|
|
 |
|
|
TIN MỚI :
thông tin được cập nhật liên tục
| |
|
|
 |
|
TỔ QUỐC VIỆT NAM - DÂN TỘC
VIỆT NAM
Nước
Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Các dân tộc ở Việt Nam
*******************************************************************

******************************************************************* |
|
|
NGƯỜI THỂ HIỆN
THƠ BÁC HỒ BẰNG NGHỆ THUẬT THƯ HỌA
Giới thiệu di sản văn hoá Huế
Về thăm đất tổ Hùng
Vương
Hải dương văn hiến
Về thăm quê hương nhãn
lồng
Đôi điều về tiếng chống chầu trong sân khấu tuồng
Việt
Nam
Thành phố bên sông Hàn
Một thoáng Bạc Liêu
Về thăm đất Quảng
Bắc cạn - miền sơn cước
Một dòng họ khoa
bảng đất Kinh Bắc
Độc đáo - hội đả
ngư (Hà Tây)
Hội làng là tinh
hoa văn hóa Việt Nam
Phong cảnh con
người Việt Nam
|
|
|
Đôi điều về tiếng chống chầu
trong sân khấu tuồng
Việt
Nam
Từ lâu sân khấu tuồng đã có một vị trí quan trọng trong đời
sống văn hoá của nhân dân Việt Nam. Nước ta có những vùng tuồng đặc biệt
phát triển như: Bắc Ninh, Thanh Hóa, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng,
Quảng Ngãi, Bình Định. Ở những nơi này, từ lâu đã hình thành lớp công
chúng say mê và am hiểu tuồng. Cách thưởng thức nghệ thuật tuồng của
công chúng biểu hiện hết sức độc đáo qua tiếng trống chầu. Trong ''sinh
hoạt tuồng" tiếng trống chầu có vị trí rất đặc biệt không thể thiếu
trong đêm biểu diễn tuồng (đối với cả người biểu diễn và người xem). Ở
vùng Yên Phong, Tiên Sơn (Bắc Ninh) từ xưa đã có câu ca:
Tháng
ba ngày tám nằm suông
Nghe giục trống tuồng bế bụng đi xem.
Còn vùng Quảng Nam - Đà Nẵng ngày nay vẫn truyền tụng câu ca:
Trên đời có bốn thứ ngu
Làm mai, lãnh nợ, nuôi cu, đánh chầu.
Tại sao đánh trống chầu, lại "được'' người đời mỉa mai, đẩy quá lên cùng
với các việc: làm mối, vay nợ, nuôi chim cu như những việc làm "vô tích
sự'' chuốc dại vào người vậy?
Trống chầu có hai loại: Chầu cái và chầu lèo.
-
Chầu cái là chầu của làng dựng ra, chầu này đánh không cần
thẻ. Người đánh chầu thường là người có chức sắc, địa vị trong làng xã.
Cũng có thể là người đứng ra thuê tổ chức đêm diễn hay bô lão già cả
trong làng, nhưng nhất thiết phải là người am hiểu và say mê tuồng.
-
Chầu lèo đi liền với lệ ban thưởng tiền cho diễn viên ở những
vai, những đoạn hay được công chúng ưa thích. Với chầu lèo bất cứ ai ham
thích cũng có thể hoặc dùng tiền hoặc mua thẻ mà vào đánh chầu.
Như
trên đã nói, người đánh chầu cái phải là người có uy tín, am hiểu về
nghệ thuật tuồng. Họ đại diện cho sự thưởng thức, bình giá, khen chê,
thưởng phạt của công chúng với diễn viên biểu diễn. Người "cầm chầu"
phải biết điểm tiếng trống của mình đúng lúc, đúng chỗ. Tiếng trống
không được lấn đàn, nhạc hoặc át lời hát của diễn viên. Có thể ví tiếng
trống điểm vào sau câu hát như dấu chấm, dấu phẩy tài tình ngắt nhịp cho
mỗi câu hát như nhịp nối giữa hai lời ca. Tiếng trống nhắc nhở khán giả
chú ý theo dõi, thưởng thức mỗi câu hát hay, hoặc những đoạn diễn xuất
giỏi của diễn viên. Tiếng "thùng'' gõ vào giữa mặt trống là lời khen
hay. Hai tiếng "thùng" ''thùng'' liền nhau là lời khen rất hay biểu hiện
sự tán thưởng, động viên của người đánh chầu đại diện cho công chúng
thưởng thức đối với diễn viên. Tiếng ''rụp'' (gõ bịt một tay lên mặt
trống) "cắc" (tiếng gõ vào tang trống) hoặc ''rụp'' ''cắc'', hay ''cắc''
''cắc'' là lời chê trách diễn viên hát hoặc diễn xuất không đạt. Cùng
với người ''cầm chầu'' là sự theo dõi hết sức chặt chẽ của khán giả. Nếu
người đánh chầu kém, tiếng trống ''tắc khẩu'' làm lấn át lời hát của
diễn viên, hay tiếng trống khen, chê bình giá không công minh liền bị
khán giả la ó, phản đối thậm chí đuổi xuống. Có anh hề táo tợn chạy ra
sân khấu chế nhạo người đánh chầu tồi:
''Tổ cha con quạ đen đầu
Lâu lâu nó mổ... da trầu cái ''thùng''
Ngay cả
người cầm chầu giỏi đôi lúc cũng ''bất đồng'' với công chúng hoặc diễn
viên vì làm sao mà sự tán đồng khen chê, bình giá khi thưởng thức nghệ
thuật qua tất cả mọi người đều giống nhau được. Vì vậy người ''cầm chầu''
cái là đại diện cho trăm họ khi thưởng thức nhưng cũng là ''dâu trăm họ''.
Cũng bởi thế câu hát ở trên đã xếp việc đánh chầu vào bốn thứ ngu trên
đời.
Tiếng
trống chầu có sức kích thích đặc biệt, bắt đầu từ hồi trống ''khai
trương''. Hồi trống khai trương của người cầm chầu cái mở đầu cho đêm
diễn báo hiệu cho nhạc công, diễn viên hoàn thành việc chuẩn bị cuối
cùng để bước vào tối diễn, tiếng trống nhắc nhở người ở xa mau bước chân,
thúc giục người còn ở nhà mau đến kịp. Tiếng trống chầu khi vào buổi
diễn gây không khí rạo rực, say mê cuốn hút khán giả. Tiếng trống chầu
cũng động viên, khuyến khích, hay nhắc nhở diễn viên hát hay hơn, diễn
xuất thành công hơn.
Trong
biểu diễn của những ngành nghệ thuật hiện đại như ca, múa, nhạc ngày nay
luôn có tiếng vỗ tay hưởng ứng của khán giả sau mỗi tiết mục (thường dài
từ một phút, đến vài phút là cùng) hay ở những buổi biểu diễn ca khúc
của các ban nhạc Boneyem, Smoki, Abba, "Rốc- en roi" v.v... cho phép sự
hưởng ứng của khán giả với người biểu diễn bằng cách gõ nhịp theo phối
bè theo, hát theo là hoàn toàn thích hợp thì với những đặc trưng riêng
của nghệ thuật tuồng, tất cả những biểu hiện tình cảm của đông đảo khán
giả như vỗ tay, gõ nhịp hay hát theo v.v... lại không phù hợp. Dù vậy,
nhu cầu giao lưu giữa người biểu diễn và khán giả trong biểu diễn tuồng
lại vẫn nảy sinh. Chúng tôi đã gặp gỡ, trao đổi với nhiều diễn viên và
công chúng xem tuồng, những người say mê và hiểu biết nghệ thuật tuồng ở
Bắc Ninh, Thanh Hoá, Quảng Nam, Đà Nẵng, Huế. Hầu như tất cả những người
được tham khảo, trao đổi đều có ý kiến cho rằng nên duy trì tiếng trống
chầu cổ truyền như một chiếc cầu nối đặc biệt, rất cần thiết giữa khán
giả và diễn viên mà trong những đêm biểu diễn của các đoàn tuồng chuyên
nghiệp ngày nay dường như đã bị lãng quên.
Tất
nhiên ngày nay việc động viên người biểu diễn bằng cách ném tiền lên sân
khấu hoàn toàn không phù hợp nữa, nhưng tiếng trống chầu cổ truyền đầy ý
nghĩa thiết tưởng không nên bỏ. Gần đây được sự quan tâm của nhiều người,
nhiều ngành bàn đến việc khôi phục và phát triển nghệ thuật đặc sắc này
của dân tộc bên cạnh những biện pháp khác cần thiết theo chúng tôi chúng
ta nên duy trì hình thức ''giao lưu'' ''thưởng thức'' độc đáo giữa công
chúng và người diễn biểu hiện qua tiếng trống chầu./.
Đông Ngàn Tử Kinh Bắc
|
|
|
Về thăm quê hương nhãn lồng
Hưng Yên là một tỉnh nhỏ nằm giữa
đồng bằng Bắc Bộ từ lâu đã nổi tiến là quê hương của nhãn lồng, của
táo Thiện Phiến, dưa hấu Đình Cao, của những cánh đồng lúa vàng "tam
thiên mẫu" cò bay mỏi cánh và những đồng đay, soi mía, bãi ngô,
nương dâu xanh dờn, tít tắp dọc theo bờ bãi sông Hồng đỏ nặng phù xa...
