Điều lệ Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam
Được thông qua tại Đại hội IV (ngày 17 - 19/8/1994)
Mặt trận Dân tộc thống
nhất Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, được thành lập ngày 18
tháng 11 năm 1930.
Trải qua các thời kỳ
hoạt động với những tên gọi khác nhau, Mặt trận không ngừng phát huy tinh
thần yêu nước, truyền thống đoàn kết dân tộc Việt Nam thành một nhân tố
quyết định thắng lợi của sự nghiệp giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc
và xây dựng đất nước.
Kế tục vai trò lịch sử
của các tổ chức Mặt trận trước đây, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày nay là
liên minh chính trị rộng lớn, là tổ chức liên hiệp tự nguyện của các đoàn
thể nhân dân, các hội quần chúng, các cá nhân tiêu biểu của các giai cấp và
tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước
ngoài, đại biểu cho ý chí và nguyện vọng của các giới đồng bào.
Trong giai đoạn hiện
nay, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trương phát huy truyền thống yêu nước,
lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lực tự cường, đoàn kết mọi người Việt Nam ở
trong và ngoài nước, không phân biệt thành phần xã hội và dân tộc, quá khứ
và ý thức hệ, tôn giáo và tín ngưỡng, miễn là tán thành công cuộc đổi mới,
nhằm mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn
lãnh thổ, phấn đấu sớm thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, tiến lên dân giàu nước
mạnh, xã hội công bằng, văn minh, thực hiện di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
"Xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu
mạnh", góp phần tích cực vào sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và
tiến bộ xã hội trên thế giới.
Vai trò và nhiệm vụ
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã được Hiến pháp năm 1992 quy định tại Điều 9
là: "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận là cơ
sở chính trị của chính quyền nhân dân. Mặt trận phát huy truyền thống đoàn
kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân
dân, tham gia XD và củng cố chính quyền trong nhân dân, cùng Nhà nước chăm
lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện
quyền làm chủ , nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt
động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ viên chức Nhà nước.
Chương I
Thành viên của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam
Điều 1:
Thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp bao gồm Đảng Cộng sản Việt
Nam, các đoàn thể nhân dân, các hội quần chúng; những người tiêu biểu của
các giai cấp và tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam
ởi nước ngoài tán thành thực hiện Điều klệ và Chương trình của Mặt trận Tổ
quốc, tự nguyện xin gia nhập và được Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp trực tiếp
công nhận.
Điều 2:
Nhiệm vụ của thành viên
- Thực hiện Điều lệ và
Chương trình của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; báo cáo kết quả và phản ánh
nguyện vọng của tầng lớp xã hội mà mình có quan hệ với Uỷ ban Mặt trận cùng
cấp.
- Vận động tầng lớp xã
hội mà mình có quan hệ thi hành Hiến pháp và pháp luật, hưởng ứng chủ trương
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
- Đôn đốc hội viên,
đoàn viên của tổ chức mình thực hiện đúng chính sách Đại đoàn kết dân tộc và
tham gia công tác Mặt trận nơi cư trú.
- Đoàn kết, hợp tác,
giúp đỡ những tổ chức và cá nhân chưa gia nhập Mặt trận nhưng có nguyện vọng
phấn đấu vì sự nghiệp độc lập dân tộc, dân giàu , nước mạnh, xã hội công
bằng, văn minh.
Điều 3:
Quyền của thành viên
- Được thảo luận, chất
vấn, phê bình, kiến nghị về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc.
- Được yêu cầu Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc cùng cấp tổ chức hiệp thương để phối hợp hoạt động giữa các
thành viên có liên quan nhằm hưởng ứng sáng kiến của mình về các cuộc vận
động nhân dân thực hiện mục tiêu chung của Mặt trận.
- Được tham gia xây
dựng, giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước. Được yêu
cầu Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình trước pháp
luật.
