UỶ BAN TRUNG ƯONG MTTQVN

 
   hôm nay :   11/07/2008
 

 

 

 

 

ĐẠI HỘI MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM


Đại hội I Đại hội II Đại hội III Đại hội IV Đại hội V Đại hội VI

VĂN KIỆN ĐẠI HỘI II



 

ĐIỀU LỆ MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

 

Được thông qua tại Đại hội II (1983)

 

CHƯƠNG I

PHẦN CHUNG

Hơn nửa thế kỷ qua, được Đảng tiền phong của giai cấp công nhân và Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập và lãnh đạo. Mặt trận dân tộc thống nhất trải qua các thừi kỳ cách mạng khác nhau, đã không ngừng phát huy truyền thống đoàn kết đấu tranh yêu nước của dân tộc, tăng cường sức mạnh vô địch của khối đoàn kết toàn dân, luôn là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất tổ quốc và xây dựng cuộc sống mới.

Ngày nay, cả nước ta cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, kế tục sự nghiệp đoàn kết đấu tranh vẻ vang của các tổ chức Mặt trận trước đây, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thành lập ở Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất toà quốc năm 1977, là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn nhất, tiêu biểu cho khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng trên cơ sở liên minh công nông, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.

Vị trí và chức năng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã được Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định :

"Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - bao gồm các chính đảng,Tổng công đoàn Việt Nam, tổ chức Liên hiệp nông dân tập thể Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam và các thành viên khác của Mặt trận là chỗ dựa vững chắc của Nhà nước.

Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, giáo dục và động viên nhân dân đề cao ý thức làm chủ tập thể, ra sức thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc"

Thực hiện chính sách Đại đoàn kết của Đảng cộng sản Việt Nam và của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trương đoàn kết các tầng lớp nhân dân, bao gồm công nhân, nông dân, trí thức, những người lao động khác, các dân tộc, các tôn giáo, các nhân sĩ, những người Hoa sống trên đất nước Việt Nam và đồng bào ở nước ngoài, không phân biệt già trẻ, gái trai, không phân biệt thành phần xã hội, không phân biệt quá khứ như thế nào, miễn là thực tâm tán thành đường lối chính trị, chương trình hành động và Điều lệ của Mặt trận, cùng nhau phấn đấu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần vào sự nghiệp đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới.

Về tổ chức, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vừa có tính chất liên hiệp rộng rãi, vừa có tính chất quần chúng sâu sắc, vừa tiêu biểu cho khối đại đoàn kết toàn dân, vừa có những hoạt động thiết thực động viên nhân dân tham gia thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị - xã hội ở tường địa phương, từng cơ sở.

Với tinh thần cơ bản trên đây. Điêu lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bao gồm các điều khoản cụ thể như sau:

CHƯƠNG II

THÀNH VIÊN CỦA MẶT TRẬN

Điều 1 - Thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bao gồm các tổ chức chính trị -xã hội và những công dân của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thiết tha với sự nghiệp đoàn kết đấu tranh xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Điều 2 - Nhiệm vụ của thành viên:

-Tôn trọng điều lệ, tuyên truyền các chủ trương, chính sách và các nghị quyết của Mật trận.

- Thực hiện các nhiệm vụ và tham gia đầy đủ các hoạt động của Mặt trận.

Điều 3 - Quyền hạn của thành viên: Mỗi thành viên của Mặt trận, có quyền thảo luận, chất vấn, đề nghị và phê bình công việc của Mặt trận, có quyền đề cử vào cơ quan chấp hành của Mặt trận

CHƯƠNG III

HỆ THỐNG TỔ CHỨC CỦA MẶT TRẬN

Điều 4 - Hệ thống tổ chức Mặt trận bao gồm cấp trung ương, cấp tỉnh, thành phố và đạc khu trực thuộc trung ương, cấp huyện, quận và tương đương, cấp xã phường và tương đương.

Điều 5 - Ở cấp trung ương, cấp tỉnh và tương đương, cấp huyện quận và tương đương, cấp phường, xã và tương đương có Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở mỗi cấp.

Thành phần của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp trung ương, cấp tỉnh và tương đương, cấp huyện quận và tương đương gồm:

-Đại biểu của Ban chấp hành Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam.

-Đại biểu của các tổ chức thành viên khác.