Kinh Bắc
Người Việt Nam hầu như ai cũng một lần
được nghe chuyện Đầm Dạ Trạch với Chử Đồng Tử và nàng Tiên Dung-
thiên tình sử diễm lệ vào bậc nhất của nhân dân Đại Việt; chuyện
Tống Trân-Cúc Hoa chồng tài giỏi vợ thuỷ chung, hay câu ca dao: "Thứ
nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến". Cho đến những năm sau này nhiều
người vẫn còn nuối tiếc:"Đồn rằng phố Hiến vui hơn Kinh Kỳ". Vâng,
nhiều thế kỷ trước Phố Hiến đã từng là cửa sông Cái thông ra biển,
nơi tàu thuyền các nước đến giao thương buôn bán, trên bến dưới
thuyền tạo cho phố Hiến cái không khí phồn thịnh, tấp nập và sầm uất
chỉ sau có Kinh thành Thăng Long. Phố Hiến ngày xưa chính là thị xã
Hưng Yên thủ phủ của tỉnh Hưng Yên mới được tách ra từ tỉnh Hải Hưng
ngày 1 tháng 1 năm 1997.
Tỉnh Hưng Yên đời Ngô gọi là Đằng Châu,
đời Trần gọi là Long Hưng và Khoái Lộ. Đời Lê, Hưng Yên thuộc Nam
Định sau gọi là Thiên Trường thừa tuyên rồi Sơn Nam thượng. Tỉnh
Hưng Yên ngày nay là một phần của trấn Sơn Nam cũ, là phên giậu về
phía nam của Kinh thành Thăng Long. Năm 1831 đời Nguyễn, Hưng Yên
được lập thành tỉnh như ngày nay và còn thêm các huyện Thần Khê,
Duyên Hà, Hưng Nhân nay thuộc tỉnh Thái Bình. Tỉnh Hưng Yên ngày nay
có diện tích 923 km2 với 10 đơn vị hành chính là thị xã
Hưng Yên và 9 huyện Phù Cừ, Tiên Lữ, Ân Thi, Kim Động, Khoái Châu,
Văn Giang, Văn Lâm, Mỹ Hào, Yên Mỹ.
Từ thời Hùng Vương giặc Ân sang cướp ta
nhân dân vùng Hưng Yên đã nô nức theo Phù Đổng Thiên Vương đánh tan
quân giặc, giữ yên bờ cõi. Thời Bắc thuộc Triệu Quang Phục đã dùng
đầm lầy Dạ Trạch-Màn trò Khoái Châu làm căn cứ đánh giặc lâu dài,
sau giết được tướng giặc Dương Sàn, chiếm được Long Biên giành lại
đất nước. Ông tự xưng là Triệu Việt Vương nhưng dân gian thường gọi
ông là Dạ Trạch Vương. Ngày nay về xã Dạ Trạch huyện Châu Giang bạn
sẽ được nghe kể về Chử Đồng Tử và nàng Tiên Dung, về Triệu Quang
Phục với những chiến công đầy huyền thoại. Thời nhà Trần đánh giặc
Nguyên lại có Phạm Ngũ Lão người làng Phù ủng châu Thượng Hồng xuất
thân từ quân lính lập nhiều chiến công phá Nguyên, bình Chiêm sau
trở thành một danh tướng có tài được thăng đến Thân vệ đại tướng
quân. Ông cũng được quân dân hết sức yêu quý, kính trọng vì lòng
nhân ái, chia ngọt xẻ bùi, thương quân lính như con. Ông còn để lại
bài Thuật Hoài nổi tiếng với những câu thơ đầy khí phách: "Nam nhi
vị liễu công danh trái. Luống thẹn tai nghe chuyện Võ Hầu". Cùng
thời với Ngũ Lão còn có Yết Kiêu quê ở Hạ Bì, có tài bơi lặn đục
thuyền giặc, Nguyễn Chế Nghĩa ở Cối Xuyên dũng cảm tuyệt vời đều là
những tướng tài danh của nước nhà. Khi giặc Pháp xâm lược nước ta,
năm 1888 quận Kỳ dã chỉ huy diệt đồn Bình Phú ở Hưng Yên. Bền bỉ
nhất là phong trào Bãi Sậy do Tán Thương quân vụ Nguyễn Thiện Thuật
chỉ huy. Lúc làm quan ông đã đánh Pháp đến khi triều đình Huế chịu
thua, Ông vẫn tiếp tục mộ quân đánh Pháp. Căn cứ của nghĩa quân là
vùng bãi Sậy rậm rạp vùng Khoái Châu. Từ năm 1883 đến 1891 nghĩa
quân đã đánh giặc rất nhiều trận Khắp Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh.
Sát Hà Nội, lại ở ngay giữa đồng bằng nhưng phong trào Bãi Sậy đã
tồn tại suốt một thời gian dài trên một điạ bàn rộng lớn gây cho
giặc Pháp rất nhiều tổn thất. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp lần thứ hai (1945-1954) tỉnh Hưng Yên khi ấy chỉ có diện tích
hơn 800km 2 với 127 xã nhưng có đến hơn 400 đồn bốt giặc
đóng. Trong các cuộc càn quét chúng đã giết hàng vạn người, đốt phá
hàng trăm thôn, xóm, hàng vạn ngôi nhà nhưng nhân dân Hưng Yên kiên
cường quyết không khuất phục. Trên mảnh đất này đã diễn ra hàng trăm
trận đặt chông mìn, đánh độn thổ "cướp súng giặc đánh giặc". Đường
số 5 địch rào thép gai đặt tháp canh giày đặc nhưng đêm đêm cán bộ
du kích và từng đoàn dân công vẫn gánh gạo tải lương vượt đường.
Giặc đóng đồn bốt lập tề, ta phá tề, trừ gian mở rộng khu du kích.
Giặc càn quét bắc sông Luộc, Khoái Châu, Văn Giang bị ta tiêu diệt
2000 tên. Chiến công của đội nữ du kích Hoàng Ngân và những vua mìn
đường 5 đã nhiều phen khiến lũ xâm lăng phải bạt vía kinh hồn.
Từ Hà Nội, theo Quốc Lộ số 5 đến Như Quỳnh
chúng ta vào đất Hưng Yên, đi khoảng 7km nữa bạn sẽ gặp thị trấn lớn
mang tên Bần Yên Nhân. Hẳn có bạn sẽ hỏi rằng câu ca: "Dưa La, cà
Láng, nem Báng, tương Bần..." là tương ở đây ư? Vâng! đây chính là
nơi có tương Bần ngon nổi tiếng khắp trong Nam ngoài Bắc. Xin bạn
hãy nhớ để đến khi về có thể mua một can nhỏ làm quà. Cách Bần Yên
Nhân 1km về phía tây bắc bạn có thể thăm chùa Thái Lạc với những bức
chạm gỗ rất đẹp và gạch hoa từ đời Trần. Ai đó trong chúng ta thủa
thơ bé đã được bà, được mẹ hát ru: "Cái Bống đi chợ cầu Nôm. Sao mày
chả rủ cái Tôm đi cùng.." Xin bạn hãy xác định thêm một địa danh cầu
Nôm ở làng Đại Đồng thờ đức thánh Tam Giang. Gần đó là Hương Lãng có
chùa Lạng được xây từ thời Lý hiện vẫn còn nhiều tượng đá rất đẹp.
Theo đường 5 cách Bần 2km là phố Nối bạn gặp ngã ba đường 39 đi thị
xã Hưng Yên. Chúng ta rẽ phải theo đường 39 khoảng 2km là làng Liêu
Xá huyện Yên Mỹ quê hương của danh y Hải Thựơng lãn ông Lê Hữu Trác,
tác giả 66 tập Hải Thượng Y tôn tâm lĩnh. Cạnh Liêu Xá là làng Thanh
Xá thờ Phạm Công Trứ, sử gia đời Lê, tác giả Quốc sử tục biên, hiện
còn nhiều bia ở đình thờ. Đi tiếp 3 km là Sài Trang lị sở huyện Yên
Mỹ, ở đây từ xa xưa đã có chợ bán chàm, Nhà máy xay Yên Mỹ cũng đặt
ở đây. Qua khỏi thị trấn là cầu Lực Điền bắc qua sông Nghĩa Trai
sang đất Châu Giang, bạn sẽ gặp những cánh đồng lúa, đồng đay bạt
ngàn. Dọc theo hai bên đường 39 cũng như các đường vào làng, đường
liên thôn liên xã là những dặng nhãn chạy dài tít tắp. Đi thêm chừng
3 cây số có Trường cao đẳng sư phạm kỹ thuật I, ta cũng gặp đường
bên phải đi huyện lị Khoái Châu cũ nay là huyện Châu Giang. Vùng đất
này có nhiều địa danh đã đi vào lịch sử như đầm Dạ Trạch, bãi Tự
Nhiên với câu chuyện Chử Đồng Tử và nàng Tiên Dung; Bãi lầy Màn Trò
nơi vang tiếng thét của Trần Bình Trọng "thà làm quỷ nước Nam còn
hơn làm vương đất bắc"; Hàm Tử quan, nơi Trần Quang Khải, Trần Nhật
Duật và Trần Quốc Toản đã thắng quân Nguyên; làng Đông Kết, Tây Kết
nơi bại tướng Nguyên là Toa Đô bị chém đầu. Tiếp tục hành trình trên
đường 39 qua Bô Thời vài km bạn có thể dừng chân nghỉ uống thử hớp
rượu Trương Xá được coi là nổi tiếng nhất vùng mía vùng đay Hưng Yên.
