địa phương;
11- Báo cáo
tình hình tổ chức và tiến hành bầu cử theo quy định của Hội đồng bầu cử;
12- Chuyển hồ
sơ, biên bản xác định kết quả bầu cử đến Hội đồng bầu cử;
13- Tổ chức
việc bầu cử lại, bầu cử thêm theo quyết định của Hội đồng bầu cử.
Điều 16
Chậm nhất là
sáu mươi ngày trước ngày bầu cử, Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương sau khi thống nhất với Uỷ ban nhân dân
và Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp quyết định thành lập
ở mỗi đơn vị bầu cử một Ban bầu cử từ chín đến mười lăm người, gồm
Trưởng ban, các Phó Trưởng ban, Thư ký và các uỷ viên là đại diện Thường
trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng
cấp, một số cơ quan, tổ chức hữu quan.
Ban bầu cử có
những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1- Kiểm tra,
đôn đốc việc thi hành các quy định của pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc
hội của các Tổ bầu cử;
2- Kiểm tra,
đơn đốc việc bố trí các phòng bỏ phiếu;
3- Kiểm tra
việc lập và niêm yết danh sách cử tri;
4- Phân phối
thẻ cử tri, phiếu bầu cử cho các Tổ bầu cử chậm nhất là năm ngày trước
ngày bầu cử;
5- Niêm yết
danh sách những người ứng cử trong đơn vị bầu cử;
6- Kiểm tra
công việc bầu cử tại các phòng bỏ phiếu;
7- Nhận và kiểm
tra biên bản kết quả kiểm phiếu do các Tổ bầu cử gửi đến; làm biên bản
xác định kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử để gửi đến Hội đồng bẩu cử, Uỷ
ban bầu cử và thông báo kết quả đó;
8- Nhận và
chuyển đến Uỷ ban bầu cử khiếu nại, tố cáo về người ứng cử; xét và giải
quyết khiếu nại, tố cáo về công tác của các Tổ bầu cử;
9- Báo cáo tình
hình tổ chức và tiến hành bầu cử theo quy định của Hội đồng bầu cử và Uỷ
ban bầu cử;
10- Giao hồ sơ,
tài liệu về bầu cử cho Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương;
11- Tổ chức
việc bầu cử lại, bầu cử thêm.
Điều 17
Chậm nhất là ba
mươi ngày trước ngày bầu cử, Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã, phường, thị
trấn sau khi thống nhất với Uỷ ban nhân dân và Ban thường trực Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc cùng cấp quyết định thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu
một Tổ bầu cử từ năm đến mười một người, gồm Tổ trưởng, Tổ phó, Thư ký
và các uỷ viên là đại diện Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc cùng cấp và đại diện cử tri ở địa phương.
Đơn vị vũ trang
nhân dân thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu của mình một Tổ bầu cử từ năm
đến chín người, gồm Tổ trường, Tổ phó, Thư ký và các uỷ viên là đại diện
Chỉ huy đơn vị và đại diện quân nhân.
Trong trường
hợp đơn vị vũ trang nhân dân và địa phương có chung một khu vực bỏ phiếu
thì Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn sau khi thống nhất
với Uỷ ban nhân dân, Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp và
Chỉ huy đơn vị vũ trang nhân dân quyết định thành lập Tổ bầu cử từ năm
đến mười một người, gồm đại diện Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ
ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp, đại diện Chỉ huy đơn vị, đại diện quân
nhân và đại diện cử tri ở địa phương.
Tổ bầu cử có
những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1- Tổ chức việc
bầu cử trong khu vực bỏ phiếu;
2- Bố trí phòng
bỏ phiếu và chuẩn bị hòm phiếu;
3- Phát thẻ cử
tri cho cử tri chậm nhất là hai ngày trước ngày bầu cử, trừ những trường
hợp quy định tại khoản 2 Điều 23 của Luật này; phát phiếu bầu cử cho cử
tri có đóng dấu của Tổ bầu cử;
4- Bảo đảm trật
tự trong phòng bỏ phiếu;
5- Kiểm phiếu
và làm biên bản kết quả kiểm phiếu để gửi đến Ban bầu cử;
6- Giao biên
bản kết quả kiểm phiếu và toàn bộ phiếu bầu cho Uỷ ban nhân dân xã,
phường, thị trấn;
7- Báo cáo tình
hình tổ chức và tiến hành bầu cử theo quy định của các tổ chức phụ trách
bầu cử cấp trên;
8- Tổ chức thực
hiện việc bầu cử lại, bầu cử thêm.