-Đại biểu của Uỷ ban Mặt trận các địa phương cấp dưới trực tiếp.

-Những uỷ viên là cán bộ có uy tín, có kinh nghiệm trong công tác Mặt trận hoặc trong các hoạt động chính trị , kinh tế, văn hoá và xã hội có liên quan đến hoạt động của Mặt trận.

Khi một uỷ viên là đại biểu của một tổ chức thành viên hoạc đai biểu của Uỷ ban Mặt trận một điạ phương không còn giữ nhiệm vụ trong tổ chức của mình nữa thì đoàn thể hay địa phương đó cử đại biểu khác thay thế.

Điều 6 - Uỷ ban Mặt trận mỗi cấp là cơ quan chấp hành do hiệp thương dân chủ qua Đại hội Mặt trận cấp đó cử ra. Dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng Cộng sản Việt Nam, Uỷ ban Mặt trận mỗi cấp có trách nhiệm thực hiện thống nhất hành động giữa các thành viên trong Mặt trận và phối hợp với các cơ quan Nhà nước để đoàn kết và động viên nhân dân thực hiện những nhiệm vụ và công tác như sau:

-Tiến hành công tác giáo dục chính trị và tư tưởng, giúp nhân dân hiểu và tự giác, tự nguyện thực hiện đường lối chính sách của Đảng, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước.

-Động viên và tổ chức nhân dân tham gia xây dựng chế độ làm chủ tập thể hội chủ nghĩa, xây dựng và củng cố chính quyền, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.

-Động viên toàn dân tham gia hăng hái tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân, tăng cường đoàn kết quân dân, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự xã hội.

-Vận động nhân dân thực hiện nếp sống mới, xây dựng gia đình văn hoá mới, con người mới xã hội chủ nghĩa.

-Thường xuyên chăm lo việc đoàn kết các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, đoàn kết các đồng bào tôn giáo, các nhân sĩ, chăm lo công tácvận động phụ lão, bảo vệ bà mẹ, trẻ em và giáo dục thiếu niên, nhi đồng.

-Tập hợp các tầng lớp nhân dân và các hình thức sinh hoạt chính trị, văn hoá xã hội thích hợp; bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Mặt trận các cấp; xây dựng quỹ để bổ sung nguồn tài chính và phương tiện hoạt động ngoài những điều kiện vật chất do chính quyền cung cấp.

-Tham gia đấu tranh gìn giữ hoà bình ở Đông Nam á và thế giới, thực hiện tốt các nhiệm vụ quốc tế.

Điều 7 - Đại hội đại biểu Mặt trận toàn quốc là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ở địa phương Đại hội đại biểu Mặt trận cấp nào là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Mặt trận cấp ấy. Đại hội đại biểu Mặt trận toàn quốc, đại hội đại biểu Mặt trận các tỉnh, thành phố và đặc khu trực thuộc trung ương 5 năm họp 1 lần.

Đại hội đại biểu Mặt trận cấp huyện, quậnvà cấp tương đương 5 năm họp 2 lần theo thời gian cụ thể do Uỷ ban Mặt trận cấp tỉnh, thành phố và đặc khu trực thuộc trung ương hướng dẫn. Đại hội đại biểu mặt trận cấp xã, phường và cấp tương đương 2 năm họp 1lần.

Đại hội đại biểu Mặt trận toàn quốc quyết định hoặc sửa đổi chương trình hành động và Điều lệ của Mặt trận: quyết định chủ trương và nhiệm vụ của Mặt trận trong từng thời kỳ; cử ra uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Đại hội đại biểu Mặt trận các địa phương căn cứ vào chương trình hành động và điều lệ của Mặt trận, vào chủ trương và nhiệm vụ chung của Mặt trận cấp trên căn cứ tình hình thực tế của địa phương, quyết định các nhiệm vụ công tác Mặt trận tại các địa phương và cử ra Uỷ ban Mặt trận của cấp mình.

Điều 8 - Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cử ra:

- Đoàn Chủ tịch gồm Chủ tịch và các uỷ viên Đoàn chủ tịch để bàn bạc, quyết định các công việc của Uỷ ban trung ương giữa hai cuộc họp của Uỷ ban.

