VĂN KIỆN ĐẠI HỘI IV



Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Được thông qua tại Đại hội IV (ngày 17 - 19/8/1994)

 

Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, được thành lập ngày 18 tháng 11 năm 1930.

Trải qua các thời kỳ hoạt động với những tên gọi khác nhau, Mặt trận không ngừng phát huy tinh thần yêu nước, truyền thống đoàn kết dân tộc Việt Nam thành một nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc và xây dựng đất nước.

Kế tục vai trò lịch sử của các tổ chức Mặt trận trước đây, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày nay là liên minh chính trị rộng lớn, là tổ chức liên hiệp tự nguyện của các đoàn thể nhân dân, các hội quần chúng, các cá nhân tiêu biểu của các giai cấp và tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, đại biểu cho ý chí và nguyện vọng của các giới đồng bào.

Trong giai đoạn hiện nay, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trương phát huy truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lực tự cường, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, không phân biệt thành phần xã hội và dân tộc, quá khứ và ý thức hệ, tôn giáo và tín ngưỡng, miễn là tán thành công cuộc đổi mới, nhằm mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, phấn đấu sớm thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, tiến lên dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, thực hiện di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh", góp phần tích cực vào sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

Vai trò và nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã được Hiến pháp năm 1992 quy định tại Điều 9 là: "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia XD và củng cố chính quyền trong nhân dân, cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ , nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ viên chức Nhà nước.

 

Chương I

Thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

 

Điều 1: Thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp bao gồm Đảng Cộng sản Việt Nam, các đoàn thể nhân dân, các hội quần chúng; những người tiêu biểu của các giai cấp và tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam ởi nước ngoài tán thành thực hiện Điều klệ và Chương trình của Mặt trận Tổ quốc, tự nguyện xin gia nhập và được Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp trực tiếp công nhận.

Điều 2: Nhiệm vụ của thành viên

- Thực hiện Điều lệ và Chương trình của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; báo cáo kết quả và phản ánh nguyện vọng của tầng lớp xã hội mà mình có quan hệ với Uỷ ban Mặt trận cùng cấp.

- Vận động tầng lớp xã hội mà mình có quan hệ thi hành Hiến pháp và pháp luật, hưởng ứng chủ trương của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

- Đôn đốc hội viên, đoàn viên của tổ chức mình thực hiện đúng chính sách Đại đoàn kết dân tộc và tham gia công tác Mặt trận nơi cư trú.

- Đoàn kết, hợp tác, giúp đỡ những tổ chức và cá nhân chưa gia nhập Mặt trận nhưng có nguyện vọng phấn đấu vì sự nghiệp độc lập dân tộc, dân giàu , nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.

Điều 3: Quyền của thành viên

- Được thảo luận, chất vấn, phê bình, kiến nghị về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc.

- Được yêu cầu Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp tổ chức hiệp thương để phối hợp hoạt động giữa các thành viên có liên quan nhằm hưởng ứng sáng kiến của mình về các cuộc vận động nhân dân thực hiện mục tiêu chung của Mặt trận.

- Được tham gia xây dựng, giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước. Được yêu cầu Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình trước pháp luật.

- Được Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc thông báo hoạt động của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp.

- Được giới thiệu người để hiệp thương cử vào Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp.

 

Chương II

Hệ thống tổ chức Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

 

Điều 4: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức theo hệ thống 4 cấp:

    • Trung ương

    • Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

    • Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;

    • Xã, phường, thị trấn.

Ở mỗi cấp có Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Điều 5:

Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mỗi cấp là cơ quan chấp hành liên hiệp do Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc từng cấp hiệp thương cử ra.

a/ Thành phần Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp Trung ương; cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; cấp huyện, quận, thị xã thuộc tỉnh gồm:

- Đại biểu các tổ chức thành viên cùng cấp

- Đại biểu các Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp dưới trực tiếp

- Các cá nhân tiêu biểu của các giai cấp và tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

- Một số cán bộ chuyên trách công tác Mặt trận .

- Một số số chuyên gia có liên quan đến hoạt động của Mặt trận Tổ quốc.

b/ Thành phần Uỷ ban cấp xã, phường, thị trấn gồm:

- Đại biểu các tỏ chức thành viên cùng cấp

- Các cá nhân tiêu biểu của các giai cấp và tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo.

Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã, phường, thị trấn tổ chức mạng lưới Ban hoặc tổ công tác Mặt trận ở từng thôn, bản , buôn, làn, cụm dân cư nhằm tiếp xúc với từng hộ gia đình và mọi công dân.

