|
GIỚI THIỆU DI SẢN VĂN HÓA HUẾ

Trong gần 400 năm (1558-1945), Huế đã từng là Thủ phủ của 9 đời chúa
Nguyễn ở Đàng Trong, là Kinh đô của triều đại Tây Sơn, rồi đến Kinh đô
của quốc gia thống nhất dưới 13 triều vua Nguyễn. Cố đô Huế ngày nay vẫn
còn lưu giữ trong lòng những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể chứa
đựng nhiều giá trị biểu trưng cho trí tuệ và tâm hồn của dân tộc Việt
Nam. Suốt mấy thế kỷ, bao nhiêu tinh hoa của cả nước được chắt lọc hội
tụ về đây hun đúc cho một nền văn hóa đậm đà bản sắc để hoàn chỉnh cho
một bức cảnh thiên nhiên tuyệt vời sẵn bày sông núi hữu tình thơ mộng.
Bởi vậy, nói đến Huế, người ta nghĩ ngay đến những thành quách, cung
điện vàng son, những đền đài miếu vũ lộng lẫy, những lăng tẩm uy nghiêm,
những danh lam cổ tự trầm tư u tịch, những thắng tích thiên nhiên thợ
trời khéo tạc...
Trên nền tảng vật chất và tinh thần đã được hình thành ở Huế từ đầu thế
kỷ XIV (khi vua Chăm là Chế Mân dâng hai Châu Ô, Rí cho nhà Trần để làm
sính lễ cưới công chúa Huyền Trân), các chúa Nguyễn (thế kỷ XVI-XVIII),
triều đại Tây Sơn (cuối thế kỷ XVIII) và 13 đời vua Nguyễn (1802-1945)
đã tiếp tục phát huy và gây dựng ở vùng Huế một tài sản văn hóa vô giá.
Tiêu biểu nhất là Quần thể di tích của Cố đô đã được sánh ngang hàng với
các kỳ quan hằng ngàn năm tuổi của nhân loại trong danh mục Di sản Văn
hóa thế giới của UNESCO
Nằm
giữa lòng Huế, bên bờ Bắc của con sông Hương dùng dằng chảy xuyên qua từ
Tây sang Đông, hệ thống kiến trúc biểu thị cho quyền uy của chế độ trung
ương tập quyền Nguyễn vẫn đang sừng sững trước bao biến động của thời
gian. Đó là Kinh thành Huế, Hoàng thành Huế, Tử cấm thành Huế, ba tòa
thành lồng vào nhau được bố trí đăng đối trên một trục dọc xuyên suốt từ
mặt Nam ra mặt Bắc. Hệ thống thành quách ở đây là một mẫu mực của sự kết
hợp hài hòa nhuần nhuyễn giữa tinh hoa kiến trúc Đông và Tây, được đặt
trong một khung cảnh thiên nhiên kỳ tú với nhiều yếu tố biểu tượng sẵn
có tự nhiên đến mức người ta mặc nhiên xem đó là những bộ phận của Kinh
thành Huế - đó là núi Ngự Bình, dòng Hương Giang, cồn Giã Viên, cồn Bộc
Thanh... Nhìn từ phía ngược lại, những công trình kiến trúc ở đây như
hòa lẫn vào thiên nhiên tạo nên những tiết tấu diệu kỳ khiến người ta
quên mất bàn tay con người đã tác động lên nó
Hoàng
thành giới hạn bởi một vòng tường thành gần vuông với mỗi chiều xấp xỉ
600m với 4 cổng ra vào mà độc đáo nhất thường được lấy làm biểu tượng
của Cố đô: Ngọ Môn, chính là khu vực hành chính tối cao của triều đình
Nguyễn. Bên trong Hoàng thành, hơi dịch về phía sau, là Tử cấm thành -
nơi ăn ở sinh hoạt của Hoàng gia.
