
|
TỔ QUỐC VIỆT NAM - DÂN TỘC
VIỆT NAM
Nước
Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Các dân tộc ở Việt Nam
Người Việt Nam ở nước ngoài
*******************************************************************

*******************************************************************
|
|
Về thăm đất tổ Hùng
Vương
Hải dương văn hiến
Về thăm quê hương nhãn
lồng
Thành phố bên sông Hàn
Một thoáng Bạc Liêu
Về thăm đất Quảng
Bắc cạn - miền sơn cước
Ngôi
chùa Việt Nam lớn nhất tại châu Âu - Chùa Trúc Lâm- Kharcov |
|
|
Về thăm quê hương nhãn lồng
Hưng Yên là một tỉnh nhỏ nằm giữa
đồng bằng Bắc Bộ từ lâu đã nổi tiến là quê hương của nhãn lồng, của
táo Thiện Phiến, dưa hấu Đình Cao, của những cánh đồng lúa vàng "tam
thiên mẫu" cò bay mỏi cánh và những đồng đay, soi mía, bãi ngô,
nương dâu xanh dờn, tít tắp dọc theo bờ bãi sông Hồng đỏ nặng phù xa...
Kinh Bắc
Người Việt Nam hầu như ai cũng một lần
được nghe chuyện Đầm Dạ Trạch với Chử Đồng Tử và nàng Tiên Dung-
thiên tình sử diễm lệ vào bậc nhất của nhân dân Đại Việt; chuyện
Tống Trân-Cúc Hoa chồng tài giỏi vợ thuỷ chung, hay câu ca dao: "Thứ
nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến". Cho đến những năm sau này nhiều
người vẫn còn nuối tiếc:"Đồn rằng phố Hiến vui hơn Kinh Kỳ". Vâng,
nhiều thế kỷ trước Phố Hiến đã từng là cửa sông Cái thông ra biển,
nơi tàu thuyền các nước đến giao thương buôn bán, trên bến dưới
thuyền tạo cho phố Hiến cái không khí phồn thịnh, tấp nập và sầm uất
chỉ sau có Kinh thành Thăng Long. Phố Hiến ngày xưa chính là thị xã
Hưng Yên thủ phủ của tỉnh Hưng Yên mới được tách ra từ tỉnh Hải Hưng
ngày 1 tháng 1 năm 1997.
Tỉnh Hưng Yên đời Ngô gọi là Đằng Châu,
đời Trần gọi là Long Hưng và Khoái Lộ. Đời Lê, Hưng Yên thuộc Nam
Định sau gọi là Thiên Trường thừa tuyên rồi Sơn Nam thượng. Tỉnh
Hưng Yên ngày nay là một phần của trấn Sơn Nam cũ, là phên giậu về
phía nam của Kinh thành Thăng Long. Năm 1831 đời Nguyễn, Hưng Yên
được lập thành tỉnh như ngày nay và còn thêm các huyện Thần Khê,
Duyên Hà, Hưng Nhân nay thuộc tỉnh Thái Bình. Tỉnh Hưng Yên ngày nay
có diện tích 923 km2 với 10 đơn vị hành chính là thị xã
Hưng Yên và 9 huyện Phù Cừ, Tiên Lữ, Ân Thi, Kim Động, Khoái Châu,
Văn Giang, Văn Lâm, Mỹ Hào, Yên Mỹ.
Từ thời Hùng Vương giặc Ân sang cướp ta
nhân dân vùng Hưng Yên đã nô nức theo Phù Đổng Thiên Vương đánh tan
quân giặc, giữ yên bờ cõi. Thời Bắc thuộc Triệu Quang Phục đã dùng
đầm lầy Dạ Trạch-Màn trò Khoái Châu làm căn cứ đánh giặc lâu dài,
sau giết được tướng giặc Dương Sàn, chiếm được Long Biên giành lại
đất nước. Ông tự xưng là Triệu Việt Vương nhưng dân gian thường gọi
ông là Dạ Trạch Vương. Ngày nay về xã Dạ Trạch huyện Châu Giang bạn
sẽ được nghe kể về Chử Đồng Tử và nàng Tiên Dung, về Triệu Quang
Phục với những chiến công đầy huyền thoại. Thời nhà Trần đánh giặc
Nguyên lại có Phạm Ngũ Lão người làng Phù ủng châu Thượng Hồng xuất
thân từ quân lính lập nhiều chiến công phá Nguyên, bình Chiêm sau
trở thành một danh tướng có tài được thăng đến Thân vệ đại tướng
quân. Ông cũng được quân dân hết sức yêu quý, kính trọng vì lòng
nhân ái, chia ngọt xẻ bùi, thương quân lính như con. Ông còn để lại
bài Thuật Hoài nổi tiếng với những câu thơ đầy khí phách: "Nam nhi
vị liễu công danh trái. Luống thẹn tai nghe chuyện Võ Hầu". Cùng
thời với Ngũ Lão còn có Yết Kiêu quê ở Hạ Bì, có tài bơi lặn đục
thuyền giặc, Nguyễn Chế Nghĩa ở Cối Xuyên dũng cảm tuyệt vời đều là
những tướng tài danh của nước nhà. Khi giặc Pháp xâm lược nước ta,
năm 1888 quận Kỳ dã chỉ huy diệt đồn Bình Phú ở Hưng Yên. Bền bỉ
nhất là phong trào Bãi Sậy do Tán Thương quân vụ Nguyễn Thiện Thuật
chỉ huy. Lúc làm quan ông đã đánh Pháp đến khi triều đình Huế chịu
thua, Ông vẫn tiếp tục mộ quân đánh Pháp. Căn cứ của nghĩa quân là
vùng bãi Sậy rậm rạp vùng Khoái Châu. Từ năm 1883 đến 1891 nghĩa
quân đã đánh giặc rất nhiều trận Khắp Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh.