Bên trái là đường đi Ân Thi quê hương Nguyễn Trung Ngạn, nhà thơ nổi
tiếng thời Trần, vốn là con một người đào hát mà đỗ Hoàng Giáp(tiến
sỹ) năm1304 khi mới 16 tuổi. Từ Trương Xá đi tiếp 6 km bạn gặp thị
trấn lị sở huyện Kim Động, có đền thờ Đinh Điền một tướng giỏi, khai
quốc công thần của nhà Đinh ở trại Đằng Man. Qua khỏi huyện lị Kim
Động vài cây bạn gặp dốc Lã lên đê sông Hồng, nơi đây có nghề làm
hương khá nổi tiếng. Từ đây đến thị xã Hưng Yên bạn sẽ tự do phóng
tầm mắt chiêm ngưỡng những bờ soi, bãi mật, của ngô, của dâu, của
những xóm làng trù phú ven dòng sông Cái đỏ nặng phù xa. Xe chạy
chừng dăm phút bạn đã gặp thị xã Hưng Yên nơi xa xưa có địa danh phố
Hiến. Ngồi nghỉ dưới gốc cây nhãn tổ bạn có thể bắt đầu tự tìm hiểu,
khám phá những bí ẩn về vùng đất này. Phố Hiến được đặt từ thời Lê
Quang Hưng(1578-1599) là cảng sông Cái có bến, có phố cho người nước
ngoài đến buôn bán, nộp thuế, bốc rỡ hàng. Khi ấy ở Phố Hiến đã có
đến 2000 nhà gạch. Từ năm 1637 có các lái buôn Bồ Đào Nha, Hà Lan và
sau đó là người Pháp đến mở hiệu buôn. Năm 1672 Công ty ấn Độ của
Anh cũng đến và ở 25 năm. Việc giao thương buôn bán với người nước
ngoài một thời đã tạo cho Phố Hiến sự đông vui sầm uất thực sự chứ
không phải qua lời đồn. Thị xã Hưng Yên được đặt thành tỉnh lị từ
năm 1831. Trải qua bao biến thiên của lịch sử ngày nay thị xã lại
được đặt làm tỉnh lỵ.
Sau hai mươi năm đổi mới cùng với đà phát
triển của đất nước thị xã đã có tốc độ phát triển đô thị hơn hẳn mấy
chục năm trước đây. So với các thị xã và tỉnh bạn bè trong cả nước,
hôm nay Hưng Yên còn là một thị xã nhỏ. Tuy chưa giàu nhưng vài năm
nay tỉnh Hưng Yên đã tham gia câu lạc bộ các tỉnh có nguồn thu nân
sách trên 1000 tỷ đồng. Chắc chắn trong những năm tới Hưng Yên sẽ
phát triẻn mạnh mẽ sánh vai cùng bè bạn xa gần, xứng đáng với truyền
thống của quê hương./.
Đông Ngàn Tử
|
|
MỘT THOÁNG BẠC LIÊU
Tỉnh
Bạc Liêu thời Nguyễn, thế kỷ 18 thuộc phủ Bãi Xâu, tỉnh An Giang.
Trải qua biết bao biến thiên của lịch sử với công sức tạo dựng, mở
mang của con người, vùng đất mới nhiều nắng gió phương nam này đã
trở nên trù phú vào bậc nhất của dải đất cực nam. Ngày 23 tháng 11
năm 1940, Nam Kỳ khởi nghĩa, Bạc Liêu và Cà Mau lập chính quyền nhân
dân. Đồng chí Trần Văn Thời, bí thư Bặc Liêu, bị đày ra Côn Đảo rồi
bị giết. Các đồng chí hy sinh nhưng phong trào vẫn âm ỷ trong quần
chúng. Ta cướp chính quyền ở Bạc Liêu ngày 25-8-1945...
Tỉnh Bạc Liêu ngày nay có diện tích
tự nhiên 2.584km2, số dân 82 vạn người, với 7 đơn vị hành
chính gồm thị xã Bạc Liêu là tỉnh lỵ và 6 huyện: Phước Long, Hồng
Dân, Vĩnh Lợi, Giá Rai, Đông Hải, Hoà Bình. Toàn tỉnh có 207.000 ha
diện tích đất nông nghiệp mầu mỡ, bằng phẳng đã được đầu tư cải tạo.
Chương trình thuỷ lợi ngọt hoá bán đảo Cà Mau với công trình Quản Lộ
Phụng Hiệp được thi công, đưa nước sông Hậu về cải tạo hơn 100.000
ha ruộng cấy một vụ thành ruộng hai vụ lúa, một vụ màu, tạo thêm
bước phát triển mới về kinh tế nông nghiệp. Miền Bạc Liêu, đồng đất
tốt, trồng trọt đã lâu, nghề chính là trồng lúa, có thể nói trên
trời, dưới lúa. Ngoài ra cũng trồng nhiều hoa màu, dứa, cây ăn quả.
Chăn nuôi có nhiều điều kiện để phát triển.
Bạc Liêu có bờ biển dài là thế mạnh
để phát triển ngành khai thác, chế biến, nuôi trồng thuỷ sản và sản
xuất muối. Biển Bạc Liêu rất nhiều cá như cá cơm, cá chim, cá nhám,
cá ria, cá chét, cá thu, cá gộc, tôm hùm, mực, nên nghề đánh cá biển
phát đạt. Ngoài bãi biển làm muối, nuôi tôm, ở Bạc Liêu đồng ruộng
nào cũng thả được cá... các vùng Vĩnh Lợi, Năm Căn, Thanh Hoa, có
những đồng muối rất lớn, rộng đến 5.000ha. Lâm sản ở Bạc Liêu có gỗ
đước, lá dừa nước, mật ong, sáp ong. Thủ công nghiệp có nghề làm
muối, làm chiếu, đốt than, nấu đường và chế biến thức ăn gia súc...
Theo đường trục lộ số 4 từ Cần Thơ
qua Sóc Trăng xuống 114 km là thị xã Bạc Liêu, (đi tiếp 180 km đến
Cà Mau, 35km nữa đến Cái Nước và 20km nữa đến vùng đất mũi Năm Căn).
Thị xã xây trên rạch Bạc Liêu, xa biển 10km, trung tâm lúa gạo lớn.
Từ thị xã có đường 57 km, đi cửa biển Mỹ Thạnh, phía đông tỉnh. Từ
Bặc Liêu đi, đi thành phố Hồ Chí Minh 280km, đi Hà Nội 2005km... Thị
xã Bạc Liêu vốn là tỉnh lỵ cũ của tỉnh Minh Hải đã hình thành một
trung tâm kinh tế sầm uất và trong tương lai gần, thị xã Bạc Liêu sẽ
là khu công nghiệp lớn với nhiều thế mạnh về công nghiệp và du lịch.
Những thắng cảnh độc đáo như vườn nhãn, sân chim Bạc Liêu, cùng với
các di tích lịch sử - văn hoá: Tháp cổ Vĩnh Hưng ở huyện Vĩnh Lợi,
di chỉ đồng Nọc Nạn quê hương cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu người khai sinh
ra bài vọng cổ Nam Bộ không chỉ là niềm tự hào của người dân Bạc
Liêu mà còn là những địa chỉ du lịch hấp dẫn du khách bốn phương./.
Hà Phương Nhân
|
|
VỀ THĂM ĐẤT QUẢNG
Tuấn Anh
Ai dã có một lần qua dải đất miền
Trung hẳn từng nghe câu ca:
Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đã ngà say.
Vâng! Đất Quảng, quê hương của những
chí sỹ yêu nước Hoàng Diệu, Ông ích Khiêm, Phan Châu Trinh, Thái
Phiên, Huỳnh Thúc Kháng...của những mẹ Nhu, mẹ Thứ và biết bao bà mẹ
Việt Nam anh hùng khác đã sản sinh ra những Nguyễn Văn Trỗi, Lê Thị
Thanh, Trần Thị Lý cùng những người dân xứ Quảng "trung dũng kiên
cường, đi đầu diệt Mỹ". Đất Quảng còn là xứ sở của những quế Trà
Bồng, Tiên Phước, vàng Bồng Miêu, tháp Chàm Trà Kiệu, Mỹ Sơn, Đồng
Dương, phố cổ Hội An...