Xuyên suốt cả ba tòa thành, khi thì lát đá cụ thể khi thì mang tính ước
lệ, con đường Thần đạo chạy từ bờ sông Hương mang trên mình những công
trình kiến trúc quan yếu nhất của Kinh thành Huế: Nghinh Lương Đình, Phu
Văn Lâu, Kỳ Đài, Ngọ Môn, điện Thái Hòa, điện Cần Chánh, điện Càn Thành,
cung Khôn Thái, lầu Kiến Trung... Hai bên đường Thần đạo này là hàng
trăm công trình kiến trúc lớn nhỏ bố trí cân đối đều đặn, đan xen cây cỏ,
chập chờn khi ẩn khi hiện giữa những sắc màu thiên nhiên, luôn tạo cho
con người một cảm giác nhẹ nhàng thanh thản
Xa
xa về phía Tây của Kinh thành, nằm hai bên bờ sông Hương, lăng tẩm của
các vua Nguyễn được xem là những thành tựu của nền kiến trúc cảnh vật
hóa. Lăng vua đôi khi lại là một cõi thiên đường tạo ra cho chủ nhân
hưởng thú tiêu dao lúc còn sống, rồi sau đó mới trở thành cõi vĩnh hằng
khi bước vào thế giới bên kia. Hàm nghĩa như vậy nên kiến trúc lăng tẩm
ở đây mang một phong thái hoàn toàn riêng biệt của Việt Nam
Mỗi lăng vua Nguyễn đều phản ánh cuộc đời và tính cách của vị chủ nhân
đang yên nghỉ: lăng Gia Long mộc mạc nhưng hoành tráng giữa núi rừng
trùng điệp khiến người xem cảm nhận được hùng khí của một chiến tướng
từng trải trăm trận; lăng Minh Mạng uy nghi bình chỉnh đăng đối giữa
rừng núi hồ ao được tôn tạo khéo léo, hẳn có thể thấy được hùng tâm đại
chí của một chính trị gia có tài và tính cách trang nghiêm của một nhà
thơ quy củ; lăng Thiệu Trị thâm nghiêm, vừa thâm trầm u uẩn giữ chốn
đồng không quạnh quẽ, cũng thể hiện phần nào tâm sự của một nhà thơ siêu
việt trên văn đàn song không nối được chí tiền nhân trong chính sự; lăng
Tự Đức thơ mộng trữ tình được tạo nên chủ yếu bằng sự tinh tế của con
người, phong cảnh nơi đây gợi cho du khách hình ảnh của một tao nhân
mang nặng nỗi niềm trắc ẩn bởi tâm huyết của một nhà vua không thực hiện
được qua tính cách yếu ớt của một nhà thơ...
Bên
cạnh thành quách cung điện lăng tẩm nguy nga tráng lệ, Huế còn lưu giữ
trong lòng bao nhiêu công trình kiến trúc độc đáo gắn liền với thể chế
của hoàng quyền mà cách phối trí của các khoảng không gian đã tiến đến
đỉnh cao của sự hài hòa trong bố cục. Song song với Kinh thành vững chãi
bảo vệ bốn mặt, Trấn Bình Đài án ngữ đường sông, Trấn Hải Thành trấn giữ
mặt biển, Hải Vân Quan phòng ngự đường bộ phía Nam, cả một hệ thống
thành lũy của Kinh đô song không mấy ai để ý đến tính quân sự của nó vì
nghệ thuật kiến trúc đã đạt đến đỉnh cao. Đan xen giữa các khu vực kiến
trúc cảnh vật hóa độc đáo ấy, chúng ta còn có thể tham quan đàn Nam Giao
- nơi vua tế trời; đàn Xã Tắc - nơi thờ thần đất, thần lúa; Hổ Quyền -
đấu trường duy nhất dành cho voi và hổ; Văn Miếu - nơi thờ Khổng Tử và
dựng bia khắc tên Tiến sĩ văn thời Nguyễn; Võ Miếu - nơi thờ các danh
tướng cổ đại và dựng bia khắc tên Tiến sĩ võ; điện Hòn Chén - nơi thờ
Thánh mẫu Thiên Y A Na... còn quá nhiều những thắng tích liên quan đến
triều Nguyễn hòa điệu trong những thắng cảnh thiên nhiên nổi tiếng như
sông Hương, núi Ngự, Vọng Cảnh, Thiên Thai, Thiên An, Cửa Thuận... thực
sự là những bức tranh non nước tuyệt mỹ.
