|
Diễn văn khai mạc
Bài phát biểu của Tổng Bí thư
Bài phát biểu của Thủ tướng
Báo cáo của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
khoá IV
Report English
Báo cáo về
Đại biểu Đại hội
Điều lệ
Statute English
Nghị quyết Đại hội
Diễn văn bế mạc
Báo cáo Về đại
biểu Đại hội lần thứ V
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Do Tổng thư ký Trần Văn Đăng
thay mặt Ban Thường trực
Uỷ ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trình bày
Kính thưa Đoàn Chủ tịch!
Kính thưa các vi đại biểu!
Thực hiện Quyết định của hội nghị Uỷ ban Trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ 6 họp tại Hà Nội từ ngày 2 - 5/2/1999 về việc
triệu tập và phân bổ đại biểu Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ
V, căn cứ số lượng đại biểu đã được quy định, ngày 25 tháng 5 năm 1999
về phân bổ số lượng, thành phần, cơ cấu... đoàn đại biểu đi dự Đại hội
đến 61 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, 29 tổ chức thành viên ở Trung
ương, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và cán bộ chuyên trách ở cấp
Trung ương.
Theo hướng dẫn của Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Thường trực Mặt trận các tỉnh, thành phố, các tổ
chức thành viên đã tiến hành hiệp thương và cử đại biểu của đơn vị
mình gửi về Ban Thường trực đầy đủ, đúng quy định.
Số đại biểu chính thức của Đại hội được cử là 621 vị
(kể cả 3 vị là Uỷ viên danh dự Uỷ bản Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
khóa IV).
I - Cơ cấu về số lượng đại biểu Đại hội đã được cử
như sau:
- 215 vị là đại biểu đương nhiên trong Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam khoá IV.
- 72 vị là đại biểu của các tổ chức thành viên.
- 313 vị là đại biểu của các địa phương. Trong đó có 8
vị đại diện cho thân nhân người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
- 15 vị là người Việt Nam định cư ở nước ngoài gồm: ở
Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Cộng hoà liên bang Nga, Séc, Ba Lan, Austraylia, Lào và
Campuchia (chưa kể 6 vị là đại biểu đương nhiên đã tham gia Uỷ ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khoá IV).
- 6 vị là cán bộ chuyên trách ở cơ quan Uỷ ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
II - Cơ cấu thành phần đại biểu Đại hội gồm có:
- Đại biểu phụ nữ có 181 vị, chiếm 29,1%.
- Đại biểu các dân tộc ít người có 126 vị, chiếm 20,2%.
- Đại biểu các tôn giáo có 74 vị, chiếm 12%.
- Đại biểu các nhà doanh nghiệp có 47 vị, chiếm 7,6%.
- Đại biểu người ngoài Đảng có 274 vị, chiếm 44,1%
- Đại biểu là cán bộ Mặt trận chuyên trách các cấp có 240
vị, chiếm 38,6%.
- Đại biểu có trình độ đại học có 303 vị, chiếm 49%.
- Đại biểu có trình độ trên đại học có 98 vị chiếm 15,8%
Về tuổi đời:
- Đại biểu dưới 40 tuổi có 52 vị bằng 37,4%. Đại biểu trẻ
nhất là 21 tuổi
- Đại biểu từ 41 đến 50 tuổi có 152 vị, chiếm 24,5%.
- Đại biểu từ 51 đến dưới 60 tuổi có 233 vị, chiếm 37,5%.
- Đại biểu từ 61 tuổi trở lên có 184 bị bằng 29,6%. Đại
biểu nhiều tuổi nhất là 93 tuổi.
Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
xin báo cáo với Đoàn chủ tịch, Uỷ ban Trung ương và Đại hội.

Điều lệ Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam
Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam do Đảng cộng sản Việt
Nam và Chủ tịch Hồ Chí minh sáng lập, lãnh đạo, được thành lập ngày
18/11/1930.
Trải qua các thời kỳ hoạt động với những tên gọi khác nhau,
Mặt trận không ngừng phát huy tinh thần yêu nước, truyền thống đoàn kết dân
tộc Việt Nam - một nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp giành độc
lập dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Kế tục vai trò lịch sử của Mặt trận Dân tộc thống nhất
Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày nay là tổ chức liên minh chính trị,
liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội,
các tổ chức xã hội, các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp
xã hội, các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trương phát huy truyền thống yêu nước, lòng
tự hào dân tộc, ý chí tự lực tự cường, đoàn kết mọi người Việt
Nam ở trong và ngoài nước, không phân biệt thành phần xã hội và dân tộc,
quá khứ và ý thức hệ, tôn giáo và tín ngưỡng, miễn là tán thành công
cuộc đổi mới, nhằm mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất, chủ quyền quốc
gia và toàn vẹn lãnh thổ, phấn đấu sớm thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, tiến
lên dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, thực hiện di chúc của
Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất,
độc lập, dân chủ và giàu mạnh", góp phần tích cực vào sự nghiệp hoà
bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.
Vị trí, vai trò và nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam đã được Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quy định tại Điều 1 và Điều
2: "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là bộ phận của hệ thống chính trị của
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh
đạo, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí,
nguyện vọng, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ
của nhân dân, nơi hiệp thương, phối hợp và thống nhất hành động của các
thành viên. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có nhiệm vụ tập hợp, xây dựng khối
đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần
trong nhân dân; tuyên truyền, động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ,
thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nghiêm chỉnh thi
hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước,
đại biểu dân cử và cán bộ, công chức nhà nước; tập hợp ý kiến, kiến
nghị của nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng và Nhà nước; tham gia
xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân; cùng Nhà nước chăm lo, bảo vệ
quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân; tham gia phát triển tình hữu
nghị, hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trong khu vực và
trên thế giới".
Chương I
Thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Điều 1 :
Thành viên
Thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp bao gồm tổ
chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội và
các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các
dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Việc gia nhập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thực hiện
trên cơ sở tự nguyện, tán thành Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, được
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp xem xét công nhận.
Điều 2: Nghĩa vụ của thành viên
1. Thực hiện Điều lệ và Chương trình Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam; tập hợp và phản ánh ý kiến, kiến nghị của nhân dân và thông báo
kết quả thực hiện chương trình thống nhất hành động với Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc cùng cấp.
2. Tuyên truyền, vận động nhân dân thi hành Hiến pháp và
pháp luật, thực hiện chương trình Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
3. Đôn đốc các thành viên của tổ chức mình thực hiện
đúng chính sách đại đoàn kết dân tộc và tham gia công tác Mặt trận ở nơi
cư trú.
4. Đoàn kết, hợp tác, giúp đỡ những tổ chức, cá nhân chưa
gia nhập Mặt trận nhưng có tinh thần hưởng ứng, ủng hộ, thực hiện chương
trình của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Điều 3:
Quyền của thành viên
1. Thảo luận, chất vấn, phê bình, kiến nghị về tổ chức và
hoạt động của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc.
2. Yêu cầu Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp tổ chức hiệp
thương để phối hợp hoạt động giữa các thành viên có liên quan, nhằm
hưởng ứng sáng kiến của mình về các cuộc vận động nhân dân thực hiện chương
trình của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
3. Tham gia xây dựng chính sách, pháp luật của Nhà nước.
4. Yêu cầu Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc bảo vệ quyền lợi chính
đáng của mình.