-Ban thư ký gồm Tổng thư ký, Phó Tổng thư ký và các uỷ viên thư ký để tổ chức thực hiện cácnghị quyết của Uỷ ban trung ương, các chủ trương và kế hoạch công tác của Đoàn. Chủ tịch và giải quyết công việc thường xuyên của Uỷ ban trung ương

-Thành lập các ban chuyên trách từng mặt công tác quan trọng của Uỷ ban.

Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh và tương đương, cấp huyện, quận và tương đương cử ra Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và cử ra Ban thường trực gồm Chủ tịch hoặc 1 hay 2 phó Chủ tịch và một số uỷ viên thư ký để giải quyết công việc thường xuyên của Uỷ ban Mặt trận và triệu tập các cuộc họp thường kỳ và bất thường của Uỷ ban.

Uỷ ban Mặt trận các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương có thể thành lập các tiểu ban chuyên trách từng mặt công tác quan trọng theo sự hướng dẫn của Uỷ ban trung ương.

Điều 9- Uỷ ban trung ương. Uỷ ban Mặt trận cấp tỉnh, thành phố và đặc khu trực thuộc trung ương, 5 năm cử 1 lần Uỷ ban Mặt trận cấp huyện, quận và cấp tương đương 5 năm cử 2 lần. Uỷ ban Mặt trận cấp xã , phường và cấp tương đương 2 năm cử 1 lần.

Điều 10 - Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Vịêt Nam ít nhất mỗi năm họp một lần.

Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh, thầnh phố và đặc khu trực thuộc trung ương họp ít nhất 6 thấng 1 lần.

Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp huyện, quận và cấp tương đương ít nhất 3 tháng họp 1lần.

Uỷ ban Mặt trận xã, phường và cấp tương đương ít nhất 3 tháng họp 1 lần

CHƯƠNG IV

TỔ CHỨC MẶT TRẬN Ở CƠ SỞ

Điều 11- Là tổ chức cơ sở của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Uỷ ban Mặt trận xã, phường, thị trấn có nhiệm vụ tăng cường đoàn kết nhất trí và động viên nhân dân địa phương phất huy quyền làm chủ tập thể, tích cực thực hiện các nhiệm vụ và công tác của Mặt trận, cùng nhau tạo ra cuộc sống mới ở các khu dân cư.

Tuỳ tình hình cụ thể ở từng địa phương, theo sự hướng dẫn của Uỷ ban Mặt trận cấp tỉnh hoặc thành phố và Uỷ ban cấp huyện, quận, Uỷ ban Mặt trận cấp xã, phường thị trấn có thể áp dụng những hình thức tổ chức linh hoạt để tập hợp, đoàn kết và động viên các tầng lớp nhân dân trong khu vực dân cư.

Điều 12 - Các tổ chức thành viên của Mặt trận có hội viên trong các sí nghiệp,cơ quan, cửa hàng, trường học, công trường, nông trường, hợp tác xã v.v...cần thường xuyên theo dõi, khuyến khích và giúp đỡ hội viên của mình thực hiện các nhiệm vụ của Mặt trận cơ sở tại nơi cư trú.

Điều 13 - Thành phần của Uỷ ban Mặt trận cấp xã, phường và thị trấn gồm

- Đại biểu đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam ở cấp xã, phường và thị trấn.

- Đại biểu các tổ chức thành viên Khác của Mặt trận cấp xã, phường và thị trấn.

- Những uỷ viên là người có uy tín, có khả năng và điều khiển làm công tác vận động quần chúng ở các khu dân cư.

- Những uỷ viên là cán bộ hoạt động trong một số ngành chính quyền cơ sở và một số cơ quan, xí nghiệp đóng ở địa phương có liên quan đến hoạt động của Mặt trận.

Ở những xã, phường và thị trấn có nhều đồng bào dân tộc thiểu số, có đông người Hoa hoặc có nhiều đồng bào tôn giáo, cần có người tiêu biểu trong các dân tộc thiểu số, trong người Hoa hoặc trong đồng bào tôn giáo tham gia Uỷ ban Mặt trận.

Uỷ ban Mặt trận cấp xã, phường cà cấp tương đương cử ra Ban thường trực gồm Chủ tịch, Phó chủ tịch và 1 uỷ viên thư ký để làm việc thường xuyên.