Mảnh đất của sóng biển và cát, của
đại ngàn Trường Sơn ấy đời Hùng thuộc bộ Việt Thường. Trong những
năm Bắc thuộc người Chàm dựng nước Chăm Pa đóng đô ở Trà Kiệu. Năm
Bính Ngọ 1306 vua Trần gả công chúa Huyền Chân cho vua Chiêm Thành
là Chế Mân mới đặt đất dẫn cưới là châu Hoá. Năm 1402 nhà Hồ "mở
nước" đặt các châu: Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa, thuộc địa phận Quảng Nam.
Thế kỷ 15 Lê Thánh Tông đặt Thừa tuyên Quảng Nam. Đến nhà Nguyễn đặt
thành dinh Quảng Nam, năm 1842, Minh Mệnh mới đặt Quảng Nam thành
tỉnh.
Tỉnh Quảng Nam ngày nay có diện tích
11.989 km2, dân số khoảng 1.500.000 người. Sau khi huyện
Hoà Vang cắt về thành phố Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam còn 17 đơn vị hành
chính, gồm thị xã Hội An, thành phố Tam Kỳ, các huyện: Điện Bàn, Đại
Lộc, Duy Xuyên, Quế Sơn, Thăng Bình, Hiệp Đức, Núi Thành, Tiên Phước,
Phước Sơn, Bắc Trà My, Nam Trà Mi, Đông Giang, Tây Giang, Phú Ninh.
Tỉnh lỵ Quảng Nam đặt tại thị xã Tam Kỳ.
Theo Quốc lộ 1A, đường sắt Xuyên Việt
hay đường Trường Sơn vào Nam ra Bắc chúng ta đều phải qua đất Quảng
Nam. Tỉnh Quảng Nam, phía bắc đèo Hải Vân giáp Thừa Thiên Huế, phía
nam giáp Quảng Ngãi và Công Tum, phía đông nhìn ra biển Đông và ôm
gọn thành phố Đà Nẵng, phía tây giáp nước bạn Lào. Chiều dài từ đông
sang tây 170km, từ bắc xuống nam 127 km. Đèo Hải Vân phía bắc tỉnh
có núi Bạch Mã cao 1516m, từ trên đèo nhìn ra bể Đông phong cảnh đẹp
tuyệt vời làm rung động trái tim biết bao "tao nhân mặc khách" từ
ngàn xưa đến ngàn sau. Phía nam tỉnh có núi Chúa cao 1363 m, phía
đông giáp biẻn là đồng bằng Điện Bàn, Hội An và đồng bằng nhỏ Tam Kỳ.
Toàn bộ phía tây tỉnh là rừng núi Trường Sơn bạt ngàn đến tận biên
giới với rất nhiều lâm sản, chim thú quý , có hai đỉnh núi cao 2500m
và 1207m quanh năm mây phủ. Tỉnh có nhiều suối nước nóng, đặc biệt
là khu vực quanh núi Chúa có đến 6 suối nước nóng chữa được nhiều
bệnh tật, hứa hẹn một tiềm năng lớn về du lịch.
Đến thăm Quảng Nam bạn không thể
không đến thị xã Hội An. Từ Hoà Mỹ theo đường số 1 thẳng vào hay từ
Đà Nẵng đi về hướng đông 9km chúng ta gặp thị xã cổ Hội An. Hội An
nằm ở bờ bắc sông Thu Bồn, gần cửa sông, cửa Đại, tàu thuyền từ biển
vào hết sức thuận tiện mà thuyền buôn, xà lan, ca-nô từ sông Thu Bồn,
sông Vĩnh Điện, sông Trường giang đến bốc rỡ hàng cũng dễ dàng. Thời
cổ nơi đây từng được gọi là Đại Chiêm hải khẩu, các thuyền buôn
Trung quốc, Nhật Bản, Nam Dương thường qua lại buôn bán. Đến thế kỷ
15 người Hà Lan, Pháp, Anh, Bồ Đào Nha cũng đến đây đặt tiệm buôn.
Ngay phía nam Hội An là huyện Duy Xuyên có Trà Kiệu là kinh đô đầu
tiên của người Chăm xưa, nay còn dấu tích thành đất dài 3 km. Từ dây
đi khoảng 30 km bạn sẽ gặp thung lũng Mỹ Sơn có vét tích đền đài xây
từ thế kỷ thứ 4 với 68 đền trong đó có 25 ngôi còn thấy khá rõ. Ai
cũng biết miền Trung nằm ở giữa của dải đất hình chữ S, nhiều người
biết tỉnh Quảng Nam nằm ở giữa miền Trung nhưng ít ai biết thị xã
Tam Kỳ chính là điểm giữa của cả hai cái giữa trên, nghĩa là từ Tam
Kỳ ra Hà Nội hay vào thành phố Hồ Chí Minh có độ dài bằng nhau- vì
nằm ở giữa ba miền nên thị xã có tên là Tam Kỳ. Thị xã ngày nay là
tỉnh lị của tỉnh Quảng Nam mới. Thị xã nằm ở giữa đồng bằng màu mỡ,
là nơi giao thương đi lại hết sức thuận lợi cả đường sắt, đường bộ
và đường sông, từ xưa đã nổi tiếng là nơi đô hội, sầm uất. Cách Tam
Kỳ khoảng 27 km về phía nam là mỏ vàng Bồng Miêu nổi tiếng đã được
khai thác từ xưa để dựng các lâu đài, đền chùa Chăm, con sông chảy
qua thung lũng này cũng được gọi là sông Vàng. Khu vực này cũng có
cả các mỏ kẽm, chì, đồng. Từ đây đi tiếp 3 km nữa là đất Trà Mi với
những rừng quế bạt ngàn nổi tiếng nhất Việt Nam, từ xưa vẫn từng
được gọi là "Quế Quảng"
Từ Đà Nẵng về Hội An chúng ta gặp
những địa danh nổi tiếng một thời Điện Nam, Điện Ngọc, Điện Dương
với những trận chiến đâu kiên cường người dân đất Quảng giữa vành
đai trắng. Mới đây Chính phủ đã phê duyệt dự án xây dựng Khu công
nghiệp tập trung. Với diện tích 418 ha khu công nghiệp Điện Nam-Điện
Ngọc sẽ là nơi phát triển ngành công nghiệp sản xuất các loại sản
phẩm công nghệ cao và công nghiệp chế biến thực phẩm phục vụ các khu
du lịch và công nghiệp trong khu vực- là trung tâm của một đô thị
lớn trong tương lai. Tỉnh Quảng Nam cũng đang quyết tâm xây dựng
cảng Kỳ Hà giáp khu công nghiệp Dung Quất(Quảng Ngãi) và sân bay Chu
Lai cùng với Khu công nghiệp Điện Ngọc như một trọng tâm phát triển
cơ sở hạ tầng, thúc đẩy sự triển kinh tế toàn tỉnh.
Quảng Nam ngày nay vẫn đang còn rất
nhiều khó khăn. Trong tiến trình phát triển Tỉnh phải chuyển đổi
mạnh cơ cấu kinh tế từ một tỉnh thuần nông sang một tỉnh công-nông
nghiệp và thương mại dịch vụ. Với tiềm năng và lợi thế về khoáng sản,
nông lâm sản, hải sản và du lịch, lại nằm ở điểm giữa khu vực trọng
điểm kinh tế miền trung được quy hoạch nối dài từ Liên Chiểu đến
Dung Quất, chắc chắn tỉnh Quảng Nam sẽ có bước phát triển mới xứng
đáng với truyền thống cách mạng vẻ vang trong kháng chiến chống
ngoại xâm./.
|
|
Bắc Cạn - miền sơn cước
"Bắc Cạn có suối đãi vàng
Có hồ Ba Bể, có
nàng áo xanh "
Lần theo câu hát, ngược dòng tìm về với lịch sử chúng
ta được biết, từ thời các vua Hùng dựng nước Bắc Cạn đã thuộc bộ Vũ
Định. Trải các triều đại tiền Lê, Lý, Trần đều thuộc Bắc đạo rồi
thuộc Thái Nguyên thừa tuyên, sau lại đổi ra Ninh Sóc thừa Tuyên,
sóc ở đây chính là phương bắc; đến thời Hồng Đức gọi là Thái Nguyên
xứ, năm 1649 được gọi là trấn Thái Nguyên. Cho đến năm 1831 thời
Nguyễn được gọi là tỉnh Thái Nguyên bao gồm cả tỉnh Thái Nguyên và
tỉnh Bắc Cạn bây giờ. Đến năm 1900 trong công cuộc bình định Bắc Kỳ
thực hiện chính sách "chia để trị" người Pháp đã chia Thái Nguyên
làm 2 tỉnh, phía bắc gọi là Bắc Cạn, phía nam là Thái Nguyên.