Điều 20
Cơ quan nhà
nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đơn
vị vũ trang nhân dân có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để các tổ
chức phụ trách bầu cử thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của mình.
Điều 28
1- Công dân ứng
cử đại biểu Quốc hội (người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử)
theo quy định của Luật này phải nộp hồ sơ ứng cử chậm nhất là sáu mươi
ngày trước ngày bầu cử.
Hồ sơ ứng cử
gồm:
a) Đơn xin ứng
cử;
b) Sơ yếu lý
lịch có chứng nhận của cơ quan, tổ chức, đơn vi nơi người đó công tác
hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người đó thường trú;
c) Tiểu sử tóm
tắt và ba ảnh mầu cỡ 4x6.
2- Người được
tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, lực lượng
vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước ở Trung ương giới thiệu ứng cử thì
nộp hồ sở tại Hội đồng bầu cử.
Người được tổ
chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, lực lượng vũ
trang nhân dân, cơ quan nhà nước ở địa phương giới thiệu ứng cử và người
tự ứng cử thì nộp hồ sơ tại Uỷ ban bầu cử nơi mình ứng cử.
3- Sau khi nhận
và xem xét hồ sơ của những người ứng cử, nếu thấy hợp lệ theo quy định
của Luật này thì Hội đồng bầu cử chuyển tiểu sử tóm tắt của những người
được các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội,
lực lương vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước ở Trung ương giới thiệu
đến Ban thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Uỷ ban
bầu cử chuyển tiểu sử tóm tắt của những người được các tổ chức chính
trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, lực lượng vũ trang nhân
dân, cơ quan nhà nước ở địa phương giới thiệu ứng cử và tiểu sử tóm tắt
của những người tự ứng cử đến Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để đưa vào danh sách hiệp thương.
Điều 29
Những người sau
đây không được ứng cử đại biểu Quốc hội:
1- Người thuộc
các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 23 của Luật này;
2- Người đang
bị khởi tố về hình sự;
3- Ngươi đang
phải chấp hành bản án, quyết định hình sự của Toà án;
4- Người đã
chấp hành xong bản án, quyết định hình sự của Toà án những chưa được xoá
án;
5- Người đang
chấp hành quyết định xử lý hành chính về giáo dục tại xã, phường, thị
trấn, tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh hoặc đang bị quản chế hành
chính.
Những người đã
có tên trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội mà đến thời điểm bắt đầu
bầu cử bị khởi tố về hình sự, bị bắt giữ vì phạm tội quả tang, bị mất
trí thì Hội đồng bầu cử xoá tên trong danh sách những người ứng cử đại
biểu Quốc hội.
MỤC 2
HIỆP THƯƠNG, GIỚI THIỆU NGƯỜI ỨNG CỬ
ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
Điều 30
Hội nghị hiệp
thương lần thứ nhất ở Trung ương do Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức chậm nhất là bảy mươi lăm ngày trước ngày
bầu cử, thành phần gồm Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, đại diện Ban lãnh đạo các tổ chức thành viên của Mặt trận.
Hội nghị hiệp
thương thoả thuận về cơ cấu, thành phần và số lượng người của cơ quan,
tổ chức, đơn vị ở Trung ương được bầu làm đại biểu Quốc hội trên cơ sở
dự kiến lần thứ nhất do Uỷ ban thường vụ Quốc hội gửi đến. Đại diện Hội
đồng bầu cử, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ được mời dự Hội nghị
này.
Biên bản Hội
nghị hiệp thương phải ghi rõ thành phần, số lượng người tham dự, diễn
biến, kết quả của Hội nghị và được gửi ngay đến Uỷ ban thường vụ Quốc
hội và Hội đồng bầu cử.