- Được Ban Thường trực
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc thông báo hoạt động của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng
cấp.
- Được giới thiệu
người để hiệp thương cử vào Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp.
Chương II
Hệ thống tổ chức Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam
Điều 4:
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức theo hệ thống 4 cấp:
-
Trung ương
-
Tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương
-
Huyện, quận, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh;
-
Xã, phường, thị trấn.
Ở mỗi cấp có Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Điều 5:
Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam mỗi cấp là cơ quan chấp hành liên hiệp do Đại hội đại biểu Mặt
trận Tổ quốc từng cấp hiệp thương cử ra.
a/ Thành phần Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc cấp Trung ương; cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
cấp huyện, quận, thị xã thuộc tỉnh gồm:
- Đại biểu các tổ chức
thành viên cùng cấp
- Đại biểu các Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc cấp dưới trực tiếp
- Các cá nhân tiêu
biểu của các giai cấp và tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo, người
Việt Nam định cư ở nước ngoài.
- Một số cán bộ chuyên
trách công tác Mặt trận .
- Một số số chuyên gia
có liên quan đến hoạt động của Mặt trận Tổ quốc.
b/ Thành phần Uỷ ban
cấp xã, phường, thị trấn gồm:
- Đại biểu các tỏ chức
thành viên cùng cấp
- Các cá nhân tiêu
biểu của các giai cấp và tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo.
Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc cấp xã, phường, thị trấn tổ chức mạng lưới Ban hoặc tổ công tác Mặt
trận ở từng thôn, bản , buôn, làn, cụm dân cư nhằm tiếp xúc với từng hộ gia
đình và mọi công dân.
Điều 6:
Số lượng Uỷ viên của
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp nào do Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc cấp đó
thoả thuận theo các thành phần quy định tại Điều 5 của Điều lệ Mặt trận Tổ
quốc và sự hướng dẫn của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp trên trực tiếp.
Điều 7:
Khi một Uỷ viên là đại
biểu của một tổ chức thành viên hoặc đại biểu của Uỷ ban Mặt trận một địa
phương không còn giữ nhiệm vụ trong tổ chức mình nữa thì cũng đương nhiên
hết tư cách đại biểu và đoàn thể hay địa phương đó cử đại biểu mới thay thế.
Giữa hai nhiệm kỳ Đại
hội, khi thấy cần thiết phải mở rộng Mặt trận thì Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
mỗi cấp có quyền bổ sung một số uỷ viên nhưng không vượt quá 1/3 tổng số
thành viên của Uỷ ban Mặt trận đã được Đại hội cử ra.
Điều 8:
Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc mỗi cấp thực hiện chức năng chủ yếu là phối hợp và thống nhất hành động
giữa các thành viên trong Mặt trận Tổ quốc và phối hợp với các cơ quan Nhà
nước cùng cấp để thực hiện các nhiệm vụ;
- Phát huy truyền
thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần
trong nhân dân.
- Tham gia xây dựng và
củng cố chính quyền nhân dân .
- Động viên nhân dân
thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, hưởng
ứng Chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc.
- Tổ chức và động viên
nhân dân giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ
viên chức Nhà nước.
- Xây dựng tình đoàn
kết, hữu nghị, hợp tác giữa nhân dân ta với nhân dân các nước.
Điều 9:
Đại hội đại biểu Mặt
trận Tổ quốc mỗi cấp là cơ quan hiệp thương cao nhất của Mặt trận Tổ quốc
cấp đó.
Thành phần và số lượng
đại biểu dự Đại hội đại biểu Mặt trận toàn quốc do Hội nghị Uỷ ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc thoả thuận. Thành phần và số lượng đại biểu dự Đại hội
đại biểu Mặt trận từ cấp tỉnh, thành, đến xã phường, thị trấn do Hội nghị Uỷ
ban Mặt trận Tổ quốc cấp đó thoả thuận theo hướng dẫn của Uỷ ban Mặt trận
cấp trên trực tiếp.