Điều 6:

Số lượng Uỷ viên của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp nào do Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc cấp đó thoả thuận theo các thành phần quy định tại Điều 5 của Điều lệ Mặt trận Tổ quốc và sự hướng dẫn của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp trên trực tiếp.

Điều 7:

Khi một Uỷ viên là đại biểu của một tổ chức thành viên hoặc đại biểu của Uỷ ban Mặt trận một địa phương không còn giữ nhiệm vụ trong tổ chức mình nữa thì cũng đương nhiên hết tư cách đại biểu và đoàn thể hay địa phương đó cử đại biểu mới thay thế.

Giữa hai nhiệm kỳ Đại hội, khi thấy cần thiết phải mở rộng Mặt trận thì Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc mỗi cấp có quyền bổ sung một số uỷ viên nhưng không vượt quá 1/3 tổng số thành viên của Uỷ ban Mặt trận đã được Đại hội cử ra.

Điều 8:

Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc mỗi cấp thực hiện chức năng chủ yếu là phối hợp và thống nhất hành động giữa các thành viên trong Mặt trận Tổ quốc và phối hợp với các cơ quan Nhà nước cùng cấp để thực hiện các nhiệm vụ;

- Phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân.

- Tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân .

- Động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, hưởng ứng Chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc.

- Tổ chức và động viên nhân dân giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ viên chức Nhà nước.

- Xây dựng tình đoàn kết, hữu nghị, hợp tác giữa nhân dân ta với nhân dân các nước.

Điều 9:

Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc mỗi cấp là cơ quan hiệp thương cao nhất của Mặt trận Tổ quốc cấp đó.

Thành phần và số lượng đại biểu dự Đại hội đại biểu Mặt trận toàn quốc do Hội nghị Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc thoả thuận. Thành phần và số lượng đại biểu dự Đại hội đại biểu Mặt trận từ cấp tỉnh, thành, đến xã phường, thị trấn do Hội nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp đó thoả thuận theo hướng dẫn của Uỷ ban Mặt trận cấp trên trực tiếp.

Đại hội đại biểu Mặt trận toàn quốc, Đại hội đại biểu Mặt trận cấp tỉnh, thành trực thuộc Trung ương, Đại hội đại biểu Mặt trận cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh 5 năm họp một lần. Đại hội Mặt trận xã, phường, thị trấn 5 năm họp 2 lần.

Điều 10:

Đại hội Đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có nhiệm vụ:

- Thảo luận và thông qua báo cáo nhiệm kỳ của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

- Thông qua chương trình thống nhất hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong nhiệm kỳ mới.

- Bổ sung, sửa đổi Điều lệ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

- Hiệp thương dân chủ cử ra Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Điều 11:

Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, thành; quận, huyện,; xã, phường, thị trấn do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp đó triệu tập theo hướng dẫn của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp trên trực tiếp. Đại hội có nhiệm vụ:

- Thảo luận và thông qua báo cáo nhiệm kỳ của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp mình.

- Thông qua chương trình thống nhất hành động của Mặt trận Tổ quốc cấp mình trong nhiệm kỳ mới ; góp ý vào các văn kiện Đại hội Mặt trận Tổ qốc cấp trên (nếu có)

- Hiệp thương dân chủ cử ra Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc của cấp mình.

Điều 12:

Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thông qua hiệp thương dân chủ cử ra Đoàn chủ tịch.

Đoàn chủ tịch là đại diện của Uỷ ban Trung ương Mặt trận giữa hai kỳ họp để :

- Quyết định những chủ trương của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

- Hiệp thương thoả thuận chương trình, thống nhất hành động giữa các thành viên trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

- Kiến nghị với Đảng, Nhà nước những vấn đề về quốc kế, dân sinh; góp ý kiến với Nhà nước về những dự án luật và pháp lệnh có quan hệ đến quyền và nhĩa vụ công dân.

Đoàn chủ tịch cử ra Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận gồm Chủ tịch Đoàn chủ tịch, Tổng thư ký và các uỷ viên thường trực chuyên trách để giúp Đoàn chủ tịch ;

- Chuẩn bị các kỳ họp của Đoàn chủ tịch và Uỷ ban trung ương; tổ chức thực hiện quyết định kỳ họp của các kỳ họp ấy.

- Tổ chức, quản lý, điều hành bộ máy giúp việc cảu Uỷ ban Trung ương; tổ chức và chỉ đạo hoạt động của các lực lượng tư vấn cho Uỷ ban trung ương.