Trong trường kỳ lịch sử đấu tranh
chống ngoại xâm của dân tộc, nhân dân vùng sơn cước "Bắc đạo"-"Ninh
Sóc thừa tuyên" luôn đoàn kết sát cánh cùng quân dân cả nước đánh
giặc. Cùng với các tỉnh Việt Bắc, Bắc Cạn là căn cứ địa kháng chiến,
nơi xuất phát của những chiến sỹ Việt Minh, của những đoàn quân giải
phóng từ rừng xanh tiến về trung du, đồng bằng và thành phố. Mảnh
đất Na Rì chính là nơi đồng chí Phùng Chí Kiên uỷ viên Trung ương
Đảng đã hy sinh trên đường đi tiếp viện cho du kích Đình Cả. Tháng
5.1945, sau khi khi Bộ tư lệnh quân giải phóng thành lập ở Định Biên
thượng đã ra lệnh tấn công địch ở khắp Việt Bắc. Quân dân ta đã vây
chặt quân Nhật ở Bắc Cạn, đánh các đường giao thông, cắt đường tiếp
tế của địch rồi chiếm Ngân Sơn, Bắc Cạn. Ta giành chính quyền ở thị
xã tỉnh lị và toàn tỉnh Bắc Cạn 23 tháng 8 năm 1945. Tháng 10 năm
1947 thực dân Pháp tấn công lên Việt Bắc hòng tiêu diệt thủ đô kháng
chiến; chúng nhảy dù xuống Bắc Cạn rồi một mặt theo sông Lô lên, một
mặt nhảy dù ở Cao Bằng kéo xuống bao vây âm mưu cất vó những người
đứng đầu Chính Phủ Hồ Chí Minh. Quân địch đã bị quân và dân ta đánh
đánh tơi bời ở khắp các chiến trường Yên Thịnh, Đầm Hồng, Sông Lô,
đường số 4...cuối cùng phải dẫn tàn quân bại trận rút chạy khỏi Bắc
Cạn.
Tỉnh Bắc Cạn ngày nay có diện tích tự
nhiên rộng 4.795km2, dân số: 30 vạn người, thuộc 8 dân
tộc anh em, đa số là người Tày, người Dao sống trên 8 đơn vị hành
chính là: Thị xã Bắc Cạn, các huyện Bạch Thông, Na Rì, Ngân Sơn, Ba
Bể, Chợ Đồn, Chợ Mới, Pác Nạm.
Bắc Cạn có Hồ Ba Bể là phong cảnh
thiên nhiên nổi tiếng. Bắc Cạn có sông Năng và sông Cầu cung cấp
nước cho đồng ruộng. Đỉnh Phia I Oắc (núi Hoa) có chiều cao hơn
1.000m. Là một tỉnh miền núi với hơn 80% diện tích tự nhiên là núi
rừng, phần lớn đồng bào làm nghề nông, tập quán canh tác của nhiều
vùng dân cư còn tự cấp tự túc, lạc hậu. Lâm nghiệp chủ yếu là vào
rừng khai thác tự nhiên các loại gỗ, tre, vầu, giang, củ nâu, nấm
hương, sa nhân mộc nhĩ, một phần phục vụ nhu cầu tại chỗ, một phần
bán, đổi lấy gạo, thực phẩm, và các đồ gia dụng khác. Tiềm năng kinh
tế của Bắc Cạn chủ yếu là lâm nghiệp, khai khoáng và vật liệu xây
dựng. Câu ca "Bắc cạn có suối đãi vàng" đã phản ánh một nét thực
trạng về sự giàu có tài nguyên ở tỉnh vùng cao này. Không chỉ có "suối
đãi vàng" từ lâu, nhân dân vùng Ngân Sơn đã quen làm mỏ bạc, miền
Chợ Điền, bản Ty đã làm mỏ kẽm, mỏ thiếc.v.v.
Theo Quốc lộ số 3 từ Hà Nội đến thành
phố Thái Nguyên 79km, bạn mới đi được gần nửa chặng đường Hà Nội-Bắc
Cạn. Tiếp tục hành trình qua Thái Nguyên 44 km nữa bạn gặp thị trấn
Chợ Mới, đây cũng là bến cuối cùng của sông Cầu mà thuyền bè có thể
về xuôi dễ dàng. Đi tiếp 23 km nữa bạn gặp địa danh mang tên Cao Kỳ,
còn đấu tich thành đất cũ dài 800m. Thêm 9km nữa bạn đã đến thị xã
Bắc Cạn. Thị xã được đặt làm tỉnh lị Bắc Cạn từ năm 1900. Thị xã Bắc
Cạn ngày nay chỉ có khoảng hai vạn dân, cơ sở vật chất hạ tầng của
đô thị tỉnh lị mới trở lại còn nghèo. Bù lại, thị xã có địa thế đẹp,
ngay trong thị xã cũng có đồi cao và núi đá vôi xen lẫn phố phường
tạo cho Bắc Cạn mang một nét riêng của thị xã miền sơn cước với
những con người chất phác dễ mến, dễ gần. Bắc Cạn có nhiều cảnh đẹp
nhưng nổi tiếng nhất xưa nay với du khách xa gần vẫn là hồ Ba Bể. Từ
thị xã Bắc Cạn 60km qua Phủ Thông bạn sẽ đến Chợ Rã. Chợ Rã chỉ còn
cách hồ Ba Bể 17 km bạn đi bộ hay đi thuyền đều được. Gọi là hồ Ba
Bể bởi hồ được tạo thành từ ba hồ nhỏ thông với nhau. Đây là hồ nước
tự nhiên rộng và đẹp vào bậc nhất ở nước ta, thiên nhiên còn mang
dấu vẻ hoang sơ, kỳ thú. Hồ ở độ cao 145m so với mặt nước biển, có
chiều dài 7km, chiều ngang chỗ rộng nhất xấp xỉ 1 km. Xung quanh hồ
được bao bọc bởi những dải núi đá với hai đỉnh cao nhất là 795m và
1042m, có rừng cây cối đại ngàn che phủ. Hồ rộng, lắm ngóc ngách,
nhiều đảo nhỏ xinh xắn, trên có cổ thụ, có hang động, đường luồn,
sông ngầm. Thỉnh thoảng, bất ngờ hiện ra một nếp nhà sàn, một ngọn
khói lam uốn lượn bay ra từ vách núi, một chiếc thuyền độc mộc của
ngư phủ thấp thoáng trong sương mờ trông như cõi phật, cảnh tiên.
Khoảng giữa hồ là đảo An Mạ, có đền thờ vua thuỷ. Đi tiếp vào các
vịnh bạn sẽ gặp những hòn đảo nhỏ như đảo Chuồng Gà, hòn Trống, hòn
Mái và bản Phiac ở phía nam hồ. Hồ Ba Bể có nhiều thứ cá nổi tiếng
như cá pioc, cá nai, cá teng, cá chép, cá cao, ba ba; Chim có các
loài sếu, cò, vẹt, phượng hoàng núi, nhạn, vạc, yến.v.v; thú có các
loại lợn rừng, hươu nai, chồn, sóc, vượn, khỉ. Đặc biệt trên núi,
trong hồ còn nhiều loại gỗ quý như lát vân, lát hoa, chò chỉ, chò
xanh, trắc, sến, gụ, mun... Hồ là nơi chứa nước suối chảy ra từ các
núi Phia Bióc, Nam Mẫu, Pu Long Ca, rồi chảy tất cả vào sông Năng
chỗ sông thông với hồ Ba Bể gọi là cửa hồ. Núi Lung Nham dầm chân
bên sông Năng, có hang thờ trong lòng núi, có vết tích thành nhà Mạc
và nhà Tây Sơn. Quá cửa hồ 3 km đến Thác Đầu Đẳng. Dòng thác bị một
đảo đá tách làm đôi, thác dổ xuống ba bậc, mỗi bậc cao 7m đến 8m,
bọt tung trắng xoá, tiếng ầm vang xa hang cây số. Bạn cũng có thể
vào Thượng Giáo, lên núi, qua làng người Dao, lên cao ngắm toàn cảnh
hồ nước, trời, mây, sông núi hồ Ba Bể. Trước mắt bạn sẽ là cảnh kỳ
vĩ nên thơ không giấy bút nào tả xiết. Tôi chắc rằng bạn sẽ tự hào
ít nhất đã có một lần đến với Bắc Cạn, đến với hồ Ba Bể, với những
ấn tượng suốt cuộc đời không
thể nào quên./.
Tuấn Anh
|
|
Độc đáo - hội đả ngư (Hà
Tây)
Lễ hội đả ngư (đánh cá), lễ hội truyền thống của
vùng non Tản, được tổ chức vào ngày 15/9 hàng năm, bắt nguồn từ một
truyền thuyết về lần Đức Thánh Tản kéo vó trên sông Tích.