5. Được nhận thông tin về hoạt động của Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc cùng cấp.
6. Giới thiệu người để hiệp thương cử vào Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc các cấp.
Điều 4: Quan hệ giữa các thành viên
Quan hệ giữa các thành viên trong Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam là hợp tác bình đẳng, đoàn kết chân thành, tôn trọng lẫn nhau
để cùng thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh
quốc phòng, đối ngoại của Nhà nước và các chương trình của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam.
Chương II
Tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Điều 5:
Nguyên tắc tổ chức và hoạt động
Tổ chức, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được
thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống
nhất hành động.
Khi phối hợp và thống nhất hành động, các thành viên của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tuân theo Điều lệ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
đồng thời vẫn giữ tính độc lập của tổ chức mình.
Điều 6: Hệ thống tổ chức
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được tổ chức theo cấp hành
chính:
- Trung ương;
- Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ( gọi chung là
cấp tỉnh);
- Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung
là cấp huyện);
- Xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã).
ở mỗi cấp có Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam. Dưới cấp xã có Ban công tác Mặt trận ở cộng đồng dân cư.
Điều 7: Đại hội
1. Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mỗi cấp là
cơ quan hiệp thương cao nhất của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp đó, 5 năm
họp một lần.
2. Cơ cấu thành phần, số lượng đại biểu dự Đại hội đại
biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc do hội nghị Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam hiệp thương thoả thuận. Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam có nhiệm vụ:
a) Thảo luận và thông qua báo cáo nhiệm kỳ của Uỷ ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
b) Thông qua chương trình thống nhất hành động của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam nhiệm kỳ mới;
c) Sửa đổi, bổ sung Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
d) Hiệp thương dân chủ cử ra Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam.
3. Cơ cấu thành phần, số lượng đại biểu dự Đại hội đại
biểu Mặt trận Tổ quốc các cấp ở địa phương do Hội nghị Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc cấp đó thoả thuận theo hướng dẫn của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp
trên trực tiếp. Đại hội Mặt trận Tổ quốc cấp nào, do Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc cấp đó triệu tập, có nhiệm vụ:
a) Thảo luận và thông qua báo cáo nhiệm kỳ của Uỷ ban Mặt
trận Tổ quốc cấp mình;
b) Thông qua Chương trình thống nhất hành động của Mặt trận
Tổ quốc cấp mình nhiệm kỳ mới;
c) Góp ý kiến vào các văn kiện của Đại hội Mặt trận Tổ
quốc cấp trên (nếu có);
d) Hiệp thương dân chủ cử ra Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc của
cấp mình.
Điều 8: Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
1. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở mỗi cấp là cơ quan
chấp hành của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp.
2. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc mỗi cấp có trách nhiệm tổ chức
thực hiện chương trình của Mặt trận Tổ quốc do Đại hội đại biểu cùng cấp
đề ra và những nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
3. Số lượng uỷ viên Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp nào, do
Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc cấp đó thoả thuận theo cơ cấu
thành phần quy định tại Điều 9 Điều lệ này và hướng dẫn của
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp trên trực tiếp.
4. Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc ở mỗi cấp đương nhiên
không còn tư cách uỷ viên trong những trường hợp sau đây:
- Không còn là đại diện của tổ chức thành viên cấp ấy;
- Không còn là đại diện của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp
dưới;
- Cán bộ Mặt trận chuyên trách nghỉ hưu hoặc chuyển công
tác khác.
Việc cử người thay thế do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp đó
quyết định.
Giữa hai nhiệm kỳ Đại hội, khi cần thiết mở rộng Uỷ ban Mặt
trận Tổ quốc, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc mỗi cấp có quyền cử bổ sung một số
uỷ viên, nhưng không vượt quá 1/3 tổng số uỷ viên Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
đã được Đại hội cử ra.
Điều 9: Cơ cấu thành phần Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
các cấp
1. Cơ cấu thành phần Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp trung
ương, cấp tỉnh, cấp huyện gồm:
a) Người đứng đầu các tổ chức thành viên;
b) Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp dưới trực
tiếp;
c) Một số cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp,
các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam định cư ở
nước ngoài;
d) Một số cán bộ chuyên trách công tác Mặt trận;
e) Một số chuyên gia ở những lĩnh vực có liên quan đến hoạt
động của Mặt trận Tổ quốc.
2. Cơ cấu thành phần Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã
gồm:
a) Người đứng đầu các tổ chức thành viên cùng cấp;
b) Một số Trưởng ban công tác Mặt trận;
c) Một số cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp,
các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo, thân nhân người Việt Nam
định cư ở nước ngoài.
3. Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam họp thường
kỳ ít nhất một năm một lần. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh, cấp huyện,
họp thường kỳ ít nhất 6 tháng một lần. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã,
họp thường kỳ ít nhất 3 tháng một lần.
4. Hội nghị thường kỳ Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp có
nhiệm vụ:
a) Thảo luận về tình hình và kết quả phối hợp thực hiện
chương trình hành động thời gian qua, quyết định chương trình hành động
của Mặt trận Tổ quốc thời gian tới;
b) Tham gia ý kiến vào các văn kiện Đại hội Mặt trận Tổ
quốc cùng cấp hoặc cấp trên ( nếu có);
c) Hiệp thương về tổ chức và nhân sự thuộc thẩm quyền của
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc ( nếu có);
d) Thảo luận, quyết định những vấn đề khác do Ban thường
trực đưa ra thuộc thẩm quyền của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc.
Điều 10: Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam
1. Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương do Uỷ ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiệp thương dân chủ cử trong số uỷ viên
Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
2. Đoàn Chủ tịch là đại diện của Uỷ ban Trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam giữa hai kỳ họp, có nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Quyết định những chủ trương, công tác để thực hiện
chương trình hành động và nghị quyết của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam do Ban thường trực trình;
b) Góp ý, kiến nghị với Đảng về chủ trương,
đường lối chính sách khi có yêu cầu. Góp ý kiến với Nhà nước về chính
sách, pháp luật;
c) Xem xét, quyết định việc cử, cho thôi uỷ viên Ban
thường trực theo đề nghị của Ban Thường trực và báo cáo với Uỷ ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc tại kỳ họp gần nhất.
3. Đoàn Chủ tịch họp thường lệ ít nhất 6 tháng một lần.
Điều 11: Ban thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam
1. Ban thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam do Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiệp thương dân chủ cử
trong số Uỷ viên Đoàn Chủ tịch chuyên trách, gồm: Chủ tịch, Tổng thư ký
và các Uỷ viên Ban thường trực.
2. Ban thường trực Uỷ ban Trung ương là đại diện của Uỷ
ban Trung ương và Đoàn Chủ tịch giữa hai kỳ họp có nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Chuẩn bị các kỳ họp của Đoàn Chủ tịch và Uỷ ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
b) Tổ chức thực hiện chương trình hành động của Uỷ ban
Trung ương, những quyết định của Đoàn Chủ tịch; chủ trương, chính sách
của Đảng, pháp luật của Nhà nước có liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn
của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
c) Hướng dẫn hoạt động của Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh;
d) Xem xét, công nhận việc cử, bổ sung hoặc thay đổi Chủ
tịch, phó Chủ tịch, Uỷ viên Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp
tỉnh;
đ) Tổ chức, quản lý, điều hành bộ máy giúp việc
ở cơ quan Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
e) Giữ mối liên hệ và phối hợp công tác với cơ quan Nhà
nước, tổ chức thành viên;
f) Hướng dẫn, tạo điều kiện cho hoạt động của các Hội
đồng tư vấn, cộng tác viên của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
.