- Giải quyết công việc hàng ngày của Đoàn chủ tịch và Uỷ ban Trung ương.

Điều 13:

Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc từ tỉnh đến xã, phường, thị trấn thông qua hiệp thương dân chủ cử ra Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận cấp mình gồm: Chủ tịch, Phó chủ tịch và Uỷ viên thường trực để:

- Tổ chức thực hiện chương trình hành động của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp mình và các chủ trương công tác của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp trên.

- Chuẩn bị, đưa ra trình Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc thảo luận để thống nhất những việc cần tham gia ý kiến hoặc kiến nghị với Đảng và Nhà nước cùng cấp.

- Tổ chức, quản lý, điều hành bộ máy giúp việc Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc; tổ chức và chỉ đạo hoạt động của các lực lượng tư vấn cho Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp mình.

- Giải quyết công việc thường xuyên của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc địa phương.

Điều 14:

Chủ tịch Đoàn chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc, Chủ tịch và Phó chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh đến xã, phường, thị trấn do Uỷ ban Mặt trận cùng cấp hiệp thương dân chủ cử ra. Nếu không nhất trí được thì bầu bằng phiếu kín; người trúng cử phải được quá nửa tổng số uỷ viên UBMT của cấp bầu tín nhiệm

Điều 15:

Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp làm việc theo chế độ tập thể bàn bạc và quyết định, phân công cá nhân phụ trách.

Điều 16:

Toàn thể Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam họp thường kỳ ít nhất 1 năm 1 lần; Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh thành phố trực thuộc trung ương, huyện và tương đương ít nhất 6 tháng họp 1 lần; Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã và tương đương ít nhất 3 tháng họp 1 lần.

 

Chương III

Nguyên tắc làm việc của Mặt trận Tổ quốc

Điều 17:

Quan hệ giữa các thành viên trong Mặt trận Tổ quốc theo nguyên tắc:

  • Hiệp thương, dân chủ,

  • Hợp tác, bình đẳng.

  • Đoàn kết chân thành, tôn trọng lẫn nhau

  • Phối hợp và thống nhất hành động

Điều 18:

Quan hệ giữa Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp theo nguyên tắc cấp trên hướng dẫn, kiểm tra công tác cấp dưới; xét và chuẩn y việc cử, bổ sung hoặc thay đổi chức Chủ tịch, Phó chủ tịch Uỷ ban Mặt trận cấp dưới trực tiếp.

Uỷ ban Mặt trận cấp dưới thực hiện các chủ trương và chương trình hành động của Uỷ ban Mặt trận cấp trên, báo cáo tình hình và kết quả công tác và góip ý kiến với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp trên.

Uỷ ban Mặt trận cùng cấp được trao đổi kinh nghiệm, phối hợp hoạt động và giúp đỡ nhau trong công tác.

Điều 19:

Quan hệ giữa Mặt trận Tổ quốc với các cơ quan Nhà nước là quan hệ phối hợp , bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, cùng thực hiện các nhiệm vụ chung đúng với trách nhiệm và quyền hạn theo quy định của Hiến pháp, pháp luật và quy ước giữa hai bên ở từng cấp.

điều 20:

Trong quan hệ với nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp cùng các thành viên vận động nhân dân thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân theo Hiến pháp quy định; chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân; tìm hiểu yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân để phản ánh và kiến nghị với Đảng và Nhà nước.

 

Chương IV

Khen thưởng, kỷ luật

 

Điều 21:

Cá nhân và tổ chức nào có thành tích trong sự nghiệp Đại đoàn kết Dân tộc thì được Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc khen thưởng

Hình thức khen thưởng cao nhất của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là huy chương "Vì sự nghiệp Đại đoàn kết Dân tộc".

Điều 22:

Thành viên nào làm trái mục đích Chương trình hành động và Điều lệ của Mặt trận thì tuỳ mức độ sai phạm mà bị khiển trách, cảnh cáo hoặc thôi công nhận là thành viên Mặt trận.

 

Chương V

Tài chính của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc

 

Điều 23:

Hoạt động của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp dựa vào nguồn tài chính sau:

  • Ngân sách Nhà nước cấp

  • Kinh phí được cấp khi tham gia cùng cơ quan Nhà nước thực hiện các chương trình, các dự án

  • Lợi tức thu qua kinh doanh đúng pháp luật của Uỷ ban Mặt trận từng cấp

  • Sự ủng hộ của các tổ chức và cá nhân ở trong và ngoài nước.