Sát Hà Nội, lại ở ngay giữa đồng bằng nhưng phong trào Bãi Sậy đã
tồn tại suốt một thời gian dài trên một điạ bàn rộng lớn gây cho
giặc Pháp rất nhiều tổn thất. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp lần thứ hai (1945-1954) tỉnh Hưng Yên khi ấy chỉ có diện tích
hơn 800km 2 với 127 xã nhưng có đến hơn 400 đồn bốt giặc
đóng. Trong các cuộc càn quét chúng đã giết hàng vạn người, đốt phá
hàng trăm thôn, xóm, hàng vạn ngôi nhà nhưng nhân dân Hưng Yên kiên
cường quyết không khuất phục. Trên mảnh đất này đã diễn ra hàng trăm
trận đặt chông mìn, đánh độn thổ "cướp súng giặc đánh giặc". Đường
số 5 địch rào thép gai đặt tháp canh giày đặc nhưng đêm đêm cán bộ
du kích và từng đoàn dân công vẫn gánh gạo tải lương vượt đường.
Giặc đóng đồn bốt lập tề, ta phá tề, trừ gian mở rộng khu du kích.
Giặc càn quét bắc sông Luộc, Khoái Châu, Văn Giang bị ta tiêu diệt
2000 tên. Chiến công của đội nữ du kích Hoàng Ngân và những vua mìn
đường 5 đã nhiều phen khiến lũ xâm lăng phải bạt vía kinh hồn.
Từ Hà Nội, theo Quốc Lộ số 5 đến Như Quỳnh
chúng ta vào đất Hưng Yên, đi khoảng 7km nữa bạn sẽ gặp thị trấn lớn
mang tên Bần Yên Nhân. Hẳn có bạn sẽ hỏi rằng câu ca: "Dưa La, cà
Láng, nem Báng, tương Bần..." là tương ở đây ư? Vâng! đây chính là
nơi có tương Bần ngon nổi tiếng khắp trong Nam ngoài Bắc. Xin bạn
hãy nhớ để đến khi về có thể mua một can nhỏ làm quà. Cách Bần Yên
Nhân 1km về phía tây bắc bạn có thể thăm chùa Thái Lạc với những bức
chạm gỗ rất đẹp và gạch hoa từ đời Trần. Ai đó trong chúng ta thủa
thơ bé đã được bà, được mẹ hát ru: "Cái Bống đi chợ cầu Nôm. Sao mày
chả rủ cái Tôm đi cùng.." Xin bạn hãy xác định thêm một địa danh cầu
Nôm ở làng Đại Đồng thờ đức thánh Tam Giang. Gần đó là Hương Lãng có
chùa Lạng được xây từ thời Lý hiện vẫn còn nhiều tượng đá rất đẹp.
Theo đường 5 cách Bần 2km là phố Nối bạn gặp ngã ba đường 39 đi thị
xã Hưng Yên. Chúng ta rẽ phải theo đường 39 khoảng 2km là làng Liêu
Xá huyện Yên Mỹ quê hương của danh y Hải Thựơng lãn ông Lê Hữu Trác,
tác giả 66 tập Hải Thượng Y tôn tâm lĩnh. Cạnh Liêu Xá là làng Thanh
Xá thờ Phạm Công Trứ, sử gia đời Lê, tác giả Quốc sử tục biên, hiện
còn nhiều bia ở đình thờ. Đi tiếp 3 km là Sài Trang lị sở huyện Yên
Mỹ, ở đây từ xa xưa đã có chợ bán chàm, Nhà máy xay Yên Mỹ cũng đặt
ở đây. Qua khỏi thị trấn là cầu Lực Điền bắc qua sông Nghĩa Trai
sang đất Châu Giang, bạn sẽ gặp những cánh đồng lúa, đồng đay bạt
ngàn. Dọc theo hai bên đường 39 cũng như các đường vào làng, đường
liên thôn liên xã là những dặng nhãn chạy dài tít tắp. Đi thêm chừng
3 cây số có Trường cao đẳng sư phạm kỹ thuật I, ta cũng gặp đường
bên phải đi huyện lị Khoái Châu cũ nay là huyện Châu Giang. Vùng đất
này có nhiều địa danh đã đi vào lịch sử như đầm Dạ Trạch, bãi Tự
Nhiên với câu chuyện Chử Đồng Tử và nàng Tiên Dung; Bãi lầy Màn Trò
nơi vang tiếng thét của Trần Bình Trọng "thà làm quỷ nước Nam còn
hơn làm vương đất bắc"; Hàm Tử quan, nơi Trần Quang Khải, Trần Nhật
Duật và Trần Quốc Toản đã thắng quân Nguyên; làng Đông Kết, Tây Kết
nơi bại tướng Nguyên là Toa Đô bị chém đầu. Tiếp tục hành trình trên
đường 39 qua Bô Thời vài km bạn có thể dừng chân nghỉ uống thử hớp
rượu Trương Xá được coi là nổi tiếng nhất vùng mía vùng đay Hưng Yên.