3. Ban thường trực họp thường lệ mỗi tháng ít nhất một
lần.
Điều 12: Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp ở
địa phương
1. Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh, cấp
huyện do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp hiệp thương dân chủ cử trong
số Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc chuyên trách ở cấp đó, gồm
Chủ tịch, phó Chủ tịch, Uỷ viên Ban thường trực.
Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã do Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc cấp đó hiệp thương dân chủ cử trong số uỷ viên Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc cấp xã gồm chủ tịch, phó chủ tịch và uỷ viên thường
trực.
2. Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc mỗi cấp ở
địa phương là đại diện của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp đó giữa hai kỳ
họp, có nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Chuẩn bị các kỳ họp của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc;
b) Tổ chức thực hiện chương trình hành động của Uỷ ban Mặt
trận Tổ quốc cấp mình và các chủ trương công tác của Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc cấp trên; chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước;
nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định của Uỷ ban nhân dân có liên
quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của Mặt trận Tổ quốc;
c) Hướng dẫn, kiểm tra hoạt động của Ban thường
trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp dưới trực tiếp;
d) Xét, công nhận việc cử, bổ sung, hoặc thay đổi chức danh
Chủ tịch, phó Chủ tịch, Uỷ viên Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
cấp dưới trực tiếp;
đ) Tổ chức quản lý, điều hành bộ máy giúp việc ở cơ quan
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp mình.;
e) Giữ mối liên hệ và phối hợp công tác với cơ quan Nhà
nước, các tổ chức thành viên;
f) Hướng dẫn, tạo điều kiện cho hoạt động của các Hội
đồng tư vấn, cộng tác viên của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp mình.
Đối với Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã
thì không thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn nêu ở điểm c, điểm d, điểm
đ trong điều này.
3. Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp ở
địa phương họp thường lệ mỗi tháng ít nhất hai lần.
Điều 13: Việc cử các chức danh của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam
Việc cử các chức danh của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam các cấp theo khoản 1 Điều 11, khoản 1 Điều 12 của Điều lệ này. Nếu
không nhất trí được thì bầu bằng phiếu kín; người trúng cử phải được
quá nửa tổng số uỷ viên Uỷ ban Mặt trận của cấp bầu tín nhiệm.
Điều 14: Chế độ làm việc của Ban thường trực
Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp làm việc
theo chế độ tập thể bàn bạc và quyết định, phân công cá nhân phụ trách.
Điều 15: Tổ chức và cán bộ cơ quan Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
1. Căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam được quy định tại Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các văn
bản pháp luật liên quan, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sau khi
thống nhất với cơ quan có thẩm quyền, quy định về tổ chức và cán bộ của
cơ quan Uỷ ban Trung ương, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh, cấp huyện; tổ
chức và cán bộ của Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã.
2. Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có trách
nhiệm bồi dưỡng, nâng cao năng lực, phẩm chất cán bộ chuyên trách của cơ
quan Uỷ ban trung ương và cơ quan Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh.
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức
việc bồi dưỡng, nâng cao năng lực, phẩm chất cán bộ chuyên trách của Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc cấp mình và cấp huyện.
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp huyện có trách nhiệm tổ chức
việc bồi dưỡng nghiệp vụ công tác Mặt trận cho cán bộ chuyên trách cấp
mình, cán bộ Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã, Ban công tác
Mặt trận.
3. Khi có sự thay đổi Chủ tịch, phó Chủ tịch, uỷ viên Ban
thường trực Uỷ ban Mặt trận tổ quốc cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã giữa nhiệm
kỳ, Ban thường trực cấp đó phải báo cáo Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc cấp trên trực tiếp. Việc cử, bổ sung, công nhận chức danh đó tiến
hành theo quy định tại Điều 11, 12, 13, Điều lệ này.
Điều 16: Ban công tác Mặt trận
1. Ban công tác Mặt trận được tổ chức ở thôn, làng, ấp,
bản, khu phố, cộng đồng dân cư khác ở cơ sở, do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
xã, phường, thị trấn ra quyết định thành lập.
2. Ban công tác Mặt trận có chức năng phối hợp và thống
nhất hành động giữa các thành viên; phối hợp với Trưởng thôn (làng, ấp,
bản...) để thực hiện nhiệm vụ:
- Trực tiếp vận động nhân dân thực hiện các chủ trương,
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; nghị quyết của Hội đồng
nhân dân, quyết định của Uỷ ban nhân dân; chương trình hành động của Mặt
trận Tổ quốc các cấp;
-Động viên nhân dân giám sát hoạt động của cơ quan Nhà
nước, đại biểu dân cử, cán bộ công chức nhà nước;
- Phối hợp với Trưởng thôn thực hiện quy chế dân chủ và
hoạt động tự quản ở cộng đồng dân cư.
Điều 17: Hội đồng tư vấn, cộng tác viên
1. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp thành lập các Hội đồng
tư vấn, mở rộng cộng tác viên ở cấp mình, giúp Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn.
2. Hội đồng tư vấn là tổ chức không chuyên trách, gồm: Uỷ
viên Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, chuyên gia ở một số lĩnh vực có liên quan
đến hoạt động của Mặt trận Tổ quốc.
3. Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc hướng dẫn, tạo
điều kiện cho hoạt động của các Hội đồng tư vấn, cộng tác viên.
Chương III
Quan hệ giữa Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp.
Quan hệ giữa Uỷ ban Mặt trận tổ quốc với cơ quan Nhà nước,
với nhân dân
Điều 18: Quan hệ giữa Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp
1. Quan hệ giữa Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp trên
với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp dưới là quan hệ hướng dẫn, giúp
đỡ, kiểm tra.
2. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp dưới thực hiện chủ trương,
chương trình hành động của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp trên; thực hiện
chế độ báo cáo với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp trên; kiến nghị
với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp trên về các vấn đề liên quan đến hoạt
động của Mặt trận Tổ quốc.
3. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp trao đổi kinh
nghiệm, phối hợp và giúp đỡ nhau trong hoạt động.
Điều 19: Quan hệ giữa Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
với cơ quan Nhà nước
1. Quan hệ giữa Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc với cơ quan Nhà
nước là quan hệ phối hợp để thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định
của Hiến pháp và pháp luật.
2. Quan hệ phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Nhà
nước được thực hiện theo quy chế phối hợp công tác do Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và cơ quan Nhà nước hữu quan ở từng cấp ban hành.
Điều 20: Quan hệ giữa Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc với nhân dân
Trong quan hệ với nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, các
thành viên của Mặt trận Tổ quốc các cấp động viên nhân dân phát huy quyền
làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nghiêm
chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà
nước, đại biểu dân cử và cán bộ công chức nhà nước; tập hợp ý kiến,
kiến nghị của nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng và Nhà nước;
chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân
Chương IV
Khen thưởng - kỷ luật
Điều 21: Khen thưởng
Cá nhân, tổ chức có thành tích xuất sắc trong sự
nghiệp đại đoàn kết dân tộc thì được khen thưởng.
Hình thức khen thưởng cao nhất của Uỷ ban Trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam là huy chương " Vì sự nghiệp Đại đoàn kết dân
tộc".