Điều 31
Hội nghị hiệp
thương lần thứ nhất ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do Ban
thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương tổ chức chậm nhất là bảy mươi lăm ngày trước ngày bầu cử; thành
phần gồm Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, đại diện Ban lãnh đạo
các tổ chức thành viên của Mặt trận và đại diện Ban thường trực Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
Hội nghị hiệp
thương thoả thuận về cơ cấu, thành phần và số lượng người của cơ quan,
tổ chức, đơn vị ở địa phương được bầu làm đại biểu Quốc hội trên cơ sở
dự kiến lần thứ nhất do Uỷ ban thường vụ Quốc hội gửi đến. Đại diện Uỷ
ban bầu cử, Thường trực Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân được mới dự
Hội nghị này.
Biên bản Hội
nghị hiệp thương phải ghi rõ thành phần, số lượng người tham dự, diễn
biến, kết quả của Hội nghị và được gửi ngay đến Uỷ ban thường vụ Quốc
hội, Ban thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Uỷ
ban bầu cử.
Điều 32
Căn cứ vào kết
quả hiệp thương lần thứ nhất quy định tại các điều 30 và 31 của Luật
này, chậm nhất là bảy mươi ngày trước ngày bầu cử, Uỷ ban thường vụ Quốc
hội dự kiến lần thứ hai cơ cấu, thành phần, số lượng người của cơ quan,
tổ chức, đơn vị ở trung ương và địa phương được bầu làm đại biểu Quốc
hội.
Điều 33
Trên cơ sở dự
kiến lần thứ hai của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, căn cứ vào tiêu chuẩn
đại biểu Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đơn vị ở Trung ương và địa phương
được phân bổ số lượng đại biểu tiến hành giới thiệu người ứng cử đại
biểu Quốc hội.
Điều 34
Việc giới thiệu
người ứng cử đại biểu Quốc hội của các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở Trung
ương được tiến hành như sau:
1- Ban lãnh đạo
tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội dự kiến
người của tổ chức mình ứng cử đại biểu Quốc hội, tổ chức lấy ý kiến nhận
xét của Hội nghị cử tri nơi người đó công tác. Trên cơ sở ý kiến của Hội
nghị cử tri, Ban lãnh đạo tổ chức hội nghị Ban thường vụ mở rộng hoặc
Đoàn Chủ tịch mở rộng để thảo luận, giới thiệu người của tổ chức mình
ứng cử đại biểu Quốc hội;
2- Ở cơ quan
nhà nước thì Ban lãnh đạo cơ quan phối hợp với Ban chấp hành công đoàn
cơ quan dự kiến người của cơ quan mình ứng cử đại biểu Quốc hội, tổ chức
lấy ý kiến nhận xét của Hội nghị cử tri nơi người đó công tác. Trên cơ
sở ý kiến của Hội nghị cử tri, Ban lãnh đạo cơ quan tổ chức hội nghị gồm
lãnh đạo cơ quan, Ban chấp hành công đoàn, đại diện lãnh đạo các đơn vị
trực thuộc để thảo luận, giới thiệu người của cơ quan mình ứng cử đại
biểu Quốc hội;
3- Ở đơn vị vũ
trang nhân dân thì lãnh đạo, chỉ huy đơn vị dự kiến người của đơn vị
mình ứng cử đại biểu Quốc hội, tổ chức lấy ý kiến nhận xét của Hội nghị
cử tri nơi người đó công tác. Trên cơ sở ý kiến của Hội nghị cử tri,
lãnh đạo, chỉ huy đơn vị tổ chức Hội nghị gồm lãnh đạo, chỉ huy đơn vị,
đại diện Ban chấp hành công đoàn (nếu có), đại diện quân nhân và chỉ huy
cấp dưới trực tiếp để thảo luận, giới thiệu người của đơn vị mình ứng cử
đại biểu Quốc hội.
Hội nghị cử tri
nói tại điều này được tiến hành theo quy định tại Điều 39 của Luật này.