Bên trái là đường đi Ân Thi quê hương Nguyễn Trung Ngạn, nhà thơ nổi
tiếng thời Trần, vốn là con một người đào hát mà đỗ Hoàng Giáp(tiến
sỹ) năm1304 khi mới 16 tuổi. Từ Trương Xá đi tiếp 6 km bạn gặp thị
trấn lị sở huyện Kim Động, có đền thờ Đinh Điền một tướng giỏi, khai
quốc công thần của nhà Đinh ở trại Đằng Man. Qua khỏi huyện lị Kim
Động vài cây bạn gặp dốc Lã lên đê sông Hồng, nơi đây có nghề làm
hương khá nổi tiếng. Từ đây đến thị xã Hưng Yên bạn sẽ tự do phóng
tầm mắt chiêm ngưỡng những bờ soi, bãi mật, của ngô, của dâu, của
những xóm làng trù phú ven dòng sông Cái đỏ nặng phù xa. Xe chạy
chừng dăm phút bạn đã gặp thị xã Hưng Yên nơi xa xưa có địa danh phố
Hiến. Ngồi nghỉ dưới gốc cây nhãn tổ bạn có thể bắt đầu tự tìm hiểu,
khám phá những bí ẩn về vùng đất này. Phố Hiến được đặt từ thời Lê
Quang Hưng(1578-1599) là cảng sông Cái có bến, có phố cho người nước
ngoài đến buôn bán, nộp thuế, bốc rỡ hàng. Khi ấy ở Phố Hiến đã có
đến 2000 nhà gạch. Từ năm 1637 có các lái buôn Bồ Đào Nha, Hà Lan và
sau đó là người Pháp đến mở hiệu buôn. Năm 1672 Công ty ấn Độ của
Anh cũng đến và ở 25 năm. Việc giao thương buôn bán với người nước
ngoài một thời đã tạo cho Phố Hiến sự đông vui sầm uất thực sự chứ
không phải qua lời đồn. Thị xã Hưng Yên được đặt thành tỉnh lị từ
năm 1831. Trải qua bao biến thiên của lịch sử ngày nay thị xã lại
được đặt làm tỉnh lỵ.
Sau hai mươi năm đổi mới cùng với đà phát
triển của đất nước thị xã đã có tốc độ phát triển đô thị hơn hẳn mấy
chục năm trước đây. So với các thị xã và tỉnh bạn bè trong cả nước,
hôm nay Hưng Yên còn là một thị xã nhỏ. Tuy chưa giàu nhưng vài năm
nay tỉnh Hưng Yên đã tham gia câu lạc bộ các tỉnh có nguồn thu nân
sách trên 1000 tỷ đồng. Chắc chắn trong những năm tới Hưng Yên sẽ
phát triẻn mạnh mẽ sánh vai cùng bè bạn xa gần, xứng đáng với truyền
thống của quê hương./.
Đông Ngàn Tử
|
|
MỘT THOÁNG BẠC LIÊU
Tỉnh
Bạc Liêu thời Nguyễn, thế kỷ 18 thuộc phủ Bãi Xâu, tỉnh An Giang.
Trải qua biết bao biến thiên của lịch sử với công sức tạo dựng, mở
mang của con người, vùng đất mới nhiều nắng gió phương nam này đã
trở nên trù phú vào bậc nhất của dải đất cực nam. Ngày 23 tháng 11
năm 1940, Nam Kỳ khởi nghĩa, Bạc Liêu và Cà Mau lập chính quyền nhân
dân. Đồng chí Trần Văn Thời, bí thư Bặc Liêu, bị đày ra Côn Đảo rồi
bị giết. Các đồng chí hy sinh nhưng phong trào vẫn âm ỷ trong quần
chúng. Ta cướp chính quyền ở Bạc Liêu ngày 25-8-1945...
Tỉnh Bạc Liêu ngày nay có diện tích
tự nhiên 2.584km2, số dân 82 vạn người, với 7 đơn vị hành
chính gồm thị xã Bạc Liêu là tỉnh lỵ và 6 huyện: Phước Long, Hồng
Dân, Vĩnh Lợi, Giá Rai, Đông Hải, Hoà Bình. Toàn tỉnh có 207.000 ha
diện tích đất nông nghiệp mầu mỡ, bằng phẳng đã được đầu tư cải tạo.