  • Tài chính của Uỷ ban Mặt trận cấp nào do Uỷ ban Mặt trận cấp ấy quản lý, sử dụng và chịu sự kiểm tra của Nhà nước theo chế độ, chính sách hiện hành

Chương VI

Sửa đổi điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

 

Điều 24: Chỉ có Đại hội Đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mới có quyền sửa đổi Điều lệ.

Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các địa phương và các thành viên thi hành Điều lệ này.

 


CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG

của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Đại đoàn kết Dân tộc xây dựng và bảo vệ đất nước

Được thông qua tại Đại hội IV

 

Đại đoàn kết là truyền thống quý báu, là sức mạnh vô địch của dân tộc ta trong lịch sử dựng nước và giữ nước. Kế thừa và phát huy truyền thống đó, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và lãnh đạo, đã tập hợp toàn dân ta vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, đánh thắng các thế lực xâm lược, bảo vệ nền độc lập, thống nhất của nước nhà và đã đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng trong sự nghiệp đổi mới toàn diện và xây dựng đất nước. Bài học lớn của dân tộc ta là: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công.

Trước vận hội lớn của đất nước, Đại hội lần thứ IV Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là Đại hội đoàn kết, tập hợp mọi người trong đại gia đình dân tộc Việt Nam, đem hết tinh thần và nghị lực tiến hành công cuộc đổi mới, Công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, làm cho Tổ quốc phồn vinh, xã hội công bằng, gia đình hạnh phúc, con người tự do, đưa đất nước ta hoà nhập trào lưu tiến hoá chung của thời đại.

Đại hội nhất trí khẳng định: đại đoàn kết Dân tộc là sức mạnh to lớn, là động lực quan trọng bảo đảm thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, ý chí tự lập, tự cường, sự kết hợp hài hoà lợi ích của toàn xã hội, của Tổ quốc là lẽ sống của người Việt Nam chúng ta.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quyết tâm kế thừa sự nghiệp vẻ vang của các tổ chức Mặt trận trước đây, tiếp tục giương cao ngọn cờ đại đoàn kết, tự nguyện đảm đương sứ mạng lịch sử cùng Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước của nhân dân ta, bảo đảm thắng lợi của công cuộc đổi mới về kinh tế, chính trị và đời sống xã hội, xây dựng và bảo vệ đất nước theo Hiến pháp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trịnh trọng công bố trước đồng bào cả nước và đồng bào Việt Nam ở nước ngoài Chương trình Đại đoàn kết Dân tộc xây dựng và bảo vệ đất nước như sau:

1/ Đoàn kết rộng rãi mọi người Việt Nam, bao gồm tập thể và cá nhân thuộc tất cả các giai cấp , tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, người trong nước và người ở nước ngoài, không phân biệt quá khứ và ý thức hệ, cùng nhau giữ vững độc lập, thống nhất, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, phấn đấu thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, biến nguyện vọng lâu đời của nhân dân ta thành hiện thực: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Đại đoàn kết chủ yếu lấy mục tiêu chung đó làm điểm tương đồng, đồng thời chấp nhận những sự khác nhau, không trái với lợi ích chung của Tổ quốc. Toàn bộ của cải và tài nguyên, di sản và truyền thống, thắng lợi và thành tựu đều là của chung dân tộc và nhân dân, nghĩa vụ đối với vận mệnh, tiền đồ đất nước cũng thuộc về người Việt Nam chúng ta, của thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau. Mọi người chúng ta tự hào về dân tộc, tin tưởng vào tương lai của đất nước, xoá bỏ mặc cảm, hận thù, chân thành đoàn kết hoà hợp thành một khối thống nhất, tần dụng thời cơ thuận lợi cùng nhau phấn đấu hoàn thành sứ mệnh lịch sử thiêng liêng, đưa đất nước tiến lên.

2/ Trên cơ sở đoàn kết toàn dân tộc, mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức, xây dựng một Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, một Nhà nước đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước và quản lý có hiệu quả nền kinh tế thị trường. Đi đôi với đổi mới kinh tế, xúc tiến đổi mới chính trị phát triển nền dân chủ xã hội, bảo đảm quyền tự do, dân chủ, quyền sống chân chính của con người theo Hiến pháp và pháp luật; kiên quyết đấu tranh chống mọi hành vi vi phạm lợi ích của Nhà nước, của công dân, chống tệ quan liêu, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí, đặc quyền, đặc lợi. Mọi công dân có quyền tham gia quản lý đất nước và xã hội, tham gia giám sát cá hoạt động của cơ quan và công chức Nhà nước. Mọi chức vụ trong bộ máy Nhà nước đều phải qua bầu cử hoặc thi tuyển và chịu sự giám sát, bãi miễn của nhân dân.