Điều 35
Việc giới thiệu
người ứng cử đại biểu Quốc hội của các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa
phương được tiến hành như sau:
1- Ban lãnh đạo
tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội dự kiến
người của tổ chức mình ứng cử đại biểu Quốc hội, tổ chức lấy ý kiến nhận
xét của Hội nghị cử tri nơi người đó công tác. Trên cơ sở ý kiến của Hội
nghị cử tri, Ban lãnh đạo tổ chức hội nghị Ban thường vụ mở rộng để thảo
luận, giới thiệu người của tổ chức mình ứng cử đại biểu Quốc hội;
2- Ở cơ quan
Nhà nước thì Ban lãnh đạo cơ quan phối hợp với ban chấp hành công đoàn
cơ quan dự kiến người của cơ quan mình ứng cử đại biểu Quốc hội, tổ chức
lấy ý kiến nhận xét của Hội nghị cử tri nơi người đó công tác. Trên cơ
sở ý kiến của Hội nghị cử tri, Ban lãnh đạo cơ quan tổ chức hội nghị gồm
lãnh đạo cơ quan, Ban chấp hành công đoàn, đại diện lãnh đạo các đơn vị
trực thuộc để thảo luận, giới thiệu người của cơ quan mình ứng cử đại
biểu Quốc hội;
3- Ở đơn vị lực
lượng vũ trang thì lãnh đạo, chỉ huy đơn vị dự kiến người của đơn vị
mình ứng cử đại biểu Quốc hội, tổ chức lấy ý kiến nhận xét của Hội nghị
cử tri nơi người đó công tác. Trên cơ sở ý kiến của Hội nghị cử tri,
lãnh đạo, chỉ huy đơn vị tổ chức hội nghị gồm lãnh đạo, chỉ huy đơn vị,
đại diện Ban chấp hành công đoàn (nếu có), đại diện quân nhân và chỉ huy
cấp dưới trực tiếp để thảo luận, giới thiệu người của đơn vị mình ứng cử
đại biểu Quốc hội.
Hội nghị cử tri
nói tại Điều này được tiến hành theo quy định tại Điều 39 của Luật này.
Điều 36
Cơ quan, tổ
chức, đơn vị ở Trung ương giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội phải
chuyển biên bản Hội nghị cử tri nơi công tác và biên bản hội nghị Ban
lãnh đạo của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình nhận xét về người được giới
thiệu đến Ban thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Ban thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ghi tên
người được giới thiệu vào danh sách hiệp thương.
Cơ quan, tổ
chức, đơn vị ở địa phương giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội phải
chuyển biên bản Hội nghị cử trị nơi công tác và biên bản hội nghị Ban
lãnh đạo cơ quan, tổ chức, đơn vị mình nhận xét về người được giới thiệu
đến Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương. Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương ghi tên người được giới thiệu và danh sách hiệp thương.
Điều 37
Hội nghị hiệp
thương lần thứ hai ở Trung ương do Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức chậm nhất là năm mươi lăm ngày trước ngày
bầu cử; thành phần Hội nghị như quy định tại Điều 30 của Luật này.
Hội nghị hiệp
thương căn cứ vào tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội, cơ cấu, thành phần và số
lượng đại biểu được bầu của các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở Trung ương đã
được Uỷ ban thường vụ Quốc hội dự kiến lần thứ hai để lập danh sách sơ
bộ những người ứng cử đại biểu Quốc hội và gửi lấy ý kiến cử tri ở nơi
cư trú.
Biên bản Hội
nghị hiệp thương phải ghi rõ thành phần, số lượng người tham dự, diễn
biến, kết quả của Hội nghị và được gửi ngay đến Uỷ ban thường vụ Quốc
hội và Hội đồng bầu cử.
Điều 38
Hội nghị hiệp
thương lần thứ hai ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do Ban thường
trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ
chức chậm nhất là năm mươi lăm ngày trước ngày bầu cử; thành phần Hội
nghị như quy định tại Điều 31 của Luật này.
Hội nghị hiệp
thương căn cứ vào tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội, cơ cấu, thành phần và số
lượng đại biểu được bầu của các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương đã
được Uỷ ban thường vụ Quốc hội dự kiến lần thứ hai để lập danh sách sơ
bộ những người ứng cử đại biểu Quốc hội và gửi lấy ý kiến cử tri ở nơi
cư trú; đối với người tự ứng cử thì còn được gửi lấy ý kiến cử tri nơi
người đó làm việc (nếu có).
Biên bản Hội
nghị hiệp thương phải ghi rõ thành phần, số lượng người tham dự, diễn
biến, kết quả của Hội nghị và được gửi ngay đến Uỷ ban thường vụ Quốc
hội, Hội đồng bầu cử và Uỷ ban bầu cử.