Chương trình thuỷ lợi ngọt hoá bán đảo Cà Mau với công trình Quản Lộ
Phụng Hiệp được thi công, đưa nước sông Hậu về cải tạo hơn 100.000
ha ruộng cấy một vụ thành ruộng hai vụ lúa, một vụ màu, tạo thêm
bước phát triển mới về kinh tế nông nghiệp. Miền Bạc Liêu, đồng đất
tốt, trồng trọt đã lâu, nghề chính là trồng lúa, có thể nói trên
trời, dưới lúa. Ngoài ra cũng trồng nhiều hoa màu, dứa, cây ăn quả.
Chăn nuôi có nhiều điều kiện để phát triển.
Bạc Liêu có bờ biển dài là thế mạnh
để phát triển ngành khai thác, chế biến, nuôi trồng thuỷ sản và sản
xuất muối. Biển Bạc Liêu rất nhiều cá như cá cơm, cá chim, cá nhám,
cá ria, cá chét, cá thu, cá gộc, tôm hùm, mực, nên nghề đánh cá biển
phát đạt. Ngoài bãi biển làm muối, nuôi tôm, ở Bạc Liêu đồng ruộng
nào cũng thả được cá... các vùng Vĩnh Lợi, Năm Căn, Thanh Hoa, có
những đồng muối rất lớn, rộng đến 5.000ha. Lâm sản ở Bạc Liêu có gỗ
đước, lá dừa nước, mật ong, sáp ong. Thủ công nghiệp có nghề làm
muối, làm chiếu, đốt than, nấu đường và chế biến thức ăn gia súc...
Theo đường trục lộ số 4 từ Cần Thơ
qua Sóc Trăng xuống 114 km là thị xã Bạc Liêu, (đi tiếp 180 km đến
Cà Mau, 35km nữa đến Cái Nước và 20km nữa đến vùng đất mũi Năm Căn).
Thị xã xây trên rạch Bạc Liêu, xa biển 10km, trung tâm lúa gạo lớn.
Từ thị xã có đường 57 km, đi cửa biển Mỹ Thạnh, phía đông tỉnh. Từ
Bặc Liêu đi, đi thành phố Hồ Chí Minh 280km, đi Hà Nội 2005km... Thị
xã Bạc Liêu vốn là tỉnh lỵ cũ của tỉnh Minh Hải đã hình thành một
trung tâm kinh tế sầm uất và trong tương lai gần, thị xã Bạc Liêu sẽ
là khu công nghiệp lớn với nhiều thế mạnh về công nghiệp và du lịch.
Những thắng cảnh độc đáo như vườn nhãn, sân chim Bạc Liêu, cùng với
các di tích lịch sử - văn hoá: Tháp cổ Vĩnh Hưng ở huyện Vĩnh Lợi,
di chỉ đồng Nọc Nạn quê hương cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu người khai sinh
ra bài vọng cổ Nam Bộ không chỉ là niềm tự hào của người dân Bạc
Liêu mà còn là những địa chỉ du lịch hấp dẫn du khách bốn phương./.
Hà Phương Nhân
|
|
VỀ THĂM ĐẤT QUẢNG
Tuấn Anh
Ai dã có một lần qua dải đất miền
Trung hẳn từng nghe câu ca:
Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đã ngà say.
Vâng! Đất Quảng, quê hương của những
chí sỹ yêu nước Hoàng Diệu, Ông ích Khiêm, Phan Châu Trinh, Thái
Phiên, Huỳnh Thúc Kháng...của những mẹ Nhu, mẹ Thứ và biết bao bà mẹ
Việt Nam anh hùng khác đã sản sinh ra những Nguyễn Văn Trỗi, Lê Thị
Thanh, Trần Thị Lý cùng những người dân xứ Quảng "trung dũng kiên
cường, đi đầu diệt Mỹ". Đất Quảng còn là xứ sở của những quế Trà
Bồng, Tiên Phước, vàng Bồng Miêu, tháp Chàm Trà Kiệu, Mỹ Sơn, Đồng
Dương, phố cổ Hội An...
Mảnh đất của sóng biển và cát, của
đại ngàn Trường Sơn ấy đời Hùng thuộc bộ Việt Thường. Trong những
năm Bắc thuộc người Chàm dựng nước Chăm Pa đóng đô ở Trà Kiệu. Năm
Bính Ngọ 1306 vua Trần gả công chúa Huyền Chân cho vua Chiêm Thành
là Chế Mân mới đặt đất dẫn cưới là châu Hoá. Năm 1402 nhà Hồ "mở
nước" đặt các châu: Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa, thuộc địa phận Quảng Nam.
Thế kỷ 15 Lê Thánh Tông đặt Thừa tuyên Quảng Nam. Đến nhà Nguyễn đặt
thành dinh Quảng Nam, năm 1842, Minh Mệnh mới đặt Quảng Nam thành
tỉnh.