Huế
từng hiện hữu những khu vườn ngự danh tiếng như Ngự Viên, Thư Quang,
Thường Mậu, Trường Ninh, Thiệu Phương... Chính phong cách kiến trúc vườn
ở đây cũng lan tỏa khắp nơi trong dân gian, phối hợp với những nhân tố
sẵn có, dần dần định hình một kiểu thức nhà vườn đặc thù của xứ Huế. Đây
là thành phố của những khu nhà vườn với những ngôi nhà cổ thâm nghiêm ẩn
hiện giữa xóm phường bình yên trong lòng cố đô. Mỗi một khu nhà vườn lại
mang bóng dáng của Kinh Thành Huế thu nhỏ, cũng có bình phong thay núi
Ngự, bể nước thế dòng Hương, đôi tảng đá cụm hoa thay cho cồn Dã Viên,
Bộc Thanh... đủ các yếu tố tiền án, hậu chẩm, tả long, hữu hổ... lại bốn
mùa hoa trái, ríu rít chim ca, không gian ấy còn là thế giới của những
thi nhân mặc khách đối ẩm ngâm vịnh, là nơi diễn xướng những điệu ca Huế
não nùng như Nam Bình, Nam Ai... trong những đêm gió mát trăng thanh
Gần
một thế kỷ rưỡi là Kinh đô của một triều đại phong kiến với thiết chế
chính trị dựa trên nền tảng Nho giáo, lại từng là thủ phủ của Phật giáo
một thời, bên cạnh những kiến trúc cung đình lộng lẫy vàng son, Huế còn
lưu giữ hàng trăm ngôi chùa thâm nghiêm cổ kính, an lạc giữa những núi
rừng hoang vu u tịch. Ông Amadou MahtarM’bow - Nguyên Tổng giám đốc
UNESCO, đã thật tinh tế khi đưa ra một nhận xét trong lời kêu gọi cho
cuộc vận động bảo vệ, giữ gìn, tu sửa và tôn tạo di sản văn hóa Huế:
“Nhưng Huế không phải chỉ là một mẫu mực về kiến trúc mà còn là một cao
điểm về tinh thần và một trung tâm văn hóa sôi động - ở đó đạo Phật và
đạo Khổng đã thấm sâu, hòa nhuyễn vào truyền thống địa phương, nuôi
dưỡng một tư tưởng tôn giáo, triết học và đạo lý hết sức độc đáo”.
Gắn
với một triều đại phong kiến tuân thủ những nguyên tắc rạch ròi của
triết lý Khổng Mạnh, lễ hội và âm nhạc ở vùng kinh sư này đã phát triển
vô cùng phong phú và mang đậm phong cách dân tộc. Triều đình thì có lễ
Tế Giao, Tế Xã Tắc, lễ Nguyên Đán, lễ Đoan Dương, lễ Vạn Thọ, lễ Đại
triều, lễ Thường triều, lễ Ban Sóc, lễ Truyền Lô, lễ Duyệt Binh... mỗi
một lễ hội đều có những bước nghi thức mà phần hồn của nó chính là âm
nhạc lễ nghi cung. Dân gian cũng đa dạng các loại hình lễ hội: lễ hội
điện Hòn Chén, lễ hội Cầu Ngư, lễ hội vật Sình, lễ hội đua ghe, lễ hội
tế đình, tế chùa, tế miếu... gắn kết với các loại hình lễ hội lại là
những hình thức âm nhạc lễ nghi dân gian muôn màu muôn vẻ. Cùng tồn tại
với dòng âm nhạc mang tính lễ nghi, loại hình âm nhạc mang tính giải trí
tiêu khiển của xứ Huế cũng được thế giới biết đến như một điển hình mang
đậm bản sắc riêng của một vùng văn hóa, mộc mạc thuần khiết, đặc thù
không pha trộn. Đó là những điệu múa Huế, những vở tuồng Huế, những bài
ca Huế mà ngày nay đã trở thành những món ăn tinh thần không thể thiếu
trong một chuyến tham quan Cố đô của du khách mọi miền. Huế ngày nay vẫn
đang gạn đục khơi trong, cố giữ gìn những tinh hoa văn hóa cổ truyền của
dân tộc, cố bảo tồn những hình thái nghệ thuật được tạo nên bằng trí tuệ
tâm huyết của tiền nhân nay đang ở bên bờ lãng quên, cố phục hồi những
giá trị tinh thần quí báu của cha ông khi còn có thể.