Điều 39
1- Hội nghị cử
tri ở xã, phường, thị trấn được tổ chức theo đơn vị thôn, xóm, tổ dân
phố, buôn, bản, ấp nơi cư trú thường xuyên của người ứng cử do Ban
thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn phối hợp với Uỷ
ban nhân dân cùng cấp triệu tập và chủ trì.
Người ứng cử
đại biểu Quốc hội, đại diện cơ quan, tổ chức, đơn vị có người ứng cử
được mời tham dự Hội nghị này.
2- Hội nghị cử
tri ở tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội do
Ban lãnh đạo tổ chức triệu tập và chủ trì; Hội nghị cử tri ở cơ quan nhà
nước do Ban lãnh đạo phối hợp với Ban chấp hành công đoàn cơ quan triệu
tập và chủ trì; Hội nghị cử tri ở đơn vị vũ trang nhân dân là Hội nghị
quân nhân do lãnh đạo, chỉ huy đơn vị triệu tập và chủ trì.
Người ứng cử
đại biểu Quốc hội được mời tham dự Hội nghị này.
3- Tại các hội
nghị quy định tại các khoản 1 và 2 Điều này, cử tri đối chiếu với tiêu
chuẩn đại biểu Quốc hội nhận xét, bày tỏ sự tín nhiệm đối với người ứng
cử đại biểu Quốc hội bằng cách giơ tay hoặc bỏ phiếu kín theo quyết định
của Hội nghị.
Biên bản Hội
nghị cử tri lấy ý kiến về những người do cơ quan, tổ chức, đơn vị ở
trung ương giới thiệu được gửi đến Ban thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam. Biên bản Hội nghị cử tri lấy ý kiến về những
người do cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương giới thiệu và những người
tự ứng cử được gửi đến Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương.
4- Việc tổ chức
Hội nghị cử tri quy định Điều này do Uỷ ban thường vụ Quốc hội phối hợp
với Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn.
Điều 40
Trách nhiệm xác
minh và trả lợi các vụ việc mà cử tri nêu lên đối với người ứng cử được
quy định như sau:
1- Đối với vụ
việc ở nơi công tác thì cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp quản lý người
ứng cử có trách nhiệm xác minh và trả lời bằng văn bản cho Ban thường
trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban thường trực Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Trường hợp
người ứng cử là người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị thì cơ quan cấp
trên trực tiếp có trách nhiệm xác minh và trả lời. Nếu cơ quan, tổ chức,
đơn vị không có cơ quan cấp trên trực tiếp quản lý thì cơ quan có thẩm
quyền ra quyết định thành lập cơ quan, tổ chức, đơn vị đó có trách nhiệm
xác minh và trả lời.
2- Đối với vụ
việc ở khu dân cư thì cơ quan, tổ chức, đơn vị giới thiệu người ứng cử
phối hợp với Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác minh và trả lời
bằng văn bản cho Ban thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam. Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương.
3- Đối với
người tự ứng cử thì Uỷ ban bầu cử phối hợp với cơ quan, tổ chức, đơn vị
trực tiếp quản lý người đó hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi
người đó cư trú xác minh và trả lời bằng văn bản cho Ban thường trực Uỷ
ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
4- Chậm nhất là
bốn mươi ngày trước ngày bầu cử, việc xác minh và trả lời về các vụ việc
mà cử tri nêu lên đối với người ứng cử quy định tại Điều này phải được
tiến hành xong.
Điều 41
Căn cứ vào kết
quả hiệp thương lần thứ hai quy định tại các Điều 37 và 38 của Luật này,
chậm nhất là bốn mươi ngày trước ngày bầu cử Uỷ ban thường vụ Quốc hội
dự kiến lần thứ ba cơ cấu, thành phần, số lượng người của cơ quan, tổ
chức, đơn vị ở Trung ương và địa phương được bầu làm đại biểu Quốc hội.
Điều 42
Hội nghị hiệp
thương lần thứ ba ở Trung ương do Đoàn Chủ tịch Uỷ ban trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức chậm nhất là ba mươi lăm ngày trước ngày
bầu cử; thành phần Hội nghị như quy định tại Điều 30 của Luật này.