Chuyện kể rằng, có một hôm, Thánh Tản giả dạng
thành một lão nông đi dạo trên sông Tích, đến đoạn giữa Cầu Vang và Má
Mang thấy một ông già ngồi kéo vó. Lúc trời đứng bóng, ông già mở cơm
nắm muối vừng rồi mời Ngài cùng ăn. Cảm kích trước tấm lòng của ông,
Ngài hỏi thăm và muốn giúp ông việc kéo cá. Ông già than phiền vì từ
sáng đến giờ chả được con nào. Ngài vui vẻ xin ông kéo thử một mẻ. Thật
kỳ lạ, khi cầm vó kéo lên ông già thấy bao nhiêu là cá, cá lớn, cá nhỏ
thi nhau quẫy đành đạch làm ông hoa cả mắt. Ông sung sướng vội vàng bắt
cá vào giỏ. Hai người vừa bắt vừa đếm được 99 con. Thấy đáy vó còn duy
nhất một con cá trê đang mang bụng chửa, ông già đã nghe lời Ngài thả nó
về sông để làm phúc. Rồi vì mải vui vì được nhiều cá, khi ngoảnh lại ông
già đã không thấy vị khách qua đường đâu. Nhớ lại phong độ đạo mạo và
việc làm dị thường của người khách lạ, ông biết rằng mình vừa được gặp
Thánh nhân nên vội về làng loan báo tin vui. Từ đấy hàng năm, dân trong
vùng lại mở hội đánh cá trên trên sông Tích, chọn 99 con cá làm lễ vật
dâng lên Thánh Tản để cảm tạ ân đức của Ngài. Lại nói chuyện con cá trê,
sau khi được phóng sinh đã sinh nở đầy đàn. Nhớ ơn cứu mạng, khi sắp
chết, cá trê nọ đã cố bơi về gần đền Và, ngoảnh đầu bái lạy. Nơi này về
sau gọi là xóm Trê.
Ngoài mục đích dựng lại tích Thánh Tản kéo vó, lễ
hội đả ngư còn mang tính khuyến ngư và giữ gìn môi trường sinh thái vùng
sông Tích. Lệ vùng này quy định, mùa đánh cá trên sông Tích được diễn ra
trong 3 tháng, nhất thiết chỉ được bắt đầu từ ngày mở hội, trước đó, ai
lén lút phạm luật sẽ bị thánh giáng họa. Mỗi khi vào hội, dân hai bờ
sông Tích đổ ra kín cả một khúc sông, dưới nước trai đinh nhộn nhịp bơi
lội úp xúc, trên bờ dân làng thôi thúc trống chiêng cổ vũ. Dù bắt được
ít hay nhiều cá, ai cũng có lộc. Số cá được chọn để dâng lên Đức Thánh
Tản là 99 con. Theo quan niệm dân gian đây là con số thiêng như là có 99
núi Voi quay đầu về đền Hùng, 99 núi voi quay về Chùa Hương... Con số 99
ở hội đả ngư còn nhắc chuyện con cá trê mang bụng trứng được phóng sinh
năm xưa. Nghĩa cử ấy hợp với việc bảo tồn nguồn thủy sản ngày nay.
Hội đả ngư là nét đẹp văn hóa truyền thống đặc
trưng của vùng xứ Đoài. Chính bởi điều này nên trong dịp Đường Lâm đón
Bằng công nhận Di tích quốc gia làng Việt cổ, dân làng đã dựng lại trò
đả ngư xưa. Hội đả ngư được tổ chức trên một đoạn sông Tích với sự tham
gia của 50 tráng đinh (tượng trưng cho 50 người con theo mẹ lên núi),
vật dụng cho mỗi người là một chiếc giỏ, một chiếc dập sào và một chiếc
vợt. Khai hội, vị trưởng lão mặc trang phục truyền thống tay cầm trống
khẩu hướng về núi Tản cầu Thánh phù hộ dân khang, vật thịnh. Kết thúc
phần lễ, một ngư đồng sẽ đánh mõ cá và tất cả tráng đinh nhảy xuống sông
dập úp cá trong tiếng cổ vũ, reo hò của mọi người. Người nào bắt được cá,
đem đến dâng cho vị trưởng lão để cho vào một chiếc giỏ cho đến khi đủ
99 con. Lễ dâng cá thờ được diễn ra ngay tại bờ sông Tích. Vị trưởng lão
hành lễ, tráng đinh và nam nữ múa mừng công.
(HC -
Theo báo Hà Tây)
|
|
Hội làng là tinh hoa văn hóa Việt Nam
Hàng
năm, có lẽ không có làng quê Việt Nam nào lại không mở hội làng, nhỏ thì
một ngày, lớn thì nhiều ngày, nhất là những năm được mùa thì hội làng
vui không kể xiết. Hội làng ở các làng quê nước ta thường được tổ chức
vào mùa xuân, khi đất trời giao hòa, thiên nhiên tươi tốt, lòng người
hân hoan. Có thể nói, trên cái nền hết sức phong phú và đa dạng của hội
hè, đình đám ở nông thôn Việt Nam, hội làng được coi là thời điểm cuốn
hút nhất, tưng bừng nhất với những nghi thức tôn nghiêm và thuần Việt
nối đời: tế lễ, rước, trò vui và hát xướng...
Ngoài các quốc lễ do Nhà nước phong kiến tổ chức, hội làng thường do một
làng đứng ra tổ chức, hoặc có thể do một số làng gần nhau cùng thờ chung
một thành hoàng, cùng có mối liên hệ lịch sử thông qua sự tích thánh mà
họ tôn phụng. Nhưng, dù là hội của một làng hay liên làng thì hội làng
như một mạch nước ngầm xuyên thời gian, bừng chảy tràn trề trong đời
sống vật chất, tinh thần và tâm linh người Việt.
Hội
làng đã có từ xa xưa, theo sử sách, nhiều hội làng nổi tiếng tiêu biểu
cho tín ngưỡng phồn thực được bảo lưu từ thời thượng cổ. Ngay trên trống
đồng cổ, cũng có những nét hoa vǎn, dấu ấn của hội làng. Có những hội
làng trở nên tiêu biểu, nức tiếng gần xa như hội: Đền Hùng-tỉnh Phú Thọ,
hội Cổ Loa, Lệ Mật, Phù Đổng của Hà Nội, hội Liễu Đôi (Nam Hà), Bắc Ninh
có hội Đồng Kỵ, hội Lim... Bắc Giang có hội Yên Thế, Xương Giang, Thổ Hà,
Vạn Vân, các hội làng ở Hà Tây, Hội đền Kiếp Bạc (Hải Dương), hội chùa
Dâu, Bà Chúa Kho (Bắc Ninh), hội chùa Keo (Thái Bình) và hội đua ghe ngo
của đồng bào Khơme Nam Bộ, hội vùng núi Sam (Châu Đốc - An Giang)...
Có
thể nói, hội làng mang tính cộng đồng sâu sắc, đó là đỉnh cao của sự hòa
hợp, đoàn kết vì một ước nguyện chung cho sự phồn vinh của làng xã. Hội
làng thường được tổ chức thật vui, thật đầm ấm tình làng nghĩa xóm, điều
đó thể hiện qua những khâu chuẩn bị cho đến khi nuối tiếc lúc tan hội.
Có xem hội làng mới cảm nhận hết ý nghĩa và lòng tự hào dân tộc với một
truyền thống vàng son.
Cũng
như Lễ hội truyền thống, hội làng gồm hai phần lễ và hội, thường diễn ra
ở các ngôi đình làng. Nhưng, ở hội làng, phần hội bao giờ cũng nổi trội
hơn. Lễ thể hiện lòng ngưỡng mộ, sùng bái anh hùng, tôn vinh danh nhân,
người có công với dân, tổ nghề, có thể là những thần, thánh, phật, mẫu,
những nhân vật siêu phàm, những đại diện cho tôn giáo, người bảo trợ
tinh thần và đem lại đời sống ấm no, hạnh phúc cho cộng đồng. Phần lễ
thường gồm các hoạt động rước nước và mộc đục, rước và tế... Hội là dịp
thể hiện những sinh hoạt văn hóa cộng đồng từ múa, hát giao duyên, hát
thờ, các diễn xướng sân khấu cổ truyền, các cuộc thi tài mang tính
thượng võ (bơi trải - hội làng Đăm, chạy cờ - làng Triều Khúc, thú chơi
cờ người - làng Xuân Phương...), các trò diễn phong tục (thổi cơm thi -
làng Thị Cấm, bơi cạn và bắt chạch trong chum - làng Hồ, trình nghề -
làng Sài Đồng, thú chơi thi thơ, thú chơi tạo cây cảnh, con giống bằng
sáp nến, thú chơi chọi gà, vùng Bưởi)...
Trong các sinh hoạt hội, mọi người tham gia trình diễn, sáng tác, thưởng
thức và hưởng thụ sau những ngày lao động vất vả, không kể sang hèn. Vì
thế, có thể cho rằng, hội làng đã tạo nên niềm cộng cảm sâu sắc giữa các
thành viên trong cộng đồng, là sự nhất quán trong việc trao truyền các
giá trị vǎn hóa giữa các thế hệ.
Tuy
nhiên, bên cạnh những yếu tố tích cực là khơi dậy lòng yêu quê hương đất
nước, tinh thần tự hào dân tộc, ý thức hướng về cội nguồn, hội làng còn
tồn tại một số tập quán lạc hậu, những biểu hiện mê tín, những tệ nạn xã
hội. Ở một số nơi, hội làng được tổ chức không phải để tôn vinh các giá
trị truyền thống mà để kinh doanh kiếm lời. Họ rào làng, bịt lối, bán vé
vào cửa, bán vé vào lễ, gây phiền hà cho người đến lễ hội, trái ngược
hẳn với tục mở rộng vòng tay đón bạn mười phương về chung vui hội làng
thời xưa. Các tệ nạn mê tín dị đoan như: lên đồng, bói toán, đội bát
nhang, uống nước thánh, đốt vàng mã, cúng tế, rước xách linh đình kéo
dài ngày càng có chiều hướng gia tǎng. Hơn nữa, trong hội làng đã bắt
đầu xuất hiện các tệ nạn xã hội như: đánh bạc, cá cược, hút thuốc phiện...
