ĐIỀU LỆ MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT
NAM
Được thông qua tại Đại hội III (ngày 2 - 4/11/1988)
Mặt trận Dân tộc thống
nhất Việt Nam được thành lập ngày 18 tháng 11 năm 1930. Trải qua các thời kỳ
hoạt động, với những tên gọi khác nhau, Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam
không ngừng phát huy truyền thống yêu nưpức, đoàn kết và đấu tranh cách mạng
của nhân dân ta, là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của sự
nghiệp giành độc lập dân tộc; thống nhất Tổ quốc và xây dựng xã hội mới.
Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam ngày nay là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn nhất, vừa có tính liên
hiệp rộng rãi, vừa có tính quần chúng sâu sắc. Mặt trận là người đại diện
chung cho quyền làm chủ của nhân dân, là sợi dây nối liền các tầng lớp xã
hội rộng rãi với Đảng Cộng sản Việt Nam, là chỗ dựa vững chắc của Nhà nước.
Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam là khối liên minh rộng rãi và lâu bền của toàn thể nhân dân ta đã trở
thành người chủ đất nước. Mặt trận chủ trường tăng cường sự nhất trí về
chính trị và tinh thần trong xã hội, đoàn kết các giai cấp, các tầng lớp
nhân dân bao gồm công nhân, nông dân, trí thức, những ngời lao động khác, tư
sản dân tộc và tiểu chủ: đoàn kết các dân tộc, các tôn giáo và đồng bào Việt
Nam sống ở nước ngoài , không phân biệt thành phần xã hội , quá khứ và ý
thức hệ, miễn là tán thành Chương trình hành động và Điều lệ của Mặt trận,
cùng nhau phấn đấu vì độc lập, tự do và sự giàu mạnh của đất nước, vì hạnh
phúc của nhân dân, góp phần vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà
bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Mặt trận tham gia cùng
Đảng và Nhà nước xây dựng chính quyền nhân dân giải quyết những vấn đề quan
trọng và cấp bách của đất nước, bảo vệ lợi ích hợp pháp của các tầng lớp
nhân dân và mỗi người dân theo Hiến pháp và pháp luật.
Với tinh thần cơ bản
trên đây, Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bao gồm các chương và điều như
sau:
Chương I
Thành viên của Mặt trận
Điều 1:
Thành viên của Mặt trận bao gồm các tổ chức chính trị-xã hội và mọi người
Việt Nam trong và ngoài nước tán thành Chương trình hành động và Điều lệ của
Mặt trận, tự nguyện phấn đấu vì độc lập, tự do và sự giàu mạnh của đất nước,
vì hạnh phúc của nhân dân, vì hoà bình, đoàn kết và hữu nghị với các dân tộc
trên thế giới.
Điều 2:
Nhiệm vụ của thành viên:
- Chấp hành Điều lệ và
tham gia các hoạt động, các phong trào của Mặt trận nhằm thực hiện Chương
trình hành động của Mặt trận
- Truyên truyền đường
lối, chính sách của Đảng, luật pháp của Nhà nước và chủ trương của Mặt trận.
Điều 3:
Quyền của thành viên:
- Thảo luận, chất vấn,
phê bình, kiến nghị về tổ chức và hoạt động của Mặt trận , tham gia xây dựng
các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước
- Được yêu cầu Uỷ ban
Mặt trận kiến nghị với các tổ chức thành viên có liên quan phối hợp hoạt
động nhằm hưởng ứng các phong trào quần chúng của tổ chức mình.
- Đề cử hoặc được đề
cử và các cơ quan chấp hành của Mặt trận .
- Được yêu cầu Mặt
trận bảo vệ quyền lợi hợp pháp trước pháp luật.
Chương II
Hệ thống tổ chức của Mặt trận
Điều 4:
Hệ thống tổ chức của Mặt trận bao gồm 4 cấp: Trung ương; tỉnh và tương
đương; huyện và tương đương; xã và tương đương. Ở mỗi cấp có Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam
Điều 5:
Thành phần của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp Trung ương, cấp tỉnh và tương
đương, cấp huyện và tương đương, gồm:
- Đại biểu của các tổ
chức thành viên
- Đại biểu của Uỷ ban
Mặt trận các địa phương cấp dưới trực tiếp.
- Một số cán bộ Mặt
trận tại chức, một số chuyên gia hoạt động trong các lĩnh vực chính trị,
kinh tế, văn hoá, xã hội có liên quan đến hoạt động của Mặt trận.