Đại hội đại biểu Mặt
trận toàn quốc, Đại hội đại biểu Mặt trận cấp tỉnh, thành trực thuộc Trung
ương, Đại hội đại biểu Mặt trận cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc
tỉnh 5 năm họp một lần. Đại hội Mặt trận xã, phường, thị trấn 5 năm họp 2
lần.
Điều 10:
Đại hội Đại biểu Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam có nhiệm vụ:
- Thảo luận và thông
qua báo cáo nhiệm kỳ của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
- Thông qua chương
trình thống nhất hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong nhiệm kỳ mới.
- Bổ sung, sửa đổi
Điều lệ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
- Hiệp thương dân chủ cử ra Uỷ ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Điều 11:
Đại hội đại biểu Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, thành; quận, huyện,; xã, phường, thị trấn do
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp đó triệu tập theo hướng dẫn của Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc cấp trên trực tiếp. Đại hội có nhiệm vụ:
- Thảo luận và thông
qua báo cáo nhiệm kỳ của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp mình.
- Thông qua chương
trình thống nhất hành động của Mặt trận Tổ quốc cấp mình trong nhiệm kỳ mới
; góp ý vào các văn kiện Đại hội Mặt trận Tổ qốc cấp trên (nếu có)
- Hiệp thương dân chủ
cử ra Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc của cấp mình.
Điều 12:
Uỷ ban Trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam thông qua hiệp thương dân chủ cử ra Đoàn chủ tịch.
Đoàn chủ tịch là đại
diện của Uỷ ban Trung ương Mặt trận giữa hai kỳ họp để :
- Quyết định những chủ
trương của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
- Hiệp thương thoả
thuận chương trình, thống nhất hành động giữa các thành viên trong Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam.
- Kiến nghị với Đảng,
Nhà nước những vấn đề về quốc kế, dân sinh; góp ý kiến với Nhà nước về những
dự án luật và pháp lệnh có quan hệ đến quyền và nhĩa vụ công dân.
Đoàn chủ tịch cử ra
Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận gồm Chủ tịch Đoàn chủ tịch, Tổng
thư ký và các uỷ viên thường trực chuyên trách để giúp Đoàn chủ tịch ;
- Chuẩn bị các kỳ họp
của Đoàn chủ tịch và Uỷ ban trung ương; tổ chức thực hiện quyết định kỳ họp
của các kỳ họp ấy.
- Tổ chức, quản lý,
điều hành bộ máy giúp việc cảu Uỷ ban Trung ương; tổ chức và chỉ đạo hoạt
động của các lực lượng tư vấn cho Uỷ ban trung ương.
- Giải quyết công việc
hàng ngày của Đoàn chủ tịch và Uỷ ban Trung ương.
Điều 13:
Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc từ tỉnh đến xã, phường, thị trấn thông qua hiệp thương dân chủ cử ra
Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận cấp mình gồm: Chủ tịch, Phó chủ tịch và Uỷ
viên thường trực để:
- Tổ chức thực hiện
chương trình hành động của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp mình và các chủ
trương công tác của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp trên.
- Chuẩn bị, đưa ra
trình Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc thảo luận để thống nhất những việc cần tham
gia ý kiến hoặc kiến nghị với Đảng và Nhà nước cùng cấp.
- Tổ chức, quản lý,
điều hành bộ máy giúp việc Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc; tổ chức và chỉ đạo hoạt
động của các lực lượng tư vấn cho Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp mình.
- Giải quyết công việc
thường xuyên của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc địa phương.
Điều 14:
Chủ tịch Đoàn chủ tịch
Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc, Chủ tịch và Phó chủ tịch Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc cấp tỉnh đến xã, phường, thị trấn do Uỷ ban Mặt trận cùng cấp hiệp
thương dân chủ cử ra. Nếu không nhất trí được thì bầu bằng phiếu kín; người
trúng cử phải được quá nửa tổng số uỷ viên UBMT của cấp bầu tín nhiệm
Điều 15:
Ban Thường trực Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc các cấp làm việc theo chế độ tập thể bàn bạc và quyết định,
phân công cá nhân phụ trách.