Các
loại hình âm nhạc truyền thống mang tính giải trí tiêu khiển vẫn đang
được bảo tồn gần như nguyên vẹn trong lòng thành phố Huế. Vừa qua, điều
khiến cho người dân Huế vui mừng nhất là Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô
Huế phối hợp với Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam dưới sự cố vấn của nhiều
nhà khoa học trong nước và nước ngoài, đã thiết lập hồ sơ đệ trình
UNESCO xin công nhận Âm nhạc cung đình Huế: Nhã nhạc (triều Nguyễn) là
Kiệt tác di sản văn hóa Phi vật thể và Truyền khẩu của nhân loại. Tuy
mọi việc vẫn còn ở phía trước, song động thái đó cũng đủ nói lên giá trị
vô vàn của âm nhạc truyền thống Huế
Ngày
nay, Huế trở thành một thành phố Festival đặc trưng của Việt Nam. Cứ mỗi
hai năm, nhân dân thành phố Huế lại đón chào ngày lễ hội trọng đại này
trong niềm háo hức, mừng vui khôn cùng. Trong ý nghĩ của nhiều người,
Huế trở thành thành phố Festival gần như là một điều tất yếu vì ở Huế
còn bảo lưu khá điển hình diện mạo một kinh đô của triều đại phong kiến
mà các công trình kiến trúc lại hòa điệu với thiên nhiên tạo nên những
tiết tấu độc đáo với những lễ hội, âm nhạc, ẩm thực truyền thống được
bảo tồn phong phú đa dạng.
Cách cấu tạo giữa kiến trúc và cảnh quan làm cho Huế trở thành một thành
phố của sự hài hòa giữa kiến trúc - thiên nhiên và con người “Huế thực
hiện được sự tổng hợp giữa đạo và đời trong kiến trúc, tổng hợp được cổ
xưa và hiện đại, qua đó cố đô cổ kính chung sống hài hòa với thành phố
trẻ mới ngày nay”.
Với
một di sản văn hóa vật thể và tinh thần mang ý nghĩa quốc hồn quốc túy
của dân tộc, Huế là một hiện tượng văn hóa độc đáo của Việt Nam và thế
giới. Di sản Huế đang được bảo tồn rất tốt bởi những nỗ lực không mệt
mỏi của Đảng bộ và nhân dân Thừa Thiên Huế, của Bộ Văn hóa Thông tin, mà
trực tiếp là Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế. Ngày 11 tháng 12 năm
1993, cả nước hân hoan đón mừng Quần thể di tích Cố đô được UNESCO công
nhận là Di sản Văn hóa Thế giới; ngày 7 tháng 11 năm 2003 vừa qua, văn
hóa Huế một lần nữa được đăng quang khi Âm nhạc cung đình Huế: Nhã nhạc
(triều Nguyễn) đã được UNESCO ghi tên vào danh mục Các Kiệt tác Di sản
phi vật thể của nhân loại. Hẳn không chỉ như vậy, với một công cuộc bảo
tồn lớn lao theo những tiêu chuẩn cao nhất của Di sản Thế giới, kho tàng
văn hóa Huế sẽ còn nở rộ những đóa hoa nghệ thuật khác nữa. “Huế sẽ mãi
mãi được giữ gìn” cho Việt Nam và cho thế giới, mãi mãi là niềm tự hào
của chúng ta
Phạm Đức Thành Dũng
( Trung tâm bảo tàng di tích lịch sử cố đô Huế )
| Trở Về đầu trang
|
|