Tỉnh Quảng Nam ngày nay có diện tích
11.989 km2, dân số khoảng 1.500.000 người. Sau khi huyện
Hoà Vang cắt về thành phố Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam còn 17 đơn vị hành
chính, gồm thị xã Hội An, thành phố Tam Kỳ, các huyện: Điện Bàn, Đại
Lộc, Duy Xuyên, Quế Sơn, Thăng Bình, Hiệp Đức, Núi Thành, Tiên Phước,
Phước Sơn, Bắc Trà My, Nam Trà Mi, Đông Giang, Tây Giang, Phú Ninh.
Tỉnh lỵ Quảng Nam đặt tại thị xã Tam Kỳ.
Theo Quốc lộ 1A, đường sắt Xuyên Việt
hay đường Trường Sơn vào Nam ra Bắc chúng ta đều phải qua đất Quảng
Nam. Tỉnh Quảng Nam, phía bắc đèo Hải Vân giáp Thừa Thiên Huế, phía
nam giáp Quảng Ngãi và Công Tum, phía đông nhìn ra biển Đông và ôm
gọn thành phố Đà Nẵng, phía tây giáp nước bạn Lào. Chiều dài từ đông
sang tây 170km, từ bắc xuống nam 127 km. Đèo Hải Vân phía bắc tỉnh
có núi Bạch Mã cao 1516m, từ trên đèo nhìn ra bể Đông phong cảnh đẹp
tuyệt vời làm rung động trái tim biết bao "tao nhân mặc khách" từ
ngàn xưa đến ngàn sau. Phía nam tỉnh có núi Chúa cao 1363 m, phía
đông giáp biẻn là đồng bằng Điện Bàn, Hội An và đồng bằng nhỏ Tam Kỳ.
Toàn bộ phía tây tỉnh là rừng núi Trường Sơn bạt ngàn đến tận biên
giới với rất nhiều lâm sản, chim thú quý , có hai đỉnh núi cao 2500m
và 1207m quanh năm mây phủ. Tỉnh có nhiều suối nước nóng, đặc biệt
là khu vực quanh núi Chúa có đến 6 suối nước nóng chữa được nhiều
bệnh tật, hứa hẹn một tiềm năng lớn về du lịch.
Đến thăm Quảng Nam bạn không thể
không đến thị xã Hội An. Từ Hoà Mỹ theo đường số 1 thẳng vào hay từ
Đà Nẵng đi về hướng đông 9km chúng ta gặp thị xã cổ Hội An. Hội An
nằm ở bờ bắc sông Thu Bồn, gần cửa sông, cửa Đại, tàu thuyền từ biển
vào hết sức thuận tiện mà thuyền buôn, xà lan, ca-nô từ sông Thu Bồn,
sông Vĩnh Điện, sông Trường giang đến bốc rỡ hàng cũng dễ dàng. Thời
cổ nơi đây từng được gọi là Đại Chiêm hải khẩu, các thuyền buôn
Trung quốc, Nhật Bản, Nam Dương thường qua lại buôn bán. Đến thế kỷ
15 người Hà Lan, Pháp, Anh, Bồ Đào Nha cũng đến đây đặt tiệm buôn.
Ngay phía nam Hội An là huyện Duy Xuyên có Trà Kiệu là kinh đô đầu
tiên của người Chăm xưa, nay còn dấu tích thành đất dài 3 km. Từ dây
đi khoảng 30 km bạn sẽ gặp thung lũng Mỹ Sơn có vét tích đền đài xây
từ thế kỷ thứ 4 với 68 đền trong đó có 25 ngôi còn thấy khá rõ. Ai
cũng biết miền Trung nằm ở giữa của dải đất hình chữ S, nhiều người
biết tỉnh Quảng Nam nằm ở giữa miền Trung nhưng ít ai biết thị xã
Tam Kỳ chính là điểm giữa của cả hai cái giữa trên, nghĩa là từ Tam
Kỳ ra Hà Nội hay vào thành phố Hồ Chí Minh có độ dài bằng nhau- vì
nằm ở giữa ba miền nên thị xã có tên là Tam Kỳ. Thị xã ngày nay là
tỉnh lị của tỉnh Quảng Nam mới. Thị xã nằm ở giữa đồng bằng màu mỡ,
là nơi giao thương đi lại hết sức thuận lợi cả đường sắt, đường bộ
và đường sông, từ xưa đã nổi tiếng là nơi đô hội, sầm uất. Cách Tam
Kỳ khoảng 27 km về phía nam là mỏ vàng Bồng Miêu nổi tiếng đã được
khai thác từ xưa để dựng các lâu đài, đền chùa Chăm, con sông chảy
qua thung lũng này cũng được gọi là sông Vàng. Khu vực này cũng có
cả các mỏ kẽm, chì, đồng. Từ đây đi tiếp 3 km nữa là đất Trà Mi với
những rừng quế bạt ngàn nổi tiếng nhất Việt Nam, từ xưa vẫn từng
được gọi là "Quế Quảng"
Từ Đà Nẵng về Hội An chúng ta gặp
những địa danh nổi tiếng một thời Điện Nam, Điện Ngọc, Điện Dương
với những trận chiến đâu kiên cường người dân đất Quảng giữa vành
đai trắng. Mới đây Chính phủ đã phê duyệt dự án xây dựng Khu công
nghiệp tập trung. Với diện tích 418 ha khu công nghiệp Điện Nam-Điện
Ngọc sẽ là nơi phát triển ngành công nghiệp sản xuất các loại sản
phẩm công nghệ cao và công nghiệp chế biến thực phẩm phục vụ các khu
du lịch và công nghiệp trong khu vực- là trung tâm của một đô thị
lớn trong tương lai. Tỉnh Quảng Nam cũng đang quyết tâm xây dựng
cảng Kỳ Hà giáp khu công nghiệp Dung Quất(Quảng Ngãi) và sân bay Chu
Lai cùng với Khu công nghiệp Điện Ngọc như một trọng tâm phát triển
cơ sở hạ tầng, thúc đẩy sự triển kinh tế toàn tỉnh.