Khi một uỷ viên là đại
biểu của một tổ chức thành viên hoặc đại biểu của Uỷ ban Mặt trận một địa
phương không còn giữ nhiệm vụ trong tổ chức mình nữa thì đoàn thể hay địa
phương đó cử đại biểu khác thay thế.
Khi cần thiết phải mở
rộng hoạt động của Mặt trận giữa hai kỳ Đại hội, Uỷ ban Mặt trận mỗi cấp
được quyền quyết định bổ sung vào Uỷ ban Mặt trận cấp mình một số người tiêu
biểu cho các tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước , một số chuyên gia và
đại biểu của các tổ chức chính trị - xã hội mới thành lập xin gia nhập Mặt
trận, nhưng không vượt quá 1/3 tổng số thành viên của Uỷ ban Mặt trận đã
được Đại hội cử ra
Điều 6:
Uỷ ban Mặt trận mỗi cấp là cơ quan chấp hành do hiệp thương dân chủ qua Đại
hội Mặt trận cấp đó cử ra, có trách nhiệm thống nhất hành động giữacác thành
viên trong Mặt trận và phối hợp với các tổ chức Nhà nước, đoàn kết và động
viên nhân dân.
- Xây dựng và phát
triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng và giám sát hoạt động của các
tổ chức Nhà nước, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
- Đẩy mạnh sản xuất,
thực hành tiết kiệm, xây dựng và thực hiện thắng lợi các chương trình kinh
tế, các chính sách văn hoá, xã hội.
- Củng cố quốc phòng,
giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.
- Bảo vệ hoà bình,
tăng cường tình đoàn kết hữu nghị với nhân dân thế giới, mở rộng quan hệ hợp
tác quốc tế.
Điều 7:
Đại hội đại biểu Mặt trận toàn quốc là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam. Ở địa phương, đại hội đại biểu Mặt trận cấp nào là cơ
quan lãnh đạo cao nhất của Mặt trận cấp ấy. Đại hội đại biểu Mặt trận toàn
quốc, đại hội đại biểu Mặt trận cấp tỉnh và tương đương 5 năm họp một lần.
đại hội đại biểu Mặt trận cấp huyện và tương đương, cấp xã và tương đương 5
năm họp 2 lần. Nhiệm kỳ của Uỷ ban Mặt trận cấp nào theo thời hạn quy định
họp đại hội cấp ấy.
Đại hội đại biểu Mặt
trận toàn quốc quyết định hoặc sửa đổi Chương trình hành động và Điều lệ của
Mặt trận quyết định chủ trương và nhiệm vụ của Mặt trận trong từng thời kỳ;
cử ra Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Đại hội đại biểu Mặt
trận các địa phương căn cứ vào Điều lệ và chương trình hành động của Mặt
trận, vào chủ trương và nhiệm vụ chung của Mặt trận cấp trên, vào tình hình
và nhiệm vụ của địa phương, quyết định các nhiệm vụ công tác của Mặt trận
tại địa phương và cử ra Uỷ ban Mặt trận cảu cấp mình.
Điều 8:
a/ Uỷ ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cử ra Đoàn chủ tịch, Ban thư ký và bầu Chủ tịch,
Phó Chủ tịch.
- Đoàn chủ tịch là đại
diện tập thể của Uỷ ban Trung ương giữa hai kỳ họp, có trách nhiệm bàn bạc,
quyết định các chủ trương và chương trình công tác lớn giữa hai kỳ họp của
Uỷ ban.
- Ban thư ký gồm Tổng
thư ký và Phó Tổng thư ký và các uỷ viên thư ký là tập thể thường trực của
Uỷ ban Trung ương, có trách nhiệm tổ chức thực hiện các nghị quyết của Uỷ
ban trung ương, các chủ trương và kế hoạch công tác của Đoàn chủ tịch và
giải quyết công việc thường xuyên của Uỷ ban trung ương.
- Thành lập các ban
giúp việc cần thiết của Uỷ ban trung ương.
b/ Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc cấp tỉnh và tương đương, cấp huyện và tương đương bầu Chủ tịch, Phó chủ
tịch và cử ra Ban Thường trực gồm Chủ tịch, Phó chủ tịch, Uỷ viên thư ký để
giải quyết công việc thường xuyên của Uỷ ban Mặt trận và triệu tập các cuộc
họp thường kỳ và bất thường của Uỷ ban.
Uỷ ban Mặt trận các
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập các ban giúp việc cần thiết
theo sự hướng dẫn của Uỷ ban Trung ương Mặt trận.