Điều 22: Kỷ luật
Thành viên làm trái những quy định của Điều lệ Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam thì tuỳ mức độ sai phạm mà bị khiển trách, cảnh cáo
hoặc thôi công nhận là thành viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Chương V
Kinh phí hoạt động, tài sản của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
Điều 23: Kinh phí hoạt động
Nguồn kinh phí hoạt động của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
các cấp bao gồm:
- Kinh phí hoạt động do Ngân sách nhà nước cấp;
- Kinh phí được cấp khi thực hiện chương trình, dự án của
Nhà nước;
- Thu nhập từ hoạt động kinh doanh theo pháp luật;
- Tổ chức, cá nhân ở trong nước và nước ngoài ủng hộ;
Kinh phí của Uỷ ban Mặt trận tổ quốc cấp nào do Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc cấp đó quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật.
Điều 24: Tài sản
Tài sản của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp bao gồm:
a) Tài sản Nhà nước giao;
b) Tài sản do tổ chức, cá nhân trong nước hoặc nước ngoài
tặng cho.
Việc nhận, quản lý, sử dụng tài sản đó theo quy định của
pháp luật.
Chương VI
Điều khoản thi hành
Điều 25:
Hiệu lực thi hành
Điều lệ này có hiệc lực từ ngày Đại hội Đại biểu toàn
quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ Vthông qua.
Những quy định trước đây trái với Điều lệ này đều bãi
bỏ.
Điều 26: Sửa đổi Điều lệ
Chỉ có Đại hội Đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam mới có quyền sửa đổi Điều lệ.
Điều 27: Hướng dẫn thi hành
Ban thường trực Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
hướng dẫn thi hành Điều lệ này.
Điều lệ này đã được Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam lần thứ V họp tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 26 đến ngày 28 / 8
/1999 nhất trí thông qua.
Chủ
tịch Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Phạm Thế Duyệt
(Đã ký)

Statute of the VietNam
Fatherland Front
Contents
Chapter I : Members of The Vietnam Fatherland front
chapter II : organization and activities of the Vietnam Fatherland Front
Chapter III: The relationship among the committee of the Fatherland Front at all
echelons, the relationship between the committee of the Fatherland front and state?;s
bodies, and the population
Chapter IV : Award - punishment
Chapter V: Financial resource, property of the committee of the
Fatherland Front
Chapter VI: Implementation provisions
statute
of the vietnam Fatherland Front
-- a --
The Vietnam National United Front which was led and established by the
Communist Party of Vietnam and President Ho Chi Minh, was founded on November 18,1930.
Through various stages of operating under different names, the Front
has constantly raised the spirit of patriotism, the tradition of Vietnam national unity
which is a decisive factor for success in the cause for national independence, unity,
construction and defence of the country.
Continuing the historical role of The Vietnam National United Front,
the present Vietnam Fatherland Front is a political alliance organization, a voluntary
federation of the political organizations, social-political organizations, social
organizations, and oustanding individuals representating various social classes and
strata, ethnic groups, religions and overseas Vietnamese. The Vietnam Fatherland Front, a
venue whereby to advocate the bringing into play the patriotic tradition, national pride,
the sense of self-reliance, unity of all Vietnamese at home and abroad, irrespective to
their social standing and nationality, their past and ideology, their religion and belief,
provided that who approve the cause of renewal in order to strengthen the national
independence, unity, sovereignty and territorial integrity, and soon strive for the
eradication of poverty and backwardness , going forward to be a prosperous people, a
strong country and a just and civilized society for the realization of President Ho Chi
Minh's Testament :
" To build a country of Vietnam which is peaceful, unified,
independent, democratic and rich enough".
Thus contributing positively to the cause of peace, national
independence, democracy and social progress in the world.
The Vietnam Fatherland Front's standing, its role and task were defined
in Article 1, and Article 2 of the Law of the Vietnam Fatherland Front :
" The Vietnam Fatherland Front is a part of the political system
of the Socialist Republic of Vietnam under the leadership of the Communist Party of
Vietnam, a venue whereby to be a political basis of the people's Administration, whereby
to reflect the people's will, aspirations, to gather the block of the great national unity
, to bring into play the people's right to be their own master, whereby to have
consultation, coordination and unity of action of its member organizations. The task of
the Vietnam Fatherland Front is to gather and build the block of the great national unity,
to strengthen the unanimity of the spirit and the politics among people; to propagandize
and encourage the people to bring into play their right to be their own masters, to
realize the lines and advocacy and policies of the Party, strictly to execute the
Constitution and Laws, to supervise the activities of the State bodies, elected deputies
and State officers and functionaries; to collect people's opinions and their
recommendations, to reflect and propose to the Party and the State; to participate in the
building and enforcement of the people's Administration; together with the State to take
care of and protect the people's legitimate interests; to take part in the development of
relationship, co-operation between the Vietnamese and people in the regions and in the
world".
Chapter I
Members of The Vietnam Fatherland front
Article1:
Members of the Vietnam Fatherland Front at all echelons include the
political organizations, social-political organizations, social organizations, and
outstanding individuals representating various social classes and strata, ethnic groups,
religions and oversea Vietnamese.
Membership of the Vietnam Fatherland Front shall be voluntary,
unanimity to whom acquire the agreement of the Statute of the Vietnam Fatherland Front,
and have been accepted and approved made by the Committee of the Vietnam Fatherland Front
at the same echelon.
Article 2
: Task of the members:
The tasks of the member shall include:
1/ Realise the Statute and Program of the Vietnam Fatherland Front,
collect and reflect the people's opinions and their recommendations and making report on
the results of its implementation of the action united program to the Committee of the
Vietnam Fatherland Front at the same echelon.
2/ Persuade and stimulate the population in execution of the
Constitution and laws and implementation of the Vietnam Fatherland Front's Program.
3/ Encourage member - organizations for a correct implementation of the
policy of great national unity and participation in the Front's work at their local areas.
4/ Unite, co-operate and assist organizations and individuals who have
not yet joined the Front but wish to support the Vietnam Fatherland Front's Program.
Article 3
: Member's right
The right of members shall include :
1/ Discuss, request, criticise and make proposal on the organization
and activities of the Committee of the Fatherland Front.
2/ Request the Committee of the Fatherland Front of the same echelon to
hold consultative meetings in order to co-ordinate its activities with concerned member
organizations to aim at responding to its initiative on mobilizing people to realize the
Vietnam Fatherland Front?;s Program.
3/ Participate in making the State policies and laws.
4/ Request the Committee of the Vietnam Fatherland Front to protect its
legitimate interest
5/ Get informations on its activities issued by the Committee of the
Fatherland Front of the same echelon.
6/ Nominate candidates to the consultations for the election of the
Committee of the Fatherland Front of all echelons.
Article 4
: Relationship among members
The relationship among members in the Vietnam Fatherland Front is based
on equal cooperation, sincere solidarity, mutual respect in order to implement the tasks
of the State's politics, economy, culture, society, defense security, external affairs and
of the Vietnam Fatherland Front's Programs.
chapter II
organization and activities of
the Vietnam Fatherland Front
Article 5 : The principle of the organization and
its activities
The Vietnam Fatherland Front's organizations and its activities shall
be based on voluntary, democratic consultation, co-ordination and unity of action.