Quảng Nam ngày nay vẫn đang còn rất
nhiều khó khăn. Trong tiến trình phát triển Tỉnh phải chuyển đổi
mạnh cơ cấu kinh tế từ một tỉnh thuần nông sang một tỉnh công-nông
nghiệp và thương mại dịch vụ. Với tiềm năng và lợi thế về khoáng sản,
nông lâm sản, hải sản và du lịch, lại nằm ở điểm giữa khu vực trọng
điểm kinh tế miền trung được quy hoạch nối dài từ Liên Chiểu đến
Dung Quất, chắc chắn tỉnh Quảng Nam sẽ có bước phát triển mới xứng
đáng với truyền thống cách mạng vẻ vang trong kháng chiến chống
ngoại xâm./.
|
| |
|
Bắc Cạn - miền sơn cước
"Bắc Cạn có suối đãi vàng
Có hồ Ba Bể, có
nàng áo xanh "
Lần theo câu hát, ngược dòng tìm về với lịch sử chúng
ta được biết, từ thời các vua Hùng dựng nước Bắc Cạn đã thuộc bộ Vũ
Định. Trải các triều đại tiền Lê, Lý, Trần đều thuộc Bắc đạo rồi
thuộc Thái Nguyên thừa tuyên, sau lại đổi ra Ninh Sóc thừa Tuyên,
sóc ở đây chính là phương bắc; đến thời Hồng Đức gọi là Thái Nguyên
xứ, năm 1649 được gọi là trấn Thái Nguyên. Cho đến năm 1831 thời
Nguyễn được gọi là tỉnh Thái Nguyên bao gồm cả tỉnh Thái Nguyên và
tỉnh Bắc Cạn bây giờ. Đến năm 1900 trong công cuộc bình định Bắc Kỳ
thực hiện chính sách "chia để trị" người Pháp đã chia Thái Nguyên
làm 2 tỉnh, phía bắc gọi là Bắc Cạn, phía nam là Thái Nguyên.
Trong trường kỳ lịch sử đấu tranh
chống ngoại xâm của dân tộc, nhân dân vùng sơn cước "Bắc đạo"-"Ninh
Sóc thừa tuyên" luôn đoàn kết sát cánh cùng quân dân cả nước đánh
giặc. Cùng với các tỉnh Việt Bắc, Bắc Cạn là căn cứ địa kháng chiến,
nơi xuất phát của những chiến sỹ Việt Minh, của những đoàn quân giải
phóng từ rừng xanh tiến về trung du, đồng bằng và thành phố. Mảnh
đất Na Rì chính là nơi đồng chí Phùng Chí Kiên uỷ viên Trung ương
Đảng đã hy sinh trên đường đi tiếp viện cho du kích Đình Cả. Tháng
5.1945, sau khi khi Bộ tư lệnh quân giải phóng thành lập ở Định Biên
thượng đã ra lệnh tấn công địch ở khắp Việt Bắc. Quân dân ta đã vây
chặt quân Nhật ở Bắc Cạn, đánh các đường giao thông, cắt đường tiếp
tế của địch rồi chiếm Ngân Sơn, Bắc Cạn. Ta giành chính quyền ở thị
xã tỉnh lị và toàn tỉnh Bắc Cạn 23 tháng 8 năm 1945. Tháng 10 năm
1947 thực dân Pháp tấn công lên Việt Bắc hòng tiêu diệt thủ đô kháng
chiến; chúng nhảy dù xuống Bắc Cạn rồi một mặt theo sông Lô lên, một
mặt nhảy dù ở Cao Bằng kéo xuống bao vây âm mưu cất vó những người
đứng đầu Chính Phủ Hồ Chí Minh. Quân địch đã bị quân và dân ta đánh
đánh tơi bời ở khắp các chiến trường Yên Thịnh, Đầm Hồng, Sông Lô,
đường số 4...cuối cùng phải dẫn tàn quân bại trận rút chạy khỏi Bắc
Cạn.