CHƯƠNG V

NGUYÊN TẮC LÀM VIỆC CỦA MẶT TRẬN

Điều 14 - Trong Mặt trận, áp dụng 5 nguyên tắc làm việc như sau:

-Thương lượng: về các vấn đề có quan hệ đến lợi ích chung của nhân dân, các tổ chức thành viên của Mặt trận cùng nhau bàn bạc để hiểu rõ và nhất trí hành động.

-Dân chủ: tất cả thành viên trong Mặt trận đều có quyền phát biểu ý kiến, bày tỏ sáng kiến của mình về các vấn đề ích nước lợi dân.

-Thống nhất hành động: sau khi đã làm chủ bà bạc và quyết định, các tổ chức thành viên và tất cả các hội viên của Mặt trận đều phẩi thóng nhất hành động, thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ và công tác đề ra.

-Tôn trọng tính chất độc lập của các tổ chức: trên cơ sở tôn trọng, thi hành đúng đắn chương trìng hành động. Đièu lệ và các nghị quyết của Mặt trận, các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền giữ tính chất độc lập của tổ chức mình, Mặt trận không can thiệp vào nội bộ của tổ chức thành viên.

Thân ái hợp tác, phê bình và tự phê bình, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ: đây là phương châm sinh hoạt rất quan trọng để các thành viên Mặt trận thân ái giup nhau không ngừng tiến bộ, bảo đảm tăng cường đoàn kết nhất trí trong mặt trận.

Điêu 15 - Quan hệ giữa Uỷ ban Mặt trận các cấp theo các nguyên tắc sau đây:

-Uỷ ban Mặt trận cấp trên theo dõi, thông báo tình hình và hướng dẫn công tác đối với Uỷ ban Mặt trận cấp dưới; xét và chuẩn y việc cử ra, bổ sung hoặc thay đổi chức Chủ tịch và Phó Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận cấp dưới trực tiếp.

-Uỷ ban Mặt trận cấp dướithực hiện các nghị quyết và chủ trương của Uỷ ban Mặt trận cấp trên, báo cáo tình hình và kết quả công tác với Uỷ ban Mặt trận cấp trên.

-Uỷ ban Mặt trận cấp trên cũng có thể trao đổi kinh nghiệm và giúp đỡ nhau trong công tác.

Điều 16 - Quan hệ với các cơ quan Nhà nước:Uỷ ban Mặt trận các cấp xây dựng và thực hiện quan hệ hợp tác chặt chẽ với các cơ quan Nhà nước theo đúng trách nhiệm và quyền hạn đã được quy định trong Hiến pháp vàm trong các luật về tổ chức các cơ quan Nhà nước.

CHƯƠNG VI

KHEN THƯỞNG - KỶ LUẬT

Điều 17 - Những đoàn thể hay cá nhân hội viên nào có nhiều thành tích trong việc xây dựng Mặt trận, trong việc thực hiện các nhiệm vụ cà công tác của Mặt trận thì được Mặt trận khen thưởng hoạc đề nghị chính quyền khên thưởng.

Điều 18 - Những thành viên nào làm mất uy tín của Mặt trận hoặc vi phạm mục đích, chương trình hành động và Điều lệ của Măt trận thì tuỳ lỗi nặng nhẹ mà bị khiển trách, cảnh cáo hoặc khai trừ ra khỏi Mặt trận.

CHƯƠNG VII

SỬA ĐỔI ĐIỀU LỆ

Điều 19 - Chỉ có Đại hội đậi biểu toàn quốc của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mới có quyền sửa đổi Điều lệ này.

Điêu 20 - Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có trách nhiệm giải thích và hướng dẫn cụ thể nhằm giúp đỡ Uỷ ban Mặt trận các cấp thi hành bản Điều lệ này sát với hoàn cảnh của từng địa phương, trong từng thời gian.

 

 

 

      Thông tin khác
       
   

 

 

   
 
English
Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2007 Trang TTĐT - Cơ quan UBTW MTTQ Việt Nam.
Giấy phép số:-BVHTT • Trưởng ban Biên tập: LÊ BÁ TRÌNH • Phó ban Biên tập: NGUYỄN TUẤN ANH
Địa chỉ: 46 Tràng Thi - Hà Nội • ĐT:04-9287401;  Email: ubmttqvn@mattran.org.vn