Hội nghị hiệp
thương căn cứ vào tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội, cơ cấu, thành phần và số
lượng đại biểu được bầu của các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương đã
được Uỷ ban thường vụ Quốc hội dự kiến lần thứ ba và kết quả lấy ý kiến
cử tri để lựa chọn, lập danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu
Quốc hội.
Biên bản Hội
nghị hiệp thương phải ghi rõ thành phần, số lượng người tham dự, diễn
biến và kết quả của Hội nghị.
Điều 43
Hội nghị Hiệp
thương lần thứ ba ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do Ban thường
trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ
chức chậm nhất là ba mươi lăm ngày trước ngày bầu cử; thành phần Hội
nghị như quy định tại Điều 31 của Luật này.
Hội nghị hiệp
thương căn cứ vào tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội, cơ cấu, thành phần và số
lượng đại biểu được bầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương đã
được Uỷ ban thường vụ Quốc hội dự kiến lần thứ ba và kết quả lấy ý kiến
cử tri để lựa chọn, lập danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu
Quốc hội.
Biên bản Hội
nghị hiệp thương phải ghi rõ thành phần, số lượng người tham dự, diễn
biến và kết quả của Hội nghị.
Điều 44
Chậm nhất là ba
mươi ngày trước ngày bầu cử, Ban thường trực Uỷ ban trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam gửi đến Hội đồng bầu cử biên bản hội nghị hiệp thương
lần thứ ba và danh sách chính thức những người được Đoàn Chủ tịch Uỷ ban
trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc
hội.
Điều 45
Chậm nhất là ba
mươi ngày trước ngày bầu cử, Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gửi đến Uỷ ban bầu cử biên bản Hội
nghị hiệp thương lần thứ ba và danh sách chính thức những người được Uỷ
ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giới thiệu
ứng cử đại biểu Quốc hội.
Điều 46
Căn cứ vào danh
sách chính thức những người ứng cử được Đoàn Chủ tịch Uỷ ban trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu, Hội đồng bầu cử gửi tới các Uỷ ban
bầu cử hữu quan danh sách những người được giới thiệu về ứng cử tại địa
phương.
Hội đồng bầu cử
lập và công bố danh sách những người ứng cử theo từng đơn vị bầu cử
trong cả nước theo danh sách chính thức do Ban thường trực Uỷ ban trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Uỷ ban bầu cử gửi đến chậm nhất là hai
mươi lăm ngày trước ngày bầu cử.
Trong danh sách
những người ứng cử phải ghi rõ họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, quê quán,
nơi thường trú, dân tộc, tôn giáo, trình độ văn hoá, chuyên môn, nghề
nghiệp, chức vụ, nơi làm việc của người ứng cử. Danh sách những người
ứng cử được xếp theo vần chữ cái A, B, C...
Số người trong
danh sách ứng cử ở mỗi đơn vị bầu cử phải nhiều hơn số đại biểu được bầu
ở đơn vị đó.
Người ứng cử
chỉ được ghi tên vào danh sách ứng cử ở một đơn vị bầu cử.
Điều 47
Chậm nhất là
hai mươi ngày trước ngày bầu cử, Ban bầu cử phải niêm yết danh sách
người ứng cử ở địa phương mình theo quyết định của Hội đồng bầu cử.
Điều 48
Người ứng cử
không được làm thành viên Ban bầu cử hoặc Tổ bầu cử ở đơn vị mình ứng
cử. Nếu đã là thành viên của Ban bầu cử hoặc Tổ bầu cử ở đơn vị mình ứng
cử thì người ứng cử phải được rút khỏi danh sách thành viên của tổ chức
phụ trách bầu cử đó kể từ ngày được ghi tên vào danh sách chính thức
những người ứng cử.
Điều 49
1. Kể từ ngày
công bố danh sách những người ứng cử, công dân có quyền khiếu nại, tố
cáo về người ứng cử, khiếu nại, kiến nghị về những sai sót trong việc
lập danh sách những người ứng cử với Ban bầu cử, Uỷ ban bầu cử, Hội đồng
bầu cử. Ban bầu cử, Uỷ ban bầu cử, Hội đồng bầu cử phải ghi vào sổ và
giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị theo thẩm quyền.