Tỉnh Bắc Cạn ngày nay có diện tích tự
nhiên rộng 4.795km2, dân số: 30 vạn người, thuộc 8 dân
tộc anh em, đa số là người Tày, người Dao sống trên 8 đơn vị hành
chính là: Thị xã Bắc Cạn, các huyện Bạch Thông, Na Rì, Ngân Sơn, Ba
Bể, Chợ Đồn, Chợ Mới, Pác Nạm.
Bắc Cạn có Hồ Ba Bể là phong cảnh
thiên nhiên nổi tiếng. Bắc Cạn có sông Năng và sông Cầu cung cấp
nước cho đồng ruộng. Đỉnh Phia I Oắc (núi Hoa) có chiều cao hơn
1.000m. Là một tỉnh miền núi với hơn 80% diện tích tự nhiên là núi
rừng, phần lớn đồng bào làm nghề nông, tập quán canh tác của nhiều
vùng dân cư còn tự cấp tự túc, lạc hậu. Lâm nghiệp chủ yếu là vào
rừng khai thác tự nhiên các loại gỗ, tre, vầu, giang, củ nâu, nấm
hương, sa nhân mộc nhĩ, một phần phục vụ nhu cầu tại chỗ, một phần
bán, đổi lấy gạo, thực phẩm, và các đồ gia dụng khác. Tiềm năng kinh
tế của Bắc Cạn chủ yếu là lâm nghiệp, khai khoáng và vật liệu xây
dựng. Câu ca "Bắc cạn có suối đãi vàng" đã phản ánh một nét thực
trạng về sự giàu có tài nguyên ở tỉnh vùng cao này. Không chỉ có "suối
đãi vàng" từ lâu, nhân dân vùng Ngân Sơn đã quen làm mỏ bạc, miền
Chợ Điền, bản Ty đã làm mỏ kẽm, mỏ thiếc.v.v.
Theo Quốc lộ số 3 từ Hà Nội đến thành
phố Thái Nguyên 79km, bạn mới đi được gần nửa chặng đường Hà Nội-Bắc
Cạn. Tiếp tục hành trình qua Thái Nguyên 44 km nữa bạn gặp thị trấn
Chợ Mới, đây cũng là bến cuối cùng của sông Cầu mà thuyền bè có thể
về xuôi dễ dàng. Đi tiếp 23 km nữa bạn gặp địa danh mang tên Cao Kỳ,
còn đấu tich thành đất cũ dài 800m. Thêm 9km nữa bạn đã đến thị xã
Bắc Cạn. Thị xã được đặt làm tỉnh lị Bắc Cạn từ năm 1900. Thị xã Bắc
Cạn ngày nay chỉ có khoảng hai vạn dân, cơ sở vật chất hạ tầng của
đô thị tỉnh lị mới trở lại còn nghèo. Bù lại, thị xã có địa thế đẹp,
ngay trong thị xã cũng có đồi cao và núi đá vôi xen lẫn phố phường
tạo cho Bắc Cạn mang một nét riêng của thị xã miền sơn cước với
những con người chất phác dễ mến, dễ gần. Bắc Cạn có nhiều cảnh đẹp
nhưng nổi tiếng nhất xưa nay với du khách xa gần vẫn là hồ Ba Bể. Từ
thị xã Bắc Cạn 60km qua Phủ Thông bạn sẽ đến Chợ Rã. Chợ Rã chỉ còn
cách hồ Ba Bể 17 km bạn đi bộ hay đi thuyền đều được. Gọi là hồ Ba
Bể bởi hồ được tạo thành từ ba hồ nhỏ thông với nhau. Đây là hồ nước
tự nhiên rộng và đẹp vào bậc nhất ở nước ta, thiên nhiên còn mang
dấu vẻ hoang sơ, kỳ thú. Hồ ở độ cao 145m so với mặt nước biển, có
chiều dài 7km, chiều ngang chỗ rộng nhất xấp xỉ 1 km. Xung quanh hồ
được bao bọc bởi những dải núi đá với hai đỉnh cao nhất là 795m và
1042m, có rừng cây cối đại ngàn che phủ. Hồ rộng, lắm ngóc ngách,
nhiều đảo nhỏ xinh xắn, trên có cổ thụ, có hang động, đường luồn,
sông ngầm. Thỉnh thoảng, bất ngờ hiện ra một nếp nhà sàn, một ngọn
khói lam uốn lượn bay ra từ vách núi, một chiếc thuyền độc mộc của
ngư phủ thấp thoáng trong sương mờ trông như cõi phật, cảnh tiên.