Điều 16:
Toàn thể Uỷ ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam họp thường kỳ ít nhất 1 năm 1 lần; Uỷ ban Mặt
trận Tổ quốc tỉnh thành phố trực thuộc trung ương, huyện và tương đương ít
nhất 6 tháng họp 1 lần; Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã và tương đương ít nhất 3
tháng họp 1 lần.
Chương III
Nguyên tắc làm việc của Mặt trận Tổ
quốc
Điều 17:
Quan hệ giữa các thành
viên trong Mặt trận Tổ quốc theo nguyên tắc:
Điều 18:
Quan hệ giữa Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc các cấp theo nguyên tắc cấp trên hướng dẫn, kiểm tra công
tác cấp dưới; xét và chuẩn y việc cử, bổ sung hoặc thay đổi chức Chủ tịch,
Phó chủ tịch Uỷ ban Mặt trận cấp dưới trực tiếp.
Uỷ ban Mặt trận cấp
dưới thực hiện các chủ trương và chương trình hành động của Uỷ ban Mặt trận
cấp trên, báo cáo tình hình và kết quả công tác và góip ý kiến với Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc cấp trên.
Uỷ ban Mặt trận cùng
cấp được trao đổi kinh nghiệm, phối hợp hoạt động và giúp đỡ nhau trong công
tác.
Điều 19:
Quan hệ giữa Mặt trận
Tổ quốc với các cơ quan Nhà nước là quan hệ phối hợp , bình đẳng, tôn trọng
lẫn nhau, cùng thực hiện các nhiệm vụ chung đúng với trách nhiệm và quyền
hạn theo quy định của Hiến pháp, pháp luật và quy ước giữa hai bên ở từng
cấp.
điều 20:
Trong quan hệ với nhân
dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp cùng các thành viên vận động nhân dân
thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân theo Hiến pháp quy định; chăm lo và bảo
vệ lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân; tìm hiểu yêu cầu, nguyện
vọng của nhân dân để phản ánh và kiến nghị với Đảng và Nhà nước.
Chương IV
Khen thưởng, kỷ luật
Điều 21:
Cá nhân và tổ chức nào
có thành tích trong sự nghiệp Đại đoàn kết Dân tộc thì được Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc khen thưởng
Hình thức khen thưởng
cao nhất của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là huy chương "Vì
sự nghiệp Đại đoàn kết Dân tộc".
Điều 22:
Thành viên nào làm
trái mục đích Chương trình hành động và Điều lệ của Mặt trận thì tuỳ mức độ
sai phạm mà bị khiển trách, cảnh cáo hoặc thôi công nhận là thành viên Mặt
trận.
Chương V
Tài chính của Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc
Điều 23
:
Hoạt động của Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc các cấp dựa vào nguồn tài chính sau:
-
Ngân sách Nhà nước cấp
-
Kinh phí được cấp khi tham gia
cùng cơ quan Nhà nước thực hiện các chương trình, các dự án
-
Lợi tức thu qua kinh doanh đúng
pháp luật của Uỷ ban Mặt trận từng cấp
-
Sự ủng hộ của các tổ chức và cá
nhân ở trong và ngoài nước.
-
Tài chính của Uỷ ban Mặt trận cấp
nào do Uỷ ban Mặt trận cấp ấy quản lý, sử dụng và chịu sự kiểm tra của
Nhà nước theo chế độ, chính sách hiện hành
Chương VI
Sửa đổi điều lệ Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam
Điều 24:
Chỉ có Đại hội Đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mới có quyền sửa
đổi Điều lệ.
Ban Thường trực Uỷ ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các
địa phương và các thành viên thi hành Điều lệ này.