Một mùa lễ hội mới đã về trên khắp nẻo làng quê Việt Nam. Chúng ta mong
rằng hội làng vẫn giữ nguyên sức cuốn hút, hấp dẫn của nó, giảm trừ các
hủ tục, tệ nạn xã hội. Bởi hội làng là tinh hoa văn hóa Việt Nam, là
chìa khóa vĩnh cửu - một sự đảm bảo chắc chắn góp phần xây dựng nền văn
hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
(HC –
Theo dangnangpt) |
|
NGƯỜI THỂ HIỆN THƠ BÁC HỒ BẰNG NGHỆ THUẬT THƯ
HỌA
Nhân
dịp kỷ niệm 62 năm ngày Cách mạng Tháng Tám
thành công và Quốc khánh nước CHXHCN Việt Nam
(2.9.1945 - 2.9.2007) Hội Văn học Nghệ thuật các
dân tộc T.P Hồ Chí Minh xuất bản tập thơ "Nhật
ký trong tù" của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Điều đặc
biệt, đây là lần đầu tiên tác phẩm văn học lớn -
một văn kiện lịch sử vô giá của Đảng ta được các
nghệ sỹ thể hiện bằng "nghệ thuật thư họa" để tỏ
lòng biết ơn và kính trọng đối với công lao và
sự nghiệp của Bác Hồ và mong muốn góp phần trong
cuộc vận động toàn Đảng, toàn dân: "Học tập và
làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh". Một
trong những nghệ sỹ tiên phong trong việc thể
hiện thơ Bác Hồ bằng "nghệ thuật thư họa" là họa
sỹ Trương Hán Minh.
Các nhà thư pháp trong và ngoài nước cũng
như đông đảo độc giả đánh giá rất cao các tác
phẩm "nghệ thuật thư họa" của họa sỹ Trương Hán
Minh thể hiện thơ chữ Hán của Bác Hồ trong tập "Nhật
ký trong tù" như các tác phẩm: "Khai quyển"
(Mở đầu tập Nhật ký), "Phân thủy" (Chia
nước), "Dã cảnh" (cảnh ngoài đồng), "Vãng
Nam Ninh" (Đi Nam Ninh), "Công kim" (Tiền
công), "Anh phỏng Hoa đoàn" (Đoàn đại
biểu Anh thăm Trung Hoa), "Lai Tân ", "Đáo Đệ
tứ chiến khu Chính trị bộ" (Đến Cục Chính
trị chiến khu 4), "Thu cảm"... Không
những thế, Trương Hán Minh cũng là người đi tiên
phong và cũng rất thành công khi dùng nghệ thuật
vẽ tranh thủy mặc thể hiện và minh họa thơ Bác
Hồ như các tác phẩm: "Kim dạ nguyên tiêu
nguyệt chính viên", "Xuân giang, xuân thủy, tiếp
xuân thiên", "Yên ba thâm xứ đàm quân sự", "Dạ
bán quy lai nguyệt mãn thuyền", "Nhớ chiến sỹ"...
với lối
điểm bút phá mặc, vẽ mây trên núi,
khói sương phủ rừng cây rất sinh động.
Các tác phẩm tranh thủy mặc của Trương Hán
Minh đã nhiều lần được in vào tuyển tập tranh vẽ
mỹ thuật toàn quốc và tuyển tập tranh danh nhân
nhiều nước trên thế giới. Tranh Trương Hán Minh
đã từng triển lãm cá nhân, tại Pháp, Mỹ, Trung
Quốc, Đài Loan, Australia, Malaixia, Lào... hoặc
triển làm gây quỹ từ thiện, ủng hộ quỹ "Vì người
nghèo" trong và ngoài nước hơn 50 lần. Tại Viện
Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Viện Bảo tàng Văn
hoá các dân tộc Việt Nam, Viện Bảo tàng Mỹ thuật
TP HCM cũng như các bảo tàng cá nhân, người sưu
tập, người yêu nghệ thuật các nước Đông Nam Á và
Thế giới treo tranh thủy mặc của Trương Hán
Minh. Khi đến thăm Nghệ Uyển Lĩnh Nam của Họa sỹ
ở T.P Hồ Chí Minh tháng 7/1996 ông Quách Siêu
Nhân - Tổng giám đốc Tân Hoa xã Trung Quốc nhận
xét: "Trương Hán Minh là họa sỹ hàng đầu của
tranh Thủy mặc của Việt Nam và cả cộng đồng
người Hoa trên thế giới, tài năng của anh được
ghi nhận, tấm lòng nhân ái của anh được trân
trọng..."
Ngày nay nhiều người biết Trương Hán Minh
là: Hội viên hội Mỹ thuật Việt Nam; Thường vụ
Ban chấp hành Hội VHNT các dân tộc thiểu số Việt
Nam; Ủy viên Thường vụ Ban chấp hành Hội văn hóa
các dân tộc TP HCM; Hội trưởng Hội Mỹ thuật
người Hoa; Chủ nhiệm CLB Mỹ thuật người Hoa TP
HCM... Nhưng lại không nhiều người biết từ nhiều
năm nay Anh là Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
cả 4 cấp từ cơ sở đến Trung ương với rất nhiều
cống hiến cho sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân
tộc cũng như các đóng góp nhân đạo, từ thiện,
giúp đỡ người nghèo, người tàng tật một cách
khiêm nhường, bền bỉ theo đúng nghĩa "thương
người như thể thương thân".
Cùng tham gia Hội đồng Tư vấn về lĩnh vực
Văn hóa Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, tôi có
nhiều dịp được trò chuyện cùng họa sỹ trong
những dịp đi công tác thành phố Hồ Chí Minh cũng
như khi họa sỹ ra Hà Nội họp Hội đồng Tư vấn,
họp Ủy ban Trung ương Mặt trận hoặc đi công cán,
giao lưu, sáng tác. Có lần tôi hỏi Anh về chuyện
"nhắm mắt vẽ tranh". Anh cho biết báo chí viết
về anh khá nhiều, nói chung là chân thực, nhưng
cũng có những tác giả có thể vì quá yêu mến hoặc
hiểu sai, tiếp nhận thông tin không chính xác
nên gây ngộ nhận, hiểu lầm trong công chúng. Thí
dụ có báo viết Anh được sinh ra trong gia đình "gia
phả" (?) có truyền thống nhiều đời vẽ tranh thủy
mặc. Có người lại viết anh thường "không cần
nhìn giấy, nhắm mắt để vẽ tranh"...?
Anh
cho biết: Hội họa với tôi không phải là nghề gia
truyền vì cha mẹ tôi là nhà nông thì truyền cái
gì. Gia đình tôi chỉ có ba biết chữ còn má thì
không biết chữ. Ba, má tôi quê ở Triều Châu (Quảng
Đông), sau chiến tranh với Nhật Bản do đói nghèo
không có ăn nên đã chạy qua Việt Nam ở khu Chợ
Lớn mới sanh ra tôi. Đầm Sen, Chợ Lớn là nơi "chôn
nhau cắt rốn" của tôi. Lúc đầu ba, má tôi không
có nghề nghiệp gì sau bà con bày cho mới biết đi
trồng trọt, khai hoang, chặt tre, chặt trúc,
nuôi heo, đào ao nuôi cá, qua mười mấy năm mới
có ăn và khá giả hơn chút xíu. Hồi nhỏ tôi học
hết lớp tư phải nghỉ 2, 3 năm để giúp nhà trồng
trọt sau gia đình khá giả mới học tiếp được, nên
học thức của tôi đâu có cao chỉ học hết lớp
10/10. Hồi đó học Đại học phải đi nước ngoài mà
mình đâu có khả năng. Sau đó mình tự học nhưng
không dám công khai. Hồi tôi 17 tuổi vừa học vẽ
vừa làm cơ khí, sản xuất dây thun (chun), các
ngón chân tôi đều bị thương hết do nước ăn chân
khổ cực lắm không ai biết đâu. Ngay từ lúc học
phổ thông tôi đã vừa học vừa làm. Hội hoạ là học
lén chứ cha mẹ đâu có cho học. Ba tôi không đồng
tình việc học vẽ vì cho rằng hoạ sĩ nghèo nên
mình phải học lén từ bé nên bị đánh hoài vào tay.
Tôi học văn hoá không khá nhưng vẽ thì lần nào
cũng được khen. Tôi phải mất trên mười lăm năm
vất vả làm kinh tế, vừa học vẽ, vừa làm thuê.
Sau này sản xuất phát triển có thuê thêm công
nhân nhưng mình cũng kiêm luôn các việc vừa là
giám đốc, thủ quỹ, người giao hàng... làm vất
lắm nên bị dau dạ dày từ sớm. Mấy chục năm vừa "cầm
búa" vừa "cầm cọ" (bút vẽ)
cho đến bây giờ vừa "cầm cọ" vừa
làm công tác Mặt trận và làm từ thiện, giúp đỡ
người nghèo.