3/ Khuyến khích và tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội lập thân, lập nghiệp, người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá và giàu; ngươuì khá và giàu thì giàu thêm; ai nấy đều mang kết tài năng, trí tuệ, vốn liếng, góp phần phát triển kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, vì lợi ích của mình và đất nước. Cổ vũ tinh thần lao động cần cù, thông minh sáng tạo của mọi người. Xây dựng phong cách sống giản dị, tiết kiệm, chống xa hoa, lãng phí, giữ gìn kỷ cương phép nước.

4/ Mở mang văn hoá, giáo dục, phát triển khoa học, kỹ thuật, nâng cao dân trí, đào tạo, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài, tạo điều kiện để mọi người phát huy tài năng sáng tạo là vấn đề quan trọng hàng đầu, bảo đảm sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Chăm lo xây dựng đội ngũ tri thức có tài, có đức, đào tạo ngày càng nhiều những nhà khoa học, kỹ thuật, quản lý, kinh doanh giỏi và những người có trình độ, tay nghề ngày càng cao.

5/ Khơi dậy mọi tiềm năng của mỗi cá nhân, mỗi tập thể và của cả cộng đồng trong việc chăm sóc, bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người. Tập trung mọi cố gắng giải quyết việc làm cho người lao động, thực hiện công bằng xã hội . Bảo vệ lợi ích chính đáng của người lao động và của người sử dụng lao động; tạo điều kiện cho công nhân được tham gia quản lý sản xuất, kinh doanh, mua cổ phần và chia lợi nhuận trong xí nghiệp, bảo vệ quyền lợi về ruộng đất của nông dân, quyền sở hữu, quyền tự do sản xuất, kinh doanh theo pháp luật. Chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ của mọi người dân, thực hiện chương trình Dân số- Kế hoạch hoá gia đình. Giữ gìn, chấn hưng nền văn hoá dân tộc và tiếp thụ tinh hoa văn hoá của nhân loại , pháp huy vai trò của văn hoá nghệ thuật trong việc xây dựng con người, lối sống đạo đức trong thời đại mới. Phát huy truyền thống nhân ái, thực hiện chính sách đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ, những người có công với nước, chăm sóc và phát huy khả năng của những người cao tuổi; khuyến khíc mọi người tham gia hoạt động nhân đạo, từ thiện, giúp đỡ những người bất hạnh gặp khó khăn trong cuộc sống, nhất là người già cả cô đơn, trẻ mồ côi không nơi nương tựa.

6/ Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc; phát triển kinh tế, văn hoá, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số; giữ gìn và phát huy truyền thống văn hoá, ngôn ngữ, phong tục tốt đẹp của các dân tộc. Chống mọi hành vi phân biệt đối xử, chia rẽ dân tộc hoặc lợi dụng vấn đề dân tộc làm tổn hại đến lợi ích chung của Tổ quốc và nhân dân.

7/ Tín ngưỡng tôn giáo, tín ngưỡng truyền thống là nhu cầu thuộc đời sống tinh thần củ con người. Tôn trọng và thực hiện đúng quyền tự do tín ngưỡng hoặc không tín ngưỡng tôn giáo; giữ gìn bảo vệ những nơi thờ tự của các tôn giáo, tín ngưỡng theo pháp luật. Chống mọi hành vi xâm phạm tự do tín ngưỡng tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để gây chia rẽ dân tộc, phương hại đến lợi ích của đất nước.

8/ Vận động các tầng lớp nhân dân tham gia phong trào bảo vệ an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và nền quốc phòng toàn dân. Quan tâm chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ chiến sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân. Tăng cường đoàn kết quân dân, thực hiện đúng chính sách hậu phương quân đội. Nâng cao tinh thần cảnh giác, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động phá hoại của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc độc lập thống nhất, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ thành quả Cách mạng , bảo vệ an ninh Tổ quốc và công cuộc lao động hoà bình và xây dựng đất nước của nhân dân ta.