In co-ordination and unity of action, the members of the Vietnam
Fatherland Front shall execute the Statute of the Vietnam Fatherland Front; at the same
time the independence of their organization shall still be maintained.
Article 6
: System of the organization
The Vietnam Fatherland Front shall be organized on the administrative
echelons at:
(hereinafter refer to as "Provinces" )
(hereinafter refer to as " Districts")
(hereinafter refer to as " Communes")
There is a Committee of the Vietnam Fatherland Front at each echelon.
Under the commune echelon, there is a Mission of the Front working in
the residential communities.
Article 7
: Congress
1/ The Congress of Representatives (CoR) of the Fatherland Front at
each echelon shall be the highest consultative organ of the Fatherland Front at that
echelon, and shall be held once every 5 years.
2/ The composition, number of delegates to the CoR of the Vietnam
Fatherland Front shall be agreed upon by consultation by the conference of the Central
Committee of the Vietnam Fatherland Front. The National Congress of the Vietnam Fatherland
Front has the following functions to:
a/ Discuss and adopte the report in term of the Central Committee of
the Vietnam Fatherland Front;
b/ Approve the program of united action of the Vietnam Fatherland Front
in its new tenure;
c/ Amend, supplement the Statute of the Vietnam Fatherland Front;
d/ Hold the democratic consultative meetings to select the Central
Committee of the Vietnam Fatherland Front.
3/ The composition and number of delegates to the Congress of the
Fatherland Front at local echelons shall be agreed upon by the conference of the Committee
of the Fatherland Front at its echelon under the guidance of the Committee of the
Fatherland Front at immediate higher echelon. The Congress of the Fatherland Front at each
echelon, shall be held by the Committee of Fatherland Front at its echelon which has the
function to:
a/ Discuss and approve the report in term of the Committee of the
Fatherland Front at its echelon.
b/ Adopt the program of united action of the Fatherland Front at its
echelon in its new tenure;
c/ Change, compliment Articles of Association of the Fatherland Front
at the immediate higher echelon ( if necessary);
d/ Conduct the democratic consultative meetings to select the Committee
of the Fatherland Front at its echelon.
Article 8
: The Committee of Vietnam fatherland Front
1/ The Committee of the Vietnam Fatherland Front at each echelon shall
be an executive body between two tenures of the Congresses of the Vietnam Fatherland Front
at the same echelon.
2/ The Committee of the Vietnam Fatherland Front at each echelon shall
acquire the responsibility for the organization and realization of the Vietnam Fatherland
Front's Program made by the Congress at the same echelon and the tasks of the Vietnam
Fatherland Front.
3/ The number of members of the Committee of the Fatherland Front at
each echelon shall be agreed upon by the Congress of the Fatherland Front at that echelon
according to the composition defined in Article 9 of this Statute and the guidance of the
Committee of the Fatherland Front of the immediate higher echelon.
4/ A member is naturally no more a member of the Committee of the
Fatherland Front at each echelon in the following cases :
-
No more a representative of member organization at its echelon;
-
No more a representative of the Committee of the Fatherland Front at the lower echelon
-
A cadre who retired or adopted other work.
The replacement of him/her shall be decided by the Committee of the
Fatherland Front at his/her echelon.
During the tenure of Congress, if it is necessary to enlarge the
Fatherland Front, the Committee of the Fatherland Front at each echelon shall have the
right to supplement some members but this supplementation must not be exceeded one third
of total membership of the Committee of the Fatherland Front appointed by the Congress.
Article 9:
Composition of the Committee of the Vietnam
Fatherland Front at all echelons :
1/ The composition of the Committee of the Vietnam Fatherland Front at
central, provincial, district echelons includes :
a/ The Head of the member organization;
b/ President of the Committee of Fatherland Front at the immediate
lower echelon;
c/ Some of the representative individuals of all classes, social
strata, nationalities, religions and overseas Vietnamese;
d/ Some of the special cadres and responsible for the Fatherland
Front's work and its activities;
e/ Some of the specialists in the fields associated to the Fatherland
Front's activities;
2/ The composition of the Committee of the Fatherland Front at the
commune/ hamlets echelon includes:
a/ The Head of the member organization of the same echelon;
b/ Some of the Leaders of the Committees of the Front's work;
c/ Some of the representative individuals of all classes, social
strata, ethnic groups, religions and overseas Vietnamese;
3/ The regular meeting of the Central Committee of the Fatherland Front
shall be convened at least once a year. The regular meeting of the Committee of the
Fatherland Front at the provincial, district echelon shall be convened at least once every
six months. The regular meeting of the Committee of the Fatherland Front at commune and
equivalent echelon, shall be convened at least once every three months.
4/ The regular Congress of the Committee of the Fatherland Front at all
echelons shall have its tasks to:
a/ Discuss the situation and the results from the coordination of
implementing the recent program of action, and to decide the coming program of action of
the Vietnam Fatherland Front;
b/ Contribute its ideas and suggestions in the Congress?;s
documents of the Fatherland Front at the same echelon or at the higher echelon ( if
necessary);
c/ Hold consultative meetings with Committees about its organization
and membership based on to the authority of each Committee of the Fatherland Front( if
necessary)
d/ Discuss and decide other issues based on the authority
of the Committee of the Fatherland Front and as submitted by its by its
Permanent Bureau.
Article 10
: The Presidium of the Central Committee of the
Vietnam Fatherland Front
1/ By democratic consultation, the members of the Presidium of the
Central Committee of the Vietnam Fatherland Front are selected among the members of the
Central Committee of the Fatherland Front.
2/ The Presidium who shall be the representative of the Central
Committee of the Vietnam Fatherland Front between its two meetings, shall have the
following tasks and obligations to :
a/ Make decision on policy, activities so as to realize the program of
actions and resolutions of the Central Committee of the Vietnam Fatherland Front submitted
by its Permanent Bureau;
b/ Make suggestions, recommendations which is on the direction, lines
of policy, to submit to the Party and State. Make its suggestions, recommendations on
policies and laws to the State;
c/ Review, decide to assign and/o relinquish members of the Permanent
Bureau, and shall be based on proposal of its Permanent Bureau and make report to the
Central Committee of the Fatherland Front at the coming meeting.
3/ The regular meeting of the Presidium of the Central Committee shall
be convened at least once every 6 months.
Article 11: The Permanent Bureau of the Central Committee of
the Vietnam Fatherland Front
1/ The members of the Permanent Bureau of the Central Committee of the
Vietnam Fatherland Front with its members are selected among members of the Presidium, the
Central Committee of the Vietnam Fatherland Front through the democratic consultation will
appoint : President, General Secretary and the Permanent Bureau members. The Permanent
Bureau consists of memebers who carry out day by day tasks/ responsibilies.
2/ The Permanent Bureau of the Central Committee who consists of
representatives of the Central Committee and the Presidium between the two consultative
meetings of the Congress, shall have its tasks and obligations to :
a/ Make preparation for the sessions of the Presidium and assist the
Presidium to prepare the sessions of the Central Committee of the Fatherland Front;
b/ Organize to realize the program of actions of the Central Committee,
the determinations of the Presidium; in line with the Party's direction and policy, the
State's laws all of which are associated to the tasks, obligations of the Committee of the
Vietnam Fatherland Front;
c/ Give guidance, supervision to the activities of the Permanent Bureau
of the Committee of Fatherland Front at provincial echelon;
d/ Review, adopti appointment, replacement of President, Vice-
President, Permanent Bureau members of the Committee of Fatherland Front at provincial
echelon;
e/ Organize, manage the assisted apparatus in the Central Committee of
the Vietnam Fatherland Front;
f/ Improve the relationship and the co-ordination with the State's
bodies and member organizations;
g/ Guiding and creating favorable conditions for organizations to give
consulting, advising activities to the Central Committee of the Vietnam Fatherland Front.