Nói về tranh thủy mạc Anh tâm sự: Mỗi bức
vẽ đều phải có thần, có khi luyện mấy chục năm
mới thành được. Mỗi bức vẽ đều là "độc nhất, vô
nhị". Vẫn người đó vẽ bức thứ hai đã không hoàn
toàn giống bức đầu nữa. Nói về bút pháp, ngày
xưa thày Lương Thiếu Hằng thuộc họa phái Lĩnh
Nam ở Nghệ uyển Đông phương. Thày dạy tôi chỉ có
"tứ quân tử" (mai, lan, trúc, cúc) mà tôi tập
mất 3 năm. Mình tập rồi mới biết tại sao như vậy.
Thành ra trong đó nó có nguyên tắc, biết được
thì rất dễ dàng. Ban đầu thày dạy chỉ có mấy nét
phất qua, phất lại cũng thành cành trúc rất là
đẹp, rất là mạnh mẽ. Nhưng tất cả cũng từ mấy
nét phất qua, phất lại đó bao gồm đủ thứ hết.
Qua thực tế mấy tháng khổ luyện mình mới vẽ được
thân trúc. Rồi qua mấy tháng nữa mới vẽ được cái
lá trúc... Ban đầu mình không biết cả chùm lá
trúc phải xử lý thế nào, vẽ nét nào trước, nét
nào sau. Sau đó mình tìm ra phương pháp, nhìn ra
cấu tạo giống như bàn tay mình, mình vẽ như bàn
tay xen kẽ, đưa trước, đưa sau, đắp qua đắp lại
như những chữ nhân, chữ cái 3 nét chồng vô, thấy
hơi mỏng lại chồng vô tiếp chữ nhân ở dưới. Có
thể bên cạnh thấy còn thiếu laị chồng thêm chữ
nhân, tạo ra chùm lá rất đẹp. Trong bố cục chồng
chữ cái, với chữ giới thành chữ phân rồi từ đó
mình có 3 chữ cái mình mới chồng lên có tầng cao
tầng thấp, cành thì thêm chút lá cây vô có chỗ
trống không cần vẽ bút không tới mà ý tới rồi.
Lúc mình dạy học sinh vẽ cái cành thì mình nhấn
thêm vài nét lá thành chữ nhân cứ chéo qua chéo
lại thành ra nét bút có chỗ đậm có chỗ nhạt có
chỗ dày, có chỗ thưa nên bố cục nó mới tinh tuý,
chứ đều quá thì không được. Mình tự học và
nghiên cứu mất 3 năm, đúc rút tổng kết lại để
giải thích cho học sinh có 1 tiếng đồng hồ các
em hiểu để trong 3 tháng luyện tập có thể vẽ
được. Cái đó gọi là phương pháp sư phạm. Ngày
xưa thày dạy mình đâu có sư phạm như vậy. Mình
phải tự tìm ra cái sư phạm để dạy học sinh. Anh
đã dạy nhiều năm và đã tìm ra phương pháp dạy
thành công, cho tới bây giờ Anh đã dạy ở Trường
đại học Mỹ thuật Huế, dạy Đại học Sư phạm và Đại
học Mỹ thuật Quảng Tây, Trung Quốc.
Anh
dẫn tôi đi thăm và giới thiệu các phòng vẽ,
phòng trưng bày tranh thuỷ mặc ở Nghệ Uyển Hán
Minh, Nghệ Uyển Lĩnh Nam và tư gia. Gặp lại
những chủ đề
hoa điểu, sơn thủy
quen thuộc của anh qua những: Sơn xuyên đa
tình, Nhất giang xuân thủy, Tùng hạc diên niên,
Thanh sơn lệ thủy, Giang sơn đa tình, Xuân phong
đắc ý, Hạ nhật phong tình,
Anh hùng đại triển, Hoa thơm bướm lượn, Hạ đàm thanh thúy, Ưu nhiên tự
đắc, Tùng hạc trường xuân, Hoa mẫu đơn, Uyên
ương... nét vẽ đậm nhạt, xa gần, mơ
hồ, huyền ảo như có thần sắc sống động rất lạ,
khiến người thưởng ngoạn phải trầm trồ thán phục.
Bên cạnh những chủ đề, phong cách truyền thống
Trương Hán Minh lại có những tác phẩm, đề tài
gần gũi, mang phong cách mới lạ như: Ký ức
Trường Sơn, Sắc Thu hồ Hoàn Kiếm, Xuân Sa Pa,
Nhà ở Mường Khương Lào Cai, Thác Bản Giốc,
Vịnh Hạ Long, Góc biển Cà Mau, Ký ức Sa Pa, Ký
họa Cần Giờ..., vẫn là sắc nước
hương trời, là thiên nhiên bốn mùa, nhưng đường
nét, màu sắc rất phóng khoáng, sinh động và hiện
đại.
Trả lời nhận xét của tôi Anh nói: Tranh
thuỷ mặc chú trọng cả ba thứ: Hình, thần và ý.
Hình là cái cốt để gửi ý. Thần là cái chủ yếu
làm cho tranh sống động. Thuỷ mặc gửi cái thần
và cái ý dưới các hình thức phong cảnh, tre trúc,
hoa lá, điểu ngư... nhằm biểu đạt niềm vui và
nỗi buồn của con người qua tác phẩm.
Tranh thuỷ mặc của mình vẫn giữ
cái truyền thống nhưng phát triển thêm cái hiện
đại. Có truyền thống mà không theo kịp thời đại
thì sẽ bị lạc hậu, lạc hậu thì chỉ những người
thích cái cũ cái truyền thống họ thích thôi. Nên
phải kết hợp giữa cái cũ và mới nên tranh của
mình kết hợp vừa cổ vừa kim. Vừa học hỏi, vừa
sáng tạo, từ cái một biến thành cái mười, từ cái
mười biến thành cái trăm, vì thế càng ngày càng
phong phú rộng rãi hơn. Vì thế, tranh của mình
vẽ đủ thứ hết không chỉ là hoa lá, chim muông
đâu mà cả thú vật, động vật... Như khi đi Sa Pa
mình chỉ để ý tìm chất riêng của phong cảnh miền
Bắc và mình lấy phong cảnh sơn thuỷ truyền thống
đưa vào rồi mình biến lại, trang điểm lại một
chút hiện đại nhưng nhìn không thể biết. Thành
ra mình đi thực tế để từ cái cũ người xưa để lại,
rồi mình thêm cái mới vô và lấy cái truyền thống
làm nền tảng, lấy cái của mình mới khám phá tới
thành cái của mình, nên cái họ có mình cũng có
và cái họ không có mình cũng có.
Nghe
anh nói tới đây tôi chợt nhớ hôm vừa xuống sân
bay Tân Sơn Nhất thì nghe Truyền hình Thành phố
đưa tin: Họa sĩ Trương Hán Minh vừa khai mạc
phòng triển lãm "Tranh thủy mặc" ủng hộ quỹ "Vì
người nghèo" sáng nay tại nhà triển lãm 92 Lê
Thánh Tôn, TP Hồ Chí Minh. Triển lãm khai mạc
hôm nay và kéo dài đến hết ngày 20/10. Số tiền
bán được của phòng tranh này sẽ được chuyển vào
quĩ ủng hộ "Vì người nghèo"... Thực ra người
dân Thành phố và các tỉnh biết đến anh, gọi Anh
là con người của công chúng không phải vì Anh là
họa sỹ vẽ "Tranh thủy mặc" hàng đầu Việt Nam mà
vì họ thường thấy Anh xuất hiện trong các buổi
từ thiện để quyên góp, giúp đỡ người nghèo, ủng
hộ đồng bào bị bão lụt thiên tai, ủng hộ quỹ
khuyến học, quỹ "đền ơn đáp nghĩa" v.v. với số
tiền hàng nhiều trăm triệu đồng mà anh không thể
nhớ hết và cũng không muốn kể với ai. Có điều
anh rất tự hào khẳng định là họa sỹ duy nhất ở
Việt Nam tham gia Ủy ban Mặt trận ở cả 4 cấp:
cấp phường, cấp quận, cấp Thành phố và cấp Trung
ương. Anh bảo: khi mình làm công tác Mặt trận
các cấp (từ năm 1982) càng được gần dân, sống
với dân và sống vì dân... nó vơi đi nhiều nỗi
buồn. Tại tư gia của Anh tôi đã thấy xếp hàng
chồng các loại bằng khen, của các tỉnh, thành,
các ngành, các cấp vì những thành tích và công
lao đóng góp của Anh với cộng đồng, với đất nước,
với nhân dân. Anh đã tham gia 3 khóa Mặt trận
Trung ương và tôi được biết Đại hội Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam lần thứ VII Anh vẫn tiếp tục cống
hiến trí tuệ, sức lực, của cải vì sự nghiệp đại
đoàn kết toàn dân tộc. Đó cũng là cách Anh "Học
tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"
một cách thiết thực, dản dị và đáng trân trọng
biết bao./.
TUẤN ANH
|
|
| |
| |
 |
|
|