Trong trường
hợp người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đồng ý với kết quả giải
quyết của Ban bầu cử, Uỷ ban bầu cử thì có quyền khiếu nại với Hội đồng
bầu cử. Quyết định của Hội đồng bầu cử là quyết định cuối cùng.
2. Trong thời
hạn mười ngày trước ngày bầu cử, Hội đồng bầu cử, Uỷ ban bầu cử, Ban bầu
cử ngưng việc xem xét, giải quyết mọi khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về
người ứng cử và việc lập danh sách những người ứng cử.
Điều 51
Cơ quan Nhà
nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đơn
vị vũ trang nhân dân, cơ quan thông tin báo chí trong phạm vi nhiệm vụ,
quyền hạn của mình có trách nhiệm tuyên truyền về cuộc bầu cử.
Điều 52
Người có tên
trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội có quyền vận động bầu cử thông
qua việc gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri và các phương tiện thông tin đại
chúng để báo cáo với cử tri dự kiến thực hiện trách nhiệm của người đại
biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội.
Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam tổ chức để những người ứng cử gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri
và vận động bầu cử.
Điều 68
Sau khi kiểm
phiếu xong, Tổ bầu cử phải lập biên bản kết quả kiểm phiếu.
Biên bản phải
ghi rõ:
- Tổng số cử
tri của khu vực bỏ phiếu;
- Số cử tri đã
tham gia bỏ phiếu;
- Tỷ lệ cử tri
đã tham gia bỏ phiếu so với tổng số cử tri;
- Số phiếu hợp
lệ;
- Số phiếu
không hợp lệ;
- Số phiếu bầu
cho mỗi người ứng cử;
- Những khiếu
nại nhận được, những khiếu nại đã giải quyết và cách giải quyết, những
khiếu nại chuyển đến Ban bầu cử.
Biên bản được
lập thành 4 bản, có chữ ký của Tổ trưởng, Thư ký và hai cử tri được mời
chứng kiến việc kiểm phiếu. Biên bản được gửi đến Ban bầu cử và Chủ tịch
Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, ban thường trực Uỷ ban mặt trận Tổ
quốc xã, phường, thị trấn chậm nhất là ba ngày sau ngày bầu cử.
Điều 69
Sau khi nhận
được biên bản kết quả kiểm phiếu của các Tổ bầu cử, Ban bầu cử kiểm tra
các biên bản đó và lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử
của mình.
Biên bản phải
ghi rõ:
- Số đại biểu
Quốc hội được ấn định cho đơn vị bầu cử;
- Số người ứng
cử;
- Tổng số cử
tri của đơn vị bầu cử;
- Số cử tri đã
tham gia bỏ phiếu;
- Tỷ lệ cử tri
đã tham gia bỏ phiếu so với tổng số cử tri;
- Số phiếu hợp
lệ;
- Số phiếu
không hợp lệ;
- Số phiếu bầu
cho mỗi người ứng cử;
- Danh sách
những người trúng cử;
- Những khiếu
nại do các Tổ bầu cử đã giải quyết, những khiếu nại do Ban bầu cử giải
quyết, những khiếu nại chuyển đến Uỷ ban bầu cử, Hội đồng bầu cư.
Biên bản được
thành lập thành năm bản, có chữ ký của Trưởng ban, các Phó Trưởng ban và
Thư ký. Biên bản được gửi đến Hội đồng bầu cử, Uỷ ban bầu cử, Thường
trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương chậm nhất là năm ngày sau ngày bầu cử.
Điều 73
Hội đồng bầu cử
tự mình hoặc theo đề nghị của Chính phủ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam, Uỷ ban bầu cử huỷ bỏ kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử có vi
phạm pháp luật nghiêm trọng và quyết định ngày bầu cử lại ở đơn vị bầu
cử đó. Trong cuộc bầu cử lại, cử tri chỉ chọn bầu danh sách những người
đã ứng cử lần đầu.
Điều 75
Sau khi nhận và
kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử của các Ban bầu cử và giải
quyết những khiếu nại (nếu có), Uỷ ban bầu cử lập biên bản xác định kết
quả bầu cử ở địa phương.