3/ The regular meeting of the Permanent Bureau of Central Committee of
the Vietnam Fatherland Front shall be convened at least once every month.
Article 12 :The Permanent Bureau of the Committee of the
Fatherland Front at local echelons
1/ The member of the Permanent Bureaus of the Committee of the
Fatherland Front at provincial and district echelons are selected among the members of the
Committee of the Fatherland Front at the same echelons through democratic consultations
including: Chairpersons, Vice-Chairpersons, Permanent Bureau members. The Permanent Bureau
consists of designated responsibility officials.
The members of the Permanent Bureau of the Committee of the Fatherland
Front at hamlets/villages echelon are selected among members of the Committee of the
fatherland Front at hamlets/ villages echelon through democratic consultation including
Chairpersons, Vice-Chairpersons and Permanent Bureau members.
2/ The Permanent Bureau at each local echelon is the representative of
the Committee of the Fatherland Front at this echelon between two meetings of the
Congress, and shall have its tasks and obligations to :
a/ Make preparation for the meeting of the Committee of the Fatherland
Front;
b/ Realise / implement the program of actions of the Committee of the
Fatherland Front at its echelon and the program of action of the higher echelon; advocate
the policy of the Party, the State's laws; the resolutions of the people's Council, the
decisions of the people's Committee, which are associated to the tasks, obligations of the
Committee of the Vietnam Fatherland Front;
c/ Guiding, supervising the activities of the Permanent Bureau of the
Committee of the Fatherland Front at the immediate lower echelon;
d/ Review, approve of appointment, replacement of Chairperson, Vice-
Chairperson, Permanent Bureau members of the Committee of Fatherland Front at the
immediate lower echelon;
e/ Organise, manage and operate the administrative apparatus of the
Committee of the Fatherland Front at its echelon;
f/ Liaise and coordinate activities with with the State's bodies and
member organizations;
g/ Make guidance and create favorable conditions for the activities of
the advisory organizations, collaborators of the Committee of the Fatherland Front at its
echelon.
With regard to the Permanent Bureau of the Committee of the Fatherland
Front at commune, its task, obligation at clauses c, d , f of this Article shall not be
executed
3/ The regular meeting of the Permanent Bureau of the Committee of the
Fatherland Front at local echelons shal be convened at least twice every month.
Article 13: Appointment of office holders of the Committee of
the Vietnam Fatherland Front
The appoitment of the officers of the Committee of the Vietnam
Fatherland Front at all echelons shall be based on clause 1 Article 11, clause 1 Article
12 of this Statute. In the case of absence of unanimity, the appoitment shall be made by
secret vote; the elected person must receive the approval of more than half of the
membership of the Committee of the Fatherland Front at the echelon.
Article 14: Working regulations of the Permanent Bureau
The working regulations of the Permanent Bureau of the Committee of the
Fatherland Front at all echelons shall be based on collective discussion, determination,
assignment for individual accountability.
Article 15: Organization and cadres of the Committee of the
Fatherland Front
1/ On the basis of the function, task, obligation of the Vietnam
Fatherland Front which is defined in the Law of the Vietnam Fatherland Front, in the
associated legislation, and after having unanimity with authorized institutions, The
Central Committee of the Vietnam Fatherland Front shall have its regulation to the
organization and cadre in the office of the Central Committee of the Vietnam Fatherland
Front, in the offices the Committee of the Fatherland Front at provincial and district
echelons; the organizations and personel of the Permanent Bureau of the Committee of the
Fatherland Front at village/hamlet echelons.
2/ The Central Committee of the Vietnam Fatherland Front shall have its
responsibility to foster, improve the capabilities and integrity of the specialised and
responsible cadres of the Central Committee of Vietnam Fatherland Front and the Committee
of the Fatherland Front at provincial echelon.
The Committee of the Fatherland Front at provincial echelon shall have
the responsibility to organize and improve the capabilities and integrity of the
specialised and responsible cadres of the Committee of the Fatherland Front at its echelon
and at district echelon.
The Committee of the Fatherland Front at district echelon shall have
its responsibility to organize, improve the capabilities and integrity of the specialised
and responsible cadres of the Committee of the Fatherland Front at its echelon, members of
the Permanent Bureau of the Committee of the Fatherland Front at commune echelon and the
Mission of the Front's work.
3/ When the replacement of the President, Vice-President, members of
the Permanent Bureau of the Committee of the Fatherland Front at provincial, and district
echelon take place, the Permanent Bureau at its echelon should make the report to the
Permanent Bureau of the Committee of the Fatherland Front at immediate higher echelon. The
appointment, supplementation, acceptance of that office shall be carried out in accordance
with paragraph 1 Article 11 and paragraph 1 Article 12 of this Statute.
Article 16: Committee of actions (CoA) of the Front's work
1/ The CoA of the Front's work is organized at villages, wards,
hamlets, districts, other local communities, by the decision of establishment of the
Committee of the Fatherland Front at village, wards, township.
2/ The CoA of the Front acquire the function of coordination and unity
of actions among the members; of coordination with the Head of villages so as to realize
the tasks :
-
To directly mobilize the population in carrying out the Party's direction, policy, the
State's laws; the resolution of the people's Council, the decision of the people's
Committee and the program of actions of the Fatherland Front at all echelons;
-
To encourage the population to participate in the supervision of the activities of the
State's institutes, elected deputies, State?;s cadres and functionaries;
-
To coordinate the implementation of the democratic regulations and the people's self -
management of their activities at the local communities.
Article 17: Advisory Organization, collaborators
1/ The Committee of the Fatherland Front at all echelons could set up
its advisory organizations, enlarge the network of collaborators at its echelons, assist
the Committee of the Fatherland Front to realize its functions, tasks, obligations.
2/ The advisory organization is non-specialized, and includes : the
members of the Committee of the Fatherland Front and experts in some fields associated to
the activities of the Fatherland Front.
3/ The Permanent Bureau of the Committee of the Fatherland Front at
each echelon has guidance to create favourable conditions to the activities of the
advisory organization and collaborators at its echelon.
Chapter IiI
The relationship among the committee of the Fatherland Front at all
echelons,
the relationship between the committee of the Fatherland front and
state's bodies, and the population
Article 18
: Relationship among the Committee of the Fatherland
Front at all echelons
1/ The relationship between the Committee of the Vietnam Fatherland
Front at higher echelon and the Committee of the Vietnam Fatherland Front at lower echelon
is a guidance and supervision relationship.
2/ The Committee of the Fatherland Front at lower echelon executes the
policy, the program of action of the Committee of the Vietnam Fatherland Front at higher
echelon; implement the regulation concerning reporting to the Committee of the Vietnam
Fatherland Front at higher echelon; make its recommendation to the Committee of the
Fatherland Front at higher echelon on the issues associated to the activities of the
Fatherland Front.
3/ The Committee of the Fatherland Front at all echelons exchange their
experiences, cooperation and assist one another in their activities.