9/ Tạo điều kiện thuận lợi, đáp ứng các nhu cầu bức thiết cảu tuổi trẻ về học tập, nghề nghiệp, sức khoẻ, việc làm, phát triển tài năng, sinh hoạt văn hoá, thể thao, du lịch; xây dựng hạnh phúc gia đình. Bồi dưỡng tuổi trẻ về lòng yêu nước, ý chí tự chủ, tự cường dân tộc, lý tưởng đạo đức, lối sống, ý thức công dân. động viên tuổi trẻ đi đầu trong công cuộc lao động sáng tạo xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tạo điều kiện cho thanh niên vươn lên tiếp cận khoa học, công nghệ hiện đại. Khuyến khích thanh niên lập thân, lập nghiệp, khuyến học, khuyến tài, chuẩn bị hành trang đi vào thế kỷ 21.

10/ Phát huy truyền thóng yêu nước, anh hùng bất khuật, trung hậu đảm đang của Phụ nữ Việt Nam. Thực hiện quyền bình đẳng nam, nữ trong mọi hoạt động xã hội cũng như trong gia đình, chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em, phát triển các cơ sở phúc lợi xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để phụ nữ cải thiện đời sống, nâng cao trình độ về mọi mặt, đảm đang trách nhiệm với xã hội, đất nước, kết hợp hài hoà nghĩa vụ công dân với chức năng làm mẹ trong việc xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc.

11/ Đồng bào định cư ở nước ngoài là một bộ phận hữu cơ cảu cộng đồng dân tộc Việt Nam. Khuyến khích động viên đồng bào đoàn kết, tương trợ, đùm bọc giúp đỡ nhau ổn định cuộc sống, thành đạt trong sự nghiệp, cùng nhau giữ gìn bản sắc văn hoá Việt Nam, ton ttrọng luật pháp, hoà nhập với xã hội và nhân dân nước sở tại; gắn bó với gia đình, góp phần xây dựng quê hương đất nước. Bảo vệ lợi ích chính đáng của người Việt Nam ở nước ngoài trên cơ sở pháp luật nước sở tại, luật pháp Việt Nam và luật pháp quốc tế.

12/ Mở rộng và phát triển quan hệ đoàn kết, hợp tác giữa nhân dân ta với nhân dân các nước vì hoà bình, độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội, góp phần xây dựng một thế giới hoà bình, hữu nghị, bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, hợp tác cùng có lợi. Mở rộng quan hệ và hợp tác giữa các tổ chức chính trị, xã hội của nhân dân ta với các tổ chức chính trị, xã hội và nhân dân các nước.

Để thực hiện chương trình trên, cần mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân thông qua các hình thức tập hợp đa dạng theo luật pháp của Nhà nước, phát triển các phong trào hành động từ thấp đến cao , sáng tạo nhiều hình thức hoạt động phù hợp với từng thành phần xã hội, từng giai cấp và tầng lớp, lứa tuổi. Mặt trận Tổ quốc coi trọng vai trò của những người tiêu biểu trong các dân tộc, tôn giáo, các nhà cách mạng lão thành, các nhà trí thức, các nhà doanh nghiệp. Hướng hoạt động về cơ sở xã, phường, tới từng hộ gia đình, hình thành Mặt trận đoàn kết trên từng địa bàn dân cư

*

*        *

Đất nước Việt Nam đựoc xây dựng và phát triển hàng nghìn năm là của chung mọi người Việt Nam. Nhân dân là người làm chủ đất nước. Sức mạnh không gì lay chuyển nổi của dân tộc là sức mạnh bắt nguồn từ nhân dân. ý chí của nhân dân là mệnh lệnh cao nhất. Tiếng nói quyết định là tiếng nói của nhân dân

Phía trước chúng ta là một thời kỳ mới với những triển vọng đầy hứa hẹn, song cũng còn nhiều thử thách. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam kêu gọi mọi người Việt Nam ở trong nước và ở ngoài nước đồng tâm nhất trí, coi lợi ích cảu Tổ quốc và nhân dân là cao nhất, thiêng liêng nhất, coi vận mệnh và tiền đồ của đất nước gắn liền với mỗi gia đình, mỗi cá nhân. Hơn bao giờ hết , ý chí tự lực tự cượng của toàn dân là động lực to lớn để vượt qua thử thách, tận dụng thời cơ, đưa đất nước không ngừng phát triển.

Hướng về tương lai, đoàn kết phấn đấu vì "một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giầu mạnh" như Hồ Chủ tịch hằng mong ước, dân tộc ta nhất định sẽ tiến tới một tương lai tươi sáng.