Biên bản phải
ghi rõ
- Số lượng đơn
vị bầu cử;
- Số người ứng
cử;
- Tổng số cử
tri của địa phương;
- Số cử tri đã
tham gia bỏ phiếu;
- Tỷ lệ cử tri
đã tham gia bỏ phiếu so với tổng số cử tri;
- Số phiếu hợp
lệ;
- Số phiếu
không hợp lệ;
- Số phiếu bầu
cho mỗi người ứng cử;
- Danh sách
những người trúng cử;
- Những khiếu
nại do Tổ bầu cử, Ban bầu cử đã giải quyết;
- Những khiếu
nại do Uỷ ban bầu cử đã giải quyết;
- Những việc
quan trọng đã xảy ra và cách giải quyết;
- Những khiếu
nại, tố cáo và kiến nghị chuyển lên Hội đồng bầu cử.
Biên bản được
lập thành năm bản, có chữ ký của Chủ tịch, Thư ký Uỷ ban bầu cử. Biên
bản được gửi đến Hội đồng bầu cử, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt
trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chậm nhất là bảy ngày
sau ngày bầu cử.
Điều 76
Sau khi nhận và
kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử của các Ban bầu cử, Uỷ ban bầu
cử và giải quyết các khiếu nại, tố cáo (nếu có), Hội đồng bầu cử lập
biên bản tổng kết cuộc bầu cử trong cả nước.
Biên bản phải
ghi rõ:
- Tổng số đại
biểu Quốc hội được bầu;
- Tổng số người
ứng cử;
- Tổng số cử
tri;
- Tổng số cử
tri đã tham gia bỏ phiếu;
- Tỷ lệ cử tri
đã tham gia bỏ phiếu so với tổng số cử tri;
- Số phiếu hợp
lệ;
- Số phiếu
không hợp lệ;
- Số phiếu bầu
cho mỗi người ứng cử;
- Danh sách
những người trúng cử;
- Những khiếu
nại, tố cáo do Hội đồng bầu cử giải quyết;
- Những việc
quan trọng đã xảy ra và cách giải quyết.
Biên bản được
lập thành năm bản, có chữ ký của Chủ tịch, Tổng thư ký Hội đồng bầu cử.
Biên bản được gửi đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Uỷ ban trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; một bản trình Quốc hội khoá mới và một
bản lưu trữ.
Điều 80
Uỷ ban thường
vụ Quốc hội thành lập Uỷ ban bầu cử bổ sung từ năm đến bẩy người, gồm
Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Tổng thư ký và các uỷ viên là đại diện Uỷ ban
thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, một số cơ quan, tổ chức hữu quan.
Uỷ ban thường
vụ Quốc hội quyết định ngày bầu cử bổ sung và công bố chậm nhất là ba
mươi ngày trước ngày bầu cử.
Điều 82
Chậm nhất là
hai mươi ngày trước ngày bầu cử bổ sung, Thường trực Hội đồng nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương sau khi thống nhất với Uỷ ban nhân
dân và Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp quyết định thành
lập ở dơn vị bầu cử Ban bầu cử bổ sung từ ba đến năm người, gồm Trưởng
ban, Phó Trưởng ban, Thư ký và các uỷ viên là đại diện chính quyền địa
phương và Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc ở địa phương.
Điều 83
Chậm nhất là
mười lăm ngày trước ngày bầu cử bổ sung, Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã,
phường, thị trấn sau khi thống nhất với Uỷ ban nhân dân và Ban thường
trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp quyết định thành lập ở mỗi khu vực
bỏ phiếu Tổ bầu cử bổ sung từ năm đến bảy người, gồm Tổ trưởng, Tổ phó,
Thư ký và các Uỷ viên là đại diện Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc ở địa phương.
Điều 84
Nhiệm vụ và
quyền hạn của Uỷ ban bầu cử bổ sung, Ban bầu cử bổ sung, Tổ bầu cử bổ
sung được áp dụng theo quy định tương ứng về Hội đồng bầu cử, Uỷ ban bầu
cử, Ban bầu cử, Tổ bầu cả; thể thức bỏ phiếu, trình tự bầu cử và xác
định kết quả bầu cử bổ sung được áp dụng theo các quy định tương ứng của
Luật này.
Căn cứ vào
những nguyên tắc của Luật này, Uỷ ban thường vụ Quốc hội phối hợp với
Đoàn Chủ tịch Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quy định về
việc hiệp thương, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội để bầu cử bổ
sung.