Article 19: Relationship between the Committee of the Vietnam
Fatherland Front and State's
Institutions
1/ The relationship between the Committee of the Vietnam Fatherland
Front and State's institutions is on the basis of coordination so as to realize the tasks
and the obligations regulated in the Constitution and laws.
2/ The relationship between the Committee of the Vietnam Fatherland
Front and State's institutions is on the basis of coordinating activities issued by the
Committee of the Fatherland Front and related State's institutions at each echelon.
Article 20: Relationship between the Committee of the
Fatherland Front and Population
In the relationship with the population, the Committee of the Vietnam
Fatherland Front, members of the Fatherland Front at all echelons mobilize the population
to bring into play their right to be their own masters, carry out the Party's lines,
direction, policies, execute strictly the Constitution and laws, supervise the activities
of the State?;s institutions, elected deputies and State's cadres and functionaries;
collect opinion and recommendations to reflect to the Party and the State; take care of
and protect the people's legitimate interests.
Chapter IV
Award - punishment
Article 21: Award
Any individual or organization who make excellent achievements in the
cause of Great National Unity would be commended.
The highest distinction awarded by the Central Committee of the Vietnam
Fatherland Front is the medal " For the Cause of Great National Unity".
Article 22
: Punishment
Any member who acts counter to the regulations of this Statute of the
Vietnam Fatherland Front shall, depending on his/her offence, be blamed, served warning or
be expelled from the member of the Vietnam Fatherland Front.
Chapter V
Financial resource, property of the committee of the Fatherland Front
Article 23: Financial resource
The financial resource of the Committee of the Fatherland Front at all
echelons includes:
-
Budget allocated by the State;
-
Financial resources gained from participation in the implementation of programs and
projects;
-
Incomes obtained by the lawful business operations;
-
Aid from organization and individuals at home and abroad;
Article 24: Property
The property of the Committee of the Fatherland Front at all echelons
includes:
a/ Property assigned by the State;
b/ Property donated by organization and individuals at home and abroad;
The acceptance, management, utilization of those property shall be
based on rules and regulation of the laws.
Chapter Vi
Implementation provisions
Article 25 : Implementation
This Statute shall be of full force and effect as of the date of the
approval of the Vth Congress of the Vietnam Fatherland Front.
All previous provisions which are inconsistent with this Statute are
hereby repealed.
Article 26 : Amendment of the Statute
The amendment of the Statute shall only be implemented by the Congress
of the Vietnam Fatherland Front.
Article 27: Implementation entrustment
The implementation emtrustment of this Statute shall be entitled by the
Permanent Bureau of the Central Committee of the Vietnam Fatherland Front.
This Statute was passed by the Vth Congress of the Vietnam Fatherland
Front in Hanoi from 26-28/8/1999.
The Presidium of the Central Committee of the Vietnam Fatherland Front

Nghị quyết
của Đại hội
Đại biểu toàn quốc lần thứ V Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã họp
từ ngày 26 đến ngày 28 tháng 8 năm 1999 tại Hà Nội.
Đại hội đã thảo luận và nhất trí:
-
Thông qua Báo cáo của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khoá IV,
Chương trình thống nhất hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhiệm kỳ V
(1999-2004): "Phát huy tinh thần yêu nước, sức mạnh đại đoàn kết toàn
dân, tăng cường Mặt trận dân tộc thống nhất; đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa".
-
Thông qua Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (sửa đổi).
Đại hội giao cho Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam khoá V tiếp thu ý kiến của đại biểu Đại hội, hoàn chỉnh
và công bố các văn kiện Đại hội.
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, các thành viên
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tích cực tổ chức thực hiện thành công chương
trình hành động do Đại hội đề ra.
Đại hội kêu gọi đồng bào và chiến sỹ cả nước, đồng bào
Việt Nam ở nước ngoài phấn đấu thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chung của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam do Đại hội đại bieẻu toàn quốc lần thứ V Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam đề ra.
Đại hội
Đại biểu
toàn quốc lần thứ V
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Diễn văn bế mạc
(Do Chủ tịch Đoàn Chủ tịch
Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam Phạm Thế
Duyệt trình bày)
Kính thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước
Thưa đoàn Chủ tịch Đại hội
Thưa các vị đại biểu, các đồng chí và các bạn
Qua ba ngày làm việc với tinh thần dân chủ, cởi mở, đoàn
kết, đổi mới và trách nhiệm cao, hôm nay chúng ta đã hoàn thành chương
trình Đại hội
Đại hội đã thảo luận và thông qua các văn kiện quan trọng:
- Báo cáo của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
khoá IV trình Đại hội về "Phát huy tinh thần yêu nước, sức mạnh đại
đoàn kết toàn dân, tăng cường Mặt trận Dân tộc thống nhất; đẩy mạnh công
nghiệp hoá - hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa" và chương trình hành động cảu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhiệm
kỳ V( 1999-2004).
Báo cáo sửa đổi Điều lệ và Điều lệ Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam.
Kết quả nổi bật nhất, rõ nét nhất của Đại hội là sự nhất
trí rất cao về tất cả những vấn đề đặt ra trong Đại hội nhằm tiếp tục
phát huy truyền thống yêu nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng
cường và mở rộng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về tổ chức và hoạt động thực
tiễn, đưa sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc lên tầm cao mới, chiều sâu mới.
Kết quả đó là sản phẩm trí tuệ, với công sức đóng góp
của các tầng lớp nhân dân với tư cách cá nhân hoặc thông qua tổ chức đại
diện của mình, quá trình chuẩn bị chu đáo và công phu; đó là sự vận dụng
sáng tạo đường lối công tác Mặt trận của Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh
về đại đoàn kết dân tộc và Mặt trận Dân tộc thống nhất trong giai đoạn
"đẩy mạnh Công nghiệp hoá - hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
xã hội chủ nghĩa"
Đại hội đã hiệp thương cử ra Uỷ ban Trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam khoá Vgồm những vị tiêu biểu, đại diện cho khối đại đoàn
kết toàn dân, có khả năng đảm nhiệm những trọng trách mà Đại hội và nhân
dân giao phó, thể hiện tính liên tục, tính kế thừa và từng bước đổi mới
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Với những kết quả đó. Đại hội chúng ta có thể báo cáo
với đồng bào chiến sĩ cả nước và đồng bào ta định cư ở nước ngoaì là
Đại hội đại biểu tòn quốc lần thứ V Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã thành
công tốt đẹp.
Đại hội chúng ta đánh giá cao và chân thành cảm ơn sự
đóng góp to lớn của các vị lão thành trong công tác Mặt trận Tổ quốc, các
vị uỷ viên Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khoá IV với nhiệt
tình và trách nhiệm cao trước nhân dân và đất nước, các vị đã nêu tấm
gương sáng về tinh thần tận tuỵ phục vụ nhân dân , chăm lo vun đắp cho sự
nghiệp đại đoàn kết dân tộc "Trường xuân, bất lão". Rất mong các
vị tiếp tục góp phần cùng nhân dân cả nước phấn đấu thực hiện thắng lợi
các mục tiêu, nhiệm vụ và chương trình hành động mà đại hội Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam lần thứ V đề ra.