Khoảng giữa hồ là đảo An Mạ, có đền thờ vua thuỷ. Đi tiếp vào các
vịnh bạn sẽ gặp những hòn đảo nhỏ như đảo Chuồng Gà, hòn Trống, hòn
Mái và bản Phiac ở phía nam hồ. Hồ Ba Bể có nhiều thứ cá nổi tiếng
như cá pioc, cá nai, cá teng, cá chép, cá cao, ba ba; Chim có các
loài sếu, cò, vẹt, phượng hoàng núi, nhạn, vạc, yến.v.v; thú có các
loại lợn rừng, hươu nai, chồn, sóc, vượn, khỉ. Đặc biệt trên núi,
trong hồ còn nhiều loại gỗ quý như lát vân, lát hoa, chò chỉ, chò
xanh, trắc, sến, gụ, mun... Hồ là nơi chứa nước suối chảy ra từ các
núi Phia Bióc, Nam Mẫu, Pu Long Ca, rồi chảy tất cả vào sông Năng
chỗ sông thông với hồ Ba Bể gọi là cửa hồ. Núi Lung Nham dầm chân
bên sông Năng, có hang thờ trong lòng núi, có vết tích thành nhà Mạc
và nhà Tây Sơn. Quá cửa hồ 3 km đến Thác Đầu Đẳng. Dòng thác bị một
đảo đá tách làm đôi, thác dổ xuống ba bậc, mỗi bậc cao 7m đến 8m,
bọt tung trắng xoá, tiếng ầm vang xa hang cây số. Bạn cũng có thể
vào Thượng Giáo, lên núi, qua làng người Dao, lên cao ngắm toàn cảnh
hồ nước, trời, mây, sông núi hồ Ba Bể. Trước mắt bạn sẽ là cảnh kỳ
vĩ nên thơ không giấy bút nào tả xiết. Tôi chắc rằng bạn sẽ tự hào
ít nhất đã có một lần đến với Bắc Cạn, đến với hồ Ba Bể, với những
ấn tượng suốt cuộc đời không
thể nào quên./.
|
|
|
|
Tuấn Anh |
Ngôi chùa Việt Nam lớn nhất tại châu Âu - Chùa Trúc Lâm- Kharcov
Hướng
về đất nước, mong muốn gìn giữ và giới thiệu với nước sở tại đời sống
văn hóa mang đậm bản sắc truyền thống đạo lý dân tộc, cộng đồng người
Việt Nam tại thành phố Kharcov-Ukraina đã xây dựng và khánh thành ngôi
chùa lớn nhất của người Việt tại đất nước Ukraina.
Với tổng diện tích 20.000 m2, khuôn viên chùa Trúc Lâm –
Kharcov đuợc kiến tạo hoành tráng mang đậm dấu ấn truyền thống của chùa
Việt Nam. Trong chùa có 68 tấm hoành phi, câu đối tất cả đều được viết
bằng tiếng Việt; Hai tòa Bảo tháp mỗi toà cao 13 tầng; một chiếc chuông
đồng nặng 1,5 tấn và một chiếc Khánh đồng nặng 0,5 tấn cùng với 66 pho
Tượng bằng gỗ và đá, trong đó có Bức tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tất cả
đều được tập đoàn Technocom đặt các nghệ nhân ở trong nước chế tác và
được chuyển từ Việt Nam sang đã góp phần làm nên nét độc đáo của ngôi
Chùa Việt Nam lớn nhất tại Châu Âu.
Trong ngày khánh thành ngôi chùa, Trung ương Giáo hội
Phật giáo Việt Nam đã cử đoàn chức sắc của Giáo hội gồm 4 Hòa thượng và
27 Thượng tọa, Đại đức từ Việt Nam sang cùng Lãnh đạo chính quyền tỉnh
Kharcov , Đại sứ nước ta tại Ukraina và đông đảo bà con nguời Việt,
người địa phương đến dự và làm lễ khánh thành ngôi chùa Trúc Lâm -
Kharcov.

Phát biểu cảm nghĩ của mình, Ngài Iusenko Iaroxlav
Petrovich – Phó Tỉnh trưởng Kharcov-Ukraina cho biết: Sự xuất hiện chùa
Việt nam ở Kharcov đã góp thêm một điểm nhấn về tôn giáo trên bản đồ tự
do tín ngưỡng của thành phố Kharcov. Và, sự ra đời của chùa Việt Nam
mang tên Trúc Lâm - Kharcov sẽ góp phần tạo sự đoàn kết trong cộng đồng
những nguời dân các sắc tộc đang sinh sống tại đây.
Lễ khánh thành được diễn ra theo nghi lễ mang đậm nét bản
sắc truyền thống dân tộc Việt Nam. Nhiều bà con người Việt đang sinh
sống và làm ăn tại Kharcov đã không cầm nổi nước mắt vì xúc động, bởi từ
lâu họ đã ấp ủ, mơ ước có được ngôi chùa tại đây, nay đã thành hiện thực.
Bây giờ họ có thể đến chùa thắp nén nhang cầu nguyện cho Quốc thái dân
an, cho gia đình ấm no hạnh phúc, cho đất nước Việt Nam ngày càng giàu
mạnh và phát triển.
Âm thanh của Lễ khai chuông vang lên hòa cùng màn pháo
hoa rực rỡ trên bầu trời Kharcov như báo hiệu một bước ngoặt mới đánh
dấu sự phát triển ở giai đoạn bền vững tự tin của cộng đồng người Việt
Nam trên toàn lãnh thổ Ukraina.
Hoàng Quy
Về
đầu trang
|
|
|
|
|
|
|
|
|