Điều 9:
Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Uỷ ban Mặt trận cấp tỉnh và
tương đương họp 6 tháng một lần.
Uỷ ban Mặt trận cấp
huyện và tương đương, xã và tương đương họp 3 tháng một lần.
Chương III
Tổ chức Mặt trận cơ sở
Điều 10:
Uỷ ban Mặt trận xã, phường, thị trấn là cơ quan chấp hành của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam ở cơ sở. Có trách nhiệm đoàn kết và động viên nhân dân trong
phạm vi hoạt động của mình từng bước thực hiện chế độ tự quản xã hội chủ
nghĩa; xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư và thực hiện những nhiệm vụ ghi ở
Điều 6 ( Chương II)
Thành lập các ban công
tác Mặt trận khu vực(cụm, khóm, đường phố, thôn, xóm ấp, bản, bôn, làng)
trong xã, phường, thị trấn để giúp Uỷ ban Mặt trận xã phường, thị trấn tiếp
xúc rộng rãi với mọi người dân đến tận gia đình.
Điều 11:
Các tổ chức thành viên của Mặt trận có hội viên trong các xí nghiệp, cơ
quan, cửa hàng, trường học, công trường, nông trường, hợp tác xã, v.v... có
trách nhiệm đôn đốc hội viên của mình thực hiện các nhiệm vụ của Mặt trận cơ
sở tại nơi cư trú.
Điều 12:
Thành phần của Uỷ ban Mặt trận xã, phường, thị trấn gồm:
- Đại biểu của các tổ
chức thành viên của Mặt trận xã, phường, thị trấn.
- Những người có khả
năng và điều kiện làm công tác vận động các tầng lớp nhân dân ở khu dân cư.
- Một số cán bộ ở một
số cơ quan, xí nghiệp, hợp tác xã đóng trên địa bàn xã, phường, thị trấn có
liên quan đến hoạt động của Mặt trận, đến đời sống chung của nhân dân.
ở những xã, phường,
thị trấn có nhiều đồng bào dân tộc, tôn giáo, có đông người Hoa, có nhiều
người sản xuất tư nhân và cá thể, cần có đại biểu của các thành phần này
tham gia Uỷ ban Mặt trận.
Uỷ ban Mặt trận xã,
phường, thị trấn bầu Chủ tịch, Phó chủ tịch và cử ra Ban Thường trực gồm Chủ
tịch, Phó chủ tịch, và Uỷ viên thư ký.
Chương IV
Nguyên tắc làm việc của Mặt trận
Điều 13:
Quan hệ giữa các thành viên trong Mặt trận theo các nguyên tắc:
-
Dân chủ, bình đẳng.
-
Hợp tác, thống nhất hành động.
-
Tôn trọng tính độc lập của các
tổ chức thành viên
-
Thân ái phê bình và tự phê
bình
Điều 14:
Quan hệ giữa Uỷ ban Mặt trận các cấp theo các nguyên tắc:
Uỷ ban Mặt trận cấp
trên hướng dẫn kiểm tra công tác của uỷ ban Mặt trận cấp dưới; xét và chuẩn
y việc cử, bổ sung hoặc thay đổi chức Chủ tịch, Phó chủ tịch Uỷ ban Mặt trận
cấp dưới trực tiếp.
Uỷ ban Mặt trận cấp
dưới thực hiện các chủ trương của Uỷ ban Mặt trận cấp trên, báo cáo tình
hình và kết quả công tác với Uỷ ban Mặt trận cấp trên.
Uỷ ban Mặt trận cùng
cấp có thể trao đổi kinh nghiệm, phối hợp hoạt động và giúp đỡ nhau trong
công tác.
Điều 15:
Quan hệ giữa Mặt trận với các cơ quan Nhà nước là quan hệ phối hợp , bình
đẳng, tôn trọng lẫn nhau theo đúng trách nhiệm và quyền hạn đã được quy định
trong Hiến pháp, trong các luật về tổ chức cấc cơ quan Nhà nước và theo quy
ước giữa hai bên ở từng cấp.
điều 16:
Trong quan hệ với nhân dân, Uỷ ban Mặt trận các cấp cùng thành viên thực
hiện có nền nếp việc tiếp xúc với các tầng lớp nhân dân; tuyên truyền, vận
động nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; tìm
hiểu nguyện vọng và tập hợp ý kiến của nhân dân để phản ánh và kiến nghị với
Đảng và Nhà nước những vấn đề cần giải quyết liên quan đến lợi ích của đất
nước và nhân dân
Chương V
Khen thưởng, kỷ luật