Thưa các vị đại biểu,
Tại Đại hội, đồng chí Tổng bí thư Lê Khả Phiêu thay mặt
Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam đã có bài phát biểu rất
quan trọng, thể hiện một cách sáng tỏ đường lối đúng đắn và sáng tạo
của Đảng về khối đại đoàn kết toàn dân, về tiếp tục phát huy vai trò và
nhiệm vụ lịch sử của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Bài phát biểu của đồng chí Tổng bí thư là tiếng nói xuất
phát từ tình cảm sâu sắc, chân thành và từ những bài học quý giá của
những người cộng sản về mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng cộng sản
Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện với nhân
dân Việt Nam trong gần 70 năm qua. Sự gắn bó giữa Đảng và dân, sự lãnh đạo
đúng đắn của Đảng là điều kiện rất quan trọng để củng cố khối đại
đoàn kết các tầng lớp nhân dân. Đó chính là một trong những nguyên nhân
cực kỳ quan trọng làm nên những thắng lợi liên tiếp của cách mạng Việt Nam
kể từ khi có Đảng.
Đại hội chúng ta tin tưởng rằng: với tinh thần nghiêm túc,
tráhc nhiệm cao và sự chuẩn bị tốt việc tự phê bình và phê bình của tập
thể và cá nhân các đồng chí lãnh đạo của Đảng, từ Trung ương đến các
tỉnh, thành phố và cơ sở; được nhân dân ủng hộ và đóng góp ý kiến
thẳng thắn, nhất định cuộc vận động "xây dựng, chỉnh đốn
Đảng"sẽ đạt được kết quả, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và
sức chiến đấu của các tổ chức Đảng, vươn lên ngang tầm đòi hỏi hiện nay
của dân tộc, để mãi mãi Đảng ta xứng đáng là đọi quan tiên phong của giai
cấp công nhân, là lực lượng lãnh đạo của Nhà nước và xã hội Việt Nam
Chúng ta hứa là sau Đại hội, Uỷ ban Mặt trận các cấp sẽ
triển khai sâu rộng các quyết định của Đại hội và những ý kiến chỉ đạo
của đồng chí Tổng bí thư Lê Khả Phiêu và vận động các tầng lớp nhân dân
thực hiện thắng lợi những giải pháp kinh tế ?; xã hội mà đồng chí Thủ
tướng Chính phủ đề ra.
Đại hội chúng ta tin tưởng Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung
ương Đảng và Chính phủ sẽ tiếp tục có những quyết định cần thiết để
cấp uỷ Đảng, chính quyền và Mặt trận các cấp triển khai thực hiện những
điều đã được nêu trong bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Lê Khả
Phiêu và đồng chí Thủ tướng Phan Văn Khải.
Thưa các vị đại biểu
Tại Đại hội này, Đàon chủ tịch Đại hội đã nhậ được
nhiều tham luận của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cá tỉnh, thành phố, các tổ chức
thành viên và các đại biểu trong và ngoài nước về dự Đại hội, đây là
những tài liệu rất quý và bổ ích.
Một số bản tham luận đã được trình bày tại Đại hội
không chỉ phản ánh đúng thực trạng công tác Mặt trận ở các cấp, các địa
phương và tình hình các tầng lớp nhân dân trong khối đại đoàn kết dân
tộc mà quan trọng hơn là các tham luận đều đã thể hiện tính tổng kết từ
thực tiễn sinh động để đề xuất kiến nghị giải pháp cụ thể của Mặt trận
Tổ quốc nhằm góp phần cùng Đảng và Nhà nước khắc phục những khó khăn của
đất nước về những vấn đề quốc kế dân sinh và sự hoạt động có hiệu quả
của Mặt trận trong giai đoạn mới.
Do thời gian không cho phép nhiều tham luận không có điều
kiện trình bày tại Đại hội. Đoàn Chủ tịch Đại hội đề nghị sau Đại hội
này, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhiệm kỳ V
sớm tập hợp phân loại những vấn đề nêu trong các tham luận để tổng hợp và
phổ biến những kinh nghiệm quý báu đó cho các điạ phương, các tổ chức
thành viên để vận dụng và giải quyết những kiến nghị theo phạm vi và quyền
hạn, chưc năng và nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc, đồng thời tổng hợp đầy
đủ những kiến nghị quan trọng của Đại hội để chuyển tới Trung ương Đảng,
Chính phủ, Quốc hội.
Thưa các vị đại biểu
Đại hội chúng ta chân thành cảm ơn sự quan tâm của các
đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đối với công tác Mặt trận; sự phối
hợp thống nhất hành động có hiệu quả giữa Chính phủ và Uỷ ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thời gian qua. Cảm ơn các bộ, ban, ngành ở
Trung ương; lãnh đạo Đảng, chính quyền các cấp, các vị lão thành cách
mạng, các tầng lớp nhân dân từ khắp các vùng, miền; các tôn giáo, các dân
tộc và chiến sĩ cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài đã quan tâm đến công
tác Mặt trận và vun đắp cho khối đại đoàn kết toàn dân và đã đóng góp
nhiều ý kiến quý báu góp phần vào sự thành công của Đại hội.
Đại hội chân thành cảm ơn sự có mặt và những lời phát
biểu thể hiện tình cảm cao đẹp của các đại biểu quốc tế, các đoàn ngoại
giao đã giành cho nhân dân Việt Nam và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; cảm ơn
các vị đại diện cho các hội người Việt Nam ở nước ngoài đã mang về cho
đại hội những tình cảm yêu nước thiết tha của đồng bào đang sống xa Tổ
quốc, luôn luôn ủng hộ sự nghiệp đổi mới có những đóng góp thiết thực cho
đất nước.
Đại hội hoan nghênh và cảm ơn các cơ quan thông tấn báo
chí phát thanh và truyền hình trong và ngoài nước đã tham dự và đưa tin
kịp thời về Đại hội; nhiệt liệt biểu dương và cảm ơn anh chị em cán bộ
chuyên viên, các chiến sĩ, công nhân viên ngày đêm làm việc tích cực, khẩn
trương góp phần vào sự thành công của Đại hội.
Thưa các vị đại biểu
Đại hội V Mặt trận Tổ quốc Việt Nam kết thúc đúng vào dịp
đồng bào và chiến sĩ cả nước đang tưng bừng chuẩn bị kỷ niệm lần thứ 54
Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, kỷ niệm 30 năm thực hiện di chúc của
Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước chào
mừng những ngày kỷ niệm lớn của đất nước năm 2000, phấn đấu hoàn thành
các mục tiêu do Đại hội VIII đề ra và chào đón Đại hội IX của Đảng Cộng
sản Việt Nam với những quyết sách đúng đắn đưa đất nước ta vững bước
tiến vào thiên niên kỷ mới.
Chặng đường trước mắt tuy còn nhiều khó khăn, thách thức
nhưng cũng có nhiều thuận lợi mới, cơ hội mới.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh,
chúng ta nguyện không ngừng tăng cường hơn nữa khối đại đoàn kết toàn
dân, góp phần phát huy mạnh mẽ nội lực của đất nước, đoàn kết và tranh
thủ sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế để biến những thành công của Đại hội
thành hiện thực trong cuộc sống.
Với tinh thần đó, tôi tuyên bố bế mạc Đại hội
Xin kính chúc các vị đại biểu dồi dào sức khoẻ, gia đình
hạnh phúc
Xin cảm ơn!

|